Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

Image
Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

CMT8-1945 bùng nổ, ông tham gia công tác ở Sài Gòn, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội, hoạt động ở miền Tây Nam Bộ, đến kết thúc kháng chiến chống Pháp (7-1954) là cán bộ cấp trung đoàn.

Sau hiệp định Genève, ông được tổ chức bố trí ở lại, hoạt động bí mật với cái vỏ bọc bên ngoài, làm nghề dạy học ở các trường tư Sài Gòn. Bị bọn mật vụ theo dõi, mấy lần vây bắt hụt, phải lánh về Vĩnh Long để nhờ sự bảo lãnh của Giám mục Ngô Đình Thục, vốn đã quen thân từ trước với gia đình ông.

Nhờ sự giới thiệu của giám mục với Ngô Đình Diệm, ông mới đưa được vợ con lên sống ở Sài Gòn. Năm 1956, làm việc ở Ngân hàng quốc gia Sài Gòn, sau chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc “Đại úy đồng hóa” trong quân lực VNCH, lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đoàn trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, Chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Sau khi học trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas) tại Hoa Kỳ, về nước được thăng thiếu tá, làm việc ở phủ Tổng thống (cạnh Ngô Đình Nhu). Được Ngô Đình Diệm tin cậy, nên ông được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) với cấp bậc trung tá.

Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), Phạm Ngọc Thảo được nhóm sĩ quan cầm đầu cuộc đảo chính thăng đại tá, làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân cách mạng", rồi làm tùy viên văn hóa của Sứ quán VNCH tại Hoa Kỳ.

Đầu năm 1965, bị gọi về nước, vì chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đã phát hiện ông hoạt động cho đối phương. Biết đã bị lộ, ông không chấp hành lệnh, tìm cách trốn tránh và liên hệ móc nối với các lực lượng đối lập khác như tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để lật đổ chế độ hiện thời. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19-2-1965 ở Sài Gòn, nhưng chỉ làm làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt, ông đào thoát vào một tu viện Công giáo ở Thủ Đức.

Ngày 16-7-1965, ông bị một toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào đầu, nhưng không chết, sau đó được một linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở Biên Hòa. Bị lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại đưa về Sài Gòn, tra tấn đến chết vào đêm 17-7-1965.

Sau ngày giải phóng (30-4-1975), ông được Nhà nước ta truy nhận liệt sĩ với hàm đại tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động của ông đã được nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý xây dựng thành bộ tiểu thuyết nhiều tập Ván bài lật ngửa, và sau đó được dựng thành phim cùng tên với nhân vật chính mang tên Nguyễn Thành Luân.

Đã ban hành
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đình Tân NgãiĐình Tân Ngãi
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

dinh-tan-ngai.png 

Đình​ ​Tân Ngãi

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/​02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua Cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 khoảng 4km, tiếp tục rẽ phải khoảng 3km nữa là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Đình Tân Ngãi được xây dựng năm 1850 (năm Canh Tý) do nhân dân trong vùng đóng góp công sức và tiền bạc. Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, sắc thần được phong dưới thời Tự Đức ngũ niên (1852).

Năm 1945, được sự hỗ trợ của Ban Khánh tiết đình Tân Ngãi, Đảng và chính quyền địa phương tổ chức cuộc mittinh có hàng trăm quần chúng nhân dân tham dự. Tại ngôi đình này, Mặt trận còn phát động tuần lễ vàng giúp cách mạng và sau một tuần phát động, nhân dân đã đóng góp được 26 lượng vàng, 16 bộ lư đồng, 30 mâm thau.

Từ năm 1949-1951, giặc Pháp đánh chiếm huyện Sóc Sãi và huyện Châu Thành, Ủy ban hành chánh kháng chiến của 2 huyện này chuyển qua đóng ở đình Tân Ngãi đứng chân hoạt động. Đầu năm 1960, ông Bùi Văn Sỹ Phong - Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày về mở nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cán bộ lãnh đạo các xã như Thạnh Ngãi, Phú Sơn, Thanh Tân, Tân Thành Bình, Tân Phú Tây tại ngôi đình này.

Từ năm 1962-1963, chính quyền cách mạng lấy ngôi đình này làm nơi tiếp nhận thương binh, bệnh binh để điều dưỡng, điều trị và có đào hầm bí mật xung quanh đình để bảo toàn tính mạng cho cán bộ, thương binh.

Từ năm 1960-1965, đình Tân Ngãi là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, là địa điểm để tổ chức hội họp trong xã và các xã lân cận. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, chính quyền cách mạng lấy địa điểm đình để tập hợp lực lượng, có khoảng 3 tiểu đoàn (ở khu vực Bắc Mỏ Cày) để chuẩn bị tiến quân về giải phóng thị xã Bến Tre.

Từ năm 1970-1975, bộ đội địa phương quân Mỏ Cày do đồng chí Huỳnh Văn Be (Phương Hùng) chỉ huy và đồng chí Lý Hùng Chiến - Bí thư Huyện uỷ Mỏ Cày đóng tại đình Tân Ngãi, đứng chân hoạt động.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Sông Ba LaiSông Ba Lai
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi đến xã Thành Thiệu (dài 17 km) dòng sông cạn và hẹp. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Nước từ sông Mỹ Tho qua kênh An Hóa, chảy mạnh vào sông Ba Lai làm hạn chế quá trình lắng đọng phù sa của đoạn sông này. Lúc kênh mới đào, chiều rộng chưa đầy 30 m, nhưng do dòng nước chảy xiết nên sông bị xói mòn nhanh và rộng dần ra cả trăm mét. Do nước chảy mạnh, dưới đáy sông lại có những cồn ngầm, cho nên vào mùa gió chướng thổi mạnh, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, gây nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng.Vào giữa năm 2000, một kế hoạch thủy lợi lớn nhất tỉnh, xây dựng cống đập Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre đã bắt đầu được khởi công.

Hệ thống sông Ba Lai

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

R. Bà Tam

Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H. Châu Thành)

5,0 km

R. Phú Hữu

Ranh giới giữa xã Phước Thạnh và Hữu Định (H. Châu Thành)

8,0 km

R. Khai Luông

Xã Phước Thạnh (H. Châu Thành)

6,0 km

K. Chẹt Sậy

Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm 1878 – 1902

5,0 km

R. Ba Tri Rơm

Xã Châu Hòa (H. Giồng Trôm)

5,0 km

R. Cái Muồng

Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H. Bình Đại)

10,0 km

R. Vàm Hồ

Ranh giới giữa xã Châu Bình (H. Giồng Trôm) và xã Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,5 km

K. Số 1

Từ xã Bình Thới đến xã Thạnh Trị (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Mỹ Nhiên

Ranh giới giữa xã Mỹ Chánh, Tân Xuân và Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,0 km

R. Xẻo Tượng

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Chim

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Khiêm

Xã Thạnh Phước (H. Bình Đại) thông với K. Ông Cai

5,5 km

R. Ruộng Muối

Xã Bảo Thạnh (H. Ba Tri)

5,0 km

Chú thích :

(1)

Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H. 
Đã ban hành
Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)
 

    Cho đến nay, gia phả về họ Phan vẫn chưa tìm được. Nhưng căn cứ vào các nguồn tư liệu lịch sử thành văn và tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri, ta có thể xác định được như sau: Phan Ngọc Tòng quê ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, sau đó là xã An Đức, nay thuộc thị trấn Ba Tri. Phan sinh năm nào, chưa có tài liệu nào ghi rõ, nhưng căn cứ vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc binh Phan Công trận vong của Nguyễn Đình Chiểu, thì ta có thể đoán được ông sinh năm 1818 và hy sinh đêm 6 rạng 7 tháng giêng, Mậu Thìn, tức ngày 30 tháng 1 năm 1868 (Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy, Quan bảy, tám ngày sướng ích chi).

   Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Vốn là một ông giáo làng, Phan Tòng đứng ra tập hợp dân chúng, tổ chức chống Pháp và được cử làm Đốc binh. Vừa mới nhận chức có 7, 8 ngày (Son đóng chưa khô ấn đốc binh) thì giặc Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Đêm đến, chúng cụm lại, đóng quân trên một gò cát có tên là Giồng Gạch (còn gọi là Gò Trụi).

   Phan Ngọc Tòng đã chỉ huy nghĩa quân tấn công vào cứ điểm của giặc, với khẩu lệnh khi xung phong thì hô tiếng "Hè" để uy hiếp tinh thần địch. Vì vậy, nhân dân địa phương còn gọi trận đánh này là "trận giặc Hè". Trong trận đánh giáp lá cà này, Phan Ngọc Tòng đã hy sinh cùng với một số nghĩa quân. Về sau, hàng năm vào ngày này, dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh.

   Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, xúc động trước tấm gương anh dũng bất khuất, đã viết một mạch 10 bài thơ điếu người chỉ huy nghĩa quân đầu tiên của Bến Tre, đồng thời cũng là người bạn tâm giao, đã ngã xuống một cách oanh liệt, vì sự nghiệp chống xâm lược, trong đó có câu:

Tinh thần hai chữ phau sương tuyết

hí phách ngàn thu rỡ núi non.

   Phần mộ của Phan Ngọc Tòng hiện nằm ở sau đình làng An Bình Đông, huyện Ba Tri.

Chú thích:

(1) Lâu nay, có nhiều sách chép Phan Tòng, hay Phan Công Tòng hoặc Phan Ngọc Tòng. Căn cứ vào tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri (Ông Bùi Văn Tranh ở ấp An Hiệp gọi Phan bằng cố nuôi, ông Huỳnh Văn Miêu ở ấp An Thạnh là chắt ngoại), chúng tôi lấy tên Phan Ngọc Tòng (xem thêm Nguyễn Đình Chiểu, Thơ văn yêu nước chống Pháp, Ty Văn hoá – Thông tin Bến Tre xb, 1982).

Phan Ngọc Tòng - Người anh hùng chống Pháp

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Mỹ thuậtMỹ thuật
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947, Diệp Minh Châu vẽ bức tranh Bác Hồ với thiếu nhi Bắc – Trung – Nam bằng chính máu của mình, tác phẩm hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội. Diệp Minh Châu có vinh dự được sống gần Chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian dài và có sáng tác nhiều tranh, tượng về Bác Hồ.

Họa sĩ Lê Văn Đệ (1906-1966), sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với hạng xuất sắc nhất, năm 1931, được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris. Ông đoạt giải hội họa của Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp, nên được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp ở Ý và Hy Lạp. Năm 1936, về nước hoạt động nghệ thuật và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ nghệ Gia Định (Sài Gòn). Năm 1954, Lê Văn Đệ có nhiều tác phẩm lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Pháp, Bảo tàng Mỹ thuật Hy Lạp và Tòa thánh Vatican.

Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), họa sĩ Chi Lăng và Đạt Huỳnh có nhiều tác phẩm thể hiện cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Thời chống Mỹ, có họa sĩ Huỳnh Công Thu, quê xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, đã về Nam tham gia chiến đấu và đã hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1964). Họa sĩ Lê Tấn hy sinh tại quê nhà năm 1964. Họa sĩ Viễn Phương hy sinh năm 1968. Họa sĩ Võ Kế Nghiệp tập kết ra Bắc, sau đó được cử đi học ở Đại học Mỹ thuật Kiép (Ukraina), ngành lý luận phê bình. Năm 1968, về nước, rồi vào Nam tham gia chiến đấu, hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1969). Họa sĩ Phan Văn Thiện cũng hy sinh trong năm này.

Sau Đồng khởi (17-1-1960), tổ hội họa thuộc Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Bến Tre trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn mọi phương tiện, đã sáng tạo ra loại phim đèn chiếu bằng cách vẽ trực tiếp lên phim nhựa, dùng đèn manchon và kính lúp, ly nước để tạo thành "máy chiếu phim" thủ công phục vụ cho công tác tuyên truyền. Hai bộ phim đèn chiếu tiêu biểu là Binh ong, bom Mỹ đại chiến” và Em gái Lương Hòa".

Khi vùng giải phóng của tỉnh được mở rộng, nhiều hội viên của Hội Mỹ thuật giải phóng đã về Bến Tre, phối hợp cùng với anh chị em họa sĩ tại chỗ sáng tác tranh, ghi lại cuộc chiến đấu hào hùng của nhân dân, tổ chức in tranh thạch bản và trưng bày tranh phục vụ đồng bào. Nhiều ký họa phản ánh người và đất Bến Tre thời chống Mỹ cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị nghệ thuật. Tranh của "quê hương Đồng khởi" cũng đã từng được trưng bày trong một triển lãm tại thủ đô Hà Nội.

Từ sau chiến thắng lịch sử 30-4-1975 đến nay, nhiều tranh tượng của các tác giả ở Bến Tre đã đoạt giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam, của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Hàng chục hội viên của Hội Mỹ thuật Bến Tre là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Một số khá đông đang công tác ở Hội Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, nhiều người đang giảng dạy ở Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945
Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một).

Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của nông dân chống cướp đất, đòi chia ruộng công, chống sưu cao thuế nặng cũng liên tiếp nổ ra tại một số tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng với một số cuộc bãi khóa của học sinh và bãi chợ của tiểu thương.

   Trong thực tiễn của làn sóng dân tộc dân chủ đang cuồn cuộn dâng lên khắp đất nước, VNTNCMĐCH không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng nữa. Một xu thế cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thật sự của giai cấp công nhân. Đáp ứng yêu cầu bức thiết đó của cách mạng, 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhưng sự song song tồn tại của ba tổ chức cộng sản chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào cách mạng Việt Nam.

   Để khắc phục tình trạng đó, ngày 3-2-1930, tại Cửu Long, bên cạnh Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, đã chủ trì cuộc hội nghị đại biểu của 3 tổ chức cộng sản, quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một ĐCS duy nhất, lấy tên là ĐCS Đông Dương.

   Sau khi ĐCS được thành lập, việc thống nhất các tổ chức Đảng ở các nơi trong nước lập tức được triển khai. Tại Nam Kỳ, ngay trong tháng 2-1930, Ban lâm thời chấp ủy (tức Xứ ủy) đã được cử ra, gồm 4 đồng chí, do đồng chí Bách (tức Ngô Gia Tự) làm Bí thư. Sau đó, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định các tỉnh ủy lâm thời để lãnh đạo phong trào và xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở.

   Tại Bến Tre, tháng 4-1930, thực hiện quyết định của XUNK về việc xây dựng cơ sở Đảng ở đây, Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho đã cử một Ban cán sự gồm 3 đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn Trí về hoạt động.

   Ban cán sự đã phân công đồng chí Nguyễn Văn Ân phụ trách cù lao Bảo, đồng chí Nguyễn Văn Trí phụ trách cù lao Minh, đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách chung. Hai đồng chí Nguyễn Văn Trí, và Nguyễn Văn Ân chọn Tân Xuân (cù lao Bảo) và Bình Khánh, Phước Hiệp (cù lao Minh), là những nơi có nhiều hội viên để gầy dựng cơ sở Đảng trước, từ đó sẽ phát triển dần tổ chức ra tỉnh.

   Cuối tháng 4-1930, trên cơ sở những năm đảng viên được kết nạp cùng với số đảng viên được chuyển từ VNTNCMĐCH sang, đồng chí Nguyễn Văn Ân đã thay mặt Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho thành lập chi bộ đầu tiên của Bến Tre tại xã Tân Xuân (Ba Tri), gồm 11 đảng viên (1) do đồng chí Trần Văn An làm bí thư. Đây là hạt nhân lãnh đạo cách mạng đầu tiên của tỉnh.

   Sau ngày thành lập, chi bộ Tân Xuân đi ngay vào hoạt động, tổ chức các buổi diễn thuyết bí mật, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng, tổ chức các đoàn thể: nông hội, công hội, thanh niên...

   Ngày 1-5-1930, nhân ngày Quốc tế lao động, chi bộ tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng tại địa phương, thu hút trên 200 người tham dự. Cuộc biểu tình đầu tiên này đã tạo được khí thế cách mạng trong quần chúng.

   Tháng 6-1930, Liên tỉnh ủy Bến Tre - Mỹ Tho được thành lập, do đồng chí Nguyễn Thiệu làm Bí thư. Liên tỉnh ủy ra tờ báo Dân cày (2) làm cơ quan tuyên truyền, và cử đồng chí Nguyễn Thiệu sang Bến Tre hoạt động. Tại đây, sau cuộc biểu tình ngày 1-5, tuy địch bố ráp liên miên, nhưng nhờ nắm vững nguyên tắc hoạt động bí mật, nên tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng vẫn tồn tại và phát triển. Số xã có đảng viên ngày một tăng. Đến tháng 6-1930, Bến Tre đã có thêm chi bộ ghép ở Phú Lễ và Phú Ngãi.

   Được tổ chức và lãnh đạo, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố của quần chúng bắt đầu nổ ra nhiều nơi. Kỷ niệm ngày Công xã Paris (18-3), các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Châu Bình đều có tổ chức mít-tinh, biểu tình. Phong trào lan ra các xã Bảo Thạnh, Mỹ Chánh và đến cả thị xã.

   Ở cù lao Minh và An Hóa, ở các xã trước đây có hội viên VNTNCMĐCH hoạt động, phong trào cũng phát triển khá nhanh. Đến tháng 10-1930, toàn tỉnh Bến Tre đã có 7 chi bộ ở 2 cù lao Minh và Bảo và một số đảng viên hoạt động rải rác ở các xã.

   Giữa lúc phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của nhân dân trong tỉnh đang phát triển, thì trên phạm vi cả nước thực dân Pháp cũng đang tập trung sức đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng, nhất là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Trước tình hình ấy, tháng 10-1930, Ban chấp hành TƯĐCS chủ trương phát động một phong trào đấu tranh chống khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Thực hiện chủ trương trên, Đảng bộ Bến Tre liên tiếp tổ chức các cuộc mít-tinh, biểu tình trong những tháng cuối năm 1930 đầu năm 1931. Mở đầu là cuộc biểu tình của hơn 1.000 quần chúng ở vùng Ba Châu (Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới) do đồng chí Huỳnh Khắc Mẫn (Mười Mắn), Bí thư chi bộ Châu Bình và đồng chí Nguyễn Thiệu lãnh đạo nổ ra vào tháng 11-1930. Quần chúng với giáo, mác, gậy, gộc kéo đến trụ sở xã Châu Bình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó kéo vào đập phá nhà việc, đốt hết sổ sách của hội tề. Từ Châu Bình, quần chúng tiếp tục kéo đến phá trụ sở 2 làng Châu Phú, Châu Thới, tổ chức mít-tinh kêu gọi đấu tranh "giành chính quyền".

   Sau sự kiện này, bộ máy cai trị của địch ở ba xã bị lung lay. Chúng chưa hết hoang mang thì một cuộc biểu tình quy mô lớn diễn ra trên địa bàn hai huyện Ba Tri, Giồng Trôm, bao gồm các xã: Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Ba Mỹ, Phước Tuy, Bảo Thạnh, Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới, Phong Nẫm, Phong Mỹ, do các đồng chí Nguyễn Thiệu, Huỳnh Khắc Mẫn, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Ân lãnh đạo.

   Lực lượng biểu tình gồm trên 1.000 người, có vũ trang giáo mác, gậy gộc, chia làm hai cánh: cánh thứ nhất tập trung tại xã Tân Xuân, cánh thứ hai tập trung ở Châu Bình; mỗi cánh đều có tổ chức đội tự vệ chặt cây ngăn lộ, phá đường, cản địch đến đàn áp. Họ kéo vào các nhà việc, đốt sổ sách. Bọn tề xã hoảng sợ bỏ trốn.

   Để đối phó, nhà cầm quyền thực dân tập trung lực lượng lính sen đầm từ Mỹ Tho, Lương Quới, Giồng Trôm, Ba Tri kéo đến đàn áp. Tại Ba Tri, đội tự vệ của ta đã chống cự kịch liệt với lính địch ở ngã ba lộ Quẹo (Tân Xuân). Địch dùng súng bắn xả vào đoàn biểu tình, làm chết và bị thương một số người, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Ngươn, đội trưởng đội tự vệ, và bắt đi một số người khác.

   Ở Giồng Trôm, địch phục kích bến đò Phong Nẫm, bắt được một số cán bộ lãnh đạo trong đó có đồng chí Nguyễn Thiệu, Bí thư Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Sự khủng bố của địch làm cho nhiều cơ sở cách mạng bị bể, bị tiêu hao, phong trào trong tỉnh giảm sút nghiêm trọng.

   Trước tình hình trên, Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre tập trung chỉ đạo các chi bộ ở các xã nhanh chóng củng cố tư tưởng của cán bộ đảng viên nhằm giữ vững phong trào. Đến tháng 1-1931, truyền đơn, biểu ngữ lại xuất hiện ở một số nơi trong tỉnh. Tiếp đến tháng 2-1931, hai cuộc biểu tình nổ ra ở Long Mỹ và Bình Thành (Ba Tri) với hơn 1.000 người tham gia.

   Từ tháng 3 đến tháng 5-1931, phong trào lên đến đỉnh cao với 16 cuộc biểu tình lớn nhỏ, nổ ra ở khắp các nơi trong tỉnh như Tân Thủy, Tân Hưng, Tân Xuân, Châu Bình, Long Mỹ, Bình Thành thuộc quận Ba Tri; Phú Nhuận, Phước Long thuộc quận Châu Thành; An Thạnh, An Qui thuộc quận Thạnh Phú; Lộc Thuận thuộc quận An Hóa.

   Tháng 5-1931, Tỉnh ủy Bến Tre chính thức được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn làm Bí thư. Sau khi thành lập, Tỉnh ủy bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh lại tổ chức, củng cố các cơ sở Đảng ở địa phương, nhưng lại vấp phải một đợt khủng bố mới của địch. Chúng đánh phá phần lớn các cơ sở, bắt đi nhiều cán bộ, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Bí thư Tỉnh ủy (7-1931) và Nguyễn Văn Trước (5-1932). Tỉnh ủy bị tan rã. Hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Cuối năm 1932, phong trào trong tỉnh bị suy yếu và lắng dần.

   Tình hình này kéo dài cho đến năm 1935. Lúc này trên thế giới và trong nước xảy ra những sự kiện mới có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng cả nước nói chung và phong trào cách mạng của Bến Tre nói riêng.

   Trên thế giới, bọn phát xít Đức, Ý, Nhật ráo riết chuẩn bị chiến tranh đe dọa hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ở Pháp, ĐCS liên minh với Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến thành lập Mặt trận Nhân dân Pháp (tháng 11-1935). Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp đã giành được thắng lợi và lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ban bố một số cải cách dân chủ đối với thuộc địa, trong đó chủ trương ân xá chính trị phạm và thành lập một phái đoàn Quốc hội Pháp đi điều tra tình hình ở các thuộc địa.

   Sự kiện đó đã tác động mạnh đến Đông Dương. Bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương, trước sức ép của Chính phủ Mặt trận Nhân dân và phong trào Dân chủ ở Pháp, đã phải miễn cưỡng thực hiện việc ân xá chính trị. Nhiều đảng viên, cán bộ của ta bị giam ở các nhà tù đế quốc được thả ra.

   Trong bối cảnh chung ấy, ở Bến Tre, đến năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi tù, trở về địa phương tương đối đông. Về tới địa phương, các đồng chí đã tìm bắt liên lạc với nhau để khôi phục lại các cấp lãnh đạo của Đảng ở trong tỉnh. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của các đồng chí, trong một thời gian ngắn, các chi bộ Đảng được khôi phục ở thị xã và các xã Tân Xuân, Mỹ Chánh Hòa, Vĩnh Hòa, Phú Ngãi thuộc quận Ba Tri; Phước Long, Bình Chánh thuộc quận Châu Thành; Định Thủy, Khánh Thạnh Tân, An Thạnh thuộc quận Mỏ Cày. Cuối năm 1936, Tỉnh ủy Bến Tre được củng cố lại, do đồng chí Nguyễn Văn Triều (tức Ba Chà) làm Bí thư. Đến năm 1937, hai Quận ủy Thạnh Phú và Mỏ Cày được thành lập.

   Tỉnh ủy chủ trương đưa một bộ phận đảng viên có uy tín ra hoạt động công khai và bán công khai trong các hội Ái hữu của thợ cưa, thợ cắt tóc, các hội thể dục thể thao, vạn cấy để hướng dẫn các tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng.

   Tỉnh ủy xuất bản tờ báo Cờ chiến đấu làm cơ quan tuyên truyền công khai, phổ biến các sách báo của Đảng và lưu hành rộng rãi tờ báo Dân chúng, tổ chức các buổi diễn thuyết nhằm phổ biến chủ trương của Đảng trong quần chúng lao động.

   Vào giữa năm 1936, nhân việc Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp dự định cử một phái đoàn sang Đông Dương điều tra tình hình, thu thập nguyện vọng quần chúng, TƯĐCS đã phát động một cuộc vận động đòi triệu tập Đông Dương Đại hội thông qua bản “thỉnh nguyện” chung.

   Hưởng ứng cuộc vận động, tại Bến Tre, tháng 7-1936, “Ủy ban hành động” của tỉnh được thành lập, để tập hợp quần chúng đưa kiến nghị và bầu đại biểu đi dự đại hội. Đến cuối năm 1936, các “Ủy ban hành động” được thành lập ở đều khắp các quận và ở nhiều xã. Trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ đã nổ ra liên tục trong tỉnh.

   Chủ trương sáng suốt và kịp thời này đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang cao trào mới, hết sức sôi sục. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các căn cứ địa cách mạng được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh sau cuộc đảo chính của Nhật. Ngày 25-6-1945, XUNK họp hội nghị tại một địa điểm ở Mỹ Tho, ra nghị quyết chỉ đạo các địa phương khẩn trương chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

   Chấp hành nghị quyết của XUNK, và xuất phát từ tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Bến Tre đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh công tác tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, sẵn sàng đón thời cơ, giành chính quyền.

   Ngay từ tháng 4-1945, Tỉnh ủy đã chủ trương mở rộng tổ chức Việt Minh vào tầng lớp tiểu tư sản ở thị xã, lôi cuốn công chức, trí thức vào Mặt trận. Các tổ chức Cứu quốc phát triển tương đối nhanh, nhất là trong các tầng lớp công nhân, nông dân, đội quân chủ lực của cách mạng. Đến tháng 7-1945, các nghiệp đoàn có tới 900 người, nông hội thu hút được 7.000 hội viên, riêng quận Ba Tri có tới 3.000.

   Tỉnh ủy cũng chú trọng công tác vận động binh lính địch, cử nhiều cán bộ có uy tín và năng lực bí mật thâm nhập vào các tổ chức thân Nhật, tổ vận động lôi kéo một số người đứng về phía cách mạng.

   Trong các tổ chức quần chúng công khai, thì Đoàn Thanh niên tiền phong là tổ chức thu hút được đông đảo thanh niên trí thức, công chức, học sinh. Vì vậy, Tỉnh ủy quyết định nắm lấy tổ chức này để biến thanh niên thành lực lượng xung kích trong cuộc Tổng khởi nghĩa sắp tới, bằng cách đưa cán bộ cốt cán vào nắm các chức vụ thủ lãnh (3).

   Ở nông thôn, thanh niên tích cực luyện tập võ nghệ, rèn dao găm, mã tấu. Ở các thị trấn như Ba Tri, Mỏ Cày, Sóc Sãi, Thạnh Phú, hàng trăm cuộc mít-tinh, biểu tình có hàng ngàn người tham gia, đã diễn ra.

   Khoảng cuối tháng 7-1945, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu (ngã tư Phú Khương ngày nay). Sau khi kiểm điểm công tác chuẩn bị khởi nghĩa, hội quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa (4) do đồng chí Nguyễn Tẩu phụ trách.

   Với sự nỗ lực của Ủy ban khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn vừa tổ chức vừa luyện tập, đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, các đội Cứu quốc quân trong tỉnh đã có tới hàng ngàn đội viên. Như vậy, với thời gian trên 3 tháng chuẩn bị, lực lượng cách mạng trong tỉnh bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã sẵn sàng, chỉ cần có thời cơ là sẽ đứng lên giành chính quyền.

   Và thời cơ đó đã đến.

   Ngày 12-8, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ở Đông Dương, quân đội Nhật hoang mang, tê liệt. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim giải thể. Tin phát xít Nhật đầu hàng nhanh chóng truyền đi khắp nước cùng với mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra từ Đại hội Quốc dân Tân Trào làm nức lòng người.

   Ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi ở thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8, cách mạng thành công ở Huế. Sự thành công nhanh chóng của các cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Hà Nội, Huế đã cổ vũ và thôi thúc mạnh mẽ Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đứng lên hành động. Lúc này (ngày 23-8) ở Bến Tre, đại biểu của Tỉnh ủy đi dự hội nghị do XUNK triệu tập chưa về đến, nhưng căn cứ vào diễn biến của tình hình chung, Ủy ban khởi nghĩa đã ra lệnh cho các quận huy động lực lượng quần chúng kéo về áp sát thị xã, đồng thời ra lệnh cho các đoàn thanh niên tại thị xã phải túc trực ở trụ sở, chuẩn bị sẵn sàng hành động.

   Đêm 23-8, theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa, khắp nơi trong tỉnh trương biểu ngữ, phát truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ chính quyền bù nhìn, thiết lập chính quyền cách mạng.

   Ngày 24-8, Mặt trận Việt Minh tỉnh ra công khai tại câu lạc bộ thị xã (5). Bọn cầm đầu ngụy quyền không dám có thái độ chống đối.

   Trưa ngày 25-8, nhân cơ hội tên cò Lắm - chỉ huy trưởng lực lượng bảo an ninh thị xã - đến trụ sở Việt Minh xin phép đi xuống địa phương thu gom vũ khí của bọn cai tổng và hội tề ở Mỏ Cày, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh cấp tốc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc16 giờ cùng ngày.

   Với sức mạnh quật khởi, lực lượng quần chúng khởi nghĩa đã nhất tề xông lên với giáo mác, tầm vông tràn tới chiếm trại Bảo an ninh, buộc chúng phải nộp vũ khí đầu hàng. Sau đó lực lượng khởi nghĩa đã nhanh chóng tiến chiếm các công sở, tòa án, bưu điện, kho bạc, nhà máy điện, bót cảnh sát... Trước khí thế của quần chúng khởi nghĩa, quân Nhật và bọn tay sai, không dám chống cự. Tỉnh trưởng bù nhìn Phan Văn Chỉ buộc phải đầu hàng và xin giao chính quyền cho cách mạng. Bộ máy ngụy quyền tay sai Nhật sụp đổ. Chính quyền về tay nhân dân lúc 17 giờ, sớm hơn thời gian dự định trong kế hoạch.

   Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thị xã có ảnh hưởng quyết định đến cuộc khởi nghĩa ở các huyện. Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Bình Đại (lúc này còn thuộc Mỹ Tho). Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Mỏ Cày. Đêm 25 rạng 26-8, khởi nghĩa tiếp tục thắng lợi ở Sóc Sãi, Thạnh Phú, Châu Thành, Ba Tri.

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công nhanh chóng trong toàn tỉnh. Ngày 26-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Bến Tre làm lễ ra mắt đồng bào trong một cuộc mít-tinh long trọng được tổ chức tại sân vận động thị xã.

    Cách mạng tháng Tám thành công là bước nhảy vọt vĩ đại, đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn, một cuộc đổi đời trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử nhân dân Bến Tre nói riêng. Từ chỗ là người nô lệ, nhân dân Bến Tre cũng như nhân dân cả nước đã trở thành người làm chủ đất nước đã trở thành người làm chủ đất nước, quê hương, làm chủ vận mệnh của mình. Vì vậy CMT8-1945 thực sự là ngày hội lớn của toàn thể nhân dân trong tỉnh. Và từ đây, nhân dân Bến Tre sẽ cùng nhân dân cả nước quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để gìn giữ nền độc lập vừa mới giành được.

Chú thích

(1) Theo Hồi ký của các đồng chí Nguyễn Văn Trước (tức Năm Thành), 11 đảng viên trong đó có Trần Văn An, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Sau, Trần Văn Biên, Trần Văn Biện, Nguyễn Thị Tâm (tức Thâu), Phan Văn tạo, Nguyễn Văn Ngươn.
(2) Báo Dân cày do đồng chí Phạm Hùng làm chủ bút, được phân phát cho các Tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ...
(3)  Đồng chí Nguyễn Văn Cái làm Tổng thư ký Thanh niên tiền phong tỉnh, Huỳnh Kỳ Thanh làm thủ lĩnh Thanh niên tiền phong thị xã, Đỗ Phát Quang vào Trường Huấn luyện thanh niên ở Hưng Khánh Trung, Nguyễn Văn Tất vào Bảo an binh.
(4)  Ủy ban khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Nguyễn Tẩu, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Cái, Lê Lợi, Võ Tấn Nhứt
(5)  Nay là trường phổ thông cơ sở Bến Tre

Đã ban hành
Ngôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê DuẩnNgôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê Duẩn
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   

Image
Mô hình ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   Đồng chí Lê Duẩn sống và làm việc ở đây gần 5 tháng, khi nhận thấy có dấu hiệu nghi ngờ bọn mật vụ có thể đánh hơi biết được, nên đã chuyển sang một cơ sở khác bí mật ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, sau đó chuyển tiếp sang một số gia đình cơ sở khác ở xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày. Ngày 5-7-1956, đồng chí Lê Duẩn rời Bến Tre lên thành phố Sài Gòn.

   Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), đồng chí Lê Duẩn có về thăm lại ngôi nhà xưa, cùng những đồng bào, đồng chí cơ sở đã nuôi dưỡng, cưu mang và bảo vệ mình trong những ngày cách mạng miền Nam bị địch đánh phá khốc liệt. Ngôi nhà ngày xưa đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại chiếc tủ đứng bẳng gỗ làm hầm bí mật, hiện đang được trưng bày ở nhà bảo tàng tỉnh Bến Tre. Đồng chí Lê Duẩn đã chỉ thị cho chính quyền tỉnh giúp đỡ gia đình ông Mười Trác xây dựng lại ngôi nhà, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

  Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia ngày 7-5-1997.

Đã ban hành
Cây lúa nướcCây lúa nước
Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục...
Image

 Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục... đều nhắc đến lượng và phẩm của gạo tẻ và gạo nếp của Bến Tre. Tuy nhiên do những điều kiện hạn chế về khoa học kỹ thuật, cho nên năng suất lúa trong cả giai đoạn lịch sử dài nhìn chung còn rất thấp. Mãi đến những năm gần đây, cùng với việc đầu tư khoa học kỹ thuật, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới v.v... năng suất, sản lượng lúa đã có bước tăng nhảy vọt. Những cánh đồng thâm canh, vùng lúa cao sản được xây dựng ở nhiều nơi trong tỉnh, với hai vụ lúa mỗi năm, thay vì một vụ như trước đây.
Có những giống lúa địa phương thích ứng với từng vùng như: cuống trâu, ba đuông, nàng gáo, nếp bòng ở vùng nhiễm mặn; nàng trích, nàng loan, tàu hương ở vùng nước lợ; bảy dãnh, nàng loan, một bụi, ba bụi ở vùng nước ngọt. Đây là những nguồn "gien" quý giá cho chương trình nghiên cứu lai tạo giống lúa có năng suất cao và thích hợp với môi trường đồng đất địa phương.
Trong quá trình xây dựng vùng lúa cao sản, một số giống lúa có năng suất cao của những viện nghiên cứu của Nhà nước, hoặc nhập  ngoại cũng đã được trồng thí nghiệm trên đất Bến Tre và đã cho thấy triển vọng phát triển tốt, năng suất cao.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộDương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ
Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.
​Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.

Từ thời kháng chiến chống Pháp, Dương Văn Dương thường được bộ hạ thân thuộc cũng như đồng bào quen gọi với cái tên thân thương là “anh Ba Dương”.

Ba Dương – thủ lĩnh hàng đầu trong các thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên, xưa kia là “giang hồ hảo hán”, nhưng khi đến với cách mạng trở thành người chỉ huy tài ba, mẫu mực và là phó tướng, cánh tay đắc lực của Trung tướng Nguyễn Bình.

Theo nhiều nguồn tài liệu được kiểm chứng, bước đầu xác định Dương Văn Dương là người gốc Bến Tre, xuất thân trong một gia đình nghèo ở cù lao Minh, con của ông Ngô Văn Mà và bà Dương Thị Biếu. Ông Ngô Văn Mà có tinh thần chống Tây, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Ba Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ đi bước nữa, người cha kế thương Ba Dương như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc Dương Văn Dương thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, TP HCM).

Dương Văn Dương có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ba Dương không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là Ba Dương liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ba Dương có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của Ba Dương nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.

Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …

Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa. Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương lần mò trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.

Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có.

Đang đứng giữ bến xe Tây Ninh – Nam Vang thì Tây ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc “chém vè”. Không thoát khỏi bọn chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận độc ác buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.

Dương Văn Dương dạy võ cho Thanh niên tiền phong Cần Giộc tham gia cướp chính quyền. Khi bị mất chính quyền, bọn làng lính kéo nhau đi trình diện. Chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng bộ đội Dương Văn Dương, tên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử: “Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”. Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hành
Thờ phụng tổ tiênThờ phụng tổ tiên
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả.
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong cả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. Đó là đạo thờ ông bà của người Việt đã tồn tại qua thời gian hàng chục thế kỷ.

Qua khảo sát nhiều nơi trong tỉnh, ta thấy mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên.Có khác nhau chăng ở cách bố trí nơi thờ tự ở trong nhà và việc bày biện các đồ thờ trên bàn thờ giữa những gia đình giàu có, trong những ngôi nhà xưa hay trong những ngôi nhà xây cất hiện đại ngày nay, giữa những nhà khá giả và những nhà bình dân.

Qua điều tra khảo sát ở Bến Tre cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ, rất ít thấy nhà thờ tộc (họ) như ở miền Trung và miền Bắc. Tuy nhiên, ở những gia đình, dòng họ lớn, con cháu chung nhau làm nhà thờ, hoặc duy trì ngôi nhà xưa của ông bà để lại làm nơi thờ cúng, gọi là từ đường. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được những bản gia phả, hoặc bằng chữ Hán, hoặc phiên thành chữ quốc ngữ ghi chép lại nguồn gốc, quá trình di chuyển từ nơi nay sang nơi khác, chức tước, công trạng, nghề nghiệp của người xưa v.v... Chính nhờ những nguồn tài liệu quý giá này, mà ngày nay chúng ta hiểu rõ được con đường, cách thức di chuyển, những nơi dừng chân, địa bàn cư trú của những lớp lưu dân ở vùng đất này. Cũng không hiếm trường hợp thay đổi tên họ do những biến động về chính trị, hay để tránh những cuộc truy bức, khủng bố của bên này hay bên kia, kể cả thực dân đế quốc.

Ở nông thôn, nhà dù nghèo khó đến đâu, không sắm được chiếc bàn bằng gỗ, thì cũng đóng một chiếc chõng tre, hay bằng tầm vông, cao ngang ngực, trên mặt đan vỉ hay ken tre, trên cùng trải chiếc chiếu con, người bình dân quen gọi là giường thờ. Trên giường thờ cũng đặt bánh hương, chân đèn bằng sành, để đĩa đựng dầu thắp, lọ cắm hoa v.v...

Đối với người giàu cũng như người nghèo, ngày giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ là "ngày tang trong suốt đời” (chung thân chi tang) để con cháu và người thân tưởng nhớ đến người đã khuất. Vì vậy, người dân có tập quán dành những món ngon nhất, tốt nhất, từ vật nuôi đến trái cây theo mùa vụ, cân nếp, cân đậu (dùng để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân. Nếu phải đi mua từ ngoài chợ, thì cũng phải chọn miếng thịt tươi, con cá ngon, con gà béo tốt để về làm thức dâng cúng. Vì mỗi năm chỉ cúng giỗ một lần, cho nên mọi người đều cho lễ giỗ là trọng, từ bà con xa gần đến cả đồng hương, đồng xóm, cũng như bạn bè thân thích. Dù làm việc ở nơi đâu, gần hay xa (dĩ nhiên trừ những hoàn cảnh cách bức quá lớn) con cháu trong gia đình phải nhớ ngày mà về.

Những gia đình khá giả thường làm lễ cúng tiên thường với lễ vật đơn sơ, gọn nhẹ từ nhiều hôm trước (như hàm ý mời gọi người thân đã quá cố hãy vui vẻ mà về với con cháu). Ngày hôm sau mới là ngày giỗ chính. Thường thì giỗ cha, giỗ mẹ, con cái làm lễ to, rồi trở lên mỗi đời xa hơn thì lễ giỗ tổ chức đơn giản hơn, không mời mọc nhiều người. Bà con, bạn bè đến ăn giỗ thường mang theo hương hoa, trái cây, rượu, bánh, trà để dâng cúng và lễ lạy trước bàn thờ người đã khuất, sau đó mới ngồi vào dự tiệc.

Đã ban hành
Những món ăn để cúng, lễNhững món ăn để cúng, lễ
 

Image
Trước đây, trong các lễ cúng đình, cúng miễu hàng năm, ngoài phần lễ và hội vui, còn có tổ chức ăn uống. Tùy theo từng lễ cúng lớn hay nhỏ, làng giàu hay nghèo, năm mất mùa hoặc được mùa, mà quy mô cuộc lễ cũng như vật phẩm dâng cúng có thay đổi. Trong lễ cúng lớn, người ta vật trâu hay bò, nhưng thường là giết heo. Cúng miễu, thì thường là cỗ xôi, với chiếc đầu heo, nhỏ hơn nữa thì cỗ xôi và con gà. Vịt ta, vịt xiêm, ngỗng, chim thường ít dùng để cúng lễ. Gà cúng phải chọn gà trống non, béo, mổ khéo và luộc nguyên con để trên đĩa, không chặt thành miếng. Trước khi luộc gà để cúng người ta uốn sửa đầu cánh con gà sao cho ngay ngắn, cân phân, để sau khi luộc đặt gà lên mâm trông như con gà đang nằm. Luộc gà phải biết đun vừa lửa, thịt chín, da không bị nứt. Ngoài món thịt gà hay thịt heo, lễ vật dâng cúng thường có các loại bánh nếp gói lá chuối hay lá dong và các loại trái cây.

Mâm cỗ ngày Tết

Ba ngày Tết là những ngày ăn uống, vui chơi, thăm hỏi và chúc tụng nhau những điều tốt lành. Do vậy nhà nào dù giàu hay nghèo cũng đều có chuẩn bị mâm cơm Ngày Tết sao cho đàng hoàng, có thịt, có bánh mứt, có trái cây. Nhà khá hơn thì có nem, có chả và vài món đặc sản đắt tiền để cúng ông bà, tổ tiên, sau đó đãi khách. Thịt thì chủ yếu là thịt heo và thịt gia cầm. Thịt bò, trâu, dê thường ít dùng để cúng trong ngày Tết. Ở Bến Tre, trong ngày Tết, hầu như nhà nào cũng có nồi thịt heo kho chung cùng cá lóc, cá bông và trứng vịt, dĩ nhiên không thể thiếu nước dừa, còn có thêm một nồi canh khổ qua để nguyên trái nhồi thịt. Nhà khá hơn thì gói thêm vài chục gói nem, đôi cây giò lụa, bì bó. Bánh tráng cũng là món ăn góp phần rôm rả trong ngày Tết. Đặc biệt là món dưa chua, có thể là dưa giá, dưa cổ hũ dừa, củ kiệu dùng để ăn kèm với thịt mỡ cho đỡ ngán. Đó cũng là món để những người thích nhậu thường dùng để đẩy chất cay trong ngày Tết. Trong ba ngày Tết, bà con ta thường giữ tập quán mời khách ăn uống dù ít hoặc nhiều khi khách đến nhà. Thường qua ngày mùng 4, người ta tổ chức ăn nhẹ. Tô cháo gà nấu loãng, hoặc cháo ám cá lóc ăn nóng với rau ghém có nõn chuối non xấc mỏng với các loại rau thơm, sau những bữa ăn nhiều chất béo, có tác dụng gây cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu. Dưa hấu cũng là món không thể thiếu được trong ngày Tết. Chất ngọt dịu và mát của miếng dưa hấu sẽ góp phần đẩy lùi cảm giác ớn, ngấy vì những món ăn, thức uống của ngày Tết gây ra.

 Cỗ đám tang, đám giỗ 

Một tập tục lâu đời là gia đình có tang, bên cạnh khay trầu, cau, thuốc lá, nước trà để tiếp khách, thường cố gắng chạy cho được con heo, dù lớn hay nhỏ, để làm cỗ thết đãi những bạn bè bà con, láng giềng đến giúp đỡ, phúng điếu, lo toan mọi việc chôn cất, trong khi gia chủ bối rối nhiều thứ. Khác với phương Tây, người ta kỷ niệm ngày sinh là chủ yếu còn phương Đông thì coi ngày chết, lấy đó làm kỷ niệm hằng năm, tổ chức cúng giỗ để tưởng nhớ người đã khuất. Tùy theo từng gia đình, từng hoàn cảnh mà mâm cỗ có khác nhau. Giỗ nhà nghèo thì thường đơn giản. Nhưng dù túng thiếu đến đâu, chủ nhà cũng mua sắm một ít thịt, cá, rau, trứng để làm mâm cơm dâng cúng người thân quá cố không đến nỗi quá đạm bạc. Những nhà khá giả, hoặc giàu có, đông con cháu thì đám giỗ được chuẩn bị được tiến hành từ một vài tháng trước đó. Một số gia đình theo nếp cũ, nhiều khi tổ chức đám giỗ kéo dài hai ba ngày: tiên thường, chánh giỗ, hậu thường.

Cơm đãi khách

Nói về tập tục của người Gia Định trong phạm vi giao tế, vào đầu thế kỷ XIX Trịnh Hoài Đức đã viết: “Ở Gia Định có người khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm, bánh tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ, quen lạ, tung tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không cần đem tiền gạo theo... ". Tinh thần hiếu khách, của quan niệm lấy tình lấy nghĩa làm chính, làm trọng của người xưa, người Bến Tre vẫn bảo lưu khá đậm cho đến ngày nay.

 Cơm khách thường sử dụng những sản phẩm "cây nhà lá vườn " như tôm càng và cua lột. Với tôm càng, có thể chế biến cả chục món ăn hấp dẫn: tôm nướng than gáo dừa, tôm bóc vỏ kho tàu, tôm quết nhuyễn vò viên nấu cháo, hoặc đắp quanh miếng mía lau đã róc vỏ, đem nướng làm món chạo tôm, nem chua làm từ thịt tôm càng có hương vị vượt xa nem thịt heo v.v…

Cơm khách khác với cơm cỗ bàn ở chỗ nó không bị gò bó vào quy cách nấu nướng, và số món ăn, số lượng bát, đĩa, cách bày biện v.v… có khi chủ nhà thích đãi khách bằng một bữa "cơm mắm", nhưng thực tế mâm cơm lại đầy cá thịt, trái cây của vườn nhà. Sự tiếp đãi ân cần, mâm bát sạch đẹp, cách bày biện, nấu nướng khéo, thái độ hòa nhã lịch sự của chủ nhà là những chi tiết quan trọng, góp phần làm cho bữa cơm khách thêm ngon đậm đà và ý vị.

Đã ban hành
Buổi đầu khai phá - xây dựngBuổi đầu khai phá - xây dựng
Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm".

Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm" (1). Trên đất Bến Tre, việc khai khẩn ruộng vườn của cư dân tại chỗ – người Khmer – chỉ tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao như Sóc Sãi, giồng Ông Giang, giồng Nâu, ở cù lao Bảo, giồng Văn, giồng Võ, Đa Phước, An Thạnh, Ba Vát ở Cù Lao Minh.

Những vùng đất thấp khác hầu như đều là rừng rậm hoang vu, như tác giả Gia Định thành thông chí đã mô tả: “Phía Nam trấn (Định Tường) một dặm, trước kia là rừng hoang làm hang cho hùm beo ở" (2). Cho đến những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho, vùng cù lao An Hóa vẫn còn cọp và dọc theo sông lớn có nhiều khỉ (3). Nhưng cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ nói chung, kể từ thế kỷ XVII trở đi, bộ mặt vùng đất Bến Tre bắt đầu biến đổi mạnh khi có sự xuất hiện một lớp dân cư mới – lưu dân người Việt và lưu dân người Hoa.

Vùng đất Bến Tre được xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII, nhưng lưu dân người Việt đã đến đây ở từ trước đó khá lâu. Có thể coi đó là một đặc điểm chung ở nhiều vùng đất khác ở Nam bộ, Jules Sien đã nhận xét rất đúng rằng: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên" (4).

Những lưu dân người Việt đến vùng Bến Tre trong những năm cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng đông đảo nhất vẫn là những nông dân nghèo khổ lại phải gánh chịu nạn chiến tranh phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Họ buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống. Thành phần đông đảo thứ hai là những người trốn lính và lính trốn, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Ngoài những thành phần đông đảo kể trên, còn có một số người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất, những người có óc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là "dân có vật lực" – theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận, làm giàu, vào đây để mở rộng việc kinh doanh tạo nên sản nghiệp mới.

Trong những lưu dân người Việt từ các tỉnh miền Trung đến đất Bến Tre, có một số lớn đi thẳng từ quê hương của họ đến đây theo đường biển bằng phương tiện ghe bầu. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, đường bộ từ miền Thuận Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số khác đã vào vùng Biên Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được những điều kiện thuận lợi để bám trụ, nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới đây bằng cả hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.

Cũng như các vùng đất khác trên đất Đồng Nai – Gia Định, những lưu dân người Việt đến Bến Tre theo cách thức: hoặc lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình, hoặc họp lại thành nhóm gồm những người bà con thân thuộc hay làng xóm láng giềng, hoặc một số người đi trước tìm chỗ cư trú, làm ăn rồi quay về đưa gia đình, bà con thân thuộc, hàng xóm láng giềng vào tiếp. Nếu như các cuộc di chuyển bằng đường thủy có thể đi một mạch, thì những cuộc di chuyển bằng đường bộ thường diễn ra từng chặng.

{mospagebreak}Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông vào định cư trước tiên ở những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn.

Ngoài các dải đất ven sông, những người mới đến cũng đã chọn các khu đất giồng để định cư và khai phá như Ba Vát, Thom, Giồng Luông, Đa Phước (ở cù lao Minh), Tiên Long, Tiên Thủy, An Hội, Mỹ Lồng, Cái Bông (ở cù lao Bảo), vì môi trường tự nhiên ở đây tương đối thuận lợi so với nơi khác, đất tốt, không bị lầy lội.

{mospagebreak}Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thể kỷ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là cù lao An Hóa, còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch cư trú. Nhóm này cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên (khoảng 3.000 người) là bộ phận quân nhà Minh ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, bất phục triều đình Mãn Thanh chạy sang Việt xin tỵ nạn, được chúa Nguyễn an sáp vào đất Đồng Nai - Gia định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, còn nhóm Dương Ngạn Địch thì đến định cư ở Mỹ Tho. Trong nhóm thứ hai này, chắc chắn đã có một số sang cư trú ở cù lao An Hóa, nhất là vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay. Họ không lập xóm ấp riêng, mà ở chung với người Việt, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa (trích Lịch sử xã Phước Thạnh).

Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Tre đã có đông người đến ở. Chính vì vậy, năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây. Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tuy gọi là tổng nhưng diện tích của nó rất rộng, gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh.

Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các thôn xã đã phát triển rộng khắp từ vùng ven biển đến phía thượng nguồn của hai cù lao.

Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò... Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, dầu rái, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở sông rạch... nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Nhưng dù sao ở nơi đất mới – như Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo đói rét" (5) – cuộc sống của họ chắc chắn có nhiều phần dễ dàng hơn nơi đất hẹp người đông, người khôn của khó ở quê hương cũ. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ, hoặc cùng chung tín ngưỡng, cùng trong họ đạo. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi "con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh" như người ta thường nhắc, cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.

Trong khi đó, “những dân có vật lực” bao gồm địa chủ, phú nông, nhà nông, những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, số này chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng họ sẵn vốn liếng, phương tiện, có kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích, đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp.

Với bàn tay, khối óc và sự lao động cần mẫn, sáng tạo của những lớp lưu dân, bản đồ khai phá trên đất Bến Tre được mở rộng dần trong các thế kỷ XVII, XVIII. Vùng Ba Tri là một trong số nơi được khai khẩn sớm nhất, vì nơi này là điểm dừng chân đầu tiên của các lưu dân từ miền Trung đi vào theo đường biển. Ba Tri có nhiều giồng đất cao hình cánh cung, xen kẽ những cánh đồng trũng. Ở chân giồng, việc canh tác lúa vào mùa mưa khá thuận lợi, còn trên mặt đất giồng thì có thể trồng các thứ hoa màu như sắn, khoai, đậu, bắp, dưa, bí và một số loại cây cần thiết cho các ngành thủ công nghiệp như bông, vải, gai, dâu tằm... Đến đầu thế kỷ XVIII, các làng, các trại vùng này được thiết lập. Những nơi đủ dân thì lập làng, ấp, nơi nào ít dân thì họp thành trại. Một số tên trại còn lưu truyền đến ngày nay như Ba Tri cá trại, Cái Da trại... Trong số những lưu dân người Việt đến khai phá đất đai đầu tiên trong vùng, có cả nhóm tín đồ Thiên chúa giáo. Họ đã đến định cư trên giồng Cái Bông và về sau càng đông thêm. Năm 1730, họ đạo này lập ra nhà thờ Cái Bông.

Một vùng khác được khai phá cùng thời với Ba Tri là khu vực Cái Mơn, Cái Nhum nằm ở ven sông Hàm Luông, dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum. Số lưu dân này phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Năm 1731, một họ đạo khác ra đời ở cù lao Minh, đó là họ đạo Cái Nhum.

Ngoài ra, trên cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho có thể đã được khai phá từ khi nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch đến định cư trong vùng và lập nên phố chợ Mỹ Tho từ năm 1679.

Trong thế kỷ XVIII, vùng được khai phá mạnh là vùng Ba Vát (sách Gia Định thành thông chí gọi là Ba Việt) trên cù lao Minh trải rộng từ Ba Vát đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao. Vùng Ba Vát đã là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì vùng này mới bị suy tàn dần.

Trên cù lao Minh vùng dọc theo sông Hàm Luông như Vĩnh Thành (Cái Mơn) thuộc huyện Chợ Lách cũng được khai phá trong thời kỳ này. Ở đây, từ rất sớm đã có nhiều vườn cây ăn trái khá sầm uất.

Được khai phá vào thế kỷ XVIII, còn có vùng ven rạch Sóc Sải, ven rạch Mỹ Lung (sông Bến Tre) trên cù lao Bảo. Sang đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã mọc lên những khu vườn cây ăn trái khá sung túc. Hồi này, vùng Xẻo Sâu, Mỹ Lồng đã nổi tiếng là vùng trồng nhiều cau nhất ở vùng Nam Kỳ Lục tỉnh, được nhắc đến trong ca dao.

{mospagebreak}Trong thế kỷ XVIII, việc khai phá trên cù lao An Hóa lại được mở rộng tới các khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại. Như vậy là trong thế kỷ này, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre diện tích được khai phá đã khá rộng.

Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang, sản xuất ở Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của nhân dân, chính quyền nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang, lập ấp.

Thực ra, từ cuối thế kỷ XVIII (1790), Nguyễn Ánh đã cho thi hành chính sách dùng một bộ phận binh lính và chiêu mộ dân nghèo, tiến hành khai hoang lập đồn điền, nhưng vì chiến tranh còn tiếp diễn nên chủ trương này chưa được mở rộng. Đến khi dành được chính quyền trên toàn quốc (1802), Nguyễn Ánh cho đẩy mạnh việc thành lập các đồn điền – lúc đó gọi là “trại đồn điền” – trên khắp bốn phủ thuộc Gia Định thành (tức toàn Nam Kỳ): Tân Bình, Phước Long, Kiến An, Định Viễn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp. Năm 1814, theo thống kê riêng, số dân trong các trại đồn điền – chưa kể số binh lính - đã lên đến 9.876 người. Năm 1822, con số này là 9.703 người. Riêng tại phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An, tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền với 6.174 người. Rất có thể một phần trong số 142 trại này đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre.

Năm 1853, triều đình nhà Nguyễn lại giao cho Nguyễn Tri Phương nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ dưới hình thức cơ, đội. Một năm sau (1854), theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương, có 21 cơ đã lập xong và 4 cơ đang hình thành (6). Riêng tỉnh Vĩnh Long, có 7 cơ. Đất Bến Tre lúc bấy giờ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, (cù lao Bảo) Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh). Ở các huyện này, số dân và số diện tích khai phá được như sau (7) :

Bảo Hựu

346 người, khai phá được

1.478 mẫu

Bảo An

26 người, "

122 mẫu

Tân Minh

371 người "

1.390 mẫu

Duy Minh

110 người, "

651 mẫu

 

 

Như vậy, thời gian này đã có từ 2 đến 3 trong số 7 cơ đồn điền của tỉnh Vĩnh Long được lập ra trên đất Bến Tre, với 853 người dân và diện tích khai phá được là 3.640 mẫu.

{mospagebreak}Điều đáng tiếc là không có tài liệu nào ghi rõ địa điểm của các cơ được lập ra trên đất Bến Tre. Chỉ biết rằng, tại Hương Điểm (huyện Giồng Trôm nay) còn một số địa danh như Đội Ba, Đội Năm, Đội Bảy, các nơi này có thể là địa bàn của các đội đồn điền trước kia. (8)

Bên trên là việc lập đồn điền. Còn việc mộ dân khai hoang lập ấp thì triều đình nhà Nguyễn vừa giao trách nhiệm cho quan lại địa phương, vừa khuyến khích những người có khả năng, có vốn liếng, phương tiện thực hiện. Chủ trương này được triển khai khá mạnh trên toàn Nam Kỳ lục tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Long bao gồm Bến Tre. Trong số 124 ấp được lập ở 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1854 có 60 ấp nằm ở tỉnh Vĩnh Long. Các ấp này thường được thành lập ở những nơi mà việc khai hoang không mấy khó khăn và không nằm quá xa các làng mạc có trước. Vì thế, tuy ta không biết được trong số 60 ấp đó, có bao nhiêu ấp nằm trên đất Bến Tre và ở những vị trí cụ thể nào, nhưng có thể tin chắc là có nhiều ấp được lập ra ở đây.

Đến năm 1856, quan tỉnh Vĩnh Long lại mộ được 690 người, lập thêm 41 ấp nữa, nhưng tài liệu này cũng không nói rõ số ấp được lập trên hai cù lao Bảo và Minh là bao nhiêu. Chính vì việc khai phá được mở rộng dẫn đến việc hình thành thêm nhiều thôn ấp, cho nên vào năm 1808, tổng Tân An (tức Bến Tre ngày nay) được nâng lên thành huyện, gồm hai tổng: tổng An Bảo nằm trên cù lao Bảo có 63 thôn và tổng Tân Minh nằm trên cù lao Minh có 72 thôn. Đến đời Minh Mạng (năm 1823), huyện Tân An lại được nâng lên thành phủ, mang tên phủ Hoằng An. Các tổng Tân Minh, An Bảo được nâng lên thành huyện Tân Minh và huyện Bảo An.

Sự mở rộng công cuộc khai phá luôn luôn gắn liền với việc dân số gia tăng, dân số càng đông tất yếu dẫn đến qui mô khai phá càng được mở rộng. Theo những số liệu thống kê vào đầu thời Pháp thuộc, thì vào năm 1859, Bến Tre đã có khoảng 110.000 dân (9). Đến năm 1869, khi vùng đất Bến Tre đã lọt vào tay quân Pháp, thì dân số vùng này đã lên tới 156.704 người (9).

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Bến Tre đã là một trong những nơi được khai phá nhiều nhất trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XIX, trước khi Bến Tre lọt vào tay quân Pháp, diện tích đất trồng trọt trên hai cù lao Bảo và Minh đã lên đến 88.522 mẫu, tức khoảng 44.200 ha.

Tư liệu lịch sử cho biết, trên những đất đai đã khai phá được, người nông dân - lưu dân Bến Tre đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai mỗi nơi, trong đó cây lúa là loại cây trồng chính. Thoạt tiên, họ làm ruộng lúa ở chân các giồng nơi cư trú, rồi về sau theo đà gia tăng dân số, họ mở rộng diện tích canh tác lúa đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là "sơn điền" (ruộng núi), còn ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là "thảo điền" (ruộng cỏ). Trên hai loại chủ yếu đó người nông dân - lưu dân Bến Tre, cũng giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định, đã áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.

Cau Mỹ Lồng khá nổi tiếng, được Trịnh Hoài Đức nhắc đến: “Có những vườn cau đứng rậm như rừng, quả lớn lại sai" (10). Trong khi đó, vùng Cái Mơn lại tập trung nhiều vườn cây ăn quả. Các nhà truyền giáo đã đưa vào đây nhiều giống cây ăn trái mới lạ, gốc ở một số nước Đông Nam Á như chà là, dừa lùn, sabôchê, chôm chôm...

Cùng với việc khai phá đất đai lập thành ruộng vườn, lưu dân ở Bến Tre cũng phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối nhằm đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Trong số các ngành nghề thủ công ở đây, ngành dệt vải, dệt lụa, dệt chiếu, chế biến thực phẩm phát triển nhất. Từ đầu thế kỷ XIX, Ba Tri đã là nơi nổi tiếng về nghề dệt lụa. Một số địa phương khác như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, Châu Bình thì nổi danh với nghề chế biến thực phẩm: "Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình...".

Sự phát triển mạnh mẽ việc khai hoang sản xuất nông nghiệp và một số ngành nghề thủ công đã đưa tới sự ra đời một mạng lưới chợ búa khá sầm uất làm nơi trao đổi lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công, hàng tiêu dùng giữa các cư dân trong vùng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bến Tre đã có 10 chợ lớn, khá sầm uất, phân bố như sau:

- Huyện Tân Minh có chợ Ba Vát.
- Huyện Duy Minh có chợ Hội An.
- Huyện Bảo Hựu có các chợ Sóc Sãi, An Đức, Mỹ Lồng, Lương Điền.
- Huyện Bảo An có các chợ Bình Hòa, Hưng Thạnh, Hưng Nhượng, An Bình Đông, Vĩnh Đức(11).

Vậy là từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, trong khoảng hai thế kỷ rưỡi - một thời gian lịch sử không dài lắm - mà bộ mặt vùng đất Bến Tre đã thay đổi hẳn: từ một vùng đất hoang vu, xứ sở của rừng rậm, sình lầy, thú dữ, rắn rết, cá sấu... đã trở thành một vùng ruộng vườn tươi tốt. Đó là kết quả của bao mồ hôi, công sức, cả máu và nước mắt của những lưu dân buổi đầu và các thế hệ con cháu tiếp sau của họ. Cho nên chính họ mới là người chủ thực sự đã kiến tạo nên vùng đất trù phú này.

{mospagebreak}Tuy nhiên, một điều nghịch lý đã xảy ra là không phải những người khai phá được tận hưởng toàn bộ thành quả lao động ấy. Ngay những mảnh đất nhỏ nhoi mà họ khai phá được bằng sức đôi bàn tay của mình cũng không phải vĩnh viễn thuộc về họ. Bởi vì như trên đã nói, để mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang ở vùng đất mới, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khuyến khích những người "dân có vật lực" miền Thuận Quảng vào Nam mở mang công việc làm ăn. Những người "dân có vật lực" này sẵn vốn liếng và kinh nghiệm tổ chức, đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, lập thành lực lượng lao động lớn.

Không những thế, theo Lê Quý Đôn, họ còn "thu cả con trai, con gái người Mọi (Thượng) ở các đầu nguồn, đem về làm nô tì, người đen tóc quăn là người Mọi thực giá tiền 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan, cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người cày ruộng, làm nghề nghiệp" (12). Nhờ lực lượng đông đảo ấy, những người “dân có vật lực" đã nhanh chóng khai phá được những diện tích đất đai rộng lớn, trở thành những điền chủ nhiều thế lực. Trong sách Phủ biên tạp lục , Lê Quý Đôn cho biết: "Người giàu ở các địa phương (chỉ vùng Đồng Nai - Gia Định - BS) hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lầy tiền để ăn tết chạp... Bình thường chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa tĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp” (13). Số điền chủ giàu có này trở thành chỗ dựa xã hội của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng về kinh tế, mà còn nắm giữ cả quyền lực chính trị ở địa phương. Chính sách của nhà Nguyễn lại tạo thêm những thuận lợi cho tầng lớp điền chủ nói trên cùng với bọn chức việc làng, xã, tổng, huyện kiêm tính ruộng đất công và ruộng đất của nông dân nghèo, mở rộng điền sản, phát triển thêm một bước chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị khi lên làm vua, đã ban hành chỉ dụ cho phép số phú hào mộ dân khẩn đất và được quyền ưu tiên chiếm giữ những ruộng đất tốt nhất, lại còn ban thưởng tiền bạc, chức tước: "Ai mộ được 5 xuất đinh, khẩn được 50 mẫu trở lên được thưởng 20 quan, mộ được 10 suất đinh, khẩn được 100 mẫu, được thưởng 40 quan... Ngoài ra còn được thưởng hàm tòng cửu phẩm và cho làm lý trưởng. Tùy vào số ruộng và số đinh, việc tặng thưởng có thể nâng lên đến hàm chánh bát phẩm và bổ thụ chánh tổng" (14).

Được sự khuyến khích nâng đỡ của chính quyền họ Nguyễn, tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, tha hồ cấu kết với bọn quan lại địa phương, đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng vườn của những người nông dân nghèo khổ, cô thế. Nhận xét của Trương Đăng Quế khi ông được Minh Mạng biệt phái vào Nam tiến hành việc đo đạc ruộng đất để lập địa bạ (năm 1836) đã nói lên mức độ nghiêm trọng của tình hình này: "Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ ở xã này chiếm ruộng đất ở xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy".

Thủ đoạn kiêm tính của điền chủ và cường hào ở đây không chỉ đụng tới những mảnh đất nhỏ bé của nông dân nghèo, mà còn bao chiếm cả ruộng công làng xã - loại ruộng đất dùng để tạm cấp cho dân làng theo chính sách "quân điền" dù rằng ở Đồng Nai – Gia Định kể cả Bến Tre, số lượng đất này chiếm tỉ lệ ít ỏi. Báo cáo của tỉnh thành Gia Định gửi về triều năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ghi rõ: "Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng đất từ hàng trăm năm, hàng ngàn mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy" (15).

Ở hai huyện Bảo An và Tân Minh (tức cù lao Bảo và cù lao Minh), vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, đã có 21 điền chủ có số ruộng đất trên 100 mẫu, trong khi đó số có từ 30 mẫu trở lên có 705 người.

Còn về phía người nông dân nghèo, thì ngoài việc bị bọn điền chủ cướp đoạt ruộng đất, sau đó với thân phận tá điền (16), họ cày thuê cuốc mướn để kiếm sống, lại còn bị Nhà nước phong kiến bòn rút thông qua thuế khóa hà khắc. Chính quyền phong kiến đặt ra hàng loạt thứ thuế khác nhau: thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế sản vật... Chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai - Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương... Riêng khoản đóng góp này đã khá nặng như Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi" (17). Thêm vào đó, người nông dân còn bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách, nào là phụ thu lạm bổ, nào là đòi hối lộ hoặc bắt phục dịch việc riêng. Ngoài thuế khóa hà khắc, chính quyền phong kiến họ Nguyễn đôi khi còn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân – trước hết là của nông dân nghèo, những người không chút thế lực - để ban cấp cho những kẻ có công trạng trong việc khôi phục và củng cố quyền thống trị của họ.

Chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền phong kiến và tầng lớp điền chủ đã làm cho cuộc sống của người nông dân lao động ở Đồng Nai – Gia Định, trong đó có Bến Tre, nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, khiến ở một nơi nổi tiếng màu mỡ và trù phú, số "cùng dân" lại ngày càng tăng lên. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm Gia Long thứ 18 (1819), đám quan lại ở Gia Định đã phải đề nghị lên triều đình khi lập "Sổ cùng dân" (tức là sổ thống kê số dân nghèo khổ nhất), không nên theo lệ "thập đinh nhất cùng" – tức là tính bình quân cứ 10 người dân có một người cùng khổ – mà phải cho kê khai cụ thể thì mới nắm được số liệu chính xác. Kết quả là trong vòng 1 năm trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (gồm cả Bến Tre) đã bổ sung thêm được 16.155 người. Nếu so sánh với con số "cùng dân" này với tổng số dân đinh ở Gia Định vào thời điểm đó (khoảng 80.000 người) ta sẽ thấy rõ tình trạng phân hóa giai cấp ở đây diễn ra nghiêm trọng đến mức nào.

{mospagebreak}Bị phá sản, phải lâm vào cảnh bần cùng, một bộ phận nông dân nghèo khó lại phải bỏ làng, bỏ quê một lần nữa để đi tìm con đường sống ở một địa phương khác, có khi là để trốn nợ. Thế là tình trạng nông dân "tái lưu tán" lại diễn ra, và mỗi ngày một trầm trọng đến mức năm 1789, sau khi lấy lại Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các nơi chiêu dụ dân lưu tán trở về đất cũ làm ăn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là tập đoàn thống trị phong kiến cùng bọn điền chủ và một bên là nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản gay gắt nhất của xã hội vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, đất Bến Tre nói riêng, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng nổ. Và cơ hội đó đã đến với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.

Mùa xuân năm 1776, sau 5 năm đánh bại phong kiến họ Nguyễn ở vùng Thuận Quảng, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục kéo quân vào tận Gia Định, thừa thắng đánh chiếm luôn cả 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Lần đầu tiên, lá cờ chiến thắng của những người nông dân khởi nghĩa cắm trên đất Gia Định. Cuộc tiến quân thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn vào đất Gia Định lần này chắc chắn không thể thiếu được một yếu tố rất quan trọng là sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân Bến Tre, những người đã từ lâu nung nấu niềm bất mãn đối với chính quyền phong kiến họ Nguyễn.

Tiếp sau lần tiến quân đầu tiên năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn còn liên tiếp 4 lần tiến quân vào Gia Định (tính đến năm 1784), và lần nào cũng được nông dân ở đây hưởng ứng và tích cực giúp đỡ hoặc trực tiếp tham gia.

Sự hưởng ứng và ủng hộ của nông dân Gia Định, đối với nghĩa quân Tây Sơn được thể hiện rõ nét nhất trong trận tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm 1785. Trong trận này, các xã Tân Lợi, Phú Long, Phú Túc, Phú Đức nằm ven bờ nam sông Tiền (nay thuộc huyện Châu Thành) đã được nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chọn làm một trong những địa bàn ém quân cho đòn đánh vu hồi hiểm hóc của trận quyết chiến chiến lược, nhận chìm toàn bộ chiến thuyền với gần 4 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân của Nguyễn Ánh. Ngoài ra, nhân dân vùng ven sông Ba Lai còn ủng hộ, giúp đỡ quân của Trương Văn Đa chống quân Xiêm và quân Nguyễn có hiệu quả.

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, trong đó có sự đóng góp của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi chính sử của nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận rằng sau trận đánh này "người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Cùng với nhân dân Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, nhân dân Bến Tre đã góp phần vinh dự của mình trong chiến thắng lịch sử này, làm thất bại hoàn toàn âm mưu xâm lược nham hiểm của phong kiến Xiêm núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh.

Ngoài việc hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn, nông dân Bến Tre cũng như nông dân toàn vùng Đồng Nai – Gia Định, còn bộc lộ sự bất mãn của mình đối với chính quyền họ Nguyễn qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Bất bình về thái độ đối xử của triều đình nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt cùng tay chân bộ hạ của họ Lê sau khi ông này qua đời, Lê Văn Khôi – con nuôi của Lê Văn Duyệt - đã đứng ra tập hợp những người bất mãn mà phần lớn là binh lính trong các đơn vị quân đội gọi là "hồi lương" và "bắc thuận" nổi dậy chiếm thành Phiên An, chống lại triều đình. Như vậy, cuộc nổi dậy này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn phong kiến, nhưng vì nó chĩa mũi nhọn vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cho nên lập tức nó được sự hưởng ứng rộng rãi và nhiệt tình của đa số nông dân nghèo vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung và Bến Tre nói riêng, những người mà từ lâu ôm ấp trong lòng khát vọng mong muốn có sự đổi thay xã hội để cuộc sống được dễ thở hơn. Tình hình đó khiến cho chỉ trong vòng 1 tháng, lực lượng nổi dậy do Lê Văn Khôi cầm đầu đã làm chủ được cả sáu tỉnh Nam Kỳ, làm lung lay trong một thời gian các cơ đồ thống trị vốn đã mục nát của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn.

Sự hưởng ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm và bè lũ bán nước Nguyễn Ánh và cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Bến Tre, mà trước hết là nông dân. Tinh thần chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm bảo vệ quyền sống, bảo vệ quê hương đất nước diễn ra khá mạnh mẽ ngay trong quá trình chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn khai phá đất đai, sản xuất để tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới.

Chú thích:

(1) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 243.
(2) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản chữ Hán, tờ 31b.
(3) Monographie de la province de Mỹ Tho, Sđd.
(4) J.Sien, Géographie universele, Dẫn theo Ngọc Dương, Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, S, 1960, tr.45.
(5) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.4
(6) QSQTN, Đại nam thực lục, tập 28, Nxb Khoa học, H., tr.47
(7) Lê Thọ Xuân, Xin cung hiến một ít tài liệu về cụ Nguyễn Trung Trực, tập san Sử địa, số 12 (1968), tr. 58
(8) Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 35
(9) Renseidnements sur l’organisation de la province de Vĩnh Long d’après Les cahiers des villages et les documents trouvés dans les archives, 1867, Tlđd.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.78
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 134-140
(12) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 135
(13) Lê Quý Đôn, Sđd, tr.345
(14) QSQTN, Đại Nam thực lục, Sđd, tập 23, tr. 288
(15) Mức tô mà tá điền phải đóng cho điền chủ thường là từ 60-70% sản lượng thu hoạch
(16) Lê Quý Đôn, Sđd, tr 216-217
(17) QSQTN, Minh Mệnh chính yếu, tập 3, Sđd, tr 90 

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh PhúCự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú
Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

 

Ghe chở chỉ xơ dừa

- Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre: 86 km đường bộ.

Từ thành phố Bến Tre đến các huyện của tuyến này như sau:

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc: khoảng 20 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Nam: khoảng 21 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Thạnh Phú: khoảng 49 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến "Di tích lịch sử căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định" (mật danh Y4,T4), xã Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc: 16 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến Di tích Đình Tân Ngãi (tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng), xã Thạnh Ngãi, Mỏ Cày Bắc: 20 km đường bộ.

Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến tham quan các điểm trên địa bàn:

* Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Đình Rắn, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức: 14 km đường bộ.

* Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, xã An Thạnh: 07 km đường bộ.

* Làng nghề dệt chiếu Thành Thới B (dệt chiếu cói): 10 km đường bộ.

* Cơ sở sản xuất đặc sản kẹo dừa truyền thống và cơ sở sản xuất, trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ làm từ dừa tại thị trấn Mỏ Cày Nam.

Từ Tp. Bến Tre đến các điểm tham quan tại huyện Thạnh Phú:

* Di tích nhà cổ Hương Liêm (Huỳnh Phủ), xã Đại Điền: 42 km đường bộ và thăm bia lưu niệm nơi làm lễ xuất quân của "Tiểu đoàn 307" thời kháng Pháp, thưởng thức bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng.

* Làng nghề đúc lu Hòa Lợi, xã Hòa Lợi: 48 km đường bộ.

* Làng nghề bó chổi Mỹ An, xã Mỹ An: 51 km đường bộ.

* Cơ sở chằm nón lá Huế, ở xã Mỹ Hưng: 46 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam, xã Thạnh Phong: 70 km đường bộ.

* Các điểm đến tham quan như: Di tích căn cứ Y4, Chùa Tuyên Linh, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, làng nghề dệt chiếu Thành Thới B, Di tích nhà cổ Hương Liêm, xe 4 bánh đến 50 chỗ đều đến được.
* Các điểm còn lại xe 29 chỗ ngồi cũng đều đến được.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)
 

    Sinh ngày 18-10-1904 tại làng An Hội, huyện Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống hành nghề Đông y. Học tiểu học ở Bến Tre sau lên học trung học ở Trường Taberd (Sài Gòn). Từ nhỏ, ông đã say mê nghệ thuật, qua những bức tranh thủy mặc treo nơi bàn thờ tổ tiên. Ý tưởng muốn theo học ngành nghệ thuật ở nước ngoài đã thôi thúc ông tìm đường sang Pháp.

   Theo lời khuyên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp, ông dự thi vào Trường Mỹ thuật Toulouse và đã đỗ sau kỳ thi sát hạch. Ba năm miệt mài học tập, ông đã đỗ bằng tốt nghiệp ngành sơn dầu với đề tài Người mẫu xem tranh khi họa sĩ vắng mặt. Tác phẩm này đoạt giải nhất Manry của thành phố Toulouse với huy chương bạc và 1.000 quan tiền thưởng. Ông đến Paris, học tiếp ở Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật, vừa phải chật vật kiếm sống để tiếp tục học tập, vừa tham gia phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp.

   Năm 1934, ông về nước. Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Krautheimer tìm cách tranh thủ ông, đề nghị ông làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, nhưng ông từ chối, về tạm trú nơi quê vợ ở Mỹ Tho. Tại đây, nhà sư Minh Đường trụ trì ở chùa Vĩnh Tràng đã đặt ông làm tượng mình và vị sư tiền nhiệm. Tượng hai vị hòa thượng mặc áo cà sa, chắp tay niệm Phật còn được lưu giữ đến nay ở bên cổng chùa.

   Một thời gian sau, ông lên Sài Gòn sống bằng nghề vẽ tranh phong cảnh (Một số tranh tĩnh vật vẽ theo phong cách tân cổ điển, nay được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).

  Năm 1935, ông dạy vẽ ở Trường Donnai và Huỳnh Khương Ninh. Cũng trong thời gian này tập tiểu thuyết Vì đâu, chủ đề tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp được đăng tải nhiều kỳ trên báo Dân quyền. Tháng 8-1945, ông tham gia giành chính quyền Sài Gòn, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên. Khi kháng chiến bùng nổ, ông là ủy viên tài chính UBKCHC Nam Bộ.

   Sau hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, ông được điều về giảng dạy ở Trường Mỹ thuật Việt Nam toàn quốc tại Nhà hát lớn Hà Nội, bức tranh Hồi tưởng đất Bắc của ông đã đoạt giải nhì. Bức tranh được Đại sứ Tiệp Khắc tại Hà Nội mua ngay trong ngày khai mạc.

   Về đề tài lịch sử chống ngoại xâm, ông có những bức tranh Hai Bà Trưng xuất trận, Trận Bạch Đằng, Vua Quang Trung tiến vào Ngọc Hồi, Trương Định được nhân dân phong soái v.v… Những tranh này hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian này, ông hoàn thành quyển Lược khảo mỹ thuật Việt Nam (Nxb KHXH, 1970). Sách được dịch sang tiếng Nga sau đó.

   Hòa bình lập lại, ông trở về TP. Hồ Chí Minh, giảng dạy lịch sử mỹ thuật ở Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tác phẩm Một số nền mỹ thuật thế giới được Nxb Văn hóa in năm 1978. Quyển sách đã được ông bổ sung, hoàn chỉnh và ra mắt bạn đọc với tên mới Mỹ thuật và nghệ sĩ (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993). Ký ức lão cuồng họa, tập hồi ký kể về cuộc đời mình từ lúc nhỏ nơi quê nhà, sang Pháp học hành, tham gia cách mạng và hoạt động nghệ thuật chưa kịp xuất bản, thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9-1-2001.

   Cuộc đời ông là một tấm gương lao động nghệ thuật tận tụy và trong sáng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất. Viện Tiểu sử ABI (Mỹ) tặng ông Huy chương vàng năm 1997.

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợiLàm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi

    Góp phần làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1969 - 1975)

    Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân đã giáng một đòn mạnh và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và làm chấn động dư luận nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tìm cách rút dần quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm của chúng, ngoan cố tiến hành chính sách thực dân mới bằng những thủ đoạn thâm độc khác.

   Nixon, người đại diện cho đường lối mới của Mỹ, bước vào Nhà Trắng và cho ra đời cái gọi là "Học thuyết Nixon" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Bởi vậy, trong khi rút quân nhỏ giọt ra khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Nixon đã tận dụng số quân Mỹ còn lại rất lớn trên chiến trường cùng quân ngụy, đẩy mạnh đánh phá nông thôn bằng “bình định cấp tốc”, “bình định xây dựng" và "bình định đặc biệt”, hòng tiêu diệt cơ sở hạ tầng của cách mạng, đẩy LLVT cách mạng ra xa các thành phố và các căn cứ quân sự của chúng, cắt đứt các nguồn chi viện của ta, trước hết là nguồn chi viện qua đường Campuchia, nhằm cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

   Tại tỉnh Bến Tre, từ tháng 4-1969, Mỹ, ngụy bắt đầu triển khai chương trình "bình định cấp tốc”. Chúng đưa về đây sư đoàn 7 và một bộ phận sư đoàn 9 (lực lượng cơ động của vùng 4 chiến thuật), nhiều tiểu đoàn biệt động quân, thủy quân lục chiến (lực lượng tổng dự bị của quân ngụy), 40 đoàn cán bộ bình định, cùng với lực lượng ngụy quân tại chỗ liên tiếp mở các cuộc càn quét, bình định kết hợp với các cuộc đánh phá ác liệt của không quân, kể cả máy bay B.52, vào các vùng giải phóng của ta.

   Sau khi hoàn thành bước cuối cùng "bình định kiểu mẫu" ở Ba Tri, ngày 9-6-1969, địch lấn chiếm 4 xã Minh Đức, Tân Trung, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, cắt ngang cù lao Minh, Tỉnh ủy họp hội nghị bất thường tại Bình Khánh (huyện Mỏ Cày), chủ trương phát động quân và dân các địa phương kiên quyết chống địch càn quét và bình định.

   Ở thị xã, tự vệ mật và an ninh vũ trang thiêu hủy kho xăng, phá hủy một đại đội pháo tại sân vận động. Đầu năm 1970 các đội săn tàu của ta chặn đánh đoàn tàu địch tuần tiễu trên sông Giồng Trôm, Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), bắn chìm và bắn cháy 21 tàu, 2 giang thuyền. Trong đợt tấn công Xuân – Hè 1970, bộ đội tỉnh đã đánh địch 7 ngày liền, diệt 900 tên địch, bắn chìm và bắn cháy 40 tàu, 2 giang thuyền. Ở Bình Đại, bộ đội địa phương diệt được 2 đội bảo an, bắn rơi 6 trực thăng, bắn cháy 6 xe.

   Trong thời gian này, ở hội trường công chức thị xã, tự vệ mật Minh Hiền dùng mìn diệt 83 tên cán bộ bình định, làm bị thương 75 tên khác trong một lớp huấn luyện.

   Qua một năm chiến đấu gian khổ và đầy hy sinh, quân và dân Bến Tre đã ngăn chặn được một phần kế hoạch lấn chiếm bình định của địch. Tuy nhiên, nhìn chung trên diện toàn tỉnh, kế hoạch càn quét, bình định của địch đã gây cho ta nhiều tổn thất: mất đất, mất dân, các căn cứ, đường hành lang vận chuyển bị phá hoại. Cán bộ, bộ đội và nhân dân phải sống và chiến đấu trong điều kiện hết sức gay go, gian khổ. Mặc dù vậy, tình hình lại không dừng lại ở đây.

   {mospagebreak}Tháng 8-1970, hai sư đoàn 7 và 9 của ngụy được điều trở lại Bến Tre để tiếp tục chương trình bình định mới bằng hai bước "bình định xây dựng" và "bình định phát triển".

   Kết quả là Bến Tre từ chỗ có 72 xã giải phóng, chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh, trở thành một tỉnh bị chiếm đóng, đồn bót dày đặc. Mỗi xã có từ 5 đến 20 đồn, toàn tỉnh có tới 916 đồn bót và tháp canh. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, du kích bị hy sinh. Lực lượng quần chúng cách mạng bị tiêu hao, nhà cửa tan nát, vườn tược hoa màu bị tiêu hủy, kinh tế bị đảo lộn, đời sống nhân dân trở nên hết sức cơ cực. Hàng ngàn quần chúng trong vùng giải phóng phải tản cư vào sống chen chúc trong các "lõm địa hình" ở các quận Mỏ Cày, Châu Thành, vùng ven thị xã, thị trấn...

   Cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cách mạng ở nhiều nơi bị tan rã, xáo trộn, tư tưởng cầu an, dao động nảy sinh, nhiều cán bộ, đảng viên lánh né hoặc chạy dài.

   Phong trào cách mạng Bến Tre lại đứng trước khó khăn và thử thách mới. Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy chủ trương các cơ quan lãnh đạo và các tổ chức quần chúng phải nhanh chóng chuyển hướng hoạt động cho phù hợp. Các ủy viên xuống các huyện, trực tiếp làm bí thư huyện ủy, hàng trăm huyện ủy viên và cán bộ huấn luyện xuống trực tiếp phụ trách xã. Tỉnh ủy được tổ chức thành ba phân ban, đứng chân ở ba khu vực: Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành. Hai huyện Mỏ Cày và Châu Thành được chia làm đôi (1).

   Số đồng chí già yếu, bệnh tật, không có khả năng bám trụ, được chuyển ra khỏi vùng đánh phá ác liệt. LLVT được phân tán thành từng tiểu đội, bám giữ các địa bàn căn cứ. Với kinh nghiệm truyền thống bám đất, bám dân, cán bộ, đảng viên đêm đêm từ hầm bí mật len lỏi về hoạt động trong sự đùm bọc, che chở của nhân dân.

   Về phía nhân dân, mặc dù bị kìm kẹp khắc nghiệt, bà con vẫn hết lòng bảo vệ Đảng, đào hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ trong nhà.

  Nhờ có quyết tâm chịu đựng, chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, và kiên trì phấn đấu, chỉ trong thời gian 2 tháng, đa số cán bộ, đảng viên, du kích đã trở về bám lại được đất, được dân. Có nơi nổi dậy diệt ác ôn, trừng trị những tên chiêu hồi, chỉ điểm. Các tổ chức quần chúng dần dần được khôi phục trở lại.

   Trong khi, phong trào kháng chiến của Bến Tre dần dần tạo được thế và lực mới, thì trên phạm vi toàn cầu chiến trường miền Nam, BTC chủ trương sẽ mở cuộc tập kích chiến lược trong năm 1972, nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng.

  Tháng 11-1971, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng, chủ trương “động viên toàn Đảng, quân và dân Bến Tre khắc phục khó khăn, chuẩn bị hợp đồng với chiến trường toàn miền, tiến hành tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972".

   Để tạo thêm thế lực cho chiến dịch, đầu tháng 1-1972, LLVT của ta được lệnh tiến công vào hệ thống đồn bót địch ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, Bình Đại, tiêu diệt 20 đồn bót, cùng nhiều sinh lực địch. Tiếp đến ngày 23-3-1972, LLVT tỉnh lại cùng với bộ đội đặc công của Quân khu 8, kết hợp với cơ sở nội tuyến, tấn công diệt gọn chi khu Trúc Giang, một cứ điểm mạnh của địch án ngữ trên liên tỉnh lộ 6A và tỉnh lộ 17, cách bến phà Rạch Miễu 3km.

   Đêm 5 rạng ngày 6-4-1972, theo kế hoạch chung của toàn khu 8, quân và dân khắp nơi trong tỉnh đồng loạt nổi dậy tiến công địch ở Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Đợt 1 chiến dịch kết thúc gần 2 tháng tiến công và nổi dậy, tuy chưa giành được thắng lợi to lớn, nhưng cũng đã thúc đẩy được phong trào nổi dậy của quần chúng. Để đẩy mạnh chiến dịch liên tục tấn công địch, Tỉnh ủy quyết định mở đợt tấn công thứ hai vào các điểm then chốt ở Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam.

   Lúc này tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi có lợi cho ta. Chủ tịch địch ở vùng 4 chiến thuật phải rút khỏi chiến trường Bên Tre. Trong khi đó, tỉnh thành lập trung đoàn chủ lực "Đồng khởi", ngoài ra còn được tăng cường thêm một trung đoàn của quân khu.

   Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972 của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi lớn. Ta đã tiêu diệt 1.051 tên địch, làm bị thương và bắt sống 6.687 tên, làm tan rã 13.844 tên, diệt 185 đồn bót, bức rút 162 đồn, giải phóng hoàn toàn các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Phước Hiệp và 167 ấp với 16 vạn dân. LLVT đã tạo được bàn đạp vững chắc trên các địa bàn then chốt như Mỏ Cày, Giồng Trôm và một số vùng ven biển ở Thạnh Phú, Bình Đại.

   Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam cùng với chiến công suất sắc của quân và dân miền Bắc, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, cuối cùng buộc Chính phủ Mỹ phải ký hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" vào ngày 27-1-1973 tại Pari, mở ra thời kỳ đấu tranh mới.

   Nhưng với bản chất hiếu chiến và phản động, đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, vẫn tiếp tục thực hiện chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", ra sức giúp ngụy quyền và tay sai mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng, nhằm xóa bỏ cái gọi là "hình thái da báo".

   Ở Bến Tre, đúng vào giờ ngừng bắn có hiệu lực, Mỹ, ngụy đã tập trung lực lượng gồm 13 tiểu đoàn, tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét. Chỉ trong hơn 4 tháng, từ tháng 2 đến cuối tháng 6-1973, chúng đã lấn chiếm lại 64 ấp giải phóng, đóng thêm 119 đồn bót, ngoài ra chúng còn dồn sức bắt lính, đôn quân, phát triển đội quân tay sai lên hàng vạn tên.

   Tháng 7-1973, Hội nghị BCHTƯĐCS lần thứ 21, xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới: "...Dù phát triển theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên... Nhiệm vụ đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm mới của địch, giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển lực lượng cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản".

   Đầu quý 4-1973, Tỉnh ủy Bến Tre mở hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình và xác định nhiệm vụ của tỉnh trong giai đọan mới là: "Quán triệt xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công, huy động phong trào toàn dân nổi dậy với sinh khí mới, đánh địch bằng ba mặt ở cả ba vùng...".

   Tính đến cuối năm 1974, ta đã đạt được kết quả: 33 ấp giải phóng hoàn toàn, 21 xã giải phóng về cơ bản.

   Giữa lúc tình hình Bến Tre cũng như tình hình chiến trường toàn miền Nam đang có những chuyển biến có lợi cho ta, thì ngày 30-9-1974, BCT họp, nhận định thời cơ chiến lược thuận lợi để hoàn toàn giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền chỉ đạo các địa phương triển khai đợt hoạt động mùa khô 1974 - 1975.

   Chấp hành sự chỉ đạo trên, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định mở chiến dịch mùa khô từ ngày 9-12-1974, và kết thúc vào cuối tháng 1-1975. Kết quả nhân dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.950 tên địch, diệt 111 đồn bót, làm tan rã nhiều toán phòng vệ dân sự, mở thêm nhiều lõm giải phóng ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và Ba Tri...

   Chiến dịch đợt hai được mở tiếp vào thượng tuần tháng 3-1975, mà vùng tiến công trọng điểm là huyện Ba Tri và huyện Chợ Lách. Cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân Ba Tri diễn ra trong hơn 20 ngày, đã bức hàng và bức rút hơn 60 đồn bót. Ở Chợ Lách, được trung đoàn Đồng Tháp của quân khu 8 hỗ trợ, quân dân trong huyện đã tiêu diệt 13 trung đội dân vệ, bức hàng, bức rút 36 đồn bót, trong đó có phân chi khu, giải phóng hoàn toàn xã Tân Tiềng, 12 ấp của các xã Long Thới, Phú Mỹ, Phú Sơn... gồm trên một vạn dân.

   Phối hợp với hai huyện điểm, trong hơn một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân tỉnh đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bót, giải phóng hoàn toàn 3 xã, chuyển 80 xã do địch kiểm soát thành vùng tranh chấp.

   Ngày 25-3 đến ngày 31-3, BCT họp nhận định: thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa đánh vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín mùi, ta cần có quyết tâm lớn hoàn thành trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tốt nhất trong tháng 4-1975.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, dưới sự chỉ đạo của TƯCMN, nhân dân Bến Tre đã dồn sức người, sức của cho trận quyết chiến cuối cùng. Hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, hơn 200 đội du kích xã, ấp được củng cố, hàng vạn người được phiên chế thành những tiểu đoàn, đại đội, trung đội, được phân công bao vây 754 đồn bót và tháp canh, các phân chi khu, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng vùng lên, khi có hiệu lệnh. Các đơn vị bộ đội chủ lực của tỉnh được lệnh chuyển quân về áp sát địa bàn quanh thị xã.

   Có thể nói trong những ngày cuối tháng 4-1975, khắp Bến Tre như sống lại không khí sôi động của những ngày Đồng khởi 15 năm về trước.

   Trong khi đó, kẻ địch cũng cảm nhận được ngày tàn của chúng đã tới gần, nên rất hoang mang. Chỉ trong 10 ngày cuối tháng 4, đã có hơn 7.000 binh lính địch đào ngũ, hàng trăm tên trưởng, phó đồn và trên 400 sĩ quan ngụy móc nối liên lạc với ta, xin làm nội ứng cho cách mạng, trong đó có những tên nắm nhiều chức vụ quan trọng.

   Vào mấy ngày cuối tháng tư, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, chỉ còn chờ hiệu lệnh nổ súng, thì kế hoạch tấn công thị xã bị lộ. Do đó, ngày 27-4, Ban chỉ đạo chiến dịch quyết định chuyển sang phương án mới, tấn công chi khu Lương Quới (Giồng Trôm), bố trí diệt viện ở Đồng Gò, cắt đứt đường giao thông 26, tạo điều kiện để đánh chiếm thị xã khi có thời cơ.

   Đêm 29-4, bộ đội chủ lực phối hợp với các đơn vị đặc công tấn công chi khu Lương Quới và 3 đồn nằm trên trục lộ 26. Được tin báo, sáng 30-4, bọn chỉ huy ở tiểu khu lập tức tung 5 tiểu đoàn bảo an xuống giải tỏa, chúng đã bị LLVT của ta tiêu diệt một phần lớn. Trên đường tiến về thị xã, LLVT đã hỗ trợ quần chúng ở các xã Lương Quới, Châu Thành, Bình Hòa, Phong Mỹ và các xã dọc theo lộ 26, từ Giồng Trôm đến kênh Chẹt Sậy, nổi dậy giành quyền làm chủ và nhanh chóng tiếp cận thị xã.

   Chiều ngày 30-4-1975, theo mệnh lệnh của Ban chỉ huy chiến dịch, các LLVT phối hợp với lực lượng khởi nghĩa của quần chúng, tiến công hầu hết các đồn bót, phân chi khu và căn cứ quan trọng ở các huyện, và hàng loạt đồn bót ven thị xã. Lực lượng chính trị, binh vận cũng được triển khai vào nội ô thị xã, thị trấn, thúc ép địch đầu hàng.

   Trong tình thế tuyệt vọng, vào 18 giờ ngày 30-4, tên đại tá tỉnh trưởng Phạm Chí Kim chạy trốn (sau đó hắn đã bị bắt). Đến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng, triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu quyên bố đầu hàng.

   Đúng 4 giờ sáng ngày 1-5, bộ đội ta chiếm lĩnh sân bay Tân Sơn Nhất. Cùng lúc, hàng ngàn quần chúng võ trang từ các ngã kéo vào thị xã cùng với các đội an ninh hạ cờ ngụy, treo cờ cách mạng, xông vào chiếm dinh tỉnh trưởng, và các cơ quan khác. Thị xã Bến Tre được hoàn toàn giải phóng.

   Trong khi đó, ở các thị trấn Mỏ Cày, Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Thạnh Phú, Châu Thành, Chợ Lách và cả một vùng nông thôn rộng lớn, lực lượng du kích cùng hàng chục vạn quần chúng xông lên tiến vào chiếm các phân chi khu, công sở, đồn bót, thực hiện trọn vẹn khẩu hiệu "huyện giải phóng huyện", "xã giải phóng xã".

   Như vậy, từ chiều tối ngày 30-4-1975 đến sáng ngày 1-5-1975, toàn tỉnh Bến Tre đã được hoàn toàn giải phóng, trật tự trị an nhanh chóng được thiết lập. Cuộc sống độc lập tự do đã trở về với nhân dân. Cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi giòn giã và trọn vẹn. Bộ máy ngụy quân, ngụy quyền gồm 33.444 tên, hơn 103 chi khu và phân chi khu với gần 800 đồn bót bị sụp đổ chỉ trong vòng 2 ngày.

   Thắng lợi cuối cùng của nhân dân Bến Tre đã góp phần cùng nhân dân cả nước quét sạch quân xâm lược Mỹ ra khỏi bờ cõi, đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất.

Chú thích:

(1) Huyện Mỏ Cày chia thành Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam; huyện Châu Thành chia thành Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.

Đã ban hành
An BảoAn Bảo
 
Tổng lập năm 1808, có 66 thôn, thuộc huyện Tân An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.
Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thủy văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%o​. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã (nay là thành phố) trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã nay là thành phố), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre); cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã (nay là thành phố) lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer