Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn 
 
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Văn Đức 
 
Bến Tre được mệnh danh là quê hương xứ Dừa, có hệ sinh thái phong phú, đa dạng, trong đó dừa là nguồn nguyên liệu dồi dào mà từ lâu người Bến Tre đã biết tận dụng khai thác. Chính cái hương vị thanh ngọt của các loại dừa trên đất Bến Tre đã tạo nên những món ăn đặc trưng riêng của vùng đất này. Gỏi củ hủ dừa là một trong hàng trăm món ngon được chế biến từ dừa mà người dân Bến Tre đã đưa vào ẩm thực xứ Dừa để phục vụ du khách. 
 
Bến Tre được thiên nhiên ban tặng cho cư dân nơi đây một vùng đất trù phú với những đồng ruộng, vườn cây trái sum suê, đặc biệt là những vườn dừa xanh tươi bát ngát. Cây dừa không chỉ đi vào thơ ca mà còn là nét văn hóa trong ẩm thực của người dân nơi đây với những món ngon nổi tiếng gần xa như tép rang dừa, cơm trong trái dừa (Cơm dừa Bến Tre). 
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hànhThu Thủy (Bảo tàng Bến Tre)
Cự ly các điểm đến Chợ LáchCự ly các điểm đến Chợ Lách
Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

- Từ thành phố Bến Tre đi bằng đường bộ đến các điểm của Chợ Lách:


Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký

Vườn kiểng Năm Công, xã Hưng Khánh Trung B 24 km, nằm sát QL 57.

  • "Làng nghề cây giống và hoa kiểng Cái Mơn"; vườn cây trái Cái Mơn; các điểm du lịch sinh thái tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành), xe 50 chỗ đến được trung tâm xã, rồi chọn phương tiện xe 02 bánh đến các làng nghề, vườn cây trái…; đi bằng đường bộ khoảng 30 km; đi bằng đường thủy từ thành phố Bến Tre đến Cái Mơn mất 3 giờ đồng hồ.

  • Nhà thờ Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, 30 km, nằm cặp Quốc lộ 57, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ thành phố Bến Tre qua (về phía bên trái).

  • Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký, xã Vĩnh Thành, 30 km, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ Tp. Bến Tre qua, rẽ sang hướng phải, xe dưới 16 chỗ vào đến nơi; xe 30 -50 chỗ đậu ngoài lộ lớn và đi bộ vào khoảng 300m.

  • Điểm du lịch sinh thái Ba Ngói và Tám Lộc (cồn Phú Đa) xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ. Nếu đi đường sông từ thị trấn Chợ Lách theo kênh Lách một khoảng rẽ sang kênh Sụp (tàu lớn đi được), chạy một lúc sẽ gặp sông Cổ Chiên và theo hướng  phải một đổi sẽ gặp cồn Phú Đa. Cũng theo hướng này, nếu đi bằng thuyền nhỏ (đi tắt) theo hướng kênh Bốn Sồ là tới cồn Phú Đa.

  • Điểm vườn hoa, kiểng Hồng Nhị, xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ, nằm sát Quốc lộ 57.

  • Điểm du lịch Năm Vũ, xã Phú Phụng 50 km đường bộ, đi khoảng 4 km nữa là đến phà Đình Khao sang tỉnh Vĩnh Long.

  • Ngoài các điểm đến trên, trên đường đi đến trung tâm Chợ Lách, xuất phát điểm từ thành phố Bến Tre tính theo km đường bộ, có thể khám phá các vườn cây ăn trái và một số cơ sở sản xuất cây giống tại các xã như: Tân Thiềng 36 km, (qua cầu Cái Mơn lớn khoảng 1 km, quẹo theo hướng phải 05 km nữa là đến), xe dưới 30 chỗ đến được nơi đây. Tại Tân Thiềng có bến phà nhỏ sang huyện Mang Thít tỉnh Vĩnh Long. Hay đến xã Long Thới 34 km; xã Hòa Nghĩa 38 km (02 xã này nằm cặp trên QL 57), xe 30 – 50 chỗ đến được. Sau đó đến thị trấn Chợ Lách khoảng 40 km; lên xã Sơn Định 42 km. Hoặc từ thành phố Bến Tre đến xã Vĩnh Hòa, xã Phú Sơn khoảng 18 km lộ trình đi như sau: qua cầu Hàm Luông, đến ngã tư đèn đỏ đèn xanh, rẽ phải qua đường tỉnh 882, đến vòng xoay ngã ba lên trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc tại xã Phước Mỹ Trung (Ba Vát), rẽ sang hướng phải lên xã Vĩnh Hòa và Phú Sơn, 02 xã này đi xe dưới 16 chỗ thuận tiện nhất.


    Nếu đến Chợ Lách bằng đường thủy, nhìn trên bản đồ từ Tiền Giang qua thì theo sông Tiền, lên khúc uốn sông Hàm Luông, quẹo vào vàm kênh Lách là đến trung tâm huyện. Từ Vĩnh Long đi đường bộ hay đường thủy đến Chợ Lách là dễ dàng nhất.


    Tàu, thuyền xuôi ngược trên kênh Lách đi Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền Tây và ngược lại.

    161007_52.jpg


    Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Duy MinhDuy Minh
 

Huyện tách ra từ huyện Tân Minh (gồm huyện Duy Minh và Tân Minh) vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thuộc phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; kiểm soát thủ tục hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.
 2. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Nhiệm vụ và quyền hạn
1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;
b) Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;
c) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;
d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;
đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;
e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Phục vụ hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;
c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Tổ chức công tác tiếp công dân; phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh theo quy định của pháp luật.
5. Tham mưu, giúp Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;
b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện;
c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;
d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;
đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
6. Tiếp nhận, xử lý, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):
a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Ủy ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;
b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.
7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;
c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;
d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
8. Thực hiện chế độ thông tin:
a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Tổ chức quản lý, xuất bản Công báo điện tử tỉnh;
d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Ủy ban nhân dân tỉnh;
đ)  Cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra và thông tin do Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra theo quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:
a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng:
Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.
11. Thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính
a) Tham gia ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Đôn đốc, kiểm soát chất lượng công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện công khai thủ tục hành chính tại trụ sở nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; tích hợp dữ liệu thủ tục hành chính để công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh theo quy định;
d) Nhập, đăng tải công khai, tích hợp, khai thác, quản lý dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;
đ) Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp, sáng kiến đơn giản hóa thủ tục hành chính;
e) Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh;
g) Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và vận hành, khai thác hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp;
h) Tham mưu, tổ chức kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương;
i) Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
k) Thông tin, tuyên truyền; tổng hợp, báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính.
12. Thực hiện nhiệm vụ một cửa, một cửa liên thông
Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
 13. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:
a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;
c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;
đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức
1. Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.
2. Các đơn vị chuyên môn trực thuộc:
a) Phòng Tổng hợp;
b) Phòng Kinh tế;
c) Phòng Tài chính - Đầu tư;
d) Phòng Khoa giáo - Văn xã;
đ) Phòng Nội chính;
e) Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính;
g) Phòng Hành chính - Tổ chức;
h) Phòng Quản trị - Tài vụ;
i) Phòng Ngoại vụ;
Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
k) Ban Tiếp công dân tỉnh.
Ban Tiếp công dân có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và công chức làm công tác tiếp công dân. Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân;
Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Đơn vị hành chính đặc thù: Trung tâm Phục vụ hành chính công.
a) Trung tâm Phục vụ hành chính công có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và công chức, viên chức do các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh cử đến làm việc. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh cử công chức, viên chức quản lý, vận hành trụ sở, trang thiết bị máy móc, hệ thống mạng của Trung tâm Phục vụ hành chính công;
b) Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định bổ nhiệm theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;
c) Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:
a) Trung tâm Thông tin điện tử
Trung tâm Thông tin điện tử có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ.
b) Nhà Khách Hùng Vương
Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Biên chế, số lượng người làm việc
Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao. Riêng số lượng người làm việc tại Nhà khách Hùng Vương do Chủ nhiệm Nhà khách xác định trong Đề án vị trí việc làm của Nhà khách, trên cơ sở bảo đảm việc làm ổn định và thu nhập cho số lượng người làm việc tại đơn vị theo quy định.

(Nguồn Quyết định 36/2019/QĐ-UBND)

Tập tin đính kèm: QD_36_2019.pdf


Đã ban hành
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc SơnPhó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn
XL_truc-son.jpg
- Họ và tên: Nguyễn Trúc Sơn
- Sinh năm: 1971
- Quê quán: Xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Anh văn, Thạc sĩ Quản trị Chương trình và Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Sương Nguyệt AnhSương Nguyệt Anh
 

    Sương Nguyệt Anh, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (cũng có tài liệu viết là Nguyễn Thị Xuân Khuê), sinh ngày 1 tháng 2 năm Giáp Tí (1864) tại An Bình Đông (nay là xã An Đức, huyện Ba Tri), là con thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Kế thừa tiết tháo của người cha, Ngọc Khuê đã sớm bộc lộ cả tài năng lẫn nhân cách.

   Năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu từ trần, lúc ấy Ngọc Khuê 25 tuổi, đang ở với người anh thứ ba là Nguyễn Đình Chúc, tham gia dạy học trò cùng anh. Có một viên tri phủ cậy mối hỏi, nhưng Ngọc Khuê không ưng. Về sau cùng gia đình anh, chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho), rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, Ngọc Khuê kết duyên cùng với một phó tổng sở tại góa vợ tên là Nguyễn Công Tính và sinh được một người con gái đặt tên là Vinh (cô này về sau lấy ông Mai Lương Ngọc sinh ra bà Mai Huỳnh Hoa). Khi con được hai tuổi, thì ông Tính mất. Bà ở vậy nuôi con và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Ít lâu sau, bà lên Sài Gòn, làm thơ, viết báo đăng trên tờ Nữ giới chung (Tiếng chuông của nữ giới do ông Trần Văn Chim làm chủ bút. Một thời gian sau, bà thay ông Chim làm chủ bút một tờ báo tại thành phố lớn. Do đó, ở Bến Tre có câu ca:

Đem chuông lên đánh Sài Gòn

Để cho nữ giới biết con ông Đồ.

   Trong khi đang làm báo ở Sài Gòn, bà bị đau mắt, phải về nhà của người em thứ bảy là Nguyễn Đình Chiêm ở Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri) để chạy chữa, nhưng bệnh tình không giảm. Bà mất tại đây ngày 20-1-1921. Mộ bà lúc đầu chôn ở Mỹ Nhơn, về sau được đồng bào dời về bên cạnh mộ của hai cụ thân sinh bà tại làng An Đức, Ba Tri, nằm trong khu mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

   Sinh ra giữa lúc tiếng súng xâm lăng của Pháp bắt đầu nổ trên quê hương, Nguyễn Thị Ngọc Khuê từng chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân và bộ mặt thật của kẻ thù dân tộc. Bản thân gia đình Nguyễn Đình Chiểu cũng cùng chung số phận ấy. Do đó, thơ của Sương Nguyệt Anh, bên cạnh tính chất trang nghiêm, nho nhã vẫn hàm chứa nỗi niềm thiết tha, ưu tư sâu lắng đối với dân với nước. Ba câu cuối bài thơ tám câu Hội Minh Lang nói lên phần nào niềm thao thức đó của bà:

"Xét phận thần dân chốn lửa than

Nước mắt cô cùng trời đất biết

Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương"

   Bên cạnh sự đoan trang, nền nếp, bà vẫn có một tác phong giao du phóng khoáng, có quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp xã hội. Thời con gái cũng như khi đã có chồng con, hay lúc góa bụa, bà vẫn giữ cung cách giao tiếp tự nhiên, cùng đàm luận, họa thơ với những người bạn nam giới như các ông Trần Khải Sơ, Hồ Bá Nguyên, Phủ Học, thầy Bảy Nguyện, và khi cần vẫn biết chối từ lời cầu hôn của kẻ quyền quý để giữ trọn ý nguyện của mình.

   Là một người thông Nho, giỏi thơ văn, bà đã làm nhiêu bài bát cú để vịnh cảnh và những bài thơ họa vận với bạn bè, trong đó có những bài vịnh như: Vịnh bạch mai, Tặng sư cô, Hội Minh Lang, Thay lời vợ thầy thuốc, Đoan ngọ nhật điếu Khuyất Nguyên, Tức sự, Tặng biệt ông Trần Khải Sơ, Họa bài ông Hồ Bá Xuyên hay chánh bái Liễu, Họa bài ông Phủ Học, Họa bài thầy Bảy Nguyên. Các cụ già ở Ba Tri còn kể rằng bà có dịch quyển tiểu thuyết Trung Hoa Yên Sơn ngoại sử sang thể lục bát, nhưng nay đã tuyệt bản.

   Kế thừa truyền thống gia đình, bà thích làm thơ chữ Nôm hơn là làm thơ chữ Hán. Thơ Sương Nguyệt Anh không đặc sắc, nhưng lời lẽ thanh thoát, dung dị. Tên tuổi của bà được nhắc nhiêu trên văn đàn công khai ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX. Tên bà được đặt cho một con đường ở quận 1, rợp mát bóng cây dầu và một ngôi trường ở quận 10 (TP. Hồ Chí Minh).

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866)Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866)
 

Image
Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866)
Nguyễn Ngọc Thăng sinh tại ấp Giồng Keo, làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nông dân, cha tên Nguyễn Công, mẹ là Trần Thị Kiêm. Ông là anh cả của ba anh em. Vốn thông minh từ nhỏ, thời niên thiếu, ngoài việc học chữ Nho của thầy đồ trong làng, ông cùng với bạn bè đến các "lò võ" trong vùng luyện tập võ nghệ. Lớn lên, ông có công chiêu mộ dân, tổ chức và điều khiển công việc triển khai đất đai, lập đồn điền mở mang vùng Bảo Hựu. Về sau, ông đăng lính triều đình dưới thời Thiệu Trị, được thăng Cai Cơ và đến năm 1848 (Tự Đức nguyên niên) thì được thăng chức Lãnh binh.

 Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Nguyễn Ngọc Thăng đem binh đến cứu viện, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành Gia Định thất thủ (10 giờ sáng ngày 17-2-1859). Hộ đốc trấn giữ thành là Võ Duy Ninh phải tự tử. Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng được lệnh đóng giữ đồn Cây Mai. Tại đây, ông tổ chức lại cuộc phòng thủ, chặn đứng nhiều cuộc tấn công của địch. Nhưng do lực lượng quá chênh lệch, sau một thời gian cầm cự, ông phải bỏ đồn rút quân về Gò Công, lúc này vẫn còn là đất thuộc phủ Tân An, tỉnh Gia Định.

   Sau khi rút về Gò Công ông tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Trương Định ở vùng Tân Hòa, Tân Phước, Gia Thuận, Cần Đước, Lý Nhơn...

 Sau khi chủ tướng Trương Định hy sinh trong một trận tập kích bất ngờ do tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn quân Pháp bao vây, đánh úp vào rạng sáng ngày 20-8-1864, Nguyễn Ngọc Thăng tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp. Lúc này ở chiến trường miền Đông chỉ còn lại 3 trung tâm kháng Pháp. Một, do Thiên Hộ Dương chỉ huy chiến đấu ở vùng Đồng Tháp Mười. Trung tâm thứ hai do con Trương Định là Trương Quyền lãnh đạo, hoạt động ở vùng Tây Ninh. Trung tâm thứ ba do Nguyễn Ngọc Thăng lãnh đạo chiến đấu ở vùng hữu ngạn sông Soài Rạp cho đến cửa Tiểu, tức khu vực Gia Thuận, Tân Phước (Gò Công).

   Ngày 27-6-1866, trong một trận giao chiến với quân Pháp, ông bị trúng đạn, tử thương. Thi hài ông được các thuộc hạ và nghĩa quân đồng hương trung thành với ông đã lợi dụng đêm tối, dùng ghe đưa về nơi quê hương tại Mỹ Lồng và quàn tại đình làng bên cạnh mé sông để dân chúng trong vùng đến phúng điếu. Mộ ông chôn tại một con giồng nhỏ ở Mỹ Lồng thuộc làng Mỹ Thạnh. Sau khi ông mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo, mão và một thanh gươm. Do chiến tranh, những di vật này đặt tại ngôi miếu thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng và thất lạc.

{mosimage}   Thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu tiên của địa phương, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng đã nêu một gương sáng trong nhân dân. Hiện nay, ở thành phố Hồ Chí Minh có đường và một ngôi chợ mang tên Lãnh Binh Thăng, thuộc quận 11. Tại thị xã Bến Tre cũng có một con đường mang tên Lãnh Binh Thăng (từ năm 1955).

   Tại đình làng Nhơn Hòa, nay thuộc phường Cầu Ông Lãnh (quận 1, TP. HCM) và tại đình làng Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm đều thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng. Hàng năm, vào dịp lễ Kỳ yên, tại 2 nơi này đều có lễ tế trọng thể tưởng niệm người anh hùng chống Pháp từ buổi đầu.

Đã ban hành
Ngã ba ThápNgã ba Tháp
 

Ngã ba đường đi Tiên Thủy giáp quốc lộ 60 (Rạch Miễu - thị xã). Thời Pháp thuộc, tại đây có xây một đài tưởng niệm ghi công những lính viễn chinh Pháp đã chết trên đất Bến Tre. Đài tưởng niệm được đồng bào địa phương gọi là “tháp”. Đến CMT8-1945, “tháp” này bị đập bỏ, chỉ còn lưu lại cái tên ngã ba Tháp cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Mỏ CàyMỏ Cày
 

 Sông Mỏ Cày

Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.

Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.

Cầu Mỏ Cày

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.

 Huyện Mỏ Cày

Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.

Huyện Mỏ Cày có diện tích tự nhiên 35.196ha, bắc giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung con sông Cổ Chiên, tây giáp huyện Chợ Lách, đông và nam giáp huyện Thạnh Phú.

Sau này 30-4-1975, theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị Mỏ Cày có 28 xã và 1 thị trấn.

Mỏ Cày

Sở tham biện, lập ngày 4-12-1867, gồm vùng đất cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Thị trấn Mỏ Cày

Thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Một nhánh của sông Hàm Luông chảy đến làng Đa Phước Hội thì chia làm 3 ngã: một nhánh nối với kinh Thom, một nhánh là rạch Cầu Ông Bồng, một nhánh là rạch Mỏ Cày. Nơi giáp 3 ngã sông rạch này tạo nên một doi đất hình mỏ cày (mỏm cày). Năm 1867, Mỏ Cày là lỵ sở của sở tham biện Mỏ Cày (gồm toàn bộ cù lao Minh), sau tháng 8-1945 đến 1975 là quận lỵ Mỏ Cày, sau ngày giải phóng (30-4-1975) là thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của cù lao Minh và cũng là huyện lỵ đông dân nhất tỉnh.

Đã ban hành
Giồng TrômGiồng Trôm
 

Huyện được thành lập giữa năm 1959 trên cơ sở của huyện Tán Kế, hình thành từ sau CMT8-1945, gồm một số xã tách ra từ huyện Ba Tri và một số xã tách ra từ huyện Châu Thành. Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142ha, đứng hàng thứ hai trong 7 huyện, nằm khoảng giữa cù lao Bảo, bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai, đông giáp huyện Ba Tri, tây giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, nam giáp huyện Mỏ Cày, có ranh giới chung sông Hàm Luông.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Giồng Trôm gồm có 21 xã và 1 thị trấn. Huyện Giồng Trôm được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thị trấn Giồng Trôm

Thị trấn, huyện lỵ Giồng Trôm, thành lập theo Quyết định số 141/CP ngày 3-4-1979 của Hội đồng Chính phủ. Thị trấn nằm trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri với những hàng quán, chợ, cửa hàng dịch vụ, trường học… kéo dài cả kílômét.

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Đoàn Hoàng MinhĐoàn Hoàng Minh
Anh hùng Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Anh hùng Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Image
Anh hùng Đoàn Hoàng Minh

Cuối năm 1959, Đoàn Hoàng Minh vào du kích, đã đánh 22 trận, diệt ác ôn, trừ tề điệp, hỗ trợ tích cực cho nhân dân trong xã đồng khởi. Năm 1961, anh nhập ngũ, được đi học kỹ thuật thông tin chiến đấu, về đơn vị đã phục vụ 29 trận lớn nhỏ, luôn bảo đảm thông tin thông suốt. Đặc biệt, trong 2 trận liền từ ngày 10 đến 12-5-1965 ở Thuận Lợi, tổ thông tin vô tuyến điện có 2 người đã bí mật chiếm lĩnh 1 điểm cao, từ đây có thể quan sát rộng nhưng địa điểm hẹp rất dễ bị địch phát hiện. Đoàn Hoàng Minh cùng đồng đội đã tìm cách khắc phục đặt đài, ngụy trang và bám vững vị trí để bảo đảm thông tin. Khi địch đổ quân xuống, cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, Đoàn Hoàng Minh đã kịp thời báo cáo nhiều tin quan trọng về cho đơn vị, giúp cho tiểu đoàn kịp thời diệt gọn đại đội địch không đầy 10 phút. Ngày cuối cùng, tổ đài đã truyền lệnh kịp thời cho các đơn vị tiến công, bao vây, chặn đánh địch, bắn súng cối đúng mục tiêu, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch đến ứng cứu. Có lần máy liên lạc bị hỏng, Đoàn Hoàng Minh lợi dụng đêm tối trở về đơn vị lấy máy khác lên vị trí tiếp tục nhiệm vụ. Sau trận đánh, anh bị cảm nắng, khắp mình tê dại, sốt cao nhưng Đoàn Hoàng Minh vẫn vui vẻ vì tổ thông tin đã phục vụ cho trận chiến đấu thắng lợi giòn giã.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Ngày 17-9-1967, Đoàn Hoàng Minh được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sông Hàm LuôngSông Hàm Luông
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Chính vì thế, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh, góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

 Hệ thống sông Hàm Luông

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

K. Xáng

Ranh giới xã Sơn Định và thị trấn Chợ Lách, nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên

7,5 km

R. Lách

Từ thị trấn Chợ Lách đến xã Long Thới (H. Chợ Lách)

7,0 km

R. Sóc Sãi

Từ xã Tân Phú đến xã Tiên Thủy (H. Châu Thành)

10,0 km

R. Vĩnh Thành

Từ xã Vĩnh Thành qua xã Phú Sơn thông với rạch Cái Mơn (H. Chợ Lách)

10,0 km

R. Cái Mơn

Ranh giới giữa xã Vĩnh Thành và xã Tân Thiềng (H. Chợ Lách)

9,0 km

S. Cái Cấm

Ranh giới của 3 xã Thanh Tân, Thạnh Ngãi và Tân Thành Bình (H. Mỏ Cày)

11,0 km

S. Bến Tre

Từ xã Tân Hào (H. Giồng Trôm) qua xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre)

20,0 km

R. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã Tân Thành Bình và xã Định Thủy

6,5 km

R. Cái Sơn

Từ xã Sơn Phú đến xã Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

7,5 km

R. Giồng Keo

Từ xã Thành An đến xã Hòa Lộc nối với R. Mỏ Cày

5,5 km

R. Thủ Cửu

Từ xã Long Mỹ đến xã Phước Long (H. Giồng Trôm)

6,0 km

K. Giồng Trôm

Từ thị trấn Giồng Trôm, đến xã Lương Hòa, nối với R. Ông Hương

8,0 km

R. Tài Phú

Ranh giới của 3 xã Thuận Điền, Lương Phú, Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

6,0 km

R. Cái Mít

Từ xã Hưng Lễ đến xã Thạnh Phú Đông (H. Giồng Trôm), thông với K. Tắc

7,0 km

R. Tân Hương

Từ xã Hương Mỹ đến xã Minh Đức (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Hương Điểm

Từ xã Tân Lợi Thạnh đến xã Hưng Nhượng (H. Giồng Trôm) đào năm 1885

5,0 km

R. Sơn Đốc

Từ xã Hưng Nhượng đến xã Hưng Lễ (H. Giồng Trôm), nối với K. Miễu Ông và K. Tắc

5,0 km

R. Giồng Luông

Từ xã Tân Phú đến xã Phú Khánh (H. Thạnh Phú)

6,0 km

R. Băng Cung

Từ xã Mỹ Hưng đến xã Giao Thạnh (H. Thạnh Phú) 2 đầu gặp sông Hàm Luông

21,0 km

R. Cái Bông

Từ xã Mỹ Chánh đến xã An Hiệp (H. Ba Tri)

13,0 km

R. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã An Đức, thông ra sông Hàm Luông

8,0 km

K. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã Phú Ngãi, thông với K. Đồng Xuân

6,5 km

R. Bà Hiền

Từ xã Tân Thủy đến xã An Hòa Tây (H. Ba Tri)

8,0 km

Chú thích

(1)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

 
Đã ban hành
Bến TreBến Tre
 

Hạt (arrondissement) lập năm 1892, thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm cù lao Bảo (11 tổng, 99 làng) và cù lao Minh (10 tổng,83 làng).

Thị xã Bến Tre

Thị xã, tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên, có diện tích 6.575 ha, gồm 9 phường nội ô mang số từ 1 đến 8 và 6 xã ngoại ô: Sơn Đông, Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh, Bình Phú và Phú Hưng.

Phía đông và đông bắc giáp huyện Châu Thành, phía đông và đông nam giáp huyện Giồng Trôm, phía tây và tây nam giáp sông Hàm Luông.

Nằm ở vị trí gần như trung tâm của tỉnh, với hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi, có đường ô tô nối với Thành Phố Hồ Chí Minh dài 86km, có đường liên tỉnh nối với Mỹ Tho và Trà Vinh, có đường các thị trấn, thị xã Bến Tre có đầy đủ những ưu thế để phát triển thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh.

Tỉnh Bến Tre

Ngày 1-1-1900, Toàn quyền Paul Doumer cho áp dụng trong toàn cõi Nam Kỳ nghị định ký ngày 20-12-1899 đổi các sở tham biện (inspection) thành tỉnh (province). Bến Tre được gọi là tỉnh bắt đầu từ đó, gồm có cù lao Bảo và cù lao Minh, với 21 tổng và 182 làng.

Năm 1930, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 20 tổng, 94 làng.

Tháng 8-1945, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 18 tổng, 94 làng.

Năm 1995, tỉnh Bến Tre có 8 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm thị xã Bến Tre và các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú), 7 thị trấn, 8 phường, 136 xã.

Sông Bến Tre

Sông chảy từ xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm (trung tâm cù lao Bảo) qua thị xã Bến Tre, đổ ra sông Hàm Luông, dài 30km. Đây là một trong những con đường thủy quan trọng của tỉnh Bến Tre, nối liền sông Hàm Luông với sông Mỹ Tho qua đoạn kênh Chẹt Sậy – An Hóa.

Bến Tre

Sở tham biện (inspection) lập ngày 4-12-1867 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ De La Grandiere gồm vùng đất nằm trên cù lao Bảo lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1976 - 1993 )Thế kỷ 20 ( 1976 - 1993 )

1976

31 tháng 3, Ủy ban Quân quản làm lễ bàn giao nhiệm vụ cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre.

24 tháng 6, Tại thủ đô Hà Nội, Quốc hội (khóa VI) của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên từ ngày 24-6-1976 đến ngày 2-7-1976.

2 tháng 7, Cuộc họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI đã thông qua quyết định lấy tên nước Việt Nam thống nhất là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội cũng quyết định đặt tên cho thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh là TP. Hồ Chí Minh.

1 tháng 10, Báo Chiến thắng đổi tên thành báo Ðồng khởi. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc gồm 8 trang, in ốp sét. Báo ra hàng tuần.

20 tháng 12, Thành lập Ðài phát thanh Bến Tre.

1977

7 tháng 3, Ðài phát thanh Bến Tre phát buổi đầu tiên.

Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ nhất vòng 2 (từ 7 đến 18-3) xác định 3 thế mạnh của nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh: nghề ruộng, nghề vườn, nghề cá.

Thành lập Trường Trung học Sư phạm Bến Tre.

1978

Tháng 11, Thành lập Hội Nhà báo tỉnh Bến Tre.

Thành lập Trường Cán bộ Quản lý giáo dục Bến Tre.

1979

1 tháng 10, Theo kết quả Tổng điều tra dân số trong cả nước lần thứ I, tỉnh Bến Tre có số dân 1.033.900 người, so với số dân toàn quốc là 52.711.766 người.

1984

9 tháng 1, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định chọn xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm làm địa phương kết nghĩa với Cuba mang tên "Làng Môncađa".

14 tháng 3, Phân vạch địa giới một số xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre.

Chia xã Tân Hào (huyện Giồng Trôm) thành 2 xã: Tân Hào và Tân Lợi Thạnh.

Chi xã Tân Thủy (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Tân Thủy và An Thủy.

Chia xã Ðịnh Hòa (huyện Bình Ðại) thành 2 xã: Long Ðịnh và Long Hòa.

Chia xã Vang Quới (huyện Bình Ðại) thành 2 xã: Vang Quới Ðông và Vang Quới Tây.

Chia xã Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) thành 2 xã: Bình Khánh Ðông và Bình Khánh Tây.

Chia xã Thành Thới (huyện Mỏ Cày) thành 2 xã: Thành Thới A và Thành Thới B.

Chia xã Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Thạnh Phong và Thạnh Hải.

Chia xã Quới Ðiền (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Quới Ðiền và Hòa Lợi.

Chia xã Ðại Ðiền (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Ðại Ðiền và Tân Phong.

Tách ấp Sơn Quy, 2/3 ấp Bình An, 1/6 ấp Phụng Châu của xã Sơn Ðịnh, sáp nhập vào thị trấn Chợ Lách.

Giải thể các xã Bình Nguyên, Mỹ Hóa, An Hòa và thành lập 3 phường mới 3, 7 và 8.

(Quyết định số 44-HÐBT, ngày 14-3-1984 của Hội đồng Bộ trưởng).

Tháng 12, Dân số tỉnh Bến Tre là 1.158.936 người.

1985

16 tháng 4:

Chia xã Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Bảo Thạnh và Bảo Thuận.

Chia xã Mỹ Chánh Hòa (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Mỹ Chánh và Mỹ Hoà

Chia xã An Ngãi Trung (huyện Ba Tri) thành An Ngãi Trung và An Phú Trung.

Tách ấp An Hội của xã An Ðức để sáp nhập vào thị trấn Ba Tri.

Thành lập xã Vĩnh An (huyện Ba Tri) trên cơ sở tách một phần đất của xã An Vĩnh Hòa và xã An Hòa Tây nhập lại.

(Quyết định số 119-HÐBT, ngày 16-4-1985 của Hội đồng Bộ trưởng).

Chính phủ trao tăng Huân chương Sao vàng cho nhân dân Bến Tre và Huân chương Quân công hạng I cho LLVTND tỉnh.

Sau 10 năm giải phóng (1975-1985), dân số Bến Tre đạt con số 1.170.664 người.

1987

17 tháng 1, Khởi công xây dựng đường dây 110KV Mỹ Tho - Bến tre vượt qua sông Tiền, nối Bến Tre với lưới điện quốc gia.

1989

1 tháng 4, Kết quả Tổng điều tra dân số trong cả nước lần thứ II, tỉnh Bến Tre có số dân 1.214.329 người, trong đó người Kinh có 1.206.738 người.

19 tháng 5, Lễ khánh thành đường dây điện vượt sông Tiền 110KW nối tỉnh Bến Tre với mạng lưới điện quốc gia với tổng kinh phí trên 5 tỷ đồng.

28 tháng 9, Ðóng mạch điện nối liền Bến Tre với mạng lưới điện quốc gia.

20 tháng 11, Khởi công xây dựng đường dây điện vượt sông Hàm Luông, đưa điện về 3 huyện của cù lao Minh.

22 tháng 12, Khởi công xây dựng cầu Chẹt Sậy nằm trên tỉnh lộ 26 (thị xã - Giồng Trôm), dài gần 200m.

27 tháng 12, Hoàn thành việc lập bản đồ Bến Tre tỷ lệ 1/5000.

1990

6 tháng 12, Khởi công xây dựng Trường Phổ thông trung học Nguyễn Ðình Chiểu (xây mới) tại ấp 1, xã Phú Khương, thị xã Bến tre, cạnh quốc lộ 60, có mặt bằng 7.360m2.

23 tháng 12, Huyện Ba Tri được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Khánh thành đoạn đường quốc lộ 60 nối từ bến phà Rạch Miễu, thị tứ Tân Trạch đến thị xã Bến Tre, dài 11,5km.

1991

27 tháng 4, Ðại hội đại biểu Ðảng bộ ÐCS tỉnh Bến Tre lần thứ V, từ ngày 27-4 đến 29-4. Có 352 đại biểu dự.

Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III.

1992

15 tháng 5, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định thành lập Ủy ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trực thuộc UBND tỉnh; về sau, đổi thành Trung tâm Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình.

26 tháng 8, Ðồng chí Nguyễn Thị Ðịnh mất tại TP.Hồ Chí Minh.

1993

7 tháng 1, Bộ Văn Hóa - Thông tin ra quyết định số 43-VH/QÐ công nhận:

Khu di tích lịch sử Ðồng khởi Bến Tre (17-1-1960) tại xã Ðịnh Thủy, huyện Mỏ Cày.

Khu di tích nghệ thuật đình Bình Hòa, tại xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm.

Khu di tích nghệ thuật đình Phú Lễ, tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri.

25 tháng 8, Khánh thành cầu Cái Cấm và cầu Chợ Xếp trên tỉnh lộ 887. Cầu Cái Cấm dài 149,3m, gồm 7 nhịp, rộng 8m, bằng bê-tông cốt thép vĩnh cửu.

Cầu Chợ Xếp dài 50,40m, gồm 3 nhịp, rộng 8m, bằng bê-tông cốt thép vĩnh cửu.

3 tháng 9, Khánh thành tượng đài kỷ niệm ngày thành lập trung đoàn Ðồng Khởi tại xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày.

Đã ban hành
Trần Văn BảyTrần Văn Bảy


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Trần Văn Bảy (Bảy Sơn) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành Triệu,
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng
viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 320.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong
20 năm chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam làm nhiệm vụ
quốc tế, từ chiến sĩ trưởng thành lên cán bộ trung đoàn, Trần Văn Bảy đã chiến
đấu và chỉ huy chiến đấu 215 trận lớn nhỏ. Riêng đồng chí diệt 104 tên địch (có
1 tên Mỹ), bắt sống 8 tên (có 1 đồn trưởng), làm bị thương 37 tên. Một số trận
tiêu biểu: Tháng 4 năm 1965, Trần Văn Bảy được cử làm đại đội trưởng đã chỉ huy
đại đội 265 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 44 biệt động
quân, diệt 120 tên, bắt 15 tên, thu 80 súng. Riêng đại đội 265 diệt 60 tên, thu
35 súng, 2 máy PRC25, bắt 8 tên. Đầu năm 1968, với cương vị là tham mưu trưởng
trung đoàn 295 Trần Văn Bảy chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 trung đội Mỹ, đánh thiệt
hại nặng 1 tiểu đoàn bảo an, diệt 34 tên, thu 21 súng. Đầu năm 1975, đồng chí
tham gia chỉ huy tiểu đoàn 502 diệt và làm bị thương 125 tên trong đó có ban
chỉ huy tiểu đoàn địch, giữ vững vùng giải phóng. Mùa xuân năm 1975, đơn vị
Trần Văn Bảy đã tham gia chiến đấu giải phóng và tiếp quản thị xã Sa Đéc. Năm
1977, đồng chí giữ chức trung đoàn trưởng trung đoàn 320 chiến đấu bảo vệ biên
giới Tay Nam diệt hàng trăm tên lính Pôn Pốt giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ
quốc suốt từ năm 1977 đến năm 1978.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần đạt
danh hiệu Dũng sĩ quyết thắng, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 28-4-2000,
Trần Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
<o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Bảy (Bảy Sơn) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 320.

Trong 20 năm chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam làm nhiệm vụ quốc tế, từ chiến sĩ trưởng thành lên cán bộ trung đoàn, Trần Văn Bảy đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 215 trận lớn nhỏ. Riêng đồng chí diệt 104 tên địch (có 1 tên Mỹ), bắt sống 8 tên (có 1 đồn trưởng), làm bị thương 37 tên. Một số trận tiêu biểu: Tháng 4 năm 1965, Trần Văn Bảy được cử làm đại đội trưởng đã chỉ huy đại đội 265 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 44 biệt động quân, diệt 120 tên, bắt 15 tên, thu 80 súng. Riêng đại đội 265 diệt 60 tên, thu 35 súng, 2 máy PRC25, bắt 8 tên. Đầu năm 1968, với cương vị là tham mưu trưởng trung đoàn 295 Trần Văn Bảy chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 trung đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bảo an, diệt 34 tên, thu 21 súng. Đầu năm 1975, đồng chí tham gia chỉ huy tiểu đoàn 502 diệt và làm bị thương 125 tên trong đó có ban chỉ huy tiểu đoàn địch, giữ vững vùng giải phóng. Mùa xuân năm 1975, đơn vị Trần Văn Bảy đã tham gia chiến đấu giải phóng và tiếp quản thị xã Sa Đéc. Năm 1977, đồng chí giữ chức trung đoàn trưởng trung đoàn 320 chiến đấu bảo vệ biên giới Tay Nam diệt hàng trăm tên lính Pôn Pốt giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc suốt từ năm 1977 đến năm 1978.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ quyết thắng, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 28-4-2000, Trần Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
&nbsp;

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Bùi Sĩ HùngBùi Sĩ Hùng
&nbsp;

Image
Bùi Sĩ Hùng
Sinh ngày 25-2-1919 trong một gia đình trung lưu ở quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Bùi Sĩ Hùng thuở nhỏ học ở trường tiểu học rồi Trung học Mỹ Tho. Năm 1937, tiếp tục theo học ở Trường trung học Thăng Long (Hà Nội), sau chuyển về Trường Pétrus Ký (Sài Gòn). Từ năm 1941 đến năm 1945, là sinh viên Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông cùng một số bạn bè đi xe đạp về Nam, rồi tham gia phong trào Thanh niên tiền phong ở quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (tức quận Bình Đại ngày nay), tham gia cướp chính quyền tại đây và được cử làm Phó Chủ tịch UBND lâm thời kiêm Ủy viên quân sự quận An Hóa.

   Sau khi giặc Pháp chiếm Bến Tre, ông gia nhập Vệ quốc đoàn thuộc chi đội 20, tuần tự kinh qua các chức vụ từ trung đội trưởng đến trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng trung đoàn 99, rồi trung đoàn chủ lực Cửu Long, làm Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Trà Vinh, Trưởng ban tác chiến phòng tham mưu, Bộ tư lệnh miền Tây Nam Bộ cho đến ngày hiệp định Genève được ký kết.

   Tháng 1-1955, tập kết ra miền Bắc. Đầu năm 1956, chuyển ngành, đi học lớp bổ túc y sĩ cao cấp ở Trường Cán bộ y tế tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại Bệnh viện hữu nghị Việt - Tiệp ở Hải Phòng, rồi chuyển về làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại bệnh viện Vinh (Nghệ An). Do những thành tích xuất sắc trong chuyên môn, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.

   Tháng 1-1963, ông được cử đi tu nghiệp tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc. Sau khi về nước, làm Phó giám đốc Trường Bổ túc bác sĩ cho chiến trường B, trực thuộc Bộ Y tế.

   Tháng 10-1963, về miền Nam, được cử làm Trưởng ban Dân y khu 8 Nam Bộ. Tháng 4-1972, ra miền Bắc, phụ trách công tác chi viện về y tế cho chiến trường B2. Tháng 11-1973, được bộ Y tế chọn đi tu nghiệp ở Pháp.

  Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), ông ở trong Đoàn tiếp quản Sài Gòn và được cử làm Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, sau đổi thành Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh thành phố Hồ Chí Minh… Trong 14 năm làm giám đốc, Bùi Sĩ Hùng bằng vốn kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý của mình, đã xây dựng nơi đây từ một “nhà thương thí" trước ngày giải phóng thành một bệnh viện sản phụ lớn nhất nước và cả Đông Nam Á với 750 giường, một cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ chuyên ngành quan trọng ở phía Nam của ngành y. Bản thân có nhiều cống hiến trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành sản khoa, có nhiều sáng kiến cải tiến có giá trị trong việc thực hiện kế hoạch dân số, do đó ông được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc của ngành y và được Liên hiệp Công đoàn trung ương tặng bằng sáng chế. Năm 1988, ông được Nhà nước ta phong hàm Phó giáo sư và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân.

Đã ban hành
Sông Cổ ChiênSông Cổ Chiên
Sông Cổ Chiên nằm ở phía nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc điểm tương tự như sông Mỹ Tho. Về tên Cổ Chiên cũng có thuyết cho rằng tên sông có liên quan đến một sự kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII
 Sông Cổ Chiên nằm ở phía nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc điểm tương tự như sông Mỹ Tho. Về tên Cổ Chiên cũng có thuyết cho rằng tên sông có liên quan đến một sự kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII. Vào năm 1785, khi bị đại bại ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút, tàn quân của Nguyễn Ánh phải dùng thuyền chạy trốn xuống phía Nam, đến dòng sông này bị thuyền của Tây Sơn đuổi theo sát quá, quan quân của Nguyễn Ánh cuống quít, sợ hãi đã làm rơi cả trống và chiêng lệnh xuống sông (theo từ Hán - Việt, Cổ là cái trống, Chinh là chiêng). Từ sự kiện này, nhân dân địa phương gọi sông Cổ Chiên (do đọc trại từ "Cổ Chinh" mà ra) (1).

Trên dòng sông Cổ Chiên cũng có nhiều cù lao và cồn như: cù lao Nai, cồn Chen, cồn Dung, cồn Lớn. Các cồn này thuộc về tỉnh Bến Tre.

Hệ thống sông Cổ Chiên

Tên sông, rạch, kênh (2)

Địa bàn

Độ dài

R. Thông Lưu

Từ xã Phú Phụng đến xã Vĩnh Bình (H. Chợ Lách)

6,0 km

R. Cái Bàng

Ranh giới giữa xã Hưng Khánh Trung (H. Chợ Lách) và xã Nhuận Phú Tân (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã An Thạnh, thông với R. Thom

6,5 km

R. Cái Chát Lớn

Từ xã Thành Thới B đến xã Thành Thới A, thông với R. Thom (H. Mỏ Cày)

8,0 km

R. Cái Chát Nhỏ

Từ xã Thành Thới A đến xã Thành Thới B, thông với R. Thom

5,0 km

R. Bà Thi

Xã Thành Thới A, thông với R. Thom

5,0 km

R. Vàm Thom

Từ xã Ngãi Đăng đến xã Cẩm Sơn (H. Mỏ Cày), thông với R. Hương Chạy

9,0 km

R. Giồng

Từ xã Quới Điền đến xã Tân Phong (H. Thạnh Phú)

5,5 km

K. Cái Cá

Từ xã Quới Điền đến xã Hòa Lợi (H. Thạnh Phú)

5,5 km

R. Ớt

Ranh giới 2 xã An Thuận và An Quy (H. Thạnh Phú)

7,5 km

R. Cả Bảy

Xã An Nhơn (H. Thạnh Phú)

8,0 km

R. Khém Thuyền

Ranh giới 2 xã Giao Thạnh và Thạnh Phong (H. Thạnh Phú)

9,0 km

R. Khâu Băng

Xã Thạnh Phong (H. Thạnh Phú), thông với R. Hồ Cỏ

6,0 km

R. Cồn Ốc

Xã Thạnh Hải (H. Thạnh Phú), thông với R. Băng Cung

13,0 km

Chú thích

(1) Cần lưu ý một điều là từ chiêng (nhạc khí bằng đồng, có núm ở giữa) có chữ g ở cuối, trong khi đó từ Cổ Chiên trong các tài liệu lịch sử, trên bản đồ đều không có g (chiên). Cách phát âm ở Nam Bộ không phân biệt rõ chiên và chiêng.

(2) Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

Đã ban hành
Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)
&nbsp;

Image
Nguyễn Văn Khước (1905-1975)
Sinh trong một gia đình nông dân ở xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Khước (tên thường gọi là Năm Chung) sớm giác ngộ cách mạng, đã cùng người anh ruột là Nguyễn Văn Khái tham gia tổ chức Nông hội đỏ vào những năm cuối thập kỷ 20. Giữa năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD cùng với một số đồng chí khác như Nguyễn Văn Khái, Nguyễn Văn Soái, hoạt động ở vùng cù lao Minh. Năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, bị bắt và đưa đi đày ở Bà Rá, thuộc tỉnh Bình Phước. Năm 1942, cùng với một số đồng chí khác, tổ chức vượt ngục, về miền Tây Nam Kỳ, xây dựng cơ sở tại nơi đây.

   Đầu năm 1945, đồng chí về Mỏ Cày, móc nối cơ sở Đảng ở địa phương, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền. Sau ngày cách mạng thành công, ông được cử làm Trưởng quốc gia tự vệ cuộc huyện Mỏ Cày, tức công an huyện. Năm 1948-1949, được cử làm Trưởng an huyện Chợ Lách, sau đó làm Trưởng công an huyện Thạnh Phú. Năm 1950, được bầu vào Tỉnh ủy, đến năm 1953, giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

  Năm 1954, sau hiệp định Genève, đồng chí được phân công ở lại miền Nam và được XUNB quyết định là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đồng chí đã cùng với các thành viên trong Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân, xây dựng và duy trì phong trào vượt qua những bước khó khăn, đen tối nhất trước sự đánh phá vô cùng tàn bạo và khốc liệt của kẻ địch.

   Năm 1958, được điều về công tác ở Khu ủy khu Trung Nam Bộ (tức khu 8). Đến sau cuộc Đồng Khởi (1960), được Khu ủy cử về vùng rừng ngập mặn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tổ chức việc tiếp nhận và phân phối hàng hóa, vũ khí chi viện từ miền Bắc vào Nam qua đường Hồ Chí Minh trên biển, tại vị trí đầu cầu xã Thạnh Phong.

  Năm 1963, được bầu vào Khu ủy khu 8, phụ trách tổ chức, an ninh và binh vận. Trong thời kỳ địch bình định ác liệt (1969-1971), đồng chí đã đến công tác ở nhiều nơi, trong đó có Bến Tre, cùng với các cấp ủy địa phương chỉ đạo phong trào, đối phó lại âm mưu địch.

  Năm 1970, đồng chí được cử giữ chức Trưởng ban kiểm tra của Khu ủy khu 8.

  Đầu năm 1974, do tuổi cao, sức khỏe yếu, đồng chí được đưa ra miền Bắc, sau đó được nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở Cộng hòa dân chủ Đức. Đến đầu năm 1975, đồng chí trở lại chiến trường, công tác ở Ban tổ chức Khu ủy Trung Nam Bộ.

   Do bị tai biến mạch máu não, đồng chí đã đột ngột qua đời tại cứ ở “R”, thuộc xã Hòa Hưng, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào ngày 5-4-1975, giữa lúc quân và dân ta đang sôi nổi chuẩn bị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Đã ban hành
Đôi nét về điểm du lịchĐôi nét về điểm du lịch
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, mưa thuận gió hòa, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt giống như các tỉnh trong khu vực; nhưng do trước đây Bến Tre là tỉnh lẻ, đến Bến Tre phải qua phà ngang cách trở, không thu hút được các nhà đầu tư đến khai thác về nông nghiệp cũng như công nghiệp; từ yếu tố đó giúp cho Bến Tre còn giữ được nét nguyên sơ so với các tỉnh đồng bằng trong khu vực.

Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, mưa thuận gió hòa, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt giống như các tỉnh trong khu vực; nhưng do trước đây Bến Tre là tỉnh lẻ, đến Bến Tre phải qua phà ngang cách trở, không thu hút được các nhà đầu tư đến khai thác về nông nghiệp cũng như công nghiệp; từ yếu tố đó giúp cho Bến Tre còn giữ được nét nguyên sơ so với các tỉnh đồng bằng trong khu vực.

Tuy nhiên! khi cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông hoàn thành, ngành công nghiệp không khói trở thành mũi nhọn trong con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nó là thời cơ cho một tiềm năng du lịch sinh thái mang đậm tính Nam bộ, với những vườn cây ăn trái xum xuê, những rừng dừa bao phủ, những dòng sông hiền hòa, dòng kênh ngọt ngào êm diệu được che rợp bóng mát của cây ven hai bờ.

Những sản phẩm du lịch đặc thù miền sông nước như: Du lịch sinh thái; du lịch miệt vườn làng quê; du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch thể thao sông nước; du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề, … Cùng với những yếu tố tự nhiên, nét văn hóa quê hương đa dạng và phong phú làm cho du khách xa gần không thể bỏ qua một nơi du lịch sông nước đầy ấn tượng tại Đất Bến.

Đến Bến Tre quí du khách sẽ tìm thấy một hệ thống di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng khá đa dạng và phong phú; nhắc đến Bến Tre, cả nước ai ai cũng đều biết đến quê hương Đồng Khởi đã một thời kháng chiến anh dũng, đặc biệt là đội quân tóc dài cảm tình vào lòng dân tộc, bên cạnh đó Bến Tre cũng là vùng đất sản sinh và định cư nhiều danh nhân sống mãi trong lịch sử như: Cụ Nguyễn Đình Chiểu, Cụ Phan Văn Trị, Cụ Phan Thanh Giản, Cụ Võ Trường Toản, Cụ Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng, Lê Quang Quan (Cụ Tán Kế), Cụ Trương Vĩnh Ký, Trung tướng Đồng Văn Cống, Nữ Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Huỳnh Tấn Phát…, hiện đã được xây dựng, trùng tu thành khu tưởng niệm, nơi tham quan cho khách du lịch.

Những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng hiện nay như: cồn Quy, cồn Phụng thuộc quần thể các cồn "Long Lân Quy Phụng"; cồn Ốc, cồn Phú Bình, cồn Phú Đa, cồn Hố, sân chim Vàm Hồ, vùng du lịch 8 xã ven sông Tiền (có đến gần 40 điểm đón khách du lịch với các dịch vụ phục vụ quí khách như: ăn trái cây, uống trà mật ong, nghe đàn ca tài tử Nam bộ, đi xe đạp trên đường làng, đi xe ngựa, đi xuồng chèo, thuyền máy…), những làng hoa kiểng nổi tiếng, vùng trái cây quanh năm của huyện Chợ Lách luôn luôn đón chào quí khách…, một số dự án đang đầu tư xây dựng và đã đi vào hoạt động như: khu du lịch sinh thái Lan Vương (xã Phú Nhuận, Tp. Bến Tre), khu du lịch biển Thừa Đức - xã Thừa Đức - Bình Đại, Điểm du lịch Phú Bình - Chợ Lách, ... đặc biệt là khu nghỉ dưỡng Forever Green Resort - xã Phú Túc - Châu Thành góp phần phát triển du lịch tại quê hương đất Bến, đây là một công trình có tầm cở khu vực.

161007_1.jpg

Hệ thống nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ được các nhà đầu tư xây dựng rãi đều tại các huyện, riêng thành phố Bến Tre có các khách sạn đạt chuẩn 03 sao như: NH-KS Hàm Luông, NH-KS Việt Út và nhiều nhà hàng - khách sạn đạt chuẩn 01 sao luôn luôn đón chào và phục vụ tận tình cho quí khách.

Thật vậy! Khu Forever Green Resort - Bến Tre là một trong những công trình lớn do Công ty TNHH TM Lô Hội thuộc tập đoàn Liên Hoa làm chủ đầu tư; có tổng diện tích của dự án là 21 ha, tổng vốn đầu tư cho dự án là 50 triệu USD. Forever Green Resort phát huy thế mạnh của du lịch sinh thái miệt vườn sông nước Bến Tre, với một sắc thái độc đáo riêng biệt do các nhà kiến trúc ngoại quốc thực hiện.

 

Hiện Bến Tre tiếp tục phát triển đầu tư và kêu gọi đầu tư nhằm đẩy mạnh các tour, tuyến, điểm du lịch trên địa bàn theo kế hoạch từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 để các điểm được đưa vào khai thác như:- Dự án Mekong Pearl - Cồn Phụng - xã Tân Thạch - Châu Thành;

- Làng du kích gắn với di tích Đồng Khởi - Mỏ Cày Nam;

- Khu du lịch sinh thái Vàm Hồ - Ba Tri;

- Khu du lịch biển Thới Thuận - Bình Đại;

- Khu bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển tỉnh Bến Tre;

- Phát triển điểm du lịch cộng đồng; trong đó có 7 điểm homestay.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Điểm du lịch Vườn Hàm LuôngĐiểm du lịch Vườn Hàm Luông

Các bạn muốn đi du ngoạn theo phong cách Hawaii tại miền Tây, tôi xin giới thiệu cùng các bạn điểm du lịch Vườn Hàm Luông nằm bên sông Hàm Luông thuộc ấp Hàm Luông, xã Tân Phú, huyện Châu Thành; đây là nơi nghỉ dưỡng nằm ven sông Hàm Luông thơ mộng, đón lấy những ngọn gió trong lành của dòng sông chín rồng (Cửu Long) như hơi thở của rồng từ miền quê sông nước phù sa từ Biển Hồ đưa về Bến Tre.

 

Cảnh khu vườn cạnh khu khách sạn

Để đến được nơi đây, chúng ta có thể đi đường bộ hoặc đi thuyền trên sông. Nếu đi đường bộ thì các bạn được trãi nhgiệm qua những con đường làng đầy ấp cây trái của vùng quê sông nước; nếu đi đường thủy thì thuyền là phương tiện vận chuyển tuyệt vời, đi thuyền sẽ giúp chúng ta được cưỡi những con sóng nhấp nhô xa xa, ẩn hiện cảnh vườn cây ăn trái hay rừng dừa trong nắng chiều vàng óng ả.

Đến nơi, ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng ta là chiếc cổng với hai ngôi nhà mát lợp bằng lá thủ công có đỉnh nhà dài và nhọn; hai ngôi nhà được nối với nhau qua chiếc cầu cong vút bắc qua một dãy nước ngọt phù sa óng ả trong hồ bơi chạy dọc theo bờ sông Hàm Luông.

Nhìn về phía bên phải bên cạnh hồ bơi là một dãy nhà mát phía trên cao, các bạn ngồi nghỉ ngắm cảnh quang xung quanh, gió thổi vi vu trong lúc hướng về cảnh sông hữu tình và thơ mộng; chắc chắn ai cũng phải nghĩ rằng mình phải làm vài ly nhăm nhi ở đây cho ấm lòng trong chuyến du ngoạn.

Phía dưới dãy nhà là khu bar và nhà hàng của Du lịch Hàm Luông, được bao bọc bởi vườn cây trái xung quanh với nhiều loại cây trĩu quả như bưởi da xanh, sầu riêng, chôm chôm, măng cục…. Tại đây, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn đặc trưng của vùng miền Tây sông nước như: Bánh xèo hến, gỏi ốc đắng, cháo gà ta thả vườn,...; tuy không gian không được rộng, chỉ với 2 hecta nhưng chắc chắn rằng các bạn sẽ rất là ấm cúng trong những chiều gió mát tại nơi đây. Với cảnh quang thiên nhiên và sự trang trí đặc sắc nơi đây chắc chắn chúng ta thưởng thức một bữa tiệc thật là ấn tượng và ấm cúng.

 

Ảnh hồ bơi (cảnh sáng

Chúng ta sẽ đi dạo xuyên qua khu vườn trên những con đường nho nhỏ hai bên những thảm cỏ xanh rì càng tôn thêm vẻ đẹp bí ẩn của khu vườn Hàm Luông, nơi nghỉ dưỡng phong cách Hawaii tại miền Tây. Cũng từ nơi đây, các bạn nếu ở dài ngày, quí vị sẽ đi dạo đường làng, tham quan những vườn cây ăn trái mà lúc nào cũng có, vì người dân nơi đây đa số sống về nghề vườn, ngoài việc mùa nào trái cây nấy, họ còn áp dụng khoa học kỹ thuật để có trái cây mùa nghịch nên vẫn có quanh năm.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hát sắc bùaHát sắc bùa
&nbsp;

Hát sắc bùa Phú Lễ (xã Phú Lễ, huyện Ba Tri) là một sinh hoạt văn nghệ dân gian có tính chất lễ nghi nông nghiệp pha trộn với ma thuật Đạo giáo, chủ yếu diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán. Đôi khi hát sắc bùa Phú Lễ cũng được tổ chức vào dịp cúng đình hàng năm ở ngay tại đình làng.

Tục hát sắc bùa có địa chỉ hẳn hoi là xã Phú Lễ, nhưng kết quả điều tra thực tế cho thấy địa bàn hoạt động của nó rộng lớn, gồm các xã lân cận như các xã Phú Ngãi, Phước Tuy, An Đức, An Bình Đông, Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri) và Tân Thanh (huyện Giồng Trôm).

Tục hát sắc bùa chúc Tết là một tục lệ có từ lâu đời, phổ biến ở nhiều nơi, từ Bắc chí Nam: Hòa Bình, Nghệ Tĩnh, Bình trị Thiên và một số tỉnh miền Nam Trung Bộ từ Phú Yên trở ra. Như vậy hát sắc bùa không phải là nơi sản sinh ra tục hát sắc bùa. Trong khi đi tìm nguồn gốc của nó, một số nhà nghiên cứu, sau khi so sánh những yếu tố tương đồng giữa hát sắc bùa Phú Lễ với hát sắc bùa của một số địa phương (kể cả tục hát sắc bùa của người Mường) đồng thời có liên hệ đối chiếu với hàng loạt gia phả của một số gia đình, dòng họ ở đây, đã đi đến bước đầu kết luận rằng hát sắc bùa Phú Lễ có rất nhiều yếu tố đồng nhất với hát sắc bùa Nam Trung Bộ về các phương diện: mục đích cuộc hát, biên chế nhạc cụ, hệ thống tiết mục, làn điệu, bố cục, hình thức văn học, đặc điểm âm nhạc...

 Đội hát sắc bùa thường được tổ chức từ 4 đến 6 có khi lên đến 8 người, có một ông bầu điều khiển. Đội hát được coi là đầy đủ phải có 6 nghệ nhân biết chơi 6 nhạc cụ. Một cuộc hát thường có 2 phần: phần đầu có tính chất nghi lễ - phong tục, tiếp đến là phần diễn xướng giúp vui có tính chất thiên về sinh hoạt văn nghệ. Hát sắc bùa là hình thức diễn xướng tập thể, có xướng có xô, có nhạc cụ phụ họa và nhịp phách rõ ràng. Lời hát là những câu thơ dân gian thuộc thể sáu tám hoặc thơ 4 chữ.

Về nội dung, gạt ra một bên những câu hát nặng tính chất xưng tụng, nghi lễ xen lẫn với những phù chú "tống quĩ trừ ma" (chủ yếu ở phần đầu), lời hát sắc bùa phản ánh những ước mơ của người lao động trong dịp đầu năm mới: người làm ruộng mong "mùa màng bội thu", "cây trái tốt tươi", người dệt vải "làm không kịp bán", thợ nề, thợ mộc được “người ta năng rước”, xã hội “trăm nghệ tân phát”, “người yên, vật thịnh"...

Theo xu hướng và nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của xã hội, nội dung của hát sắc bùa Phú Lễ đã có nhiều thay đổi, ngày càng gắn với hiện thực của đời sống hơn, trong khi phần tập tục, nghi lễ mang tính chất ma thuật phai nhạt dần.

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
1 - 30Tiếp
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer