Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Quần thể thực vật vùng bưng trũngQuần thể thực vật vùng bưng trũng
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:
Image
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:

- Rừng lá là nơi trũng thấp nước mặn lợ, dừa nước chiếm ưu thế xen lẫn vài bụi bần chua. Một phần diện tích này đã được đắp đê rửa mặn, biến thành những ruộng lúa. Một phần diện tích khác ít bị nhiễm mặn hơn, được người dân đào mương, lên liếp để lập các vườn dừa. Đây là đất thích hợp nhất với cây dừa chiếm một phạm vi tương đối rộng trong tỉnh. Dừa trồng trên đất này có hàm lượng dầu cao.

- Rừng tràm ở vùng trũng, đất phèn mặn đã được rửa lâu ngày qua nước mưa và nước sông. Diện tích đã bị khai phá để canh tác lúa, hoặc bị thay thế bởi cỏ năn như trường hợp gặp ở khu vực Đồng Gò của huyện Giồng Trôm.

- Rừng úng nước ngọt không bị ảnh hưởng mặn hoặc phèn, với cấu trúc gồm nhiều loài thảo mộc như cà na, chiếc, gừa, săn máu, bần chua, bình bát, gáo, dứa gai v.v... xen lẫn ở tầng dưới có các loài chuối nước, dây choại, dây cương, bòng bong, mây nước, mua, tràm bột, dành dành, lau sậy, lác hến, lúa ma, tâm bức, rau dừa, rau mác, sen, súng v.v...

Kiểu rừng nguyên thủy này khi xưa chiếm một diện tích khá rộng, nhưng nó đã bị những lưu dân khai phá, biến thành ruộng lúa, vườn cây ăn trái, hoặc đất trồng rau màu. Thảm thực vật nguyên thủy với sự hiện diện các khu rừng trên địa bàn tỉnh xưa kia là điều kiện đảm bảo tính phong phú, đa dạng của các loài thực vật và động vật hoang dại có thể tồn tại, giữ được cân bằng sinh thái trong tự nhiên.

Lúc đầu, khi số dân còn ít, con người có thể tận dụng các sản phẩm của thảm thực vật tự nhiên và nguồn động vật sẵn có như khai thác củi, gỗ, hái lượm một số loại trái, loại nấm, rau, củ có thể ăn được, săn bắt thú hoang dại để bổ sung cho nguồn lương thực, thực phẩm làm ra đủ để nuôi mình một cách không mấy khó khăn. Đến khi số dân gia tăng ngày một đông, đất rừng bị thu hẹp dần để làm thành đất thổ cư và đất canh tác, nguồn tài nguyên thiên nhiên dần dần cạn kiệt, thì các hoạt động khai thác theo kiểu tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu của con người, mà còn tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

Quá trình tác động của con người vào môi trường thiên nhiên thường dẫn đến hai hậu quả:

- Một mặt, con người qua kinh nghiệm lâu đời của cuộc sống đã biết cải tạo thiên nhiên, biến hệ sinh thái tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp với năng suất cao, sản lượng nhiều để thỏa mãn nhu cầu sinh sống và phát triển xã hội. Việc khai hoang, đắp đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước, lên liếp trồng cây, đã biến một diện tích rộng lớn đất rừng thành những cánh đồng lúa, mía, màu, những vườn dừa, vườn cây ăn trái, những vuông tôm, ao cá v.v... Việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giúp con người mở rộng diện tích lúa từ một vụ thành hai vụ, tận dụng các tiềm năng về đất, nước, khí hậu, sinh vật để đem lại cho xã hội những sản phẩm ngày càng dồi dào và phong phú hơn.

- Mặt khác, bên cạnh các thành công trong việc cải tạo thiên nhiên, phát triển sản xuất, cũng có không ít những hoạt động của con người đã gây nhiều tác hại cho tự nhiên, làm hủy diệt thảm thực vật theo hướng bất lợi nhất. Vì thế, tài nguyên trong tỉnh trở nên cạn kiệt nhanh chóng, diện tích rừng bị ngập mặn bị thu hẹp dần, các thú hoang dại gần như bị diệt chủng, các nguồn lợi về tôm, cua, cá giảm sút đến mức báo động, nguồn “gien” thực vật và động vật hoang dại không còn phong phú như trước, làm ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế lâu dài của tỉnh. Quỹ đất của tỉnh quá thấp so với dân số, nhưng một số diện tích lại đang được sử dụng không hợp lý, như thiết lập vườn dừa trên đất phèn mặn, hoặc còn bỏ hoang hoá như vùng đất ven biển. Một số vùng đất phèn tiềm tàng do việc xẻ mương tiêu nước, hoặc lên liếp trồng cây thiếu điều tra, cân nhắc nên đã biến thành đất phèn hoạt động, cuối cùng đất bị thoái hoá nghiêm trọng, có nơi trở thành đất hoang.

Việc hủy diệt rừng ngập mặn ven biển đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi tôm, cua, cá có thể khai thác trong phạm vi rừng và ngoài khơi, chưa kể hậu quả tiêu cực có tính chất dây chuyền, làm mất nơi sinh sống của các loài thú, chim sống trong rừng ngập mặn. Phong trào phá rừng, thiết lập vuông tôm chạy theo mối lợi trước mắt tức thời đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật của khu vực và tạo tình trạng xói mòn, lở bờ và rửa trôi đất ven sông, ven biển.

Tỉ lệ diện tích rừng trên diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bến Tre thuộc loại quá thấp, nên cần phải có kế hoạch quy hoạch rừng một cách hợp lý, bảo vệ và phục hồi những khu rừng thoái hoá hiện có, phủ rừng trên diện tích đất còn bỏ hoang hoá, đẩy mạnh công tác vận động trồng cây trong nhân dân nhằm tăng diện tích cây xanh, đồng thời giảm bớt sức ép về nhu cầu gỗ xây dựng và chất đốt cho nhân dân.

Thảm thực vật, ngoài việc che phủ và bảo vệ đất, chống lở bờ, rửa trôi, điều hoà khí hậu, tạo nơi trú ngụ và sinh sống của nhiều loài động vật hoang dại v.v... còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế.

Các loài gỗ như sao, dầu, xà cừ, nhạc ngựa, tràm, gáo, đước, vẹt, tre, bạch đàn, dừa nước v.v... là nguyên vật liệu cho xây dựng nhà cửa và vật dụng sinh hoạt như bàn ghế, tủ, giường, ghe, xuồng v.v... Lá dừa nước, tre, trúc, sậy, xơ dừa, gáo dừa, thân dừa, lác, dây lùng v.v... là nguồn nguyên liệu cho nhiều nghề thủ công trong tỉnh. Lá so đũa, lá mắm được dùng làm thức ăn gia súc. Cây lứt, sen, nhàu, bạc hà, cỏ tranh, cỏ xước, mù u, hà thủ ô là loại dược liệu thông dụng trong Đông y. Ngó sen, bông súng, bông lục bình, bông điên điển, đọt choại, đọt vừng, rau đắng, rau nhút... đã từ lâu được nhân dân dùng làm thực phẩm góp phần làm cho bữa ăn hàng ngày của con người trở nên phong phú và đa dạng.

Chất ta-nanh trích ly từ các vỏ cây dà, đước,vẹt của rừng ngập mặn là nguyên liệu cần cho công nghiệp. Nước ngọt lấy từ buồng dừa nước có thể chế thành nước giải khát lên men, hoặc cất thành cồn. Gỗ bạch đàn, bần, lau, sậy, tre, rơm, rạ là nguyên liệu làm bột giấy.

Rừng và thảm thực vật nói chung, còn góp phần rất quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, chắn gió cát, chống xói lở v.v...

Tóm lại, công dụng và lợi ích của rừng và thảm thực vật nói chung đối với cuộc sống con người rất lớn và đa dạng. Do đó, cần phải có kế hoạch tích cực bảo vệ các nguồn “gien” quý còn tồn tại trong tỉnh bằng cách lập khu bảo vệ, phục hồi lại vốn rừng với hệ chim thú, nguồn thủy hải sản song song với việc đầu tư thích đáng cho công tác điều tra cơ bản có mục tiêu nhằm đặt cơ sở cho việc quy hoạch sinh thái lãnh thổ, bảo vệ môi trường vì lợi ích lâu dài cho những thế hệ mai sau.

Thấy được tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, gia tăng nguồn lợi thủy sản, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ven biển, trong thời gian qua tỉnh đã tranh thủ tích cực sự hỗ trợ của Trung ương và bằng nội lực của tỉnh, đã từng bước khôi phục lại vốn rừng bị tàn phá trước đây.

Trong vòng 17 năm (1976 – 1993), đã tiến hành trồng mới 3.894 ha, nhưng tỉ lệ thành rừng còn thấp, chỉ đạt 1.862 ha (47,8%), đưa diện tích đất có rừng trong toàn tỉnh đến năm 1994 là 6.126 ha, chiếm 43,6% diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp.

Từ năm 1994, được sự hỗ trợ Chương trình 327/TƯ, tỉnh Bến Tre đã tiến hành quy hoạch lâm nghiệp, gia tăng tốc độ trồng rừng. Trong 5 năm, tốc độ trồng rừng tăng khá nhanh, đạt 2.228 ha (trong đó, rừng phòng hộ 1.453 ha, rừng sản xuất 775 ha). Đây là một cố gắng lớn của tỉnh. Tuy nhiên, so với nhiệm vụ còn lại theo mục tiêu đến năm 2000 phải xây dựng được 528 ha rừng phòng hộ, 2.350 ha rừng sản xuất, thì nhiệm vụ còn lại hết sức nặng nề và khó có khả năng thực hiện được vì lẽ:

- Một phần diện tích quy hoạch lâm nghiệp đã có ngư trường của dân đang khai thác.

- Đất giồng cát và cồn cát khó thực hiện việc trồng rừng và tạo điều kiện cho cây phát triển nhanh chóng.

Do đó, để phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tỉnh đã quyết định điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp với định hình khu vực rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre là 10.416 ha với vai trò chủ yếu là rừng phòng hộ (3.275 ha), rừng đặc dụng (3.998 ha), rừng sản xuất kết hợp với lâm – ngư nghiệp (2.273 ha), xây dựng vườn hộ (820 ha), đất sử dụng vào mục đích khác (50 ha). Việc điều chỉnh quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế rừng ngập mặn của tỉnh. Giá trị thực tế của rừng ngập mặn về lâm sản không lớn, nhưng giá trị về sinh thái và bảo vệ bờ biển, làm trong sạch môi trường không khí nước, gia tăng nguồn lợi thủy sản là rất lớn.

Việc quy hoạch định hình khu vực lâm nghiệp, xác định ranh giới cụ thể với khu vực quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản là một giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp, góp phần tích cực vào việc hạn chế phá rừng làm ao nuôi tôm phổ biến ở vùng ven biển Bến Tre trong các năm qua.

Bên cạnh việc phục hồi vốn rừng, tỉnh đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ "đa dạng sinh học”, nguồn “gien” động vật, thực vật của hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi cửa sông, ven biển các nhánh sông Cửu Long thông qua xây dựng và triển khai 2 dự án sau đây:

* Dự án xây dựng khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ (huyện Ba Tri) với diện tích 67,657 ha ở khu vực cửa sông Ba Lai với thảm thực vật tự nhiên là chà là, đước, dừa nước, lau, sậy... phân bố trên một hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đó là điều kiện sinh cảnh thích hợp cho các chủng loại cò, vạc... tụ về làm tổ và sinh sản. Tại sân chim Vàm Hồ hiện có đến hàng trăm ngàn cá thể tập trung các loại cò trắng, cò ngàng nhỏ, cò ma, cò ruồi, vạc, quắm trắng, diệc xám...

Theo kết quả điều tra, hiện có 7 loại chim có số lượng đông nhất. Trong các lùm cây bụi hay gần mé nước còn có các loại chim quốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp lớn, bìm bịp nhỏ, thằng chài, chẽo chụt, bông lau, chích chòe, chèo bẻo đuôi cờ...

Dự án sẽ phát triển thêm diện tích rừng của khu vực để tạo điều kiện duy trì và phát triển quần thể loài chim kết hợp với việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển loại hình du lịch sinh thái ở phía ven biển Bến Tre.

* Dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước ở huyện Thạnh Phú với diện tích 8.825 ha nằm trên 3 xã An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải. Khu vực rừng ngập mặn này là vùng đất ngập nước độc đáo ở cửa sông Cửu Long – nơi đã được ghi nhận là vị trí quan trọng trong thư mục các vùng đất ngập nước của các nước Đông Nam Á. Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước ở Thạnh Phú khá tiêu biểu cho vùng sinh thái ở cửa sông Cửu Long với những nét khác biệt so với các vùng đất ngập nước ven biển khác ở đồng bằng sông Cửu Long.

Đó là các đặc trưng về địa mạo, đất đai của vùng này đã bị chi phối mạnh mẽ bởi sông Cửu Long và biển Đông, nên có những giồng cát chạy song song với bờ biển. Xen giữa các giồng cát là những trảng trũng, rừng ngập mặn.

Đó là tính chất của môi trường nước (đặc biệt là độ mặn của nước) thay đổi theo mùa, nên thành phần các loài thực vật và thủy sinh vật ở đây khá phong phú, gồm nhiều chủng loại đặc trưng của môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn.

Đó còn là nơi phát triển các loài cây tiền phong, loài cây ưu thế của hệ thực vật sống trong môi trường nước lợ, có độ mặn thấp. Trong khi đó, các loài cây tiền phong và cây ưu thế của hệ thực vật ở tại vùng bờ biển khác lại là những loài cây sống trong môi trường độ mặn cao.

Rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái ở vùng cửa sông (nơi giao lưu giữa đất liền và biển cả). Rừng ngập mặn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, cung cấp nguồn giống động vật và thực vật, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ quá trình phát triển bền vững của vùng ven biển, làm sạch môi trường nước, không khí, hạn chế sự lan truyền nước mặn vào sâu trong nội đồng. Sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn nơi cửa sông Cửu Long có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của tỉnh Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Trong hai cuộc KCCP và KCCM, rừng ngập mặn Thạnh Phú và Bình Đại là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền. Ngày 23-12-1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã có Quyết định số 3777-QĐ/BT công nhận khu rừng xã Thạnh Phong là "Di tích lịch sử đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam" thời KCCM.

Với lý do trên, việc xây dựng và thực hiện dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước Thạnh Phú có một ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo vệ một mẫu sinh cảnh độc đáo vả bảo vệ môi trường đa dạng sinh học vùng cửa sông, đồng thời cũng để bảo vệ một khu di tích lịch sử mang đậm tinh thần yêu nước bất khuất của nhân dân một vùng đất kiên cường trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Việc duy trì và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước này còn phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái.

Đã ban hành
Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)
 

Image
Nguyễn Văn Khước (1905-1975)
Sinh trong một gia đình nông dân ở xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Khước (tên thường gọi là Năm Chung) sớm giác ngộ cách mạng, đã cùng người anh ruột là Nguyễn Văn Khái tham gia tổ chức Nông hội đỏ vào những năm cuối thập kỷ 20. Giữa năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD cùng với một số đồng chí khác như Nguyễn Văn Khái, Nguyễn Văn Soái, hoạt động ở vùng cù lao Minh. Năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, bị bắt và đưa đi đày ở Bà Rá, thuộc tỉnh Bình Phước. Năm 1942, cùng với một số đồng chí khác, tổ chức vượt ngục, về miền Tây Nam Kỳ, xây dựng cơ sở tại nơi đây.

   Đầu năm 1945, đồng chí về Mỏ Cày, móc nối cơ sở Đảng ở địa phương, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền. Sau ngày cách mạng thành công, ông được cử làm Trưởng quốc gia tự vệ cuộc huyện Mỏ Cày, tức công an huyện. Năm 1948-1949, được cử làm Trưởng an huyện Chợ Lách, sau đó làm Trưởng công an huyện Thạnh Phú. Năm 1950, được bầu vào Tỉnh ủy, đến năm 1953, giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

  Năm 1954, sau hiệp định Genève, đồng chí được phân công ở lại miền Nam và được XUNB quyết định là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đồng chí đã cùng với các thành viên trong Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân, xây dựng và duy trì phong trào vượt qua những bước khó khăn, đen tối nhất trước sự đánh phá vô cùng tàn bạo và khốc liệt của kẻ địch.

   Năm 1958, được điều về công tác ở Khu ủy khu Trung Nam Bộ (tức khu 8). Đến sau cuộc Đồng Khởi (1960), được Khu ủy cử về vùng rừng ngập mặn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tổ chức việc tiếp nhận và phân phối hàng hóa, vũ khí chi viện từ miền Bắc vào Nam qua đường Hồ Chí Minh trên biển, tại vị trí đầu cầu xã Thạnh Phong.

  Năm 1963, được bầu vào Khu ủy khu 8, phụ trách tổ chức, an ninh và binh vận. Trong thời kỳ địch bình định ác liệt (1969-1971), đồng chí đã đến công tác ở nhiều nơi, trong đó có Bến Tre, cùng với các cấp ủy địa phương chỉ đạo phong trào, đối phó lại âm mưu địch.

  Năm 1970, đồng chí được cử giữ chức Trưởng ban kiểm tra của Khu ủy khu 8.

  Đầu năm 1974, do tuổi cao, sức khỏe yếu, đồng chí được đưa ra miền Bắc, sau đó được nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở Cộng hòa dân chủ Đức. Đến đầu năm 1975, đồng chí trở lại chiến trường, công tác ở Ban tổ chức Khu ủy Trung Nam Bộ.

   Do bị tai biến mạch máu não, đồng chí đã đột ngột qua đời tại cứ ở “R”, thuộc xã Hòa Hưng, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào ngày 5-4-1975, giữa lúc quân và dân ta đang sôi nổi chuẩn bị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh 885 đến ngã tư Giồng Tre (huyện Ba Tri, 31km), rẽ trái theo đường liên xã An Ngãi Trung - An Phú Trung đến ngã ba (2km), rẽ phải khoảng 4,5 km là đến, di tích nằm bên phải.

Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, Lê Quang Quan (Tán Kế) cùng với một số binh sĩ khác bất mãn, bỏ ngũ trốn về quê. Trở về Mỹ Chánh, ông vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà.

Tháng 6/1867, giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế, địa hình hiểm trở (lúc bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp).

Cuộc khởi nghĩa của ông đã gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 21/02/1869). Trong dân gian ở vùng này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.

Cảm phục về cái chết của người anh hùng vùng đất Ba Châu, nhân dân đã lập miếu thờ ông ở những nơi mà ông và nghĩa quân thường qua lại hoạt động. Hiện nay, một miếu thờ Tán Kế được xây dựng ngay tại quê ông (xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri; mộ cũng được chôn cất ở đây) để tưởng nhớ đến người anh hùng và một miếu thờ khác cũng được xây dựng tại nơi ông hy sinh, ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa An LinhChùa An Linh
Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Từ thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, rồi theo đường tỉnh 888 đến thị trấn Thạnh Phú (44km), đi tiếp theo hướng đến UBND xã An Nhơn (12km), rẽ phải vào huyện lộ 51 khoảng 500m là đến di tích.

chua-an-linh.jpg 

Chùa An Linh

Chùa An Linh tọa lạc trên khu đất giồng ấp An Hòa, xã An Nhơn có diện tích 3.850,7m2; diện tích xây dựng chùa là 424,44m2. Kiến trúc của chùa dạng tứ trụ, nóc hình chóp. Nội thất bên trong chủ yếu là những bệ thờ bằng xi măng lát gạch ceramic và ban thờ bằng gỗ. Phía trên bệ thờ được đặt trang nghiêm tượng phật Di Lạc. Trong những năm kháng chiến, phía dưới bệ thờ của tượng phật Di Lạc này được xây dựng hầm bí mật có diện tích khoảng 1,5m2 để che chở những cán bộ cách mạng của địa phương. Hiện nay, khu chính điện là nơi thờ Phật Di Lặc, Quan Thế Âm, Tiêu Diện, Thích Ca, Hộ Pháp, Tam Tạng,…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
 

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Bãi NgaoBãi Ngao
 

Bãi biển thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, có nhiều nghêu nên được gọi là Bãi Ngao. Sách Gia Định thành thông chí gọi là Ngao Châu. Đây là quê hương của Phan Thanh Giản.

Trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Dàu dàu mây bạc cõi Ngao Châu”. Ngao Châu tục danh là Bãi Ngao.

Đã ban hành
Mỹ LồngMỹ Lồng
 

Còn gọi Mỹ Luông

Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.

 Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.

  Bến Tre nhiều gái chưa chồng
  Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem.
 
                                                    (Ca dao)
Đã ban hành
Mỏ CàyMỏ Cày
 

 Sông Mỏ Cày

Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.

Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.

Cầu Mỏ Cày

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.

 Huyện Mỏ Cày

Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.

Huyện Mỏ Cày có diện tích tự nhiên 35.196ha, bắc giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung con sông Cổ Chiên, tây giáp huyện Chợ Lách, đông và nam giáp huyện Thạnh Phú.

Sau này 30-4-1975, theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị Mỏ Cày có 28 xã và 1 thị trấn.

Mỏ Cày

Sở tham biện, lập ngày 4-12-1867, gồm vùng đất cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Thị trấn Mỏ Cày

Thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Một nhánh của sông Hàm Luông chảy đến làng Đa Phước Hội thì chia làm 3 ngã: một nhánh nối với kinh Thom, một nhánh là rạch Cầu Ông Bồng, một nhánh là rạch Mỏ Cày. Nơi giáp 3 ngã sông rạch này tạo nên một doi đất hình mỏ cày (mỏm cày). Năm 1867, Mỏ Cày là lỵ sở của sở tham biện Mỏ Cày (gồm toàn bộ cù lao Minh), sau tháng 8-1945 đến 1975 là quận lỵ Mỏ Cày, sau ngày giải phóng (30-4-1975) là thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của cù lao Minh và cũng là huyện lỵ đông dân nhất tỉnh.

Đã ban hành
Cù lao MinhCù lao Minh
 

Một trong 3 cù lao lớn hợp thành tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Bảo và cù lao Minh. Đến 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách ra khỏi tỉnh Mỹ Tho nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Minh gồm: huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày và huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Rạch MiễuRạch Miễu
 

Bến phà, cửa ngõ vào tỉnh Bến Tre, nằm bên hữu ngạn sông Tiền. Nguyên xưa, nơi đầu con rạch đổ ra sông Tiền có một ngôi miễu Bà, nên dân địa phương gọi là Rạch Miễu.

Ngày nay, Rạch Miễu là một thị tứ có chợ, cửa hàng bách hóa, cửa hàng ăn uống, dịch vụ… thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, do đó nhiều người cũng gọi là phà Tân Thạch. Bến phà được xây vào đầu thế kỷ XX.

Đã ban hành
Cồn LợiCồn Lợi
 

Cồn thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, nằm ở phía nam cửa Hàm Luông, 30 năm về trước còn cách bờ khoảng 3km, nay được bãi bồi nối liền với đất liền trở thành bán đảo. Cuối tháng 3-1946, một đoàn cán bộ của tỉnh Bến Tre xuất phát từ Cồn Lợi đã vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho chiến trường khu 8, Nam Bộ.

Chuyến vượt biển lần thứ hai với yêu cầu tương tự như lần trước cũng xuất phát từ Cồn Lợi vào đầu tháng 7-1961 và cũng đã thành công.

Cồn Lợi cũng là một “mỏ nghêu” nổi tiếng của Bến Tre.

            “Sầu riêng, măng cục Cái Mơn,

            Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày”.

                                                                   (Ca dao)

Đã ban hành
Liệt địaLiệt địa
 

Thường gọi đầm Lạc Địa

Vùng lòng chảo rộng trên 100ha nằm giữa các xã Phú Lễ, Phú Ngãi, An Nhơn và An Bình Tây của huyện Ba Tri. Đến đầu thế kỷ XX, nơi đây còn hoang vu, chỉ có loài thảo mộc hoang dại mọc um tùm, cá nhiều vô kể, cả rắn, trăn nước và cá sấu. Mùa cạn, dân quanh vùng vào đây tát đìa bắt cá.

Đã ban hành
Ngã ba LạcNgã ba Lạc
 

Ngã ba sông thuộc xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm. Theo truyền thuyết, vào cuối thế kỷ XVIII, trong một cuộc chạy trốn quân Tây Sơn bằng thuyền, Nguyễn Ánh đến chổ ngã ba sông này thì bị lạc toán quân đi đầu. Về sau, phải vất vả lắm, họ mới tìm được nhau. Từ đó nơi ngã ba sông này được đặt tên là ngã ba Lạc

Đã ban hành
Cù lao LáCù lao Lá
 

Cù lao nhỏ trên sông Ba Lai, nằm ở phía cuối cù lao Bảo trước đây, thuộc xã Phú Long, huyện Bình Đại, nay thuộc xã Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri, có diện tích khoảng 150ha.

Lá ở đây là lá dừa nước dùng để lợp nhà, làm vách che. Dừa nước ở cù lao mọc thành rừng.

Nơi đây từng là căn cứ của nghĩa quân chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Trong KCCP và KCCM, cù lao Lá là căn cứ của Huyện ủy Ba Tri, của Tỉnh ủy Bến Tre và của LLVT địa Phương.

Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Võ Văn LẹAnh hùng liệt sĩ Võ Văn Lẹ
Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Võ Văn Lẹ sớm giác ngộ cách mạng, năm 13 tuổi đã làm giao liên cho cán bộ kháng chiến ở địa phương. Năm 17 tuổi, đã chính thức tình nguyện vào lực lượng vũ trang, Ban an ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình công tác và chiến đấu cho đến lúc hy sinh (9-1972), Võ Văn Lẹ đã trực tiếp tham gia chiến đấu 27 trận đánh, diệt và làm bị thương 93 tên trong đó có 18 tên ác ôn khét tiếng có nhiều nợ máu với dân.

Tiêu biểu như trong các tháng 7, 8, 11-1969, Võ Văn Lẹ đã cùng đồng đội bí mật đột kích, đón đường phục kích hoặc đóng giả làm lính sư đoàn 7 nguỵ tổ chức 3 trận đánh, diệt 3 tên ác ôn, bắn bị thương 6 tên, thu 1 súng M16, 1 súng AR15, và bắt sống tên Ut, ác ôn khét tiếng (đã có quyết định tử hình) đưa về căn cứ khai thác, góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng ở địa phương. Tháng 5 và tháng 9-1970, cũng với biện pháp cải trang mật phục và đóng giả làm học sinh đi học, Võ Văn Lẹ đã mưu trí cùng đồng đội bắt sống tên Thọ là cảnh sát đặc biệt ác ôn và tung lựu đạn diệt 4 tên, làm bị thương 2 tên, khiến cho địch khiếp sợ không dám đàn áp phong trào cách mạng ở địa phương như trước.

Tháng 1-1972, Võ Văn Lẹ chỉ huy tổ trinh sát vũ trang phục kích ven đường quốc lộ 17 diệt gọn 1 xe GMC chở 27 tên lính ngụy, bẻ gãy trận càn của chúng. Tháng 9-1972, trong trận chiến đấu không cân sức giữa ta và địch, để bảo vệ cho đồng đội rút lui an toàn, Võ Văn Lẹ đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng nhiều Huân chương và bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, Võ Văn Lẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1962 - 1964 )Thế kỷ 20 ( 1962 - 1964 )

1962

1 tháng 2, Hồi 18g30, Ðài phát thanh Giải phóng, tiếng nói của MTDTGPMNVN bắt đầu phát sóng.

8 tháng 2, Mỹ quyết định lập Bộ Tư lệnh hành quân chung giữa Mỹ và Việt Nam, gọi tắt là MACV (Military Assitance Command Vietnam) gồm trên 4.000 cố vấn, do tướng Paul D. Harkins cầm đầu.

16 tháng 2, Khai mạc Ðại hội MTDTGPMNVN lần thứ nhất, có hơn 100 đại biểu, gồm đủ các tầng lớp xã hội, tôn giáo, dân tộc thuộc nhiều xu hướng chính trị khác nhau tham dự. Ðại hội họp từ 16-2 đến 3-3, đã thông qua bản cương lĩnh chính trị, các chính sách lớn của Mặt trận, bầu Ban Chấp hành gồm 52 ủy viên, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

27 tháng 2, Trong cuộc đảo chính lật Ngô Ðình Diệm, hai sĩ quan không quân Sài Gòn là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã ném bom làm hỏng cánh trái của phủ Tổng thống, tức dinh Norodom cũ. Ngô Ðình Diệm và gia đình thoát chết. SAu trận này, Ngô Ðình Diệm dời Phủ Tổng thống về dinh Gia Long.

Tháng 4, "Quốc sách ấp chiến lược" của Ngô Ðình Diệm ra đời trên cơ sở của chương trình "ấp chiến lược" do Robert Thompson, một chuyên gia Anh làm cố vấn.

21 tháng 5, Ngô Ðình Diệm thiết lập "Tòa án quân sự mặt trận lưu động" thay vì chỉ có một "Tòa án quân sự đặc biệt" chung cho toàn lãnh thổ trước đó.

Tháng 12, Trong năm 1962, LLVT tỉnh Bến Tre mở nhiều cuộc tiến công, diệt hàng trăm tên địch, phá rã gần 100 ấp chiến lược.

1963

21 tháng 1, Chiến thắng Ấp Bắc - một ấp nhỏ chưa đầy 600 dân, thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, cách thành phố Mỹ Tho 15km - đã nêu cao tinh thần anh dũng của đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đánh bại cuộc càng quét lớn của Mỹ với quân số lớn hơn gấp 10 lần, được máy bay, đại bác và tàu chiến yểm trợ. Chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng thắng Mỹ về quân sự trong “Chiến tranh đặc biệt”.

7 tháng 3, Thành lập quận Ðôn Nhơn, quận lỵ đặt tại Thiên Hựu (trước gọi là Ba Vát) gồm 9 xã tách ra từ quận Mỏ Cày. Quận Mỏ Cày còn lại 12 xã (Nghị định số 209/NV ngày 7-3-1963 của Tổng thống VNCH).

11 tháng 6, Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Ðình Phùng (nay là Cách Mạng Tháng Tám - Nguyễn Ðình Chiểu) để tố cáo chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm, đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, mở đầu cho một loạt vụ tín đồ Phật giáo tự thiêu sau đó theo gương ông.

27 tháng 5, Ðại sứ Mỹ tại miền Nam Việt Nam là Nolting bị cách chức. Cabot Lodge, nguyên Ðại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc được cử sang thay.

1 tháng 11, Cuộc đảo chính do đại sứ Cabot Lodge giữ vai trò chủ mưu đã đưa đến cái chết của hai anh em Diệm - Nhu. Hội đồng quân nhân do Dương Văn Minh làm Chủ tịch lên nắm chính quyền. Cuộc đảo chính đã mở màn cho cơn khủng hoảng mới của chế độ tay sai Mỹ bằng những cuộc đảo chính liên miên diễn ra sau đó.

4 tháng 11, “Hội đồng quân nhân cách mạng” chỉ định Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên Phó tổng thống của Ngô Ðình Diệm, làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời.

1964

1 tháng 1, Ðại hội lần thứ 2 MTDTGPMNVN (từ ngày 1-1 đến ngày 8-1) tại chiến khu miền Ðông Nam Bộ.

30 tháng 1, Cuộc “chỉnh lý” xảy ra rạng sáng do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, lật đổ “Hội đồng quân nhân cách mạng” được thành lập sau khi lật đổ Ngô Ðình Diệm do tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch (1-11-1963). Nguyễn Khánh tự phong cho mình chức Chủ tịch "Hội đồng quân đội cách mạng”.

1 tháng 2, Nguyễn Khánh ký Sắc luật 093-SL-CT đặt cộng sản và thuyết trung lập ra khỏi vòng pháp luật.

5 tháng 2, Cuộc hành quân mang tên "Phượng hoàng TGI" gồm 6.000 quân càn quét các xã Thạnh Phong, Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú) nhằm phá hủy căn cứ tiếp viện vũ khí theo đường biển từ miền Bắc vào đã bị quân và dân Thạnh Phú chặn đánh nhiều trận. Trong trận này 14 máy bay địch bị bắn rơi và bắn hỏng, ta thu trên 200 súng, diệt 1.240 tên địch, trong đó có đại tá Lye của không quân Hoàng gia Anh.

8 tháng 2, Thành lập Chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam do tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, tướng Dương Văn Minh được cử làm Quốc trưởng.

24 tháng 4, Tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh Bến Tre mang phiên hiệu tiểu đoàn 516 được thành lập tại xã Tân Xuân (huyện Ba Tri).

11 tháng 5, Vào lúc 16 giờ 15 ngày 11, trong lúc các em học sinh trường Linh Phụng thuộc xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm đang say sưa tập hát, thì một tốp máy bay khu trục Mỹ, do một chiếc L.19 chỉ điểm, lao đến trút những loạt bom napalm đốt cháy ngôi trường, giết chết 6 học sinh và làm bị thương nhiều người khác, trong số đó có cô giáo Thu Thủy. Cuộc ném bom có tính chất hủy diệt Trường Linh Phụng là một biểu tượng tội ác man rợ của giặc Mỹ.

16 tháng 5, “Hội đồng quân lực” của chính quyền Sài Gòn bầu tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, soạn thảo hiến pháp hiến mới.

20 tháng 6, Tướng Westmoreland được cử làm Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam thay cho tướng P. Harkins.

13 tháng 7, Ba máy bay trực thăng Mỹ bắn xối xả vào Trường tiểu học ấp Tân Ðức A, xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày trong giờ học, làm chết 17 học sinh, 28 em khác bị thương.

4 tháng 8, Tổng thống Mỹ Johnson ra lệnh ném bom “trả đũa” miền Bắc Việt Nam tại các nơi: Hòn Gai, Lạch Trường, Bến Hải, Vinh...

16 tháng 8, Nguyễn Khánh công bố "Hiến chương Vũng Tàu", do 57 tướng tá họp thông qua tại đây, coi như một biện pháp tạm thời (gồm 8 chương, 62 điều) cho đến khi tổ chức bầu cử được một quốc hội lập hiến mới.

13 tháng 9, Cuộc đảo chính do các tướng trẻ Lâm Văn Phát và Dương Văn Ðức đứng đầu cái gọi là “Hội đồng quân dân cứu quốc” nhằm lật đổ Nguyễn Khánh thất bại.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre, xây dựng LLVT tại chỗ để đối phó lại âm mưu gom dân, lập ấp chiến lược của địch, Ban chỉ huy quân sự tỉnh đã quyết định thành lập một đơn vị vũ trang gồm toàn nữ, từ người chỉ huy đến chiến sĩ. Ðơn vị này mang phiên hiệu C.710, nhưng trong thực tế là một trung đội gồm 3 tiểu đội nữ. Trong suốt 10 năm chiến đấu (1964-1975) đơn vị đã lập được hàng loạt chiến công xuất sắc, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, kiêng nể. Tính đến ngày giải thể đã có 8 chiến sĩ hy sinh, 14 người mang thương tật. Người dân Bến Tre ít nhớ cái phiên hiệu của đơn vị C.710, mà thường gọi là "Bộ đội Thu Hà" - tên của người chỉ huy đơn vị.

Đã ban hành
Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Đồng Văn Cống là người có công lớn xây dựng LLVT Bến Tre và chiến trường khu 8 thời kháng Pháp, đóng góp tích cực trong việc xây dựng “Thế trận đồng bằng Nam Bộ” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông là vị tướng chiến trường mà chiến tích không tách rời lịch sử chiến tranh nhân dân của Bến Tre và Nam Bộ “thành đồng Tổ quốc”. Nếu như đồng đội của ông – nữ tướng Nguyễn Thị Định có công khai mở con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng quân Đồng Văn Cống lại có công tổ chức, củng cố vững chắc và có hiệu quả con đường lịch sử đó mang mật danh 559B khi ông đảm nhiệm cương vị Cục phó Cục Tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu, bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phần I:

THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY

Đồng Văn Cống sinh năm 1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống). Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống đến với cách mạng.

Image
Đồng Văn Cống

Đồng Văn Cống vốn được trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.

Đồng Văn Cống sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự. Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.

Image
Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu

Vợ ông, bà Lê Thị Gấm, lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu – một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân nhân cách mạng.

Đội du kích Tân Hào của Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu 8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ, ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là chánh vì tướng”.

Đã ban hành
Di tích Mộ nhà giáo Võ Trường ToảnDi tích Mộ nhà giáo Võ Trường Toản
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, không tham gia vào chính trị, từ chối mọi điều ban phát.

Image
Đền thờ Võ Trường Toản
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, không tham gia vào chính trị, từ chối mọi điều ban phát.

 Nhiều học trò của ông nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm… Ông mất ngày 27-7-1792.

 Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), lúc bấy giờ còn là đất tự do. Văn bia dựng tại mộ do Phan Thanh Giản soạn thảo.

 Hiện nay, khu mộ của ông bà và con gái được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong, 2 tầng để thờ Võ Trường Toản và làm nơi tưởng niệm của khách thập phương.

 Di tích mộ Võ Trường Toản được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24-1-1998.

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Vàm Nước TrongVàm Nước Trong
 

Ngã ba nơi con rạch Nước Trong đổ ra sông Mỏ Cày, thuộc xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày. Nơi ngã ba có chợ Vàm Nước Trong tương đối sầm uất. Các tàu đò đi Trà Vinh, Vĩnh Long, thị xã Bến Tre thường ghé lại để nhận hoặc bỏ hàng, rước khách. Trong KCCP, đồn Vàm Nước Trong đã bị quân ta tiêu diệt.

Trong cuộc Đồng Khởi (17-1-1960), bằng bạo lực chính trị, nhân dân xã Định Thủy đã hạ được đồn Vàm Nước Trong ngay từ đầu. Thắng lợi này có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương châm (ba mũi giáp công) trong quá trình đấu tranh nổi dậy giành chính quyền làm chủ ở nông thôn.

Đã ban hành
Hàm LuôngHàm Luông
 

Sông lớn tách từ sông Tiền, chảy ra biển, nằm trọn vẹn trên đất Bến Tre, dài 70km, rộng trung bình từ 1000 -1500m, làm ranh giới tự nhiên giữa cù lao Minh và cù lao Bảo. Nguyên tên gốc là Hàm Long, vì kiêng húy dưới thời nhà Nguyễn phải gọi chệch Long thành Luông. Với lưu lượng nước dồi dào nhất trong các con sông của tỉnh Bến Tre, sông Hàm Luông đã và đang góp phần tạo nên sự trù phú của các xã, huyện nằm trên đôi bờ.

Dòng Hàm Luông đã nhận chìm hàng trăm tàu chiến lớn nhỏ của giặc Mỹ, trong đó có tàu sửa chữa cơ khí thuộc Hạm đội 7 của Mỹ bị bộ đội đặc công thủy do Anh hùng LLVTND Hoàng Lam đánh chìm.

+ Sông Hàm Luông

Cửa đổ ra biển của sông Hàm Luông, một trong 9 cửa sông của 9 nhánh Cửu Long, rộng trên 2km. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), có đặt một đồn biên phòng tại đây. Đến năm Tự Đức thứ nhất (1847) thì bãi bỏ (Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Vĩnh Long).

             Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn

            Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi.

                                                                            (Ca dao)

+ Phà Hàm Luông

Bến phà qua sông Hàm Luông, cách thị xã Bến Tre 3km, nối liền đường liên tỉnh Mỹ Tho – Trà Vinh qua thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày. Đây là bến phà lớn thứ hai của tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer