Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Bảo ThạnhBảo Thạnh
 

Làng thuộc tổng Bảo Trị, huyện Bảo An, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long, là quê hương của Phan Thanh Giản. Ngày 15-12-1865, sau khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay Pháp, một số sĩ phu Nam Kỳ đã dời phần mộ cụ Võ Trường Toản từ Hòa Hưng (Sài Gòn) về làng Bảo Thạnh (lúc này đang còn là đất tự do ), nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri.

Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
 

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình ChiểuDi tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Image
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

 Ngày 3-7-1888, ông trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 66 tuổi. Người ta kể rằng, hôm đưa đám tang ông, cánh đồng An Bình Đông, nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, trắng xóa khăn tang – khăn tang của học trò, của các thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, của bạn bè và bà con xa gần mến mộ tài đức của ông. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời cũng là người trợ thủ đắc lực của ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các họat động xã hội khác, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo Nữ giới chung.

 Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay. Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27-4-1990.

Đã ban hành
Hương MỹHương Mỹ
 

Quận lập theo Nghị định số 1192-NV của Tổng thống VNCH, ngày 5-12-1960, thuộc tỉnh Kiến Hòa, quận lỵ, đặt tại Cầu Mống, gồm 3 tổng (Minh Quới, Minh Huệ, Minh Phúc) và 13 xã.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
 

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
 

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công...
Tổng tiến công và nổi dậy theo phương châm “hai chân, ba mũi” trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân Bến Tre phải nỗ lực lớn, sử dụng mọi khả năng cho đòn tiến công tổng lực, trong đó lực lượng Đặc công là quả đấm quân sự quan trọng.

Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đặc công ở các huyện, thị xã được điều động cùng các phân đội Đặc công của tỉnh, đại đội Đặc công của Tiểu đoàn 516 và phân đội đánh phá giao thông bộ… hợp thành biên chế 2 đại đội Đặc công A và B.

Hai đại đội Đặc công gấp rút học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ. Sau đó được bổ sung thêm lực lượng Đặc công của các huyện để hình thành 4 bộ phận Đặc công không mang phiên hiệu, sẵn sàng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành của các hướng các mũi đồng loạt tiến công vào thị xã Bến Tre xuân Mậu Thân 1968.

HoangLam.jpg

Anh hùng LLVT Phan Bình Trung (Hoàng Lam)
hy sinh trong tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968.

Các bộ phận Đặc công được phân công làm mũi nhọn dẫn đầu bộ binh đánh địch. Mặc dù lực lượng Đặc công được phân công không đúng chức năng nghiệp vụ kỹ thuật tác chiến, nhưng với bản chất tiến công của binh chủng “đặc biệt tinh nhuệ” đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu trên tinh thần “quân lệnh như sơn”. Đội hình bộ đội Đặc công khi bước vào chiến dịch tiến công thị xã được bố trí cụ thể:

- Bộ phận 1 ở phía tả ngạn sông Bến Tre có 1 trung đội bảo vệ Ban chỉ huy thống nhất, 1 trung đội làm lực lượng dự bị và 1 trung đội được phân công tiến công sân bay Tân Thành.

- Bộ phận 2 theo cánh 2 tiến công vào nội ô từ hướng Bình Phú, Bình Nguyên.

- Bộ phận 3 theo cánh 3 từ hướng Hữu Định tiến công địch đóng dã ngoại ở khu Vườn Ươm, trận đại pháo sân bóng đá thị xã và hậu cứ Trung đoàn 10 ngụy.

- Bộ phận 4 vượt sông Bến Tre tiến công theo hướng cầu Cá Lóc và đường Nguyễn Huệ.

Riêng Đặc công thủy chia làm 2 bộ phận “ém quân” sẵn bên bờ hữu ngạn sông Bến Tre để yểm trợ và làm đầu cầu cho Tiểu đoàn 516 vượt sông tiến công làm chủ các mục tiêu quan trọng về quân sự, hành chánh, thương mại, trong đó dinh Tỉnh trưởng là mục tiêu chủ yếu.

Khi kết thúc giai đoạn “Pháo hỏa chuẩn bị” thì các bộ phận Đặc công thủy, Đặc công bộ đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quân sự và là những mũi nhọn mở đường cho lực lượng bộ binh các hướng các mũi tiến công địch ở thị xã.

Đêm 31-1-1968, tất cả các lực lượng trong đó có Đặc công từ điểm tập kết trên các hướng xuất phát hành quân, lặng lẽ bí mật tiếp cận thị xã, triển khai lực lượng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công. Trong khi đó, các tỉnh miền Trung, thành phố Huế và Sài Gòn – Gia Định tiến công trước nên địch kịp thời hủy lệnh “hưu chiến”. Ngụy quân, ngụy quyền Kiến Hòa có ý thức chủ động đối phó, cảnh giác bắn pháo sáng dọc theo sông Bến Tre, pháo binh của chúng bắn vào những nơi nghi ngờ ở vùng ven thị xã nhằm ngăn chặn hướng tiến quân của “đối phương”.

Đêm 1 rạng 2-2-1968 (tức đêm mùng 2 rạng mùng 3 Tết Mậu Thân) khi kết thúc pháo lệnh thì Đặc công thủy nhanh chóng lên bờ tiêu diệt các mục tiêu nhỏ lẻ bên hữu ngạn sông Bến Tre, chiếm giữ 2 đầu cầu của đoạn đường Hùng Vương để yểm trợ cho Tiểu đoàn 516 vượt sông. Cùng thời gian ấy bộ đội Đặc công trên các hướng các mũi thực hành tiến công mở đường cùng bộ binh đánh vào các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Cá Lóc, Vườn Ươm, trận địa pháo sân bóng đá thị xã, hậu cứ Trung đoàn 10, sân bay Tân Thành… . Ở mũi thứ yếu của hướng tiến công chủ yếu, bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam tiến công đánh chiếm bãi Quân xa (trại Đinh Tiên Hoàng), phá hủy 6 xe bọc thép bánh hơi, kềm chân địch để mũi chủ yếu và thứ yếu của Tiểu đoàn 516 phát triển đánh vào các mục tiêu quy định. Tiểu đoàn 41 Biệt động quân của ngụy bảo vệ dinh Tỉnh trưởng đã triển khai đội hình chống trả quyết liệt các mũi tiến công của ta. Đồng chí Hoàng Lam và Mười Thanh chỉ huy đơn vị kiên quyết xung phong đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực phòng thủ của chúng ở các dãy nhà dọc theo lộ Hùng Vương. Tiểu đoàn BB2 của ta từ hướng Bình Phú hành tiến vào nội ô, nhưng đánh chệch mục tiêu và không bắt tay được với mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516. Từ đó bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam và đại đội bộ binh thuộc mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516 quần nhau với lực lượng địch phòng thủ ở dinh Tỉnh trưởng và chiến đấu ngăn chặn Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 10 ngụy phản kích từ hướng Mỹ Hóa vào cứu nguy đồng bọn trong nội ô. Tương quan lực lượng lúc này có lợi cho địch nên đặc công và bộ binh của mũi thứ yếu bị thiệt hại nặng. Mặc dù mất sức chiến đấu, nhưng lực lượng còn lại của Đặc công thủy quyết chiến với địch, gây cho địch thiệt hại đáng kể. Số cán bộ chiến sĩ Đặc công thủy bị thương được dân công hỏa tuyến đưa về tuyến sau. Hoàng Lam – người con ưu tú của đất thép Giồng Trôm, một cán bộ trẻ gan dạ, thông minh và dũng cảm của binh chủng Đặc công đã anh dũng hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các mũi Đặc công bộ tiến công mở đường cùng bộ binh tiến đánh vào các mục tiêu quân sự trong nội ô thị xã và sân bay Tân Thành. Phân đội Đặc công ở hướng Tây-Bắc thị xã có nhiệm vụ tiến công sân bay do Chủ nhiệm binh chủng Hoàng Quốc Thanh trực tiếp chỉ huy kiên quyết nổ súng tiến công Tiểu đoàn 401 Bảo an, bọn chiến tranh tâm lý và Tiểu đoàn pháo binh ngụy, diệt 1 máy bay trinh sát L19, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm. Địch bị động lúng túng đối phó lúc đầu, nhưng chúng cũng kịp hoàn hồn và phản kích quyết liệt. Khi bộ binh và pháo binh của Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ can thiệp vào chiến trường Bến Tre thì phân đội Đặc công hướng Tây-Bắc cùng lực lượng vũ trang địa phương hoạt động tác chiến phục kích để tiêu hao sinh lực và làm chậm bước tiến của bộ binh Mỹ phản kích vào nội ô. Việc 1/3 quân số của Sư đoàn 9 Mỹ tham chiếm đã chứng tỏ mức độ chiến sự ở Bến Tre ác liệt chỉ đứng sau mặt trận Sài Gòn-Gia Định và Huế. Địch hình thành liên quân Việt – Mỹ phản kích vào nội ô thị xã Bến Tre từ 3 hướng Tân Thành, Mỹ Hóa, Phú Hưng. Ưu thế lúc này thuộc về lực lượng phản kích. Bom pháo của địch tăng cường hủy diệt các khu vực và mục tiêu ta đánh chiếm. Ban chỉ huy thống nhất ra lệnh đại bộ phận rút ra ngoại ô. Riêng các đơn vị Đặc công của tỉnh được củng cố gọn nhẹ cùng lực lượng Đặc công biệt động thị xã tích cực hoạt động đánh phá, ngăn chặn, kềm chân, làm giảm tốc độ phản kích của địch, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 516 và các đơn vị bạn hình thành trận địa phục kích đón đánh quân phản kích, làm thiệt hại nặng 2 Tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở phía nam cầu Cá Lóc và bắc cầu Gò Đàng. Một phân đội Đặc công thủy chiếm giữ cầu Cá Lóc theo mệnh lệnh của Tham mưu trưởng mặt trận, liên tục chiến đấu ngày đêm với địch, diệt nhiều tên và phá hủy 10 xe quân sự.

Đối với lực lượng Đặc công các huyện cũng có nỗ lực lớn trong xây dựng và tham gia chiến đấu. Sau khi được điều phần lớn cán bộ chiến sĩ đặc công về nhận nhiệm vụ ở tỉnh, còn lại số cốt cán từ 3 đến 5 đồng chí ở mỗi huyện đã phát triển được 1 đến 2 tiểu đội, khẩn trương huấn luyện nghiệp vụ, chuẩn bị mọi mặt tham gia tổng tiến công. Nổi bật là Đặc công huyện Mỏ Cày đã xây dựng được 1 trung đội và 1 tiểu đội; Châu Thành và Giồng Trôm mỗi huyện có 1 trung đội Đặc công.

Bước vào tổng tiến công, Đặc công Mỏ Cày tiêu diệt các đồn trụ xung quanh thị trấn như tua gác cầu Việt Hoa, công sở Đa Phước Hội. Sau đó cùng bộ binh đánh địch trong nội ô thị trấn, tiêu diệt các đồn trên tuyến giao thông 30 (đồn cống Cây Keo, đồn thằng Quang, đồn Bếp Lý). Khi địch đổ bộ bằng đường không để phản kích thì Đặc công Mỏ Cày thực hiện tập kích quân dã ngoại, diệt 2 tiểu đội địch, thu vũ khí, liên tục tiến công 5 đêm làm cho chúng hoảng sợ. Ở Giồng Trôm, lực lượng Đặc công cùng bộ binh của huyện tiến công đồn bót ven giao thông và quanh thị tứ Mỹ Lồng, đốt kho xăng. Sau đó cùng các đơn vị bạn tiến công địch trong nội ô thị trấn. Đặc công các huyện còn lại đã cùng lực lượng nổi dậy chiếm nhiều đồn bót và đánh quân phản kích, góp phần vào thành tích chung của địa phương.

Binh chủng Đặc công Bến Tre phát triển nhanh chóng và góp công khá xuất sắc trong đợt Tổng tiến công. Chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, hiệu suất chiến đấu cao. Các đơn vị Đặc công từ tỉnh đến huyện chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết một lòng, gắn bó với các đơn vị bạn, kiên quyết tiến công kẻ thù, lập công tập thể. Bộ đội Đặc công cùng với các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận, đoàn thể quần chúng… tham gia tổng tiến công và nổi dậy, chung sức tạo nên bản anh hùng ca xuân Mậu Thân 1968.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)
 

Image
Ca Văn Thỉnh (1902-1987)
    Sinh ngày 21-3-1902, trong một gia đình nông dân ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ca Văn Thỉnh thuở nhỏ học trường tiểu học ở tỉnh. Nhờ học giỏi, ông được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn, sau đó học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Thời sinh viên, Ca Văn Thỉnh cùng với bạn đồng học như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở Hà Nội. Vở cải lương về Nguyễn Trãi lấy tên là Bầu nhiệt huyết của ông đã bị thực dân Pháp cấm diễn.

   Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Ca Văn Thỉnh được bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Bến Tre. Tháng 8-1945, ông tham gia cướp chính quyền ở tỉnh. Năm 1946, là thành viên phái đoàn khu 8 vượt biển raTrung ương báo cáo tình hình, xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ và được mời nhận chức vụ Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ Kháng chiến.

  Năm 1952, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, được phân công làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, kiêm ủy viên Ủy ban Liên Việt Nam Bộ. Sau hiệp định Genève (1954), tập kết ra Bắc, đã kinh qua các công tác: phụ trách vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao, Đại sứ ở Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

  Trong suốt mấy chục năm trời từ sau CMT8-1945, Ca Văn Thỉnh hoạt động liên tục cho đến khi nghỉ hưu và đã có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt chính trị, xã hội, giáo dục. Do đó, được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

   Cống hiến nổi bật nhất của Ca Văn Thỉnh là đã góp một phần có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa và văn học Nam Bộ, khơi dậy những giá trị chân chính trong truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của mảnh đất phương Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu với cả nước những nhà văn hóa, nhà thơ yêu nước như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông trên một quan điểm dân tộc, tiến bộ.

   Với bút hiệu Ngạc Xuyên (có nghĩa là Rạch Cá Sấu - một địa danh của quê hương), trong KCCP, ông bắt đầu giới thiệu văn thơ yêu nước của các sĩ phu Nam Bộ, trên các báo chí cách mạng. Tập kết ra Bắc, ông vẫn cần mẫn nghiên cứu, dịch, giới thiệu phần thơ văn này trên các báo Văn nghệ, trên Tạp chí Văn học…Ông cùng với Bảo Định Giang biên soạn cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Thơ văn Nguyễn Văn Thông. Sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng, tuy tuổi già sức yếu, ông đã để công biên soạn cuốn Hào khí Đồng Nai, một tập sách phân tích, đánh giá những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ.

   Công bình mà nói, Ca Văn Thỉnh để lại trước tác không nhiều so với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác, nhưng những cuốn sách, bài báo của ông từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời là một mảng đóng góp có ý nghĩa, trong việc nghiên cứu văn hóa của vùng đất mới của Tổ quốc. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu.

Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
 

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Cụm duyên hải phía Đông ĐBSCL theo đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) định hình, có diện tích khoảng 8.618 km2, được bao bọc bởi các nhánh sông (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu) thuộc hệ thống sông Cửu Long; các tỉnh cụm phía Đông nầy cũng là cửa ngỏ khi du khách từ các nơi trên cả nước về với miền Tây Nam bộ; đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến.

Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi; du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ TP.HCM -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm; quý khách đến đây sẽ bắt gặp trên 30 lữ hành của các tỉnh đang chào đón tại bến tàu du lịch Tiền Giang để đưa khách thập phương đi tham quan các tuyến điểm du lịch tại Bến Tre, Vĩnh Long hay cả miền Tây Nam bộ; bến tàu du lịch nầy có từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay do hệ thống giao thông về các tỉnh trong khu vực thời điểm nầy còn phải ngăn sông, lụy phà.

Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre, dọc theo sông Tiền có gần 40 điểm dừng chân tham quan du lịch sông nước miệt vườn với nhiều mô hình làng nghề xen lẫn, du khách sẽ được các lữ hành đưa đi lênh đênh trên những chiếc tàu du lịch để ngắm nhìn quần thể Long, Lân, Qui, Phụng, đây là bốn cồn nằm trên sông Tiền, trong đó điểm du lịch cồn Phụng được chọn một trong những điểm tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long, du khách sẽ được chèo thuyền trong rạch nhỏ, tảng bộ trong đường làng để thưởng thức những trái cây ngon và uống ngụm trà mật ong, nghe đàn ca tài tử tại đây hay được đi trên những chiếc xe ngựa trên đường nông thôn hoặc tham gia tát mương bắt cá rồi thưởng thức tại chỗ cùng người dân sở tại.

 

Điểm dừng chân thưởng thức trà mật ong tại Châu Thành - Bến Tre

Rời khỏi Châu Thành, đi thêm 12km là đến TP.Bến Tre, du khách mua sản phẩm lưu niệm đặc sản có thể ghé các điểm trên đoạn đường nầy như: Kẹo Dừa Yến Hương, Thanh Long 1, Thanh Long 2, Thanh Long 3, kẹo dừa Bến Tre hoặc nhiều điểm khác trên các tuyến đường sẽ có đầy đủ những sản phẩm của quê hương như trái cây, hàng lưu niệm, kẹo dừa, bánh phồng, bánh tráng, .v.v. Thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, khang trang, sạch đẹp; một quê hương được mệnh danh là quê hương xứ dừa (với 63ha dừa, hơn 1/3 diện tích dừa cả nước hiện nay) cũng là nơi vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống đã cung cấp trong cả nước và các nước lân cận; quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ, phù hợp cho du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, kết hợp nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử; nhiều làng nghề truyền thống có hàng trăm năm tuổi; đặc biệt là nhiều món ẩm thực từ dừa như: Cơm nấu trong trái dừa, tép bạt đất rang nước cốt dừa, gỏi tủ hủ dừa, bánh xèo hến với tủ hủ dừa và nhiều món bánh ăn khác với nước cốt dừa,…; sẽ tạo nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi có một chuyến thưởng ngoạn tại quê hương xứ dừa…

 

Điểm dừng chân du lịch bên Cầu Rạch Miểu (Nhà hàng thủy sản Mê Kông)

Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo quốc lộ 60 khoảng 30km qua phà Cổ Chiên (Cầu đang thi công) sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, một thành phố đẹp có nhiều cây cổ thụ quí giá nhất của vùng; một quê hương đa dạng nét văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Khơme, Hoa, nơi có nhiều lễ hội của các dân tộc như: Đua ghe ngo, lễ hội Ok – Om – Bok,…; đặt biệt Trà Vinh có khu đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng từ thập niên 60 ở thế kỷ XX và được trùng tu khang trang trở thành điểm tham quan du lịch; trong khu có tái dựng nhà sàn Bác Hồ và những sản vật bảo tồn, bảo tàng làm phong phú cho sản phẩm du lịch; kế đó là khu Ao Bà Om thơ mộng bên cạnh chùa Ân thanh tịnh, với hàng trăm cây cổ thụ được trồng xung quanh đã làm nên một quần thể tham quan tuyệt đẹp trong lòng thành phố. Đặc biệt ở Trà Vinh du khách sẽ được chiêm ngưỡng và tham gia du lịch tâm linh trên 140 ngôi chùa Khơme như: Chùa Ân, Chùa Hang,…với nét kiến trúc màu sắc độc đáo của người Khơme.

Xuôi về  tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã phát triển tốt, đặc biệt là du lịch homestay đã đi vào hoạt động phục vụ khách quốc tế từ những năm 2004, sau đó mới phát triển qua Bến Tre. Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây ĐBSCL đến mũi Cà Mau.

Bốn địa phương của 4 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang,Vĩnh Long và Trà Vinh; có cùng bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ, cùng chia sẻ một lịch sử chung, có cùng cội nguồn, đời sống sinh hoạt cũng có nét tương đồng, giống nhau về sông nước miệt vườn có tiềm năng du lịch đa dạng, nhưng có nhiều sản phẩm đặc thù khác nhau đem lại cho du khách một điểm đến hấp dẫn; đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch homestays, du lịch nông thôn. Dự báo đến năm 2020 cụm sẽ đón 29% lượng khách nội địa và 56% lượng khách quốc tế của toàn vùng ĐBSCL. Đến cụm phía Đông duyên hải ĐBSCL, du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc sản từ dừa, ăn bưởi da xanh thì đến Bến Tre; ăn bưởi năm roi thì ghé Vĩnh Long, không thể ghé Vĩnh Long mà ăn bưởi da xanh và đến Bến Tre mà ăn bưởi năm roi sẽ không ngon; muốn ăn dừa dứa, dừa xiêm thì đến Bến Tre, ăn dừa sáp thì qua Trà Vinh, muốn tham quan chợ nổi thì về Cái Bè (Tiền Giang), muốn đi du lịch biển, thưởng thức hải sản tươi sống thì xuống huyện Thạnh Phú, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre hay Ba Động của tỉnh Trà Vinh… Do vậy mà mỗi tỉnh sẽ có những sản phẩm đặc thù của từng địa phương trong những nét chung của đồng bằng tạo thành một sản phẩm chung của cụm, tạo nên một điểm đến hấp dẩn với nhu cầu du lịch của một chuyến hành trình trên bốn địa phương.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Lê Văn Đệ (1906 - 1966)Lê Văn Đệ (1906 - 1966)
 

Image
Lê Văn Đệ (1906-1966)
    Trong lịch sữ mỹ thuật Việt Nam, Lê Văn Đệ được nhắc đến như một nghệ sĩ bậc thầy, tiêu biểu cho xu hướng cổ điển và tân cổ điển Việt Nam. Sinh trong một gia đình nhà nho ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thân sinh là Lê Quang Hòe, cai tổng Minh Đạt, hàm Tri huyện. Ông là con thứ 10 trong số 13 anh chị em. Lúc nhỏ, học ở trường tiểu học ở quê nhà, sau lên học ở Trường Tabert, Sài Gòn. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, ông đã được bạn bè ngợi ca về tài vẽ nhanh và đẹp. Năm 1925, sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội. Cùng với Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê An Phan… ông trúng tuyển trong số 10 người, trong tổng số 400 thí sinh dự thi. Trong những năm theo học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường và đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp.

   Năm 1931, ông được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris, dưới sự hướng dẫn của giáo sư J.Pierre Laurence vẽ tranh sơn dầu. Trong những năm học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông đã gây được sự chú ý trong giới nghệ thuật tại thủ đô ánh sáng này và ông đã đoạt giải thưởng hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức. Với thành tích rực rỡ này, ông được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp thêm về hội họa tại Ý và Hy Lạp.

   Năm 1933, tranh ông được chọn triển lãm tại phòng số 1 - một gian phòng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ 5.000 họa sĩ các nước. Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy giờ đã đề cập đến tác phẩm của ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển lãm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa Pháp đã chọn mua ngay một bức tranh Trong gia đình của ông để treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

   Năm 1936, tại một cuộc triển lãm tranh do tổ chức báo chí Công giáo bảo trợ tại Roma, có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới, trong số đó có nhà danh họa Bouleau (Pháp), tác phẩm của Lê Văn Đệ được tặng giải nhất. Do đó, ông được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công trình do ông chỉ đạo thực hiện đã được báo chí Ý và nhiều nước đánh giá cao.

   Năm 1938, ông trở về nước, vừa sáng tác vừa tiếp tục nghiên cứu hội họa dân tộc và các nền hội họa phương Đông. Bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của ông là một tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ. Công lao lớn nhất của Lê Văn Đệ là đã sáng lập ra Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, làm cho việc giảng dạy và đào tạo cán bộ mỹ thuật ở miền Nam được nâng cao và phong phú hơn. Năm 1954, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định thành lập, ông được cử làm Giám đốc đầu tiên của trường. Tác phẩm của ông thiên về khuynh hướng cổ điển và tân cổ điển, mặc dù ông nắm khá chắc kỹ thuật và có kiến thức uyên bác về khuynh hướng mỹ thuật hiện đại của châu Âu.

   Ông say mê nghiên cứu thủ ấn họa của Nhật Bản và các trường phái hội họa nguyên thủy châu Âu, nhưng sở trường nhất của ông vẫn là tranh lụa, tranh sơn dầu và bích họa. Trong kỹ thuật tranh lụa, ông đã có những tìm tòi độc đáo như dùng màu sắc thiên nhiên thay thế cho màu hóa học, để làm tăng thêm chất hiện thực và vẻ mềm mại của loại tranh này.

   Đánh giá về ông, giới họa sĩ cho rằng hai cố họa sĩ đàn anh xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đem lại vinh dự cho Việt Nam là hai ông Lê Văn Đệ và Nguyễn Gia Trí.

   Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại các bảo tàng một số nước châu Âu như: bức Trong gia đình (sơn dầu), 1934 - Viện Bảo tàng Luxemburg ở Paris, bức Đức Mẹ và bức Bà Thánh Madeleine dưới chân thập giá - Viện Bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican, bức Mẹ và con - Viện Bảo tàng Mỹ thuật Aix La Chapelle…

   Là một người bình dị, thích cái đẹp thôn dã, giàu lòng vị tha, ngoài chức vụ Giám đốc Trường Mỹ thuật, ông Đệ lúc sinh thời còn là Phó hội trưởng Hội hoa kiểng Việt Nam - một ngành có liên quan nhiều đến mỹ thuật như kiểng bonsai, hòn non bộ và vườn cảnh. Ông từ trần ngày 16-3-1966 tại Sài Gòn.

Đã ban hành
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954

Tình hình mất đất, mất dân đặt ra trước quân và dân Bến Tre một nhiệm vụ cực kỳ gay gắt, phức tạp. Tỉnh ủy kiểm điểm, đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải kịp thời ổn định tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và LLVT, kêu gọi toàn Đảng bộ, phải vững vàng trước tình hình khó khăn, vượt qua mọi thử thách, kiên quyết bám đất, bám dân, tổ chức lãnh đạo nhân dân chống trả địch, bẻ gãy mọi mưu đồ đen tối của chúng.

   Cùng với việc tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng. Tỉnh ủy và UBKCHC đã chủ trương sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đưa những chi bộ rời xã trở về xã, điều động những cán bộ có năng lực, có dũng khí của huyện, tỉnh về tăng cường cho các cấp xã. Một số tỉnh ủy viên xuống huyện trực tiếp làm bí thư huyện ủy, các huyện ủy viên trực tiếp phụ trách một số xã, bám chắc địa phương. Địa bàn một số huyện cũng được phân chia, sắp xếp lại: huyện Chợ Lách sáp nhập với huyện Mỏ Cày, một số xã của huyện An Hóa nhập với huyện Sóc Sãi. Ban cán sự thị xã được thành lập để chỉ đạo công tác khôi phục cơ sở và đấu tranh nội thị.

   Các LLVT của huyện được phân tán thành những đội vũ trang tuyên truyền vừa tham gia xây dựng cơ sở quần chúng, vừa tổ chức đánh địch khi cần thiết. Các đại đội Vệ quốc đoàn được gấp rút củng cố, làm nhiệm vụ canh gác, phòng gian, bảo vệ căn cứ của tỉnh ở rừng Thạnh Phú, đồng thời hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở các xã chung quanh căn cứ.

   Như vậy là toàn bộ lực lượng cán bộ, đảng viên được triển khai trên mặt trận giành dân quyết liệt với địch bằng một quyết tâm sắt đá. Nhiều cán bộ phải len lỏi qua mạng lưới đồn bót địch, phải ăn nhờ ngủ bụi, chịu đựng đói khát, muỗi mòng. Các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày ban ngày sống trên ngọn dừa, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú, trên đường công tác gặp bão lớn, ghe bị chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình trong nước mặn cả tuần lễ.

   Riêng cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân lần này, Đảng bộ và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã trả một giá khá đắt trên 600 cán bộ, đảng viên hy sinh. Đã có biết bao tấm gương kiên trung, bất khuất làm xúc động lòng người, và buộc chính kẻ thù phải khâm phục, kính nể.

   Đồng chí Nguyễn Văn Dậu, Phó bí thư kiêm Chủ tịch huyện Sóc Sãi bị địch bắt đem mổ bụng. Trước khi chết, đồng chí đã kêu gọi đồng bào, đồng chí tiếp tục kháng chiến cho đến thắng lợi, dõng dạc hô to “Hồ Chủ tịch muôn năm”!

   Đồng chí Nguyễn Thanh Trà, Tỉnh ủy viên, đã từng vào tù ra khám nhiều lần. Khi bị sa vào tay giặc, đồng chí đã tự mổ bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam khẩu hiệu "Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Việt Nam độc lập muôn năm”. Địch phát hiện kịp, băng bó lại vết thương, nhưng đồng chí đã bứt băng, lôi ruột ra, ném vào mặt chúng rồi chết.

   Đồng chí Sáu Lấn, Bí thư Chi bộ Sơn Hòa (Sóc Sãi) bị địch bao vây, từ dưới hầm bí mật, đã ném lựu đạn lên, nhưng lựu đạn không nổ, đồng chí đã dùng dao mổ bụng, nhét tài liệu mật, rồi chửi thẳng vào mặt những tên dở giọng dụ dỗ, chiêu hồi.

   Đồng chí Hai Thép, Bí thư Chi bộ xã Phúc Túc, nằm dưới hầm bí mật, bị địch phát hiện, đồng chí ném hai quả lựu đạn vào đội hình địch, diệt cả chục tên, còn trái cuối cùng thì dành cho mình. Cái chết anh hùng của Hai Thép làm cho binh sĩ ngụy phải run sợ, kính phục.

   Một tiểu đội vũ trang tuyên truyền huyện Sóc Sãi, khi vượt sông bị tàu địch phát hiện, truy đuổi, dồn các đồng chí vào cồn Dơi. Các đồng chí đã chiến đấu một cách ngoan cường cho đến người cuối cùng, không chịu để cho giặc bắt.

   Còn vô vàn tấm gương anh dũng tuyệt vời, vô vàn tấm lòng tận tụy với dân với nước của cán bộ và đảng viên, có tên hoặc không tên cùng sự hy sinh, cưu mang, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng vô bờ bến của quần chúng, bất chấp tù ngục, súng gươm... Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh vào niềm tin, để con người có đủ nghị lực vượt qua những giây phút gay go, đen tối nhất, tiến lên chiến thắng kẻ thù.

   Chỉ trong vòng nửa năm sau đợt phát động, phong trào các nơi đã dần dần gượng dậy được, quần chúng đã đứng lên đấu tranh từ hình thức thấp đến hình thức cao, chống đàn áp, khủng bố, chống áp bức bóc lột, phá vỡ thế kìm kẹp của địch... Những tên ác ôn khét tiếng bị trừng trị, làm cho bọn theo đóm ăn tàn không dám hung hăng, nghênh ngang như trước.

   Trong lúc tỉnh Bến Tre đang gặp những khó khăn to lớn thì TƯCMN, Khu ủy 8 tăng cường chỉ đạo, chi viện mọi mặt cho tỉnh nhằm nhanh chóng khôi phục lại phong trào (1). Nhiều cán bộ có năng lực cũng được điều về bổ sung cho cấp lãnh đạo tỉnh (2).

   Ngày 7-1-1953, Tỉnh ủy họp mở rộng tại Thừa Đức (Bình Đại) để bàn việc quán triệt hơn những nhiệm vụ mới và phương châm công tác ở các vùng bị tạm chiếm theo chỉ thị của TƯĐCS. Hội nghị đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 27 đồng chí, do đồng chí Đỗ Phát Quang làm Bí thư. Dưới ánh sáng của các nghị quyết hội nghị, phong trào Bến Tre bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ.

   Lúc này, trên chiến trường toàn quốc, địch bị thất bại trong chiến dịch Hòa Bình (đầu năm 1952), tiếp đến bị khốn đốn trong chiến dịch Tây Bắc (cuối năm 1952). Bộ chỉ huy Pháp buộc phải rút bớt quân từ các chiến trường để lập phòng tuyến giữ đồng bằng Bắc Bộ và tăng cường các binh đoàn cơ động để đối phó với chủ lực của ta ở chiến trường chính.

   Ở Bến Tre, chúng đưa Nguyễn Thi Giỏi làm tỉnh trưởng thay Léon Leroy, rút bớt một số đồn bót lẻ để đề phòng sự tấn công của ta, đồng thời lập hai tiểu đoàn cơ động để đối phó với tình hình. Do đó, phía ta có thêm điều kiện thuận lợi để bung ra, mở rộng chỗ đứng chân, đẩy mạnh phong trào.

   Bước sang năm 1953, nhiều chi bộ Đảng đã bám lại được xã, ấp, các đội vũ trang tuyên truyền, du kích đã đứng vững, hoạt động có hiệu quả ngay giữa lòng địch. Cơ sở chính trị trong nhân dân được mở rộng. Các huyện ủy đều đứng vững trên địa phương mình. Cuối năm 1953, cơ quan Tỉnh ủy trở lại căn cứ Thạnh Phú. Hệ thống liên lạc từ trên xuống dưới được củng cố, thông suốt. Quần chúng từng bước đã đứng lên đấu tranh bảo vệ những quyền lợi thiết thân của mình, chống lại chính sách bòn rút, vơ vét, khủng bố của địch. Đặc biệt, phong trào chống địch bắt lính đã dấy lên sôi nổi. Nhiều gia đình, vợ con binh sĩ ngụy kéo đến đồn bót địch đòi chồng, đòi con. Trong hàng ngũ binh sĩ ngụy có phong trào không chịu ra trận, không hành quân ra khỏi tỉnh v.v... Phong trào du kích chiến tranh phát triển đều khắp trong tỉnh. Âm mưu bình định của địch, về cơ bản, bị đánh bại.

   Tháng 9-1953, BCHTƯĐCS họp hội nghị phân tích cụ thể cục diện chiến tranh Đông Dương, âm mưu của Pháp, Mỹ và ra nghị quyết có ý nghĩa lịch sử về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Nghị quyết được quán triệt tới tận các cấp ủy và các cấp chỉ huy quân sự trong cả nước. Mọi việc chuẩn bị chiến trường cũng như công tác tổ chức lực lượng phục vụ các chiến dịch được triển khai mạnh mẽ.

   Những đòn tiến công chiến lược của quân và dân ta ở chiến trường chính Bắc Bộ buộc địch phải tập trung lực cơ động để đối phó. Tình thế đó tạo thời cơ thuận lợi cho bộ đội ta tiêu diệt địch và cho chiến tranh du kích phát huy vai trò mạnh mẽ của nó ở vùng sau lưng địch. Nắm chắc thời cơ khi đại bộ phận quân chủ lực của địch ở Nam Bộ rút gần hết ra tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ, Tây Nguyên và Trung Lào, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh (trong đó có Bến Tre) phối hợp chặt chẽ tiến công tiêu diệt ở khắp nơi. Công tác địch, ngụy vận cũng được đẩy mạnh làm cho phong trào đào, rã ngũ lan rộng trong binh lính Hòa hảo, Cao đài...

   Tháng 11-1953, hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức tại rừng Thạnh Phú để bàn kế hoạch chấp hành quyết tâm chiến lược của Trung ương và đề ra kế hoạch Đông Xuân của tỉnh. Kế hoạch được chia làm hai đợt: trong đợt I bắt đầu vào đầu tháng 1-1945, xã Thạnh Phong (Thạnh Phú) được chọn làm điểm đột phá để phát động gia đình binh sĩ phối hợp với nhân dân, bộ đội, du kích tấn công vào đồn bót địch. Trong đợt này, đồn Cồn Rừng - một vị trí quan trọng khống chế khu vực Thạnh Phong - bị quần chúng bao vây. Hơn 5.000 đồng bào bị tập trung quanh đồn đã bung ra, trở về nhà cũ. Bị bao vây và triệt đường tiếp tế, các đồn thuộc vùng ven biển Thạnh Phú như Cồn Rừng, Khâu Băng, Cồn Điệp, Hồ Cỏ, Cái Cát phải rút chạy.

   Chiến thắng Thạnh Phú giáng một đòn mạnh mẽ vào tinh thần binh lính ngụy, thôi thúc các huyện trong tỉnh thi đua lập công. Ngày 17-1-1954, quân và dân An Hóa đánh diệt các đồn Phước Thuận, Giồng Cà, Thừa Đức, và các bót Lộc Thuận, Phú Lộc. Ở Ba Tri, dân quân du kích phối hợp cùng đồng bào (trong đó có gia đình binh sĩ ngụy) bao vây, bức rút một loạt 18 đồn bảo an ở các xã An Đức, Phú Ngãi, Vĩnh Hòa, An Hòa Tây, Tân Hào Đông. Ở Mỏ Cày, kết hợp với cơ sở địch, ngụy vận, du kích, đồng bào ta đã diệt hàng loạt đồn và lô cốt ở Định Thủy, Tân Thiềng, Phước Hiệp. Các đồn bót đóng dọc theo lộ 30, từ Cái Mơn đến Ba Vát bị san bằng.

   Kết quả, sau 4 tháng hoạt động, quân dân Bến Tre đã diệt 53 đồn bót, giết 144 tên địch, bắt sống 234 tên, làm rã ngũ 1.350 tên, giải tán 30 hội tề xã, thu 300 súng các loại. Vùng tự do của tỉnh được mở thành một vệt dài ven biển từ Thạnh Phú, Ba Tri đến Bình Đại và khu vực nam, bắc Mỏ Cày.

   Trong khi đó, ở mặt trận Điện Biên Phủ, sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng gian khổ, 14 giờ ngày 7-5-1954, quân ta đã cắm ngọn cờ chiến thắng trên nóc hầm sở chỉ huy của tướng De Castries. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Tây Nguyên, Trung và Hạ Lào cổ vũ, ngày 25-5-1954, Tỉnh ủy Bến Tre họp, quyết định phát động tấn công đợt II với quyết tâm tấn công và nổi dậy mạnh mẽ hơn, để cùng cả nước giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

   Thực hiện quyết tâm mới, trên chiến trường Bến Tre, những cuộc tiến công quân sự của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, du kích kết hợp với nổi dậy của hàng vạn quần chúng diễn ra sôi nổi, đều khắp, buộc nhiều đồn bót địch phải hạ vũ khí, đầu hàng, hoặc rút chạy về co cụm lại ở thị xã và các thị trấn. Hàng loạt ban hội tề bị giải tán.

   Ở Ba Tri, các đồn bót ở Mỹ Nhơn, An Hiệp, Tân Xuân phải cuốn chạy. Ở An Hóa, ta diệt một loạt đồn bót ở Bến Đình, Cầu Sắt, ngã ba Bà Khoai, Tân Phú Trung và bức rút các đồn Bình Mỹ, Thừa Đức. Ở Mỏ Cày, du kích ta khống chế lộ 30, bức hàng, bức rút một loạt đồn bót các xã đầu trên của huyện, mở ra một vùng giải phóng liên hoàn. Ở Châu Thành, được LLVT tỉnh hỗ trợ, nhân dân trong huyện đã bao vây, bức hàng, bức rút nhiều đồn bót ở Châu Hòa, Lương Quới, Nhơn Thạnh, Thạnh Phú Đông. Ở Sóc Sãi, đồng bào và du kích nổi dậy, bao vây bức rút các đồn Tam Phước, Thành Triệu, Tường Đa. Ở thị xã, nhân dân nội thị và vùng ven tích cực làm công tác ngụy vận, kêu gọi được hàng trăm sĩ quan, binh lính ngụy bỏ ngũ về nhà.

   Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, quân và dân Bến Tre trong một thời gian ngắn đã vùng lên, đập vỡ từng mảng hệ thống đồn bót của địch, làm tan rã toàn bộ bộ máy ngụy quyền cơ sở ở nông thôn. Chính quyền cách mạng đã kiểm soát 3/4 đất đai trong tỉnh.

   Trên vùng đất giải phóng, chính quyền các cấp tiến hành tịch thu ruộng đất của bọn phản động, cấp cho nông dân; xây dựng phòng thông tin, trạm y tế, nhà hộ sinh, trường học. Tiếng hát lời ca cách mạng lại bắt đầu vang lên trong thôn xóm. Bộ mặt của nông thôn do ta làm chủ đang bắt đầu có bước khởi sắc.

   Sự phát triển nhanh chóng của tình hình Bến Tre cũng như các tỉnh khác ở Nam Bộ, đã gây một tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Sài Gòn. Nhiều cuộc biểu tình lớn đòi lập lại hòa bình ở Đông Dương liên tiếp nổ ra. 352 nhà trí thức Sài Gòn đã ký tên vào một bản tuyên ngôn đòi quân Pháp ngừng cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.

   Ngày 20-7-1954, tại Genève (Thụy Sĩ) phái đoàn Chính phủ Pháp buộc phải ký kết với đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn hiệp định đình chỉ chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như Campuchia và Lào. Đối với Việt Nam, hiệp định quy định rõ ngày ngừng bắn, thời gian chuyển quân tập kết, giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Hai miền Nam, Bắc sẽ tiến tới Tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà.

   Như vậy, từ ngày 23-9-1945 đến 20-7-1954, nhân dân Bến Tre cùng với đồng bào cả nước tiến hành cuộc kháng chiến ròng rã 3.223 ngày đêm đầy gian khổ hy sinh, nhưng vô cùng anh dũng, tự hào. Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lời kêu gọi quân đội và nhân dân cả nước, đã khẳng định: ”Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của ta. Nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định giải phóng” (3).

   Trong niềm vui chưa trọn vẹn, vâng theo lời Người, nhân dân Bến Tre cũng như toàn thể đồng bào miền Nam tiễn đưa những con em của mình xuống tàu tập kết, đồng thời cũng chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị điều kiện để cùng với những đồng bào, đồng chí ở lại bước vào cuộc đấu tranh mới, cuộc đấu tranh mà những dự cảm chính trị đã cho thấy trước rằng không kém phần gay go, gian khổ.

Chú thích

(1) Đồng chí Phạm Thái Bường là phái viên TƯCMN phụ trách Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh.
(2)  Đồng chí Đỗ Phát Quang làm chủ tịch UBKCHC tỉnh; Đồng Văn Cống làm Tỉnh đội trưởng, Dương Cự Tẩm, Chính trị viên tỉnh đội; Võ Tấn Nhứt, Tỉnh đội phó; Nguyễn Văn Yên, Trưởng ty Công an.
(3Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập 3, Nxb Sự thật, H, 1956, tr. 8-9

Đã ban hành
Trường Trung học Tư thục Bình HòaTrường Trung học Tư thục Bình Hòa
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Trường Trung học Tư thục Bình Hòa, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh thuộc loại hình di tích lịch sử cách mạng, nơi đào tạo nhân tài của tỉnh nhà.

truong-binh-hoa.jpg

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Trường Trung học Tư thục Bình Hòa, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh thuộc loại hình di tích lịch sử cách mạng, nơi đào tạo nhân tài của tỉnh nhà.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường tỉnh 885 đến thị trấn Giồng Trôm (khoảng 28km) là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1955, Đồng chí Nguyễn Thanh Liêm (Tư Chí) - Bí thư Huyện ủy Ba Tri về tại ấp Đông Ngô, xã Bình Hòa triệu tập một số Đảng viên, cán bộ để tổ chức thành lập trường trung học, lấy tên là trường Trung học Tư thục Bình Hòa.

Ngày 22/8/1955, Trường Trung học Tư thục Bình Hòa khai giảng niên học đầu tiên (1955 - 1956). Năm học đầu tiên trường chỉ có 03 lớp học, gồm 01 lớp đệ lục và 02 lớp đệ thất tổng cộng là 96 học sinh. Đến năm 1957, Ban lãnh đạo Trường đã thuê ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Du tọa lạc tại ấp 5, Thị trấn Giồng Trôm. Đây là ngôi nhà xây dựng từ năm 1930 có kiến trúc theo kiểu Pháp, nhưng đặc trưng nhà ở vùng Nam Bộ (3 gian, 2 chái).

Học sinh trường Trung học tư thục Bình Hòa (sau này là Trường Trung học Tư thục Thanh Trí) phần lớn là con em của gia đình cách mạng, những người nông dân nghèo được nhà trường đào tạo, nhiều người đã trưởng thành trong chiến đấu, nhiều người được giao trọng trách và giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam như đồng chí Trương Vĩnh Trọng - nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Văn Thới - nguyên Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre; đồng chí Hà Văn Hiển (Tư Biên), nguyên Phó Ban Tài chính Quản trị Trung ương; đồng chí Bùi Quang Tôn (Trần Đông Phong), nguyên Phó Ban Dân vận Trung ương; đồng chí Đỗ Hoàng Hải (Năm Khoa), nguyên Trưởng Ban Kinh tế Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh,…

Các ngày 04 tháng 3, ngày 20 tháng 11 (Ngày Nhà giáo Việt Nam), ngày mùng 3 Tết, ngày 26 tháng 6 (ngày giỗ thầy Lê Quang Quới) được xem là những ngày truyền thống của Trường Tư thục Bình Hòa.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Địa chấtĐịa chất
Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Phần đất cao hơn hết đi từ Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía bắc và tây bắc của thành phố Bến Tre. Đây là khu vực của cồn sông cổ bị lũ hằng năm đem phù sa phủ lấp lên. Cao độ tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m.

Một phần đất cao nữa nằm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển, gọi là giồng, với độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m. Đa số địa danh cao đều mang thêm từ giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Mù U, v.v...

Phần đất thấp gồm có 2 loại. Trước hết là các lòng máng của những dòng sông cổ và mới, đã bị lấp toàn phần hoặc từng phần bởi trầm tích lũ hiện nay. Ví dụ như Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành, hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại thứ hai là những vũng mặn cổ, nay cũng đã được lấp đầy từng phần như xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri; Bình Quới, Mỹ Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại này chỉ có độ cao từ 1 đến 1,5 m và đa số bị ảnh hưởng triều rất mạnh. Ví dụ: Ở xóm Rạch Vọp, ảnh hưởng triều xảy ra mỗi ngày, tạo nên một loại trầm tích keo hóa gọi là trầm tích đồng thủy triều.

Cuối cùng là đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước mực triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều. Loại này khó vượt quá cao độ 0,5 m. Diện tích chung có tính giới hạn, nằm cạnh ven biển. Đất đầm mặn phát triển nhiều ở huyện Bình Đại nhưng trở nên ít đi ở huyện Ba Tri, và kém phát triển ở huyện Thạnh Phú.

Ngược dòng lịch sử, đất Bến Tre chỉ xuất hiện lên bên trên mặt biển từ 4.500 năm trở lại đây, tức là sau khi đã có đất Cai Lậy và Tân Hiệp, mà tuổi tuyệt đối nằm vào khoảng 5.000 năm. Trước hết là một cồn cửa sông to lớn kiểu cù lao Dung hiện nay xuất hiện bên dưới Chợ Lách, rồi một số giồng phát sinh tại nơi đầu cù lao, mà dấu vết ngày nay còn nằm ở Vũng Liêm (Trà Vinh) và Nam Chợ Lách (Bến Tre).

Một cù lao lớn thứ hai xuất hiện sau đó ở Châu Thành, với các lòng sông to lớn tạo nên một cửa sông mới, cửa sông Mỹ Tho, với giồng cát biển phát sinh tại thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre và Chợ Gạo (Tiền Giang). Sông Ba Lai sinh ra từ đó và góp phần bồi tích cho đến ngày nay, cùng lúc với sông Hàm Luông ở phía tây và sông Tiền ở phía đông.

Ba con sông này lấn biển và bồi đất rất nhanh chóng, tạo nên các giồng cát nằm san sát nhau. Dạng bờ biển trước kia cũng hao hao giống dạng bờ biển ngày nay, bên trong là đầm mặn mới bồi sau. Ví dụ: Ngày nay ở Bình Đại, Giồng Củ, Giồng Cà xuất hiện, tạo ra bên trong một ao biển kín, nay biến thành đất rừng ngập mặn gọi là đầm mặn. Tại Giồng Trôm, trước kia cũng có trường hợp như vậy. Giồng Trôm xuất hiện trước, bọc bên cánh tây một vũng mặn, về sau mới lấp đầy. Cho nên con sông Bến Tre mới bắt nguồn từ Giồng Trôm (vùng đất cao), chảy ngược dòng với sông Ba Lai và sông Hàm Luông (cặp song song với nó) và xuôi về hướng tây bắc. Mũi khoan kiểm tra cho thấy có đất vũng mặn ở độ sâu 9 m tại đó.

Bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở phía đầu trên, lượng nước yếu đi không tống nổi phù sa của sông Cửa Đại đang bít nghẽn dòng chảy ra biển. Do vậy, nó sẽ "chết", lòng cổ của nó bị lấp dần, xóa hẳn ở huyện Châu Thành, gần xóa ở huyện Giồng Trôm và sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại. Trong quá khứ ở huyện Mỏ Cày cũng có những con sông bị xóa như vậy, mà ảnh máy bay cho thấy khá rõ rệt.

Lịch sử hình thành tỉnh Bến Tre là phần đúc kết tất cả các quy luật địa chất của địa phương. Các quy luật đó giúp ta đi vào tìm hiểu bản chất của sự vật cụ thể, là những loại phù sa khác nhau, để áp dụng vào nông nghiệp, thủy lợi, nước ngầm, khoáng sản đủ loại kể cả an ninh quốc phòng. Điều tra chi tiết hơn, sẽ cho thấy các chi tiết của những quy luật ấy, giúp phần vận dụng có chiếu cố về ngoại lệ của quy luật, và tránh được những lãng phí do thiếu sót về quy luật, tức là thiếu sót về cơ bản khoa học, trong đó có cơ bản trầm tích học là cơ bản của mọi cơ bản.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)
 

 Sinh năm 1915 tại Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình trung lưu. Sau khi học hết bậc tiểu học ở Bến Tre, Võ Tấn Nhứt được gia đình gởi lên Sài Gòn học tiếp tại Trường Huỳnh Khương NInh, một trường tư có nhiều thầy giáo có tư tưởng yêu nước, tiến bộ tham gia giảng dạy lúc bấy giờ. Do đó, Võ Tấn Nhứt đã tiếp thụ được ảnh hưởng tiến bộ của những người thầy của mình.

   Năm 1934, thôi học trở về quê, và cũng tại đây anh được một số người cộng sản hoạt động bí mật dìu dắt, giúp đỡ rồi được kết nạp vào ĐCSĐD tại chi bộ Sơn Hòa. Năm 1936 - thời kỳ Mặt trận Dân chủ phát triển lan rộng – Võ Tấn Nhứt cùng với Hồ Văn Nguyện, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Bích lập ra Đông Phương thư xã tạ thị xã Bến Tre.

   Năm 1939, bị địch bắt, nhưng vì không đủ chứng cứ để truy tố ra tòa, nên được đưa về “quản thúc” tại xã Phú An Hòa (huyện Châu Thành), tách khỏi quê quán cũ.

   Đầu năm 1944, Nguyễn Thanh Trà trốn khỏi nhà tù đế quốc, trở về địa phương, móc nối, liên lạc với một số đồng chí cũ, trong đó có Võ Tấn Nhứt. Từ đây, Võ Tấn Nhứt bắt đầu hoạt động trở lại, phát triển phong trào Việt Minh ở huyện Châu Thành và thị xã.

   Tháng 4-1945, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy Bến Tre, phụ trách Mặt trận Việt Minh tỉnh, có chân trong Ủy ban khởi nghĩa, cướp chính quyền ở tỉnh ngày 25-8-1945. Cuối năm 1945, phụ trách công tác tổ chức cán bộ của tỉnh. Đến khi giặc Pháp chiếm Bến Tre (2-1946), đồng chí được giao tổ chức công binh xưởong của tỉnh, sau đó phụ trách công binh xưởng 1038 thuộc khu 8. Đến năm 1950, trước tình hình lấn chiếm rộng ra và bình định ác liệt của địch, công binh xưởng của khu 8 chuyển xuống miền Tây Nam Bộ, thì Võ Tấn Nhứt lại trở về công tác tại tỉnh nhà, làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), ông được Tỉnh ủy phân công ở lại và có nhiệm vụ tổ chức chôn giấu vũ khí để khi cần sử dụng sau này.

   Đến cuối năm 1954, ông được điều đi nhận công tác vận động quần chúng trong đồng bào theo đạo Hòa hảo ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc, với cái tên mới là Nguyễn Văn Nho. Đầu năm 1957, bị địch bắt giam tại nhà lao Phú Lợi. Khi vụ đầu độc cả ngàn tù nhân xảy ra ở nhà lao này, đồng chí với tư cách là Bí thư trung tâm ủy, đã lãnh đạo tù nhân đấu tranh tố cáo âm mưu đen tối của chúng ở nhà tù Phú Lợi ra trước dư luận, sau đó bị đày ra Côn Đảo cùng với nhiều anh em tù nhân khác. Tại nhà tù Côn Đảo, một tên chỉ điểm đã biết tông tích của đồng chí, tố cáo với bọn cai ngục rằng đồng chí tên thật là Võ Tấn Nhứt, nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Bọn địch đã chuyển Võ Tấn Nhứt từ nhà lao Côn Đảo về Bến Tre để tiếp tục khai thác. Tên Lê Xuân Khánh, trưởng Ty công an ngụy và bọn tay chân ra sức dùng đủ trò dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man, đánh đồng chí gãy một lúc ba xương sườn, đóng đinh vào 10 đầu ngón tay, rồi ngày thì đem căng phơi nắng trên ống cống xi-măng nóng bỏng, đêm bỏ vào hầm tối. Chúng hành hạ đồng chí cho đến khi kiệt sức mà không khai thác được một điều bí mật nào. Đồng chí hy sinh tại nhà giam của Ty công an Bến Tre vào khoảng giữa năm 1959, để lại tấm gương sáng về lòng trung thành, ý chí bất khuất của một người cộng sản chân chính.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer