Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
 
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
Bến Tre đã hoàn tất mọi công việc cho ngày bầu cửBến Tre đã hoàn tất mọi công việc cho ngày bầu cử

<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng và hết sức sâu sắc trong đời sống chính trị của nhân dân, là
nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và toàn quân, toàn
dân trong việc lựa chọn những đại biểu có đủ đức, đủ tài bầu vào cơ quan quyền
lực cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span>
</div>

Image
Ông Huỳnh Văn Be - Chủ tịch Ủy ban bầu cử
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng và hết sức sâu sắc trong đời sống chính trị của nhân dân, là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và toàn quân, toàn dân trong việc lựa chọn những đại biểu có đủ đức, đủ tài bầu vào cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ góp phần to lớn vào quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời thông qua Quốc hội để phát huy năng lực, trí tuệ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng.

Đối với tỉnh ta, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII được Ủy ban bầu cử tỉnh tổ chức thực hiện qua các bước theo luật định. Đến thời điểm hiện nay, Bến Tre đã hoàn tất mọi công việc sẵn sàng cho ngày bầu cử Quốc hội khoá XII diễn ra ngày 20-5-2007.

Để đảm bảo việc tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII đạt được kết quả tốt nhất, đồng chí Huỳnh Văn Be, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh cho biết từ nay đến ngày bầu cử 20-5-2007, các ngành, các cấp và đông đảo cử tri cần tập trung thực hiện một số công việc cụ thể. Đó là, Ủy ban bầu cử tỉnh lãnh đạo tổ chức việc vận động bầu cử tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức cho các ứng cử viên Đại biểu Quốc hội gặp gỡ tiếp xúc cử tri tại các đơn vị bầu cử trong tỉnh (từ ngày 3-5-2007 đến 16-5-2007) trình bày chương trình hành động của mình nếu được trúng cử Đại biểu Quốc hội. Thông qua việc vận động bầu cử, cử tri sẽ hiểu thêm về phẩm chất, năng lực thực sự của người ứng cử, làm cơ sở để cử tri quyết định bầu người xứng đáng vào Quốc hội. Dự kiến, đơn vị bầu cử số 01 sẽ tổ chức 16 điểm; đơn vị bầu cử số 02 tổ chức 14 điểm; đơn vị bầu cử số 03 sẽ tổ chức 17 điểm.

Những công việc tiếp theo bao gồm việc tổ chức Hội nghị tập huấn về nghiệp vụ của Tổ bầu cử, nghiệp vụ tổng hợp kết quả bầu cử cho các thành viên của Tiểu ban phục vụ của Ủy ban bầu cử, thành viên của các Ban bầu cử và các cán bộ trưng tập của các Ban bầu cử làm nhiệm vụ tổng hợp cho các Ban bầu cử.

Về công tác tuyên truyền, cổ động, Ủy ban bầu cử sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngành tỉnh, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền cả chiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa cuộc bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, quyền và nghĩa vụ của người ứng cử, quyền và nghĩa vụ của cử tri, các quy định về trình tự bầu cử. Trên các trục đường chính phải treo nhiều băng rôn, cụm panô tuyên truyền về bầu cử, nhằm động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bầu cử với khí thế của một ngày hội lớn. Song song đó là việc tổ chức học tập tiểu sử ứng cử viên, cơ cấu của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre.

Đối với cử tri do làm ăn xa không có điều kiện học tập trung sẽ có biện pháp tăng cường vận động riêng. Kế nữa là việc kiểm tra và đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ bầu cử tại Tổ bầu cử; tất cả công tác chuẩn bị phải hoàn thành trong ngày 19-5-2007.

Bên cạnh các biện pháp phòng chống các tình huống xấu do thiên tai gây ra, đảm bảo cuộc bầu cử được tiến hành theo đúng kế hoạch, thì việc triển khai và thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự trong ngày bầu cử là rất quan trọng. Để bảo đảm an ninh tuyệt đối, tỉnh ta đã đề ra phương án hướng dẫn quần chúng đề cao cảnh giác trước những hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử.

Từ ngày 18-5-2007, Ủy ban bầu cử, các Ban bầu cử sẽ phân công các thành viên bám địa bàn được phân công để kiểm tra, hướng dẫn các công việc bầu cử. Sau ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử sẽ lãnh đạo thực hiện tốt công tác tổng hợp, xác định kết quả bầu cử và tổng kết cuộc bầu cử đảm bảo đúng luật, khách quan, chính xác để kịp thời báo cáo danh sách những người trúng cử về Hội đồng bầu cử theo quy định của pháp luật.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội lần này được tổ chức vào thời điểm cả nước đang nỗ lực đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đoàn kết quyết tâm hiện thực hoá mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đã ban hành
Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)
&nbsp;

Image
Quản Trọng Hoàng (1904-1942)
Sinh năm 1907 trong một gia đình nông dân ở làng An Định, quận Mỏ Cày, nay là xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học ở trường tiểu học tỉnh, rồi sang học trung học ở Collège Mỹ Tho. Sớm tiếp nhận các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, như phong trào để tang chí sĩ Phan Châu Trinh (4-4-1926); phong trào đòi thả tự do cho nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (4-1926). Năm 1927, thoát ly hoạt động cách mạng. Năm 1929, Quản Trọng Hoàng tham gia vào VNTNCMĐCH, rồi gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, đến đầu năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD, hoạt động ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (9-1930), thực dân Pháp tiến hành những cuộc khủng bố trắng, nhiều đảng viên ĐCS bị bắt, bị đày đi Lao Bảo, Côn Lôn. Trước tình hình đó ở Nam Kỳ, một số đảng viên tìm về vùng U Minh nương náu để tránh bị sự khủng bố của địch. Quản Trọng Hoàng cùng nằm trong số đó. Lúc đầu, ông về vùng Giá Rai (tỉnh Bạc Liêu) nhen nhóm, xây dựng cơ sở tại đây, nhưng rồi có nguy cơ bị lộ, nên phải chuyển về hoạt động ở làng Vĩnh Thuận, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Giữa năm 1932, ông cùng với Quản Trọng Linh, Trần Mão, Hà Thị Lan thành lập chi bộ đầu tiên ở vùng này, rồi mở rộng mối quan hệ với tổ chức ĐCS ở các địa phương khác.

   Năm 1938, khi Liên tỉnh ủy miền Tây thành lập, Quản Trọng Hoàng được cử làm Phó bí thư, đến năm 1937, được cử làm Bí thư Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

   Tháng 7-1940, trong cuộc họp của đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ tại một địa điểm của tỉnh Mỹ Tho, Quản Trọng Hoàng được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa ở tỉnh Cần Thơ.

   Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, khắp các tỉnh thành ở trong xứ, nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi, kẻ thù đã nắm được kế hoạch khởi nghĩa, nên các cuộc nổi dậy của quần chúng bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cùng nhiều đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có Quản Trọng Hoàng. Trải qua nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn giữ tròn khí tiết của người cộng sản kiên cường. Trong những ngày bị giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn, trong một bức thư gửi cho người yêu, cũng là một nữ đồng chí, Quản Trọng Hoàng khẳng định rõ lý tưởng của mình:

…Thù quân đế quốc – thù vô tận

Giận lũ tham tàn bất nhân

Nhắn bạn chung tình nên gắng sức

Bền gan rửa sạch nợ non sông.

   Đầu tháng 1-1942, tòa án thực dân Pháp ở Sài Gòn xử án các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa, Quản Trọng Hoàng bị kết án tử hình, số tù 105GAM. Trong khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn chờ ngày hành quyết, ông cũng đã cùng một số tù nhân khác tổ chức vượt ngục nhưng không thành. Ngày 22-7-1942, ông bị xử bắn ở Hóc Môn cùng với 9 đồng chí khác.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Du lịch lễ hội xứ dừaDu lịch lễ hội xứ dừa
“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.

Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông… Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Hội đình Phú Lễ

Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

 

Món ăn đạt giải trong "Liên hoan ẩm thực"

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Cái MơnCái Mơn
&nbsp;

Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong). Ngày xưa, nơi con rạch này có nhiều tổ ong mật. Cái Mơn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, nay là một thị tứ sầm uất của huyện Chợ Lách, có nhà thờ Thiên Chúa lâu đời. Cái Mơn cũng là nơi nổi tiếng sản xuất cây kiểng và các loại cây giống ăn trái của đồng bằng sông Cửu Long.

Cái Mơn nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sương Nguyệt AnhSương Nguyệt Anh
&nbsp;

    Sương Nguyệt Anh, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (cũng có tài liệu viết là Nguyễn Thị Xuân Khuê), sinh ngày 1 tháng 2 năm Giáp Tí (1864) tại An Bình Đông (nay là xã An Đức, huyện Ba Tri), là con thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Kế thừa tiết tháo của người cha, Ngọc Khuê đã sớm bộc lộ cả tài năng lẫn nhân cách.

   Năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu từ trần, lúc ấy Ngọc Khuê 25 tuổi, đang ở với người anh thứ ba là Nguyễn Đình Chúc, tham gia dạy học trò cùng anh. Có một viên tri phủ cậy mối hỏi, nhưng Ngọc Khuê không ưng. Về sau cùng gia đình anh, chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho), rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, Ngọc Khuê kết duyên cùng với một phó tổng sở tại góa vợ tên là Nguyễn Công Tính và sinh được một người con gái đặt tên là Vinh (cô này về sau lấy ông Mai Lương Ngọc sinh ra bà Mai Huỳnh Hoa). Khi con được hai tuổi, thì ông Tính mất. Bà ở vậy nuôi con và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Ít lâu sau, bà lên Sài Gòn, làm thơ, viết báo đăng trên tờ Nữ giới chung (Tiếng chuông của nữ giới do ông Trần Văn Chim làm chủ bút. Một thời gian sau, bà thay ông Chim làm chủ bút một tờ báo tại thành phố lớn. Do đó, ở Bến Tre có câu ca:

Đem chuông lên đánh Sài Gòn

Để cho nữ giới biết con ông Đồ.

   Trong khi đang làm báo ở Sài Gòn, bà bị đau mắt, phải về nhà của người em thứ bảy là Nguyễn Đình Chiêm ở Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri) để chạy chữa, nhưng bệnh tình không giảm. Bà mất tại đây ngày 20-1-1921. Mộ bà lúc đầu chôn ở Mỹ Nhơn, về sau được đồng bào dời về bên cạnh mộ của hai cụ thân sinh bà tại làng An Đức, Ba Tri, nằm trong khu mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

   Sinh ra giữa lúc tiếng súng xâm lăng của Pháp bắt đầu nổ trên quê hương, Nguyễn Thị Ngọc Khuê từng chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân và bộ mặt thật của kẻ thù dân tộc. Bản thân gia đình Nguyễn Đình Chiểu cũng cùng chung số phận ấy. Do đó, thơ của Sương Nguyệt Anh, bên cạnh tính chất trang nghiêm, nho nhã vẫn hàm chứa nỗi niềm thiết tha, ưu tư sâu lắng đối với dân với nước. Ba câu cuối bài thơ tám câu Hội Minh Lang nói lên phần nào niềm thao thức đó của bà:

"Xét phận thần dân chốn lửa than

Nước mắt cô cùng trời đất biết

Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương"

   Bên cạnh sự đoan trang, nền nếp, bà vẫn có một tác phong giao du phóng khoáng, có quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp xã hội. Thời con gái cũng như khi đã có chồng con, hay lúc góa bụa, bà vẫn giữ cung cách giao tiếp tự nhiên, cùng đàm luận, họa thơ với những người bạn nam giới như các ông Trần Khải Sơ, Hồ Bá Nguyên, Phủ Học, thầy Bảy Nguyện, và khi cần vẫn biết chối từ lời cầu hôn của kẻ quyền quý để giữ trọn ý nguyện của mình.

   Là một người thông Nho, giỏi thơ văn, bà đã làm nhiêu bài bát cú để vịnh cảnh và những bài thơ họa vận với bạn bè, trong đó có những bài vịnh như: Vịnh bạch mai, Tặng sư cô, Hội Minh Lang, Thay lời vợ thầy thuốc, Đoan ngọ nhật điếu Khuyất Nguyên, Tức sự, Tặng biệt ông Trần Khải Sơ, Họa bài ông Hồ Bá Xuyên hay chánh bái Liễu, Họa bài ông Phủ Học, Họa bài thầy Bảy Nguyên. Các cụ già ở Ba Tri còn kể rằng bà có dịch quyển tiểu thuyết Trung Hoa Yên Sơn ngoại sử sang thể lục bát, nhưng nay đã tuyệt bản.

   Kế thừa truyền thống gia đình, bà thích làm thơ chữ Nôm hơn là làm thơ chữ Hán. Thơ Sương Nguyệt Anh không đặc sắc, nhưng lời lẽ thanh thoát, dung dị. Tên tuổi của bà được nhắc nhiêu trên văn đàn công khai ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX. Tên bà được đặt cho một con đường ở quận 1, rợp mát bóng cây dầu và một ngôi trường ở quận 10 (TP. Hồ Chí Minh).

Đã ban hành
Cầu Cá LócCầu Cá Lóc

<br />

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua rạch Cá Lóc (rạch này ngày xưa có rất nhiều cá lóc) trên đường tỉnh 885 từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Trần Văn An (1905 – 1971)Trần Văn An (1905 – 1971)
&nbsp;

Image
Trần Văn An (1905-1971)
Sinh trong một gia đình nhà nho ở làng Tân Xuân, huyện Ba Tri, Trần Văn An khi lớn lên vừa theo học chữ Hán, vừa học cả nghề thuốc của cha.

   Tư chất thông minh lại ham học, nên ngoài vốn liếng hiểu biết từ sách vở và từ kinh nghiệm của người cha truyền lại, Trần Văn An còn tìm cách mua thêm sách báo từ Sài Gòn về tự học, tự tra cứu. Đến tuổi trưởng thành, có dịp đi đây đi đó chữa bệnh cho nhiều người, ông lại có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúx với nhiều đối tượng xã hội khác, trao đổi với họ về tình nhình đất nước, về thời cuộc, chuyền tay nhau đọc những sách báo yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ.

   Năm 1927, ông cùng với một số bạn hữu gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH ở xã Tân Xuân. Tiệm thuốc bắc Chẩn Tế Đông đại dược phòng của cha ông được làm nơi hội họp, liên lạc.

   Đầu năm 1930, khi ĐCSĐD ra đời, đồng chí Nguyễn Văn Trí, trong ban cán sự Tỉnh uỷ Mỹ Tho đến Ba Tri, cùng bàn với Trần Văn An thành lập chi bộ Tân Xuân, do Trần Văn An làm Bí thư. Đây là chi bộ ĐCS đầu tiên của tỉnh Bến Tre.

   Ngày 1-5-1930, để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, các đồng chí ở chi bộ Tân Xuân đã treo cờ búa liềm trên ngọn cây đa đôi ở đầu xã và tổ chức một cuộc biểu tình gần 200 quần chúng tham gia. Trần Văn An đã đứng ra hô hào đồng bào đấu tranh chống lại bọn cường hào đòi giảm sưu, giảm thuế cho nông dân. Sau cuộc biểu tình này, bọn tay sai đánh hơi thấy có hoạt động của ĐCS ở địa phương, nên ra sức truy lùng. Trần Văn An phải tạm lánh qua vùng Châu Bình, Ba Mỹ để tiếp tục hoạt động.

   Tháng 6-1930, Trần Văn An được bầu vào Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Khi địch đánh phá, cơ sở Đảng ở Bến Tre tan rã, ông lên Sài Gòn, đến tháng 10-1932 thì bị địch bắt và bị giam ở Khám Lớn đến năm 1935. Ra từ, Trần Văn An trở về Bến Tre tiếp tục hoạt động, gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền, đã có chủ trương nới rộng một số chính sách cai trị ở các thuộc địa như ân xá tù chính trị, giải quyết một số quyền lợi cho người lao động. Lợi dụng tình hình chính trị thuận lợi, ĐCS chủ trương chuyển một số hoạt động bí mật sang hình thức công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội. Trần Văn An cùng một số đồng chí khác như Bùi Lương, Nguyễn Văn Bích thành lập chi cục Đông Phương thư xã tại thị xã Bến Tre và tại các tỉnh Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Năm 1939, thực dân Pháp mở đợt khủng bố mới, Trần Văn An bị sa lưới mật thám và bị kết án khổ sai 20 năm, đày ra Côn Đảo.

   Sau ngày CMT8-1945, cùng nhiều tù nhân khác ở Côn Đảo được rước về đất liền. Về lại Bến Tre, bắt tay ngay vào việc xây dựng phong trào và chuẩn bị thực lực để kháng chiến.

   Tháng 10-1947, được bầu làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, sang năm được bầu vào Tỉnh ủy, trực tiếp phụ trách báo Đoàn kết. Năm 1951, được điều về công tác ở miền Tây cho đến Hiệp định Genève (7-1954) mới trở lại Bến Tre.

   Trong thời kỳ địch mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng khốc liệt trên đất Bến Tre, Tỉnh uỷ chủ trương đưa số già yếu, bị lộ, không còn điều kiện hoạt động hợp pháp tạm thời đi “điều lắng” ở Sài Gòn. Đến tháng 11-1965, theo yêu cầu của Tỉnh Bến Tre, ông trở về tỉnh công tác. Năm 1965, vì tuổi già sức yếu, lại phát bệnh tim và bại liệt. Tỉnh ủy quyết định đưa ông về điều trị và điều dưỡng ở bệnh xá dân y của tỉnh. Trong những năm 1965 – 1967, cường độ chiến tranh ngày càng khốc liệt. Địch ra sức tiến hành "bình định cấp tốc" làm cho ta mất đất, mất dân nghiêm trọng. Các cơ quan dân, chính, Đảng, kể cả cơ sở hậu cần, bệnh viện phải chuyển về rừng ngập mặn ở Thạnh Phú. Trong một trận càn của địch vào xã Thạnh Phong, chúng đã bắn chết ông ngày 16-4-1971.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Thị DuyênTrần Thị Duyên
&nbsp;

Image
Trần Thị Duyên
Sinh năm 1905, trong một gia đình đông con ở xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, sau khi học hết lớp nhất bậc tiểu học, cô gái Trần Thị Duyên lấy chồng về xã Lương Hòa (1921), chị dâu của Nguyễn Thị Định. Bà có tất cả 10 người con, cả trai và gái. Quê hương của bà là nơi phong trào yêu nước phát triển tương đối mạnh và liên tục qua các thời kỳ, do đó gia đình bà có điều kiện thuận lợi để tiếp nhận ảnh hưởng tốt ấy. Nhà bà là cơ sở, trạm trú chân, nơi ăn ở của cán bộ, bộ đội đi về thường xuyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

   Sau hiệp định Genève 1954, trong chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” do Ngô Đình Diệm phát động, người con trai của bà là Nguyễn Văn Duy (Năm Di), Huyện ủy viên huyện Giồng Trôm, bị chúng bắt và đưa về bắn ngay tại xã, nhằm dằn mặt và uy hiếp tinh thần dân chúng.

   Sau Đồng Khởi (1960), hai người con gái thứ hai và thứ tám của bà cũng bị địch bắt giam. Người con thứ sáu và người con gái thứ bảy hoạt động bị lộ, nên cấp trên phải điều đi nơi khác. Năm 1962, bà bị địch bắt, tra khảo, nhốt ở hầm tối cả tháng trời, buộc bà phải đi tìm các con đi hoạt động cách mạng trở về. Bà trả lời: "Hồi chúng còn nhỏ, tôi nuôi dạy tụi nó, lớn lên đủ lông đủ cánh, chúng chọn con đường nào phải chúng đi là tùy chúng, tôi biết đâu mà kiếm!". Khi địch thả ra, mắt bà bị lòa, một thời gian sau mới trở lại bình thường.

   Trong những năm giặc Mỹ dùng phi pháo và chất độc hóa học đánh phá có tính chất hủy diệt vùng Giồng Trôm, bà là hội trưởng hội phụ nữ xã. Bà đã cùng người con dâu thứ sáu bám trụ lại trên mảnh đất bị bom đạn cày xới, dựng chòi bên gốc dừa để ở, nuôi giấu, giúp đỡ cán bộ và đội du kích xã, giữ vững đường dây giao liên của tỉnh trong những năm chiến tranh ác liệt.

   Trong trận Bàu Bàng, người con trai thứ mười của bà, Nguyễn Văn Triệu, hy sinh. Tiếp đến, đứa cháu ngoại chết trong trận phục kích của địch ở cầu Bà Mụ, thị xã Bến Tre, còn người con gái thứ bảy thì bị thương nặng ở huyện Châu Thành trong một trận càn của địch.

   Tháng 4-1970, giặc Mỹ ném bom vào ngôi nhà bà, giết chết một lúc 7 người thân: chồng, người con dâu và 5 đứa cháu nội. Năm 1972, người con rể của bà hy sinh. Năm 1973, người con gái thứ hai, Nguyễn Thị Bình bị địch phục kích bắn chết trên đường đi dự hội nghị. Một đứa cháu ngoại khác vào bộ đội, Nguyễn Thị Phi, cũng đã ngã xuống ở chiến trường miền Tây Nam Bộ. Chỉ trong vòng mấy năm liền, mười hai cái tang dồn dập xảy đến, nhưng bà không hề tỏ ra bi quan, dao động. Gạt thầm nước mắt, cố gắng ghìm lại nỗi đau trong lòng, má Duyên vẫn ngày ngày tỏ ra vui vẻ, chăm sóc, giúp đỡ du kích, cán bộ qua lại và động viên con cháu tiếp tục lên đường làm nhiệm vụ cứu nước. Riêng nhà bà bị bom địch phá hủy, phải cất đi, cất lại đến 5 lần. Một hôm, bọn biệt kích bắt bà chèo xuồng chở chúng từ xã Lương Hòa sang xã Lương Quới – nơi có đội du kích đang trú ngụ - bà đã khôn khéo dùng tín hiệu riêng báo cho du kích biết và kịp bố trí tiêu diệt được 5 tên địch.

   Gia đình bà (kể cả con dâu, rể, cháu nội, cháu ngoại) có tất cả 21 đảng viên, nhiều người đã ngã xuống trong cuộc chống Mỹ cứu nước, trong đó có 5 con là liệt sĩ (3 con ruột và 2 người con rể).

   Niềm vui lớn nhất của bà trong những năm tháng chiến tranh là âm thầm, cặm cụi làm nhiệm vụ của một người mẹ, người bà hằng ngày đón tiếp, nuôi giấu, giúp đỡ bộ đội, du kích, chăm sóc thương binh với khả năng của mình, đồng thời động viên con cháu làm trọn nghĩa vụ đối với Tổ quốc.

   Bà thường tâm sự: đất nước nay đã hòa bình, thống nhất, các con, cháu tôi nhiều đứa hy sinh trong chiến tranh, những đứa còn lại đều trưởng thành và giữ tròn phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Giờ đây, tôi có thể yên lòng mà nhắm mắt.

   Năm 1981, má Trần Thị Duyên được cử ra thủ đô Hà Nội dự hội nghị đại biểu các “Bà mẹ ưu tú" toàn quốc. Bà Trần Thị Duyên và người con gái của bà là Nguyễn Thị Bình được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Khám phá đất biển Bình ĐạiVề xứ dừa - Khám phá đất biển Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Vì là huyện vùng biển, người dân Bình Đại sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản. Gắn liền với nghề này ở Bình Đại có nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Hay một nghề không thể không kể đến và có truyền thống lâu đời, có những nét độc đáo riêng như: nghề đánh cá mòi, câu kiều, lưới sỉ, lưới cào. Một nghề có tính chất riêng biệt của vùng biển Bình Đại nữa là nghề đáy sông cầu, nghề này ở Bình Đại có rất sớm và phát triển mạnh, rồi lan sang cửa biển ở Ba Tri và Trà Vinh. Đáy sông cầu được cắm thành hàng ngang giữa dòng nước chảy xiết nhưng không có những hàng rào chắn ngược dòng như đáy rạo.

Ngoài nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản, người dân Bình Đại còn nghề làm vườn, làm ruộng, làm muối, chế biến những sản phẩm của biển, nghề trồng giồng. Bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận là những đặc sản có tiếng trong vùng…. Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là đặc sản “dưa hấu Cửa Đại”, từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này và được ca ngợi:

“Tư bề Thừa Đức nội thôn

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”.

 

Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến, nhưng trên đường đến biển Thừa Đức, du khách ghé thăm di tích lịch sử cấp tỉnh Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát, tọa lạc tại xã Châu Hưng. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 03 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thếp vàng.

Năm 1905, nhân dân làng Tân Hưng thống nhất đóng góp sức người, sức của xây dựng ngôi đình làng này và phong ông Huỳnh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh của làng, đưa vào thờ trong đình. Vì vào khoảng đầu thế kỷ 19, vùng Bình Đại đã có cư dân đông đúc, làng mạc đã rải rác nhiều nơi, nhưng một số nơi vẫn là vùng đất hoang vu đầy thú dữ, ông Huỳnh Văn Thiệu đã đứng ra tập hợp cư dân ngoài thân tộc để khai phá đất đai và chống thú dữ, ông được người dân mến mộ, theo ông rất nhiều. Ông từ chối ra làm việc làng, mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định nổi lên chống Pháp.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 – 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng, nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Cạnh Đình Tân Hưng là đền thờ của cụ Huỳnh Tấn Phát, là cháu cố của Ông Huỳnh Văn Thiệu. Người ta biết đến kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát như một trí thức yêu nước lớn, một nhà hoạt động chính trị suốt đời theo đuổi lý tưởng cách mạng, gắn liền hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1933, ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Đông Dương, để có tiền ăn học ông tham gia giảng dạy ở Trường Thăng Long - Hà Nội, viết báo La Lutte (Tranh Đấu), báo Le Travail (Lao Động) ở Bắc Kỳ. Ông cũng là điển hình của thế hệ “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” vào tháng 8/1945.

Nhiều sáng tác và thiết kế dự án của ông như: Đồ án thiết kế Nhà văn hoá dự kiến xây dựng ở Khám Lớn - Sài Gòn đoạt giải nhì (không có giải nhất). Những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, ông đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng nhiều phòng họp, hội trường, nơi ăn chốn ở phục vụ cho các đại biểu về dự các hội nghị tại vùng căn cứ cách mạng. Đặc biệt, là hội trường cho Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, hội trường đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam lần thứ nhất ở R (Lò Gò) đều bằng tre gỗ nứa lá, nhưng đã khéo xử lý rừng cây tán lá rậm rạp để có hội trường rộng rãi khang trang đẹp đẽ.

Sau ngày Miền Nam được giải phóng, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, ông đã trực tiếp góp ý đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội và các công trình như: Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Trung ương, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh…. Ông còn tham gia các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh, Lạng Sơn,… và là đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Thành Thế trong sơ phác tìm ý cho Nhà hát Hoà Bình - Quận 10 - Tp Hồ Chí Minh.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu vào Đại biểu Quốc hội các khoá 1, 2, 3, 6, 7, 8. Nhà nước đã thưởng ông nhiều Huân, huy chương. Năm 1996, cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vinh dự được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I). Ông mất vào cuối tháng 10/1995.

 

Vùng đất huyện Bình Đại còn có công trình cống đập Ba Lai tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới. Cống đập Ba Lai là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Công trình với mục đích tưới tiêu, giữ ngọt, ngăn mặn cho khoảng 90.000ha đất nông nghiệp, hệ thống này sẽ phân rõ vùng mặn, vùng ngọt và sẽ thuận lợi bố trí sản xuất ở vùng mặn (nuôi thuỷ sản), vùng ngọt sẽ đưa sản xuất lúa từ 2 vụ lên 3 vụ, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế vườn. Cũng tại địa điểm này có thể tham quan trại nuôi cá sấu, heo rừng và mô hình nuôi cá lóc bông ven sông Ba Lai.

Lễ hội nghinh Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bình Đại - Bến Tre. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống. Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại được tổ chức vào ngày 16/6 âm lịch. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội. Vào lễ, các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo cùng với hương hoa Lễ hội nghinh ông ở xã Bình Thắng tuy ra đời muộn màng hơn so với các địa phương khác trong tỉnh, nhưng lễ hội không chỉ thể hiện đầy đủ tính vốn có của lễ hội dân gian, mà còn phản ánh sinh động cả nội dung và hình thức của nghề hạ bạc trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

 

Nhưng có lẽ đến Bình Đại, khám phá bãi biển phù sa Thừa Đức là thích thú nhất. Bởi bãi biển nơi đây còn hoang sơ, với bãi cát mịn trải dài ra biển, cặp theo bãi biển là những hàng dương xanh, tạo ra phong cảnh khá đẹp, cùng với không khí thoải mái, thoáng mát. Dọc theo bãi biển là các dãy nhà lá được cất nối dài, người ta mắc những chiếc võng để du khách nằm nghỉ ngơi đong đưa, thư giãn, hít thở gió biển, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào hòa vào cùng tiếng vi vu của những rặng phi lao, tạo nên một thanh âm đặc sắc, bay bổng, nhẹ nhàng, thoải mái vô cùng. Tại bãi biển phù sa Thừa Đức, sau khi tắm biển phù sa, du khách có thể thỏa thích chọn lựa thưởng thức các món đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo nhất là món bánh xèo xứ biển. Chiếc bánh xèo ở đây được chiên lớn, giòn, mùi thơm béo ngậy. Ngồi bên mâm bánh xèo phong phú các loại rau ăn kèm, với nước chấm tỏi ớt chua, ngọt có pha những sợi rối trắng, đỏ được chế biến từ củ cải trắng, đỏ hấp dẫn vô cùng. Hay mùi thơm tỏa ra từ những chiếc bánh xèo đang chiên, chưa ăn mà cảm thấy ngon hết sẩy. Những năm gần đây, bánh xèo tại bãi biển Thừa Đức gần như đã trở thành “thương hiệu” và hầu như ai đến nơi đây ít, nhiều cũng một lần thưởng thức món bánh xèo xứ biển.

Thưởng thức xong món bánh xèo hay các món đặc sản biển, du khách có thể tiếp tục ngã lưng trên những cánh võng được mắc trong các dãy nhà nối dài. Hay du khách tự mắc võng dưới hàng dương xanh mát, để tận hưởng không khí trong lành của biển phù sa trên đất xứ dừa. Tuy là bãi biển phù sa, nhưng nơi dây vào các dịp lễ hàng ngàn du khách từ các nơi đổ về để vui chơi, tắm biển đông nghẹt. Bãi biển đã được xây dựng bờ kè bê tông, tương lai nơi đây sẽ tạo ra không gian sinh thái xứ biển lý tưởng, thích hợp nghỉ ngơi, an dưỡng, nhất là cho người cao tuổi.

Đường đến Bình Đại hai bên đường du khách ngắm nhìn cảnh thiên nhiên, sẽ mãn nhãn với những cánh đồng lúa xanh mơn mởn hay chín vàng, xen lẫn với những hàng dừa xanh thẳng lối và những liếp, những mô dừa xanh đang vươn mình bên đồng ruộng lúa. Du khách sẽ bắt gặp mô hình nuôi tôm công nghiệp tại các xã ven hai bên đường…. Ngoài các sản phẩm về biển thông thường như: cá, tôm, cua, mực, nghêu…; vùng này còn có rừng ngập mặn, có nhiều cây chà là mọc, nên cũng có lắm đuông chà là. Đây là sản vật thiên nhiên rất độc đáo, người dân nơi đây đã khai thác, chế biến làm nhiều món nhâm nhi trong các quán. Hay ở đây, còn có đặc sản con rươi dùng để làm nước nắm rất đặc biệt.

Bình Đại chưa có nhiều điểm đến du lịch, nhưng trung tâm thị trấn Bình Đại lại có nhiều cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi hơn so với các huyện khác của tỉnh Bến Tre. Có thể nói cơ sở lưu trú ở đây không thua gì các khách sạn tại thành phố Bến Tre. Vì thế, du khách có thể chọn nghỉ qua đêm tại vùng đất biển yên ả này, thưởng thức đặc sản biển thỏa thích, cũng như mua sắm quà lưu niệm nhân chuyến hành trình khám phá đất biển trên ba dãy cù lao xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Những cột mốc của quá trình Đồng KhởiNhững cột mốc của quá trình Đồng Khởi
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1)

Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo Iực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" (2).

   Nghị quyết 15 của TƯĐCS đã đánh dấu một mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.

   Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kiềm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.

   Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

   - Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.

   - Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).

   Ngày 22-2-1960, Mỹ, Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang cách mạng, hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.

   - Ngày 27-2-1960, hàng ngàn dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, mùng mền "tản cư" vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

   - Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.

   Sau khi chỉ đạo cuộc Đồng Khởi thắng lợi ở Mỏ Cày, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.

Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn quét phải rút về vị trí cũ.
Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
Cao trào Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở địch.
Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi đợt II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác của tỉnh.
   Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc Đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20-12-1960.

(1)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1980.
(2)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd.
Đã ban hành
Mỏ CàyMỏ Cày
&nbsp;

 Sông Mỏ Cày

Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.

Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.

Cầu Mỏ Cày

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.

 Huyện Mỏ Cày

Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.

Huyện Mỏ Cày có diện tích tự nhiên 35.196ha, bắc giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung con sông Cổ Chiên, tây giáp huyện Chợ Lách, đông và nam giáp huyện Thạnh Phú.

Sau này 30-4-1975, theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị Mỏ Cày có 28 xã và 1 thị trấn.

Mỏ Cày

Sở tham biện, lập ngày 4-12-1867, gồm vùng đất cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Thị trấn Mỏ Cày

Thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Một nhánh của sông Hàm Luông chảy đến làng Đa Phước Hội thì chia làm 3 ngã: một nhánh nối với kinh Thom, một nhánh là rạch Cầu Ông Bồng, một nhánh là rạch Mỏ Cày. Nơi giáp 3 ngã sông rạch này tạo nên một doi đất hình mỏ cày (mỏm cày). Năm 1867, Mỏ Cày là lỵ sở của sở tham biện Mỏ Cày (gồm toàn bộ cù lao Minh), sau tháng 8-1945 đến 1975 là quận lỵ Mỏ Cày, sau ngày giải phóng (30-4-1975) là thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của cù lao Minh và cũng là huyện lỵ đông dân nhất tỉnh.

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
An HóaAn Hóa

<br />

An Hóa (thường gọi cù lao An Hóa)

Cù lao nằm giữa sông Ba Lai, cho đến khi có nghị định của Toàn quyền Paul Doumer đổi sở tham biện (inspection) thành tỉnh (province) ngày 1-1-1900, vẫn thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm 2 tổng Hòa Quới và Hòa Thinh.

Năm 1948, cù lao An Hóa được cắt ra khỏi tỉnh Mỹ Tho, sáp nhập vào tỉnh Bến Tre theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ.

Sau hiệp định Geneve (7-1954) chính quyền Sài Gòn tách cù lao An Hóa ra khỏi tỉnh Bến Tre, nhập lại Mỹ Tho, cho đến năm 1956, khi thành lập tỉnh Kiến Hòa mới nhập cù lao An Hóa về lại tỉnh Kiến Hòa (đổi tên tỉnh Bến Tre)

Tỉnh Bến Tre ngày nay gồm 3 cù lao: An Hóa, Minh và Bảo.

An Hóa (còn gọi kênh Giao Hòa)

Kênh nối sông Mỹ Tho với sông Ba Lai (dài 3,5 km), kết hợp cùng với kênh Chẹt Sậy, nối sông Ba Lai với sông Bến Tre, tạo nên con đường thuỷ quan trọng xuyên qua cù lao An Hóa và cù lao Bảo, nối hai sông Mỹ Tho (sông Tiền).

An Hóa

Cầu bê-tông cốt thép bắc qua sông An Hóa trên đường thị xã Bến Tre đi Bình Đại, xây dựng năm 1999, dài 281,4m, rộng 8m, gồm 11 nhịp, khoảng thông thuyền 7m, rộng 30m. Đây là cầu dài nhất Tỉnh Bến Tre trong thế kỷ XX.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Mỹ LồngMỹ Lồng
&nbsp;

Còn gọi Mỹ Luông

Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.

 Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.

  Bến Tre nhiều gái chưa chồng
  Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem.
 
                                                    (Ca dao)
Đã ban hành
Rạch Cái QuaoRạch Cái Quao

<br />

Cái: từ cổ là con rạch. Quao là loài cây mọc ven bờ sông, bờ rạch, trái ra từng chùm, dài từ 20 -30cm, hình cong và nhọn ở đầu giống như chiếc sừng trâu. Dưới thời Minh Mạng (1820 -1840). Cái Quao là huyện lỵ của huyện Duy Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Cái Quao cũng là một tụ điểm dân cư được khai phá và hình thành tương đối sớm ở cù lao Minh. Cái Quao nay thuộc xã An Định, huyện Mỏ Cày.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cải lươngCải lương
&nbsp;

Image
Đến năm 1922, ở Bến Tre mới có gánh cải lương ra đời đúng với cái tên của nó. Không ít người cho rằng ca ra bộ là cải lương. Ý đó e không chính xác, vì từ ca ra bộ đến cải lương đòi hỏi một bước trưởng thành khá công phu về mặt kịch bản và diễn xuất, chưa nói đến âm nhạc và trang trí. Nói rằng ca ra bộ là tiền thân của cải lương có lẽ đúng hơn. Đoàn ca ra bộ đầu tiên của Bến tre là của hội đồng Hoàng, ở Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) ra đời khoảng năm 1917-1918. Nghệ thuật của đoàn này phát triển cao vào cuối năm 1920. Nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) có một thời gian ngắn đi diễn ở đoàn này, đóng vai Lâm Sanh trong vở Lâm Sanh – Xuân Nương(1).

Sau đoàn của hội đồng Hoàng, đoàn ca ra bộ thứ hai của Bến tre ra đời năm 1920, lấy tên Tân Đồng Minh(2) của ông Cao Tấn Quyến. Ông Quyến người làng Tân Thanh, rất hâm mộ nhạc tài tử. Ông giỏi chữ Nho và nhạc lễ. Trong đoàn của ông, người ca, nam thì mặc áo dài, bịt khăn đóng, nữ mặc áo dài trắng, đen, hoặc màu, bới tóc thật khéo. Nội dung ca ra bộ của đoàn ông Quyến được trích lớp từ các truyện Tàu rất phổ biến ở Nam Kỳ lúc bấy giờ như Trang Tử cổ bồng do Tư Ngưu (chợ Mỹ Lồng) diễn, hoặc Dự Nhượng đả long bào do Ba Mạch (cầu Nhà Thương, thị xã) đóng, vừa ca bài Kim tiền (Huế) vừa ra bộ trông khá hùng dũng. Những người nữ đầu tiên của Bến Tre tham gia đoàn này có cô Năm Ca (vì hay ca, chứ không phải tên thật) và cô Tư Thu. Hai cô này thường đóng vai Nguyệt Nga.

Nếu hát bội không có đoàn nào diễn tuồng theo tác phẩm Lục Vân tiên, thì ngược lại ca ra bộ trích diễn nhiều lớp của tác phẩm này như: Vân Tiên đả Phong Lai, Nguyệt Nga thầm nhớ Vân Tiên, Bùi Kiệm thi rớt trở về, Bùi Kiệm ve vãn Nguyệt Nga, Nguyệt Nga cống Hồ, Ông Quán đối đáp Tiên, Trực, Kiệm, Hâm.

Theo lời nghệ sĩ Lê Long Vân (Ba Vân) lúc đoàn ca ra bộ Tân Đồng Minh mới tập họp “đào kép", ông bầu Quyến còn chiếu cố đến đặc điểm nông dân của đoàn. Đến mùa cấy, gặt đoàn tạm nghỉ trong một thời gian ngắn, xong gặt hái, họ tụ tập trở lại, đi biểu diễn trong mùa khô. Hai năm sau, tức năm 1922, đoàn ca ra bộ của ông Quyến phát triển thành một gánh cải lương. gánh cải lương Tân Đồng Minh, thành phần đoàn gồm toàn người trong dòng họ, và bạn bè thân thiết. Ông Cao Tấn Quyến là người bỏ vốn. Ông Cao Tấn Liêm làm hề. Cô Ba Điểu, vợ Cao Tấn Cảnh làm đào chánh. Cô Tư Tỉnh, vợ Cao Tấn Liêm, cũng là đào giỏi. Dàn nhạc có ông Cao Tấn Hân, Lưu Hữu Nhiêu đàn kìm, đàn cò có tiếng. Đoàn Tân Đồng Minh ra mắt tại chợ Hương Điểm, làng Tân Hào, với vở tuồng Tàu Phấn Trang Lầu do ông Nguyễn Đình Chiêm, con cụ Nguyễn Đình Chiểu soạn.

Tuồng Tàu, nói chung dễ diễn ở cốt truyện có sẵn, chỉ cần gia công đạo diễn. Truyện Tàu lại rất quen thuộc với quần chúng. Truyện tích Việt Nam cũng có, tuy không nhiều, như Lục Vân Tiên, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa, Lưu Bình – Dương Lễ, San Hậu... So với hát bội, tuồng cải lương gọn hơn, hát đêm nào dứt vở ấy, không kéo dài nhiều hồi, nhiều lớp.

Sân khấu ca ra bộ và cải lương Bến Tre diễn nhiều trích đoạn tác phẩm Lục Vân Tiên. Có ai ngờ rằng năm 1927, tại Aix-En-Provence (Pháp), du học sinh Việt Nam vui Tết bằng cách tự mình tập và diễn vở cải lương Lục Vân Tiên(3).

Năm 1970, đoàn cải lương Nam Bộ ở Hà Nội đã sang Pháp giúp Việt kiều ta vui Tết Canh Tuất với vở Sát Thát và những trích đoạn của tác phẩm Lục Vân Tiên.

Đến năm 1923, Bến Tre có thêm một đoàn cải lương thứ hai, lấy tên Đồng Thinh Ban của Lâm Thiên Tứ, một địa chủ ở Minh Đức (Mỏ Cày). Đồng Thinh Ban so với Tân Đồng Minh thì hơn hẳn, do đó đông người xem hơn.

Những người hâm mộ cải lương Bến Tre, trước tiên là thị dân, dần dần lan rộng đến nông dân. Công chức, trí thức trong tỉnh thời ấy không có gì giải trí hơn là cải lương. Chiếu bóng thì còn ở dạng phim câm (muet), thỉnh thoảng mới có phim hay và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của người Việt Nam.

Ở Bến Tre, giống như vài tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, trước kia có vài cậu "công tử" bỏ tiền lập đoàn cải lương để có dịp ăn chơi và nổi danh trong thiên hạ. Họ không phải là người có máu "nghề nghiệp", nên sau một thời gian, họ bán đoàn lại cho người khác. Ở tại thị xã có ông Võ Văn Vạn (còn có tên Vũ Bá Vạn), lập đoàn Vạn Phước (1943). Nếu cộng tất cả các đoàn cải lương lớn, nhỏ của Bến Tre, từ lúc bộ môn này ra đời trong tỉnh đến trước CMT8-1945 có khoảng năm, sáu đoàn.

Sâu khấu Bến Tre lúc ấy cũng không tránh khỏi ảnh hưởng sân khấu Tàu, nhất là Quảng Đông, đặc biệt lúc Mã Sư Tăng, một ngôi sao của hý kịch Trung Quốc sang diễn ở Chợ Lớn. Nhưng có điều tuy diễn tuồng Tàu, diễn viên của ta vẫn thể hiện tình cảm bi ai, hùng tráng và vũ bộ theo phong cách Việt Nam. Nghệ sĩ Ba Vân có lưu ý rằng ngay vũ bộ sân khấu và võ thuật các đoàn của Việt Nam ngày xưa áp dụng trên sân khấu cũng xuất xứ từ võ Bình Định. Chúng ta cũng không quên ở Bình Định cách nay 200 năm, trong thời Tây Sơn, đã có diễn nhiều tuồng dã sử nổi tiếng, và Nguyễn Huệ rất thích hát bội. Do đó mà cho đến nay, trong những vở dã sử, diễn viên nào có vốn vũ bộ của sân khấu dân tộc đều diễn xuất đẹp.

*
* *

Ngày xưa, những đoàn cải lương có tiếng chỉ đi diễn đến các quận có đời sống kinh tế trù phú. Khổ nhất là những gánh hát bội nhỏ. Phần bị sân khấu cải lương lấn ép, phần bản thân hát bội hàng trăm năm vẫn không đổi mới, nên quanh đi quẩn lại chỉ diễn ở các chợ nhỏ, hoặc sân đình. Những đêm vắng khách, lỗ lã thì từ diễn viên đến người lao công sống rất vất vả. Nhiều người, con cái nheo nhóc. Họ ăn cơm chung dọn giữa sân, người lớn, trẻ con ngồi xen lẫn từng mâm, thức ăn không có gì đáng kể. Đa số ngủ trên chiếu trải dưới đất, hoặc trên sàn sân khấu. Những người lao công nằm trên những tấm "đề co” (décors) cuốn tròn. Có người nằm dưới bàn thờ Tổ, chỉ đút cái đầu dưới bốn chân bàn, còn toàn thân ló ra ngoài, một chiếc chiếu rách đắp ngang.

Cái tệ nhất của diễn viên ngày xưa là cờ bạc. Sau buổi diễn, họ gầy sòng, sát phạt lẫn nhau. Hụt tiền ăn, thỉ ngửa tay vay chủ gánh. Một số diễn viên và nhạc công không biết giữ gìn sức khỏe, sống bê tha, rượu chè. Trong những đoàn cải lương cũng như hát bội, đa số diễn viên xanh xao, kém sức khỏe, nhiều người bị mắc bệnh không nguy hiểm lắm, song không có điều kiện chữa trị.

Cá biệt, cũng có trường hợp tự tử vì bế tắc, không thấy lối ra cho cuộc đời mình. Mọi tủi nhục, cay đắng chỉ có thể tạm quên khi học mặc "long bào", mặc giáp "nguyên soái" hay đội mão "công chúa" lấp lánh, rực rỡ dưới ánh đèn sân khấu trong đêm biểu diễn. Những "ngôi sao" sáng trên sân khấu dưới chế độ cũ được hâm mộ thật, song không ai có thể giúp họ xóa bỏ định kiến lâu đời của xã hội xưa xem đào kép là "xướng ca vô loài".

Khoảng năm 1939, tại nhà việc làng Thành Hóa (nay thuộc xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày), có một đoàn hát bội nhỏ về hát. Sáng hôm sau, không rõ nguyên nhân, cô đào chính mắc bệnh rồi chết đột ngột. Đoàn thì nghèo, người chết không có thân nhân đi theo, nên mấy ông làng cho phép chôn người xấu số trên một đám đất hoang, chung quanh nước ngập, chỉ có cóc kèn, ô rô. Đến nay, nấm mộ của "bà hát bội" còn nằm đó.

Việc di chuyển, đổi địa điểm diễn của các đoàn hát lưu động cho đến nay vẫn quen gọi “đổi bến”. Phải chăng do ban đầu, phương tiện đi lại của các đoàn là ghe? Chỉ từ 1955 trở đi mới có việc di chuyển bằng xe vận tải. Thời Pháp, có lần đoàn cải lương Thanh Minh của ông Đoàn Văn Đỏ, người Bến Tre, ra diễn ở Ô Cấp (Vũng Tàu) một tuồng dã sử, nội dung đề cập đến việc nhà Minh âm mưu lật đổ triều Mãn Thanh. Ông chủ đoàn hát bị Sở mật thám gọi lên hăm he, gán cho ông muốn xúi giục người Việt chống chính quyền Pháp(!).

Những soạn giả cải lương người Bến Tre có tên tuổi là Đặng Công Danh (làng Tú Điền cũ, nay xã Phú Khương), ông Đoàn Văn Đỏ (Làng An Hội cũ, nay thuộc thị xã), ông Huỳnh Thủ Trung (Tư Chơi, xã Phước Thạnh, nay thuộc huyện Châu Thành).

Diễn viên xuất sắc có Ba Vân, sinh năm 1908 tại làng An Đức, huyện Ba Tri, được tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”. Ba Vân học nhạc lễ từ nhỏ, chuyên vỗ bồng là một nhạc khí rất khó chơi. Ông hợp tác với nghệ sĩ Năm Châu cả thảy 12 năm, thời gian dài nhất trong đời hoạt động trên sân khấu cải lương. Ông đã đi lưu diễn ở miền Bắc 7 lần, từ năm 1927 đến 1950. Lần thứ tám, năm 1977 là khi đoàn Sài Gòn 1 được mời ra thủ đô tham gia hội diễn chào mừng đất nước thống nhất(4).

Nhiều nghệ sĩ sân khấu Bến Tre tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông ba Vân viết kịch cho Đoàn Thông tin - Tuyên truyền huyện Ba Tri, sau đó tham gia cuộc vận động giới nghệ sĩ sân khấu ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông Đoàn Văn Đỏ (Vân Hồng) làm nhân viên ở một phòng bào chế thuốc ở chiến khu miền Tây Nam Bộ. Ông bầu Liêm, nguyên trước là chủ gánh hát cải lương lớn Thanh Thinh, quê xã Lương Hòa, làm đạo diễn đoàn Văn công Lúa Vàng, huyện Giồng trôm (1963). Trước đó, ông là diễn viên của Đoàn Văn công Giải phóng của tỉnh Bến Tre, một nghệ sĩ lão thành giàu nhiệt tình đối với nghệ thuật.

  •  Sân khấu Bến Tre trong những năm chống Mỹ
  •  Sân khấu Bến Tre sau ngày giải phóng 30-4-1975

Chú thích

(1) Theo lời ông Võ Văn Vạn (Võ Bá Vạn) sinh năm 1907, nguyên chủ đoàn cải lương Vạn Phước, Bến Tre.
(2) Theo lời ông Cao Tấn Liêm, sinh năm 1913, còn gọi là bầu Liêm, hoạt động sân khấu từ 1928 đến 1960 ở Bến Tre.
(3) Sỹ Tiến, Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, Nxb TP. Hồ Chí Minh, tr. 7.
(4) Theo lời kể của Nghệ sĩ Nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân).
 

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer