Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sơn Định phát triển du lịch sinh thái làng nghềSơn Định phát triển du lịch sinh thái làng nghề
Khai thác tiềm năng từ nghề sản xuất cây giống hoa kiểng và vườn cây ăn trái, Sơn Định đã đầu tư phát triển du lịch sinh thái làng nghề. Dự án đã hoàn thành giai đoạn I đang thực hiện giai đoạn II, bước đầu mang lại nhiều hiệu quả.

Khai thác tiềm năng từ nghề sản xuất cây giống hoa kiểng và vườn cây ăn trái, Sơn Định đã đầu tư phát triển du lịch sinh thái làng nghề. Dự án đã hoàn thành giai đoạn I đang thực hiện giai đoạn II, bước đầu mang lại nhiều hiệu quả.

Sơn Định là 01 trong 10 xã và thị trấn của huyện Chợ Lách, có quốc lộ 57 xuyên qua với chiều dài 3,2 km được nhựa hóa. Là tuyến giao thông huyết mạch nối liền giữa tỉnh Bến Tre với tỉnh Vĩnh Long. Xã có diện tích đất tự nhiên 1468,80 ha với 3264 hộ; 12954 nhân khẩu, được chia thành 8 ấp. Địa hình bằng phẳng, thấp với sông rạch chằng chịt, lượng phù sa bồi đắp hàng năm thuận lợi cho việc trồng cây ăn trái đặc sản lâu năm.

 

Đường đến khu du lịch sinh thái làng nghề Sơn Định

Bên cạnh đó, Sơn Định còn có đoạn sông giáp sông Cổ Chiên, bãi cát bồi đắp dài khoảng 300m, có tuyến kênh đào Chợ Lách được làm bờ kè chắc chắn dài và đẹp. Trên dòng sông này tàu thuyền lưu thông qua lại thường xuyên, thuận lợi cho tham quan du lịch bằng thuyền trên sông nước hữu tình.

Mặc khác người dân trong xã không chỉ hiền hòa hiếu khách, sống bằng nghề nông nghiệp và dịch vụ, họ còn tích cực tìm tòi và học hỏi những tiến bộ khoa học kỷ thuật cao đưa vào sản xuất nên các vườn cây ăn trái luôn cho quả quanh năm. Sản lượng hàng năm khoảng 15 ngàn tấn và chất lượng được đánh giá cao. Bên cạnh, Sơn Định còn có 02 làng nghề cây giống hoa kiểng, mỗi năm cung cấp cho thị trường trên 500 ngàn cây giống, hoa kiểng các loại.

Những thuận lợi đó, cùng với đáp ứng nhu cầu hưởng thụ bầu không khí trong lành của miệt vườn sông nước thông qua loại hình du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá của du khách ngày càng tăng. Sơn Định huyện Chợ Lách đã mạnh dạng chuyển mình mở ra mô hình họat động mới- Phát triển du lịch sinh thái làng nghề.

Ông Nguyễn Văn Triết - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Định cho biết “Mục đích  của đề án Phát triển du lịch xã Sơn Định giai đoạn 2012 - 2015 nhằm định hướng ngành nghề ngày càng phát triển tạo thu nhập bền vững cho nhân dân, đồng thời tạo điều kiện giao lưu văn hóa cho địa phương với các vùng lân cận, góp phần giải quyết an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo” .

Ấp Sơn Châu - Sơn Phụng xã Sơn Định được chọn thực hiện đề án này, với tour được xây dựng điểm từ nhà ông Tư Thành ấp Sơn Châu đến đuôi cồn nhà Ông Thầy Ngon ấp Phụng Châu. Dự án có quy mô hơn 30 ngàn mét vuông. Kinh phí xây dựng ở giai đoạn I hơn 9,4 tỷ đồng và giai đoạn II hơn 1 tỷ 120 triệu đồng. Nguồn ngân sách tỉnh hổ trợ 400 triệu đồng, phần còn lại do 3 hộ dân trong xã trực tiếp đóng góp. Trong đó gồm có 3 điểm du lịch phục vụ du khách tham quan như: Điểm du lịch tại nhà ông Tư Thành – khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc. Tham quan vườn ương cây giống – hoa kiểng lớn tiêu biểu, phục vụ cho du khách tự uốn sửa kiểng, chiết ghép cây giống tại điểm du lịch nhà ông Hai Đê và du lịch tắm cồn- giao lưu đờn ca tài tử - thưởng thức món ăn dân dã miệt vườn tại điểm du lịch nhà Thầy Ngon. Hiện tại các điểm du lịch đã hoàn thành giai đoạn I đưa vào họat động, đang triển khai thực hiện giai đoạn II.

Riêng khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc (nhà ông Tư Thành). Có tổng diện tích 20 ngàn mét vuông, bao gồm các hạng mục: nhà nghỉ dưỡng, tham quan vườn cây ăn trái; thưởng thức món ăn dân dã miền quê sông nước; du thuyền trên sông; chèo xuồng, bắt cá trong mương vườn, ….

 

Khu nhà sàn nghỉ dưỡng tại khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc

Ông Nguyễn Công Thành – chủ khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc cho biết “Sau thời gian đi vào hoạt động, cơ sở có nhiều thuận lợi được sự quan tâm các ngành, các cấp ở địa phương, du khách đến tham quan khá nhiều. Đầu năm đến nay điểm du lịch Đại Lộc đã tiếp đón hàng chục ngàn du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Hướng tới cơ sở đầu tư thêm nhiều loại hình mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ của du khách gần xa”.

Giai đoạn I đã hoàn tất, các điểm du lịch đã phát huy hiệu quả, từ đó tiến hành giai đoạn II (2013-2015), mở rộng mô hình họat động ra toàn xã. Trong đó chú trọng  các ấp có điều kiện, có đình chùa, nhà thờ, bến cảng, chợ đầu mối trái cây…. Đầu tư xây dựng mới 4 điểm nghỉ, phục vụ ăn uống tại nhà dân cặp sông Tiền Giang ấp Tân Thới, Thới Lộc, Tân Phú. Riêng điểm du lịch ấp Sơn Châu, Phụng Châu hiện có tiếp tục đấu tư theo hướng chất lượng hoàn hảo, hoàn thành hệ thống giao thông đường bộ.

Với mục tiêu đề ra đến năm 2015 tổng doanh thu về du lịch tại Sơn Định đạt 10 tỷ đồng và tốc độ tăng tưởng 10%/năm. Lượng khách tham quan đạt 50 ngàn lượt khách, trong đó khách quốc tế 5 ngàn lượt và có hơn 500 lao động trực tiếp, gián tiếp trên lĩnh vực du lịch được giải quyết việc làm…. Qua đó Sơn Định đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển du lịch, nhất là về vốn của các thành phần kinh tế và trong dân, dựa vào thế mạnh tài nguyên sẵn có xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương, xây dựng chương trình tham quan thường xuyên. Đầu tư phát triển các điểm du lịch vườn, du lịch trên sông rạch, … Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng các dịch vụ, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh du lịch và tổ chức tốt dịch vụ du lịch.

Tiếp đến hình thành và phát triển các mô hình du lịch như: Du lịch sông nước miệt vườn gắn với hộ gia đình, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, giải khát, vườn cây ăn trái theo mùa, chèo thuyền trên sông rạch nhỏ, tour xe đạp, nghỉ nhà dân, làm nông dân, làm nghệ nhân sửa kiểng…

Hình thành và ổn định một số nghề, dịch vụ, sản phẩm, phương tiện đưa rước khách chuyên phục vụ cho du lịch. Đặc biệt phải thương hiệu hóa các sản phẩm của địa phương. Phát triển chọn lọc những ngành nghề có thế mạnh của địa phương như uốn sửa kiểng cổ, bon sai, cắt tháp cây giống, chăm sóc cây trồng phục vụ khách du lịch. …

Để thực hiện tốt đề án này, ngoài nổ lực của địa phương cần có sự chung tay của các ngành các cấp và nhân dân Sơn Định trong việc quãng bá tiềm năng du lịch của địa phương đến với mọi miền đất nước. Đối với điểm du lịch cần có sự đổi mới, tạo môi trường thông thoáng, trong lành, hấp dẫn du khách tham quan. Riêng các hộ sản xuất cây giống- hoa kiểng, không ngừng nâng cao tay nghề, tìm tòi học hỏi tạo ra những sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu du khách khi đến tham quan.

Có thể thấy rằng, Du lịch sinh thái làng nghề cây giống, hoa kiểng ấp Sơn Châu- Sơn Phụng ra đời là điều kiện cho Sơn Định chuyển mình, đời sống người dân nơi đây từng bước phát triển. Làng nghề cây giống hoa kiểng và trái cây Sơn Định được nhiều nơi biết đến.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khâu BăngKhâu Băng
 

Cửa sông đổ ra biển, thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú. Nơi đây vào đầu tháng 3-1963 đã đón chuyến tàu chi viện vũ khí đầu tiên, sau đó trở thành đầu cầu tiếp nhận vũ khí và hàng hóa chi viện từ miền Bắc vào theo tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển của Đoàn vận tải A100 hậu cần miền Nam. Cửa Khâu Băng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định ngày 23-12-1995.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
 

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Di tích nghệ thuật Đình Tân ThạchDi tích nghệ thuật Đình Tân Thạch
Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Mộ nhà thơ Nguyễn Đình ChiểuMộ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu
&nbsp;
Image

- Khu mộ tọa lạc tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ Bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời là người trợ thủ đắc lực của Ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các hoạt động xã hội khác, mộ Bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo “Nữ giới chung”.

 - Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay.

 - Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 27 tháng 4 năm 1990.
Đã ban hành
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
&nbsp;
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
Đại ĐiềnĐại Điền
&nbsp;

Làng thuộc tổng Minh Phú, huyện Thạnh Phú nằm trong vùng trồng lúa nước trù phú của cù lao Minh. Đại Điền là nơi khai sinh tiểu đoàn 307 – Đơn vị bộ đội chủ lực đầu tiên của Nam Bộ trong KCCP. HIện nay, tại trung tâm xã, bên chợ Giồng Luông có dựng bia tưởng niệm ghi dấu “nơi xuất quân của tiểu đoàn 307”. Đại Điền nay là một trong 16 xã của huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Võ Trường Toản (?-1792)Võ Trường Toản (?-1792)
&nbsp;
Image
Đền thờ Võ Trường Toản
   Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (không rõ năm sinh, cũng như không rõ gốc gác, chỉ biết ông là người học rộng, tài cao, thông đạt kim cổ...).

   Trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê, mở trường dạy học, từ chối mọi điều ban phát, không tham gia vào chính sự. Trong hàng trăm học trò do ông đào tạo, có những người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm... Những nho sĩ tiết tháo thuộc thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị cũng chịu ảnh hưởng về đạo đức, học phong, sĩ khí của nhà giáo họ Võ.

   Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý, tức 27-7- 1792. Để tưởng nhớ công đức của thầy, học trò cũ mà ông đã tặng đôi liễn:

"Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất).

   Khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay giặc Pháp, một số sĩ phu ở Gia Định (trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Trương Gia Hội) không muốn cụ Võ Trường Toản nằm lại trong vùng bị tạm chiếm, đã chủ trương dời phần mộ về làng Bảo Thạnh (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri) ngày 15-12-1965 (1). Văn bia dựng tại ngôi mộ do Phan Thanh Giản soạn. Sau đó, Nguyễn Thông, lúc bấy giờ là Đốc học tỉnh Vĩnh Long, đã viết lời tường thuật cuộc cải táng được khắc ở mặt sau bia.

   Những trước tác của cụ Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc... đến nay chỉ còn lưu truyền một bài phú duy nhất, bài Hoài cổ dài 24 câu. Với bút pháp cổ điển - những điển tích, hình ảnh đều lấy từ sử sách của Trung Hoa – tác giả bài phú muốn ký thác vào đó tâm sự cùng quan niệm về đời, về người cùng những gì mà ông đã chứng kiến trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Võ Trường Toản với sự nghiệp giáo dục

Chú thích:

(1) Lúc này, 3 tỉnh miền Tây còn là vùng đất tự do, Ba Tri lúc ấy thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh PhúCự ly các điểm đến du lịch "Văn hóa - Lịch sử" tuyến Mỏ Cày Nam - Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú
Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

 

Ghe chở chỉ xơ dừa

- Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh.

Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre: 86 km đường bộ.

Từ thành phố Bến Tre đến các huyện của tuyến này như sau:

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc: khoảng 20 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Mỏ Cày Nam: khoảng 21 km đường bộ;

- Đến trung tâm huyện Thạnh Phú: khoảng 49 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến "Di tích lịch sử căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định" (mật danh Y4,T4), xã Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc: 16 km đường bộ.

- Từ thành phố Bến Tre đến Di tích Đình Tân Ngãi (tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng), xã Thạnh Ngãi, Mỏ Cày Bắc: 20 km đường bộ.

Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến tham quan các điểm trên địa bàn:

* Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Đình Rắn, xã Định Thủy: 04 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức: 14 km đường bộ.

* Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, xã An Thạnh: 07 km đường bộ.

* Làng nghề dệt chiếu Thành Thới B (dệt chiếu cói): 10 km đường bộ.

* Cơ sở sản xuất đặc sản kẹo dừa truyền thống và cơ sở sản xuất, trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ làm từ dừa tại thị trấn Mỏ Cày Nam.

Từ Tp. Bến Tre đến các điểm tham quan tại huyện Thạnh Phú:

* Di tích nhà cổ Hương Liêm (Huỳnh Phủ), xã Đại Điền: 42 km đường bộ và thăm bia lưu niệm nơi làm lễ xuất quân của "Tiểu đoàn 307" thời kháng Pháp, thưởng thức bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng.

* Làng nghề đúc lu Hòa Lợi, xã Hòa Lợi: 48 km đường bộ.

* Làng nghề bó chổi Mỹ An, xã Mỹ An: 51 km đường bộ.

* Cơ sở chằm nón lá Huế, ở xã Mỹ Hưng: 46 km đường bộ.

* Di tích lịch sử Đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam, xã Thạnh Phong: 70 km đường bộ.

* Các điểm đến tham quan như: Di tích căn cứ Y4, Chùa Tuyên Linh, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, làng nghề dệt chiếu Thành Thới B, Di tích nhà cổ Hương Liêm, xe 4 bánh đến 50 chỗ đều đến được.
* Các điểm còn lại xe 29 chỗ ngồi cũng đều đến được.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế mạnh lữ hành Bến Tre và Cụm Du lịch năm tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu LongThế mạnh lữ hành Bến Tre và Cụm Du lịch năm tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu Long
Năm tỉnh du lịch liên kết phía đông ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh giữa 2 sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và Trà Nóc (Thành phố Cần Thơ); nằm gọn trong 6 nhánh sông đổ ra biển Đông thông qua Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên thuộc sông Tiền và cửa Cung Hầu sông Hậu của dòng sông Mêkông và nơi có thể xem là vùng đất đa dạng sinh học (gồm sinh thái mặn, lợ và ngọt), có nhiều đồng lúa bát ngát, vườn cây trái sum sê, khí hậu ấm áp với hai mùa mưa, nắng cùng cảnh quang thơ mộng và người dân rất hiền hòa, mến khách.

Năm tỉnh du lịch liên kết phía đông ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh giữa 2 sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và Trà Nóc (Thành phố Cần Thơ); nằm gọn trong 6 nhánh sông đổ ra biển Đông thông qua Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên thuộc sông Tiền và cửa Cung Hầu sông Hậu của dòng sông Mêkông và nơi có thể xem là vùng đất đa dạng sinh học (gồm sinh thái mặn, lợ và ngọt), có nhiều đồng lúa bát ngát, vườn cây trái sum sê, khí hậu ấm áp với hai mùa mưa, nắng cùng cảnh quang thơ mộng và người dân rất hiền hòa, mến khách.

Tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa vùng miền

Tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng nhất của đồng bằng sông Cửu Long là sông nước, miệt vườn gắn với hệ thống kênh rạch chằng chịt, các cồn, cù lao, miệt vườn, đồng ruộng và vườn cây ăn trái. Đây có thể coi là tài nguyên du lịch đặc thù nhất của vùng. Tiêu biểu là: cồn Phụng, cồn Ốc, cồn Quy (Bến Tre), cồn Thới Sơn (Tiền Giang) hay cù lao Bình Hòa Phước (Long Hồ, Vĩnh Long)…; chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang; ruộng lúa nước của người Khmer - Trà Vinh; lúa trời còn gọi là lúa ma ở Đồng Tháp Mười… đã và đang được khai thác phục vụ du lịch tương đối hiệu quả. Không chỉ có sông nước, miệt vườn, ĐBSCL còn có hệ sinh thái tự nhiên tương đối đa dạng và đặc sắc như khu bảo tồn tự nhiên Làng Sen - Long An, Sân chim Vàm Hồ - Ba Tri, rừng ngập mặn Thạnh Phú - Bến Tre … Đây còn là một trong những vựa cá nước ngọt cũng như phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản lớn tại khu vực Nam Bộ.

 

Sông nước Bến Tre Quê Tôi

Văn hóa truyền thống của người dân, nét sinh hoạt, sản xuất thích hợp với các điều kiện tự nhiên của vùng được xác định là giá trị tài nguyên du lịch nhân văn cốt lõi của vùng. Đồng bằng sông Cửu Long còn nổi tiếng là một vùng đất anh hùng trong suốt chiều dài lịch sử với nhiều địa danh, chiến địa nổi tiếng như: phong trào Đồng Khởi - Bến Tre, Di tích lịch sử đầu cầu tiếp nhận vũ khí của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển - Bến Tre, Trà Vinh và các tỉnh ven biển đến tận Cà Mau; Chiến thắng Ấp Bắc, chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút - Tiền Giang; Chiến thắng tại Vàm Nhật Tảo của Nguyễn Trung Trực (Long An) … Bên cạnh đó, nhiều khu lưu niệm, đền thờ được xây dựng để tôn vinh sự nghiệp và ghi nhớ công lao của các vị anh hùng như: Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định - Bến Tre, khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Hùng, khu lưu niệm Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Vĩnh Long … Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống chùa chiền và đền miếu tương đối phong phú, đặc sắc. Tiêu biểu là: Văn Thánh Miếu - Vĩnh Long, chùa Vĩnh Tràng - Tiền Giang, chùa Tôn Thạnh - Long An, chùa Âng - Ao Bà Ôm và trên 100 ngôi chùa Khmer khác đã thể hiện nét văn hóa của Dân tộc Khmer tại Trà Vinh hay chùa Hội Tôn Châu Thành - Bến Tre, làng cổ Đông Hòa Hiệp - Tiền Giang… Vùng đồng bằng sông Cửu Long này là nơi có nhiều hoạt động lễ hội trong năm. Tùy vào nội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch sử, lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian của khu vực. Các lễ hội đặc sắc như: Oóc-om-bóc (toàn bộ người dân Khmer), lễ hội nghinh Ông tại các tỉnh ven biển, Lễ hội trái cây ngon an toàn - Bến Tre… Đối với phát triển du lịch, ca múa nhạc dân tộc cũng là một loại hình sản phẩm du lịch đang được chú ý phát triển. Tiêu biểu là đờn ca tài tử Nam Bộ, vọng cổ, cải lương, hò đối đáp trên sông nước Cửu Long…

Ẩm thực khu vực cụm 5 tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú, nét đặc sắc của "ẩm thực khẩn hoang" gắn với những nguyên liệu hết sức đơn giản, dân dã, tự nhiên. Ẩm thực khẩn hoang của miền Tây có thể được coi là đóng góp hết sức có giá trị của đồng bằng sông Cửu Long cho văn hóa ẩm thực và du lịch Việt Nam.

161007_102.jpg 

Du khách thưởng thức trái cây và bưởi da xanh Bến Tre

Làng nghề tiểu thủ công được coi là nghề phụ để cải thiện thu nhập. Các làng nghề của vùng là nguồn cung cấp các sản vật địa phương, quà lưu niệm đồng thời là những tài nguyên du lịch quan trọng, điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách như Bến Tre có kẹo dừa, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ làm ra từ cây dừa, chỉ xơ dừa, hoa kiểng - cây giống hay bánh phồng - bánh tráng; Vĩnh Long có nghề làm gốm, tàu hủ ky …

Các tuyến du lịch tiềm năng

Hiện nay, các tỉnh liên kết đang khảo sát các điểm đến và tiềm năng du lịch của từng địa phương, chọn sản phẩm du lịch hấp dẫn nằm trên các tuyến, trục du lịch của từng tỉnh để tạo tuyến liên kết du lịch 5 tỉnh phía đông ĐBSCL. Lấy du lịch sông nước miệt vườn, tham quan làng nghề truyền thống, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng ngập nước và di tích lịch sử làm chủ đạo. Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của cụm hợp lý về không gian, thời gian, điều kiện tiếp cận. 

161007_103.jpg 

Du khách Úc trãi nghiệm tát mương, bắt cá

Cụ thể là thiết kế chương trình tour 5 ngày/4 đêm liên kết toàn tuyến 5 tỉnh gồm: Long An với Khu du lịch Happy Land, nhà cổ Phước Lộc Thọ; Tiền Giang thăm Chợ nổi Cái Bè, làng cổ Đông Hòa Hiệp, Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm; Bến Tre trải nghiệm sông nước sinh thái xứ dừa, hoa kiểng cây giống Cái Mơn, làng nghề thủ công mỹ nghệ từ dừa; Trà vinh nghiên cứu Văn hóa dân tộc và hệ thống chùa Khmer; Vĩnh Long viếng các di tích lịch sử cách mạng, làng nghề, sông nước sinh thái, homestay.

Ngoài ra, các tours 3 ngày - 2 đêm nối 2 hoặc 3 tỉnh theo nhóm với nhau để tạo ra nhiều lựa chọn cho các hãng lữ hành của các thị trường trọng tâm và du khách như:

  • TP. Hồ Chí Minh - Long An - Tiền Giang - Bến Tre - Vĩnh Long;

  • TP. Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh;

  • Cần Thơ - Vĩnh Long - Bến Tre - Tiền Giang…
    Bên cạnh đó, tiềm năng tổ chức hệ thống tuyến đường sông có thể khai thác phát triển thành các tuyến du lịch đường thủy hấp dẫn như các tuyến dọc sông Tiền, sông Hậu, kết nối Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ với An Giang và Campuchia.
    Tiềm năng du lịch cụm du lịch duyên hải 5 tỉnh phía Đông ĐBSCL là rất lớn và khả năng còn phát triển đa dạng, phong phú hơn. Các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị kinh doanh du lịch của 5 tỉnh cần tiếp tục quy hoạch, liên kết và phát triển để tạo nhiều sản phẩm khác biệt để thu hút khách; từng bước đầu tư và củng cố hệ thống cơ sở vật chất; nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách để phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của Cụm du lịch duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long này.


    Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Về xứ dừa - Khám phá đất biển Bình ĐạiVề xứ dừa - Khám phá đất biển Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Vì là huyện vùng biển, người dân Bình Đại sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản. Gắn liền với nghề này ở Bình Đại có nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Hay một nghề không thể không kể đến và có truyền thống lâu đời, có những nét độc đáo riêng như: nghề đánh cá mòi, câu kiều, lưới sỉ, lưới cào. Một nghề có tính chất riêng biệt của vùng biển Bình Đại nữa là nghề đáy sông cầu, nghề này ở Bình Đại có rất sớm và phát triển mạnh, rồi lan sang cửa biển ở Ba Tri và Trà Vinh. Đáy sông cầu được cắm thành hàng ngang giữa dòng nước chảy xiết nhưng không có những hàng rào chắn ngược dòng như đáy rạo.

Ngoài nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản, người dân Bình Đại còn nghề làm vườn, làm ruộng, làm muối, chế biến những sản phẩm của biển, nghề trồng giồng. Bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận là những đặc sản có tiếng trong vùng…. Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là đặc sản “dưa hấu Cửa Đại”, từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này và được ca ngợi:

“Tư bề Thừa Đức nội thôn

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”.

 

Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến, nhưng trên đường đến biển Thừa Đức, du khách ghé thăm di tích lịch sử cấp tỉnh Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát, tọa lạc tại xã Châu Hưng. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 03 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thếp vàng.

Năm 1905, nhân dân làng Tân Hưng thống nhất đóng góp sức người, sức của xây dựng ngôi đình làng này và phong ông Huỳnh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh của làng, đưa vào thờ trong đình. Vì vào khoảng đầu thế kỷ 19, vùng Bình Đại đã có cư dân đông đúc, làng mạc đã rải rác nhiều nơi, nhưng một số nơi vẫn là vùng đất hoang vu đầy thú dữ, ông Huỳnh Văn Thiệu đã đứng ra tập hợp cư dân ngoài thân tộc để khai phá đất đai và chống thú dữ, ông được người dân mến mộ, theo ông rất nhiều. Ông từ chối ra làm việc làng, mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định nổi lên chống Pháp.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 – 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng, nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Cạnh Đình Tân Hưng là đền thờ của cụ Huỳnh Tấn Phát, là cháu cố của Ông Huỳnh Văn Thiệu. Người ta biết đến kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát như một trí thức yêu nước lớn, một nhà hoạt động chính trị suốt đời theo đuổi lý tưởng cách mạng, gắn liền hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1933, ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Đông Dương, để có tiền ăn học ông tham gia giảng dạy ở Trường Thăng Long - Hà Nội, viết báo La Lutte (Tranh Đấu), báo Le Travail (Lao Động) ở Bắc Kỳ. Ông cũng là điển hình của thế hệ “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” vào tháng 8/1945.

Nhiều sáng tác và thiết kế dự án của ông như: Đồ án thiết kế Nhà văn hoá dự kiến xây dựng ở Khám Lớn - Sài Gòn đoạt giải nhì (không có giải nhất). Những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, ông đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng nhiều phòng họp, hội trường, nơi ăn chốn ở phục vụ cho các đại biểu về dự các hội nghị tại vùng căn cứ cách mạng. Đặc biệt, là hội trường cho Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, hội trường đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam lần thứ nhất ở R (Lò Gò) đều bằng tre gỗ nứa lá, nhưng đã khéo xử lý rừng cây tán lá rậm rạp để có hội trường rộng rãi khang trang đẹp đẽ.

Sau ngày Miền Nam được giải phóng, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, ông đã trực tiếp góp ý đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội và các công trình như: Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Trung ương, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh…. Ông còn tham gia các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh, Lạng Sơn,… và là đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Thành Thế trong sơ phác tìm ý cho Nhà hát Hoà Bình - Quận 10 - Tp Hồ Chí Minh.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu vào Đại biểu Quốc hội các khoá 1, 2, 3, 6, 7, 8. Nhà nước đã thưởng ông nhiều Huân, huy chương. Năm 1996, cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vinh dự được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I). Ông mất vào cuối tháng 10/1995.

 

Vùng đất huyện Bình Đại còn có công trình cống đập Ba Lai tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới. Cống đập Ba Lai là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Công trình với mục đích tưới tiêu, giữ ngọt, ngăn mặn cho khoảng 90.000ha đất nông nghiệp, hệ thống này sẽ phân rõ vùng mặn, vùng ngọt và sẽ thuận lợi bố trí sản xuất ở vùng mặn (nuôi thuỷ sản), vùng ngọt sẽ đưa sản xuất lúa từ 2 vụ lên 3 vụ, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế vườn. Cũng tại địa điểm này có thể tham quan trại nuôi cá sấu, heo rừng và mô hình nuôi cá lóc bông ven sông Ba Lai.

Lễ hội nghinh Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bình Đại - Bến Tre. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống. Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại được tổ chức vào ngày 16/6 âm lịch. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội. Vào lễ, các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo cùng với hương hoa Lễ hội nghinh ông ở xã Bình Thắng tuy ra đời muộn màng hơn so với các địa phương khác trong tỉnh, nhưng lễ hội không chỉ thể hiện đầy đủ tính vốn có của lễ hội dân gian, mà còn phản ánh sinh động cả nội dung và hình thức của nghề hạ bạc trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

 

Nhưng có lẽ đến Bình Đại, khám phá bãi biển phù sa Thừa Đức là thích thú nhất. Bởi bãi biển nơi đây còn hoang sơ, với bãi cát mịn trải dài ra biển, cặp theo bãi biển là những hàng dương xanh, tạo ra phong cảnh khá đẹp, cùng với không khí thoải mái, thoáng mát. Dọc theo bãi biển là các dãy nhà lá được cất nối dài, người ta mắc những chiếc võng để du khách nằm nghỉ ngơi đong đưa, thư giãn, hít thở gió biển, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào hòa vào cùng tiếng vi vu của những rặng phi lao, tạo nên một thanh âm đặc sắc, bay bổng, nhẹ nhàng, thoải mái vô cùng. Tại bãi biển phù sa Thừa Đức, sau khi tắm biển phù sa, du khách có thể thỏa thích chọn lựa thưởng thức các món đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo nhất là món bánh xèo xứ biển. Chiếc bánh xèo ở đây được chiên lớn, giòn, mùi thơm béo ngậy. Ngồi bên mâm bánh xèo phong phú các loại rau ăn kèm, với nước chấm tỏi ớt chua, ngọt có pha những sợi rối trắng, đỏ được chế biến từ củ cải trắng, đỏ hấp dẫn vô cùng. Hay mùi thơm tỏa ra từ những chiếc bánh xèo đang chiên, chưa ăn mà cảm thấy ngon hết sẩy. Những năm gần đây, bánh xèo tại bãi biển Thừa Đức gần như đã trở thành “thương hiệu” và hầu như ai đến nơi đây ít, nhiều cũng một lần thưởng thức món bánh xèo xứ biển.

Thưởng thức xong món bánh xèo hay các món đặc sản biển, du khách có thể tiếp tục ngã lưng trên những cánh võng được mắc trong các dãy nhà nối dài. Hay du khách tự mắc võng dưới hàng dương xanh mát, để tận hưởng không khí trong lành của biển phù sa trên đất xứ dừa. Tuy là bãi biển phù sa, nhưng nơi dây vào các dịp lễ hàng ngàn du khách từ các nơi đổ về để vui chơi, tắm biển đông nghẹt. Bãi biển đã được xây dựng bờ kè bê tông, tương lai nơi đây sẽ tạo ra không gian sinh thái xứ biển lý tưởng, thích hợp nghỉ ngơi, an dưỡng, nhất là cho người cao tuổi.

Đường đến Bình Đại hai bên đường du khách ngắm nhìn cảnh thiên nhiên, sẽ mãn nhãn với những cánh đồng lúa xanh mơn mởn hay chín vàng, xen lẫn với những hàng dừa xanh thẳng lối và những liếp, những mô dừa xanh đang vươn mình bên đồng ruộng lúa. Du khách sẽ bắt gặp mô hình nuôi tôm công nghiệp tại các xã ven hai bên đường…. Ngoài các sản phẩm về biển thông thường như: cá, tôm, cua, mực, nghêu…; vùng này còn có rừng ngập mặn, có nhiều cây chà là mọc, nên cũng có lắm đuông chà là. Đây là sản vật thiên nhiên rất độc đáo, người dân nơi đây đã khai thác, chế biến làm nhiều món nhâm nhi trong các quán. Hay ở đây, còn có đặc sản con rươi dùng để làm nước nắm rất đặc biệt.

Bình Đại chưa có nhiều điểm đến du lịch, nhưng trung tâm thị trấn Bình Đại lại có nhiều cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi hơn so với các huyện khác của tỉnh Bến Tre. Có thể nói cơ sở lưu trú ở đây không thua gì các khách sạn tại thành phố Bến Tre. Vì thế, du khách có thể chọn nghỉ qua đêm tại vùng đất biển yên ả này, thưởng thức đặc sản biển thỏa thích, cũng như mua sắm quà lưu niệm nhân chuyến hành trình khám phá đất biển trên ba dãy cù lao xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến Chợ LáchCự ly các điểm đến Chợ Lách
Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

- Từ thành phố Bến Tre đi bằng đường bộ đến các điểm của Chợ Lách:


Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký

Vườn kiểng Năm Công, xã Hưng Khánh Trung B 24 km, nằm sát QL 57.

  • "Làng nghề cây giống và hoa kiểng Cái Mơn"; vườn cây trái Cái Mơn; các điểm du lịch sinh thái tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành), xe 50 chỗ đến được trung tâm xã, rồi chọn phương tiện xe 02 bánh đến các làng nghề, vườn cây trái…; đi bằng đường bộ khoảng 30 km; đi bằng đường thủy từ thành phố Bến Tre đến Cái Mơn mất 3 giờ đồng hồ.

  • Nhà thờ Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, 30 km, nằm cặp Quốc lộ 57, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ thành phố Bến Tre qua (về phía bên trái).

  • Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký, xã Vĩnh Thành, 30 km, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ Tp. Bến Tre qua, rẽ sang hướng phải, xe dưới 16 chỗ vào đến nơi; xe 30 -50 chỗ đậu ngoài lộ lớn và đi bộ vào khoảng 300m.

  • Điểm du lịch sinh thái Ba Ngói và Tám Lộc (cồn Phú Đa) xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ. Nếu đi đường sông từ thị trấn Chợ Lách theo kênh Lách một khoảng rẽ sang kênh Sụp (tàu lớn đi được), chạy một lúc sẽ gặp sông Cổ Chiên và theo hướng  phải một đổi sẽ gặp cồn Phú Đa. Cũng theo hướng này, nếu đi bằng thuyền nhỏ (đi tắt) theo hướng kênh Bốn Sồ là tới cồn Phú Đa.

  • Điểm vườn hoa, kiểng Hồng Nhị, xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ, nằm sát Quốc lộ 57.

  • Điểm du lịch Năm Vũ, xã Phú Phụng 50 km đường bộ, đi khoảng 4 km nữa là đến phà Đình Khao sang tỉnh Vĩnh Long.

  • Ngoài các điểm đến trên, trên đường đi đến trung tâm Chợ Lách, xuất phát điểm từ thành phố Bến Tre tính theo km đường bộ, có thể khám phá các vườn cây ăn trái và một số cơ sở sản xuất cây giống tại các xã như: Tân Thiềng 36 km, (qua cầu Cái Mơn lớn khoảng 1 km, quẹo theo hướng phải 05 km nữa là đến), xe dưới 30 chỗ đến được nơi đây. Tại Tân Thiềng có bến phà nhỏ sang huyện Mang Thít tỉnh Vĩnh Long. Hay đến xã Long Thới 34 km; xã Hòa Nghĩa 38 km (02 xã này nằm cặp trên QL 57), xe 30 – 50 chỗ đến được. Sau đó đến thị trấn Chợ Lách khoảng 40 km; lên xã Sơn Định 42 km. Hoặc từ thành phố Bến Tre đến xã Vĩnh Hòa, xã Phú Sơn khoảng 18 km lộ trình đi như sau: qua cầu Hàm Luông, đến ngã tư đèn đỏ đèn xanh, rẽ phải qua đường tỉnh 882, đến vòng xoay ngã ba lên trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc tại xã Phước Mỹ Trung (Ba Vát), rẽ sang hướng phải lên xã Vĩnh Hòa và Phú Sơn, 02 xã này đi xe dưới 16 chỗ thuận tiện nhất.


    Nếu đến Chợ Lách bằng đường thủy, nhìn trên bản đồ từ Tiền Giang qua thì theo sông Tiền, lên khúc uốn sông Hàm Luông, quẹo vào vàm kênh Lách là đến trung tâm huyện. Từ Vĩnh Long đi đường bộ hay đường thủy đến Chợ Lách là dễ dàng nhất.


    Tàu, thuyền xuôi ngược trên kênh Lách đi Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền Tây và ngược lại.

    161007_52.jpg


    Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Di tích lịch sử Đền thờ và mộ thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc ThăngDi tích lịch sử Đền thờ và mộ thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
Nguyễn Ngọc Thăng quê làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, năm 1848 giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ. Ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27-6-1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp.

   

Image
Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
Nguyễn Ngọc Thăng quê làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, năm 1848 giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ. Ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27-6-1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Thi hài ông được đưa về quê bằng ghe, quàn tại một con giồng nhỏ cách chợ Mỹ Lồng gần 1.000m.

   Sau khi ông chết, vua Tự Đức có phong sắc, áo mũ và một thanh gươm, nhưng vì chiến tranh nên những di vật này đặt ở đền thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng, thất lạc.Từ năm 1984, nhân dân địa phương đã đem bài vị của ông vào thờ ở đình Mỹ Thạnh như một vị thần đã có công trong sư nghiệp chống ngoại xâm, tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm bên cạnh đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre 6,5 km.

   Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch. Di tích được Bộ Văn hóa - thông tin ra quyết định số 985-QĐ/VH công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-5-1997.

Đã ban hành
Giồng TrômGiồng Trôm
&nbsp;

Huyện được thành lập giữa năm 1959 trên cơ sở của huyện Tán Kế, hình thành từ sau CMT8-1945, gồm một số xã tách ra từ huyện Ba Tri và một số xã tách ra từ huyện Châu Thành. Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142ha, đứng hàng thứ hai trong 7 huyện, nằm khoảng giữa cù lao Bảo, bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai, đông giáp huyện Ba Tri, tây giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, nam giáp huyện Mỏ Cày, có ranh giới chung sông Hàm Luông.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Giồng Trôm gồm có 21 xã và 1 thị trấn. Huyện Giồng Trôm được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thị trấn Giồng Trôm

Thị trấn, huyện lỵ Giồng Trôm, thành lập theo Quyết định số 141/CP ngày 3-4-1979 của Hội đồng Chính phủ. Thị trấn nằm trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri với những hàng quán, chợ, cửa hàng dịch vụ, trường học… kéo dài cả kílômét.

Đã ban hành
Một ngày thú vị trên sông nước xứ dừaMột ngày thú vị trên sông nước xứ dừa
Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Từ thành phố Hồ Chí Minh xe khởi hành lúc 08 giờ sáng, 09 giờ 45 bọn tôi đã đến bến tàu du lịch Tiền Giang; 10 giờ xuống du thuyền và bắt đầu khám phá sông nước – miệt vườn của vùng đất xứ dừa. Từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, du thuyền đưa chúng tôi lênh đênh trên dòng sông Tiền, ngắm nhìn sông nước mênh mông, những tàu thuyền xuôi ngược, những gợn sóng nhấp nhô lắc lư du thuyền, cả bọn khoái chí vô cùng.

 

Chỉ một ngày ngắn ngủi trong chuyến hành trình khám phá vùng sông nước Bến Tre, do công ty Cổ phần du lịch Bến Tre tổ chức, thật sự là một ấn tượng đáng nhớ và khó quên của cả nhóm. Điểm dừng chân đầu tiên, chúng tôi được hướng dẫn tham quan các điểm du lịch trên Cồn Phụng (Châu Thành, Bến Tre). Đến đây, ngoài việc tận hưởng khí trời thoáng mát của vùng sông nước, chúng tôi được tham quan các kiến trúc còn hiện hữu như: Sân rồng, tòa tháp với lối kiến trúc độc đáo, có nhiều hoa văn rất đẹp, cũng như tham quan tìm hiểu về lịch sử công trình này, cả đoàn thích thú vô cùng.

 

Điểm tiếp theo được hướng dẫn thăm cơ sở sản xuất kẹo dừa và tráng bánh tráng truyền thống. Nhìn những viên kẹo dừa mới ra lò còn nóng hổi, có mùi thơm béo ngậy và nhìn đôi bàn tay khéo léo của người thợ gói kẹo, bọn tôi ngưỡng mộ vô cùng. Chúng tôi được thưởng thức những viên kẹo dừa đặc sản, do chủ cơ sở mời và uống ly trà nóng, bọn tôi cảm thấy nó ngọt ngào, ấm lòng, thâm tình sao sao ấy và khó diễn tả hết được sự mến khách của người dân xứ dừa, điều mà từ lâu bọn tôi đã nghe nhiều người nhắc đến.

Cũng tại Cồn Phụng, hành trình trên những con đường làng quanh co dưới những vườn cây trái rậm bóng mát, chúng tôi tham quan cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Cả bọn tôi ai cũng lóe mắt, ngạc nhiên với những sản phẩm thủ công mỹ nghệ hết sức độc đáo này. Phải công nhận rằng từ “cây dừa” sao mà làm ra nhiều thứ quá. Tò mò, tìm hiểu và tiếp xúc với người dân nơi đây, bọn tôi thán phục cái trí óc tưởng tượng phong phú, kết hợp với đôi bàn tay khéo léo của những “nghệ nhân miệt vườn” xứ dừa, cùng các kỹ thuật chế tác tinh xảo, đã sáng tạo ra rất nhiều loại sản phẩm từ dừa, nhất là một số sản phẩm tiêu biểu như: chén, đũa, nĩa, ấm trà, gạt tàn thuốc, hình các con vật,… để mọi người ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó. Cả đoàn ai cũng trầm trồ, rồi lựa chọn cho mình những sản phẩm thông dụng yêu thích. Riêng bọn tôi, mỗi đứa chọn cho mình một vài sản phẩm, nhất là các con vật trong bộ giáp, để tặng cho người thân, bạn bè đúng ý nghĩa với tuổi của mỗi người và để làm kỉ niệm nhân chuyến đi tại vùng sông nước, miệt vườn Bến Tre.

Đến Cồn Phụng, ngoài tham quan khung cảnh thiên nhiên, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các đặc sản truyền thống, chúng tôi thấm mệt nên nằm nghỉ chốc lát trên những chiếc võng đong đưa dưới vườn cây, tán lá xanh mát. Sau khi đã nghỉ ngơi lấy lại sức, chúng tôi tham gia vào trò chơi câu cá sấu, đây cũng là một thú tiêu khiển, thư giãn rất thú vị.

Du thuyền lại xuôi dòng sông Tiền, người hướng dẫn đưa chúng tôi đến điểm Cồn Quy; lênh đênh thưởng ngoạn trên sông nước, vừa ngắm nhìn những sản phẩm ngộ nghĩnh từ dừa trên tay, được ngồi thư thái trên du thuyền, được hít, thở gió trời của vùng sông nước xen lẫn với mùi thơm thoang thoảng của hoa bần, thật là thoải mái, thú vị vô cùng. Theo lời giới thiệu của hướng dẫn, Cồn Quy nhỏ nhất trong các cồn của Bến Tre được khai thác từ những năm 1960, hiện nay Cồn Quy vẫn còn giữ được những nét hoang sơ. Ven bờ Cồn Quy là những hàng bần với bông bần trắng tím là đà mặt nước, đong đưa trong gió và những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn đến hút mắt. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắt gặp những mái nhà lá đơn sơ thấp thoáng trong những vườn cây ăn trái trĩu quả.

Đến Cồn Quy, chúng tôi được ngắm một khung cảnh thiên nhiên hữu tình thơ mộng, khoái nhất là tham gia tát mương bắt cá, hái trái cây với chủ vườn và thưởng thức các đặc sản của vùng đất nơi đây. Dừng chân ở nhà hàng du lịch xanh Quê Dừa, ngồi trong các gian sàn rộng rãi, gọi là thủy tạ gió mát rười rượi, chúng tôi thư thái ngắm nhìn đám lục bình tràn đầy mặt hồ đã tới mùa nở hoa tím ngát rất đẹp. Theo nhận xét của nhóm chúng tôi, nhà ăn ở đây được cất bằng tre lá nhưng đầy đủ tiện nghi và theo lời giới thiệu của chủ cơ sở ở đây phục vụ khoảng 400 khách cùng một lúc, với những món ăn đặc sản dân dã như: Cá bông lau nấu canh chua bần với rau muống đồng, cá điêu hồng hấp với các loại nấm và bông bí, tép rang dừa, cháo cua đồng, cá rô kho tộ, cá tai tượng chiên xù,…

Thật hấp dẫn, cả đoàn chúng tôi còn được phục vụ đàn ca tài tử, được đưa đi tham quan quy trình nuôi ong mật, vừa thưởng thức trái cây mới hái,  thú vị nhất là được hớp ly trà mật ong. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết người dân nơi đây sáng tạo nuôi ong lấy mật tại vườn nhà, sau đó pha với trà phục vụ cho du khách. Vị đắng hậu ngọt của trà hòa trong vị ngọt chua của mật ong thật là tuyệt.

 

Tham quan xong Cồn Quy, từ du thuyền lớn chuyển sang những chiếc xuồng chèo nhỏ đưa chúng tôi len lỏi vào trong các con rạch nhỏ. Càng vào sâu trong rạch, hai bên dừa nước chen mọc dày đặc, xanh um, cùng với những bông, quầy dừa nước lớn, nhỏ, đua nhau khoe sắc trông đáng yêu vô cùng. Hướng dẫn viên thuyết minh, đây là con rạch nhỏ có tên là rạch Xếp thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, Bến Tre. Nó có tên rạch Xếp, vì càng vào sâu con rạch càng xếp nhỏ lại. Đến đây, chúng tôi được đưa đi xem các lò sấy nhãn nằm dài theo những con đường làng rợp bóng dừa xanh. Chúng tôi bắt gặp hình ảnh của  những người dân mến khách luôn có nụ cười cởi mở và thân thiện làm cho chúng tôi cảm thấy sự gần gũi và gắn bó với nơi đây tự bao giờ.

Tiếp tục chuyến hành trình, chúng tôi đến với điểm du lịch Quới An tham quan ngôi nhà chữ “đinh” làm bằng gỗ dừa rất độc đáo, đây là kiểu nhà truyền thống Nam Bộ. Trong ngôi nhà trưng bày tranh, ảnh, các hiện vật có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân Nam Bộ, cũng như các sản phẩm quà lưu niệm làm từ dừa. Chia tay điểm du lịch Quới An, tiếp tục thả bộ trên con đường làng rợp bóng dừa xanh với những vườn cây trái xanh mát, chúng tôi càng thích thú hơn khi được ngồi trên thùng xe để “chú ngựa” kéo đi, cảm giác lần đầu đi xe ngựa ngắm đường làng và nhìn thấy sinh hoạt thường nhật của người dân nơi đây cả bọn chúng tôi khoái khoái sao sao ấy. Tiếng ngựa lóc cóc vang lên trên con đường quê rợp bóng dừa xanh, thoang thoảng đâu đây mùi hương của hoa dừa, hoa của những vườn cây ăn trái,… đã làm nên một kỷ niệm khó phai trong lòng mỗi chúng tôi khi tham gia vào một chuyến du hành khám phá vùng sông nước – miệt vườn Bến Tre.

Trong chuyến đi này, nhóm bạn chúng tôi mỗi đứa có một ý nghĩ, một cảm nhận riêng. Song chúng tôi có cùng một sở thích và thích thú vô cùng đó là “xuồng chèo” len lỏi trong những con rạch nhỏ, nhìn dòng nước ròng, nước lớn, có màu đục đục. Có lẽ đây là dòng nước có nhiều phù sa, nên đã bồi tụ cho vùng đất này có rừng dừa xanh thẩm bạt ngàn và phong phú nhiều vườn cây ăn trái tốt tươi. Yêu nhất vẫn là hai hàng dừa nước xanh um tùm, đan xen trong đó là những cây bần trổ hoa thơm ngát. Hương thơm của hoa bần, với những làn gió mát rượi của vùng sông nước xứ dừa, những món ăn dân dã, những món quà lưu niệm xinh xinh làm bằng dừa,… làm cả bọn chúng tôi quên đi mệt mỏi. Đây thật sự là một trải nghiệm đáng nhớ của nhóm chúng tôi trong chuyến hành trình về với quê hương xứ dừa. Hy vọng một lần nữa hành trình đến vùng đất xứ dừa, với tuyến khám phá khác sẽ gặt hái nhiều kỷ niệm đẹp và thích thú nhiều hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Cây lúa nướcCây lúa nước
Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục...
Image

 Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục... đều nhắc đến lượng và phẩm của gạo tẻ và gạo nếp của Bến Tre. Tuy nhiên do những điều kiện hạn chế về khoa học kỹ thuật, cho nên năng suất lúa trong cả giai đoạn lịch sử dài nhìn chung còn rất thấp. Mãi đến những năm gần đây, cùng với việc đầu tư khoa học kỹ thuật, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới v.v... năng suất, sản lượng lúa đã có bước tăng nhảy vọt. Những cánh đồng thâm canh, vùng lúa cao sản được xây dựng ở nhiều nơi trong tỉnh, với hai vụ lúa mỗi năm, thay vì một vụ như trước đây.
Có những giống lúa địa phương thích ứng với từng vùng như: cuống trâu, ba đuông, nàng gáo, nếp bòng ở vùng nhiễm mặn; nàng trích, nàng loan, tàu hương ở vùng nước lợ; bảy dãnh, nàng loan, một bụi, ba bụi ở vùng nước ngọt. Đây là những nguồn "gien" quý giá cho chương trình nghiên cứu lai tạo giống lúa có năng suất cao và thích hợp với môi trường đồng đất địa phương.
Trong quá trình xây dựng vùng lúa cao sản, một số giống lúa có năng suất cao của những viện nghiên cứu của Nhà nước, hoặc nhập  ngoại cũng đã được trồng thí nghiệm trên đất Bến Tre và đã cho thấy triển vọng phát triển tốt, năng suất cao.

Đã ban hành
Họa sĩ Đoàn Việt TiếnHọa sĩ Đoàn Việt Tiến
&nbsp;

Image
Đoàn Việt Tiến với tác phẩm chân dung Hồ Chí Minh vẽ ngược lên mặt sau của kính thủy tinh
Có lẽ thương binh Đoàn Việt Tiến là người đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Việt Nam vẽ tranh sơn dầu bằng 5 đầu ngón tay, mà lại vẽ ngược lên mặt sau của kính thuỷ tinh. Để thành công với cách vẽ sáng tạo độc đáo này, anh đã trải qua 10 năm khổ luyện cùng những nỗi đau xô chụp xuống cuộc đời, mà đỉnh điểm là hạnh phúc gia đình tan vỡ...

Thăng hoa từ niềm say mê...

Năm 2001, kỷ niệm 71 năm Ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2), Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM mở cửa triển lãm bộ sưu tập tranh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẽ trên kính thuỷ tinh. Đó là 30 bức tranh sơn dầu khổ 0,8 x 1m và 0,8 x 1,2m mà tác giả - họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến (quê ở Bến Tre) trao tặng sau suốt 100 ngày đêm miệt mài vẽ ngay tại TPHCM. Tiến không vẽ tranh bằng cọ hay bút. Với chất liệu sơn dầu, anh vẽ bằng 5 đầu ngón tay và vẽ ngược lên sau mặt kính. Điều đó đã gây ngạc nhiên, thích thú đối với nhiều người xem triển lãm. Cách vẽ độc đáo của Tiến đã tạo ra những bức tranh sống động, sắc sảo trông giống như ảnh chụp. Có thể nói, bộ tranh vẽ chân dung Bác Hồ qua các thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam là bước ngoặt đưa người thương binh tài hoa sống lặng lẽ ở vùng quê nghèo thuộc xã Phú Đức (huyện Châu Thành, Bến Tre) đến với công chúng yêu hội hoạ. Bảo tàng Bến Tre, ngay sau đó mời anh thực hiện bộ tranh chân dung Hồ Chủ tịch cho quê nhà. Sau đợt triển lãm, Tiến đã vẽ khoảng 200 bức tranh chân dung Hồ Chủ tịch tặng nhiều cơ quan trong nước. Rồi hàng loạt hợp đồng khác... níu lưng Tiến, đưa anh trải qua những ngày vẽ đến gần như kiệt sức. Bà Đoàn Thị Thành (mẹ Tiến) nhớ lại: "Một thời gian dài sau cuộc triển lãm ở TPHCM, thấy con lao vào vẽ ngày vẽ đêm, tôi lo nó không đủ sức khoẻ, mà Tiến ngã bệnh thật...".

Kỷ niệm 40 năm ngày đồng khởi, trong số nhiều vị khách quý về dự tại Bến Tre có ông Tổng Lãnh sự Cuba tại Việt Nam. Tiến vẽ chân dung lãnh tụ Fidel Castro với mục đích làm quà tặng. Nhà ngoại giao Cuba xúc động với bức chân dung vị lãnh tụ của đất nước mình được thể hiện sống động trên tấm kính thuỷ tinh. Ông càng cảm kích hơn khi biết rằng nó được vẽ bởi một cựu chiến binh - thương binh Việt Nam, sau đó ông đã mời Tiến đến thăm Tổng Lãnh sự quán Cuba tại TPHCM. Tại đây Tiến đã vẽ tặng bức chân dung Fidel thứ hai.

Cuối tháng 11.2002, tôi đến ấp Phú Xuân lần tìm nhà Tiến. Anh đang miệt mài vẽ để hoàn thành thêm một bộ tranh cho Bảo tàng Bến Tre và chuẩn bị đi Cần Thơ vẽ bộ sưu tập tranh hình ảnh người lính ĐBSCL theo hợp đồng với Bảo tàng Quân khu 9. "Do đâu anh có ý tưởng vẽ ngược lên kính bằng 10 đầu ngón tay và nảy sinh từ khi nào?" - tôi hỏi. Tiến kể: "Một hôm cách nay trên 10 năm, tình cờ nhìn thấy tấm kính phản chiếu ánh mặt trời trông thật lung linh, tôi nghĩ có lẽ vẽ lên kính tranh sẽ "sáng" lắm. Nhưng để giữ tranh được lâu phải vẽ ngược lên mặt kính. Và "linh cảm" của một người mê vẽ như mách bảo rằng vẽ bằng ngón tay thì tư duy sáng tạo của người vẽ sẽ truyền trực tiếp vào bức tranh, tác phẩm sẽ có hồn hơn.Vậy là tôi bắt tay vào... làm thử".

Cái rung cảm bất chợt của một chàng trai khi nhìn tấm kính lung linh dưới ánh mặt trời thật lãng mạn. Nhưng chỉ chừng ấy không thể sản sinh ra họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến hôm nay. Tiến bộc lộ năng khiếu và mê vẽ từ nhỏ, đặc biệt là vẽ chân dung Bác Hồ. Anh kể với tôi như thuộc lòng: Sống ở quê ngoại, quê hương của đồng khởi - anh được nghe cô bác nói về Bác Hồ với niềm tôn kính, rồi cứ hình dung Bác như một ông tiên. Cho đến một hôm, cậu bé Tiến được mấy chú giải phóng quân cho xem ảnh Bác Hồ, anh thích quá cầm bút vẽ ngay. Được khen "cháu vẽ giống lắm", cậu bé vui sướng tới mức suốt những năm tháng sau đó say sưa tập vẽ theo ảnh Bác Hồ. Rồi năm 1979, cậu học sinh giỏi lớp 12 Trường THPT Châu Thành B tình nguyện đi bộ đội. 5 năm làm anh bộ đội trong đội hình Trung đoàn 4 (Sư đoàn 330), những ngày tham gia chiến đấu tại chiến trường K, anh vẫn say mê vẽ. Đó là những bức ký hoạ 32 trận đánh của đơn vị vẽ bằng bút bi, bằng than rừng trên giấy, trên vỏ và trên lá cây thốt nốt... Tiến nhớ lại: "Thời gian này, tôi vẫn say mê vẽ chân dung Bác Hồ...".

Vẽ từ nỗi đau đời

Bây giờ nghe Tiến kể, tưởng như cách vẽ ngược lên mặt kính bằng 10 ngón tay dễ như không. Thật ra, để có được thành công đầu tiên với bộ tranh tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM, Tiến đã phải trải qua 10 năm khổ luyện với cái giá khá nhiều cay đắng. Tiến bắt đầu luyện tập vẽ chân dung Bác Hồ ngược lên kính bằng ngón tay từ năm 1990. Trước khi bức vẽ đầu tiên thành công vào ngày 19.5.1999, Tiến đã vẽ hỏng hàng trăm bức. Thời gian 10 năm dài đằng đẵng ấy, anh thương binh Đoàn Việt Tiến còn phải lo chuyện mưu sinh. Ban ngày, anh rong ruổi khắp miền Tây vẽ (bằng bút) quảng cáo, kẻ chữ, chân dung... theo "đơn đặt hàng" kiếm sống để đêm đêm luyện vẽ ngược bằng 5 ngón tay trên kính. Lần mở các tập nhật ký, ngay cả Tiến dường như cũng không tin nổi anh đã phải trải qua trên 60 lần dời nhà bởi sự chuyển dịch vì cuộc mưu sinh! Bây giờ với những hợp đồng vẽ các bộ sưu tập tranh, cuộc sống của anh đã qua cơn bĩ cực. Nhưng nhớ lại những năm tháng khắc nghiệt của cuộc đời, giọng kể của Tiến vẫn bồi hồi...

Năm đầu tiên của thập kỷ 90, cha anh bệnh nặng khi Tiến vẫn đang còn túng bấn với "kiếp vẽ thuê" kiếm sống. Mẹ anh phải cầm cố mảnh vườn 4.000m2 lo chi phí chữa bệnh cho cha Tiến. Cha anh vẫn không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Cuộc sống không ổn định nơi đất khách Tiền Giang, mẹ và anh dắt díu nhau về quê ở nhờ trên đất một người bà con. Trong căn chòi nhỏ không có cả điện thắp sáng ở cái xóm nghèo Phú Xuân, Tiến vẫn miệt mài luyện vẽ tranh ngược lên kính bằng ngón tay. Mẹ Tiến kể: "Nhiều đêm thấy con loay hoay vẽ tới khuya dưới ánh đèn dầu, những ngón tay bê bết sơn, lòng tui như đứt ruột...". Còn Tiến khi nhớ lại quãng thời gian lắm nhọc nhằn này, anh nghĩ và biết ơn người đã có tác động không nhỏ vào sự thành công sau này của anh. Đó là người bác ruột - nhà văn Đoàn Giỏi. Chính nhà văn đã khẳng định với Tiến rằng khổ luyện vẽ bằng ngón tay ngược lên mặt sau của kính, thì cũng phải khổ luyện thể hiện cho được cái "thần" trong đôi mắt của Bác mới có thể thành công với những bức vẽ chân dung Bác...

5 năm sau (1995), Tiến lập gia đình. Nhưng hạnh phúc lứa đôi chỉ kéo dài được 4 năm. Có lẽ không chịu đựng nổi cái khắc nghiệt của cuộc sống thiếu hụt vật chất đeo đẳng, vợ Tiến bế đứa con thân yêu của hai người đi biệt không hẹn ngày trở lại. Bất hạnh của đời thường khiến tâm hồn người thương binh 3/4 bị dằn vặt, giằng xé. Nhưng nỗi đam mê nghệ thuật là sức mạnh giúp Tiến đứng lên, vượt qua nỗi đau tinh thần. 5 ngón tay. Rồi cả 10 ngón tay. Anh lao vào luyện vẽ. Vẽ, vẽ và vẽ. 4 năm - quãng thời gian từ lúc vợ anh bế con rời xa cho đến khi bức vẽ ngược trên kính đầu tiên thành công (1999) - cuộc sống của Tiến gần như gói gọn trong từ "vẽ".

Ngồi với tôi trong xưởng vẽ giữa không gian yên ắng của vùng quê, nhớ lại cuộc chia tay đã lùi xa 4 năm, tôi không thấy Tiến bộc lộ một biểu hiện trách cứ nào. Trong câu chuyện lan man quẩn quanh về cuộc đời, về nghệ thuật, dù không ai nói ra, song anh và tôi hình như đồng ý với nhau rằng: Trong những khúc quanh, ngã rẽ của cuộc đời, lắm khi người ta phải có những quyết định lựa chọn đầy khó khăn. Như Tiến quyết tâm đeo đuổi niềm đam mê vẽ cháy bỏng trong máu thịt. Như vợ anh quyết định chọn một lối đi khác, mà có lẽ theo chị, phù hợp với cách sống của mình hơn. Nghĩ như thế, người ta sẽ không trách cứ nhau. Nghĩ như thế, dù nỗi buồn có đầy ắp, dù nỗi đau không dễ nguôi ngoai, người ta vẫn yêu cuộc đời này. Để sống. Để làm việc - những công việc mình yêu thích.

Bây giờ có thể nói Tiến đã thành đạt, đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của đời mình. Hợp đồng vẽ bộ sưu tập chân dung người lính ĐBSCL chỉ mới chuẩn bị thực hiện, Tiến đã nhận được nhiều lời mời ký hợp đồng tiếp tục vẽ các bộ sưu tập về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác... Như con ong làm mật cho đời, hoạ sĩ Đoàn Việt Tiến đã được công chúng yêu hội hoạ biết đến như một nghệ sĩ sáng tạo ra cách vẽ độc đáo. Còn tôi, tôi cứ muốn nghĩ về Tiến như một con người đã sống, đã yêu và làm việc hết mình cho cuộc sống này thêm đẹp...

Lê Như Giang
(Báo Lao
động 10.12.2002)

Đã ban hành
Mỏ CàyMỏ Cày
&nbsp;

 Sông Mỏ Cày

Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.

Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.

Cầu Mỏ Cày

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.

 Huyện Mỏ Cày

Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.

Huyện Mỏ Cày có diện tích tự nhiên 35.196ha, bắc giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung con sông Cổ Chiên, tây giáp huyện Chợ Lách, đông và nam giáp huyện Thạnh Phú.

Sau này 30-4-1975, theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị Mỏ Cày có 28 xã và 1 thị trấn.

Mỏ Cày

Sở tham biện, lập ngày 4-12-1867, gồm vùng đất cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Thị trấn Mỏ Cày

Thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Một nhánh của sông Hàm Luông chảy đến làng Đa Phước Hội thì chia làm 3 ngã: một nhánh nối với kinh Thom, một nhánh là rạch Cầu Ông Bồng, một nhánh là rạch Mỏ Cày. Nơi giáp 3 ngã sông rạch này tạo nên một doi đất hình mỏ cày (mỏm cày). Năm 1867, Mỏ Cày là lỵ sở của sở tham biện Mỏ Cày (gồm toàn bộ cù lao Minh), sau tháng 8-1945 đến 1975 là quận lỵ Mỏ Cày, sau ngày giải phóng (30-4-1975) là thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của cù lao Minh và cũng là huyện lỵ đông dân nhất tỉnh.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đôn NhơnĐôn Nhơn
&nbsp;
Quận thành lập theo Nghị định số 209-NV của Tổng thống VNCH ngày 7-3-1963, thuộc tỉnh Kiến Hòa, gồm có 3 tổng (Minh Lý, Minh Thiện, Minh Thuận) và 9 xã. Quận lỵ đặt tại Ba Vát.
Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer