Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Nhân vật
 
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ. 
 
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. 
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.  
 
 
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. 
Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. 
 
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre 
 
Nguyễn Văn Trinh (07/12/2007)
 
Anh hùng Nguyễn Văn Trinh (tức Chí Thanh), sinh năm 1912, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Đảng viên, trưởng Ban An ninh xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. 
Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm.  
 
Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp 
 
Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Cù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồnCù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồn
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Chẳng biết tự bao giờ ai cũng bảo hễ đi đâu “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre”. Và cù lao Minh là vùng đất có diện tích trồng dừa lớn nhất tỉnh, xen lẫn những cánh đồng lúa, những ruộng mía, những vườn cây ăn trái và có cả một phần đất biển. Thiên nhiên đã ban tặng cho cù lao này hai dòng sông lớn: Hàm Luông và Cổ Chiên, đã ôm ấp, bao bọc, vun đắp phù sa qua nhiều thế kỷ, làm cho cây trái vùng này oằn sai trĩu quả, nhất là rừng dừa mãi mãi tốt tươi với những rặng dừa cao vút, rễ bám sâu vào đất mẹ, để dẻo dai trước bão giông, quật cường cùng con người trong đấu tranh và xây dựng. Từ đỉnh cầu Hàm Luông nhìn về hướng cù lao Minh ta sẽ thỏa sức ngắm nhìn với rừng dừa bạt ngàn xanh biếc đứng hiên ngang với những vườn cây ăn trái.

Về xứ dừa Bến Tre sang cù lao Minh ta có thể chọn tham quan, khám phá, trải nghiệm tại những điểm đến, điểm hẹn về nguồn như:

1. Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định”:

 

Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định (hay còn gọi Y4, T4)  được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận cấp Quốc gia vào ngày 23/12/1995 và tọa lạc tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày Bắc. Vào tháng 6/1969, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã chuyển về đóng tại đây, là vùng mới giải phóng, có địa hình rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế. Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã xung quanh như: Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng khu di tích này đang được phục hồi, mở rộng khoảng 02ha, với các hạng mục chính như: hầm ở và làm việc của ông Võ Văn Kiệt; nơi ở và làm việc của bộ phận cơ yếu, hầm cứu thương; hầm bí mật của các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng…; nhà trưng bày các hiện vật lịch sử và các công trình liên quan khác. Công trình có ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước đối với thanh thiếu niên. Và trở thành một trong những điểm về nguồn của các hoạt động dã ngoại và điểm đến du lịch của tỉnh.

2. Các điểm đến du lịch sinh thái Chợ Lách:

Đi theo tuyến QL 57 về hướng tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Long là huyện Chợ Lách. Thiên nhiên đã ưu đãi vùng này nước ngọt quanh năm và những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả, cây giống và hoa kiểng xanh tươi tốt cả bốn mùa. Có lẻ vậy, mà Chợ Lách đang thu hút, hấp dẫn mọi người đến với nhiều điểm du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước. Đặc biệt, Chợ Lách còn nổi tiếng cả nước với “Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn” (Vĩnh Thành) và nhà thờ cổ Cái Mơn, là một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, được xây dựng vào năm 1872. Nhà bia tưởng niệm, ghi nhớ nơi sinh của nhà bác học Trương Vĩnh Ký cũng tại Cái Mơn, ông là người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản. Thú vị nhất ở vùng đất Chợ Lách là được tham quan, khám phá các làng nghề ghép cây giống, sản xuất hoa kiểng, thưởng thức đặc sản trái cây tại những vườn chuyên canh như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh và nhiều loại cây ăn trái khác…

 

3. Di tích Đồng Khởi và đình Rắn:

 

Di tích Đồng Khởi

Có thể khẳng định đây là điểm hẹn về nguồn lý tưởng nhất. Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 57, đến thị trấn Mỏ Cày Nam, rẽ trái khoảng 04km là đến khu Di tích Đồng Khởi. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông đến tận trung tâm cái nôi Đồng khởi. Đến đây, du khách sẽ gặp những người dân đôn hậu, những con người đã "bám chặt quê hương", đã đứng lên "dựng những pháo đài" ở xã Định Thủy, nơi đã làm nên cuộc Đồng Khởi năm xưa trên đất xứ dừa. Di tích này được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhân di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Và khu Di tích Đồng Khởi được xây dựng trên một diện tích 5.000 m2, gồm một trệt, một lầu. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng Khởi cháy sáng mãi trên xứ dừa. Bên trong là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch …. Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

Tại Định Thủy còn có đình Rắn, cũng là di tích lịch sử, nhưng còn ít người biết đến với huyền thoại đầy bí ẩn. Theo địa chí Bến Tre, năm Minh Mạng thứ 5 thì đình được nhận sắc phong. Vào thời đó đất đai ở đây còn hoang hóa mênh mông và nằm trên một khoảnh đất cao, vì thế rắn độc tụ hội rất nhiều, nhiều hang ăn sâu vào giữa đình. Khi thờ cúng, các chức việc trong đình phải lấy ván bao quanh miệng hang để tránh sự cố xảy ra, từ đấy có tên “Đình Rắn”. Nhiều người còn kể rằng, cũng nhờ có “ông rắn” mà bọn tề, ngụy, việt gian tối đến không bao giờ dám bén mảng tới nơi này. Nên kể từ sau Cách mạng tháng Tám, “Đình Rắn” là một trong những cơ sở cách mạng bí mật để hội họp, mít tinh. Lúc bấy giờ nữ tướng Nguyễn Thị Định là một trong những người thường xuyên lui tới đây để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Miền Nam. Đến năm 1970, cuộc chiến càng lúc lan rộng, bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt, đình gần như bị sập hoàn toàn nên cơ sở cách mạng ở đây được chuyển đi nơi khác.

Đến Định Thủy mọi người còn khám phá du lịch sinh thái “Vàm Nước Trong”, cửa ngõ đường thủy của huyện Mỏ Cày Nam nối với sông Hàm Luông. Với những vườn dừa rợp bóng, những bãi bờ hoang sơ tĩnh lặng, nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công vang dội của những người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đến đây, mọi người có dịp lai rai đặc sản mắm tép kẹp với thịt ba rọi luộc hoặc ăn với cá lóc nướng trui hay tôm, tép nướng; cá ngát nấu chua với bần dốt; bánh bột gạo rau mơ hấp; bánh xèo, bánh khọt pha với nước cốt dừa, thơm béo vô cùng. Điều du khách không thể bỏ qua là sự chân tình, mến khách, yêu thích văn hóa - văn nghệ của người dân Định Thủy, du khách cùng thưởng thức đờn ca tài tử và có thể giao lưu loại hình này bên dòng Hàm Luông thơ mộng rợp bóng dừa xanh.

 

4. Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh:

Rời Di tích Đồng Khởi, trở lại tuyến QL 57 đến “Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh” tọa lạc tại xã Minh Đức. Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến Chùa Tuyên Linh  khoảng 14 km, Chùa được xây dựng từ năm 1861 (Tân Dậu), dưới triều Tự Đức năm thứ 14. Năm 1930 nhân dịp chùa được trùng tu, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới “Tuyên Linh”. Nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý như: vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian. Cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của Hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Và kể từ khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Hay trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào cách mạng mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận di tích Quốc gia ngày 20/7/1994.

Đến Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc du khách còn được hướng dẫn tham quan cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa, se chỉ sơ dừa, dệt thảm sơ dừa… và cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ làm từ chất liệu dừa, sản xuất kẹo dừa…

5. Các điểm đến tại huyện Thạnh Phú:

Trên bản đồ tỉnh Bến Tre, huyện Thạnh Phú nằm ở cuối cù lao Minh, có bờ biển dài 25 km. Là một trong 03 huyện duyên hải của Bến Tre, Thạnh Phú được biết đến với những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ những giồng cát và những dải rừng ngập mặn ven biển và cũng có nhiều tiềm năng, đang dần dần thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Điểm dừng chân đầu tiên trên mãnh đất này là ghé  thăm bia lưu liệm nơi làm lễ xuất quân của Tiểu đoàn 307 “đánh đâu được đấy - oai hùng biết mấy” của bộ đội ta trong thời kỳ chống thực dân Pháp ở xã Đại Điền (hay còn gọi là Giồng Luông).

Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ” được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 14/4/2011. cũng ở xã Đại Điền. Những ai đã một lần đến thăm cũng không khỏi bỡ ngỡ khi đứng trước ngôi nhà cổ đẹp, bề thế của gia tộc họ Huỳnh. Dẫu trải qua hàng trăm năm, ngôi nhà vẫn còn mang nét đặc sắc của nhà cổ đồng bằng và cái lộng lẫy của gia chủ một thời sung túc. Chu vi nhà khoảng 100 m, bên trong có hoành phi sơn son thếp vàng và thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh, vật “tứ linh” thật sống động; mái nhà lợp ngói âm dương, trên mỗi miếng ngói có in hình sinh hoạt dân gian như mục đồng cỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của nông dân…. Tương truyền ngày ấy, khi những người thợ đầu tiên đến động thổ xây dựng ngôi nhà này, gia chủ mời họ ăn cam, rồi họ nhã hột gần đó, hột lên cây và đến khi cây cho trái cam đầu tiên thì ngôi nhà mới hoàn thành. Điều đó nói lên nhà đã xây dựng từ 7 – 10 năm mới hoàn thành.

Tại Thạnh Phú còn có “Di tích đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam” tại xã Thạnh Phong, di tích này được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận di tích cấp Quốc gia vào 23/12/1995. Về lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nơi đây đã ghi lại bộ đội Miền Nam vượt biển từ xã Thạnh Phong ra miền Bắc xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Đầu cầu tiếp nhận vũ khí tại xã Thạnh Phong gồm có Vàm Khâu Băng, cồn Bửng (hiện nay thuộc xã Thạnh Hải), cồn Lợi, cồn Lớn, địa điểm di tích này du khách trong và ngoài tỉnh có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thủy rất thuận tiện. Hiện tại khu di tích này đang được mở rộng qui mô để thực hiện dự án “Bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường mòn Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre”. Khi dự án hoàn thành đây sẽ là điểm hẹn về nguồn và điểm đến du lịch rất lý tưởng.

 

Ngoài ra, đến Thạnh Phú còn tham quan làng nghề truyền thống sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu xi-măng tại xã Hòa Lợi. Nghề ở đây “Cha truyền con nối” và sản phẩm này cũng được tiêu thụ tại địa phương, một số tỉnh và xuất khẩu sang Campuchia. Hay ghé sang xã Mỹ Hưng tìm hiểu nghề chằm nón bài thơ Huế ở ấp Thạnh Hưng, do một người quê ở Huế về định cư tại đây gầy dựng. Bà con ở đây chằm nón rất khéo, nhiều người cho rằng nón chằm đẹp hơn thợ chằm nón lá ở Huế. Nón được chằm bằng lá cật phải mua tận Bến Cầu (Tây Ninh), còn vành nón được làm bằng tre của Thạnh Phú. Cứ thế, lá của Tây Ninh, vành của Bến Tre, người chằm nón ở Thạnh Hưng đã chăm chút, thổi hồn vào từng đường kim mũi chỉ khiến nón lá Mỹ Hưng càng nhìn càng dễ thương. Tại đây mọi người còn tận mắt chứng kiến sự khéo tay không chỉ có phụ nữ mà còn có cả nam giới. Trên thực tế nón lá cũng là một sản phẩm phục vụ cho khách du lịch. Duy trì được nghề chằm nón cũng là góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của dân tộc ta.

Không những tham quan nghề đúc lu, chằm nón, mà du khách còn được hướng dẫn đến xem làng nghề bó chổi bằng cọng dừa nổi tiếng ở Mỹ An, một nghề mà người dân nơi đây thường nói “nghề làm chơi mà ăn thiệt”. Tại đây, du khách sẽ tận mắt nhìn thấy sự khéo tay của những siêu sao bó chổi, trong một ngày có người đã bó được trên 100 cây chổi. Ở đây, nhà nào cũng đầy chổi, chổi bó rồi, chổi đang bó…, tiếng quay dây cước vào trục nghe rè rè, tiếng kêu ken két đầy ấn tượng, rồi đến tiếng xe máy chở nguyên vật liệu ra vào, khiến làng chổi càng thêm nhộn nhịp. Mỗi sản phẩm làm ra là một kỷ niệm thấm đẫm tình người, với biết bao niềm hy vọng tươi sáng của người dân hiền lành, chất phác ở một vùng quê sông nước xứ dừa luôn tin tưởng nghề này không bị mất đi và sản phẩm làm ra có nơi tiêu thụ.

Về phong cảnh, Thạnh Phú còn có con đường làng vào xã Phú Khánh có hàng cây – hàng cây cổ thụ rất đẹp, rất hữu tình. Hay du khách sẽ thư thái, thỏa sức ngắm nhìn những cách đồng lúa xanh mơn mởn xen với mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa. Hoặc về xã biển Thạnh Hải khám phá sự hoang sơ của bãi biển nơi đây, tham quan đền thờ 02 con cá Ông, mỗi      con chục tấn và bộ xương sống của cá Ông vẫn còn lưu lại nơi đây. Hàng năm, cứ vào ngày lễ hội Nghinh Ông có hàng ngàn lượt du khách đến với các xã biển Thạnh Phú để tham quan. Hay rừng ngặp mặn Thạnh Phú nằm trong quần thể vùng bưng trũng, cũng là điểm để du khách khám phá những điều thú vị ở đó. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, rừng ngập mặn Thạnh Phú cũng là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền.

Điều vô cùng lý thú, nhất là cho những du khách thích phiêu lưu mạo hiểm, tìm hiểu thêm việc làm đáy hàng khơi của người dân Thạnh Phú tại Vàm Băng Cung –  Giao Thạnh. Hay ở qua đêm ở Thạnh Phong vào mùa ba khía hội,  có thể đi theo những ngư dân lành nghề bắt ba khía trong rừng ngập mặn. Vào những đêm tối, trời yên biển lặng, ba khía ra khỏi hang, chúng bám dày đặc vào thân cây mắm, cây cóc hay bò trên những bãi bùn ven bờ rạch, tha hồ bắt chúng vào giỏ. Hoặc theo người dân, ngồi trên những chiếc ghe nhỏ để len lỏi theo những con rạch nhỏ sâu trong rừng mắm, cóc, đước…và thưởng thức bản hòa tấu của một số loài chim, qua đó mà trải lòng mình trong chuyến du khảo về đất biển Thạnh Phú.

Về ẩm thực không thể bỏ qua đặc sản truyền thống bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng ở Thạnh Phú, một khi du khách đã thưởng thức rồi thì không thể nào quên bởi sự khéo tay của phụ nữ Đại Điền hay bì bún Giồng Luông cũng rất độc đáo. Hay Thạnh Phú cũng đã tận dụng hết những tiềm năng vốn có để nuôi trồng và khai thác thủy sản….Và Thạnh Phú ngày nay đã cũng được nhiều du khách biết đến qua những món hải sản như cua biển (cua gạch điều), tôm, sò huyết, nghêu, ba khía…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
 

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
 

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trương Văn RắtTrương Văn Rắt


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trương Văn Rắt
(tức Bảy Tiến) sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạnh Phú Đông, huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên,
xã đội trưởng xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trương Văn Rắt tham gia
du kích từ năm 1969</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">A</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">nh đã nêu cao tinh thần
vượt mọi khó khăn, gian khổ, bám đất, bám dân chiến đấu và chỉ huy chiếc đấu
dũng cảm, linh hoạt, đánh địch bằng nhiều hình thức phong phú. Trương Văn Rắt
đã diệt 170 tên địch, thu 5 súng, có tác dụng cổ vũ động viên nhân dân kiên quyết
bám trụ đánh địch. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1970, anh chỉ
huy 1 tổ đánh 1 đại đội địch. Trương Văn Rắt bình tĩnh chờ địch vào gần mới hạ
lệnh cho nổ mìn và đồng loạt nổ súng xung phong tiêu diệt địch. Trận này tổ của
Rắt diệt 60 tên địch, riêng anh diệt 40 tên, thu nhiều vũ khí. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Tháng 2</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1974, trong trận
đánh đồn Rạch Mầu và Cầu Đúc, khi nổ súng, địch bắn trả rất ác liệt. Trương Văn
Rắt không quản nguy hiểm dẫn đầu tổ xông lên dùng lựu đạn diệt hoả điểm địch,
những tên sống sót hoảng hốt bỏ đồn rút chạy. Trận này tổ anh diệt 13 tên, thu
một số súng. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trương Văn Rắt sống
khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt, đi sâu, đi sát anh em, thương yêu
đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Góp phần tích
cực xây dựng đội du kích xã phát triển lớn mạnh không ngừng.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng ba, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 12 bằng và
giấy khen. Ngày 6-11-1978, Trương Văn Rắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Trương Văn Rắt (tức Bảy Tiến) sinh năm 1952, dân tộc Kinh, quê ở xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội trưởng xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Trương Văn Rắt tham gia du kích từ năm 1969. Anh đã nêu cao tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ, bám đất, bám dân chiến đấu và chỉ huy chiếc đấu dũng cảm, linh hoạt, đánh địch bằng nhiều hình thức phong phú. Trương Văn Rắt đã diệt 170 tên địch, thu 5 súng, có tác dụng cổ vũ động viên nhân dân kiên quyết bám trụ đánh địch.

Ngày 6-5-1970, anh chỉ huy 1 tổ đánh 1 đại đội địch. Trương Văn Rắt bình tĩnh chờ địch vào gần mới hạ lệnh cho nổ mìn và đồng loạt nổ súng xung phong tiêu diệt địch. Trận này tổ của Rắt diệt 60 tên địch, riêng anh diệt 40 tên, thu nhiều vũ khí.

Tháng 2-1974, trong trận đánh đồn Rạch Mầu và Cầu Đúc, khi nổ súng, địch bắn trả rất ác liệt. Trương Văn Rắt không quản nguy hiểm dẫn đầu tổ xông lên dùng lựu đạn diệt hoả điểm địch, những tên sống sót hoảng hốt bỏ đồn rút chạy. Trận này tổ anh diệt 13 tên, thu một số súng.

Trương Văn Rắt sống khiêm tốn, giản dị, gương mẫu về mọi mặt, đi sâu, đi sát anh em, thương yêu đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Góp phần tích cực xây dựng đội du kích xã phát triển lớn mạnh không ngừng.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 12 bằng và giấy khen. Ngày 6-11-1978, Trương Văn Rắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Nguyễn Văn BaNguyễn Văn Ba


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại
tá nghỉ hưu.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm
1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm
1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung
gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh
máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế,
Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ
bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính
xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của
không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn
Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành
xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc
Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển
ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân
bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm
1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là
giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến
năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995,
Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá nghỉ hưu.

Năm 1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm 1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế, Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc.

Nguyễn Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.

Đồng chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Thị DuyênTrần Thị Duyên
&nbsp;

Image
Trần Thị Duyên
Sinh năm 1905, trong một gia đình đông con ở xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, sau khi học hết lớp nhất bậc tiểu học, cô gái Trần Thị Duyên lấy chồng về xã Lương Hòa (1921), chị dâu của Nguyễn Thị Định. Bà có tất cả 10 người con, cả trai và gái. Quê hương của bà là nơi phong trào yêu nước phát triển tương đối mạnh và liên tục qua các thời kỳ, do đó gia đình bà có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận ảnh hưởng tốt ấy. Nhà bà là cơ sở, trạm trú chân, nơi ăn ở của cán bộ, bộ đội đi về thường xuyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

   Sau hiệp định Genève 1954, trong chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” do Ngô Đình Diệm phát động, người con trai của bà là Nguyễn Văn Duy (Năm Di), Huyện ủy viên huyện Giồng Trôm, bị chúng bắt và đưa về bắn ngay tại xã, nhằm dằn mặt và uy hiếp tinh thần dân chúng.

   Sau Đồng Khởi (1960), hai người con gái thứ hai và thứ tám của bà cũng bị địch bắt giam. Người con thứ sáu và người con gái thứ bảy hoạt động bị lộ, nên cấp trên phải điều đi nơi khác. Năm 1962, bà bị địch bắt, tra khảo, nhốt ở hầm tối cả tháng trời, buộc bà phải đi tìm các con đi hoạt động cách mạng trở về. Bà trả lời: "Hồi chúng còn nhỏ, tôi nuôi dạy tụi nó, lớn lên đủ lông đủ cánh, chúng chọn con đường nào phải chúng đi là tùy chúng, tôi biết đâu mà kiếm!". Khi địch thả ra, mắt bà bị lòa, một thời gian sau mới trở lại bình thường.

   Trong những năm giặc Mỹ dùng phi pháo và chất độc hóa học đánh phá có tính chất hủy diệt vùng Giồng Trôm, bà là hội trưởng hội phụ nữ xã. Bà đã cùng người con dâu thứ sáu bám trụ lại trên mảnh đất bị bom đạn cày xới, dựng chòi bên gốc dừa để ở, nuôi giấu, giúp đỡ cán bộ và đội du kích xã, giữ vững đường dây giao liên của tỉnh trong những năm chiến tranh ác liệt.

   Trong trận Bàu Bàng, người con trai thứ mười của bà, Nguyễn Văn Triệu, hy sinh. Tiếp đến, đứa cháu ngoại chết trong trận phục kích của địch ở cầu Bà Mụ, thị xã Bến Tre, còn người con gái thứ bảy thì bị thương nặng ở huyện Châu Thành trong một trận càn của địch.

   Tháng 4-1970, giặc Mỹ ném bom vào ngôi nhà bà, giết chết một lúc 7 người thân: chồng, người con dâu và 5 đứa cháu nội. Năm 1972, người con rể của bà hy sinh. Năm 1973, người con gái thứ hai, Nguyễn Thị Bình bị địch phục kích bắn chết trên đường đi dự hội nghị. Một đứa cháu ngoại khác vào bộ đội, Nguyễn Thị Phi, cũng đã ngã xuống ở chiến trường miền Tây Nam Bộ. Chỉ trong vòng mấy năm liền, mười hai cái tang dồn dập xảy đến, nhưng bà không hề tỏ ra bi quan, dao động. Gạt thầm nước mắt, cố gắng ghìm lại nỗi đau trong lòng, má Duyên vẫn ngày ngày tỏ ra vui vẻ, chăm sóc, giúp đỡ du kích, cán bộ qua lại và động viên con cháu tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ cứu nước. Riêng nhà bà bị bom địch phá hủy, phải cất đi, cất lại đến 5 lần. Một hôm, bọn biệt kích bắt bà chèo xuồng chở chúng từ xã Lương Hòa sang xã Lương Quới – nơi có đội du kích đang trú ngụ - bà đã khôn khéo dùng tín hiệu riêng báo cho du kích biết và kịp bố trí tiêu diệt được 5 tên địch.

   Gia đình bà (kể cả con dâu, rể, cháu nội, cháu ngoại) có tất cả 21 đảng viên, nhiều người đã ngã xuống trong cuộc chống Mỹ cứu nước, trong đó có 5 con là liệt sĩ (3 con ruột và 2 người con rể).

   Niềm vui lớn nhất của bà trong những năm tháng chiến tranh là âm thầm, cặm cụi làm nhiệm vụ của một người mẹ, người bà hằng ngày đón tiếp, nuôi giấu, giúp đỡ bộ đội, du kích, chăm sóc thương binh với khả năng của mình, đồng thời động viên con cháu làm trọn nghĩa vụ đối với Tổ quốc.

   Bà thường tâm sự: đất nước nay đã hòa bình, thống nhất, các con, cháu tôi nhiều đứa hy sinh trong chiến tranh, những đứa còn lại đều trưởng thành và giữ tròn phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Giờ đây, tôi có thể yên lòng mà nhắm mắt.

   Năm 1981, má Trần Thị Duyên được cử ra thủ đô Hà Nội dự hội nghị đại biểu các “Bà mẹ ưu tú" toàn quốc. Bà Trần Thị Duyên và người con gái của bà là Nguyễn Thị Bình được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trúc GiangTrúc Giang
&nbsp;

Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long, Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn, Tân Thạch.

Trúc Giang

Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Du lịch Miền Tây tham quan Châu ThànhDu lịch Miền Tây tham quan Châu Thành
Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Bến Tre là xứ sở của dừa, mà Châu Thành là một trong những huyện có diện tích trồng dừa khá lớn, đặc trưng cho Bến Tre, xa xa lúc nào cũng thấp thoáng những ngọn dừa cao vút. Nơi đây còn là  “cái nôi” của những sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo từ cây dừa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các mặt hàng như  khay  ly, chén đĩa, bình trà, đũa, muỗng, nĩa, các dụng cụ gia đình, đồ dùng văn phòng, búp bê và những con thú ngộ nghĩnh… Cọng, lá và bông dừa thì làm lẵng hoa, giỏ, đèn chụp… rất đẹp mắt đã được xuất khẩu qua nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Buổi trưa, du khách sẽ thưởng thức ẩm thực vùng sông nước với các món ăn dân dã đồng quê mang đậm chất Nam Bộ như: cá lóc nướng trui, nấm mối nướng muối ớt, lẩu cá kèo, tép rang dừa,… và đặc biệt du khách sẽ được thưởng thức món cơm dừa thơm ngon được hấp trong trái dừa. Khi ăn, du khách nhai chầm chậm cơm dừa với tép rang dừa, vị ngọt lẫn hương thơm của nước dừa thấm vào hạt cơm tan dần, sẽ làm cho du khách cũng nhận được tất cả sự thơm ngon của món cơm dừa này.

Những đặc sản đồng quê này, sẽ là những món quà độc đáo mà người dân vùng đất ba dãy cù lao này dâng tặng cho du khách nhằm mời gọi du khách bốn phương về với quê hương xứ dừa, nó đặc trưng cho không khí một vùng đất mang đậm nét thiên nhiên vùng sông nước. Dù Châu Thành  đã có bước phát triển kinh tế, đời sống người dân có được nâng lên nhưng nét văn hóa ẩm thực truyền thống vẫn còn lưu giữ.

Đến với Châu Thành, du khách không thể bỏ qua chuyến tham quan Đình Tân Thạch tọa lạc tại xã Tân Thạch- huyện Châu Thành là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia với nhiều công trình kiến trúc cổ như: liễn đối, bao lam, khánh thờ, hoành phi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy và chùa Hội Tôn cổ tự tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành là ngôi chùa cổ nhất Bến Tre do Hòa Thượng Long Thiền, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi theo những người dân đi khai hoang vào thành lập trong giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát trị vì. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc cổ, với nhiều hiện vật cổ xưa có giá trị như quả chuông đồng và các hiện vật cổ khác.

Ngoài ra Châu Thành còn nhiều điểm du lịch khác như du thuyền qua các cù lao: Long-Lân-Quy-Phụng, tham quan Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa) là những điểm thú vị đang chờ đón du khách khám phá. Đến Cồn Phụng, du khách sẽ được tham quan tìm hiểu về di tích ông đạo Dừa, chiêm ngưỡng sân rồng, tòa tháp và cửu trùng đài, du khách có thể chụp ảnh lưu niệm cho chuyến đi.

 

Thuyền đưa du khách đến các điểm tham quan ở huyện Châu Thành - Bến Tre

Thuyền đưa du khách tham quan vườn nhà ông Tư Bi trên cồn Qui, mỏi chân du khách có thể tạm nghỉ trong những căn nhà mái lợp lá nằm giữa vườn cây trái, chọn lựa để người phục vụ gọt đĩa trái cây các loại ưa thích như thanh long, thơm, ổi…hoặc uống một trái dừa xiêm ngọt lịm.

Thuyền lướt êm như ru qua con rạch Xếp xanh ngắt màu lá dừa nước, ô rô …, không gian mát mẻ, trong lành và ríu rít tiếng chim. Đi xe ngựa trên làng khoảng 2km đến thăm một số điểm thưởng thức trà, rượu mật ong, đi đò chèo, nghe nhạc tài tử Nam Bộ,  thưởng thức những món ăn đồng quê theo một hương sắc thật thanh nhã và thú vị.

 

Đi xe ngựa trên đường làng

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1955 - 1959 )Thế kỷ 20 ( 1955 - 1959 )

1955

8 tháng 1, Ngô Ðình Diệm ba hành Dụ số 2 về "Cải cách điền địa” - một chủ trương được nâng lên hàng "quốc sách" nhằm mục đích "tranh thủ trái tim và khối óc của nông dân", tách họ ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng.

Tháng 1, Ngô Ðình Diệm bắt đầu đưa số đồng bào theo đạo Thiên Chúa miền Bắc di cư vào các địa bàn xung yếu trong tỉnh Bến Tre như Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú), An Hiệp (huyện Châu Thành), vùng ven biển hai huyện Bình Ðại và Ba Tri. Tổng số lượng lên đến 60.000 người.

4 tháng 2, Chính phủ VNDCCH tuyên bố sẵn sàng lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam - Bắc như hiệp định Genève 1954 quy định.

5 tháng 2, Ngô Ðình Diệm ban hành Dụ số 7 về "Cải cách điền địa” bổ sung cho Dụ số 2, ban hành ngày 8-1-1955 về phần giảm tô và giao đất bỏ hoang cho tá điền canh tác.

4 tháng 3, Ngô Ðình Diệm tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội riêng rẽ ở miền Nam.

11 tháng 4, Ngô Ðình Diệm phát động chiến dịch "tố cộng" trên toàn lãnh thổ miền Nam. Trong các nhà tù, chúng bắt đầu cưỡng bức tù chính trị học tập "tố cộng", "ly khai" ÐCS.

30 tháng 6, Ðơn vị cuối cùng của 300.000 quân viễn chinh Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam.

23 tháng 10, Ngô Ðình Diệm bày trò "trưng cầu dân ý", "truất phế Bảo Ðại" lên làm Tổng thống.

26 tháng 10, Ngô Ðình Diệm tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Cộng hòa" do ông ta làm Tổng thống, lấy Sài Gòn làm thủ đô và chọn ngày này làm ngày quốc khánh của chế độ đó.

Từ đây, Mỹ không còn qua trung gian Pháp để thực hiện mưu đồ biến miền Nam thành khu vực nằm trong quỹ đạo của Mỹ.

1956

11 tháng 1, Ngô Ðình Diệm công bố "Luật thiết lập những trại tập trung cưỡng bức".

26 tháng 1, Ngô Ðình Diệm ký đạo luật công khai khước từ Tổng tuyển cử (Sau 2 năm theo hiệp định Genève quy định) và ban hành đạo luật bầu cử quốc hội riêng rẽ ở miền Nam Việt Nam.

28 tháng 4, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp rút khỏi Sài Gòn, hoàn thành việc Mỹ thay chân Pháp ở miền Nam.

28 tháng 6, Quận Bình Ðại thuộc tỉnh Mỹ Tho sáp nhập vào tỉnh Bến Tre theo Sắc lệnh số 86/NV, ngày 28-6-1956 của Tổng thống VNCH.

22 tháng 10, Ngô Ðình Diệm ban hành Dụ số 57 nhằm chuyển chủ trương "Cải cách điền địa” sang giai đoạn thứ hai, gọi là giai đoạn “Tái phân phối ruộng đất cho công bằng hợp lý, giúp tá điền thành tiểu điền chủ, hướng dẫn các đại điền chủ qua hoạt động kỹ nghệ”.

Ðổi tên tỉnh Bến Tre thành tỉnh Kiến Hòa là một trong 23 tỉnh thành trong địa phận Nam Việt (Sắc lệnh số 143/NV ngày 22-10-1956 của Tổng thống VNCH).

24 tháng 10, Ngô Ðình Diệm công bố "Luật trưng thu ruộng đất".

Tháng 12, Tại Văn phòng XUNB (bí mật) đặt tại số nhà 29 Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn) nay thuộc phường Ða Kao, quận 1, TP.Hồ Chí Minh, ông Lê Duẫn, Bí thư XUNB hoàn thành bản dự thảo "Ðường lối cách mạng miền Nam". Sau đó, bản dự thảo được chuyển sang mật mã, gửi đi các nơi.

1957

5 tháng 5, Ngô Ðình Diệm sang thăm Mỹ, tuyên bố: "Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17".

Tháng 10, Tại căn cứ chiến khu Ð, thành lập đơn vị 250, tiểu đoàn tập trung đầu tiên của LLVT miền Ðông Nam Bộ.

1958

Tháng 6, XUNB quyết định thành lập Bộ Tư lệnh miền Ðông Nam Bộ (sau đổi ra Ban Quân sự miền) và tập trung một số LLVT các tỉnh miền Ðông, tổ chức thành 4 đại đội.

16 tháng 10, Quận Sóc Sãi đổi tên là quận Hàm Long.

1 tháng 12, Vụ đầu độc giết hại hàng loạt tù nhân chính trị ở trại giam Phú Lợi (Thủ Dầu Một) cách Sài Gòn 33km. Ðã có hơn 1.000 tù nhân trong số 6.000 tù của trại giam bị ngộ độc. Một số người đã bị giết.

1959

Tháng 1, BCHTƯÐCS họp Hội nghị lần thứ 15 bàn về tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam. Nghị quyết nêu: "Con đường phát triển cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với thực lực vũ trang, hoặc nhiều hoặc ít, tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân".

13 tháng 1, Hội nghị của TƯCMN khẳng định việc đánh đổ ách thống trị của chế độ thực dân mới ở miền Nam và quyết định cần thiết phải tiến hành đấu tranh vũ trang.

6 tháng 5, Quốc hội VNCH thông qua Luật số 91. Luật này được ban hành ngày 6-5, thường gọi là "Luật 10/59" - quy định việc lập các "tòa án quân sự đặc biệt". Theo luật này, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân. Việc xét xử kéo dài tối đa trong 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay tại chỗ.

Tháng 7, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Ðoàn 759, mở đường Bắc - Nam trên biển vận chuyển vũ khí đạn dược, trang bị cho cách mạng miền Nam.

30 tháng 8, Bầu cử quốc hội kỳ II của chính quyền Ngô Ðình Diệm ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 9, Ngô Ðình Diệm bắt đầu xây dựng "khu trù mật" Thành Thới (Mỏ Cày), khu trù mật kiểu mẩu của cả Nam Bộ.

Tháng 11, Tại Trảng Chiên (bắc Tây Ninh), Hội nghị XUNB lần thứ 4 (mở rộng đến bí thư tỉnh ủy) quán triệt tinh thần Nghị quyết 15 của BCH TƯÐCS.

Tháng 12, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của BCHTƯÐCS và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ông ÓÔng Ó
&nbsp;

    Nói đến những tác giả truyện kể dân gian Nam bộ, không thể không nhắc đến ông Ó. Ông Ó có tài nói trạng nổi tiếng, danh truyền khắp vùng không chỉ vì số lượng sáng tác của ông gấp nhiều lần các tác giả khác, mà còn sự độc đáo của đề tài, ở cấu trúc truyện, nhất là ở biện pháp nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện, đưa người nghe vào cuộc, thậm chí có những người thích nghe ông kể chuyện đã có ý thức "cảnh giác" ông gạt mình, thế nhưng rồi vẫn bị mắc mưu ông như thường.

   Tiếng đồn về tài nói trạng và tiếu lâm của ông đã vang đến kinh đô Huế - lúc bấy giờ là dưới triều Minh Mạng và Tự Đức - đến nỗi các ông hoàng bà chúa, do nghe các quan trấn nhậm từ đất Đồng Nai ra hay kể lại tài nói trạng trứ danh của ông Ó, rất muốn được gặp ông. Một đông cung đã yêu cầu các quan ở Nam Kỳ mời ông Ó ra Huế để mua vui cho họ, và ông Ó được gửi theo một chuyến ghe bầu chở lương thực về triều đình. Tài nói trạng và tiếu lâm của ông đã hằn sâu trong ký ức của người dân vùng cù lao Minh đến nỗi hễ ai nói trạng, nói láo giỏi thì người ta gán cho danh hiệu: "Cháu ruột ông Ó đấy!". So với tính chất nho, hay chữ và tinh tế của truyện Trạng Quỳnh hay Xiển Bột thì truyện ông Ó không bằng, nhưng các truyện của ông không thô thiển và tầm thường như truyện của Ba Giai, Tú Xuất. Truyện của ông đã được nhiều nhà sưu tầm văn học dân gian ghi lại, được in trong nhiều tập sách của các nhà xuất bản ở Nam Kỳ và trong cả nước trước đây. Có thể kể ra một số tập như: Truyện Ông Ó do Bùi Quang Nho sưu tầm (1913), Chuyện cười cổ nhân do Vương Hồng Sển sưu tập (1977), trong đó có 15 truyện của ông Ó. Tập Văn học dân gian Bến Tre (NXB Khoa học xã hội, 1988) đã giới thiệu 26 tập truyện ông Ó. Rõ ràng ông Ó là tác giả dân gian có một chỗ đứng trong hàng những tác giả truyện kể dân gian trong cả nước như: Trạng Lợn, Ba Phi, Bộ Lữ v.v... Nói riêng ở vùng đất mới Nam Bộ, ông Ó xuất hiện trước Ba Phi hơn một thế kỷ.

   Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ về dòng họ, năm sinh, năm mất và quê quán của con người này. Nhưng qua "Lời giới thiệu" trong Truyện Ông Ó của ông Bùi Quang Nho, và nếu đối chiếu, liên hệ với những sự kiện cùng thời điểm xảy ra cũng như những vấn đề liên quan thu thập được qua những cuộc điều tra, khảo sát, ta có thể biết được một số nét tương đối cụ thể về cuộc đời, hoàn cảnh, nghề nghiệp cùng chuyện ông vượt qua cả ngàn cây số đường biển đến đất cố đô, để thỏa mãn tính hiếu kỳ của những ông hoàng, bà chúa ăn không ngồi rồi.

   Về quê quán gốc của ông Ó ở đâu thì không rõ, chỉ biết rằng khi hai vợ chồng đến dựng chòi, chặt cây, phá rừng canh tác ở xóm Dưa, thuộc làng Phước Hội, tổng Minh Đạt, hạt Bến Tre, nay là ấp An Quới, xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thì họ đã vào khoảng 50 tuổi và không có con cái. Như vậy có nghĩa là ông Ó sinh vào khoảng những năm 1810 – 1820.

   Người chồng có nghề làm bẫy bắt muông thú rất tài tình, đặc biệt nghề bắt chim ó biển (vùng nay thời ấy có nhiều ó biển thường bay lượn trên trời giống diều hâu, để tìm bắt những con mồi sống như gà, vịt con của bà con nông dân nuôi). Hễ bắt được con ó thì ông lại mang ra chợ bán, đổi gạo và các vật dụng khác, từ đó đám trẻ con quanh vùng rất khoái gặp ông để được xem, được nghịch chim lạ. Chúng gọi ông là "Ông Ó" - tức người chuyên bán chim ó biển ở chợ. Ông lại vốn vui tính, kể chuyện hấp dẫn, đôi khi phóng đại những chuyện về săn bắt thú, chim, về những chuyện “trên trời, dưới đất” nên lôi cuốn trẻ con lẫn người lớn. Cái tên "Ông Ó" được gọi mãi thành quen, và lâu ngày cũng chẳng ai buồn biết đến tên thật của ông là gì nữa. Và cho đến khi ông "chơi xỏ" vợ anh nhà giàu trong làng, "trả đũa" anh hàng thịt tham lam ở chợ, cho một gã nhà giàu khác "mượn trâu", "bán sách nói láo" cho viên tri huyện Cái Quao... thì danh ông Ó được nhiều người đồn đại. Theo lời kể của các bô lão vùng Mỏ Cày, thì ông Ó vốn là một nông dân ít chữ nghĩa, nhưng sáng dạ, tính khí can trường. Ông có tài đối đáp, ứng phó nhanh nhạy, nắm bắt tâm lý của từng đối tượng rất kịp thời, do đó ông thường tạo ra những tình huống bất ngờ bằng những mẩu chuyện "bịa như thật", mà kết cục là những tràng cười khoái trá, hay có khi là nụ cười mỉa mai, chua chát của người nghe, do biết mình bị lừa mà vẫn không tránh khỏi, thậm chí có lúc là những đòn rất đau, nhưng người trong cuộc đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Bằng lối kể chuyện, bằng cách ứng phó linh hoạt, hợp lý, ông phơi bày, chế giễu những thói hư, tật xấu của người đời bằng một chuỗi truyện trạng, truyện tiếu lâm mang ý nghĩa trào lộng. Đặc biệt, mũi nhọn chế riễu, phê phán, bọn có chức có quyền, tham lam, hống hách, ích kỷ, từ kẻ nhà giàu, hương cả trong làng đến viên cai tổng, tri huyện và đến cả Đông cung thái tử và đám quan lại lớn nhỏ ở triều đình Huế, ông cũng không tha. Hay nói như nhà triết học Đức Hégel, ông Ó đã tạo ra được những “tiếng cười làm trúc nhào những thần tượng... làm cho những thần tượng ấy trở thành những cục đất thó" (1), trong xã hội cũ. Có thể nói, ông Ó là một dạng Trạng Quỳnh, Xiển Bột ở vùng đất mới phía Nam trong thế kỷ XIX.

Chú thích:

(1) Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin, Nxb Sự thật, H., 1963.

Đã ban hành
Bình ĐạiBình Đại
&nbsp;

Quận thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm trên cù lao An Hóa được tách ra, sáp nhập vào tỉnh Kiến Hòa (đổi tên từ tỉnh Bến Tre) theo Sắc lệnh số 143-NV của Tổng thống VNCH ngày 22-10-1956.

 Huyện Bình Đại

Huyện nằm trên cù lao An Hóa, cù lao này trước thuộc về tỉnh Mỹ Tho, năm 1948 sáp nhập tỉnh Bến Tre. Trong lịch sử tồn tại, đã có nhiều lần chia, tách, nhập, thay đổi tên gọi rất phức tạp.

Sau 30-4-1975 theo chủ trương chung về việc điều chỉnh địa giới một số đơn vị hành chính, huyện Bình Đại có diện tích tự nhiên 40.059ha, phía bắc giáp huyện Châu Thành, phía tây và nam giáp huyện Giồng Trôm và Ba Tri, phía đông giáp biển. Huyện Bình Đại có 19 xã và 1 thị trấn.

Thị trấn Bình Đại

Thị trấn được thành lập theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 141/CP ngày 3-4-1979, chia thị trấn Bình Đại thành 2 đơn vị lấy tên là xã Bình Thắng và thị trấn Bình Đại.

Đã ban hành
Du lịch về làng nghề nông nghiệp, nông thôn xứ dừaDu lịch về làng nghề nông nghiệp, nông thôn xứ dừa
Làng nghề được xem một môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội và công nghệ thủ công truyền thống lâu đời và mang đậm nét dân gian, cũng như chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Chính môi trường làng nghề đã bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật được truyền từ đời nay sang đời khác. Làng nghề phát triển không chỉ giải quyết việc làm cho nông thôn, mà còn góp phần giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa và làm giàu trên quê hương mình.

Làng nghề được xem một môi trường văn hóa, kinh tế, xã hội và công nghệ thủ công truyền thống lâu đời và mang đậm nét dân gian, cũng như chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Chính môi trường làng nghề đã bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật được truyền từ đời nay sang đời khác. Làng nghề phát triển không chỉ giải quyết việc làm cho nông thôn, mà còn góp phần giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn, góp phần làm phong phú thêm truyền thống văn hóa và làm giàu trên quê hương mình.

Bến Tre nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu long, là một tiểu vùng hội tụ, giao thoa văn hóa quan trọng của 4 dân tộc Việt - Chăm – Hoa – Khơme. Do vậy, mà làng nghề nông nghiệp, nông thôn ở đây ra đời và gắn liền với phong tục, đời sống văn hóa, cũng thể hiện đầy đủ bản sắc thiên nhiên, đa dạng các sản phẩm vật chất lẫn tinh thần, góp phần tạo nên bức chân dung bình dị, nhưng sống động. Đến xứ dừa, du khách sẽ thú vị khi khám phá một số làng nghề nông nghiệp, nông thôn tiêu biểu như:

* Làng nghề cây giống và hoa kiểng

Nằm dọc theo con sông Cổ Chiên hiền hòa  được phù sa bồi đắp quanh năm, thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Chợ Lách phù sa màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển cây trồng tươi tốt quanh năm và trái ngọt bốn mùa. Chợ Lách nằm ở phần đất hẹp nhất ở phía trên cùng của vùng đất cù lao Minh, nhưng rất thuận lợi về giao thông đường thủy lẫn đường bộ, nên từ ngàn xưa đã thu hút đông đảo người dân hội tụ về nơi đây an cư lạc nghiệp, để tạo dựng nên những vườn cây xanh trái ngọt, cũng như sản xuất cây giống và hoa kiểng nổi tiếng cả khu vực ĐBSCL. Chính vì lẽ đó, mà khách thập phương ví Chợ Lách là xứ sở của “Vương quốc cây trái và hoa kiểng” của cả vùng Nam Bộ.

Đã từ lâu, người dân nơi đây đã biết sáng tạo ra nghề chiết cây, ghép cành, lai tạo và nhân giống cây ăn quả, nghề này trở thành nghề cha truyền con nối và đòi hỏi ngoài sự tỉ mỉ, kinh nghiệm trồng cây, canh thời vụ, còn phải có kiến thức khoa học nhất định để cho ra đời những giống cây mới, cho năng suất và chất lượng cây ăn quả cao hơn.

 

Làng nghề cây giống và hoa kiểng

Đi đến đâu du khách cũng đều bắt gặp được những hình ảnh thân thương, chăm chỉ, tất bật, khẩn trương của người dân Chợ Lách hiền hòa, thân thiện, kết hợp với sự khéo tay của họ đã tạo ra những tác phẩm bằng cây kiểng rất điệu nghệ, mà mọi người ví những người làm kiểng là “Nghệ nhân miệt vườn”. Người nghệ nhân khi muốn cho ra đời một tác phẩm, phải có ý tưởng, phải trải qua nhiều công đoạn, mà theo người xưa khi uốn kiểng phải chăm chút trong từng động tác một và hòa mình vào trong tác phẩm đó, thì mới khắc họa được nhiều chi tiết sống động, có hồn, với mong muốn góp thêm thật nhiều hương sắc cho cuộc sống, thì tác phẩm của mình mới gọi là hoàn thiện.

Mảnh đất màu mở này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nơi đây phát triển nên làng nghề cây giống và hoa kiểng. Đến đây, du khách sẽ mặc sức khám phá bộ sản phẩm độc đáo là hoa kiểng hình thú, trong đó nổi lên bộ hình thú 12 con giáp. Nhiều du khách phương xa rất ấn tượng trước phong cách riêng trên loại hình kiểng thú này. Mặc dù cây cảnh sử dụng để làm vẫn là cây si, nhưng với đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã dày công sáng tạo, tạo nên giá trị mới trên từng đường nét nghệ thuật của tác phẩm. Xem bộ kiểng thú, mỗi người đều có thể hình dung ra được con vật đó. Tết năm nào thì sản phẩm con đó được tập trung làm nhiều hơn để bán. Ngoài cây si ra, người ta vẫn có thể sử dụng các loại cây khác để uốn kiểng thú như: bùm sụm, mai trắng, tắc,…. Điều quan trọng chính là nghệ thuật tạo hình, có nghĩa là người làm phải hình dung ra được hình dáng của con vật, sau đó tạo nên điểm uốn phải thật sắc, thật sống động và có hồn. Những “Nghệ nhân miệt vườn” làm nghề này cho biết đến giờ hầu như chưa có sách vở, chưa có thầy dạy, chỉ là làm rồi rút kinh nghiệm, nghề lại dạy nghề. Ngoài bộ kiểng thú 12 con giáp ra, còn có một số tác phẩm khác như: Chai sâm banh, bộ cốc ly, bình hoa… hay dùng trong trang trí trước cổng ra vào rất đẹp mắt. Hằng năm, vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc được xem là “đỉnh điểm” của nghề cây cảnh và hoa kiểng. Nếu du khách đến xứ dừa vào mùa này, thì mới cảm nhận hết được cái “nhất” của vùng Chợ Lách. Nhất là dọc hai bên đường cây cảnh, hoa kiểng được trưng bày dày đặc và kết hợp với sự hối hả, tất bật của những ngày tết đến, tạo nên sự mê hoặc kỳ lạ, mà chỉ những ai đặt chân đến đây mới có thể cảm nhận hết được.

Hiện nay, nói đến Chợ Lách hay địa danh Cái Mơn (Vĩnh Thành), đã trở thành địa chỉ quen thuộc và trở thành nơi cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam và là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác. Đặc biệt, là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng, từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước và nhiều nước như: Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, …. Hiện tại, Chợ Lách có 17 làng nghề cây giống và hoa kiểng được công nhận, phần lớn đều tập trung tại xã Vĩnh Thành, một vài ấp ở xã Phú Sơn và Vĩnh Hòa. Các xã còn lại của Chợ Lách cũng có nhiều hộ sản xuất cây giống, hoa kiểng, vườn cây ăn trái thứ thiệt, chất lượng, đủ sức cho du khách đến tham quan khám phá.

* Làng nghề muối Bảo Thạnh – Ba Tri

Bến Tre có 65 km bờ biển, nằm ở 03 huyện: Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú. Vì thế mà làng nghề nông nghiệp, nông thôn ở đây cũng phát triển khá phong phú. Đến Bến Tre, du khách không thể bỏ qua làng nghề truyền thống sản xuất muối ở Bảo Thạnh, Ba Tri. Người ta thường gọi những người làm nghề này với tên gọi là “diêm dân”, bởi cái nghề này luôn “bán mặt cho đất và bán lưng cho trời”, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết. Làm nghề muối rất vất và chỉ làm được vào mùa khô, mùa mưa thì không làm được. Theo như nhiều người từng trụ lại lâu năm với nghề làm muối, thì xã Bảo Thạnh bắt đầu làm muối từ trước những năm 30 của thế kỷ XIX, đây là nghề cha truyền con nối từ đời này sang đời khác. Đối với nghề này không cần phải có vốn nhiều nhưng đòi hỏi phải có công lao động đông, cùng những công cụ thông thường như: ống lăn, bồ cào, trang…. Cách làm muối nhìn đơn giản nhưng chẳng dễ chút nào,  làm phải làm từng công đoạn như: Ban đầu phải đắp bờ, làm bằng phẳng nền ruộng như một cái khuôn, rồi phơi khuôn, lấy nước vào khuôn, chuyền nước qua lại các khuôn cho phù hợp, rồi rắc muối giống và sau cùng là thu hoạch.

 

Làng nghề làm muối

* Làng nghề cá khô An Thủy – Ba Tri

Làng nghề được nằm ven biển hình thành hơn nửa thế kỷ. Do đây là nghề thủ công bằng tay, nên hoạt động chủ yếu hiện nay đều tập trung vào hộ gia đình. Nghề cá khô phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên, ngày nắng gắt thì đạt năng suất cao, còn những ngày vào mùa mưa thì không thể làm được, mà nếu có làm thì phải sấy trong nhà. Địa chỉ Tiệm Tôm – xã An Thủy – Ba Tri có thể được xem là thánh địa của nghề này. Cứ mỗi chuyến đánh bắt về là người dân nơi đây bắt tay vào làm. Vì làm cá khô đòi hỏi cá phải còn tươi mới cho ra sản phẩm chất lượng và điều quan trọng là phải kịp con nắng trong ngày.

* Làng nghề chế biến cá khô Bình Thắng – Bình Đại

Làng cá Bình Thắng (Bình Đại) có từ trước năm 1950. Nghề đánh bắt cá xuất hiện đầu tiên ở xóm ghe Tư Thôn (nay thuộc ấp 3 của xã). Hiện nay, làng cá Bình Thắng không ngừng phát triển và tiến đến thiết lập nên thương hiệu. Nghề đánh bắt cá, chế biến thành cá khô ở đây ngày nay trở thành nghề truyền thống, tập trung ở các ấp: 2, 3, 4 và 5. Sản lượng tiêu thụ rộng trên thị trường ngoài tỉnh rất nhiều. Nghề chế biến cá khô ở Bình Thắng (Bình Đại) cũng giống như cách chế biến cá khô ở An Thủy. Bình Thắng còn là cái nôi, là trung tâm tổ chức Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm, không những của huyện Bình Đại mà còn là của tỉnh Bến Tre.

Đến với các làng nghề ở Bến Tre, du khách sẽ được trải mình và khám phá thêm những cái hay của chính vùng đất xứ dừa tạo nên, sẽ làm du khách không khỏi ngạc nhiên và hài lòng.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến tại huyện Ba TriCự ly các điểm đến tại huyện Ba Tri
Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa tại di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu - Ba Tri

- Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

- Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri: 36 km.

- Từ trung tâm huyện Ba Tri đến các điểm trên địa bàn huyện như sau:

  • Khu di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức (01 km);

  • Di tích nghệ thuật Đình Phú Lễ, xã Phú Lễ (04 km);

  • Di tích mộ Võ Trường Toản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi, xã Tân Xuân (12 km);

  • Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng, xã An Hiệp (03 km);

  • Miếu thờ cụ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh (08 km);

  • Khu mộ và đền thờ tiến sĩ Phan Thanh Giản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề đan đát Phước Tuy, xã Phước Tuy (06 km);

  • Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phú Lễ, xã Phú Lễ (sản xuất mây tre đan và sản xuất rượu nếp) (04km);

  • Làng nghề "Bánh phồng Phú Ngãi", xã Phú Ngãi (08 km);

  • Làng nghề "Muối Bảo Thạnh", xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề "Cá khô An Thủy", xã An Thủy (09 km);

  • Sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ (15 km);

  • Nhà thờ Cái Bông, xã An Phú Trung (03 km).

  • Các điểm đến trên, phương tiện xe 50 chỗ đến được. Riêng sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ đi được cả đường bộ và đường thủy.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945)Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945)

Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký kết hòa ước Nhâm Tuất (1874), giao trọn chủ quyền sáu tỉnh cho Pháp, thực dân Pháp bắt tay tổ chức ngay bộ máy cai trị ở Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng. Chúng lập ra phủ Thống đốc – cơ quan cai trị cao nhất ở Nam Kỳ – do thống đốc đứng đầu. Viên Thống đốc đô đốc (Governeur Amiral) đầu tiên ở Nam Kỳ là Victor Auguste Duperré. Tiếp đến, chúng phân chia toàn bộ Nam Kỳ Lục tỉnh thành 4 khu vực hành chính: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Ở dưới cấp khu vực có những tiểu khu trực thuộc. Tiểu khu Bến Tre nằm trong khu vực Vĩnh Long. Năm 1867, Nam Kỳ được chia thành 25 sở tham biện (inspection), cù lao An Hóa thuộc sở tham biện Kiến Hòa, cù lao Minh và cù lao Bảo lúc đầu nằm trong tham biện Bến Tre, sau đó lại chia làm hai: sở tham biện Mỏ Cày và sở tham biện Bến Tre. Đến ngày 7-6-1871, hai sở tham biện lại nhập thành một: sở tham biện Bến Tre. Cơ cấu hành chính này tồn tại mãi đến ngày 20-12-1899, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định chính thức đổi tên gọi tiểu khu thành tỉnh (province).

   Đứng đầu mỗi tỉnh là viên Chánh chủ tỉnh (Administrateur chef de province) do người Pháp trực tiếp giữ chức vụ này. Ở Bến Tre Chánh chủ tỉnh đầu tiên là Quesnel (1920), sau đó là Georges Rivoal (1926), Gaston Travernoy (1928), Fernad Caire (1929-1930) v.v...

   Đơn vị hành chính dưới tỉnh là quận, do chủ quận đứng đầu, dưới quận là tổng, có cai tổng đứng đầu. Đơn vị hành chính cơ sở là làng, và ở đây về cơ bản, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên hệ thống tổ chức cũ của nhà Nguyễn với một hội đồng kỳ hào gồm 11 đến 12 người (1). Bọn thống trị thực dân từ Paul Doumer đến Albert Sarraut đều muốn duy trì bộ máy xã thôn cũ, làm công cụ đàn áp và bóc lột nhân dân ta ở nông thôn. Chính Doumer đã từng nhấn mạnh: "Theo tôi, duy trì trọn vẹn thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kỹ, mà chúng ta thấy đó là một điều tốt. Theo cách tổ chức này, thì mỗi làng sẽ là một nước cộng hòa nhỏ bé, độc lập trong những giới hạn quyền lợi của địa phương. Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỷ luật và rất có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó - những cá nhân mà chính quyền cấp trên không cần biết tới - điều đó rất thuận lợi cho công việc của chính quyền" (2).

   Với dụng ý trên, ở Bến Tre, sau khi hoàn thành việc đánh chiếm, thực dân Pháp không ngừng củng cố và phát triển bộ máy hành chính xã thôn có sẵn thời Nguyễn. Năm 1867 về trước, tại cù lao Minh và cù lao Bảo chỉ có một phủ và bốn huyện (Tân Minh, Duy Minh, Bảo Hựu và Bảo An), nhưng đến năm 1929 thực dân Pháp đã chia ra làm 4 quận: Sóc Sãi (về sau, đổi tên thành quận Châu Thành), Ba Tri (ở cù lao Bảo) và Mỏ Cày, Thạnh Phú (ở cù lao Minh) gồm 20 tổng (10 tổng ở Bảo, 10 tổng ở Minh) với 94 làng ở Bảo, 41 làng ở Minh. Hệ thống tổ chức này không chỉ có giá trị về hành chính, an ninh mà còn có giá trị về kinh tế. Chúng lại đưa địa chủ vào nắm các chức vụ trong bộ máy cai trị đó như Phó Hoài, Phủ Kiểng, Hương Liêm, Cai Tâm, Cai Thì, Hội đồng Nhơn, Hội đồng Thạch v.v... thực hiện sự cấu kết giữa địa chủ phong kiến và thực dân trong việc khống chế và áp bức nhân dân lao động ở nông thôn.

   Đi đôi với việc thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp thi hành chính sách bóc lột, vơ vét tài nguyên và lao động của nước ta phục vụ cho sự phồn vinh của chính quốc Pháp.

   Để có một ngân sách chi tiêu vào công việc trong xứ, thực dân Pháp duy trì việc thu thuế đinh cùng thuế điền và mức thuế đã không ngừng tăng lên nhanh chóng. Kết quả là riêng ở Nam Kỳ, năm 1899 chúng mới thu được 4,7 triệu tiền thuế, đến năm 1907 con số đó lên đến 7 triệu đồng Đông Dương.

   Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp thi hành chính sách cướp đoạt ruộng đất của nông dân để nuôi béo bọn điền chủ Pháp. Sắc lệnh tháng 7-1888, và nhất là sắc lệnh 18-8-1896 của Toàn quyền cho phép bọn "colon" người Pháp được phép chiếm đoạt ruộng đất dưới hình thức nhượng với những điều kiện hết sức rộng rãi. Với sắc lệnh này, chính quyền thực dân có thể nhượng cho điền chủ người Pháp cả một vùng rộng lớn, bất kể trong đó ruộng đất thuộc của ai (trên thực tế, phần lớn thuộc sở hữu của nông dân khai phá). Thủ tục khai báo xin nhượng đất rất đơn giản. Muốn xin đất, bọn điền chủ Pháp chỉ cần khai báo diện tích, vị trí, giới mốc và trả tiền theo giá 1 đồng cho mỗi hécta và sau 5 năm mới phải nộp thuế.

   Chính sách cướp đoạt này đã đưa tới hậu quả là trong cả nước, tính đến năm 1913 bọn điền chủ Pháp đã chiếm tới 470.000 ha. Riêng ở Bến Tre, số ruộng đất rơi vào tay bọn điền chủ Pháp cũng rất lớn. Năm 1880, tên Pilet chiếm 200 ha ở Mỹ Chánh. Năm 1895, Pilet, Oudin và Blanc, mỗi tên chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1897, tên Brondeau chiếm 100 ha ở Thạnh Phú, tên Guyot chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1901, tên Giovansili chiếm 300 ha Giao Thạnh. Năm 1903, tên Mariani chiếm 185 ha ở Bình Khương. Năm 1905, tên Prédiani chiếm 718 ha ở An Nhơn. Năm 1922, Hội truyền giáo nước ngoài (Mission Étrangère) chiếm 53 ha ở Thạnh Phú...

   Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đi đôi với sự tăng cường đầu tư của tư bản Pháp vào nông nghiệp, thực dân Pháp còn ban hành chính sách mới, tạo điều kiện thuận lợi cho bọn điền chủ Pháp chiếm đoạt nhiều ruộng đất hơn nữa. Theo nghị định ngày 18-8-1926, bọn điền chủ Pháp có thể xin cấp đất không phải mất tiền và không phải nộp thuế về sản phẩm thu hoạch trên diện tích từ 300 ha trở lại. Còn từ 300 ha trở lên, chúng cũng chỉ phải nộp một số thuế bằng 2% giá trị sản phẩm thu hoạch.

   Sắc luật tháng 11-1928 của thực dân Pháp lại xóa bỏ mọi hạn chế về diện tích chiếm hữu và nới rộng quyền hạn cấp đất của các cấp chính quyền thuộc địa. Sắc luật ấy còn giành đặc quyền chiếm đoạt ruộng đất cho bọn điền chủ Pháp.

   Đến năm 1935, thực dân Pháp lại ban hành luật điền thổ mới giành nhiều quyền ưu tiên cho ngoại kiều - chủ yếu là người Pháp - về sự chiếm hữu ruộng đất. Kết quả là đến năm 1930, ở nước ta, bọn điền chủ Pháp đã chiếm được 850.000 ha, bằng một phần sáu diện tích đất trồng trọt.

   Riêng ở Bến Tre, đến những năm 1939 - 1940, đã có những điền chủ người Pháp, người Ấn và người Việt quốc tịch Pháp chiếm những diện tích đất đai lớn như:

   Ở Bình Đại có Baudson chiếm 825 ha vùng rừng đình Đầu Trâu, Raymond Gelet chiếm 77 ha đất trồng dừa. Ở khu vực Đê Đông, René Théophile Leroy chiếm 425 ha. Avémei Di Mesah (Ấn kiều) chiếm 44 ha ở xã Phú Long.

   Ở Giồng Trôm có Hamet Toussaint chiếm 30 ha thuộc khu vực ngã ba Giồng Trường lên đến trạm máy kéo Giồng Trôm hiện nay, Thérèse Phạm Túy Anh, Phạm Văn Chánh chiếm 176 ha vùng Hưng Nhượng - Sơn Đốc.

   Ở Thạnh Phú có Sounassoudiane Chetli (Ấn kiều) chiếm 31 ha vùng Rạch Sấu, Rạch Cừ, xã An Thạnh. Elisabeth Nguyễn Thị Quang chiếm 176 ha thuộc Mỹ Hưng, xã Quới Điền.

   Ở Châu Thành có Roger Nguyễn Võ Hiền chiếm 89 ha ở An Hiệp. Ngoài ra còn có Philippe Nguyễn Văn Phụng chiếm 56 ha ở Sơn Phú, Phú Hưng. Họ đạo Cái Bông (Giồng Tre) chiếm 130 ha vùng chung quanh nhà thờ.

   Đi đôi với việc tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho các điền chủ Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, thực dân Pháp cũng tỏ ra dễ dãi đối với số điền chủ người Việt bao chiếm ruộng đất, nhằm biến số này thành chỗ dựa xã hội cho sự thống trị của chúng. Ở Bến Tre, số này được thực dân Pháp nâng đỡ khuyến khích, tiến hành bao chiếm khai thác những mảnh đất rộng lớn ở vùng cuối của cù lao Minh và cù lao Bảo. Một trường hợp điển hình là khoảng năm 1930, cha con Huỳnh Ngọc Khiêm (tục danh Hương Liêm) được thực dân Pháp cho bao chiếm khai thác vùng đất từ Dinh Bà lên vàm Băng Cung, xã Quới Điền, dải phù sa ven biển Thạnh Phú.

   Chính sách ruộng đất nói trên của thực dân Pháp đã đưa tới sự hình chế độ sở hữu ruộng đất lớn và sự tăng trưởng nhanh chóng tầng lớp địa chủ, phú hào cả về số lượng lẫn quy mô chiếm hữu. Ở Bến Tre, năm 1867, toàn tỉnh có không đầy 20 đại điền chủ có từ 100 ha trở lên, mà đến năm 1929 đã có đến 44 điền chủ từ 100 đến 500 ha và 168 điền chủ có từ 50 đến 100 ha. Toàn bộ số điền chủ này chỉ chiếm 0,7% dân số trong tổng số 315.000 dân, mà đã chiếm gần 27.000 ha trong tổng số 158.000 ha ruộng đất toàn tỉnh, tức 17% diện tích ruộng đất.

   Trong khi đó, trong tổng số 315.000 dân, ngoài số 212 đại và trung điền chủ nói trên, chỉ còn có 38.009 người có ruộng đất, trong đó 34.243 người có từ 1 đến 10 ha, và 3.766 người có từ 11 đến 50 ha. Như vậy nếu tính gộp chung lại, thì trong tổng số 315.000 dân chỉ có 38.185 người có ruộng đất, tức 12%. Còn 88% còn lại , tức 276.815 người thì không có một tí ruộng đất nào (3).

   Điều này cho thấy chính sách cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp thâm độc đến mức nào.

   Điều cần nói thêm là bọn "colon" Pháp và số điền chủ người Việt đổ xô vào nông nghiệp, đua nhau cướp đoạt ruộng đất, nhưng cách khai thác vẫn theo phương thức phong kiến, nghĩa là phát canh thu tô, hoặc cho nông dân thuê bằng tiền. Do đó năng suất lúa trong thời gian này rất thấp, thấp nhất trong số các nước sản xuất lúa ở Đông Nam Á, chỉ 12,1 tạ trên một hecta. Riêng Bến Tre, tình trạng còn bi đát hơn là mặc dù diện tích canh tác mở rộng, nhưng sản lượng lúa nói chung của toàn tỉnh thì lại lên xuống rất thất thường, thậm chí có những năm bị giảm sút nghiêm trọng.

   Từ năm 1899 đến năm 1908, hằng năm thực dân Pháp xuất khẩu khoảng 820.000 tấn gạo, đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, con số này nhảy vọt lên tới 1.763.587 tấn, chiếm từ 60 - 70% tổng giá trị xuất khẩu trong thời gian này. Số lúa xuất khẩu ấy chủ yếu vơ vét từ nông thôn chứ không phải do các đồn điền thực dân cung cấp. Ở Nam Kỳ có đến hàng chục công ty xuất khẩu gạo hoạt động. Những công ty này có một mạng lưới trung gian người Việt, nhất là người Hoa, tung về khắp nông thôn vơ vét lúa gạo. Không những thế, để có đủ gạo xuất cảng, các công ty xuất khẩu gạo được chính quyền thực dân giúp đỡ, đã dùng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ số lúa quá ít ỏi của họ. Nông dân do đó bị kiệt sức, không có khả năng để cải tiến kỹ thuật canh tác.

   Như vậy là chính sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp đã đẩy nông nghiệp Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng vào tình trạng hết sức tiêu điều. Về tình cảnh của những người bần cố nông, tá điền ở Nam Kỳ thời kỳ thuộc Pháp, đồng chí Lê Duẩn có nhận xét: "Tình hình đời sống của tá điền khổ hơn nông nô. Bọn địa chủ cột chặt đời sống của tá điền vào ruộng đất không phải hằng tháng, mà suốt đời, từ đời cha đến đời con, bằng cách chồng chất lên đầu tá điền hàng trăm thứ nợ... Trong những năm thuộc Pháp - Nhật có những người con gái tá điền 15, 16 tuổi không có áo che thân, có người phải tự tử, có gia đình cả vợ chồng, con cái chỉ có một cái quần" (4). Tá điền ở Bến Tre cũng không thoát khỏi tình trạng chung đó.

   Trên lĩnh vực công nghiệp - nhìn trong phạm vi cả nước - dưới thời thực dân, hầu hết các hầm mỏ, công trường, xí nghiệp đều do Nhà nước, hoặc bọn tư sản Pháp nắm, mà hướng phát triển thì đã được xác định khá rõ ngay từ đầu: “... Nếu có mở mang công nghiệp ở đây (tức là Việt Nam) thì chỉ giới hạn trong phạm vi là nền công nghiệp đó không làm hại đến công nghiệp chính quốc" (5). Bị khống chế trong một giới hạn như vậy, cho nên nền công nghiệp ở Việt Nam nói chung rất nhỏ bé và què quặt.

   Bến Tre vốn là một tỉnh nông nghiệp, lại đứng trước một chính sách hạn chế phát triển công nghiệp như vậy, nên cơ sở công nghiệp rất nhỏ bé và còi cọc. Hơn 80 năm thống trị, bọn thực dân Pháp không đầu tư vào đây một cơ sở công nghiệp nào có giá trị, kể cả việc chế biến sản phẩm nổi tiếng ở đây là dừa. Có điều là để bảo đảm có gạo xuất khẩu, một số tên thực dân và điền chủ lớn đã xây dựng ở đây hàng loạt nhà máy xay, năm 1921, có 17 cái, năm 1929, tăng 32 cái và năm 1930, lên đến 45 cái, nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ.

   Ngoài số nhà máy xay xát ra, các cơ sở công nghiệp khác coi như không đáng kể. Toàn tỉnh chỉ có một trạm phát điện diésel, chủ yếu phục vụ cho việc thắp sáng ở tỉnh lỵ Bến Tre, 3 lò gạch, 12 trại cưa, một nhà máy rượu với công suất 435.000 lít/năm. Hầu hết các cơ sở sản xuất này nằm trong tay các nhà kinh doanh Hoa kiều.

   Về mặt giao thông, phải thừa nhận rằng dưới thời thực dân Pháp, đường bộ ở Bến Tre mới được mở mang một bước quan trọng. Công việc này được bắt đầu xúc tiến từ năm 1880 với dự án của kỹ sư công chánh Pháp Thévenet. Tất nhiên những công trình cầu đường này được xây dựng trước hết không phải vì mục tiêu kinh tế - xã hội, mà vì nhu cầu bình định, nhằm bảo đảm cho lực lượng xe cơ giới của bộ máy quân sự và an ninh Pháp có thể cơ động đối phó kịp thời với các cuộc nổi dậy của dân chúng, cũng như cho những cuộc tuần tra trong tỉnh. Cùng với con đường liên tỉnh từ Mỹ Tho đi Trà Vinh, qua thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày dài 54km, một hệ thống đường rải đá, đường đất nối liền các trung tâm kinh tế, dân cư trên 3 dải cù lao cũng được xây dựng.

   Ngoài ra, vừa để đáp ứng nhu cầu giao thông, vừa để phục vụ việc dẫn nước tưới tiêu, rửa phèn, rất cần cho việc đẩy mạnh khai thác nông nghiệp, từ năm 1872, thực dân Pháp đã cho vét và đào thêm một số con kênh. Trong đó có mấy con kênh quan trọng như: kênh Tân Hương dài 5km (kênh này đã có sẵn, người Pháp chỉ nạo vét và mở rộng ra), giúp cho sự thông thương từ sông Hàm Luông qua sông Cổ Chiên; kênh Mỏ Cày - Cái Quao dài 7km, bắt đầu từ rạch Cái Quao đổ ra sông Hàm Luông, có tác dụng mở rộng sự giao lưu nội địa; kênh Chẹt Sậy nối liền rạch Bến Tre với sông Ba Lai dài 5,900km; kênh Cái Bông - Mỹ Chánh, dài 4,700km, dùng để thoát nước cho vùng đất thấp sình lầy thuộc tổng Bảo Thuận, khu vực Ba Mỹ; kênh Ba Tri, dài 11km, có tác dụng làm thoát nước cho một cánh đồng lớn lầy thụt, nhờ đó mà sau khi đào xong, các làng ở dọc theo kênh như Phước Tuy, Phú Ngãi, Bảo Thạnh và Đồng Xuân trồng trọt được tốt, đồng thời còn giúp cho việc đi lại bằng ghe thuyền từ sông Ba Lai đến sông Hàm Luông, tránh được đường vòng vừa xa, vừa nguy hiểm; kênh Bưng Cát, dài 2,300km, là đường thủy từ Bến Tre sang Trà Vinh; kênh Giồng Trôm nối liền Giồng Trôm với rạch Bến Tre có tác dụng mở ra một vùng đất rộng cho việc trồng trọt; kênh Mỏ Cày - Thom, dài 15,100km nối liền sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên, tạo thành một con đường vận chuyển hành khách và hàng hóa đi Mỹ Tho và Trà Vinh xuyên qua thị xã Bến Tre và Mỏ Cày v.v...

   Tất cả những con kênh nói trên tuy về khách quan có tác dụng mở rộng lưu thông nội địa và phát triển nông nghiệp, nhưng động cơ chính của việc đào kênh của thực dân Pháp là nhằm lợi ích trước tiên vơ vét thật nhiều lúa gạo và nông sản cho xuất khẩu.

   Như vậy, dưới thời thực dân Pháp, tỉnh Bến Tre cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ thực sự trở thành nơi cung cấp lúa gạo cho xuất khẩu nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách thuộc địa. Kẻ phải gánh chịu trước nhất và nặng nhất những hậu quả do chính sách đó gây ra là người nông dân. Ruộng đất của họ cứ mất dần vào tay bọn điền chủ Pháp và Việt. Họ lại phải đóng không biết bao thứ thuế. Nếu đem chia số thuế thực dân Pháp thu được ở cả ba kỳ cho số dân, thì mỗi người dân một năm phải đóng 3,2đ tiền thuế, tức 8 francs, tương đương với 1,6 tạ gạo loại I (giá một tạ gạo loại I lúc đó trên dưới 5 francs).

   Hơn nữa quá trình tập trung ruộng đất ở Nam Kỳ đã làm cho tuyệt đại bộ phận nông dân ở đây không có ruộng, mà hầu hết cũng không có nghề thủ công tự túc trong gia đình, do đó chúng chuyển sức lao động của nông dân từ chỗ dùng vào sản xuất ra sản phẩm tự nuôi mình (tự cung, tự cấp) sang chỗ sản xuất ra hàng hóa. Nghĩa là, đời sống của tất cả nông dân đều phải dính chặt với địa chủ và tư sản thương nghiệp. Do đó, người nông dân ở đây bị ba loại độc quyền bóc lột: địa chủ, tư sản thương nghiệp và bọn cho vay.

   Phá sản, phải đi bán sức lao động bằng đủ mọi cách, hoặc phải tha phương cầu thực là con đường khó tránh khỏi của người nông dân Bến Tre, cũng như nông dân ở nhiều nơi khác. Có người ở lại nông thôn làm mướn cho bọn địa chủ, một số bỏ làng đi làm công trong các đồn điền trồng cây công nghiệp, chủ yếu là đồn điền cao su của Pháp ở các tỉnh miền Đông; số khác lên Sài Gòn - Chợ Lớn kiếm sống bằng những nghề phụ như cắt tóc, làm phu hồ, kéo xe, hoặc đi làm bồi bếp, con sen, vú em, sống cuộc đời tôi tớ, bấp bênh. Một số khác vì không chịu nổi ách áp bức, bóc lột đứng lên chống lại bọn địa chủ, lý dịch thì bị bắt bớ, tù đày, hoặc phải trốn lánh đi nơi khác.

   Ở Bến Tre vào những thập niên đầu thế kỷ XX, do sự ra đời của một số nhà máy xay xát gạo của các điền chủ lớn, một số lò gạch, xưởng dệt vải, xưởng dệt chiếu của số ít tư sản, nên bên cạnh nông dân đông đảo, cũng xuất hiện một số lượng công nhân ít ỏi. Tầng lớp mới này cũng chịu sự bóc lột hà khắc nên số phận của họ cũng không hơn gì cuộc đời nông dân gắn với ruộng đồng trước đây.

   Ngoài ra, ở thị xã còn xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản thành thị, bao gồm những tiểu thương vốn liếng nhỏ, làm ăn bấp bênh, những viên chức nhỏ của bộ máy chính quyền thực dân, những cai ký trong các nhà máy, hãng buôn. Tuy cuộc sống buôn bán, hoặc làm công ăn lương của họ có phần dễ chịu hơn so với nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị, song do giá sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ (chỉ tính từ năm 1897 đến năm 1907, giá sinh hoạt đã tăng gấp 3 lần), đời sống của họ cũng quá eo hẹp, chật vật.

   Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, ở Bến Tre cũng như nhiều địa phương khác của Nam Kỳ, còn xuất hiện một số trí thức nho học mới bên cạnh sĩ phu đã tỏ ra chán nản, bi quan, bế tắc trước thời cuộc. Họ là những trí thức, mà sau những thất bại của phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, vẫn giữ vững lòng ưu ái với đồng bào, vẫn thường xuyên có ý thức chăm sóc tinh thần lớp con em mình, và trước tình hình con đường cứu nước của các bậc cha anh đã tỏ ra vô vọng, họ luôn nung nấu tâm can, tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn.

   Nhìn chung, sự thống trị của thực dân Pháp đã gây nên những biến đổi kinh tế và xã hội lớn trên đất nước ta nói chung, ở Bến Tre nói riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất của chính sách cai trị đó đã làm cho nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, công nhân lâm vào cảnh đói rách thường xuyên, đời sống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn bị đe dọa, trong khi đó mọi quyền tự do của nhân dân đều bị tước đoạt, bóp nghẹt.

   Sự áp bức gay gắt về chính trị và bóc lột tàn bạo về kinh tế của thực dân Pháp và phong kiến tay sai tất yếu đưa đến sự căm phẫn của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, nhất là nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân ta (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt. Đó là cơ sở, là tiền đề cho một phong trào dân tộc, dân chủ mà mục tiêu là "độc lập dân tộc" và "người cày có ruộng" có điều kiện nảy nở và phát triển. Trong cuộc đấu tranh chung này, nhân dân Bến Tre đã có những đóng góp rất xứng đáng, làm sáng thêm truyền thống hào hùng của quê hương.

Đã ban hành
Cồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịchCồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịch
Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Đến cồn Ốc - Hưng Phong, du khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng. Vì vậy, cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông,… cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ. Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Tôi đến cồn Ốc - Hưng Phong đã nhiều lần, nhưng vẫn bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả. Mỗi khi có dịp về Bến Tre, tôi lại về thăm cồn Ốc như một nỗi nhớ quê hương da diết đến khó tả. Phải chăng, đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu, người làm công tác du lịch chọn nơi đây làm điểm du lịch xanh, là nơi trải nghiệm cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, các lữ hành du lịch nên khảo sát để tạo sản phẩm dịch vụ du lịch riêng cho mình, các nhà đầu tư du lịch sinh thái nên chọn cồn Ốc để đầu tư du lịch sinh thái sông nước miệt vườn trên vùng đất cù lao.

 

Một góc Cồn Ốc

Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Mẹ Kế tiêu biểu cho ý chí chiến đấu, kiên cường của quân và dân Bến Tre, đã để lại trong lòng người dân cồn Ốc - Hưng Phong và Bến Tranh - Phước Long sự cảm mến và tình yêu thương bất tận, bởi nơi đây là nơi mẹ sống và lớn lên cùng bà con Hưng Phong.

Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắn rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan xứ cồn Ốc này.

Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa. Hệ thống giao thông trong xã đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với Hưng Phong. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.

 

Nghề đan giỏ cọng dừa

Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.

Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cuộc thảm sát 129 người dân vô tội của Mỹ - Ngụy ở ấp Sùng Tân, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và các ấp Hưng Nhơn, Thanh Điền, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Chợ LáchCuộc thảm sát 129 người dân vô tội của Mỹ - Ngụy ở ấp Sùng Tân, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và các ấp Hưng Nhơn, Thanh Điền, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Chợ Lách
Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 đến chợ Ba Vát (khoảng 8km), tiếp tục đi thẳng khoảng 1km đến ngã ba Cây Trâm, rẽ trái khoảng 2km là đến di tích.

Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 đến chợ Ba Vát (khoảng 8km), tiếp tục đi thẳng khoảng 1km đến ngã ba Cây Trâm, rẽ trái khoảng 2km là đến di tích.

Thảm sát lần 1.

Vào khoảng 14 giờ chiều ngày 22/01/1969, dưới sự chỉ huy của tên Quận trưởng Đôn Nhơn - Lý Xuân Thu, cùng với bọn bảo an quận, kết hợp với lực lượng sư đoàn 7, trung đoàn l0, chia thành hai cánh quân, tiến hành càn quét vào ấp Hưng Nhơn, xã Hưng Khánh Trung (nay là xã Hưng Khánh Trung A). Cánh thứ nhất từ chi khu Đôn Nhơn đổ bộ lên xã Tân Thanh Tây, kéo đến ấp Sùng Tân sau đó nghi trang rút quân đánh lạc hướng ta, cánh thứ hai đổ thẳng lên ấp Tân Hưng nhưng mũi tấn công chính là ấp Hưng Nhơn. Cuộc thảm sát kéo dài 4 ngày (từ ngày 22 - 25/01/1969), làm 68 người dân vô tội bị giết trong đó có 3 người mất tích, 10 người bị thương, 11 người bị bắt.

Thảm sát lần 2.

Vào ngày 15/7/1969, được sự chỉ huy của tên Quận trưởng Đôn Nhơn - Lý Xuân Thu, chúng sử dụng lực lượng Bảo an quận, kết hợp với bọn lính của tiểu khu Kiến Hòa (Bến Tre) để dọn đường cho chúng đổ quân càn quét, tạo thành hai mũi tấn công vào ấp Thanh Điền. Cuộc thảm sát kéo dài 3 tiếng đồng hồ làm 29 người chết, 15 người bị thương và 13 người bị bắt.

Thảm sát lần 3.

Vào năm 1973, ấp Sùng Tân, xã Hưng Khánh Trung (nay là xã Tân Thanh Tây), Mỹ- Ngụy cho đây là vùng chứa chấp Việt cộng để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng nên chúng dùng bom pháo hủy diệt hàng trăm ha vườn dừa, cây ăn trái, nhà cửa, làm chết 32 người.

Để ghi lại sự kiện đau thương này, UBND tỉnh Bến Tre công nhận sự kiện này là di tích cấp tỉnh thuộc loại hình lịch sử cách mạng vào ngày 20 tháng 4 năm 2001 bằng Quyết định số 1698/QĐ-UB.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Lê Văn Đệ (1906 - 1966)Lê Văn Đệ (1906 - 1966)
&nbsp;

Image
Lê Văn Đệ (1906-1966)
    Trong lịch sữ mỹ thuật Việt Nam, Lê Văn Đệ được nhắc đến như một nghệ sĩ bậc thầy, tiêu biểu cho xu hướng cổ điển và tân cổ điển Việt Nam. Sinh trong một gia đình nhà nho ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thân sinh là Lê Quang Hòe, cai tổng Minh Đạt, hàm Tri huyện. Ông là con thứ 10 trong số 13 anh chị em. Lúc nhỏ, học ở trường tiểu học ở quê nhà, sau lên học ở Trường Tabert, Sài Gòn. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, ông đã được bạn bè ngợi ca về tài vẽ nhanh và đẹp. Năm 1925, sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội. Cùng với Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê An Phan… ông trúng tuyển trong số 10 người, trong tổng số 400 thí sinh dự thi. Trong những năm theo học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường và đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp.

   Năm 1931, ông được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris, dưới sự hướng dẫn của giáo sư J.Pierre Laurence vẽ tranh sơn dầu. Trong những năm học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông đã gây được sự chú ý trong giới nghệ thuật tại thủ đô ánh sáng này và ông đã đoạt giải thưởng hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức. Với thành tích rực rỡ này, ông được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp thêm về hội họa tại Ý và Hy Lạp.

   Năm 1933, tranh ông được chọn triển lãm tại phòng số 1 - một gian phòng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ 5.000 họa sĩ các nước. Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy giờ đã đề cập đến tác phẩm của ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển lãm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa Pháp đã chọn mua ngay một bức tranh Trong gia đình của ông để treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

   Năm 1936, tại một cuộc triển lãm tranh do tổ chức báo chí Công giáo bảo trợ tại Roma, có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới, trong số đó có nhà danh họa Bouleau (Pháp), tác phẩm của Lê Văn Đệ được tặng giải nhất. Do đó, ông được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công trình do ông chỉ đạo thực hiện đã được báo chí Ý và nhiều nước đánh giá cao.

   Năm 1938, ông trở về nước, vừa sáng tác vừa tiếp tục nghiên cứu hội họa dân tộc và các nền hội họa phương Đông. Bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của ông là một tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ. Công lao lớn nhất của Lê Văn Đệ là đã sáng lập ra Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, làm cho việc giảng dạy và đào tạo cán bộ mỹ thuật ở miền Nam được nâng cao và phong phú hơn. Năm 1954, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định thành lập, ông được cử làm Giám đốc đầu tiên của trường. Tác phẩm của ông thiên về khuynh hướng cổ điển và tân cổ điển, mặc dù ông nắm khá chắc kỹ thuật và có kiến thức uyên bác về khuynh hướng mỹ thuật hiện đại của châu Âu.

   Ông say mê nghiên cứu thủ ấn họa của Nhật Bản và các trường phái hội họa nguyên thủy châu Âu, nhưng sở trường nhất của ông vẫn là tranh lụa, tranh sơn dầu và bích họa. Trong kỹ thuật tranh lụa, ông đã có những tìm tòi độc đáo như dùng màu sắc thiên nhiên thay thế cho màu hóa học, để làm tăng thêm chất hiện thực và vẻ mềm mại của loại tranh này.

   Đánh giá về ông, giới họa sĩ cho rằng hai cố họa sĩ đàn anh xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đem lại vinh dự cho Việt Nam là hai ông Lê Văn Đệ và Nguyễn Gia Trí.

   Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại các bảo tàng một số nước châu Âu như: bức Trong gia đình (sơn dầu), 1934 - Viện Bảo tàng Luxemburg ở Paris, bức Đức Mẹ và bức Bà Thánh Madeleine dưới chân thập giá - Viện Bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican, bức Mẹ và con - Viện Bảo tàng Mỹ thuật Aix La Chapelle…

   Là một người bình dị, thích cái đẹp thôn dã, giàu lòng vị tha, ngoài chức vụ Giám đốc Trường Mỹ thuật, ông Đệ lúc sinh thời còn là Phó hội trưởng Hội hoa kiểng Việt Nam - một ngành có liên quan nhiều đến mỹ thuật như kiểng bonsai, hòn non bộ và vườn cảnh. Ông từ trần ngày 16-3-1966 tại Sài Gòn.

Đã ban hành
Sông Hàm LuôngSông Hàm Luông
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Chính vì thế, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh, góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

 Hệ thống sông Hàm Luông

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

K. Xáng

Ranh giới xã Sơn Định và thị trấn Chợ Lách, nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên

7,5 km

R. Lách

Từ thị trấn Chợ Lách đến xã Long Thới (H. Chợ Lách)

7,0 km

R. Sóc Sãi

Từ xã Tân Phú đến xã Tiên Thủy (H. Châu Thành)

10,0 km

R. Vĩnh Thành

Từ xã Vĩnh Thành qua xã Phú Sơn thông với rạch Cái Mơn (H. Chợ Lách)

10,0 km

R. Cái Mơn

Ranh giới giữa xã Vĩnh Thành và xã Tân Thiềng (H. Chợ Lách)

9,0 km

S. Cái Cấm

Ranh giới của 3 xã Thanh Tân, Thạnh Ngãi và Tân Thành Bình (H. Mỏ Cày)

11,0 km

S. Bến Tre

Từ xã Tân Hào (H. Giồng Trôm) qua xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre)

20,0 km

R. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã Tân Thành Bình và xã Định Thủy

6,5 km

R. Cái Sơn

Từ xã Sơn Phú đến xã Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

7,5 km

R. Giồng Keo

Từ xã Thành An đến xã Hòa Lộc nối với R. Mỏ Cày

5,5 km

R. Thủ Cửu

Từ xã Long Mỹ đến xã Phước Long (H. Giồng Trôm)

6,0 km

K. Giồng Trôm

Từ thị trấn Giồng Trôm, đến xã Lương Hòa, nối với R. Ông Hương

8,0 km

R. Tài Phú

Ranh giới của 3 xã Thuận Điền, Lương Phú, Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

6,0 km

R. Cái Mít

Từ xã Hưng Lễ đến xã Thạnh Phú Đông (H. Giồng Trôm), thông với K. Tắc

7,0 km

R. Tân Hương

Từ xã Hương Mỹ đến xã Minh Đức (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Hương Điểm

Từ xã Tân Lợi Thạnh đến xã Hưng Nhượng (H. Giồng Trôm) đào năm 1885

5,0 km

R. Sơn Đốc

Từ xã Hưng Nhượng đến xã Hưng Lễ (H. Giồng Trôm), nối với K. Miễu Ông và K. Tắc

5,0 km

R. Giồng Luông

Từ xã Tân Phú đến xã Phú Khánh (H. Thạnh Phú)

6,0 km

R. Băng Cung

Từ xã Mỹ Hưng đến xã Giao Thạnh (H. Thạnh Phú) 2 đầu gặp sông Hàm Luông

21,0 km

R. Cái Bông

Từ xã Mỹ Chánh đến xã An Hiệp (H. Ba Tri)

13,0 km

R. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã An Đức, thông ra sông Hàm Luông

8,0 km

K. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã Phú Ngãi, thông với K. Đồng Xuân

6,5 km

R. Bà Hiền

Từ xã Tân Thủy đến xã An Hòa Tây (H. Ba Tri)

8,0 km

Chú thích

(1)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

 
Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Trải nghiệm văn hóa - lịch sử vùng đất Ba TriTrải nghiệm văn hóa - lịch sử vùng đất Ba Tri
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.

Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.

Đến xứ dừa Bến Tre, men theo tỉnh lộ 885 bằng đường bộ qua huyện Giồng Trôm, rồi đến huyện Ba Tri để khám phá, trải nghiệm bề dày văn hóa – lịch sử của vùng đất này. Ba Tri không có nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng là địa phương có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, môi trường sinh thái rừng và hàng chục kilômét bờ biển, trong đó có gần 20 km bãi biển.

Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri chỉ 36 km, du khách đến Ba Tri gắn với các ngày lễ, hội, nghỉ hè, về nguồn, ngày tết là tuyệt nhất. Trên đường đến Ba Tri và ngược lại du khách có thể dừng chân tham quan làng nghề truyền thống nổi tiếng của đất cù lao xứ dừa đó là: “Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh và “Bánh phồng Sơn Đốc” ở xã Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm).

 

Di tích mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu

Đến Ba Tri viếng thăm "Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu" tại xã An Đức, cách trung tâm thị trấn Ba Tri 02 km, đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 27/4/1990. Di tích được xây dựng với tổng diện tích 13.000 m2 và hàng năm vào ngày 01/7 dương lịch cũng là ngày lễ Kỷ niệm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đây cũng là ngày được chọn làm “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh Bến Tre 01/7” hàng năm, nhằm tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đã đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho nước. Đến Ba Tri vào ngày hội du khách sẽ hòa mình và tận hưởng với các hoạt động đặc sắc như: Liên hoan đờn ca tài tử; liên hoan hóa trang Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga; nói thơ Lục Vân Tiên; biểu diễn trống hội; biểu diễn võ thuật truyền thống; liên hoan ẩm thực, mâm cơm ngày giỗ; các trò chơi dân gian: đẩy gậy, kéo co truyền thống, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay,... được tổ chức hàng năm từ ngày 30/6 - 02/7 tại Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Riêng năm 2012, là năm kỷ niệm 190 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (01/7/1822 - 01/7/2012), cũng là “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh 01/7” lần thứ 20. Ngoài những hoạt động truyền thống văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí hàng năm, năm nay còn có trưng bày mô hình sa bàn Nguyễn Đình Chiểu dạy học và một số điển tích khác; hội chợ đưa hàng Việt về nông thôn và nhiều hoạt động hội quần chúng khác.

 

Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ

Ngoài khám phá trải nghiệm những sự kiện nhân dịp lễ, hội ở Ba Tri, du khách còn tham quan tìm hiểu "Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ" tại xã Phú Lễ, cách thị trấn Ba Tri khoảng 04 km. Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình thì niên đại xây đình vào năm 1826 - Minh Mạng thứ đời thứ 7, trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm 1851 (Tự Đức thứ 5). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá. Cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng. Hàng năm, hội cúng đình (còn gọi là Lễ kỳ yên), Lễ tế thu, Lễ cầu bông tổ chức vào rằm tháng 3 âl. Đến Phú Lễ du khách còn khám phá làng nghề TTCN Phú Lễ (gồm đan đát, nấu rượu), trong đó có nghề nấu rượu đế đã tồn tại rất lâu đời. Rượu đế Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng. Ở Đồng bằng sông Cửu Long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh).

Từ thị trấn Ba Tri đi tiếp bằng đường bộ khoảng 18 km, du khách đến xã Bảo Thạnh tham quan "Di tích Mộ Võ Trường Toản". Người đời xưng tụng Võ Trường Toản là "Vạn thế sư biểu” và cũng chưa ai xác định rõ ông sinh trưởng ở đâu, có người nói ông là người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Võ Trường Toản là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ, ông không đi thi để làm quan, từ chối tham chính và mọi điều ban phát. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học. Ông đã đào tạo nhiều học trò nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm…. Ông mất ngày 27/7/1792, sau khi ông mất chúa Nguyễn Ánh cảm thương ban tặng cho ông hiệu "Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh" (tức bậc xử sĩ họ Võ người Gia Định sùng về đức độ). Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy dạy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt của ông về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Khu mộ của ông, bà và con gái được xây dựng theo dạng vôi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong hai tầng để thờ ông và làm nơi tưởng niệm cho khách thập phương. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích ngày 24/01/1998.

Bảo Thạnh còn là quê hương của cụ Phan Thanh Giản vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ. Nói về cụ Phan Thanh Giản mọi người ai cũng biết ông vốn thông minh, hiếu học, năm 1825 lúc đó ông 30 tuổi đã thi đậu cử nhân trong cuộc thi Hương tại trường thi Gia Định. Năm 1826, ông đỗ đệ tam giáp (đồng tiến sĩ) cuộc thi Hội ở kinh đô Huế và bắt đầu cuộc đời làm quan, là một đại thần của triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông mất ngày 04/8/1867, mộ và đền thờ của cụ Phan Thanh Giản được xây dựng trên đất quê nhà Bảo Thạnh.

Tiếp tục khám phá vùng đất Ba Tri, du khách đến tham quan “Di tích địa điểm Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi” tại xã Tân Xuân, cách thị trấn Ba Tri khoảng 16 km. Nơi đây vào cuối tháng 4/1930, chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung, gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội trước đó. Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5 tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự. Tại đây, sau ngày giải phóng (30/4/1975), Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này. Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin nhận Di tích cấp Quốc gia vào 07/5/1997.

Điều mà du khách đến Ba Tri cũng sẽ rất thú vị, ấn tượng, khi được khám phá sinh thái tự nhiên “Tràm chim Vàm Hồ” ở xã Tân Mỹ, cách thị trấn Ba Tri 18 km. Nếu từ thành phố Bến Tre theo đường bộ khoảng 54 km và đi bằng đường sông hướng ra biển mất khoảng 03 giờ. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc và âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác, kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như: cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chằng nghịch, bìm bịp, chằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt … và những hệ sinh thái thực vật tự nhiên rất lạ mắt. Hiện tại nơi đây chỉ mới được đầu tư¬ cho du lịch, nên môi trường hoàn toàn còn hoang sơ. Nếu đến Tràm chim Vàm Hồ bằng đường sông, sẽ thú vị hơn và có thể ngắm được chim về đậu trắng cả bìa rừng phía sông.

Ngoài những điểm đến khá tiêu biểu, nhiều người biết đến Ba Tri còn có những điểm hẹn khác để du khách lựa chọn khám phá trải nghiệm như: Khu lưu niệm đốc binh Phan Ngọc Tòng xã An Hiệp; miếu thờ và mộ cụ Tán Kế (Lê Quang Quan) ở xã Mỹ Thạnh. Hay làng nghề bánh phồng Phú Ngãi, làng nghề muối Bảo Thạnh, làng nghề cá khô An Thủy, biển phù sa Cồn Hố .... Về ẩm thực du khách sẽ thỏa sức thưởng thức các món hải sản biển và nhất là du khách sẽ khó quên khi thưởng thức món cá lóc đồng nướng mở hành ăn với bánh tráng cuốn rau sống, chấm nước nắm chua ngọt. Hay các món ăn dân dã, đồng quê đậm chất Nam Bộ mà khi nhâm nhi với danh tửu Phú Lễ thì hết sẩy vô cùng.

 

Khu lưu niệm đốc binh Phan Ngọc Tòng

 

Làng nghề đan đát

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer