Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn 
 
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Đức 
 
Bến Tre được mệnh danh là quê hương xứ Dừa, có hệ sinh thái phong phú, đa dạng, trong đó dừa là nguồn nguyên liệu dồi dào mà từ lâu người Bến Tre đã biết tận dụng khai thác. Chính cái hương vị thanh ngọt của các loại dừa trên đất Bến Tre đã tạo nên những món ăn đặc trưng riêng của vùng đất này. Gỏi củ hủ dừa là một trong hàng trăm món ngon được chế biến từ dừa mà người dân Bến Tre đã đưa vào ẩm thực xứ Dừa để phục vụ du khách. 
 
Bến Tre được thiên nhiên ban tặng cho cư dân nơi đây một vùng đất trù phú với những đồng ruộng, vườn cây trái sum suê, đặc biệt là những vườn dừa xanh tươi bát ngát. Cây dừa không chỉ đi vào thơ ca mà còn là nét văn hóa trong ẩm thực của người dân nơi đây với những món ngon nổi tiếng gần xa như tép rang dừa, cơm trong trái dừa (Cơm dừa Bến Tre). 
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Ông già Ba TriÔng già Ba Tri
 

Image
Ông già Ba Tri
Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

   Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

   Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến TreKiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

   Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Nguyễn Văn Đức

Phó Chủ tịch

Nguyễn Trúc Sơn

Đã ban hành
Tục thờ cá ÔngTục thờ cá Ông

<br />

Image
Tín ngưỡng phổ biến nhất là cư dân làm nghề biển của các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú là tục thờ cá voi, thường được gọi là cá Ông. Đây là một tín ngưỡng dân gian hình thành trong quá trình tiến biến văn hóa Việt Chăm diễn ra từ đèo Ngang trở vào. Ngư dân ở biển phía Bắc không có tục thờ cúng cá voi.

Nguyễn Duy Oanh trong quyển Tỉnh bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) viết về tục thờ cá ông ở ven biển nơi đây: ”Ở quận Ba Tri, dân chài lưới có lập một miếu thờ cá ông tại vùng Bãi Ngao (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri). Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái. Nhiều lần họ được cá Ông giúp đỡ trong lúc biển động mạnh, ghe họ sắp chìm. Họ cầu cứu cá Ông, thì ít phút sau đó, cá Ông hiện đến. Cá Ông kề lưng đỡ thuyền họ lướt qua sóng gió hãi hùng" (1).

Trong chiều sâu tâm thức, người ngư dân đặt tin tưởng vào sinh vật khổng lồ vừa "hiền" vừa "thiêng" là loài cá voi, mà họ gọi một cách kính trọng là cá Ông, hoặc Ông, dù rằng sự cứu giúp đó mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực. Có rất nhiều danh từ để gọi cá voi với sự cung kính: Ông Nam Hải, Ông Lớn hay Ông Cậu để chỉ những cá voi to lớn, Ông Khơi để chỉ cá voi sống ngoài biển khơi, Ông Lộng để chỉ cá voi sống gần bờ. Ngoài ra còn có những cách gọi khác nhau như ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng vừa ý nghĩa tôn kính.

Cá chết thị gọi là Ông "lụy". Khi phát giác có Ông lụy ngoài biển, người ta đưa thuyền ra dìu xác cá vào bờ rồi tổ chức lễ chôn cất rất long trọng.

Nơi thờ cá Ông được gọi là miếu Ông, nhưng thông dụng nhất là Lăng ông. Việc thờ cá Ông được quan niệm như là một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả của đạo Phật, coi cá Ông như là một thứ thần hộ mạng giữa biển khơi đầy sóng gió. Niềm xác tín ấy được phản ánh trong nội dung các bài tế văn tế bằng Hán Nôm, trong các bài hát bả trạo (còn gọi là hát đưa linh) và cả trong một số bài vè lưu hành trong cư dân ven biển. Nếu như trong các văn tế nghinh ông của các ngư dân miền Trung nghiêng về phần ngợi ca và gởi gắm niềm tin ở Ông về việc cứu người cứu thuyền trong cơn lâm nạn, thì nội dung văn tế trong nghinh ông từ Bà Rịa trở vào đến Cà Mau, Hà Tiên thường nhấn mạnh đến sự "phù hộ của ông" để cho được mùa đánh bắt, tôm cá đầy khoang, ghe thuyền ra khơi vào lộng an toàn.

Nếu như tín ngưỡng thờ Thành hoàng bổn cảnh và lễ hộ Kỳ Yên chỉ diễn ra trong khuôn viên của đình làng, thì tín ngưỡng thờ cá ông và lễ hội Nghinh ông lại vừa diễn ra ở lăng thờ cá Ông và cả trên mặt biển. Do đó, không khí của phần lễ cũng như của phần hội ở đây thường diễn ra sôi động và cuồng nhiệt hơn. Trong tâm linh của người ngư dân, lễ hội Nghinh ông không chỉ là dịp để họ bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với một sinh vật linh thiêng mà còn gởi gắm vào đó cả niềm tin và hy vọng ở một vị thần hộ mạng sẵn sàng cứu giúp họ trong cơn hoạn nạn, trong những lúc hiểm nghèo giữa nơi biển cả.

Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, suốt dọc dài ven biển của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú có tất cả 9 lăng thờ cá Ông. Lễ nghinh ông có thể chênh nhau về ngày tháng, quy mô tổ chức ở từng nơi có thể khác nhau, tùy theo làng cá, vạn cá đông hay ít, nhưng ý nghĩa và mục đích thì rất giống nhau. Có một ngoại lệ là tại huyện Bình Đại, có lăng thờ cá Ông ở xã vang Quới Tây, nằm cách xa bờ biển, tất cả các lăng thờ đều lưu trữ nhiều bộ cốt cá Ông, đặt ở nơi hậu tẩm. Người dân làm nghề biển coi những bộ cốt ấy là sự hiện diện cụ thể của đối tượng thiêng mà họ thờ cúng.

Nếu như lễ cúng đình (lễ Kỳ Yên) hàng năm ở làng quê là lễ hội to nhất của cư dân trồng lúa nước và làm vườn, thì lễ cúng cá Ông (lễ nghinh Ông) là lễ quan trọng bậc nhất của ngư dân ven biển Bến Tre. Thành hoàng hay những vị thần khác được thờ phụng ở đình chỉ nằm trong quan niệm về cõi siêu linh, qua tưởng tượng, trong khi đó cá Ông, theo ngư dân là sinh vật thiêng ở biển, được biểu hiện bằng những bộ xương cốt đặt nơi khám thờ, bằng những ngôi mộ nằm rải rác trong khuôn viên của dinh, hay lăng thờ và cả những con cá Ông đang bơi, lặn ở nơi biển khơi, mà họ tin rằng khi gặp tai họa, rủi ro, họ sẽ nhận được sự cứu giúp.

Lễ Nghinh Ông, hay còn gọi là lễ tế, lễ rước, lễ cúng cá Ông, tùy theo cách gọi của từng địa phương, ở nơi vạn chài, bến cảng thuộc các xã ven biển Bến Tre, về cơ bản không có gì khác biệt nhau lắm. Thời gian tổ chức lễ giữa nơi này và nơi khác có thể chênh nhau, nhưng thường diễn ra trước mùa đánh bắt ở biển.

Vì vậy, có nơi kết hợp lễ Nghinh Ông với lễ cầu ngư, mở đầu cho mùa cá mới của năm. Ở xã Thới Thuận (huyện Bình Đại) lễ Nghinh Ông được tổ chức vào ngày 20-6 (Âm lịch), ở xã Thừa Đức cùng huyện, lễ mở vào ngày 23-4 (Âm lịch), ở Bảo Thạnh, Tân Thủy (huyện Ba Tri) lễ mở vào ngày 15 và 16-6 (Âm lịch). Ở xã Bình Thắng (huyện Bình Đại) lễ cũng được tổ chức vào hai ngày 15 và 16-6 (Âm lịch).

Sự thờ cúng cá Ông tạo ra một lễ hội trong đời sống văn hóa các xã vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông là dịp để người dân làm nghề biển thư giãn, lấy lại thăng bằng tâm linh sau những ngày lao động vất vả, đồng thời để tỏ lòng biết ơn đối với một sinh vật “thiêng" ở biển, mà trong tâm thức nhiều ngư dân vẫn chứa đựng một niềm tin về sự giúp đỡ của cá Ông khi gặp tai nạn. Có thể nói, ngày lễ hội Nghinh Ông là ngày tưng bừng đối với người dân vùng biển. Không khí náo nức, tràn trề hưng phấn bắt đầu khi chờ đợi “Ông lên vọi" ngoài khơi, khi thấy việc xin ông làm chứng đã hoàn tất qua động tác xin keo của ông chánh bái. Dọc đường đoàn ghe ra khơi nghinh ông trở về, hai bên bờ sông các ghe thuyền đều chăng kết hoa, bày lễ cúng và đốt pháo giòn giã. Ở tại nhà suốt ngày hôm ấy, các ngư dân mời mọc nhau, kể cả khách từ xa đến, cùng nhau ăn uống vui chơi, trò chuyện thân tình.

Chú thích :

1. Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr.355 

Đã ban hành
Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)
&nbsp;

Image
Nguyễn Thanh Trà (1918-1952)
Sinh năm 1918 trong một gia đình trung lưu ở Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh Trà tham gia phong trào yêu nước ngay từ lúc còn là học sinh. Học hết trung học, Trà về quê, được các đồng chí hoạt động bí mật vùng Sóc Sãi tuyên truyền, giác ngộ và được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1935, sau đó được phân công làm Bí thư chi bộ xã Tiên Thủy.

   Khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương thành lập, Nguyễn Thanh Trà tham gia rất tích cực phong trào công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội do Đảng phát động, vận động quần chúng ở địa phương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Nhờ tài diễn thuyết lưu loát, hấp dẫn nên đến đâu, ông cũng thu hút được đông đảo quần chúng. Năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi nhà tù trở về Bến Tre ngày càng đông, đã nhanh chóng khôi phục lại phong trào ở địa phương. Khi Đảng bộ Bến Tre được củng cố lại, Nguyễn Thanh Trà được cử vào Tỉnh ủy (4-1936), phụ trách quận Sóc Sãi.

   Năm 1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ở Đông Dương, thực dân Pháp quay ra đàn áp, khủng bố gắt gao, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù. Cuối năm này, trong một chuyến công tác, ông bị sa vào tay của bọn mật thám Pháp. Chúng đem về giam ở Sài Gòn một thời gian, rồi đưa đi an trí ở “căng” Tà Lài.

   Đầu năm 1944, cùng với một số đồng chí khác, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục Tà Lài, trở về Sóc Sãi, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng cũ của địa phương, xây dựng lại phong trào. Tháng 3-1945, Nguyễn Thanh Trà được bầu vào Tỉnh ủy, thành viên của Ủy ban khởi nghĩa Bến Tre.

   Sau ngày CMT8-1945, đồng chí được cử giữ chức Phó trưởng Ty Công an tỉnh, phụ trách lực lượng cảnh sát, do đó đồng bào quen gọi là "Cò Trà". Khu UBKC tỉnh (về sau đổi thành UBKCHC) được thành lập, ông được cử làm ủy viên.

   Đầu năm 1948, tên Léon Leroy tung quân càn quét, đánh phá khốc liệt phong trào, tiến hành bình định hai cù lao Bảo và Minh. Nhiều cơ sở cách mạng bị đánh bật ra khỏi địa phương. Các cơ quan, đơn vị vũ trang phải rút về rừng Thạnh Phú và Bình Đại.

   Năm 1951, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre đưa cán bộ trở về bám đất bám dân, những chi bộ “ly xã" trở về bám lấy cơ sở, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó bí thư Thị ủy Bến Tre.

   Trong một trận càn, Nguyễn Thanh Trà bị bắt và do sự khai báo của một cán bộ đầu hàng, nên bị lộ. Biết ông là một cán bộ lãnh đạo ở địa phương, có học thức, lại thuộc thành phần khá giả, nên địch tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hứa hẹn dành cho một chỗ ngồi có bổng lộc cao sang, nhưng đồng chí một mực từ chối, không thừa nhận những điều mà tên phản bội đã nói.

   Không đạt được mục đích, bọn chỉ huy ra lệnh dùng mọi cực hình tra tấn ông rất dã man, cuối cùng vẫn không moi được một điều gì quan trọng như chúng muốn. Trong nhà giam, kiệt sức vì đòn roi và bị bỏ đói, đồng chí cảm thấy mình không thể kéo dài được sự sống bao nhiêu ngày nữa, đã dùng mảnh chai đựng nước cam, rạch bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam dòng chữ "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” rồi móc ruột mà chết. Kẻ địch phát hiện kịp, đã gọi bọn lính đến băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu ở nhà thương. Nhưng ông đã bứt băng, lôi ruột mình ném vào mặt bọn gác ngục, rồi tắt thở. Hôm ấy là ngày 24 tháng giêng năm Tân Mão (1952), lúc vừa tròn 33 tuổi.

   Tấm gương hy sinh đầy tiết khí cách mạng trước uy lực kẻ thù của Nguyễn Thanh Trà có tác dụng động viên, giáo dục rất lớn đối với cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ. Và, cho đến nay, gần nửa thế kỷ trôi qua, tên tuổi và hành động anh hùng của đồng chí vẫn còn in sâu trong ký ức của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân Bến Tre. Năm 2000, ông được Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN MẾN
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; kiểm soát thủ tục hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.
 2. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Nhiệm vụ và quyền hạn
1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;
b) Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;
c) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;
d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;
đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;
e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Phục vụ hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;
c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Tổ chức công tác tiếp công dân; phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh theo quy định của pháp luật.
5. Tham mưu, giúp Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;
b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện;
c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;
d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;
đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
6. Tiếp nhận, xử lý, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):
a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Ủy ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;
b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.
7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;
c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;
d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
8. Thực hiện chế độ thông tin:
a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Tổ chức quản lý, xuất bản Công báo điện tử tỉnh;
d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Ủy ban nhân dân tỉnh;
đ)  Cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra và thông tin do Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra theo quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:
a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng:
Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.
11. Thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính
a) Tham gia ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Đôn đốc, kiểm soát chất lượng công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện công khai thủ tục hành chính tại trụ sở nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; tích hợp dữ liệu thủ tục hành chính để công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh theo quy định;
d) Nhập, đăng tải công khai, tích hợp, khai thác, quản lý dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;
đ) Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp, sáng kiến đơn giản hóa thủ tục hành chính;
e) Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh;
g) Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và vận hành, khai thác hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp;
h) Tham mưu, tổ chức kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương;
i) Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
k) Thông tin, tuyên truyền; tổng hợp, báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính.
12. Thực hiện nhiệm vụ một cửa, một cửa liên thông
Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
 13. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:
a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;
c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;
đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức
1. Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.
2. Các đơn vị chuyên môn trực thuộc:
a) Phòng Tổng hợp;
b) Phòng Kinh tế;
c) Phòng Tài chính - Đầu tư;
d) Phòng Khoa giáo - Văn xã;
đ) Phòng Nội chính;
e) Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính;
g) Phòng Hành chính - Tổ chức;
h) Phòng Quản trị - Tài vụ;
i) Phòng Ngoại vụ;
Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
k) Ban Tiếp công dân tỉnh.
Ban Tiếp công dân có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và công chức làm công tác tiếp công dân. Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân;
Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Đơn vị hành chính đặc thù: Trung tâm Phục vụ hành chính công.
a) Trung tâm Phục vụ hành chính công có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và công chức, viên chức do các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh cử đến làm việc. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh cử công chức, viên chức quản lý, vận hành trụ sở, trang thiết bị máy móc, hệ thống mạng của Trung tâm Phục vụ hành chính công;
b) Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định bổ nhiệm theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;
c) Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:
a) Trung tâm Thông tin điện tử
Trung tâm Thông tin điện tử có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ.
b) Nhà Khách Hùng Vương
Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Biên chế, số lượng người làm việc
Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao. Riêng số lượng người làm việc tại Nhà khách Hùng Vương do Chủ nhiệm Nhà khách xác định trong Đề án vị trí việc làm của Nhà khách, trên cơ sở bảo đảm việc làm ổn định và thu nhập cho số lượng người làm việc tại đơn vị theo quy định.

(Nguồn Quyết định 36/2019/QĐ-UBND)

Tập tin đính kèm: QD_36_2019.pdf


Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hànhNguyễn Hữu Vị
THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
&nbsp;

Văn học Bến Tre ở thời kỳ này phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nhiều năm. Văn học được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ ĐCS Bến Tre cả về tổ chức lẫn tư tưởng. Nhà văn là người chiến sĩ đánh giặc bằng vũ khí ngòi bút, lấy việc phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân làm mục đích hoạt động. 

Do tính chất của cuộc chiến tranh giải phóng và do tương quan lực lượng giữa ta và địch, trong thực tế đã hình thành hai vùng khác nhau: vùng kháng chiến và vùng địch chiếm (chủ yếu là thành phố, thị xã, thị trấn). Do đó, phương thức hoạt động văn nghệ ở hai vùng cũng không giống nhau.

Từ nhận thức “văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận", Tỉnh ủy và UBKCHC tỉnh Bến Tre đã có chủ trương tập hợp đội ngũ những văn nghệ sĩ, trí thức có khả năng viết văn, làm báo vào các cơ quan thông tin tuyên truyền, báo chí để động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ tham gia vào cuộc kháng chiến cứu nước. Trên tờ báo Hy sinh (cơ quan của Tỉnh ủy) và tờ báo Đoàn kết (Cơ quan của Mặt trận Việt Minh, sau này đổi thành Liên Việt), ngoài những bài xã luận, lời kêu gọi và tin tức, còn có những bài phóng sự ngắn, bài ca dao, thơ, hò, vè hô hào tòng quân giết giặc, động viên đồng bào sản xuất, nuôi quân, bố phòng, hoặc tố cáo tội ác của giặc... Về sau, đề tài càng được mở rộng phong phú hơn, như vấn đề đoàn kết quân dân, thi đua yêu nước, bình dân học vụ, địch ngụy vận, thực hành đời sống mới và những mẫu chuyện vui kháng chiến...

Đương nhiên những sáng tác nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu lúc này còn rất vụng về, thô sơ về nội dung lẫn hình thức, giá trị văn học không nhiều, nhưng hiệu quả của nó đối với phong trào là điều không thể phủ nhận được. Có thể nói rằng những bài thơ còn mang đậm hơi hướng ca dao, những câu hò, bài chập cải lương, bài vè, mẫu chuyện vui kháng chiến chân chất và hồn nhiên ấy là những đốm lửa ban đầu thắp sáng dòng văn học hiện đại của Bến Tre khai sinh từ CMT8-1945.

Đầu năm 1948, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập. Đây là tổ chức văn nghệ đầu tiên của tỉnh có nhiệm vụ tập hợp lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ trong tỉnh, tổ chức sáng tác, xuất bản, xây dựng và phát triển phong trào. Hoạt động của Đoàn dựa trên phương châm "dân tộc, khoa học và đại chúng", lấy việc phục vụ kháng chiến làm mục đích chính.

Thư ký Đoàn là đồng chí Lê Hoài Đôn, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, các ủy viên: Lê Hà (thơ), Võ Trọng Cảnh (văn), Truy Trọng (nhạc), Đoàn Chi Lăng (họa), Phong Đảo (kịch) và Nguyễn Tân Tấn phụ trách công tác tổ chức. Đoàn cũng đã tập hợp được một đội ngũ thuộc đủ các bộ môn nghệ thuật trong tỉnh. Về văn và thơ có Nguyễn Ngọc, Lê Tâm, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Văn Châu, Mạch Văn Tư. Về họa có Đạt Huỳnh, Đoàn Chi Lăng, Đinh Giang. Về nhạc có Nguyễn Việt Tân, Truy Trọng, Chu Tấn Hưng. Ngoài ra còn có sự tham gia của một số cán bộ lãnh đạo của các ngành quân, dân, chính có tinh thần yêu thích văn nghệ như Trần Trường Sinh (cố vấn của Đoàn), Bùi Ngọc Nghi, Lê Văn Lượng...

Nhờ có tổ chức chuyên trách, tình hình hoạt động văn hóa, văn nghệ của tỉnh có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận. Các tờ báo như Hy sinh, Đoàn kết, Thông tin Bến Tre, Tin tức (thuộc trung Đoàn 99) đều dành số trang nhất định của từng số báo để đăng những sáng tác của những cây bút trong tỉnh. Từ giữa năm 1949, tập san Văn hóa phổ thông - tờ báo chuyên ngành đầu tiên ở tỉnh - được xuất bản định kỳ 3 tháng một sứ với số lượng in cả ngàn bản. Ngoài các báo chí của tỉnh, lúc này đường dây liên lạc giữa khu 8 và Nam Bộ được củng cố thông suốt, do đó, tài liệu, báo chí của khu, của miền cũng được phát hành đến Bến Tre như các tờ như Tổ quốc (khu 8), Lá lúa (cơ quan của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ), Tiếng súng không kháng địch (khu 9). Sinh hoạt văn nghệ của tỉnh nhờ đó mà sôi động hẳn lên.

Từ năm 1948 đến năm 1950, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh cũng đã tiến hành hai lần đại hội tại vùng căn cứ của tỉnh ở Mỏ Cày. Đây là những dịp họp mặt đông đủ nhất của những người làm công tác văn hóa văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc bầu ban chấp hành mới, các đoàn viên đã cùng nhau đánh giá lại các công việc đã làm, trao đổi, thảo luận về đường lối, phương pháp sáng tác, trách nhiệm của người cầm bút trước yêu cầu của cách mạng và kháng chiến.. Đoàn đã tổ chức in và xuất bản một số tác phẩm, trong đó đáng chú ý nhất là các quyển sách sau đây: Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc của Hằng Ngôn, Con đường sáng của Lê Tâm, tập thơ La ngà của Lê Hà. Tác giả Hằng Ngôn tức bác sĩ Nguyễn Hữu Nghiệp, vốn là thành viên của đoàn cán bộ miền Nam, trong đó có Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định, vượt biển ra Trung ương xin chi viện (1946). Tập sách gồm 20 bài bút ký được tác giả ghi lại qua những điều mắt thấy tai nghe về tình cảm và lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân ta từ Nam chí Bắc. Đây cũng là quyển sách đầu tiên viết về Bác Hồ được xuất bản ở Nam Bộ.

Con đường sáng là tập tiểu thuyết của nữ tác giả Lê Tâm xuất bản đầu tiên ở tỉnh nhà, và là một trong ba cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp(1). Cốt truyện xoay quanh nhân vật chính tên Nhung – con gái một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu. Từ nhiệt tình yêu nước ban đầu, cô gái đã đến với cách mạng một cách hồn nhiên. Rồi kháng chiến bùng nổ, cô đã thoát ly gia đình, cùng bạn bè gia nhập vào đại cuộc của dân tộc. Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, nhưng không thiếu niềm vui và niềm tự hào, đã giúp cho Nhung ngày một trưởng thành và già dặn.

Cũng cần phải kể đến một số cây bút quê ở Bến Tre, nhưng hoạt động ở địa bàn khác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Hải Trừng hoạt động ở Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Anh sáng tác nhiều thơ, truyện ngắn, truyện thơ đăng trên các báo ở khu 9 và trên tạp chí văn nghệ Lá úa. Đáng chú ý nhất là truyện thơ Chú Hai Neo gồm gần 1.000 câu lục bát, được tặng thưởng giải 3 giải văn nghệ Cửu Long 1951-1953.

Lãng Sĩ (tức Nguyễn Duy Oanh) có Hận Cầu Hòa, tập ký sự về vụ thảm sát tập thể do tên Léon Leroy gây ra ở Bến Tre được giải khuyến khích Văn nghệ Cửu Long 1951-1953. Một số truyện ngắn khác của ông ca ngợi về cảnh đẹp và con người của quê hương được tập hợp lại in trong tập Sóng gợn hồn quê(2) với bút hiệu Nguyễn Duy.

Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, quê xã Nhơn Thạnh, thị xã Bến Tre, thuộc thế hệ cầm bút trước CMT8-1945. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh hoạt động ở Sài Gòn, đã chủ trương các tờ báo Văn hóa, Điện báo, Thế giới, Công lý và tham gia phong trào "Báo chí thống nhất", chống âm mưu chia cắt đất nước. Năm 1949, anh xuất bản tập truyện Một vũ trụ sụp đổ và tiểu thuyết Tranh đấu. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Nam Bộ về đề tài nông dân, phản ánh cuộc đầu tranh chống lại sự cấu kết của bọn cường hào phong kiến với bọn thực dân trong việc chiếm đoạt ruộng đất, nhũng nhiễu người dân lương thiện và đẩy họ vào vòng tù tội. Thời kỳ ở khu 9 (1950-1954) anh làm việc ở tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ, có sáng tác một số tuồng hát bội như Trương Phi thủ cổ thành, Hý Charton và Le Page.

Bùi Đức Tịnh, tên thật là Bùi Kiêm Bích, còn có bút hiệu khác: Thanh Ba, Ngao Châu, Bạch Mai Châu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Sài Gòn. Ngoài các bài đăng các báo công khai như Lẽ sống, Đại chúng, Thần chung, Tiếng chuông, Ngày mới, ông là thành viên ban biên tập báo Việt Minh (Thành bộ Việt Minh Sài Gòn), Liên Việt và Tổ quốc trên hết (Mặt trận Liên Việt Sài Gòn). Với bút hiệu Ngao Châu, ông có tập thơ Chiêu hồn (nhà xuất bản Dân tộc, 1949) và Đường lên cõi Bắc (phóng tác theo truyện của nhà văn da đen Richar Wringt, Nxb Đại chúng, 1949), Văn phạm Việt Nam (1952) và Lịch sử giải phóng Việt Nam (Bùi Đức Tịnh và Hùng Ngôn, 1948)...

Lê Thọ Xuân, một cây bút khảo cứu, đã có nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí trước CMT8-1945 như Đồng Nai, Mai, Tri tân, Đại Việt tạp chí, trong kỷ yếu Société des Études Indocchinoises. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Chủ tịch phong trào "Báo chí thống nhất" tại Sài Gòn, chống chủ trương Nam Kỳ tự trị "của Pháp và tay sai". Năm 1949, ông phụ trách Ban biên tập báo Thần chung (của Nam Đình) với sự cộng tác của Nguyễn Văn Hiếu, Phi Vân, Bùi Đức Tịnh, Thê Húc; phụ trách tuần báo Việt báo, tạp chí Sông Hương. Những bài nghiên cứu của ông về văn chương, lịch sử được viết trên lập trường dân tộc, yêu nước và tiến bộ.

Chú thích

(1) Hai tiểu thuyết khác: Vỡ đất của Hoàng Văn Bổn, viết về đề tài sản xuất và chiến đấu của bộ đội miền Đông Nam Bộ, giải nhất giải thưởng Văn nghệ Cửu Long 1951-1952 và tiểu thuyết 2707 của Trần Vạn An viết về đề tài hoạt động của quân báo ở nội thành.

(2) Nxb Hương quê, 1953. 

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Ba ChâuBa Châu
&nbsp;

Nơi  phát xuất cuộc khởi nghĩa chống Pháp do Lê Quang Quan (tức Tán Kế) khởi xướng năm 1868 gồm 3 làng: Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình, tổng Bảo An, phủ Hoằng Đạo, tỉnh Vĩnh Long nay thuộc huyện Giồng Trôm.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )

1970

26 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, ban hành "Luật người cày có ruộng" nhằm tạo ra một tầng lớp xã hội là tư sản ở nông thôn, làm chỗ dựa về kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thực dân mới.

6 tháng 7, "Chuồng Cọp”, một chứng tích về thủ đoạn ngược đãi tù chính trị ở nhà lao Côn Ðảo, bị vạch trần và trở thành vấn đề quốc tế lớn.

1971

22 tháng 6, Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 9 tháng.

20 tháng 9, Ðại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua LLVT giải phóng Ðông Nam Bộ và Sài Gòn, họp trong 4 ngày (20 đến 23-9-1970). Quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN tuyên dương danh hiệu "Ðơn vị anh hùng" cho 21 đơn vị và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng cho 16 cá nhân.

1972

20 tháng 3, LLVT tỉnh Biến Tre tiêu diệt chi khu quân sự Trúc Giang.

Tháng 7, Thời kỳ "bình định” ác liệu của địch. Ðể đối phó kịp thời âm mưu địch, Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành Châu Thành Ðông và Châu Thành Tây; chia đôi huyện Mỏ Cày thành Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, lấy con sông Mỏ Cày làm ranh giới.

22 tháng 10, VNDCCH và Mỹ thừa nhận toàn văn bản thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và lấy ngày 31-10 làm ngày ký chính thức.

1973

27 tháng 1, Tại Paris, đại diện 4 bên: Chính phủ VNDCCH, Chính phủ CMLTCHMNVN, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ VNCH đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" và các nghị định thư kèm theo.

1 tháng 2, Phái đoàn quân sự của Chính phủ CMLTCHMNVN do tướng Trần Văn Trà dẫn đầu rời sân bay Lộc Ninh vào Sài Gòn, nhận nhiệm vụ mới tại Ủy ban Liên hiệp quân sự 4 bên đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất.

29 tháng 3, Tổng thống Nixon tuyên bố kết thúc chiến tranh Việt Nam, hoàn thành việc triệt thoái quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, giải tán Bộ Tư lệnh quân Mỹ. Theo công bố, từ 1961 đến 28-1-1973, quân Mỹ chết 46.000 người trong chiến đấu, chết 10.000 người vì tai nạn, bị thương 300.000. Binh lực đã huy động 2,5 triệu lượt người.

Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tổ chức lễ “Cuốn cờ” đánh dấu chấm dứt sự có mặt của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau đó, tướng Weyand, Tổng tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đến nhập với toán lính Mỹ cuối cùng, lặng lẽ lên máy bay rời khỏi Sài Gòn.

20 tháng 7, G.Martin thay Bunker làm Ðại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

1974

29 tháng 9, Ủy ban vận động đòi cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam ra tuyên bố tố cáo Nguyễn Văn Thiệu dùng những thủ đoạn đen tối, đày ải hàng chục vạn tù chính trị và đòi trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ.

10 tháng 10, Chống lại chính sách bóp nghẹt do báo chí của chế độ Sài Gòn, 400 nhà báo đã xuống đường có mang theo bị, gậy, nón rách, dẫn đầu cuộc tuần hành của 5.000 người, đi từ Câu lạc bộ báo chí Sài Gòn đến chợ Bến Thành. Ngày nay được giới báo chí đặt tên là "Ngày các ký giả đi ăn mày" sau khi Thiệu ban hành Luật 007 về báo chí.

1975

6 tháng 1, Từ ngày 22-12-1974 đến ngày 6-1-1975, Quân giải phóng đã tiến công, bao vây các căn cứ Ðồng Xoài, Bố Ðức, Ðức Phong và thị xã Phước Long, tiêu diệt 3.000 quân địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.

10 tháng 3, Quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đây gồm Sư đoàn 23, trung đoàn 23, 1 chi đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn bảo an, 57 trung đội dân vệ. Sau 2 ngày chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

11 tháng 3, Thị xã Buôn Mê Thuột hoàn toàn được giải phóng.

8 tháng 4, Thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh gồm:

Phạm Hùng, Bí thư TƯC làm Chính ủy.

Ðại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh chiến dịch.

Các tướng Trần Văn Trà, Lê Ðức Anh, Lê Trọng Tấn, Ðinh Ðức Thiện làm Phó tư lệnh.

Tướng Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.

Tướng Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng chiến dịch.

8 tháng 4, Nguyễn Thành Trung, một cơ sở nội tuyến của ta hoạt động trong lực lượng không quân Sài Gòn, lái chiếc máy bay F.5 do Mỹ chế tạo, ném bom trúng dinh Ðộc Lập và hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ chính quyền Sài Gòn, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chúng.

13 tháng 4, Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh nhất trí gửi bức điện đề nghị BCT xin được đặt tên chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

11 tháng 4, Ðúng 19 giờ, một bức điện của BCT từ Hà Nội gửi đến Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.

Ðiện số 37/TK, 19 giờ ngày 14-4-1975. Ðồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

18 tháng 4, Trước sức tấn công thần tốc của Quân giải phóng, Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Dean Brown được cử phụ trách việc này cùng với lực lượng đặc nhiệm gồm không quân, hải quân với 35 tàu chiến (có 4 tàu sân bay) và hàng trăm máy bay thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

21 tháng 4, Theo sự đạo diễn của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống để Trần Văn Hương lên thay thế. Trong bài diễn văn đọc ở buổi lễ nhậm chức, Trần Văn Hương hứa “sẽ chiến đấu đến người lính cuối cùng". Thế nhưng, chỉ trong vòng một tuần lễ, Trần Văn Hương đã hoàn toàn bất lực, đành giao quyền lại cho Dương Văn Minh.

22 tháng 4, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với Mỹ. Không thể giúp người Việt Nam (chính quyền tay sai Sài Gòn) được nữa. Họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”.

23 tháng 4, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cả nội các của chính quyền Sài Gòn tuyên bố từ chức. Nhiều sứ quán phương Tây ở đây đóng cửa. Các công ty hàng không quốc tế ngưng hoạt động. Tổng thống Trần Văn Hương cử đại diện đến Tân Sơn Nhất, gặp Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN xin thương lượng.

28 tháng 4, Lúc 17 giờ, Tổng thống Trần Văn Hương sau khi nhậm chức được 7 ngày, đã tuyên bố từ chức, giao quyền cho Dương Văn Minh.

Khi vừa lên nhậm chức thay Trần Văn Hương, Dương Văn Minh đã cử người vào gặp phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN để thương lượng. Nhưng phái đoàn không chấp nhận đề nghị đó.

Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh cho quân Mỹ và nhân viên Ðại sứ quán Mỹ rút khỏi Sài Gòn.

Lúc 17 giờ, phi đội máy bay A.37 (lấy của địch trước đó gồm 5 chiếc) mang tên Quyết thắng, xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung (phi đội trưởng), Từ Ðể, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On (phi công của quân đội Sài Gòn ở lại) ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, rồi hạ cánh an toàn ở sân bay Lộc Ninh. 20 máy bay địch bị phá hủy trong trận oanh kích này.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên, nguyên Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác lên máy bay trực thăng Mỹ, chuồn ra nước ngoài.

29 tháng 4, Ðại sứ Mỹ đóng cửa. Người Mỹ "tháo chạy tán loạn".

30 tháng 4, 3 giờ 30, Tổng thống G.Ford ra lệnh cho Ðại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn "chấm dứt di tản vào 3 giờ 30 phút (giờ địa phương) sáng ngày 30-4, nhưng lệnh không thi hành đựơc".

4 giờ 20, một máy bay CH-53 đổ xuống sân thượng tòa Ðại sứ để đưa Ðại sứ Martin di tản.

5 giờ 24, Moorefield, người mà Martin chọn làm quản lý tòa Ðại sứ cùng với 4 người Mỹ khác đã đi trong chuyến trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút.

Chuẩn tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và tướng Nguyễn Hữu Có lên gặp Tổng thống Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự. Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, “chờ bàn giao trong vòng trật tự". Bản tuyên bố được phát trên Ðài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút.

Trận đánh cuối cùng ở cổng số 5, sân bay Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ. Ðợt xung phong đầu tiên của xe tăng và bộ binh của ta bị đối phương bẻ gãy. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt, hơn một giờ sau khi cờ Mặt trận đã bay trên dinh Ðộc Lập.

11 giờ 30, chiếc xe tăng mang biển số 843 dẫn đầu đội hình chiến đấu tiến đến hàng rào dinh Ðộc Lập, húc thẳng vào cổng phụ ngay bên cạnh cổng chính, nhưng do tác động mạnh đột ngột, chân ga thấp, nên chết máy, ngừng lại. Ngay sau đó, xe số 390 do Chính trị viên đại đội Vũ Ðăng Toàn điều khiển, đã vòng lên, húc đổ cổng chính. Trong khoảnh khắc đó, Ðại đội trưởng Bùi Quang Thận, từ chiếc xe 843, cầm cờ, lao lên trong sự yểm hộ của đồng đội, chạy thẳng đến ban công thượng của dinh Ðộc Lập, hạ lá cờ 3 que xuống, kéo lá cờ cách mạng lên, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền VNCH và sự toàn thắng của ta.

Ðại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ được chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (lúc 12 giờ). Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 và trung tá Nguyễn Tấn Tài, lữ đoàn trưởng cũng có mặt. Hai cán bộ tình báo của cách mạng, với tư cách là người của "lực lượng thứ ba" đã ở đây từ sáng, đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng là Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can.

Dương Văn Minh, đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông đến để bàn giao".

Bùi Văn Tùng tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao".

Dương Văn Minh trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phạm Xuân Thệ lúc 13 giờ rồi đến Ðài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh ngay trên Ðài phát thanh.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh phát lệnh, quần chúng Sài Gòn - Gia Ðịnh đã nổi dậy ở 107 khu vực, trong đó có 31 khu vực nội thành, 76 khu vực ngoại thành, 66 khu vực quần chúng đã làm chủ trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và 41 khu vực sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng quân chủ lực chưa đến.

Trong tình thế tuyệt vọng, vào lúc 18 giờ, Phạm Chí Kim đại tá, tỉnh trưởng Bến Tre bỏ trốn (sau đó bị bắt). Ðến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương, được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu tuyên bố đầu hàng.

1 tháng 5, Giải phóng hoàn toàn thị xã Bến Tre và các huyện trong tỉnh.

2 tháng 5, Thành lập Ủy ban Quân quản tỉnh Bến Tre.

Lúc 14 giờ, Thượng tướng Trần Văn Trà dẫn đầu Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN đến dinh Ðộc Lập, gặp những người đại diện của Chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng vào lúc 11 giờ 30 ngày 30-4, hiện đang bị quản thúc tại đây.

3 tháng 5, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh được thành lập theo quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN gồm 1 chủ tịch, 5 phó chủ tịch và 5 ủy viên. Tướng Trần Văn Trà được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố.

6 tháng 5, Bộ Chỉ huy các LLVT Giải phóng miền Nam ra thông cáo: "11 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân giải phóng đã cắm cờ của Chính phủ CMLTCHMNVN lên phủ Tổng thống của ngụy quyền Sài Gòn.

Trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 40 vạn quân địch thuộc Quân đoàn 3 và 4, 10 sư đoàn chủ lực và tổng dự bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân, 90 giang đoàn, hải đoàn, toàn bộ lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền từ trung ương đến xã ấp, giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh và các tỉnh còn lại...".

5 tháng 6, Từ ngày 5-6 đến ngày 11-6, tại dinh Ðộc Lập, diễn ra Hội nghị liên tịch (mở rộng) gồm các đại diện MTDTGPMNVN, LMCLLDTDCVHB, Chính phủ CMLTCHMNVN, Hội đồng cố vấn Chính phủ CMLTCHMNVN, đại diện các đoàn thể, lực lượng trí thức thành phố bàn về Hiệp thương thống nhất Tổ quốc.

15 tháng 11, Từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa hai miền Nam - Bắc, bàn về thống nhất Tổ quốc đã diễn ra tại dinh Ðộc lập.

Đã ban hành
Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)
&nbsp;

    Sinh ngày 18-10-1904 tại làng An Hội, huyện Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống hành nghề Đông y. Học tiểu học ở Bến Tre sau lên học trung học ở Trường Taberd (Sài Gòn). Từ nhỏ, ông đã say mê nghệ thuật, qua những bức tranh thủy mặc treo nơi bàn thờ tổ tiên. Ý tưởng muốn theo học ngành nghệ thuật ở nước ngoài đã thôi thúc ông tìm đường sang Pháp.

   Theo lời khuyên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp, ông dự thi vào Trường Mỹ thuật Toulouse và đã đỗ sau kỳ thi sát hạch. Ba năm miệt mài học tập, ông đã đỗ bằng tốt nghiệp ngành sơn dầu với đề tài Người mẫu xem tranh khi họa sĩ vắng mặt. Tác phẩm này đoạt giải nhất Manry của thành phố Toulouse với huy chương bạc và 1.000 quan tiền thưởng. Ông đến Paris, học tiếp ở Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật, vừa phải chật vật kiếm sống để tiếp tục học tập, vừa tham gia phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp.

   Năm 1934, ông về nước. Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Krautheimer tìm cách tranh thủ ông, đề nghị ông làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, nhưng ông từ chối, về tạm trú nơi quê vợ ở Mỹ Tho. Tại đây, nhà sư Minh Đường trụ trì ở chùa Vĩnh Tràng đã đặt ông làm tượng mình và vị sư tiền nhiệm. Tượng hai vị hòa thượng mặc áo cà sa, chắp tay niệm Phật còn được lưu giữ đến nay ở bên cổng chùa.

   Một thời gian sau, ông lên Sài Gòn sống bằng nghề vẽ tranh phong cảnh (Một số tranh tĩnh vật vẽ theo phong cách tân cổ điển, nay được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).

  Năm 1935, ông dạy vẽ ở Trường Donnai và Huỳnh Khương Ninh. Cũng trong thời gian này tập tiểu thuyết Vì đâu, chủ đề tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp được đăng tải nhiều kỳ trên báo Dân quyền. Tháng 8-1945, ông tham gia giành chính quyền Sài Gòn, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên. Khi kháng chiến bùng nổ, ông là ủy viên tài chính UBKCHC Nam Bộ.

   Sau hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, ông được điều về giảng dạy ở Trường Mỹ thuật Việt Nam toàn quốc tại Nhà hát lớn Hà Nội, bức tranh Hồi tưởng đất Bắc của ông đã đoạt giải nhì. Bức tranh được Đại sứ Tiệp Khắc tại Hà Nội mua ngay trong ngày khai mạc.

   Về đề tài lịch sử chống ngoại xâm, ông có những bức tranh Hai Bà Trưng xuất trận, Trận Bạch Đằng, Vua Quang Trung tiến vào Ngọc Hồi, Trương Định được nhân dân phong soái v.v… Những tranh này hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian này, ông hoàn thành quyển Lược khảo mỹ thuật Việt Nam (Nxb KHXH, 1970). Sách được dịch sang tiếng Nga sau đó.

   Hòa bình lập lại, ông trở về TP. Hồ Chí Minh, giảng dạy lịch sử mỹ thuật ở Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tác phẩm Một số nền mỹ thuật thế giới được Nxb Văn hóa in năm 1978. Quyển sách đã được ông bổ sung, hoàn chỉnh và ra mắt bạn đọc với tên mới Mỹ thuật và nghệ sĩ (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993). Ký ức lão cuồng họa, tập hồi ký kể về cuộc đời mình từ lúc nhỏ nơi quê nhà, sang Pháp học hành, tham gia cách mạng và hoạt động nghệ thuật chưa kịp xuất bản, thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9-1-2001.

   Cuộc đời ông là một tấm gương lao động nghệ thuật tận tụy và trong sáng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất. Viện Tiểu sử ABI (Mỹ) tặng ông Huy chương vàng năm 1997.

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hànhThu Thủy (Bảo tàng Bến Tre)
Họa sĩ Đoàn Việt TiếnHọa sĩ Đoàn Việt Tiến
&nbsp;

Image
Đoàn Việt Tiến với tác phẩm chân dung Hồ Chí Minh vẽ ngược lên mặt sau của kính thủy tinh
Có lẽ thương binh Đoàn Việt Tiến là người đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Việt Nam vẽ tranh sơn dầu bằng 5 đầu ngón tay, mà lại vẽ ngược lên mặt sau của kính thuỷ tinh. Để thành công với cách vẽ sáng tạo độc đáo này, anh đã trải qua 10 năm khổ luyện cùng những nỗi đau xô chụp xuống cuộc đời, mà đỉnh điểm là hạnh phúc gia đình tan vỡ...

Thăng hoa từ niềm say mê...

Năm 2001, kỷ niệm 71 năm Ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2), Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM mở cửa triển lãm bộ sưu tập tranh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẽ trên kính thuỷ tinh. Đó là 30 bức tranh sơn dầu khổ 0,8 x 1m và 0,8 x 1,2m mà tác giả - họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến (quê ở Bến Tre) trao tặng sau suốt 100 ngày đêm miệt mài vẽ ngay tại TPHCM. Tiến không vẽ tranh bằng cọ hay bút. Với chất liệu sơn dầu, anh vẽ bằng 5 đầu ngón tay và vẽ ngược lên sau mặt kính. Điều đó đã gây ngạc nhiên, thích thú đối với nhiều người xem triển lãm. Cách vẽ độc đáo của Tiến đã tạo ra những bức tranh sống động, sắc sảo trông giống như ảnh chụp. Có thể nói, bộ tranh vẽ chân dung Bác Hồ qua các thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam là bước ngoặt đưa người thương binh tài hoa sống lặng lẽ ở vùng quê nghèo thuộc xã Phú Đức (huyện Châu Thành, Bến Tre) đến với công chúng yêu hội hoạ. Bảo tàng Bến Tre, ngay sau đó mời anh thực hiện bộ tranh chân dung Hồ Chủ tịch cho quê nhà. Sau đợt triển lãm, Tiến đã vẽ khoảng 200 bức tranh chân dung Hồ Chủ tịch tặng nhiều cơ quan trong nước. Rồi hàng loạt hợp đồng khác... níu lưng Tiến, đưa anh trải qua những ngày vẽ đến gần như kiệt sức. Bà Đoàn Thị Thành (mẹ Tiến) nhớ lại: "Một thời gian dài sau cuộc triển lãm ở TPHCM, thấy con lao vào vẽ ngày vẽ đêm, tôi lo nó không đủ sức khoẻ, mà Tiến ngã bệnh thật...".

Kỷ niệm 40 năm ngày đồng khởi, trong số nhiều vị khách quý về dự tại Bến Tre có ông Tổng Lãnh sự Cuba tại Việt Nam. Tiến vẽ chân dung lãnh tụ Fidel Castro với mục đích làm quà tặng. Nhà ngoại giao Cuba xúc động với bức chân dung vị lãnh tụ của đất nước mình được thể hiện sống động trên tấm kính thuỷ tinh. Ông càng cảm kích hơn khi biết rằng nó được vẽ bởi một cựu chiến binh - thương binh Việt Nam, sau đó ông đã mời Tiến đến thăm Tổng Lãnh sự quán Cuba tại TPHCM. Tại đây Tiến đã vẽ tặng bức chân dung Fidel thứ hai.

Cuối tháng 11.2002, tôi đến ấp Phú Xuân lần tìm nhà Tiến. Anh đang miệt mài vẽ để hoàn thành thêm một bộ tranh cho Bảo tàng Bến Tre và chuẩn bị đi Cần Thơ vẽ bộ sưu tập tranh hình ảnh người lính ĐBSCL theo hợp đồng với Bảo tàng Quân khu 9. "Do đâu anh có ý tưởng vẽ ngược lên kính bằng 10 đầu ngón tay và nảy sinh từ khi nào?" - tôi hỏi. Tiến kể: "Một hôm cách nay trên 10 năm, tình cờ nhìn thấy tấm kính phản chiếu ánh mặt trời trông thật lung linh, tôi nghĩ có lẽ vẽ lên kính tranh sẽ "sáng" lắm. Nhưng để giữ tranh được lâu phải vẽ ngược lên mặt kính. Và "linh cảm" của một người mê vẽ như mách bảo rằng vẽ bằng ngón tay thì tư duy sáng tạo của người vẽ sẽ truyền trực tiếp vào bức tranh, tác phẩm sẽ có hồn hơn.Vậy là tôi bắt tay vào... làm thử".

Cái rung cảm bất chợt của một chàng trai khi nhìn tấm kính lung linh dưới ánh mặt trời thật lãng mạn. Nhưng chỉ chừng ấy không thể sản sinh ra họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến hôm nay. Tiến bộc lộ năng khiếu và mê vẽ từ nhỏ, đặc biệt là vẽ chân dung Bác Hồ. Anh kể với tôi như thuộc lòng: Sống ở quê ngoại, quê hương của đồng khởi - anh được nghe cô bác nói về Bác Hồ với niềm tôn kính, rồi cứ hình dung Bác như một ông tiên. Cho đến một hôm, cậu bé Tiến được mấy chú giải phóng quân cho xem ảnh Bác Hồ, anh thích quá cầm bút vẽ ngay. Được khen "cháu vẽ giống lắm", cậu bé vui sướng tới mức suốt những năm tháng sau đó say sưa tập vẽ theo ảnh Bác Hồ. Rồi năm 1979, cậu học sinh giỏi lớp 12 Trường THPT Châu Thành B tình nguyện đi bộ đội. 5 năm làm anh bộ đội trong đội hình Trung đoàn 4 (Sư đoàn 330), những ngày tham gia chiến đấu tại chiến trường K, anh vẫn say mê vẽ. Đó là những bức ký hoạ 32 trận đánh của đơn vị vẽ bằng bút bi, bằng than rừng trên giấy, trên vỏ và trên lá cây thốt nốt... Tiến nhớ lại: "Thời gian này, tôi vẫn say mê vẽ chân dung Bác Hồ...".

Vẽ từ nỗi đau đời

Bây giờ nghe Tiến kể, tưởng như cách vẽ ngược lên mặt kính bằng 10 ngón tay dễ như không. Thật ra, để có được thành công đầu tiên với bộ tranh tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM, Tiến đã phải trải qua 10 năm khổ luyện với cái giá khá nhiều cay đắng. Tiến bắt đầu luyện tập vẽ chân dung Bác Hồ ngược lên kính bằng ngón tay từ năm 1990. Trước khi bức vẽ đầu tiên thành công vào ngày 19.5.1999, Tiến đã vẽ hỏng hàng trăm bức. Thời gian 10 năm dài đằng đẵng ấy, anh thương binh Đoàn Việt Tiến còn phải lo chuyện mưu sinh. Ban ngày, anh rong ruổi khắp miền Tây vẽ (bằng bút) quảng cáo, kẻ chữ, chân dung... theo "đơn đặt hàng" kiếm sống để đêm đêm luyện vẽ ngược bằng 5 ngón tay trên kính. Lần mở các tập nhật ký, ngay cả Tiến dường như cũng không tin nổi anh đã phải trải qua trên 60 lần dời nhà bởi sự chuyển dịch vì cuộc mưu sinh! Bây giờ với những hợp đồng vẽ các bộ sưu tập tranh, cuộc sống của anh đã qua cơn bĩ cực. Nhưng nhớ lại những năm tháng khắc nghiệt của cuộc đời, giọng kể của Tiến vẫn bồi hồi...

Năm đầu tiên của thập kỷ 90, cha anh bệnh nặng khi Tiến vẫn đang còn túng bấn với "kiếp vẽ thuê" kiếm sống. Mẹ anh phải cầm cố mảnh vườn 4.000m2 lo chi phí chữa bệnh cho cha Tiến. Cha anh vẫn không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Cuộc sống không ổn định nơi đất khách Tiền Giang, mẹ và anh dắt díu nhau về quê ở nhờ trên đất một người bà con. Trong căn chòi nhỏ không có cả điện thắp sáng ở cái xóm nghèo Phú Xuân, Tiến vẫn miệt mài luyện vẽ tranh ngược lên kính bằng ngón tay. Mẹ Tiến kể: "Nhiều đêm thấy con loay hoay vẽ tới khuya dưới ánh đèn dầu, những ngón tay bê bết sơn, lòng tui như đứt ruột...". Còn Tiến khi nhớ lại quãng thời gian lắm nhọc nhằn này, anh nghĩ và biết ơn người đã có tác động không nhỏ vào sự thành công sau này của anh. Đó là người bác ruột - nhà văn Đoàn Giỏi. Chính nhà văn đã khẳng định với Tiến rằng khổ luyện vẽ bằng ngón tay ngược lên mặt sau của kính, thì cũng phải khổ luyện thể hiện cho được cái "thần" trong đôi mắt của Bác mới có thể thành công với những bức vẽ chân dung Bác...

5 năm sau (1995), Tiến lập gia đình. Nhưng hạnh phúc lứa đôi chỉ kéo dài được 4 năm. Có lẽ không chịu đựng nổi cái khắc nghiệt của cuộc sống thiếu hụt vật chất đeo đẳng, vợ Tiến bế đứa con thân yêu của hai người đi biệt không hẹn ngày trở lại. Bất hạnh của đời thường khiến tâm hồn người thương binh 3/4 bị dằn vặt, giằng xé. Nhưng nỗi đam mê nghệ thuật là sức mạnh giúp Tiến đứng lên, vượt qua nỗi đau tinh thần. 5 ngón tay. Rồi cả 10 ngón tay. Anh lao vào luyện vẽ. Vẽ, vẽ và vẽ. 4 năm - quãng thời gian từ lúc vợ anh bế con rời xa cho đến khi bức vẽ ngược trên kính đầu tiên thành công (1999) - cuộc sống của Tiến gần như gói gọn trong từ "vẽ".

Ngồi với tôi trong xưởng vẽ giữa không gian yên ắng của vùng quê, nhớ lại cuộc chia tay đã lùi xa 4 năm, tôi không thấy Tiến bộc lộ một biểu hiện trách cứ nào. Trong câu chuyện lan man quẩn quanh về cuộc đời, về nghệ thuật, dù không ai nói ra, song anh và tôi hình như đồng ý với nhau rằng: Trong những khúc quanh, ngã rẽ của cuộc đời, lắm khi người ta phải có những quyết định lựa chọn đầy khó khăn. Như Tiến quyết tâm đeo đuổi niềm đam mê vẽ cháy bỏng trong máu thịt. Như vợ anh quyết định chọn một lối đi khác, mà có lẽ theo chị, phù hợp với cách sống của mình hơn. Nghĩ như thế, người ta sẽ không trách cứ nhau. Nghĩ như thế, dù nỗi buồn có đầy ắp, dù nỗi đau không dễ nguôi ngoai, người ta vẫn yêu cuộc đời này. Để sống. Để làm việc - những công việc mình yêu thích.

Bây giờ có thể nói Tiến đã thành đạt, đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của đời mình. Hợp đồng vẽ bộ sưu tập chân dung người lính ĐBSCL chỉ mới chuẩn bị thực hiện, Tiến đã nhận được nhiều lời mời ký hợp đồng tiếp tục vẽ các bộ sưu tập về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác... Như con ong làm mật cho đời, hoạ sĩ Đoàn Việt Tiến đã được công chúng yêu hội hoạ biết đến như một nghệ sĩ sáng tạo ra cách vẽ độc đáo. Còn tôi, tôi cứ muốn nghĩ về Tiến như một con người đã sống, đã yêu và làm việc hết mình cho cuộc sống này thêm đẹp...

Lê Như Giang
(Báo Lao
động 10.12.2002)

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Trương Duy Hải
- Sinh ngày: 25/5/1959
- Quê quán: Xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Làng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịchLàng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịch
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề dệt chiếu An Hiệp với đa dạng các sản phẩm chiếu khác nhau nhưng mặt hàng chủ lực là chiếu cói, sau này có thêm chiếu lục bình; không chỉ sản xuất các mặt hàng chiếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu mà còn là nơi sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp khác, đa dạng về nguyên liệu, phong phú về sản phẩm. Lực lượng lao động ở làng nghề không ngừng tăng lên, với hơn 50 hộ ban đầu nay đã có trên 200 hộ tham gia dệt chiếu và gần 400 hộ tham gia các mặt hàng khác, có trên 1.000 lao động. Mỗi năm, làng nghề An Hiệp sản xuất trên hàng chục ngàn m2 chiếu, hàng trăm tấn chỉ xơ dừa và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khá

 

Du khách trải nghiệm dệt chiếu tại làng nghề dệt chiếu An Hiệp

Theo chân đoàn làm phim phóng sự làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại Bến Tre, tôi có dịp về lại xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bây giờ, vùng đất An Hiệp đã hoàn toàn mới với những con đường tận trong các thôn ấp đã được trải bê tông phẳng phiu, những hàng dừa tỏa bóng mát dọc hai bên đường, những khu vườn với đủ các loại trái cây như: Bưởi da xanh, cam, quýt, cacao,… xanh mướt, điều kiện giao thông nông thôn của người dân ở đây đã thuận lợi hơn trước rất nhiều, kinh tế- xã hội xã nhà ngày càng phát triển. Được biết, chính quyền địa phương và nhân dân xã An Hiệp đang chung tay phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới để góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, đưa kinh tế xã An Hiệp phát triển một cách bền vững.

Theo con đường làng quanh co nông thôn, chúng tôi tìm gặp cô Nguyễn Thị Khánh, người đã gắn bó với nghề dệt chiếu từ rất lâu. Cô cho biết: "Năm nay tôi đã được 55 tuổi và gắn bó với nghề dệt chiếu truyền thống ở An Hiệp hơn 20 năm, lúc đầu gia đình chỉ có vợ chồng tôi làm chiếu, cuộc sống cũng gặp rất nhiều khó khăn, sản phẩm làm ra chỉ bỏ mối cho một vài cơ sở nhỏ lẻ, nhưng gia đình tôi quyết gắn bó với nghề chiếu, vì đây là nghề truyền thống, nên tôi quyết tâm giữ các nghề, cái nghiệp là vậy"; cô cho biết nguyên liệu chính để dệt chiếu là lát, ngoài ra còn sử dụng lục bình để dệt chiếu. Cô Khánh cho biết thêm: "Muốn làm nên một sản phẩm chiếu cói đẹp thì phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu như lựa lát, lục bình đem đi phơi khô rồi mới dệt; dệt xong thì chuyển sang khâu may biên, đem đi phơi nắng, tẩy trắng, chống mốc, sơn bóng rồi đóng gói, xuất hàng đi.

Ở làng nghề dệt chiếu, từ người già đến trẻ con ai cũng biết dệt chiếu; những em học sinh, sinh viên ở đây vào những ngày nghỉ hè, các em cũng tập tành dệt chiếu nhằm giữ gìn và bảo tồn cái nghiệp mà các thế hệ đi trước đã để lại. Em Nguyễn Khánh Thuy- học sinh lớp 10 cho biết: "Cả nhà em ai cũng dệt chiếu, ngoài giờ học trên lớp, về nhà em phụ cha mẹ dệt chiếu để bán cho các cơ sở, phụ giúp gia đình kiếm tiền để trang trải cuộc sống và đóng học phí cho em, nhờ nghề dệt chiếu này mà cuộc sống của gia đình em đã khá hơn trước rất nhiều".

Nhiều điều kiện để phát triển du lịch

Hiện nay, du lịch Bến Tre đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, du khách ngày càng biết đến Bến Tre nhiều hơn. Đặc biệt, loại hình du lịch làng nghề đang được ưu tiên phát triển tại Bến Tre. Sở Công Thương tỉnh cũng đã tập trung hỗ trợ đầu tư về khuyến công, hạ tầng, xúc tiến thương mại, mở nhiều lớp tập huấn đào tạo nghề, kỹ năng quản lý, kiến thức hội nhập, kỹ thuật an toàn cho người dân ở các làng nghề. Ở Bến Tre, việc phát triển các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn từ lâu đã được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, đây cũng là một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới đặt ra. Vì vậy, việc ổn định và phát triển làng nghề dệt chiếu An Hiệp- Châu Thành không những góp phần xây dựng nông thôn mới mà còn có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương cùng với việc gắn liền với vùng du lịch sông nước 8 xã ven sông Tiền. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để An Hiệp vực dậy ngành kinh tế du lịch địa phương.

161014_112.jpg 

Người nông dân cần mẫn gắn bó với nghề dệt chiếu

Nếu làng nghề dệt chiếu An Hiệp được hỗ trợ vốn để các hộ sản xuất đều được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các công đoạn dệt chiếu, nâng cao hiệu suất sản phẩm, tiết kiệm thời gian, mẫu mã tạo ra ngày càng tinh xảo hơn được nhiều du khách yêu thích, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì kinh tế- xã hội của xã An Hiệp nói chung, kinh tế gia đình của các cơ sở dệt chiếu ở đây cũng được nâng cao vươn lên làm giàu một cách bền vững. Ngoài ra, các cấp các ngành quản lý, các Hiệp hội làng nghề, các nhà đầu tư cũng cần hỗ trợ, quan tâm hơn đến các làng nghề trên địa bàn tỉnh, nhất là những nghề truyền thống để không mai một góp phần xây dựng các làng nghề là điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về du lịch sinh thái miền sông nước Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợiLàm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi

    Góp phần làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1969 - 1975)

    Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân đã giáng một đòn mạnh và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và làm chấn động dư luận nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tìm cách rút dần quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm của chúng, ngoan cố tiến hành chính sách thực dân mới bằng những thủ đoạn thâm độc khác.

   Nixon, người đại diện cho đường lối mới của Mỹ, bước vào Nhà Trắng và cho ra đời cái gọi là "Học thuyết Nixon" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Bởi vậy, trong khi rút quân nhỏ giọt ra khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Nixon đã tận dụng số quân Mỹ còn lại rất lớn trên chiến trường cùng quân ngụy, đẩy mạnh đánh phá nông thôn bằng “bình định cấp tốc”, “bình định xây dựng" và "bình định đặc biệt”, hòng tiêu diệt cơ sở hạ tầng của cách mạng, đẩy LLVT cách mạng ra xa các thành phố và các căn cứ quân sự của chúng, cắt đứt các nguồn chi viện của ta, trước hết là nguồn chi viện qua đường Campuchia, nhằm cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

   Tại tỉnh Bến Tre, từ tháng 4-1969, Mỹ, ngụy bắt đầu triển khai chương trình "bình định cấp tốc”. Chúng đưa về đây sư đoàn 7 và một bộ phận sư đoàn 9 (lực lượng cơ động của vùng 4 chiến thuật), nhiều tiểu đoàn biệt động quân, thủy quân lục chiến (lực lượng tổng dự bị của quân ngụy), 40 đoàn cán bộ bình định, cùng với lực lượng ngụy quân tại chỗ liên tiếp mở các cuộc càn quét, bình định kết hợp với các cuộc đánh phá ác liệt của không quân, kể cả máy bay B.52, vào các vùng giải phóng của ta.

   Sau khi hoàn thành bước cuối cùng "bình định kiểu mẫu" ở Ba Tri, ngày 9-6-1969, địch lấn chiếm 4 xã Minh Đức, Tân Trung, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, cắt ngang cù lao Minh, Tỉnh ủy họp hội nghị bất thường tại Bình Khánh (huyện Mỏ Cày), chủ trương phát động quân và dân các địa phương kiên quyết chống địch càn quét và bình định.

   Ở thị xã, tự vệ mật và an ninh vũ trang thiêu hủy kho xăng, phá hủy một đại đội pháo tại sân vận động. Đầu năm 1970 các đội săn tàu của ta chặn đánh đoàn tàu địch tuần tiễu trên sông Giồng Trôm, Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), bắn chìm và bắn cháy 21 tàu, 2 giang thuyền. Trong đợt tấn công Xuân – Hè 1970, bộ đội tỉnh đã đánh địch 7 ngày liền, diệt 900 tên địch, bắn chìm và bắn cháy 40 tàu, 2 giang thuyền. Ở Bình Đại, bộ đội địa phương diệt được 2 đội bảo an, bắn rơi 6 trực thăng, bắn cháy 6 xe.

   Trong thời gian này, ở hội trường công chức thị xã, tự vệ mật Minh Hiền dùng mìn diệt 83 tên cán bộ bình định, làm bị thương 75 tên khác trong một lớp huấn luyện.

   Qua một năm chiến đấu gian khổ và đầy hy sinh, quân và dân Bến Tre đã ngăn chặn được một phần kế hoạch lấn chiếm bình định của địch. Tuy nhiên, nhìn chung trên diện toàn tỉnh, kế hoạch càn quét, bình định của địch đã gây cho ta nhiều tổn thất: mất đất, mất dân, các căn cứ, đường hành lang vận chuyển bị phá hoại. Cán bộ, bộ đội và nhân dân phải sống và chiến đấu trong điều kiện hết sức gay go, gian khổ. Mặc dù vậy, tình hình lại không dừng lại ở đây.

   {mospagebreak}Tháng 8-1970, hai sư đoàn 7 và 9 của ngụy được điều trở lại Bến Tre để tiếp tục chương trình bình định mới bằng hai bước "bình định xây dựng" và "bình định phát triển".

   Kết quả là Bến Tre từ chỗ có 72 xã giải phóng, chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh, trở thành một tỉnh bị chiếm đóng, đồn bót dày đặc. Mỗi xã có từ 5 đến 20 đồn, toàn tỉnh có tới 916 đồn bót và tháp canh. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, du kích bị hy sinh. Lực lượng quần chúng cách mạng bị tiêu hao, nhà cửa tan nát, vườn tược hoa màu bị tiêu hủy, kinh tế bị đảo lộn, đời sống nhân dân trở nên hết sức cơ cực. Hàng ngàn quần chúng trong vùng giải phóng phải tản cư vào sống chen chúc trong các "lõm địa hình" ở các quận Mỏ Cày, Châu Thành, vùng ven thị xã, thị trấn...

   Cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cách mạng ở nhiều nơi bị tan rã, xáo trộn, tư tưởng cầu an, dao động nảy sinh, nhiều cán bộ, đảng viên lánh né hoặc chạy dài.

   Phong trào cách mạng Bến Tre lại đứng trước khó khăn và thử thách mới. Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy chủ trương các cơ quan lãnh đạo và các tổ chức quần chúng phải nhanh chóng chuyển hướng hoạt động cho phù hợp. Các ủy viên xuống các huyện, trực tiếp làm bí thư huyện ủy, hàng trăm huyện ủy viên và cán bộ huấn luyện xuống trực tiếp phụ trách xã. Tỉnh ủy được tổ chức thành ba phân ban, đứng chân ở ba khu vực: Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành. Hai huyện Mỏ Cày và Châu Thành được chia làm đôi (1).

   Số đồng chí già yếu, bệnh tật, không có khả năng bám trụ, được chuyển ra khỏi vùng đánh phá ác liệt. LLVT được phân tán thành từng tiểu đội, bám giữ các địa bàn căn cứ. Với kinh nghiệm truyền thống bám đất, bám dân, cán bộ, đảng viên đêm đêm từ hầm bí mật len lỏi về hoạt động trong sự đùm bọc, che chở của nhân dân.

   Về phía nhân dân, mặc dù bị kìm kẹp khắc nghiệt, bà con vẫn hết lòng bảo vệ Đảng, đào hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ trong nhà.

  Nhờ có quyết tâm chịu đựng, chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, và kiên trì phấn đấu, chỉ trong thời gian 2 tháng, đa số cán bộ, đảng viên, du kích đã trở về bám lại được đất, được dân. Có nơi nổi dậy diệt ác ôn, trừng trị những tên chiêu hồi, chỉ điểm. Các tổ chức quần chúng dần dần được khôi phục trở lại.

   Trong khi, phong trào kháng chiến của Bến Tre dần dần tạo được thế và lực mới, thì trên phạm vi toàn cầu chiến trường miền Nam, BTC chủ trương sẽ mở cuộc tập kích chiến lược trong năm 1972, nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng.

  Tháng 11-1971, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng, chủ trương “động viên toàn Đảng, quân và dân Bến Tre khắc phục khó khăn, chuẩn bị hợp đồng với chiến trường toàn miền, tiến hành tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972".

   Để tạo thêm thế lực cho chiến dịch, đầu tháng 1-1972, LLVT của ta được lệnh tiến công vào hệ thống đồn bót địch ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, Bình Đại, tiêu diệt 20 đồn bót, cùng nhiều sinh lực địch. Tiếp đến ngày 23-3-1972, LLVT tỉnh lại cùng với bộ đội đặc công của Quân khu 8, kết hợp với cơ sở nội tuyến, tấn công diệt gọn chi khu Trúc Giang, một cứ điểm mạnh của địch án ngữ trên liên tỉnh lộ 6A và tỉnh lộ 17, cách bến phà Rạch Miễu 3km.

   Đêm 5 rạng ngày 6-4-1972, theo kế hoạch chung của toàn khu 8, quân và dân khắp nơi trong tỉnh đồng loạt nổi dậy tiến công địch ở Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Đợt 1 chiến dịch kết thúc gần 2 tháng tiến công và nổi dậy, tuy chưa giành được thắng lợi to lớn, nhưng cũng đã thúc đẩy được phong trào nổi dậy của quần chúng. Để đẩy mạnh chiến dịch liên tục tấn công địch, Tỉnh ủy quyết định mở đợt tấn công thứ hai vào các điểm then chốt ở Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam.

   Lúc này tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi có lợi cho ta. Chủ tịch địch ở vùng 4 chiến thuật phải rút khỏi chiến trường Bên Tre. Trong khi đó, tỉnh thành lập trung đoàn chủ lực "Đồng khởi", ngoài ra còn được tăng cường thêm một trung đoàn của quân khu.

   Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972 của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi lớn. Ta đã tiêu diệt 1.051 tên địch, làm bị thương và bắt sống 6.687 tên, làm tan rã 13.844 tên, diệt 185 đồn bót, bức rút 162 đồn, giải phóng hoàn toàn các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Phước Hiệp và 167 ấp với 16 vạn dân. LLVT đã tạo được bàn đạp vững chắc trên các địa bàn then chốt như Mỏ Cày, Giồng Trôm và một số vùng ven biển ở Thạnh Phú, Bình Đại.

   Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam cùng với chiến công suất sắc của quân và dân miền Bắc, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, cuối cùng buộc Chính phủ Mỹ phải ký hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" vào ngày 27-1-1973 tại Pari, mở ra thời kỳ đấu tranh mới.

   Nhưng với bản chất hiếu chiến và phản động, đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, vẫn tiếp tục thực hiện chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", ra sức giúp ngụy quyền và tay sai mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng, nhằm xóa bỏ cái gọi là "hình thái da báo".

   Ở Bến Tre, đúng vào giờ ngừng bắn có hiệu lực, Mỹ, ngụy đã tập trung lực lượng gồm 13 tiểu đoàn, tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét. Chỉ trong hơn 4 tháng, từ tháng 2 đến cuối tháng 6-1973, chúng đã lấn chiếm lại 64 ấp giải phóng, đóng thêm 119 đồn bót, ngoài ra chúng còn dồn sức bắt lính, đôn quân, phát triển đội quân tay sai lên hàng vạn tên.

   Tháng 7-1973, Hội nghị BCHTƯĐCS lần thứ 21, xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới: "...Dù phát triển theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên... Nhiệm vụ đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm mới của địch, giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển lực lượng cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản".

   Đầu quý 4-1973, Tỉnh ủy Bến Tre mở hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình và xác định nhiệm vụ của tỉnh trong giai đọan mới là: "Quán triệt xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công, huy động phong trào toàn dân nổi dậy với sinh khí mới, đánh địch bằng ba mặt ở cả ba vùng...".

   Tính đến cuối năm 1974, ta đã đạt được kết quả: 33 ấp giải phóng hoàn toàn, 21 xã giải phóng về cơ bản.

   Giữa lúc tình hình Bến Tre cũng như tình hình chiến trường toàn miền Nam đang có những chuyển biến có lợi cho ta, thì ngày 30-9-1974, BCT họp, nhận định thời cơ chiến lược thuận lợi để hoàn toàn giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền chỉ đạo các địa phương triển khai đợt hoạt động mùa khô 1974 - 1975.

   Chấp hành sự chỉ đạo trên, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định mở chiến dịch mùa khô từ ngày 9-12-1974, và kết thúc vào cuối tháng 1-1975. Kết quả nhân dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.950 tên địch, diệt 111 đồn bót, làm tan rã nhiều toán phòng vệ dân sự, mở thêm nhiều lõm giải phóng ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và Ba Tri...

   Chiến dịch đợt hai được mở tiếp vào thượng tuần tháng 3-1975, mà vùng tiến công trọng điểm là huyện Ba Tri và huyện Chợ Lách. Cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân Ba Tri diễn ra trong hơn 20 ngày, đã bức hàng và bức rút hơn 60 đồn bót. Ở Chợ Lách, được trung đoàn Đồng Tháp của quân khu 8 hỗ trợ, quân dân trong huyện đã tiêu diệt 13 trung đội dân vệ, bức hàng, bức rút 36 đồn bót, trong đó có phân chi khu, giải phóng hoàn toàn xã Tân Tiềng, 12 ấp của các xã Long Thới, Phú Mỹ, Phú Sơn... gồm trên một vạn dân.

   Phối hợp với hai huyện điểm, trong hơn một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân tỉnh đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bót, giải phóng hoàn toàn 3 xã, chuyển 80 xã do địch kiểm soát thành vùng tranh chấp.

   Ngày 25-3 đến ngày 31-3, BCT họp nhận định: thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa đánh vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín mùi, ta cần có quyết tâm lớn hoàn thành trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tốt nhất trong tháng 4-1975.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, dưới sự chỉ đạo của TƯCMN, nhân dân Bến Tre đã dồn sức người, sức của cho trận quyết chiến cuối cùng. Hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, hơn 200 đội du kích xã, ấp được củng cố, hàng vạn người được phiên chế thành những tiểu đoàn, đại đội, trung đội, được phân công bao vây 754 đồn bót và tháp canh, các phân chi khu, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng vùng lên, khi có hiệu lệnh. Các đơn vị bộ đội chủ lực của tỉnh được lệnh chuyển quân về áp sát địa bàn quanh thị xã.

   Có thể nói trong những ngày cuối tháng 4-1975, khắp Bến Tre như sống lại không khí sôi động của những ngày Đồng khởi 15 năm về trước.

   Trong khi đó, kẻ địch cũng cảm nhận được ngày tàn của chúng đã tới gần, nên rất hoang mang. Chỉ trong 10 ngày cuối tháng 4, đã có hơn 7.000 binh lính địch đào ngũ, hàng trăm tên trưởng, phó đồn và trên 400 sĩ quan ngụy móc nối liên lạc với ta, xin làm nội ứng cho cách mạng, trong đó có những tên nắm nhiều chức vụ quan trọng.

   Vào mấy ngày cuối tháng tư, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, chỉ còn chờ hiệu lệnh nổ súng, thì kế hoạch tấn công thị xã bị lộ. Do đó, ngày 27-4, Ban chỉ đạo chiến dịch quyết định chuyển sang phương án mới, tấn công chi khu Lương Quới (Giồng Trôm), bố trí diệt viện ở Đồng Gò, cắt đứt đường giao thông 26, tạo điều kiện để đánh chiếm thị xã khi có thời cơ.

   Đêm 29-4, bộ đội chủ lực phối hợp với các đơn vị đặc công tấn công chi khu Lương Quới và 3 đồn nằm trên trục lộ 26. Được tin báo, sáng 30-4, bọn chỉ huy ở tiểu khu lập tức tung 5 tiểu đoàn bảo an xuống giải tỏa, chúng đã bị LLVT của ta tiêu diệt một phần lớn. Trên đường tiến về thị xã, LLVT đã hỗ trợ quần chúng ở các xã Lương Quới, Châu Thành, Bình Hòa, Phong Mỹ và các xã dọc theo lộ 26, từ Giồng Trôm đến kênh Chẹt Sậy, nổi dậy giành quyền làm chủ và nhanh chóng tiếp cận thị xã.

   Chiều ngày 30-4-1975, theo mệnh lệnh của Ban chỉ huy chiến dịch, các LLVT phối hợp với lực lượng khởi nghĩa của quần chúng, tiến công hầu hết các đồn bót, phân chi khu và căn cứ quan trọng ở các huyện, và hàng loạt đồn bót ven thị xã. Lực lượng chính trị, binh vận cũng được triển khai vào nội ô thị xã, thị trấn, thúc ép địch đầu hàng.

   Trong tình thế tuyệt vọng, vào 18 giờ ngày 30-4, tên đại tá tỉnh trưởng Phạm Chí Kim chạy trốn (sau đó hắn đã bị bắt). Đến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng, triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu quyên bố đầu hàng.

   Đúng 4 giờ sáng ngày 1-5, bộ đội ta chiếm lĩnh sân bay Tân Sơn Nhất. Cùng lúc, hàng ngàn quần chúng võ trang từ các ngã kéo vào thị xã cùng với các đội an ninh hạ cờ ngụy, treo cờ cách mạng, xông vào chiếm dinh tỉnh trưởng, và các cơ quan khác. Thị xã Bến Tre được hoàn toàn giải phóng.

   Trong khi đó, ở các thị trấn Mỏ Cày, Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Thạnh Phú, Châu Thành, Chợ Lách và cả một vùng nông thôn rộng lớn, lực lượng du kích cùng hàng chục vạn quần chúng xông lên tiến vào chiếm các phân chi khu, công sở, đồn bót, thực hiện trọn vẹn khẩu hiệu "huyện giải phóng huyện", "xã giải phóng xã".

   Như vậy, từ chiều tối ngày 30-4-1975 đến sáng ngày 1-5-1975, toàn tỉnh Bến Tre đã được hoàn toàn giải phóng, trật tự trị an nhanh chóng được thiết lập. Cuộc sống độc lập tự do đã trở về với nhân dân. Cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi giòn giã và trọn vẹn. Bộ máy ngụy quân, ngụy quyền gồm 33.444 tên, hơn 103 chi khu và phân chi khu với gần 800 đồn bót bị sụp đổ chỉ trong vòng 2 ngày.

   Thắng lợi cuối cùng của nhân dân Bến Tre đã góp phần cùng nhân dân cả nước quét sạch quân xâm lược Mỹ ra khỏi bờ cõi, đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất.

Chú thích:

(1) Huyện Mỏ Cày chia thành Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam; huyện Châu Thành chia thành Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1994 - 2000 )Thế kỷ 20 ( 1994 - 2000 )

1994

19 tháng 5, Khánh thành cầu Chợ Lách, dài 20m, rộng 5m, gồm 7 nhịp bắc qua kênh Chợ Lách, nối liền trục tỉnh lộ 888, nay là quốc lộ 57, từ thị trấn Chợ Lách qua xã Phú Phụng.

20 tháng 7, Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-VH/QÐ công nhận chùa Tuyên Linh, xã Minh Ðức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre là di tích lịch sử.

29 tháng 8, Thành lập xã An Ðiền và thị trấn Thạnh Phú (thị trấn huyện lỵ thuộc huyện Thạnh Phú) theo Nghị định 105-CP của Chính phủ.

Tháng 10, Tạp chí Văn nghệ Bến Tre ra số đầu tiên. Ðây là tạp chí văn nghệ duy nhất của đồng bằng sông Cửu Long ra định kỳ hàng tháng.

Tháng 11, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre tổ chức khánh thành tượng đài Chiến thắng Giá Thẻ ở xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú.

1995

17 tháng 1, Khánh thành tượng đài Ðồng khởi tại công viên thị xã. Tượng đài gồm nhân vật trung tâm là một phụ nữ cao 7,3m, tượng trưng cho phụ nữ Bến Tre anh hùng. Phần nền bố trí theo hình xoắn ốc, đường kính 30m, phía sau lưng là tàu lá dừa cao 15,6m. Nhóm tượng gồm 4 nhân vật: cụ già đánh mỏ, anh bộ đội giải phóng ôm súng ngựa trời trong tư thế xốc tới, chị phụ nữ bồng xác em bé, bên cạnh một em bé ôm bó chông tre. Phía sau nhóm tượng là bức phù điêu hình vòng cung cao 4m, dài 20m, miêu tả quá trình diễn biến của cuộc Ðồng khởi lịch sử ngày 17-1-1960. Công trình do nhóm tác giả Trần Thị Trúc, Lê Dân, Lương Xuân Ba và Ðoàn Thiên Luân thực hiện

7 tháng 3, Khánh thành Ðài truyền hình Bến Tre và chính thức đưa vào hoạt động sau hơn một tháng thử nghiệm. Ðài phát sóng trên kênh 23, băng tầng UHF.

16 tháng 6, Bưu điện Bến Tre làm lễ khởi công xây dựng mạng cáp điện ngầm giai đoạn 1, từ trung tâm bưu điện tỉnh đi các phường trong thị xã Bến Tre, gồm 4 tuyến với tổng chiều dài 6.200m. Ðây là công trình cáp ngầm đầu tiên của Bến Tre.

Tháng 8, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định xác nhập trường Trung học Sư phạm với Trường Cao đẳng Sư phạm thành trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre.

2 tháng 12, Thành lập thị trấn Châu Thành theo nghị định số 84-CP của Chính phủ trên cơ sở 1 phần đất có diện tích 288 ha tách ra từ xã Phú An Hòa.

23 tháng 12, Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 377-QÐ/VH công nhận Cồn Lợi thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú là di tích lịch sử "Ðầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc - Nam thời KCCM".

Tháng 12, Theo thống kê của bưu điện tỉnh, đến cuối năm 1995, 100% các xã, phường trong tỉnh có máy điện thoại (Bến Tre có 157 xã, phường). Toàn tỉnh có 7.000 máy điện thoại, bình quân cứ 200 người có một máy điện thoại.

1996

20 tháng 4, Huyện Thạnh Phú được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

3 tháng 5, Khai mạc Ðại hội Ðại biểu Ðảng bộ ÐCS tỉnh Bến Tre lần thứ VI. Ðại hội diễn ra từ ngày 3-5 đến 5-5, đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của tỉnh từ 1996-2000, đã bầu ra tỉnh ủy mới gồm 47 ủy viên. Ông Nguyễn Văn Thới được bầu là Bí thư tỉnh ủy.

Tháng 6, Bến Tre là tỉnh đầu tiên của đồng bằng Sông Cửu Long được công nhận đạt chuẩn chống mù chữ.

26 tháng 7, Khánh thành công trình đường dây điện 22KV với tổng chiều dài 29,4km bao gồm 3 tuyến và 2 nhánh. Tổng kinh phí 4 tỷ 152 triệu đồng.

17 tháng 8, Ngành Giáo dục và Ðào tạo tỉnh Bến Tre được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng I.

Tháng 8, Khánh thành Bệnh viện y học dân tộc Trần Văn An với tổng số vốn đầu tư là 7 tỷ 420 triệu đồng, gồm cả những máy móc, thiết bị do Nhật bản giúp đữ.

2 tháng 9, Khánh thành tuyến cáp quang nội tỉnh đầu tiên từ Thị xã đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri với chiều dài 42km.

16 tháng 9, Khởi công xây dựng nhà máy đường 1.000 tấn mía cây mỗi ngày tại ấp Thuận Ðiền, xã An Hiệp, huyện Châu Thành. Nhà máy đường được xây dựng mở ra một hướng mới về phát triển công nghiệp chế biến ở vùng nguyên liệu mía dồi dào của tỉnh.

3 tháng 10, Khánh thành đền thờ Lê Quang Quan (Tán Kế), người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Ba Châu (1967) tại ấp 2, xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri.

Tháng 11, Bộ Giáo dục và Ðào tạo ra quyết định tặng 163 huy chương vì sự nghiệp giáo dục trong và ngoài ngành của tỉnh (trong đó 13 liệt sĩ).

1997

9 tháng 3, Lễ ra mắt hội khuyến học tỉnh Bến Tre. Hội Khuyến học vận động các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh ủng hộ về tinh thần, vật chất cho học sinh nghèo hiếu học, phối hợp cùng với chính quyền và các ngành ngăn chặn nạn thất học và bỏ học, khuyến khích và giúp đỡ học sinh, sinh viên hiếu học gặp hoàn cảnh khó khăn.

Tháng 7, Bến Tre đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ sau khi đã có kết luận của đoàn kiểm tra của Bộ Giáo dục đến tổ chức kiểm tra ở ba huyện Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày và thị xã.

Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định công nhận 3 di tích lịch sử cấp quốc gia ở Bến Tre, bổ sung tiếp 7 di tích lịch sử đã được công nhận trước đó.

Mộ và Nhà thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng ở xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm.

Nhà Ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Ðôi - nơi thành lập Chi bộ ÐCS đầu tiên của tỉnh Bến Tre - thuộc xã Tân Xuân, huyện Ba Tri.

Nhà Ông Nguyễn Văn Trác - nơi ở và làm việc của ông Lê Duẫn để dự bản thảo đề cương cách mạng miền Nam từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956 - tại xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm.

1998

Tháng 5, Niên học 1997-1998, tỉnh Bến Tre có 67 học sinh phổ thông đạt danh hiệu học sinh giỏi quốc gia. Ðây là con số học sinh giỏi cao nhất của tỉnh tính từ ngày giải phóng (30-4-1975 đến thời điểm này).

13 tháng 11, Theo Quyết định số 1026/QÐ-TTg của Chính phủ, thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn Thạnh Phú, thuộc 3 xã An Ðiền, Thạnh Phong và Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú) trên diện tích 8.825 ha.

17 tháng 11, Trao bằng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia của Bộ Văn hóa - Thông tin cho ngôi mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri.

1999

17 tháng 1, Khánh thành cầu An Hóa, nối liền huyện biển Bình Ðại và thị xã Bến Tre. Cầu dài 281,4m, rộng 8m, gồm 11 nhịp bằng dầm bê-tông dự ứng lực, khoảng thông thuyền cao 7m, rộng 30m.

1 tháng 2, Khánh thành Nhà máy đường Bến Tre, công suất 1.000 tấn mía nguyên liệu/ngày.

Tháng 3, Khởi công xây dựng cầu Bến Tre 2 bằng bê-tông cốt thép dự ứng lực, rộng 12m, độ tĩnh không 7m, chiều dài 361m, với 14 nhịp, tải trọng 30 tấn, bắc qua sông Bến Tre. Ðây là cầu dài nhất trong tỉnh tính đến thời điểm này.

6 tháng 5, Khởi công xây dựng cảng cá đầu tiên của Bến Tre ở xã An Thủy, huyện Ba Tri.

22 tháng 6, Khánh thành đền tưởng niệm nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị tại xã Thạnh Phú Ðông, huyện Giồng Trôm.

Ngành giáo dục tỉnh Bến Tre được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng I.

Theo thống kê của Sở Y tế, tỉnh Bến Tre có 423 bác sĩ, bình quân 3,2 bác sĩ trên 10.000 dân. Toàn tỉnh có 178 cơ sở chữa bệnh với 1.895 giường, bình quân 13,5 giường trên 10.000 dân. Tuyến tỉnh có bệnh viện đa khoa Nguyễn Ðình Chiểu 500 giường và bệnh viện y học cổ truyền Trần Văn An 120 giường.

21 tháng 2, Khánh thành Làng trẻ SOS Bến Tre, gồm 12 "gia đình", dự kiến nuôi dạy trẻ, toạ lạc tại 333A đường Ðoàn Hoàn Minh, phường 6, thị xã Bến Tre. Làng SOS bắt đầu nhận các trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn từ 8 tuổi trở xuống.

2000

29 tháng 2, Lễ khánh thành Văn bia Bạch Mai tại đình Phú Tự, xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre.

Tháng 5, Niên học 1999-2000, tỉnh Bến Tre có 176 trường tiểu học, 95 trung học cơ sở, 12 trường phổ thông cơ sở, 15 trường trung cấp 2-3, 16 trường trung học phổ thông. Có 89.429 học sinh trung học cơ sở; 30.461 học sinh trung học phổ thông. Bình quân có 100 người dân, có 4 người đi học.

1 tháng 7, Ðại diện Bộ Giao thông vận tải làm việc với hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang về dự án xây cầu vượt sông Tiền nối liền hai tỉnh. Dự kiến cầu sẽ khởi công vào năm 2001 và hoàn thành sau 3 năm xây dựng. Theo thiết kế, cầu dài 3.000m, gồm 2 giai đoạn. Từ phía bờ Bến Tre sang cồn Phụng và cồn Thới Sơn (Tiền Giang) là cầu bê-tông đúc sẵn, bề ngang 12m. Từ cồn Thới Sơn sang Mỹ Tho là cầu treo, chiều ngang 14m, khoảng thông thuyền 260m, cao 37,5m. Dự kiến cầu sẽ nằm cách phà Rạch Miễu, phía Bến Tre 2km và cách bến phà phía Tiền Giang 2,2km. Kinh phí xây dựng cầu khoảng 588 tỷ đồng.

21 tháng 7, Tại xã Thạnh Trị, huyện Bình Ðại, tỉnh Bến Tre, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và UBND tỉnh Bến Tre khởi công xây dựng công trình cống đập Ba Lai, còn gọi là dự án ngọt hóa Ba Lai. Ðây là công trình thủy lợi lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long từ trước đến nay.

Theo thiết kế, cống Ba Lai có chiều rộng thông nước 84m, với 5 khoang, 10 cửa, hệ thống cửa van tự động một chiều, cầu giao thông rộng 7m. Ðập ngăn mặn dài 550m, rộng 10m, cao trình đỉnh đập +3,5m. Công trình vừa ngăn mặn, giữ ngọt, tạo nguồn nước ngọt tiêu úng, vừa rửa phèn; đồng thời cải tạo 115.000ha đất tự nhiên, 88.500ha đất canh tác và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Ðại và thị xã Bến Tre. Cống khi hoàn thành sẽ nối liền trục đường giao thông giữa hai huyện Bình Ðại và Ba Tri. Kinh phí của công trình dự kiến khoảng 55 tỷ đồng. Khi công trình này hoàn thành, sông Cửu Long sẽ chỉ còn 8 cửa.

 

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh PhúCự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú
Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

 

Ghe chở chỉ xơ dừa

- Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre: 86 km đường bộ.

Từ thành phố Bến Tre đến các huyện của tuyến này như sau:

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc: khoảng 20 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Nam: khoảng 21 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Thạnh Phú: khoảng 49 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến "Di tích lịch sử căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định" (mật danh Y4,T4), xã Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc: 16 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến Di tích Đình Tân Ngãi (tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng), xã Thạnh Ngãi, Mỏ Cày Bắc: 20 km đường bộ.

Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến tham quan các điểm trên địa bàn:

* Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Đình Rắn, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức: 14 km đường bộ.

* Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, xã An Thạnh: 07 km đường bộ.

* Làng nghề dệt chiếu Thành Thới B (dệt chiếu cói): 10 km đường bộ.

* Cơ sở sản xuất đặc sản kẹo dừa truyền thống và cơ sở sản xuất, trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ làm từ dừa tại thị trấn Mỏ Cày Nam.

Từ Tp. Bến Tre đến các điểm tham quan tại huyện Thạnh Phú:

* Di tích nhà cổ Hương Liêm (Huỳnh Phủ), xã Đại Điền: 42 km đường bộ và thăm bia lưu niệm nơi làm lễ xuất quân của "Tiểu đoàn 307" thời kháng Pháp, thưởng thức bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng.

* Làng nghề đúc lu Hòa Lợi, xã Hòa Lợi: 48 km đường bộ.

* Làng nghề bó chổi Mỹ An, xã Mỹ An: 51 km đường bộ.

* Cơ sở chằm nón lá Huế, ở xã Mỹ Hưng: 46 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam, xã Thạnh Phong: 70 km đường bộ.

* Các điểm đến tham quan như: Di tích căn cứ Y4, Chùa Tuyên Linh, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, làng nghề dệt chiếu Thành Thới B, Di tích nhà cổ Hương Liêm, xe 4 bánh đến 50 chỗ đều đến được.
* Các điểm còn lại xe 29 chỗ ngồi cũng đều đến được.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)
&nbsp;

Image
Nguyễn Tẩu (1907-1978)
Tên thật là Nguyễn Văn Tời, bí danh Ba Lê, Hồ Việt Đông, sinh ngày 23-10-1907 trong một gia đình trung nông ở xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học chữ Nho, chữ quốc ngữ và học võ. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống văn hóa và có phong trào yêu nước sôi nổi, anh thanh niên Nguyễn Văn Tẩu đã sớm hiểu được nỗi nhục mất nước. Năm 1929, gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH, đến năm 1930 được kết nạp vào ĐCSĐD. Trong đợt khủng bố của địch sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, đồng chí trốn sang Phom Penh, đến cuối năm 1932 về lại Bến Tre bắt liên lạc với các đồng chí Nguyễn Văn Bích, Trần Văn An gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1935, được cử làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, năm 1936 là Tỉnh ủy viên Bến Tre, có nhiều đóng góp trong phong trào Dân chủ (1936 – 1939). Cuối năm 1939, đồng chí bị địch bắt trên đường công tác ở xã Châu Bình (nay thuộc huyện Giồng Trôm) đưa đi đày ở Tà Lài (tỉnh Biên Hòa). Năm 1943, mãn hạn tù, được đưa về quản thúc tại Bến Tre. Đồng chí đã bắt liên lạc với những đảng viên còn lại ở Ba Tri, củng cố lại tổ chức Đảng, thành lập Quận ủy Ba Tri, móc nối lại với các cơ sở Đảng ở Châu Thành, Sóc Sãi, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre.

   Cuộc họp tháng 12-1944 của “Ủy ban sáng kiến” gồm có đại biểu các quận Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Sóc Sãi tại Giồng Chuối (Ba Tri) để thành lập Tỉnh ủy Bến Tre mới, đã nhất trí cử đồng chí Nguyễn Tẩu làm Bí thư (cũng trong thời gian này, tại Bến Tre một số đảng viên đã liên lạc với Xứ ủy lâm thời do Trần Văn Giàu làm Bí thư, đã thành lập Tỉnh ủy do đồng chí Đỗ Văn Khuyến làm Bí thư. Đến tháng 4-1945, hai Tỉnh ủy mới hợp nhất lại, do Nguyễn Tẩu làm Bí thư).

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Bến Tre được hoàn tất vào chiều ngày 25-8-1945. Đồng chí Nguyễn Tẩu được phân công làm Trưởng Quốc gia tự vệ cuộc (tức công an ngày nay) và được bầu làm đại biểu quốc hội khóa đầu tiên của tỉnh Bến Tre cùng với các ông Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Trần Quế Tử. Khi quân Pháp chiếm lại Bến Tre, đồng chí được chuyển sang phụ trách Tỉnh đội Bộ Dân quân.

   Năm 1951, đồng chí được cấp trên điều về công tác ở TƯ Cục phụ trách công tác nông thôn, rồi công tác tổ chức.

   Tập kết ra miền Bắc, sau khi được cử đi học bổ túc văn hóa và chính trị, đồng chí được điều về làm Phó ban thanh tra Bộ Nội thương, Phó cục trưởng Cục muối, Phó cục trưởng Cục Nhà đất thuộc Bộ Nội vụ, cho đến năm 1971 thì nghỉ hưu. Đồng chí mất ngày 8-1-1978 tại thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Lê Khánh Hoà (1887 – 1947)Lê Khánh Hoà (1887 – 1947)
&nbsp;

    Hòa thượng Lê Khánh Hòa, pháp danh Thích Như Trí, sinh ngày 22 tháng 4 năm Mậu Dần (1877), tại làng Phú Lễ, tổng Bảo An, quận Ba Tri, nay là xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Năm 19 tuổi, ông xuất gia thọ giáo ở chùa Kim Cang rồi chùa Long Triều (Tân An). Vốn thông minh lại hiếu học, cho nên sau 10 năm theo thầy học đạo, nghiên cứu kinh sách, ông nổi tiếng là một nhà sư tinh thông về Phật học. Ông được cử làm trụ trì ở các chùa Khải Tường, Long Phước, Hàng Lâm… Năm 1907, ông về trụ trì tại chùa Tuyên Linh. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa tổ chức việc truyền giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh, rồi dần dần mở rộng tầm hoạt động ra các tỉnh khác ở Nam Kỳ.

   Có vốn hiểu biết rộng về Nho học và Phật học, đi đây đi đó nhiều nơi, giao thiệp rộng với các nhân sĩ, trí thức, cư sĩ Phật giáo, đặc biệt sống gần gũi với quần chúng tín đồ nên ông có một sự hiểu biết sâu sắc về đời sống của nhân dân, nguyện vọng, ước mơ của họ cùng tình hình xã hội của Nam Kỳ trong những thập niên đầu thế kỷ này. Cùng với một số nhà sư có tinh thần yêu nước, tiến bộ như sư Đôn Hậu, sư Huệ Quang, sư Thiện Chiếu… hòa thượng Lê Khánh Hòa tiến hành một cuộc vận động chấn hưng đạo Phật. Chính hòa thượng là người sáng lập "Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội" và "Lưỡng Xuyên Phật học", quy tụ nhiều vị cao tăng và nhân sĩ Phật giáo có tiếng tăm lúc bấy giờ.

   Năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chuyến lưu lạc vào Nam, có đến Bến Tre và ghé thăm chùa Tuyên Linh. Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã lưu giữ cụ Phó bảng ở lại chùa một thời gian, hai người thường đàm luận với nhau rất tương đắc về nhiều vấn đề thời cuộc và đất nước. Mối quan hệ này về sau vẫn được tiếp tục duy trì, khi cụ Phó bảng về sống tại Cao Lãnh (Sa Đéc).

  Từ năm 1930, hòa thượng Lê Khánh Hòa được bầu làm Hội trưởng Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội, chủ bút tạp chí Từ bi âm kiêm giám đốc Phật học tùng thư và là người lãnh đạo tinh thần có uy tín lớn đối với phật tử Nam Kỳ và Trung Kỳ. Cũng như trong khoảng thời gian này, ông đi nhiều nơi để vận động đổi mới hoạt động của đạo Phật. Đến Rạch Giá, ông gặp hòa thượng Nguyễn Văn Đồng - một nhà sư yêu nước - về sau bị thực dân bắt giam trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - 1940, vì chùa Tam Bảo, nơi ông chủ trì, là cơ sở cách mạng. Về Trà Vinh, ông cùng hòa thượng Huệ Quang thành lập Lưỡng Xuyên Phật học hội và xuất bản Phật học duy tâm tạp chí. Lưỡng Xuyên Phật học quy tụ nhiều vị cao tăng và trí thức Phật giáo nổi tiếng ở Nam Kỳ một thời.

   Khi CMT8-1945 bùng nổ, hòa thượng kêu gọi các phật tử trong tỉnh và trong miền ủng hộ chính quyền cách mạng, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong buổi đầu độc lập. Cũng trong thời gian này, do tuổi cao sức yếu, hòa thượng ở hẳn tại chùa Tuyên Linh, ít đi đâu xa. Năm Đinh Hợi (1947), lâm bệnh nặng, biết mình không qua khỏi, hòa thượng đã cẩn thận sắp xếp lại tổ chức trong đạo, căn dặn học trò, tín đồ tham gia vào cuộc kháng chiến do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ngày 19 tháng 6 năm Đinh Hợi, ông bảo học trò tắm rửa và thay đạo phục cho ông, xong quay mặt về phương bắc, cầu chúc nước nhà độc lập, cụ Hồ mạnh khỏe sống lâu, rồi niệm Phật, tắt thở. Với lòng kính trọng một vị cao tăng uyên thâm về mặt triết học Phật giáo, có công xây dựng giáo hội, giàu lòng yêu nước, năm 1951, hội Tăng già giáo hội và Lục hòa Phật tử suy tôn hòa thượng Lê Khánh Hòa làm Tổ của Phật giáo miền Nam.

   Năm 1956, lễ trà tỳ (tức lễ hỏa thiêu di hài để đưa tro vào bảo tháp) của hòa thượng được bổn đạo cử hành hết sức trọng thể ở chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày.

   Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã phát huy và tiếp thu tinh thần đó trong việc tu thân hành đạo một cách tích cực và sáng tạo. Cuộc đời hòa thượng Lê Khánh Hòa là một tấm gương cao đẹp về tinh thần yêu nước, về lòng vị tha cho hàng vạn tín đồ Phật giáo noi theo.

Đã ban hành
Trần Văn An (1905 – 1971)Trần Văn An (1905 – 1971)
&nbsp;

Image
Trần Văn An (1905-1971)
Sinh trong một gia đình nhà nho ở làng Tân Xuân, huyện Ba Tri, Trần Văn An khi lớn lên vừa theo học chữ Hán, vừa học cả nghề thuốc của cha.

   Tư chất thông minh lại ham học, nên ngoài vốn liếng hiểu biết từ sách vở và từ kinh nghiệm của người cha truyền lại, Trần Văn An còn tìm cách mua thêm sách báo từ Sài Gòn về tự học, tự tra cứu. Đến tuổi trưởng thành, có dịp đi đây đi đó chữa bệnh cho nhiều người, ông lại có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúx với nhiều đối tượng xã hội khác, trao đổi với họ về tình nhình đất nước, về thời cuộc, chuyền tay nhau đọc những sách báo yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ.

   Năm 1927, ông cùng với một số bạn hữu gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH ở xã Tân Xuân. Tiệm thuốc bắc Chẩn Tế Đông đại dược phòng của cha ông được làm nơi hội họp, liên lạc.

   Đầu năm 1930, khi ĐCSĐD ra đời, đồng chí Nguyễn Văn Trí, trong ban cán sự Tỉnh uỷ Mỹ Tho đến Ba Tri, cùng bàn với Trần Văn An thành lập chi bộ Tân Xuân, do Trần Văn An làm Bí thư. Đây là chi bộ ĐCS đầu tiên của tỉnh Bến Tre.

   Ngày 1-5-1930, để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, các đồng chí ở chi bộ Tân Xuân đã treo cờ búa liềm trên ngọn cây đa đôi ở đầu xã và tổ chức một cuộc biểu tình gần 200 quần chúng tham gia. Trần Văn An đã đứng ra hô hào đồng bào đấu tranh chống lại bọn cường hào đòi giảm sưu, giảm thuế cho nông dân. Sau cuộc biểu tình này, bọn tay sai đánh hơi thấy có hoạt động của ĐCS ở địa phương, nên ra sức truy lùng. Trần Văn An phải tạm lánh qua vùng Châu Bình, Ba Mỹ để tiếp tục hoạt động.

   Tháng 6-1930, Trần Văn An được bầu vào Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Khi địch đánh phá, cơ sở Đảng ở Bến Tre tan rã, ông lên Sài Gòn, đến tháng 10-1932 thì bị địch bắt và bị giam ở Khám Lớn đến năm 1935. Ra từ, Trần Văn An trở về Bến Tre tiếp tục hoạt động, gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền, đã có chủ trương nới rộng một số chính sách cai trị ở các thuộc địa như ân xá tù chính trị, giải quyết một số quyền lợi cho người lao động. Lợi dụng tình hình chính trị thuận lợi, ĐCS chủ trương chuyển một số hoạt động bí mật sang hình thức công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội. Trần Văn An cùng một số đồng chí khác như Bùi Lương, Nguyễn Văn Bích thành lập chi cục Đông Phương thư xã tại thị xã Bến Tre và tại các tỉnh Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Năm 1939, thực dân Pháp mở đợt khủng bố mới, Trần Văn An bị sa lưới mật thám và bị kết án khổ sai 20 năm, đày ra Côn Đảo.

   Sau ngày CMT8-1945, cùng nhiều tù nhân khác ở Côn Đảo được rước về đất liền. Về lại Bến Tre, bắt tay ngay vào việc xây dựng phong trào và chuẩn bị thực lực để kháng chiến.

   Tháng 10-1947, được bầu làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, sang năm được bầu vào Tỉnh ủy, trực tiếp phụ trách báo Đoàn kết. Năm 1951, được điều về công tác ở miền Tây cho đến Hiệp định Genève (7-1954) mới trở lại Bến Tre.

   Trong thời kỳ địch mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng khốc liệt trên đất Bến Tre, Tỉnh uỷ chủ trương đưa số già yếu, bị lộ, không còn điều kiện hoạt động hợp pháp tạm thời đi “điều lắng” ở Sài Gòn. Đến tháng 11-1965, theo yêu cầu của Tỉnh Bến Tre, ông trở về tỉnh công tác. Năm 1965, vì tuổi già sức yếu, lại phát bệnh tim và bại liệt. Tỉnh ủy quyết định đưa ông về điều trị và điều dưỡng ở bệnh xá dân y của tỉnh. Trong những năm 1965 – 1967, cường độ chiến tranh ngày càng khốc liệt. Địch ra sức tiến hành "bình định cấp tốc" làm cho ta mất đất, mất dân nghiêm trọng. Các cơ quan dân, chính, Đảng, kể cả cơ sở hậu cần, bệnh viện phải chuyển về rừng ngập mặn ở Thạnh Phú. Trong một trận càn của địch vào xã Thạnh Phong, chúng đã bắn chết ông ngày 16-4-1971.

Đã ban hành
Một ngày thú vị trên sông nước xứ dừaMột ngày thú vị trên sông nước xứ dừa
Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Từ thành phố Hồ Chí Minh xe khởi hành lúc 08 giờ sáng, 09 giờ 45 bọn tôi đã đến bến tàu du lịch Tiền Giang; 10 giờ xuống du thuyền và bắt đầu khám phá sông nước – miệt vườn của vùng đất xứ dừa. Từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, du thuyền đưa chúng tôi lênh đênh trên dòng sông Tiền, ngắm nhìn sông nước mênh mông, những tàu thuyền xuôi ngược, những gợn sóng nhấp nhô lắc lư du thuyền, cả bọn khoái chí vô cùng.

 

Chỉ một ngày ngắn ngủi trong chuyến hành trình khám phá vùng sông nước Bến Tre, do công ty Cổ phần du lịch Bến Tre tổ chức, thật sự là một ấn tượng đáng nhớ và khó quên của cả nhóm. Điểm dừng chân đầu tiên, chúng tôi được hướng dẫn tham quan các điểm du lịch trên Cồn Phụng (Châu Thành, Bến Tre). Đến đây, ngoài việc tận hưởng khí trời thoáng mát của vùng sông nước, chúng tôi được tham quan các kiến trúc còn hiện hữu như: Sân rồng, tòa tháp với lối kiến trúc độc đáo, có nhiều hoa văn rất đẹp, cũng như tham quan tìm hiểu về lịch sử công trình này, cả đoàn thích thú vô cùng.

 

Điểm tiếp theo được hướng dẫn thăm cơ sở sản xuất kẹo dừa và tráng bánh tráng truyền thống. Nhìn những viên kẹo dừa mới ra lò còn nóng hổi, có mùi thơm béo ngậy và nhìn đôi bàn tay khéo léo của người thợ gói kẹo, bọn tôi ngưỡng mộ vô cùng. Chúng tôi được thưởng thức những viên kẹo dừa đặc sản, do chủ cơ sở mời và uống ly trà nóng, bọn tôi cảm thấy nó ngọt ngào, ấm lòng, thâm tình sao sao ấy và khó diễn tả hết được sự mến khách của người dân xứ dừa, điều mà từ lâu bọn tôi đã nghe nhiều người nhắc đến.

Cũng tại Cồn Phụng, hành trình trên những con đường làng quanh co dưới những vườn cây trái rậm bóng mát, chúng tôi tham quan cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Cả bọn tôi ai cũng lóe mắt, ngạc nhiên với những sản phẩm thủ công mỹ nghệ hết sức độc đáo này. Phải công nhận rằng từ “cây dừa” sao mà làm ra nhiều thứ quá. Tò mò, tìm hiểu và tiếp xúc với người dân nơi đây, bọn tôi thán phục cái trí óc tưởng tượng phong phú, kết hợp với đôi bàn tay khéo léo của những “nghệ nhân miệt vườn” xứ dừa, cùng các kỹ thuật chế tác tinh xảo, đã sáng tạo ra rất nhiều loại sản phẩm từ dừa, nhất là một số sản phẩm tiêu biểu như: chén, đũa, nĩa, ấm trà, gạt tàn thuốc, hình các con vật,… để mọi người ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó. Cả đoàn ai cũng trầm trồ, rồi lựa chọn cho mình những sản phẩm thông dụng yêu thích. Riêng bọn tôi, mỗi đứa chọn cho mình một vài sản phẩm, nhất là các con vật trong bộ giáp, để tặng cho người thân, bạn bè đúng ý nghĩa với tuổi của mỗi người và để làm kỉ niệm nhân chuyến đi tại vùng sông nước, miệt vườn Bến Tre.

Đến Cồn Phụng, ngoài tham quan khung cảnh thiên nhiên, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các đặc sản truyền thống, chúng tôi thấm mệt nên nằm nghỉ chốc lát trên những chiếc võng đong đưa dưới vườn cây, tán lá xanh mát. Sau khi đã nghỉ ngơi lấy lại sức, chúng tôi tham gia vào trò chơi câu cá sấu, đây cũng là một thú tiêu khiển, thư giãn rất thú vị.

Du thuyền lại xuôi dòng sông Tiền, người hướng dẫn đưa chúng tôi đến điểm Cồn Quy; lênh đênh thưởng ngoạn trên sông nước, vừa ngắm nhìn những sản phẩm ngộ nghĩnh từ dừa trên tay, được ngồi thư thái trên du thuyền, được hít, thở gió trời của vùng sông nước xen lẫn với mùi thơm thoang thoảng của hoa bần, thật là thoải mái, thú vị vô cùng. Theo lời giới thiệu của hướng dẫn, Cồn Quy nhỏ nhất trong các cồn của Bến Tre được khai thác từ những năm 1960, hiện nay Cồn Quy vẫn còn giữ được những nét hoang sơ. Ven bờ Cồn Quy là những hàng bần với bông bần trắng tím là đà mặt nước, đong đưa trong gió và những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn đến hút mắt. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắt gặp những mái nhà lá đơn sơ thấp thoáng trong những vườn cây ăn trái trĩu quả.

Đến Cồn Quy, chúng tôi được ngắm một khung cảnh thiên nhiên hữu tình thơ mộng, khoái nhất là tham gia tát mương bắt cá, hái trái cây với chủ vườn và thưởng thức các đặc sản của vùng đất nơi đây. Dừng chân ở nhà hàng du lịch xanh Quê Dừa, ngồi trong các gian sàn rộng rãi, gọi là thủy tạ gió mát rười rượi, chúng tôi thư thái ngắm nhìn đám lục bình tràn đầy mặt hồ đã tới mùa nở hoa tím ngát rất đẹp. Theo nhận xét của nhóm chúng tôi, nhà ăn ở đây được cất bằng tre lá nhưng đầy đủ tiện nghi và theo lời giới thiệu của chủ cơ sở ở đây phục vụ khoảng 400 khách cùng một lúc, với những món ăn đặc sản dân dã như: Cá bông lau nấu canh chua bần với rau muống đồng, cá điêu hồng hấp với các loại nấm và bông bí, tép rang dừa, cháo cua đồng, cá rô kho tộ, cá tai tượng chiên xù,…

Thật hấp dẫn, cả đoàn chúng tôi còn được phục vụ đàn ca tài tử, được đưa đi tham quan quy trình nuôi ong mật, vừa thưởng thức trái cây mới hái,  thú vị nhất là được hớp ly trà mật ong. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết người dân nơi đây sáng tạo nuôi ong lấy mật tại vườn nhà, sau đó pha với trà phục vụ cho du khách. Vị đắng hậu ngọt của trà hòa trong vị ngọt chua của mật ong thật là tuyệt.

 

Tham quan xong Cồn Quy, từ du thuyền lớn chuyển sang những chiếc xuồng chèo nhỏ đưa chúng tôi len lỏi vào trong các con rạch nhỏ. Càng vào sâu trong rạch, hai bên dừa nước chen mọc dày đặc, xanh um, cùng với những bông, quầy dừa nước lớn, nhỏ, đua nhau khoe sắc trông đáng yêu vô cùng. Hướng dẫn viên thuyết minh, đây là con rạch nhỏ có tên là rạch Xếp thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, Bến Tre. Nó có tên rạch Xếp, vì càng vào sâu con rạch càng xếp nhỏ lại. Đến đây, chúng tôi được đưa đi xem các lò sấy nhãn nằm dài theo những con đường làng rợp bóng dừa xanh. Chúng tôi bắt gặp hình ảnh của  những người dân mến khách luôn có nụ cười cởi mở và thân thiện làm cho chúng tôi cảm thấy sự gần gũi và gắn bó với nơi đây tự bao giờ.

Tiếp tục chuyến hành trình, chúng tôi đến với điểm du lịch Quới An tham quan ngôi nhà chữ “đinh” làm bằng gỗ dừa rất độc đáo, đây là kiểu nhà truyền thống Nam Bộ. Trong ngôi nhà trưng bày tranh, ảnh, các hiện vật có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân Nam Bộ, cũng như các sản phẩm quà lưu niệm làm từ dừa. Chia tay điểm du lịch Quới An, tiếp tục thả bộ trên con đường làng rợp bóng dừa xanh với những vườn cây trái xanh mát, chúng tôi càng thích thú hơn khi được ngồi trên thùng xe để “chú ngựa” kéo đi, cảm giác lần đầu đi xe ngựa ngắm đường làng và nhìn thấy sinh hoạt thường nhật của người dân nơi đây cả bọn chúng tôi khoái khoái sao sao ấy. Tiếng ngựa lóc cóc vang lên trên con đường quê rợp bóng dừa xanh, thoang thoảng đâu đây mùi hương của hoa dừa, hoa của những vườn cây ăn trái,… đã làm nên một kỷ niệm khó phai trong lòng mỗi chúng tôi khi tham gia vào một chuyến du hành khám phá vùng sông nước – miệt vườn Bến Tre.

Trong chuyến đi này, nhóm bạn chúng tôi mỗi đứa có một ý nghĩ, một cảm nhận riêng. Song chúng tôi có cùng một sở thích và thích thú vô cùng đó là “xuồng chèo” len lỏi trong những con rạch nhỏ, nhìn dòng nước ròng, nước lớn, có màu đục đục. Có lẽ đây là dòng nước có nhiều phù sa, nên đã bồi tụ cho vùng đất này có rừng dừa xanh thẩm bạt ngàn và phong phú nhiều vườn cây ăn trái tốt tươi. Yêu nhất vẫn là hai hàng dừa nước xanh um tùm, đan xen trong đó là những cây bần trổ hoa thơm ngát. Hương thơm của hoa bần, với những làn gió mát rượi của vùng sông nước xứ dừa, những món ăn dân dã, những món quà lưu niệm xinh xinh làm bằng dừa,… làm cả bọn chúng tôi quên đi mệt mỏi. Đây thật sự là một trải nghiệm đáng nhớ của nhóm chúng tôi trong chuyến hành trình về với quê hương xứ dừa. Hy vọng một lần nữa hành trình đến vùng đất xứ dừa, với tuyến khám phá khác sẽ gặt hái nhiều kỷ niệm đẹp và thích thú nhiều hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Tiếp
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường An Hội, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer