Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Vàm Nước TrongVàm Nước Trong
 

Ngã ba nơi con rạch Nước Trong đổ ra sông Mỏ Cày, thuộc xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày. Nơi ngã ba có chợ Vàm Nước Trong tương đối sầm uất. Các tàu đò đi Trà Vinh, Vĩnh Long, thị xã Bến Tre thường ghé lại để nhận hoặc bỏ hàng, rước khách. Trong KCCP, đồn Vàm Nước Trong đã bị quân ta tiêu diệt.

Trong cuộc Đồng Khởi (17-1-1960), bằng bạo lực chính trị, nhân dân xã Định Thủy đã hạ được đồn Vàm Nước Trong ngay từ đầu. Thắng lợi này có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương châm (ba mũi giáp công) trong quá trình đấu tranh nổi dậy giành chính quyền làm chủ ở nông thôn.

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hành
Lễ hội Nghinh ÔngLễ hội Nghinh Ông

&nbsp;<br />

Image
Lễ hội Nghinh Ông
Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội.

Trước ngày lễ các thuyền đánh cá dù đang làm nghề ở nơi xa hay gần, đều phải tề tựu về bến. Cả hai đang đánh bắt trúng cũng phải bỏ mà về. Điều này đã trở thành quy ước bắt buộc. Tham gia vào lễ nghinh ông còn có những thuyền đánh cá ở nơi khác, tỉnh khác đang hành nghề tại biển của địa phương. Các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân có bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo, cùng với hương hoa. Khởi đầu là lễ túc yết với nghi thức đơn giản được tiến hành tại lăng. Mọi người dân trong vạn lạch, từ những ngày trước đã góp tiền làm lễ cúng Ông. Đóng góp nhiều hay ít là tùy tấm lòng của từng gia chủ ngư dân, mà không có một sự bắt buộc nào, và cũng không có sự phân biệt giữa người đóng tiền nhiều hay ít, có đóng tiền hay không đóng tiền. Đêm đầu tiên của lễ hội này có một nghi thức không hoàn toàn bắt buộc, tùy theo ban tổ chức. Đó là lễ hội cầu an. Ông chánh bái và phó chánh bái quay mặt vào điện thờ khấn vái, xin sự chứng kiến của Nam Hải ngọc tôn thần. Ông phó chánh bái đội tờ sớ xin cầu an lên đầu, quỳ lạy. Tám nhà sư quỳ thành hai hàng ở phía sau, rồi đứng lên tụng kinh làm lễ cầu an cho vạn lạch. Lá sớ cầu an được đem đốt vào cuối buổi lễ.

Sáng hôm sau là nghi thức Nghinh ông. Nghi thức này được tiến hành với sự tham gia của đông đảo tất cả ngư dân trong vạn chài. Dẫn đầu đoàn ngoài ra khơi nghinh Ông gồm có ông chánh bái và phó chánh bái. Theo sau có 4 học trò lễ, 4 đào thài (2 đào nam và 2 đào nữ), 8 người mang bát bửu, chấp kích, một người vác cờ có chữ Nam Hải, bốn người khiêng long đình, hai người cầm lọng, một người vác cờ lớn, cùng với phường bát âm. Tất cả những người này khiêng long đình, cùng tất cả đồ lễ, từ lăng thờ cá Ông tiến ra cửa sông để xuống một ghe riêng đã được chọn sẵn, gọi là ghe lễ. Thông thường chiếc ghe được chọn là ghe của gia chủ song toàn nhất trong vạn, không có vướng mắc gì, làm ăn phát đạt và phải là ghe mang số chẵn, trên ghe này có một bàn bày các lễ vật, gồm một con heo quay, hai đĩa lòng heo (một đĩa sống, một đĩa chín), một đĩa bánh hỏi, cùng hoa quả. Hai bên cạnh con heo quay là 12 chiếc chén (bát) cùng 12 đôi đũa. Sau ghe lễ là ghe chở đoàn múa lân. Tiếp sau hai ghe này là tất cả một đoàn ghe gồm hàng trăm chiếc của ngư dân trong vạn lạch. Trên từng chiếc ghe đều có bày đồ lễ cúng. Tất cả cùng tiến ra ngoài biển khơi, để làm lễ rước Ông. Cả ghe lễ, ghe chở đoàn múa lân và các ghe chở ngư dân, đều có thả một sợi dây xuống nước, ở cuối sợi dây có buộc một chùm giẻ ngũ sắc. Khi cả đoàn ghe ra tới chỗ giáp nước (nơi nước sông và nước biển gặp nhau) cả đoàn ghe lượn quanh nhiều vòng. Ông chánh bái bắt đầu đợi “Ông lên vọi”. Ngư dân tin rằng, năm nào đoàn ghe ra khơi nghinh Ông mà gặp "Ông lên vọi", coi như là năm đó vạn lạch gặp may mắn, làm ăn phát tài. Trường hợp không thấy tăm tích gì sau lượn vòng nhiều bận, ông chánh bái sẽ xin keo âm dương. Nếu trong một hai đồng tiền tung lên, rơi xuống mặt dĩa mà có chiếc úp chiếc ngửa thì coi như ông Nam Hải đã chấp thuận lòng thành của ngư dân. Liền ngay đó, tức là lễ rúc lên một hồi tù và vang động một vùng biển, và bắt đầu đốt pháo. Tất cả hàng trăm chiếc ghe đi sau ghe lễ đều đốt pháo theo. Sự hứng khởi tột độ của ngư dân lúc này đã khiến tất cả các ghe chạy ào ào hỗn độn. Có ghe va chạm vào các ghe khác, không sao, người dân chấp nhận sự ồn ào và hỗn độn này. Đoàn ghe nghinh ông náo nức quay trở về bến. Đi đầu vẫn là chiếc ghe lễ. Tới bến người ta khiêng long đình, hương án và tất cả các đồ lễ lên bờ, rước về lăng. Tới lăng, người chánh bái, cùng phó chánh bái khiêng bát hương vừa mang ra khơi nghinh Ông, đặt lại bàn thờ. Sau khi làm các nghi thức an vị và các thủ tục khấn vài, lễ Nghinh Ông chấm dứt. Ngư dân tin rằng ông Nam Hải đã về ngự tại điện thần, chứng giám lòng thành của họ.

Sau đó, lễ tế tiền hiền, hậu hiền bắt đầu. Lễ vật cúng tiền hiền là món mặn, như mọi đám giỗ tổ tiên, gồm 4 mâm xôi (3 mâm xôi trắng, một mâm xôi đỏ). Sau một hồi chiêng, một hồi trống và nhạc lễ, ông chánh bái và phó chánh bái cùng các bồi tế dâng lễ nến và hoa. Sau đó, dâng thức ăn, dâng rượu và đọc văn tế tiền hiền xin vong hồn tổ tiên cùng các cô hồn cùng về chung hưởng.

Nghi thức xây chầu đại bội là nghi thức không cố định, nghĩa là phụ thuộc vào ban tổ chức năm ấy có mời đoàn hát hội hay không? Trước khi vào xây chầu, các đào thài lạy trước điện thờ ông Nam Hải. Lễ vật tại bàn thờ lúc này là một con lợn trắng, đã mổ, cạo sạch lông, quay đầu về phía bàn thờ Ông, bát huyết đặt bên cạnh, lá mỡ chài phủ lên đầu con lợn. Người cầm chầu là Ông chánh bái. Dân cúng ở trong vạn chài ngồi xem hát bội ở ngay nhà võ ca. Các đào thài hát, múa dân chúng xem, cùng với nghĩa hát cho ông Nam Hải vui lòng.

Nghi thức lễ chánh tế được tiến hành vào giữa đêm 16-6 (âm lịch), vào lúc giao điểm giữa hai ngày. Sau các nghi thức thông thường như củ soát tế vật, tựu vị, chỉnh y, ban tổ chức chọn một người có tuổi, có đức độ song toàn, được mọi cư dân trong vạn lạch kính trọng, làm nhiệm vụ khai mõ, kế đến là nghi thức khai chiêng, rồi khai trống. Ban nhạc cụ này đều được đánh theo hồi, theo nhịp đã quy định. Khi dứt nhịp trống thì sàn nhạc lễ bắt đầu nổi lên. Ông bồi tế dâng nến, hoa cho ông chánh bái. Ông này giơ mấy nén nhang trong tay lên ngang trán, vừa đọc vừa khấn.

Sau đó, ông thắp nhang lên bàn thờ. Theo sau học trò lễ là các đào thài, vừa đi từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ quanh điện thần, vừa hát những câu hát chúc thần. Tiếp theo là nghi thức dâng rượu. Các học trò lễ nhận rượu từ tay ông chánh bái bước lên dâng thần. Các đào thài vừa đi đàng sau học trò lễ, vừa hát chúc thần. Sau tuần rượu thứ nhất vị chánh tế bắt đầu đọc tế văn ông Nam Hải.

Sau khi đọc tế văn xong, ông chánh tế lại dâng tiếp tuần rượu thứ hai, rồi tuần rượu thứ ba cùng lời khấn. Sau khi dâng trà, bốn đào thài vái lạy trước bàn thờ ông. Cuối cùng là nghi thức đốt văn tế. Tất cả, ban khánh tiết, học trò lễ, đào thài vái lạy Ông lần cuối. Nghi thức chánh tế kết thúc, đồng thời cũng là kết thúc lễ hội Nghinh Ông của người dân vạn lạch.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Khám phá đất biển Bình ĐạiVề xứ dừa - Khám phá đất biển Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Vì là huyện vùng biển, người dân Bình Đại sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản. Gắn liền với nghề này ở Bình Đại có nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Hay một nghề không thể không kể đến và có truyền thống lâu đời, có những nét độc đáo riêng như: nghề đánh cá mòi, câu kiều, lưới sỉ, lưới cào. Một nghề có tính chất riêng biệt của vùng biển Bình Đại nữa là nghề đáy sông cầu, nghề này ở Bình Đại có rất sớm và phát triển mạnh, rồi lan sang cửa biển ở Ba Tri và Trà Vinh. Đáy sông cầu được cắm thành hàng ngang giữa dòng nước chảy xiết nhưng không có những hàng rào chắn ngược dòng như đáy rạo.

Ngoài nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản, người dân Bình Đại còn nghề làm vườn, làm ruộng, làm muối, chế biến những sản phẩm của biển, nghề trồng giồng. Bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận là những đặc sản có tiếng trong vùng…. Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là đặc sản “dưa hấu Cửa Đại”, từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này và được ca ngợi:

“Tư bề Thừa Đức nội thôn

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”.

 

Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến, nhưng trên đường đến biển Thừa Đức, du khách ghé thăm di tích lịch sử cấp tỉnh Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát, tọa lạc tại xã Châu Hưng. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 03 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thếp vàng.

Năm 1905, nhân dân làng Tân Hưng thống nhất đóng góp sức người, sức của xây dựng ngôi đình làng này và phong ông Huỳnh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh của làng, đưa vào thờ trong đình. Vì vào khoảng đầu thế kỷ 19, vùng Bình Đại đã có cư dân đông đúc, làng mạc đã rải rác nhiều nơi, nhưng một số nơi vẫn là vùng đất hoang vu đầy thú dữ, ông Huỳnh Văn Thiệu đã đứng ra tập hợp cư dân ngoài thân tộc để khai phá đất đai và chống thú dữ, ông được người dân mến mộ, theo ông rất nhiều. Ông từ chối ra làm việc làng, mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định nổi lên chống Pháp.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 – 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng, nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Cạnh Đình Tân Hưng là đền thờ của cụ Huỳnh Tấn Phát, là cháu cố của Ông Huỳnh Văn Thiệu. Người ta biết đến kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát như một trí thức yêu nước lớn, một nhà hoạt động chính trị suốt đời theo đuổi lý tưởng cách mạng, gắn liền hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1933, ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Đông Dương, để có tiền ăn học ông tham gia giảng dạy ở Trường Thăng Long - Hà Nội, viết báo La Lutte (Tranh Đấu), báo Le Travail (Lao Động) ở Bắc Kỳ. Ông cũng là điển hình của thế hệ “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” vào tháng 8/1945.

Nhiều sáng tác và thiết kế dự án của ông như: Đồ án thiết kế Nhà văn hoá dự kiến xây dựng ở Khám Lớn - Sài Gòn đoạt giải nhì (không có giải nhất). Những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, ông đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng nhiều phòng họp, hội trường, nơi ăn chốn ở phục vụ cho các đại biểu về dự các hội nghị tại vùng căn cứ cách mạng. Đặc biệt, là hội trường cho Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, hội trường đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam lần thứ nhất ở R (Lò Gò) đều bằng tre gỗ nứa lá, nhưng đã khéo xử lý rừng cây tán lá rậm rạp để có hội trường rộng rãi khang trang đẹp đẽ.

Sau ngày Miền Nam được giải phóng, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, ông đã trực tiếp góp ý đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội và các công trình như: Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Trung ương, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh…. Ông còn tham gia các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh, Lạng Sơn,… và là đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Thành Thế trong sơ phác tìm ý cho Nhà hát Hoà Bình - Quận 10 - Tp Hồ Chí Minh.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu vào Đại biểu Quốc hội các khoá 1, 2, 3, 6, 7, 8. Nhà nước đã thưởng ông nhiều Huân, huy chương. Năm 1996, cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vinh dự được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I). Ông mất vào cuối tháng 10/1995.

 

Vùng đất huyện Bình Đại còn có công trình cống đập Ba Lai tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới. Cống đập Ba Lai là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Công trình với mục đích tưới tiêu, giữ ngọt, ngăn mặn cho khoảng 90.000ha đất nông nghiệp, hệ thống này sẽ phân rõ vùng mặn, vùng ngọt và sẽ thuận lợi bố trí sản xuất ở vùng mặn (nuôi thuỷ sản), vùng ngọt sẽ đưa sản xuất lúa từ 2 vụ lên 3 vụ, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế vườn. Cũng tại địa điểm này có thể tham quan trại nuôi cá sấu, heo rừng và mô hình nuôi cá lóc bông ven sông Ba Lai.

Lễ hội nghinh Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bình Đại - Bến Tre. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống. Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại được tổ chức vào ngày 16/6 âm lịch. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội. Vào lễ, các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo cùng với hương hoa Lễ hội nghinh ông ở xã Bình Thắng tuy ra đời muộn màng hơn so với các địa phương khác trong tỉnh, nhưng lễ hội không chỉ thể hiện đầy đủ tính vốn có của lễ hội dân gian, mà còn phản ánh sinh động cả nội dung và hình thức của nghề hạ bạc trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

 

Nhưng có lẽ đến Bình Đại, khám phá bãi biển phù sa Thừa Đức là thích thú nhất. Bởi bãi biển nơi đây còn hoang sơ, với bãi cát mịn trải dài ra biển, cặp theo bãi biển là những hàng dương xanh, tạo ra phong cảnh khá đẹp, cùng với không khí thoải mái, thoáng mát. Dọc theo bãi biển là các dãy nhà lá được cất nối dài, người ta mắc những chiếc võng để du khách nằm nghỉ ngơi đong đưa, thư giãn, hít thở gió biển, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào hòa vào cùng tiếng vi vu của những rặng phi lao, tạo nên một thanh âm đặc sắc, bay bổng, nhẹ nhàng, thoải mái vô cùng. Tại bãi biển phù sa Thừa Đức, sau khi tắm biển phù sa, du khách có thể thỏa thích chọn lựa thưởng thức các món đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo nhất là món bánh xèo xứ biển. Chiếc bánh xèo ở đây được chiên lớn, giòn, mùi thơm béo ngậy. Ngồi bên mâm bánh xèo phong phú các loại rau ăn kèm, với nước chấm tỏi ớt chua, ngọt có pha những sợi rối trắng, đỏ được chế biến từ củ cải trắng, đỏ hấp dẫn vô cùng. Hay mùi thơm tỏa ra từ những chiếc bánh xèo đang chiên, chưa ăn mà cảm thấy ngon hết sẩy. Những năm gần đây, bánh xèo tại bãi biển Thừa Đức gần như đã trở thành “thương hiệu” và hầu như ai đến nơi đây ít, nhiều cũng một lần thưởng thức món bánh xèo xứ biển.

Thưởng thức xong món bánh xèo hay các món đặc sản biển, du khách có thể tiếp tục ngã lưng trên những cánh võng được mắc trong các dãy nhà nối dài. Hay du khách tự mắc võng dưới hàng dương xanh mát, để tận hưởng không khí trong lành của biển phù sa trên đất xứ dừa. Tuy là bãi biển phù sa, nhưng nơi dây vào các dịp lễ hàng ngàn du khách từ các nơi đổ về để vui chơi, tắm biển đông nghẹt. Bãi biển đã được xây dựng bờ kè bê tông, tương lai nơi đây sẽ tạo ra không gian sinh thái xứ biển lý tưởng, thích hợp nghỉ ngơi, an dưỡng, nhất là cho người cao tuổi.

Đường đến Bình Đại hai bên đường du khách ngắm nhìn cảnh thiên nhiên, sẽ mãn nhãn với những cánh đồng lúa xanh mơn mởn hay chín vàng, xen lẫn với những hàng dừa xanh thẳng lối và những liếp, những mô dừa xanh đang vươn mình bên đồng ruộng lúa. Du khách sẽ bắt gặp mô hình nuôi tôm công nghiệp tại các xã ven hai bên đường…. Ngoài các sản phẩm về biển thông thường như: cá, tôm, cua, mực, nghêu…; vùng này còn có rừng ngập mặn, có nhiều cây chà là mọc, nên cũng có lắm đuông chà là. Đây là sản vật thiên nhiên rất độc đáo, người dân nơi đây đã khai thác, chế biến làm nhiều món nhâm nhi trong các quán. Hay ở đây, còn có đặc sản con rươi dùng để làm nước nắm rất đặc biệt.

Bình Đại chưa có nhiều điểm đến du lịch, nhưng trung tâm thị trấn Bình Đại lại có nhiều cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi hơn so với các huyện khác của tỉnh Bến Tre. Có thể nói cơ sở lưu trú ở đây không thua gì các khách sạn tại thành phố Bến Tre. Vì thế, du khách có thể chọn nghỉ qua đêm tại vùng đất biển yên ả này, thưởng thức đặc sản biển thỏa thích, cũng như mua sắm quà lưu niệm nhân chuyến hành trình khám phá đất biển trên ba dãy cù lao xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc TòngKhu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh lộ 885 đến ngã tư Bình Tây khoảng 35km, rẽ phải theo đường liên xã An Bình Tây - An Hiệp khoảng 2km là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang, nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu.

Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên là Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch, đánh giáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Phan Ngọc Tòng cùng với nhiều nghĩa quân khác đã hy sinh. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Đồng Văn CốngĐồng Văn Cống
&nbsp;

Image
Đồng Văn Cống
    Sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân, tham gia phong trào cách mạng từ năm 1936, vào ĐCSĐD năm 1939. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.

   Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

   Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

   Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ.

   Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ.

   Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958).

   Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam.

   Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9. Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam. Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8. Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

   Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, làm Tư lệnh phó quân khu 7. Năm 1981, làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng.

  Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, đồng chí Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Đồng chí không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng LLVT trong KKCP và KCCM. Đồng chí đã được tặng thưởng 18 huân chương các loại, trong đó có phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
An HóaAn Hóa

<br />

An Hóa (thường gọi cù lao An Hóa)

Cù lao nằm giữa sông Ba Lai, cho đến khi có nghị định của Toàn quyền Paul Doumer đổi sở tham biện (inspection) thành tỉnh (province) ngày 1-1-1900, vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm 2 tổng Hòa Quới và Hòa Thinh.

Năm 1948, cù lao An Hóa được cắt ra khỏi tỉnh Mỹ Tho, sáp nhập vào tỉnh Bến Tre theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ.

Sau hiệp định Geneve (7-1954) chính quyền Sài Gòn tách cù lao An Hóa ra khỏi tỉnh Bến Tre, nhập lại Mỹ Tho, cho đến năm 1956, khi thành lập tỉnh Kiến Hòa mới nhập cù lao An Hóa về lại tỉnh Kiến Hòa (đổi tên tỉnh Bến Tre)

Tỉnh Bến Tre ngày nay gồm 3 cù lao: An Hóa, Minh và Bảo.

An Hóa (còn gọi kênh Giao Hòa)

Kênh nối sông Mỹ Tho với sông Ba Lai (dài 3,5 km), kết hợp cùng với kênh Chẹt Sậy, nối sông Ba Lai với sông Bến Tre, tạo nên con đường thuỷ quan trọng xuyên qua cù lao An Hóa và cù lao Bảo, nối hai sông Mỹ Tho (sông Tiền).

An Hóa

Cầu bê-tông cốt thép bắc qua sông An Hóa trên đường thị xã Bến Tre đi Bình Đại, xây dựng năm 1999, dài 281,4m, rộng 8m, gồm 11 nhịp, khoảng thông thuyền 7m, rộng 30m. Đây là cầu dài nhất Tỉnh Bến Tre trong thế kỷ XX.

Đã ban hành
Nhà bảo tàng Bến TreNhà bảo tàng Bến Tre
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474 m2. Mái lợp ngói, tường gạch, cùng nhiều cửa sổ cũng hình vòm trên chạm đầu rồng hoặc sư tử. Bốn hướng đều có cổng ra vào với 3 mặt giáp với 3 con đường lớn: Hùng Vương, Cách Mạng Tháng Tám, Lê Đại Hành.

Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, nằm ngay trung tâm thành phố với những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng tươi tốt, quý giá và hàng rào khang trang bao bọc làm cho ngôi nhà trở nên biệt lập và sang trọng.

Đây là một vị trí đẹp, thuận lợi về mọi mặt, là điểm hẹn của nhân dân trong tỉnh, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ Dừa.

Chính vì vị trí quan trọng như vậy nên khi xâm chiếm đất Bến Tre, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi nhà này để làm Dinh Tham biện.

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), đế quốc Mỹ nhảy vào dựng lên ở miềm Nam chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ngôi nhà này được Mỹ Ngụy chọn làm Dinh Tỉnh trưởng. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngôi nhà được Tỉnh ủy Bến Tre tiếp quản, sau đó giao lại cho Ty Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm phòng Bảo tồn Bảo tàng vào năm 1976.

Khi Bảo tàng Bến Tre được thành lập theo Quyết định số 1564 ngày 26/10/1981, tỉnh đã quyết định giao lại ngôi nhà cho Bảo tàng sử dụng để trưng bày những hình ảnh và hiện vật truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tại đây từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân, dân Bến Tre. Đây là cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu vào năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường; là nơi diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy vào tháng 10/1945; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá - Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960 - 1962.

Hiện nay, nội thất ngôi nhà đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày. Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn ba ngàn hiện vật, hình ảnh, tư liệu, gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, …

Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình,… Bảo tàng Bến Tre có thể giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một tòa nhà mới theo Quyết định số 2234/QĐ-UB ngày 20/6/2002 trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà khách Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nước mặtNước mặt
Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3.
Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3.

Song dòng chảy các sông ở tỉnh Bến Tre không đơn thuần do nước từ thượng nguồn đổ về, mà còn do thủy triền biển Đông theo các cửa sông xâm nhập sâu vào trong đất liền, tạo nên dòng chảy khá phức tạp trong những con sông lớn, nhỏ của tỉnh.

Bằng những tính toán, người ta có thể tách riêng được lượng nước ngọt ra khỏi lượng nước nói chung (bao gồm cả nước triều) của các dòng sông.

Lượng dòng chảy mùa cạn

Mùa cạn (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), sông Tiền được phân phối khoảng 52% lượng nước từ thượng nguồn về. Lượng nước này được phân phối cho các sông chảy qua Bến Tre như sau:

- Sông Mỹ Tho có 1.598 m3/giây, trong đó chia ra: cửa Tiểu 236,8 m3/giây, cửa Đại 473,6 m3/giây, cửa Ba Lai 59 m3/giây, cửa Hàm Luông 828 m3/giây.

- Sông Cổ Chiên có 1.480 m3/giây, trong đó chia ra: cửa Cổ Chiên 710,4 m3/giây, cửa Cung Hầu 769,6 m3/giây.

Nếu không bị lấy từ thượng nguồn và không có nước mặn do thủy triều từ biển Đông đẩy vào, thì Bến Tre có thể đủ nước ngọt cho cả đời sống và sản xuất. Song những dòng sông trong xanh này về mùa cạn phần lớn lại chứa một lượng muối khoáng từ 4,5% tới trên 20%, cho nên trong những tháng này, thường bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng và người ta phải tính toán khai thác nước ngầm để bù đắp vào.

Lượng dòng chảy mùa lũ

Về mùa lũ, lượng nước ngọt bên phía sông Tiền chiếm xấp xỉ 52% tổng lượng nước của cả sông Tiền và sông Hậu. Lượng nước này được chia ra như sau:

- Sông Mỹ Tho có 6.480 m3/giây, trong đó cửa Tiểu 960 m3/giây, cửa Đại 1.920 m3/giây, cửa Ba Lai 240 m3/giây, cửa Hàm Luông 3.360 m3/giây.

- Sông Cổ Chiên 6.000 m3/giây, trong đó cửa Cổ Chiên 2.880 m3/giây, cửa Cung Hầu 3.120 m3/giây.

Với lượng nước này, nếu thượng nguồn có những công trình điều tiết, trữ nước mùa lũ, xả nước mùa khô, thì lượng nước mùa khô tăng lên có thể đẩy mặn xuống hạ lưu xa hơn, mực nước trong sông cao hơn, chắc chắn sẽ cải thiện được giao thông thủy và việc cấp nước cho đời sống và sản xuất.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Cụm duyên hải phía Đông ĐBSCL theo đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) định hình, có diện tích khoảng 8.618 km2, được bao bọc bởi các nhánh sông (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu) thuộc hệ thống sông Cửu Long; các tỉnh cụm phía Đông nầy cũng là cửa ngỏ khi du khách từ các nơi trên cả nước về với miền Tây Nam bộ; đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến.

Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi; du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ TP.HCM -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm; quý khách đến đây sẽ bắt gặp trên 30 lữ hành của các tỉnh đang chào đón tại bến tàu du lịch Tiền Giang để đưa khách thập phương đi tham quan các tuyến điểm du lịch tại Bến Tre, Vĩnh Long hay cả miền Tây Nam bộ; bến tàu du lịch nầy có từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay do hệ thống giao thông về các tỉnh trong khu vực thời điểm nầy còn phải ngăn sông, lụy phà.

Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre, dọc theo sông Tiền có gần 40 điểm dừng chân tham quan du lịch sông nước miệt vườn với nhiều mô hình làng nghề xen lẫn, du khách sẽ được các lữ hành đưa đi lênh đênh trên những chiếc tàu du lịch để ngắm nhìn quần thể Long, Lân, Qui, Phụng, đây là bốn cồn nằm trên sông Tiền, trong đó điểm du lịch cồn Phụng được chọn một trong những điểm tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long, du khách sẽ được chèo thuyền trong rạch nhỏ, tảng bộ trong đường làng để thưởng thức những trái cây ngon và uống ngụm trà mật ong, nghe đàn ca tài tử tại đây hay được đi trên những chiếc xe ngựa trên đường nông thôn hoặc tham gia tát mương bắt cá rồi thưởng thức tại chỗ cùng người dân sở tại.

 

Điểm dừng chân thưởng thức trà mật ong tại Châu Thành - Bến Tre

Rời khỏi Châu Thành, đi thêm 12km là đến TP.Bến Tre, du khách mua sản phẩm lưu niệm đặc sản có thể ghé các điểm trên đoạn đường nầy như: Kẹo Dừa Yến Hương, Thanh Long 1, Thanh Long 2, Thanh Long 3, kẹo dừa Bến Tre hoặc nhiều điểm khác trên các tuyến đường sẽ có đầy đủ những sản phẩm của quê hương như trái cây, hàng lưu niệm, kẹo dừa, bánh phồng, bánh tráng, .v.v. Thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, khang trang, sạch đẹp; một quê hương được mệnh danh là quê hương xứ dừa (với 63ha dừa, hơn 1/3 diện tích dừa cả nước hiện nay) cũng là nơi vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống đã cung cấp trong cả nước và các nước lân cận; quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ, phù hợp cho du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, kết hợp nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử; nhiều làng nghề truyền thống có hàng trăm năm tuổi; đặc biệt là nhiều món ẩm thực từ dừa như: Cơm nấu trong trái dừa, tép bạt đất rang nước cốt dừa, gỏi tủ hủ dừa, bánh xèo hến với tủ hủ dừa và nhiều món bánh ăn khác với nước cốt dừa,…; sẽ tạo nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi có một chuyến thưởng ngoạn tại quê hương xứ dừa…

 

Điểm dừng chân du lịch bên Cầu Rạch Miểu (Nhà hàng thủy sản Mê Kông)

Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo quốc lộ 60 khoảng 30km qua phà Cổ Chiên (Cầu đang thi công) sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, một thành phố đẹp có nhiều cây cổ thụ quí giá nhất của vùng; một quê hương đa dạng nét văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Khơme, Hoa, nơi có nhiều lễ hội của các dân tộc như: Đua ghe ngo, lễ hội Ok – Om – Bok,…; đặt biệt Trà Vinh có khu đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng từ thập niên 60 ở thế kỷ XX và được trùng tu khang trang trở thành điểm tham quan du lịch; trong khu có tái dựng nhà sàn Bác Hồ và những sản vật bảo tồn, bảo tàng làm phong phú cho sản phẩm du lịch; kế đó là khu Ao Bà Om thơ mộng bên cạnh chùa Ân thanh tịnh, với hàng trăm cây cổ thụ được trồng xung quanh đã làm nên một quần thể tham quan tuyệt đẹp trong lòng thành phố. Đặc biệt ở Trà Vinh du khách sẽ được chiêm ngưỡng và tham gia du lịch tâm linh trên 140 ngôi chùa Khơme như: Chùa Ân, Chùa Hang,…với nét kiến trúc màu sắc độc đáo của người Khơme.

Xuôi về  tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã phát triển tốt, đặc biệt là du lịch homestay đã đi vào hoạt động phục vụ khách quốc tế từ những năm 2004, sau đó mới phát triển qua Bến Tre. Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây ĐBSCL đến mũi Cà Mau.

Bốn địa phương của 4 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang,Vĩnh Long và Trà Vinh; có cùng bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ, cùng chia sẻ một lịch sử chung, có cùng cội nguồn, đời sống sinh hoạt cũng có nét tương đồng, giống nhau về sông nước miệt vườn có tiềm năng du lịch đa dạng, nhưng có nhiều sản phẩm đặc thù khác nhau đem lại cho du khách một điểm đến hấp dẫn; đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch homestays, du lịch nông thôn. Dự báo đến năm 2020 cụm sẽ đón 29% lượng khách nội địa và 56% lượng khách quốc tế của toàn vùng ĐBSCL. Đến cụm phía Đông duyên hải ĐBSCL, du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc sản từ dừa, ăn bưởi da xanh thì đến Bến Tre; ăn bưởi năm roi thì ghé Vĩnh Long, không thể ghé Vĩnh Long mà ăn bưởi da xanh và đến Bến Tre mà ăn bưởi năm roi sẽ không ngon; muốn ăn dừa dứa, dừa xiêm thì đến Bến Tre, ăn dừa sáp thì qua Trà Vinh, muốn tham quan chợ nổi thì về Cái Bè (Tiền Giang), muốn đi du lịch biển, thưởng thức hải sản tươi sống thì xuống huyện Thạnh Phú, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre hay Ba Động của tỉnh Trà Vinh… Do vậy mà mỗi tỉnh sẽ có những sản phẩm đặc thù của từng địa phương trong những nét chung của đồng bằng tạo thành một sản phẩm chung của cụm, tạo nên một điểm đến hấp dẩn với nhu cầu du lịch của một chuyến hành trình trên bốn địa phương.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Tôn giáoTôn giáo
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Đạo Nho ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của người dân vùng ba cù lao này từ nửa đầu thế kỷ XX về trước, nhưng xét về mặt hành đạo cũng như hệ thống giáo quyền, đạo Nho hoàn toàn không giống như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa. Đây là đạo thờ ông bà, một thứ tín ngưỡng đã có gốc rễ sâu sắc trong quảng đại quần chúng từ xa xưa, vừa mang ý nghĩa luân lý, vừa là sự biểu rõ tình cảm về huyết thống được thể hiện trong môi trường gia đình, gia tộc, không mang tính chất thần thánh hóa, không có giáo điều, giáo lý, cũng không có giáo chủ, không cần người thuyết giảng để làm cái gạch nối giữa đạo và đời. Từ “đạo” ở đây theo cách hiểu của dân gian là một tập tục hàm chứa lòng biết ơn, nghĩa sinh thành, lòng hiếu thảo với ông bà, tổ tiên, sự ý thức về nguồn gốc của mình.

Ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống mang theo từ mảnh đất cội nguồn, những lưu dân người Việt trên bước đường di chuyển và định cư ở vùng đất mới, đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân bản địa. Hầu như các tôn giáo phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở Bến Tre từ đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, đạo Dừa... xét về mặt ảnh hưởng cũng như số lượng tín đồ, thì đáng chú ý nhất là 3 tôn giáo lớn: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Cao Đài.

Đã ban hành
TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)
&nbsp;

Trương Gia Mô, hiệu Cúc Nông, sinh tại làng Tân Hào, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuy sinh ra ở giải đất cù lao đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ngay từ thời niên thiếu, ông đã theo cha sống ở Thuận Khánh. Người ta gọi ông là Nghè Mô không phải vì ông đổ tiến sĩ, mà vì ông là ấm sinh, con của cụ Trương Gia Hội, lại có vốn tri thức uyên bác được nhiều người nể phục. Năm 1892, khi làm thừa phái Bộ Công của triều Nguyễn, Trương Gia Mô đã làm bản điều trần lên vua gồm 5 điểm(1), nhưng không được chấp nhận, lại còn bị Thượng thơ Nguyễn Trọng Hợp cho "ông là kẻ thiếu niên hiếu sự". Lúc ấy ông mới ngoài 20 tuổi. Ông cởi áo từ quan, về ở ẩn. Thời gian này ông cùng với Nguyễn Lộ Trạch, một người bạn thân mưu tính việc lớn, xuất dương để học thêm, nhưng không thành. Khi về sống ở Bình Thuận, ông kết giao với Phan Châu Trinh nhân chuyến "Nam du" của họ Phan và cùng với các thân sĩ ở đây hô hào duy tân cải cách, lập công ty Liên Thành và trước Dục Thanh ở Phan Thiết. Trương Gia Mô cũng là người đã đưa Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) vào Sài Gòn, để từ đây anh ra đi tìm đường cứu nước trên chiếc tàu Latouche Tréville.

Ở giai đoạn cuối đời, ông có nhiều điều bất đắc chí, buồn vì cảm thấy bất phùng thời, bị đổ vỡ về ảo tưởng chính trị, có lúc uất ức đến giận dữ, rồi đem đốt cả thơ mình, tìm quên trong men rượu và khói thuốc phiện. Ông đã đi gần khắp các tỉnh Nam Bộ, gặp gỡ nhiều người, trao đổi mạn đàm thế sự, nhưng vẫn không sao khuây khỏa nỗi lòng. Một đêm cuối năm 1929, con người từng một thời xông xáo hăng hái hoạt động trong phong trào Duy Tân năm xưa, đã gieo mình từ trên tháp pháo đài xuống vực sâu, kết liễu cuộc đời mình bên chân núi Sam ở Châu Đốc, nơi ông dừng chân trạm cuối cùng trong một chuyến đi du ngoạn miền Lục tỉnh, và chỉ để lại trong túi áo bài thơ Tuyệt mệnh gồm bốn câu:

Ngũ sự khuyết nhân, nhân bất hành,
Cam vi nô lệ, nhật du sanh
Tức kim lão hủ hoàn thiên địa
Hoán tác phong đào, đái hận vinh.

Tạm dịch:

Năm điều cải cách khuyên người
Không nghe, cam phận tôi đòi, chán thay
Thân già trả lời đất trời
Hóa ra sóng gió, hận thù hét vang.

(Trương Gia Kỳ Sanh dịch)

Sau khi sự việc xảy ra, các báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ như Thần chung, Phụ nữ tân văn đã đưa tin, bình luận về cái chết của cụ Nghè Mô với thái độ nể trọng và tiếc thương. Trương Gia Mô muốn lấy cái chết để khẳng định sĩ khí của một nhà nho trước thế cuộc điên đảo mà bản thân ông thấy bất lực. Nhiều trí thức, chí sĩ yêu nước gần xa như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Đông Hồ... đều có thơ điếu họ Trương.

Cúc Nông Trương Gia Mô đã để lại tác phẩm Gia Định tam tiên liệt truyện, đây là một tập ghi chép tiểu sử và công nghiệp của ba vị anh hùng kháng Pháp đất Gia Định: Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân và Hồ Huân Nghiệp, vừa mang giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học. Hai tập thơ Thu hoài phú Cúc Nông thi tập (cả hai đều bị thất lạc) chỉ còn lại 35 bài thơ chữ Hán và 10 bài thơ chữ Nôm đăng trên báo Nam Phong. Ngoài ra, còn một số bài thơ "giáo huấn" (dạy con, dạy học trò), một bài tán đề trên tường miếu Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá và một số bài thơ truyền khẩu. Thơ ông gồm có ngũ ngôn, thất ngôn (bát cú hay tứ tuyệt). Nhìn chung số thơ còn lưu giữ đều được ra đời trước năm 1920, nhiều bài sáng tác khi còn nhậm chức ở kinh đô, có bài viết trong ngục sau sự biến 1908 (Tọa kê Khánh Hòa thu dạ) có những bài viết trên lộ trình từ cực nam Trung Kỳ đến Nam Kỳ. Thơ ông phản ánh một tâm trạng băn khoăn với nhiều day dứt khôn nguôi về tình hình đất nước, về vận mệnh con người và sự trường tồn của dân tộc. Mấy câu thơ trong bài tán (viết trên tường miếu Nguyễn Trung Trực) biểu lộ lòng khâm phục đối với người anh hùng cứu nước.

... Ủy bỉ nhân ngư
Hùng tai quốc sĩ
Hỏa Nhựt Tảo thuyền
Đồ Kiên Giang lũy...

Dịch nghĩa:

Đáng sợ thay người dân chài.
Anh hùng thay người quốc sĩ.
Đã đốt cháy tàu giặc trên sông Nhựt Tảo.
Rồi mưu lập đồn lũy Kiên Giang.

Cúc Nông Trương Gia Mô là nhà thơ duy tân Nam Kỳ, thuộc giai đoạn bản lề cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nằm trong đội ngũ những tác gia thuộc dòng văn học yêu nước cận đại Việt Nam.

Chú thích

(1) Xem thêm tiểu sử, mục Nhân vật ở phần Phụ Lục.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh PhúCự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú
Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

 

Ghe chở chỉ xơ dừa

- Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre: 86 km đường bộ.

Từ thành phố Bến Tre đến các huyện của tuyến này như sau:

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc: khoảng 20 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Nam: khoảng 21 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Thạnh Phú: khoảng 49 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến "Di tích lịch sử căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định" (mật danh Y4,T4), xã Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc: 16 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến Di tích Đình Tân Ngãi (tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng), xã Thạnh Ngãi, Mỏ Cày Bắc: 20 km đường bộ.

Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến tham quan các điểm trên địa bàn:

* Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Đình Rắn, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức: 14 km đường bộ.

* Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, xã An Thạnh: 07 km đường bộ.

* Làng nghề dệt chiếu Thành Thới B (dệt chiếu cói): 10 km đường bộ.

* Cơ sở sản xuất đặc sản kẹo dừa truyền thống và cơ sở sản xuất, trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ làm từ dừa tại thị trấn Mỏ Cày Nam.

Từ Tp. Bến Tre đến các điểm tham quan tại huyện Thạnh Phú:

* Di tích nhà cổ Hương Liêm (Huỳnh Phủ), xã Đại Điền: 42 km đường bộ và thăm bia lưu niệm nơi làm lễ xuất quân của "Tiểu đoàn 307" thời kháng Pháp, thưởng thức bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng.

* Làng nghề đúc lu Hòa Lợi, xã Hòa Lợi: 48 km đường bộ.

* Làng nghề bó chổi Mỹ An, xã Mỹ An: 51 km đường bộ.

* Cơ sở chằm nón lá Huế, ở xã Mỹ Hưng: 46 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam, xã Thạnh Phong: 70 km đường bộ.

* Các điểm đến tham quan như: Di tích căn cứ Y4, Chùa Tuyên Linh, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, làng nghề dệt chiếu Thành Thới B, Di tích nhà cổ Hương Liêm, xe 4 bánh đến 50 chỗ đều đến được.
* Các điểm còn lại xe 29 chỗ ngồi cũng đều đến được.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 18 ( 1703 - 1784 )Thế kỷ 18 ( 1703 - 1784 )

1703

Tháng 1 (âl), Chúa Nguyễn ban hành chính sách thuế ruộng đất ở Ðàng Trong trên cơ sở kết quả đã điều tra được từ năm 1669, tức là thu cả thuế những ruộng mới khai hoang được đo đạc.

1708

Mạc Cửu Nguyên người Lôi Châu, tỉnh Quảng Ðông, Trung Hoa đến lập phố chợ, chiêu tập lưu dân lập thành 7 thôn xã ở đất Hà Tiên. Ðể được chính quyền Việt Nam ở Gia Ðịnh che chở chống lại bọn cướp biển Xiêm thường tới cướp bóc, đốt phá, Mạc Cửu xin thần thuộc chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận đề nghị này và phong Mạc Cửu làm Tổng binh, tiếp tục cai quản đất Hà Tiên.

1731

Nhà thờ Thiên Chúa họ đạo Cái Mơn (huyện Chợ Lách) được xây dựng.

1732

Chúa Nguyễn Phúc Chu chủ trương nhập Ðịnh Tường và Long Hồ (Vĩnh Long) vào đất Phiên Trấn.

1744

Ðàng Trong, Nguyễn Phúc Khoát đúc ấn quốc vương, lên ngôi ở Phú Xuân, bắt đổi y phục, phong tục của dân, quy định lại triều phục văn, võ, thay đổi tổ chức hành chính, chia Ðàng Trong thành 12 dinh và 1 trấn Hà Tiên. Phú Xuân được gọi là chính dinh.

1752

Nạn đói ở Ðàng Trong, dân nghèo chết nhiều, giá gạo cao vọt.

1756

Nguyễn Cư Trinh tổ chức cai trị trên phần đất về sau gọi là đạo Trường Ðồn (Ðịnh Tường). Rồi tiếp đó, lập các đạo Ðông Khẩu, Tân Châu, Châu Ðốc, Kiên Giang và Long Xuyên (Cà Mau).

1769

Tháng 1 (âl), Chúa Nguyễn Phúc Thuần mới lên ngôi, lệnh cho các địa phương ở Ðàng Trong lập sở thuế.

1771

Khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra. Quân khởi nghĩa lập đồn trại ở Tây Sơn Thượng (Gia Lai) và ở Tây Sơn Hạ (Bình Ðịnh).

1775

Tháng 1 (âl), Sau khi quân Trịnh chiếm thành Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần cùng gia quyến chạy vào Quảng Nam. Tại đây chúa phong Nguyễn Phúc Dương làm Ðông Cung rồi để ở lại cùng một số tướng sĩ, còn mình thì theo đường biển chạy vào Gia Ðịnh, đóng tại Bến Nghé.

1776

Quân Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Lữ, đánh chiếm Sài Gòn, rồi thừa thắng đánh chiếm dinh Long Hồ và dinh Trấn Biên.

1777

Tháng 3 (âl), Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem quân thủy bộ vào đánh Gia Ðịnh. Lần đầu tiên Nguyễn Huệ xuất hiện ở chiến trường Gia Ðịnh, chiếm được Sài Gòn, giết chúa Nguyễn Phúc Thuần. Nguyễn Phúc Ánh thoát nạn, chạy ra đảo Thổ Châu.

Tháng 4 (âl), Quân Tây Sơn đánh đồn Ba Việt (Ba Vát) của chúa Nguyễn Phúc Thuần.

Tháng 8 (âl), Quân Tây Sơn lại đánh đồn Ba Việt, bắt chúa Nguyễn Phúc Dương. Tống Phước Hòa, võ tướng của chúa Nguyễn tự vẫn.

Tháng 10 (âl), Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ để Tổng đốc Châu ở lại trấn thủ Sài Gòn, rồi rút một phần quân về lại Quy Nhơn.

Tháng 12 (âl), cuối năm Ðinh Dậu, được tin Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ rút về Quy Nhơn, Nguyễn Ánh phối hợp với quân Ðỗ Thành Nhơn, đánh úp dinh Long Hồ. Sau đó, họ đánh bại quân của Tổng đốc Châu, chiếm lại Sài Gòn.

1778

Tháng 3 (âl), tại Sài Gòn, Ðỗ Thành Nhơn và các tướng tôn Nguyễn Ánh làm nguyên soái Nhiếp quốc chính, năm ấy ông 17 tuổi. Nguyễn Ánh cho đắp lũy đất ở phía tây sông Bến Nghé, đóng hơn 50 chiến thuyền hiệu “Long Lân” để bảo vệ Sài Gòn.

1779

Tháng 11 (âl), Nguyễn Ánh tổ chức lại việc cai trị đất Gia Ðịnh, chia làm 3 dinh: Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Ðịnh và Ðịnh Tường) và Long Hồ (Vĩnh Long và An Giang), chỉnh đốn lại thuế điền, tích trữ lương thực để chống lại Tây Sơn. Rồi nâng đạo Trường Ðồn (Mỹ Tho) thành dinh. Như vậy, đất Gia Ðịnh gồm 4 dinh và một trấn là Hà Tiên.

1780

Tháng 1 (âl), Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Ðịnh, dùng ấn "Ðại Việt quốc Nguyễn chủ Vĩnh trấn chi bảo", nhưng trên giấy tờ vẫn để niên hiệu nhà Lê.

1781

Tháng 5 (âl), Nguyễn Ánh đem 3 vạn quân thủy bộ và 80 chiến thuyền từ Gia Ðịnh, tiến đánh quân Tây Sơn ở Nha Trang. Nhưng đội quân voi chiến của Tây Sơn đã đánh cho quân Nguyễn Ánh đại bại.

1782

Tháng 3 (âl), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ dẫn mấy trăm chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, đánh tan thủy binh của Tống Phước Thiêm, thu lại thành Gia Ðịnh lần thứ hai. Quân Nguyễn thua, rút về Ba Giồng (Tiền Giang).

Tháng 5 (âl), để trả thù cho Phạm Ngạn, một tướng giỏi của Tây Sơn, bị đội quân Hòa Nghĩa của người Hoa giết chết, Nguyễn Nhạc đã ra lệnh giết hơn 1 vạn người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

Nguyễn Ánh từ Sài Gòn chạy về Bến Tre, sau đó chạy ra đảo Phú Quốc. Bến Tre là nơi từng in dấu nhiều cuộc chạy trốn của Nguyễn Ánh.

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ trở về Quy Nhơn, để hàng tướng Ðông Sơn là Ðỗ Nhàn Trập cùng 3.000 quân coi giữ Gia Ðịnh.

Tháng 8 (âl), Châu Văn Tiếp đem quân từ Phú Yên vào hợp với quân các đạo, đánh đuổi quân Tây Sơn, chiếm lại Gia Ðịnh, rồi cho người ra Phú Quốc đón Nguyễn Ánh về.

1783

Tháng 2 (âl), Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ vào cửa Cần Giờ tiến đánh Gia Ðịnh, quân Nguyễn Ánh thua to, chạy về Ba Giồng, sau rút về Eo Lói (Thạnh Phú), rồi ra Phú Quốc, Côn Lôn.

Tháng 7 (âl), Nguyễn Ánh quyết định giao cho con trai cả là hoàng tử Cảnh (mới 4 tuổi) cho Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Ða Lộc) sang Pháp xin cầu viện.

Tháng 8 (âl), Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ rút quân về Quy Nhơn, để Trương Văn Ða và Chưởng tiền Bảo trấn giữ Gia Ðịnh.

1784

Tháng 2 (âl), sau 4 lần bị quân Tây Sơn đánh cho tơi tả, Nguyễn Ánh chạy sang Xiêm cầu viện vua Chất Tri.

Tháng 6 (âl), Nguyễn Ánh, Châu Văn Tiếp dẫn các tướng Xiêm là Chiêu Sương, Chiêu Tăng, Sa Uyển, Chiêm Thùy Biện cùng 5 vạn quân thủy bộ, 300 chiến thuyền vào đánh phá Gia Ðịnh. Tại thủ Ba Lai đã xảy ra trận kịch chiến giữa quân Tây Sơn do Phạm Văn Tham chỉ huy với quân Xiêm - Nguyễn Ánh.

Tháng 12 (âl), được tin báo, quân Xiêm xâm lược, Nguyễn Huệ cấp tốc đem đại binh vào Gia Ðịnh.
Đã ban hành
Trương Gia Mô (1866-1929)Trương Gia Mô (1866-1929)
&nbsp;

    Trương Gia Mô hiệu Cúc Nông, tự lúc đầu là Sư Thánh, sau đổi là Sư Quản, biệt hiệu Hoài Huyền Tử, sinh năm 1866 tại làng Tân Hào, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Thân phụ là Trương Gia Hội (1822 – 1877), từng làm Tri phủ Hoằng Trị dưới thời Tự Đức, được thăng chức Binh bộ lang trung, về sau làm Tuần vũ Thuận Khánh (Bình Thuận và Khánh Hòa).

   Tuy sinh ra tại Bến Tre, nhưng Trương Gia Mô từ thời niên thiếu đã theo cha ra sống ở Thuận Khánh. Chính truyền thống của gia đình có ảnh hưởng không ít đến tính cách của ông. Thường mê đọc sách, ông đọc đủ loại, đêm khuya buồn ngủ, phải tự đánh mình cho khỏi ngủ gục, ban ngày ông luôn dắt quyển sách theo bên mình, để tranh thủ đọc những lúc rảnh rỗi.

   Năm Nhâm Thìn, ông ra Huế (1892), được bổ nhiệm làm thừa phái bộ Công, mà sau này ông có kể lại trong bài thơ chữ Hán Tức sự. Chính vì là ấm sinh (con của Trương Gia Hội), làm việc ở kinh, lại hay chữ, nên người ta nể phục và gọi ông là ông Nghè Mô, do đó người đời sau lầm tưởng ông có học vị tiến sĩ. Nhân Thượng thơ Nguyễn Hợp được cử đi Pháp, Trương Gia Mô gửi một bản điều trần lên vua gồm 5 việc: 1-Mở rộng trường dạy chữ Pháp ở các tỉnh, dịch sách Pháp và Trung Quốc ra chữ quốc ngữ để tiện phổ biến, nhằm mở mang dân trí. 2-Chấn hưng công nghệ thực nghiệp, mở rộng việc khai hoang, chăm sóc, chữa bệnh cho dân nghèo. 3-Cách chức bọn quan lại tham nhũng, sàng lọc bọn vô dụng trong bộ máy công quyền. 4-Lập nghị viện mở báo quán để rộng đường dư luận. 5-Chỉnh đốn hương tục, đẩy mạnh việc giáo hóa trong xã hội, ngăn ngừa sự đồi bại.

   Ông cũng đã làm đơn xin sung vào phái đoàn của triều đình đi sứ sang Pháp, nhưng không được chấp thuận. Cả hai yêu cầu đưa ra đều bị bác bỏ, ông cởi áo từ quan, về sống ở Lục tỉnh một thời gian, sau đó lại trở ra Bình Thuận. Thời gian này, ông cùng với Nguyễn Lộ Trạch mưu tính chuyện xuất dương, nhưng không thành. Sau khi Nguyễn Lộ Trạch chết, ông về lại Nam Kỳ, dạy học ở Tân An và cũng trong dịp này ông đi khắp miền Lục tỉnh.

   Năm 1904, Phan Châu Trinh sau khi từ quan, đã cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp tổ chức chuyến "Nam du". Ở Bình Thuận, Phan Châu Trinh đã kết giao với Trương Gia Mô và cùng với các thân sĩ ở đây, hô hào duy tân cải cách, tổ chức công ty Liên Thành và Trường Dục Thanh.

   Năm Mậu Thân (1908), ông bị bắt giam tại nhà lao Khánh Hòa với tội danh là đã tham gia vào tổ chức bí mật "đảng hội”, nhưng sau đó ít lâu thì được tha. Trở về nhà lúc đã ngoài 40 tuổi, ông làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân trong vùng. Cũng tại nơi làng Hà Thủy, tổng Đa Phước, tỉnh Bình Thuận này đã xảy ra cuộc gặp gỡ đầy lý thú giữa ông và Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Tất Thành, qua thư giới thiệu của cụ Phó bảng, đã tìm gặp người bạn tín cẩn năm xưa của cha và đã được tiếp đón chu đáo. Để tránh sự theo dõi, dòm ngó của bọn mật thám, Trương Gia Mô đã gởi Nguyễn Tất Thành cho một nhà sư yêu nước tại chùa Phước Quang trong thời gian ở tại Duồng. Vào đầu tháng 12, ông đưa Nguyễn Tất Thành đến thị xã Phan Thiết, vào dạy học ở Trường Dục Thanh. Mười tháng sau, ông trở lại, đưa Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn với cái tên mới Văn Ba, để rồi một thời gian ngắn sau, Văn Ba có mặt trên chiếc tàu La Touche Tréville sang Pháp.

   Năm 1910, Trương Gia Mô và Nam Kỳ và sống ở đây cho đến cuối đời. Ông giao du với những trí thức yêu nước ở Nam Kỳ như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Khương. Tuy nhiên, con người hành động và giàu nhiệt tâm này từng có mặt trong các phong trào yêu nước đã bị đổ vỡ vì ảo tưởng chính trị, nên bất đắc chí, buồn chán, có lúc uất ức đến giận dữ, đem đốt cả thơ mình, rồi đi tìm quên trong men rượu và khói thuốc phiện.

   Ông đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, nhưng không làm sao khuây khỏa nỗi lòng. Trong chuyến từ Hà Tiên trở về núi Sam, một thắng cảnh của Châu Đốc, vào một đêm cuối năm 1929, người nho sĩ xông xáo của phong trào Duy Tân năm xưa đã gieo mình từ trên tháp cao của pháo đài xuống vực sâu để kết liễu đời mình. Các báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ như tờ Thần chung, Phụ nữ tân văn… đã đưa tin và bình luận về cái chết của ông với thái độ nể trọng và tiếc thương vô hạn. Nhiều trí thức và học giả nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đông Hồ… đều có thơ điếu họ Trương.

   Tác phẩm của ông để lại gồm có Gia Định tam linh liệt truyện (chép tiểu sử và sự nghiệp của ba anh hùng kháng Pháp ở Nam Kỳ: Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Hồ Huân Nghiệp), Thu hoài phú Cúc Nông thi thảo (cả hai tập thơ này đều thất lạc, chỉ còn lại 35 bài thơ chữ Hán và 10 bài thơ Nôm đăng trên báo Nam phong). Ngoài ra, ông còn có một số bài thơ "giáo huấn" (dạy con, dạy học trò), một bài Tán đề trên tường đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá và một số bài thơ truyền khẩu khác.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Cải lươngCải lương
&nbsp;

Image
Đến năm 1922, ở Bến Tre mới có gánh cải lương ra đời đúng với cái tên của nó. Không ít người cho rằng ca ra bộ là cải lương. Ý đó e không chính xác, vì từ ca ra bộ đến cải lương đòi hỏi một bước trưởng thành khá công phu về mặt kịch bản và diễn xuất, chưa nói đến âm nhạc và trang trí. Nói rằng ca ra bộ là tiền thân của cải lương có lẽ đúng hơn. Đoàn ca ra bộ đầu tiên của Bến tre là của hội đồng Hoàng, ở Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) ra đời khoảng năm 1917-1918. Nghệ thuật của đoàn này phát triển cao vào cuối năm 1920. Nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) có một thời gian ngắn đi diễn ở đoàn này, đóng vai Lâm Sanh trong vở Lâm Sanh – Xuân Nương(1).

Sau đoàn của hội đồng Hoàng, đoàn ca ra bộ thứ hai của Bến tre ra đời năm 1920, lấy tên Tân Đồng Minh(2) của ông Cao Tấn Quyến. Ông Quyến người làng Tân Thanh, rất hâm mộ nhạc tài tử. Ông giỏi chữ Nho và nhạc lễ. Trong đoàn của ông, người ca, nam thì mặc áo dài, bịt khăn đóng, nữ mặc áo dài trắng, đen, hoặc màu, bới tóc thật khéo. Nội dung ca ra bộ của đoàn ông Quyến được trích lớp từ các truyện Tàu rất phổ biến ở Nam Kỳ lúc bấy giờ như Trang Tử cổ bồng do Tư Ngưu (chợ Mỹ Lồng) diễn, hoặc Dự Nhượng đả long bào do Ba Mạch (cầu Nhà Thương, thị xã) đóng, vừa ca bài Kim tiền (Huế) vừa ra bộ trông khá hùng dũng. Những người nữ đầu tiên của Bến Tre tham gia đoàn này có cô Năm Ca (vì hay ca, chứ không phải tên thật) và cô Tư Thu. Hai cô này thường đóng vai Nguyệt Nga.

Nếu hát bội không có đoàn nào diễn tuồng theo tác phẩm Lục Vân tiên, thì ngược lại ca ra bộ trích diễn nhiều lớp của tác phẩm này như: Vân Tiên đả Phong Lai, Nguyệt Nga thầm nhớ Vân Tiên, Bùi Kiệm thi rớt trở về, Bùi Kiệm ve vãn Nguyệt Nga, Nguyệt Nga cống Hồ, Ông Quán đối đáp Tiên, Trực, Kiệm, Hâm.

Theo lời nghệ sĩ Lê Long Vân (Ba Vân) lúc đoàn ca ra bộ Tân Đồng Minh mới tập họp “đào kép", ông bầu Quyến còn chiếu cố đến đặc điểm nông dân của đoàn. Đến mùa cấy, gặt đoàn tạm nghỉ trong một thời gian ngắn, xong gặt hái, họ tụ tập trở lại, đi biểu diễn trong mùa khô. Hai năm sau, tức năm 1922, đoàn ca ra bộ của ông Quyến phát triển thành một gánh cải lương. gánh cải lương Tân Đồng Minh, thành phần đoàn gồm toàn người trong dòng họ, và bạn bè thân thiết. Ông Cao Tấn Quyến là người bỏ vốn. Ông Cao Tấn Liêm làm hề. Cô Ba Điểu, vợ Cao Tấn Cảnh làm đào chánh. Cô Tư Tỉnh, vợ Cao Tấn Liêm, cũng là đào giỏi. Dàn nhạc có ông Cao Tấn Hân, Lưu Hữu Nhiêu đàn kìm, đàn cò có tiếng. Đoàn Tân Đồng Minh ra mắt tại chợ Hương Điểm, làng Tân Hào, với vở tuồng Tàu Phấn Trang Lầu do ông Nguyễn Đình Chiêm, con cụ Nguyễn Đình Chiểu soạn.

Tuồng Tàu, nói chung dễ diễn ở cốt truyện có sẵn, chỉ cần gia công đạo diễn. Truyện Tàu lại rất quen thuộc với quần chúng. Truyện tích Việt Nam cũng có, tuy không nhiều, như Lục Vân Tiên, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa, Lưu Bình – Dương Lễ, San Hậu... So với hát bội, tuồng cải lương gọn hơn, hát đêm nào dứt vở ấy, không kéo dài nhiều hồi, nhiều lớp.

Sân khấu ca ra bộ và cải lương Bến Tre diễn nhiều trích đoạn tác phẩm Lục Vân Tiên. Có ai ngờ rằng năm 1927, tại Aix-En-Provence (Pháp), du học sinh Việt Nam vui Tết bằng cách tự mình tập và diễn vở cải lương Lục Vân Tiên(3).

Năm 1970, đoàn cải lương Nam Bộ ở Hà Nội đã sang Pháp giúp Việt kiều ta vui Tết Canh Tuất với vở Sát Thát và những trích đoạn của tác phẩm Lục Vân Tiên.

Đến năm 1923, Bến Tre có thêm một đoàn cải lương thứ hai, lấy tên Đồng Thinh Ban của Lâm Thiên Tứ, một địa chủ ở Minh Đức (Mỏ Cày). Đồng Thinh Ban so với Tân Đồng Minh thì hơn hẳn, do đó đông người xem hơn.

Những người hâm mộ cải lương Bến Tre, trước tiên là thị dân, dần dần lan rộng đến nông dân. Công chức, trí thức trong tỉnh thời ấy không có gì giải trí hơn là cải lương. Chiếu bóng thì còn ở dạng phim câm (muet), thỉnh thoảng mới có phim hay và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của người Việt Nam.

Ở Bến Tre, giống như vài tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, trước kia có vài cậu "công tử" bỏ tiền lập đoàn cải lương để có dịp ăn chơi và nổi danh trong thiên hạ. Họ không phải là người có máu "nghề nghiệp", nên sau một thời gian, họ bán đoàn lại cho người khác. Ở tại thị xã có ông Võ Văn Vạn (còn có tên Vũ Bá Vạn), lập đoàn Vạn Phước (1943). Nếu cộng tất cả các đoàn cải lương lớn, nhỏ của Bến Tre, từ lúc bộ môn này ra đời trong tỉnh đến trước CMT8-1945 có khoảng năm, sáu đoàn.

Sâu khấu Bến Tre lúc ấy cũng không tránh khỏi ảnh hưởng sân khấu Tàu, nhất là Quảng Đông, đặc biệt lúc Mã Sư Tăng, một ngôi sao của hý kịch Trung Quốc sang diễn ở Chợ Lớn. Nhưng có điều tuy diễn tuồng Tàu, diễn viên của ta vẫn thể hiện tình cảm bi ai, hùng tráng và vũ bộ theo phong cách Việt Nam. Nghệ sĩ Ba Vân có lưu ý rằng ngay vũ bộ sân khấu và võ thuật các đoàn của Việt Nam ngày xưa áp dụng trên sân khấu cũng xuất xứ từ võ Bình Định. Chúng ta cũng không quên ở Bình Định cách nay 200 năm, trong thời Tây Sơn, đã có diễn nhiều tuồng dã sử nổi tiếng, và Nguyễn Huệ rất thích hát bội. Do đó mà cho đến nay, trong những vở dã sử, diễn viên nào có vốn vũ bộ của sân khấu dân tộc đều diễn xuất đẹp.

*
* *

Ngày xưa, những đoàn cải lương có tiếng chỉ đi diễn đến các quận có đời sống kinh tế trù phú. Khổ nhất là những gánh hát bội nhỏ. Phần bị sân khấu cải lương lấn ép, phần bản thân hát bội hàng trăm năm vẫn không đổi mới, nên quanh đi quẩn lại chỉ diễn ở các chợ nhỏ, hoặc sân đình. Những đêm vắng khách, lỗ lã thì từ diễn viên đến người lao công sống rất vất vả. Nhiều người, con cái nheo nhóc. Họ ăn cơm chung dọn giữa sân, người lớn, trẻ con ngồi xen lẫn từng mâm, thức ăn không có gì đáng kể. Đa số ngủ trên chiếu trải dưới đất, hoặc trên sàn sân khấu. Những người lao công nằm trên những tấm "đề co” (décors) cuốn tròn. Có người nằm dưới bàn thờ Tổ, chỉ đút cái đầu dưới bốn chân bàn, còn toàn thân ló ra ngoài, một chiếc chiếu rách đắp ngang.

Cái tệ nhất của diễn viên ngày xưa là cờ bạc. Sau buổi diễn, họ gầy sòng, sát phạt lẫn nhau. Hụt tiền ăn, thỉ ngửa tay vay chủ gánh. Một số diễn viên và nhạc công không biết giữ gìn sức khỏe, sống bê tha, rượu chè. Trong những đoàn cải lương cũng như hát bội, đa số diễn viên xanh xao, kém sức khỏe, nhiều người bị mắc bệnh không nguy hiểm lắm, song không có điều kiện chữa trị.

Cá biệt, cũng có trường hợp tự tử vì bế tắc, không thấy lối ra cho cuộc đời mình. Mọi tủi nhục, cay đắng chỉ có thể tạm quên khi học mặc "long bào", mặc giáp "nguyên soái" hay đội mão "công chúa" lấp lánh, rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu trong đêm biểu diễn. Những "ngôi sao" sáng trên sân khấu dưới chế độ cũ được hâm mộ thật, song không ai có thể giúp họ xóa bỏ định kiến lâu đời của xã hội xưa xem đào kép là "xướng ca vô loài".

Khoảng năm 1939, tại nhà việc làng Thành Hóa (nay thuộc xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày), có một đoàn hát bội nhỏ về hát. Sáng hôm sau, không rõ nguyên nhân, cô đào chính mắc bệnh rồi chết đột ngột. Đoàn thì nghèo, người chết không có thân nhân đi theo, nên mấy ông làng cho phép chôn người xấu số trên một đám đất hoang, chung quanh nước ngập, chỉ có cóc kèn, ô rô. Đến nay, nấm mộ của "bà hát bội" còn nằm đó.

Việc di chuyển, đổi địa điểm diễn của các đoàn hát lưu động cho đến nay vẫn quen gọi “đổi bến”. Phải chăng do ban đầu, phương tiện đi lại của các đoàn là ghe? Chỉ từ 1955 trở đi mới có việc di chuyển bằng xe vận tải. Thời Pháp, có lần đoàn cải lương Thanh Minh của ông Đoàn Văn Đỏ, người Bến Tre, ra diễn ở Ô Cấp (Vũng Tàu) một tuồng dã sử, nội dung đề cập đến việc nhà Minh âm mưu lật đổ triều Mãn Thanh. Ông chủ đoàn hát bị Sở mật thám gọi lên hăm he, gán cho ông muốn xúi giục người Việt chống chính quyền Pháp(!).

Những soạn giả cải lương người Bến Tre có tên tuổi là Đặng Công Danh (làng Tú Điền cũ, nay xã Phú Khương), ông Đoàn Văn Đỏ (Làng An Hội cũ, nay thuộc thị xã), ông Huỳnh Thủ Trung (Tư Chơi, xã Phước Thạnh, nay thuộc huyện Châu Thành).

Diễn viên xuất sắc có Ba Vân, sinh năm 1908 tại làng An Đức, huyện Ba Tri, được tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”. Ba Vân học nhạc lễ từ nhỏ, chuyên vỗ bồng là một nhạc khí rất khó chơi. Ông hợp tác với nghệ sĩ Năm Châu cả thảy 12 năm, thời gian dài nhất trong đời hoạt động trên sân khấu cải lương. Ông đã đi lưu diễn ở miền Bắc 7 lần, từ năm 1927 đến 1950. Lần thứ tám, năm 1977 là khi đoàn Sài Gòn 1 được mời ra thủ đô tham gia hội diễn chào mừng đất nước thống nhất(4).

Nhiều nghệ sĩ sân khấu Bến Tre tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông ba Vân viết kịch cho Đoàn Thông tin - Tuyên truyền huyện Ba Tri, sau đó tham gia cuộc vận động giới nghệ sĩ sân khấu ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông Đoàn Văn Đỏ (Vân Hồng) làm nhân viên ở một phòng bào chế thuốc ở chiến khu miền Tây Nam Bộ. Ông bầu Liêm, nguyên trước là chủ gánh hát cải lương lớn Thanh Thinh, quê xã Lương Hòa, làm đạo diễn đoàn Văn công Lúa Vàng, huyện Giồng trôm (1963). Trước đó, ông là diễn viên của Đoàn Văn công Giải phóng của tỉnh Bến Tre, một nghệ sĩ lão thành giàu nhiệt tình đối với nghệ thuật.

  •  Sân khấu Bến Tre trong những năm chống Mỹ
  •  Sân khấu Bến Tre sau ngày giải phóng 30-4-1975

Chú thích

(1) Theo lời ông Võ Văn Vạn (Võ Bá Vạn) sinh năm 1907, nguyên chủ đoàn cải lương Vạn Phước, Bến Tre.
(2) Theo lời ông Cao Tấn Liêm, sinh năm 1913, còn gọi là bầu Liêm, hoạt động sân khấu từ 1928 đến 1960 ở Bến Tre.
(3) Sỹ Tiến, Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, Nxb TP. Hồ Chí Minh, tr. 7.
(4) Theo lời kể của Nghệ sĩ Nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân).
 

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Nhà cửaNhà cửa
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa.
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. Dạng thứ hai là loại nhà cất dọc theo các trục giao thông bộ, một bên hay cả hai bên đường còn tùy thuộc vào địa thế của từng nơi.

Nhà lớn hay nhỏ đều có sân và vườn (không kể ở các thị tứ, bến sông, bến đò, bến phà, nhà được xây cất sát mép đường để tiện việc buôn bán, bán hàng quán). Thông thường qua ngõ thì đến sân rồi nhà, sau nhà là vườn, nếu đất rộng thì vườn nằm cả hai bên nhà, có trồng cây ăn quả. Quanh vườn là hàng rào cây xanh như bông bụt, chè tàu, kim quýt. Hàng rào mang tính chất quy ước về ranh giới, hay để trang trí hơn là vì mục đích bảo vệ, chống trộm cướp. Cổng vào nhà cũng vậy, thường có ít cửa đóng, đôi khi chủ nhà trồng hai cây bông giấy ở hai bên và uốn giao nhau thành một vòm cong để thêm đẹp nhà. Các quãng dọc theo hàng rào, người ta hay trồng xen những trái cây ăn quả như dừa, xoài, mận, mít hay cây lấy gỗ như so đũa, tràm bông vàng, mù, u, bạch đàn. Tùy theo địa thế rộng hay hẹp và cũng tùy điều kiện kinh tế, sở thích của từng người, mà cách bố trí ngôi nhà trong khuôn viên có khác nhau theo mấy dạng chính sau đây.

  1. Sân - nhà - vườn 
  2. Vườn - sân - nhà - vườn - ao cá 
  3. Sân - nhà - bến nước (do đất hẹp, nằm sát mé sông hay rạch) 
  4. Sân - nhà - vườn sau - vườn hai bên (ngôi nhà nằm ở trung tâm khu vườn) 

Bến Tre thuộc vùng quanh năm nắng nóng, nhưng nhờ nằm trên các cù lao bao bọc bởi những sông lớn và một hệ thống kênh rạch đan, cắt chằng chịt, nên khí hậu được điều hòa, không nóng quá và cũng không lạnh quá. Do đó, nhà cửa của người Bến Tre nói chung đều xây cất thích nghi với môi trường, đất đai, và thời tiết ở địa phương. Nhà có thể được xây cất lớn hay nhỏ bằng gạch hay bằng lá tùy theo điều kiện kinh tế của gia chủ, nhưng Bến Tre ít có kiểu “nhà đạp”, “nhà đá” (nghĩa là xây cất quá tạm bợ) như ở Bạc Liêu, Cà Mau hay Đồng Tháp Mười. Đại đa số nhà ở nông thôn Bến Tre được làm bằng gỗ, lá. Nguyên nhân chủ yếu vì tỉnh nghèo về vật liệu xây dựng, nếu mua ở nơi khác đường vận tải xa, giá thành cao, thêm vào đó, Bến Tre lại bị tàn phá nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh vừa qua. Theo các cụ cao tuổi thì xưa kia Bến Tre có rất nhiều tre và cây cổ thụ như sao, dầu, chứ không như bây giờ, lại có nhiều cây gỗ khác như mù u, trâm bầu, mít, sầu đâu ở ngay nơi vườn. Bến Tre xa núi, không có tranh, nhưng lại giàu lá dừa nước. Dừa nước bền hơn tranh và rơm rạ, dùng lợp nhà, làm vách che cũng đẹp hơn. Lá lợp hàng năm thừa cho nhu cầu trong tỉnh, phải bán sang các nơi khác.

Nếu như ở miền Bắc, mặt nhà quay về hướng nam được coi như là một sự đúc kết có tính quy luật, vừa để tránh được ngọn gió mùa đông bắc, vừa để đón nhận ánh sáng và những tia nắng ấm mặt trời, thì ở miến Nam, người ta vẫn lưu truyền câu" Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng nam" tuy nhiên đó không phải là một yêu cầu bắt buộc, bởi vì không nhất thiết các nhà đều phải như thế. Việc quay mặt nhà về hướng nào hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiện lợi, hợp lý nhất của địa cuộc và cảnh quan chung quanh. Nếu phía trước là con lộ hay dòng sông lớn, thì nhất thiết mặt nhà phải hướng về phía đó, dù là hướng đông hay bắc. Nhà quay mặt ra sông vừa đón làn gió mát từ dòng sông mang lại, vừa chứng kiến cảnh rộn rịp, đông vui của thuyền bè xuôi ngược, tận hưởng cái đặc ân của thiên nhiên "Một cửa thấy sông nước". Ở cùng một xóm, dù quay mặt ra sông rạch, hay quay về phía mặt lộ (đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã) thì vườn nhà này thường liền với vườn nhà kia, mà ranh đất là con mương nhỏ ngập nước.

Xưa, việc dựng nhà được quan niệm như là một trong những việc hệ trọng do đó ngoài việc chọn "cuộc đất" vừa ý rồi, còn phải xem ngày lành tháng tốt để dựng nhà, có lễ cúng Thổ địa (thần đất) và tuân thủ một số điều kiêng cữ. Nghèo thì cúng con gà, đĩa xôi, cùng hoa quả. Giàu thì làm đình đám hơn. Nhà khi dựng lên còn có lá bùa bằng mảnh vải đỏ vẽ hình bát quái treo tòn teng dưới đòn dông ở gian giữa. Có người treo nguyên cả cuốn lịch Tàu. Ngày nay, những tập tục mê tín dị đoan về địa lý, phong thủy cũng như một số tín ngưỡng, kiêng kỵ, lạc hậu đã giảm đi khá nhiều. Tuy nhiên một tập tục mang tính cộng đồng của đồng bào cùng xóm cùng làng, tối lửa tắt đèn có nhau vẫn được lưu giữ. Đó là trong làng xóm có người nào làm nhà mới thì những người chung quanh coi như có bổn phận đến giúp đỡ không lấy tiền công. Dưới quyền chỉ huy của người thợ cả, họ mỗi người một việc, thạo gì làm nấy để giúp gia đình chủ lắp ráp, xây dựng ngôi nhà. Nhiều nơi khi dựng nhà, người ta còn bắt vợ lẫn chồng chủ nhà cùng nâng hai đầu cây đòn dông, hay cùng sờ tay vào cây cột cái với hàm ý rằng đây là "của chồng công vợ" tạo nên và họ sẽ sống hạnh phúc với nhau trong ngôi nhà ấy. Gác sang một bên quan niệm dị đoan, ta thấy đằng sau cái động tác tượng trưng ấy một biểu hiện của tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa vợ và chồng trong đời sống thôn dã. Khi sườn nhà đã đặt trên các hàng cột, người thợ cả lấy cây "thước tổ" mà ông ta dùng để đo tính toán lắp ráp ngôi nhà đặt trên chiếc bàn ở giữa nhà trên có lễ vật, hương hoa bày sẵn. Mọi người đến giúp dựng nhà đều đứng nghiêm mắt ngước lên phía nóc nhà như biểu thị sự hài lòng và vui mừng chúc tụng chủ nhà mọi sự tốt lành như ý.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer