Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Tin tức và sự kiện

Tin tức và sự kiện
Thứ 2, Ngày 05/09/2016, 10:04
Đánh giá công tác đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015
05/09/2016 | P.T.T
Thực hiện Kết luận số 248-KL/TU ngày 14/7/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 20/10/2011 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, đồng thời tiếp tục thực hiện Quyết định 1108/QĐ-UBND ngày 17/5/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra Kế hoạch Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020.

Thực hiện Kết luận số 248-KL/TU ngày 14/7/2015 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 20/10/2011 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020, đồng thời tiếp tục thực hiện Quyết định 1108/QĐ-UBND ngày 17/5/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra Kế hoạch Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020.

Những kết quả đạt được

Qua 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 20/10/2011 của Tỉnh ủy khóa IX về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 và Đề án Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2015, nhận thức của cán bộ, đảng viên, đoàn viên và nhân dân về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội từng bước được nâng lên.

Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh có nhiều chuyển biến rõ nét trên nhiều lĩnh vực, phát triển tương đối đồng bộ trên cả 3 yếu tố cơ bản là sức khỏe thể lực, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức, lối sống. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động từng bước được trang bị những kiến thức về văn hóa công sở, ý thức trách nhiệm, đạo đức, lối sống, tác phong công nghiệp; mặt bằng dân trí, trình độ năng lực của người lao động và nhân lực có tay nghề từng bước nâng lên về số lượng và chất lượng. Từ năm 2011-2015 tỉnh đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 121.812 người; trong đó, đào tạo mới 109.615 người đào tạo lại, bồi dưỡng 12.197 người. Từ đó, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 44% năm 2011 lên 50,68% năm 2015, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề là 25%.

Chất lượng và hiệu quả giáo dục được củng cố, phát triển; công tác giáo dục đạo đức, nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh, có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tiếp tục được kiện toàn. Chất lượng đào tạo các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng được cải thiện. Tỉnh phối hợp với Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hoàn chỉnh các thủ tục thành lập Phân hiệu Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tại Bến Tre để tuyển sinh trong năm học 2016-2017.

Trình độ chuyên môn lý luận chính trị, kỹ năng làm việc của cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh cơ bản đạt yêu cầu theo quy định, công chức cấp xã có sự tiến bộ tốt hơn. Đến nay, khối hành chính nhà nước cấp tỉnh có 98,5% trình độ đại học, trong đó 24% trình độ sau đại học; khối hành chính nhà nước cấp huyện có 94,8% trình độ đại học, trong đó 8,5% trình độ sau đại học; đối với cán bộ cấp xã từ trung cấp trở lên đạt 80,1%, trong đó cán bộ có trình độ đại học đạt 41,05%; công chức cấp xã từ trung cấp trở lên đạt 98,4%.

Công tác dạy nghề cho người lao động có chuyển biến tích cực, các cơ sở dạy nghề được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng cơ bản quy mô đào tạo. Theo đó, đã tạo điều kiện để lao động nông thôn tham gia học nghề và có việc làm ổn định, đào tạo nghề các trình độ cao đẳng, trung cấp nghề từng bước thu hút được học viên tham gia, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao của tỉnh.

Các hoạt động rèn luyện thể thao thường xuyên trong nhân dân được tăng cường và ngày càng mở rộng, người dân có ý thức cao trong việc rèn luyện thể dục thể thao, thể lực và tầm vóc của người dân Bến Tre từng bước được cải thiện và ngày càng nâng cao, rõ nhất là ở khu vực thành phố và các thị trấn. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được quan tâm thực hiện, nhất là tuyến y tế cơ sở; các hoạt động phòng, chống dịch bệnh được duy trì và triển khai thực hiện tốt, đã khống chế không để dịch lớn xảy ra; chất lượng khám và điều trị bệnh cho nhân dân từng bước được nâng lên.

Những tồn tại, hạn chế

Công tác dự báo nhu cầu nhân lực chưa được thực hiện tốt, định hướng về cơ cấu, ngành nghề cần đào tạo, nhất là đào tạo nhân lực có tay nghề cao ở các lĩnh vực như kỹ thuật cao trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa phối hợp tốt với doanh nghiệp trong công tác đào tạo và tuyển dụng lao động. Việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dạy nghề còn hạn chế; doanh nghiệp chỉ đào tạo lại theo nhu cầu và chưa đặt hàng các cơ sở dạy nghề đào tạo lao động.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các cơ sở dạy nghề được đầu tư nhưng chưa theo kịp tiến bộ công nghệ tại các doanh nghiệp, một số cơ sở dạy nghề chưa chủ động tìm ra các giải pháp thu hút học viên học nghề. Đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chỉ đạt mức phổ cập nghề; ngành nghề đào tạo cho lao động có tay nghề cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Chất lượng đào tạo có nâng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Đội ngũ giáo viên dạy nghề nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong sản xuất của người dân.

Cơ sở vật chất trường lớp và các trang thiết bị tuy được tăng cường đầu tư, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu mở rộng dạy học 2 buổi/ngày; thiếu vốn để xây dựng bổ sung cơ sở vật chất cho trường nhằm nâng cao chất lượng thực hành, thí nghiệm, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Cơ cấu đội ngũ giáo viên vẫn còn trình trạng vừa thừa vừa thiếu; công tác bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là giáo viên Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020; trình độ đào tạo sau đại học ở cấp tỉnh tuy có nâng lên về số lượng nhưng thực chất tỉnh cũng chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, quản lý giỏi; tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chưa cao; một bộ phận cán bộ, công chức, thiếu chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ. Việc bố trí các ứng viên là sinh viên Đề án Đào tạo 50 cán bộ khoa học kỹ thuật ở nước ngoài có trình độ sau đại học về công tác tại tỉnh cũng gặp khó khăn do cơ chế tuyển dụng.

Đội ngũ cán bộ y tế luôn được quan tâm nâng chất nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và yêu cầu điều trị của người dân ngày càng cao, nhất là tuyến cơ sở. Tầm vóc và thể lực người lao động tuy có cải thiện nhưng chiều cao của thanh niên vẫn còn thấp so với bình quân chung cả nước, ngoài ra sự thích nghi của người lao động với môi trường làm việc khắc nghiệt, áp lực công việc cao vẫn còn hạn chế; một bộ phận người lao động chưa có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; đạo đức, chính trị và tác phong công nghiệp chưa cao; ý thức tự giác trong đào tạo nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế; vẫn còn tình trạng người lao động còn đình công, lãn công tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp.

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

Do công tác quản lý nhà nước về nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chưa sâu sát. Một số cán bộ, công chức, viên chức chưa thật tự giác học tập rèn luyện để nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ; chất lượng một số lớp đào tạo đại học mở tại tỉnh còn thấp; trong từng ngành, từng cấp công tác dự báo ngành nghề cho nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội chưa sát; việc định hướng, đề xuất danh mục ngành nghề ưu tiên đào tạo và lĩnh vực cần thu hút người có trình độ cao chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Đội ngũ giáo viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau nên một số giáo viên chậm đổi mới, chưa sáng tạo trong vận dụng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ trong giảng dạy. Nhiều cơ sở giáo dục có quy mô nhỏ nhưng phải bố trí giáo viên dạy đủ các môn dẫn đến tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Giáo viên dạy ngoại ngữ vừa thiếu vừa chưa đạt chuẩn, do đó người được đào tạo ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu cần đạo tạo, chỉ đào tạo những gì mà các cơ sở dạy nghề hiện có; việc khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị tại các cơ sở dạy nghề còn lãng phí, thiếu đồng bộ; việc đầu tư cơ sở vật chất không đi đôi với việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, đội ngũ giáo viên dẫn đến việc sử dụng trang thiết bị dạy nghề còn hạn chế; chương trình giảng dạy chậm được cập nhật đổi mới so với nhu cầu thực tế; việc sơ kết đánh giá chưa sát, chưa phù hợp với thực tế.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế chưa đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh của người dân; phong trào thể dục, thể thao quần chúng chưa đều khắp, chủ yếu tập trung ở những nơi đông dân cư như thành phố, thị trấn, đối tượng tham gia đa số là người lớn tuổi, lực lượng thanh niên rất ít. Ngoài ra, yếu tố dinh dưỡng, di truyền, và môi trường làm việc còn hạn chế ảnh hưởng lớn đến chiều cao và thể lực của người lao động; trình độ học vấn, ý thức, tác phong của người lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh đó, trong quá trình học tập, đào tạo các đơn vị đào tạo chưa chú trọng đến kỹ năng mềm và bồi dưỡng nâng cao đạo đức, lối sống cho người lao động.

Lượt người xem:  3183
Quản lý QuyềnQuản lý Quyền
|
Lịch sử Phiên bảnLịch sử Phiên bản

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Nam

Trạng thái Phê duyệt

Đính kèm

Loại Nội dung: Tin Tức Mở Rộng
Phiên bản:
Đã tạo vào thời điểm bởi
Được sửa lúc bởi
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường An Hội, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer