Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Các sinh vật trên cạnCác sinh vật trên cạn
 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

Đất vườn trù phú cũng là nơi sinh sống của các loài chim. Nhưng nổi bật nhất ở Bến Tre là các nhóm chim sống ven bờ nước, tiêu biểu cho rừng ngập mặn. Với những diện tích bãi triều rộng, đặc biệt vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng của các loài chim ăn các sinh vật ven bờ nước, kể cả các đàn chim di cư bay từ phương bắc đến. Những rừng đước trồng mới ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri đang trải rộng màu xanh ven biển, hứa hẹn một sự hội tụ ngày một đông đảo các dòng họ chim từ các nơi khác đến. Nhóm chim dùng thức ăn tôm cá và sinh vật ở bãi triều đóng vai trò nhất định trong việc bón phân cho thủy vực, tham gia vào quá trình chu chuyển vật chất nói chung, có tác dụng tích cực đối với các loài sinh vật sống dưới rừng ngập mặn.

Nhóm chim sống gần người như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo... có thể gặp ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây. Chúng săn bắt côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng, rau xanh, ăn những loại hạt cỏ dại...

Ngày nay, những nơi như Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn (Ba Tri) đang dần dần lấy lại sự trù phú, đông đảo của cảnh sân chim một thời đã mất. Người ta ước tính có khoảng ba mươi loại chim đang quy tụ về đây, trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế. Vào mùa sinh sản, nhìn lên những rặng bần, mắm, ta thấy chim đậu dày đặc. Có những cây trĩu nặng hàng chục tổ cò, tổ diệc, cồng cộc, sáo, le le... Chiều về, các loài chim đi ăn từ mọi nơi hạ cánh để tìm chỗ đậu, hay để mớm thức ăn cho con, cho chim mái ấp trứng v.v... ồn ào, náo nhiệt như họp chợ. Ở cồn Đất trước đây còn có rất nhiều dơi quạ.

Chim ưa môi trường trong sạch và yên tĩnh. Sự có mặt cùng những hoạt động đa dạng của chúng là những dấu hiệu tốt lành của môi trường sống, ngược lại sự vắng bóng của chúng là chỉ báo cho sự xấu đi, là tình trạng đáng báo động của điều kiện sống ở nơi đó. Môi trường bị ô nhiễm, trước hết phải kể đến nước, kế đến là không khí, sau cùng là đất. Cần phải tạo mọi điều kiện tốt cho chim chóc về sinh sống ngày một nhiều - cảnh quan, đất đai Bến Tre vốn có đủ các điều kiện đó - vỉ xét trên nhiều phương diện, nguồn lợi về chim không nhỏ.

Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng và phong phú nhất là côn trùng. Ở Bến Tre, số lượng của chúng chắc phải đến hàng ngàn loại. Loại có ích như ong. Ong không chỉ cho mật, mà còn góp phần thụ phấn cho hoa, nâng cao năng suất cây trồng. Kiến vàng, lớn con với bộ giò cao lêu nghêu, di chuyển nhanh, thường kéo hàng đàn, bò từ cây này sang cây khác, có mặt thường xuyên ở các vườn cây. Đội quân này giúp cho người làm vườn tiêu diệt được nhiều loại sâu bọ hại cây ăn quả. Bà con ta biết đưa chúng về các vườn cam, quýt... để làm "người bảo vệ" cho cây trái, nếu nơi ấy còn vắng bóng chúng.

Kiến vương thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng là kẻ thù đáng gờm của các nhà trồng dừa. Ấu trùng của kiến vương sống trong các đống rác, rơm mục rải rác khắp nơi. Khi trưởng thành, ấu trùng (con đuôn) đục thân cây dừa, chọn nơi ngọn (cổ hũ dừa) làm nơi sinh trưởng. Một đọt dừa bị đuôn đục thân có thể chặt ra, bắt hàng chục có khi cả trăm con đuôn lớn bằng ngón tay. Cây dừa bị đuôn đục ngọn coi như là bỏ đi (đuôn dừa, đặc biệt là đuôn chà là, tẩm bột rán vàng là một món ăn cao cấp, được dân nhậu ưa thích).

Bên cạnh một số loại côn trùng có ích giúp cho việc thụ phấn, đậu quả, có nhiều loại côn trùng gây hại đến rau màu, lúa, cây ăn quả, nhất là các loại sâu bọ, ong ký sinh và nhóm côn trùng ăn thịt khác. Có loại côn trùng, khi còn giai đoạn ấu trùng thì sống trong các ao hồ, là động vật ăn thịt, đến lúc trưởng thành mới sống trên cạn, như ấu trùng chuồn chuồn. Số lượng loại này có nhiều trong các thủy vực, là kẻ thù của tôm và cá con.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Di tích nghệ thuật Đình Bình HòaDi tích nghệ thuật Đình Bình Hòa
Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hoà, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường 885, cách thành phố Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

Image
Di tích Đình Bình Hòa
Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hoà, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường 885, cách thành phố Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

 Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ được đến nay cho biết đ ình đ ư ợc lập vào thập kỷ thứ 2, thế kỷ XIX, tính đến nay gần 200 năm. Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn tất phải mất trên 10 năm(1903-1913), kể cả công trình kiến trúc bên ngoài và trang trí nội điện, đặc biệt là phần điêu khắc gỗ. Đó là kết quả lao động công phu của những nhóm thợ rước từ miền trung vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852).

 Về mặt kiến trúc bên trong, chất liệu chính là gỗ tứ thiết và kết cấu bằng mộng, chốt, kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật điêu khắc, mà chủ yếu là những nét tạc bằng đục của nghệ nhân ngay trên gỗ của những vì kèo, xuyên, trính, hoành phi…ở các gian chánh đường và thính đường. Qua thử thách của thời gian với nắng mưa và khí hậu ẩm thấp, đặc biệt tác động phá hoại trực tiếp của bom đạn trong suốt 30 năm, ngôi đình vẫn đứng vững. Điều đó nói lên trình độ kỹ thuật và ý thức trách nhiệm của đội ngũ thợ xây dựng.

 Về trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông,sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v…

 Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời KCCP) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Nhiệm.


 Hiện còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai.

 Đình Bình Hòa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)
 

 Sinh năm 1915 tại Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình trung lưu. Sau khi học hết bậc tiểu học ở Bến Tre, Võ Tấn Nhứt được gia đình gởi lên Sài Gòn học tiếp tại Trường Huỳnh Khương NInh, một trường tư có nhiều thầy giáo có tư tưởng yêu nước, tiến bộ tham gia giảng dạy lúc bấy giờ. Do đó, Võ Tấn Nhứt đã tiếp thụ được ảnh hưởng tiến bộ của những người thầy của mình.

   Năm 1934, thôi học trở về quê, và cũng tại đây anh được một số người cộng sản hoạt động bí mật dìu dắt, giúp đỡ rồi được kết nạp vào ĐCSĐD tại chi bộ Sơn Hòa. Năm 1936 - thời kỳ Mặt trận Dân chủ phát triển lan rộng – Võ Tấn Nhứt cùng với Hồ Văn Nguyện, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Bích lập ra Đông Phương thư xã tạ thị xã Bến Tre.

   Năm 1939, bị địch bắt, nhưng vì không đủ chứng cứ để truy tố ra tòa, nên được đưa về “quản thúc” tại xã Phú An Hòa (huyện Châu Thành), tách khỏi quê quán cũ.

   Đầu năm 1944, Nguyễn Thanh Trà trốn khỏi nhà tù đế quốc, trở về địa phương, móc nối, liên lạc với một số đồng chí cũ, trong đó có Võ Tấn Nhứt. Từ đây, Võ Tấn Nhứt bắt đầu hoạt động trở lại, phát triển phong trào Việt Minh ở huyện Châu Thành và thị xã.

   Tháng 4-1945, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy Bến Tre, phụ trách Mặt trận Việt Minh tỉnh, có chân trong Ủy ban khởi nghĩa, cướp chính quyền ở tỉnh ngày 25-8-1945. Cuối năm 1945, phụ trách công tác tổ chức cán bộ của tỉnh. Đến khi giặc Pháp chiếm Bến Tre (2-1946), đồng chí được giao tổ chức công binh xưởong của tỉnh, sau đó phụ trách công binh xưởng 1038 thuộc khu 8. Đến năm 1950, trước tình hình lấn chiếm rộng ra và bình định ác liệt của địch, công binh xưởng của khu 8 chuyển xuống miền Tây Nam Bộ, thì Võ Tấn Nhứt lại trở về công tác tại tỉnh nhà, làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), ông được Tỉnh ủy phân công ở lại và có nhiệm vụ tổ chức chôn giấu vũ khí để khi cần sử dụng sau này.

   Đến cuối năm 1954, ông được điều đi nhận công tác vận động quần chúng trong đồng bào theo đạo Hòa hảo ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc, với cái tên mới là Nguyễn Văn Nho. Đầu năm 1957, bị địch bắt giam tại nhà lao Phú Lợi. Khi vụ đầu độc cả ngàn tù nhân xảy ra ở nhà lao này, đồng chí với tư cách là Bí thư trung tâm ủy, đã lãnh đạo tù nhân đấu tranh tố cáo âm mưu đen tối của chúng ở nhà tù Phú Lợi ra trước dư luận, sau đó bị đày ra Côn Đảo cùng với nhiều anh em tù nhân khác. Tại nhà tù Côn Đảo, một tên chỉ điểm đã biết tông tích của đồng chí, tố cáo với bọn cai ngục rằng đồng chí tên thật là Võ Tấn Nhứt, nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Bọn địch đã chuyển Võ Tấn Nhứt từ nhà lao Côn Đảo về Bến Tre để tiếp tục khai thác. Tên Lê Xuân Khánh, trưởng Ty công an ngụy và bọn tay chân ra sức dùng đủ trò dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man, đánh đồng chí gãy một lúc ba xương sườn, đóng đinh vào 10 đầu ngón tay, rồi ngày thì đem căng phơi nắng trên ống cống xi-măng nóng bỏng, đêm bỏ vào hầm tối. Chúng hành hạ đồng chí cho đến khi kiệt sức mà không khai thác được một điều bí mật nào. Đồng chí hy sinh tại nhà giam của Ty công an Bến Tre vào khoảng giữa năm 1959, để lại tấm gương sáng về lòng trung thành, ý chí bất khuất của một người cộng sản chân chính.

Đã ban hành
Ba TriBa Tri

<br />

Quận, lập năm 1942, gồm 5 tổng (Bảo An, Bảo Lộc,Bảo Phước, Bảo Thuận, Bảo Trị), 27 làng.

Ba Tri

Huyện, nằm ở phía cuối cù lao Bảo, có diện tích 354,8km2, bắc giáp huyện Bình Đại, có chung ranh giới con sông Ba Lai, phía nam giáp huyện Thạnh Phú, có chung ranh giới con sông Hàm Luông, phía đông giáp với biển (với chiều dài bờ biển gần 10km), phía tây giáp huyện Giồng Trôm. Do vị trí thuận lợi, nằm giữa hai cửa sông lớn, huyện Ba Tri là điểm định cư sớm nhất của những lưu dân người Việt trên đất Bến Tre.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Ba Tri gồm có 22 xã và 1 thị trấn.

Ba Tri

Thị trấn của huyện Ba Tri, một trung tâm kinh tế, văn hóa được hình thành tương đối sớm trên cù lao Bảo, thuận tiện cả giao thông thủy bộ, có tỉnh lộ 885 nối thị xã Bến Tre về phía tây và ra tận xã An Thủy về phía đông sát biển. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã từng sống tại đây hơn một phần tư thế kỷ, hiện còn nền nhà cũ của cụ ở trước kia. Cách hơn 1km là nơi yên nghỉ của nhà thơ, nay được xây dựng thành khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Chợ Ba Tri nằm trong thị trấn là một chợ đầu mối. Ngoài sản phẩm nông nghiệp còn có sản phẩm của biển khá dồi dào: tôm, cá, nghêu, sò, muối…Một thời, Ba Tri còn có nghề nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông, dệt vải. “Lụa Ba Tri có tiếng đồn” được nhắc đến trong Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca.

Cũng tại nơi đây, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác và đã đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Lục tỉnh trước đông đảo quần chúng nhân dân.

Đã ban hành
Phan Ngọc Tòng – người anh hùng chống PhápPhan Ngọc Tòng – người anh hùng chống Pháp
Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp

Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu. Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Nơi đây vốn có một miếu thờ thần dưới gốc một cây trôm lớn, xung quanh rất hoang vu, cây cối um tùm. Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch đánh xáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Dù nghĩa quân có tinh thần yêu nước quật cường nhưng chỉ bằng vũ khí thô sơ không thể chống nổi với súng ống của quân Pháp nên trận này nghĩa quân bị thua trận. Phan Ngọc Tòng cùng hy sinh với nhiều nghĩa quân khác. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Theo thời gian, chiến tranh tàn phá, nhà cửa xây cất lấn chiếm,… đã khiến cho ngôi mộ dần hoang phế. Trước tình trạng trên và thể theo nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh, để tưởng nhớ công ơn, ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh Bến Tre đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Vốn là ngôi miếu thờ thần khi nghĩa quân đánh trận Gò Trụi hy sinh dân làng tiếc thương mà thờ cúng nơi đây. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về tinh thần yêu nước của ông cha ta trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Bảo tàng Bến Tre đang tiến hành làm hồ sơ di tích Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng trình UBND tỉnh Bến Tre xin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân. Hy vọng trong tương lai, di tích này sẽ được đầu tư trùng tu theo đúng vị thế của cụ Đốc binh vì hiện nay nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
&nbsp;
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Cầu HòaCầu Hòa

<br />

Ấp thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm. Nơi đây, ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất (1947), đội quân UMDC của Léon Leroy đã gây ra một vụ thảm sát lớn, 286 người bị giết, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Hằng năm, đồng bào nơi đây tổ chức “giỗ hội” để ghi nhớ vụ thảm sát dã man của giặc Pháp đã gây ra trên đất này.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Trần Văn ƠnAnh hùng liệt sĩ Trần Văn Ơn


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trần Văn Ơn
sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến
Tre. Khi hy sinh, anh là hội viên </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">H</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">ội học sinh sinh viên
Việt Nam - Nam </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">b</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">ộ.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Sinh ra trong một gia
đình nông dân nghèo, năm 1940, sau khi học xong tiểu học ở thị xã Mỹ Tho, Trần
Văn Ơn được lên Sài Gòn theo học năm thứ nhất bậc cao tiểu học tại trường
Pétrus Trương Vĩnh Ký. Năm học 1947 – 1948</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">,</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> anh tham gia phong trào
học sinh yêu nước tại trường và gia nhập Hội học sinh sinh viên Việt Nam - Nam </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">b</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">ộ. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trần Văn Ơn đã vận động
nhiều học sinh tham gia bãi khoá phản đối vua bù nhìn Bảo Đại đến trường, tổ
chức mítting kỷ niệm ngày quốc tế lao động 1-5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> Anh đã từng đọc
các sách báo, tài liệu nói về chủ nghĩa Mác, về Liên Xô và chuyền tay cho một
số bạn bè cùng đọc, coi đó như một phần của công tác tuyên truyền. Anh được
Đảng đoàn học sinh phân công đi học hè ở các trường tư thục để tìm quần chúng
tốt, phát triển thêm mạng lưới cơ sở Hội học sinh Việt Nam. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Sáng ngày 9</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1950, Trần Văn
Ơn đã dẫn đầu đoàn biểu tình với hàng trăm biểu ngữ, khẩu hiệu đòi quyền lợi
cho học sinh, phản đối độc lập giả hiệu. Vào lúc 13 giờ, chính quyền Sài Gòn
huy động một lực lượng lớn cảnh sát kết hợp với lính lê dương bao vây khu vực
học sinh biểu tình. Một cuộc đàn áp đẫm máu diễn ra. Trần Văn Ơn đã dũng cảm
đương đầu với dùi cui, che chở cho học sinh nhỏ tuổi và các nữ sinh thoát ra
ngoài. Trước nguy cơ bị bắt, anh đã đạp đỗ hàng rào sắt hướng dẫn cho các bạn
rút lui. Bọn địch nổ súng, Trần Văn Ơn đã anh dũng hy sinh. Ngày 12</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1950 hàng vạn
người dân Sài Gòn đã xuống đường dự đám tang Trần Văn Ơn và đây trở thành cuộc
biểu dương sức mạnh, lòng căm thù của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đối với giặc
Pháp.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 23</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">3</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">2000, Trần Văn
Ơn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Ơn sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, anh là hội viên Hội học sinh sinh viên Việt Nam - Nam bộ.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 1940, sau khi học xong tiểu học ở thị xã Mỹ Tho, Trần Văn Ơn được lên Sài Gòn theo học năm thứ nhất bậc cao tiểu học tại trường Pétrus Trương Vĩnh Ký. Năm học 1947 – 1948, anh tham gia phong trào học sinh yêu nước tại trường và gia nhập Hội học sinh sinh viên Việt Nam - Nam bộ.

Trần Văn Ơn đã vận động nhiều học sinh tham gia bãi khoá phản đối vua bù nhìn Bảo Đại đến trường, tổ chức mítting kỷ niệm ngày quốc tế lao động 1-5. Anh đã từng đọc các sách báo, tài liệu nói về chủ nghĩa Mác, về Liên Xô và chuyền tay cho một số bạn bè cùng đọc, coi đó như một phần của công tác tuyên truyền. Anh được Đảng đoàn học sinh phân công đi học hè ở các trường tư thục để tìm quần chúng tốt, phát triển thêm mạng lưới cơ sở Hội học sinh Việt Nam.

Sáng ngày 9-1-1950, Trần Văn Ơn đã dẫn đầu đoàn biểu tình với hàng trăm biểu ngữ, khẩu hiệu đòi quyền lợi cho học sinh, phản đối độc lập giả hiệu. Vào lúc 13 giờ, chính quyền Sài Gòn huy động một lực lượng lớn cảnh sát kết hợp với lính lê dương bao vây khu vực học sinh biểu tình. Một cuộc đàn áp đẫm máu diễn ra. Trần Văn Ơn đã dũng cảm đương đầu với dùi cui, che chở cho học sinh nhỏ tuổi và các nữ sinh thoát ra ngoài. Trước nguy cơ bị bắt, anh đã đạp đỗ hàng rào sắt hướng dẫn cho các bạn rút lui. Bọn địch nổ súng, Trần Văn Ơn đã anh dũng hy sinh. Ngày 12-1-1950 hàng vạn người dân Sài Gòn đã xuống đường dự đám tang Trần Văn Ơn và đây trở thành cuộc biểu dương sức mạnh, lòng căm thù của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đối với giặc Pháp.

Ngày 23-3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trịnh Viết BàngTrịnh Viết Bàng
&nbsp;

    Trịnh Viết Bàng (không rõ năm sinh và năm mất) người thôn Tân Định, tổng Hòa Thinh, tỉnh Định Tường, nay là xã Định Trung, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, ông tham gia phong trào chống Pháp do Trương Định lãnh đạo. Khi căn cứ Tân Hòa bị đánh tan, chủ tướng hy sinh (20-8-1864), ông cùng với một một nhóm nghĩa quân rút về hoạt động tại quê nhà ở vùng cù lao An Hóa. Cùng với một số chiến hữu thân cận như các ông Tô, ông Kiểu (không rõ họ) và người con cả của mình là Trịnh Văn Diệm vận động nhân dân trong vùng đào hào, đắp lũy xây dựng căn cứ chống giặc. Nhưng thế giặc lúc này mạnh, nên qua một số lần giao tranh, lực lượng nghĩa quân bị tổn thất, một số người sa vào tay giặc, số còn lại phải rút vào vùng rừng dọc theo sông Cửa Đại, để rồi đêm đêm tổ chức từng nhóm nhỏ, len lỏi vào trong các làng, diệt trừ những tên tay sai gian ác. Bọn Pháp rất lo ngại, chúng tổ chức bao vây, lùng diệt, nhưng nhờ sự ủng hộ che chở của nhân dân, nên chúng không sao tiêu diệt được lực lượng nghĩa quân.

   Một lần, giặc Pháp cho tàu chở lính từ Mỹ Tho đến ruồng bố khu vực quanh làng Vang Quới, nhưng không đạt được kết quả, đến chiều tên chỉ huy ra lệnh rút quân. Chẳng ngờ, neo tàu bị kẹt gốc dừa, không chạy được, nên tên chỉ huy ra lệnh bọn lính lặn xuống nước gỡ neo. Vào lúc ấy, con chó bécgiê của tên chỉ huy thấy trên bờ có con kỳ đà, liền phóng lên bờ đuổi bắt. Chiều theo ý vợ có mặt trên tàu lúc đó, tên chỉ huy bắt tàu dừng lại, rồi đích thân dẫn lính đuổi theo con chó. Con chó đứng dưới gốc tiếp tục sủa ầm ĩ. Tên chỉ huy đến nơi, tò mò nhìn lên ngọn dừa, bỗng phát hiện có một người đang trốn trên đó. Hắn lập tức rút súng dọa người trên cây phải xuống, nhưng không kết quả. Hắn ra lệnh cho binh lính bao vây và tìm cách bắt sống người này. Thật bất ngờ khi chúng phát hiện ra đây là người cầm đầu nhóm nghĩa quân chống Pháp ở vùng cù lao An Hóa – ông Trịnh Viết Bàng - người mà bấy lâu nay chúng ra công tìm kiếm. Giặc trói ông lại, giải về Mỹ Tho.

   Vốn có sức mạnh hơn người, lại võ nghệ cao cường, nên mặc dù tay bị trói, ông vẫn dùng chân đá lộn cổ hai tên giặc xuống sông. Về đến Mỹ Tho, giặc Pháp đem giam ông ở cồn Rồng. Tra tấn, dụ dỗ, mua chuộc đủ cách, nhưng chúng không thể nào khai thác được điều gì và cũng không lay chuyển được ý chí của ông. Cuối cùng, thấy không chiêu dụ được, bọn Pháp dọa sẽ tử hình ông và giết sạch đám con cháu ông. Trước những lời đe dọa ấy, ông vẫn thản nhiên trả lời chúng bằng một tiếng: Không!

   Trước khi bị xử chém ở cồng Rồng, ông đã có dịp nói với vợ và hai thủ hạ thân tín đã đóng giả vai họ hàng đến thăm ông là ông Mật và ông Kèo rằng: "Ta chết, bọn bay về nói lại với thằng Diệm, con của tao, và ông Tô, ông Kiểu cùng với các chiến hữu còn lại không nên đau buồn nhiều mà hãy cùng nhau ráng sức gây dựng lại lực lượng, làm cho đặng việc lớn. Sau khi ta chết rồi, hãy đem xác ta chôn ở nơi ngã tư để cho con cháu và mọi người nhớ mà không theo giặc…".

   Nhớ lời ông dặn, gia đình đã đem xác ông về an táng ở ngã tư Giồng Tre, cạnh lộ đá, nay thuộc xã Định Trung, huyện Bình Đại. Đám tang được tổ chức khá long trọng, bà con trong vùng vô cùng thương tiếc một người con anh hùng của đất An Hóa. Cụ Đồ Chiểu ở Ba Tri, bên kia sông Ba Lai, xúc động gởi lời chia buồn vì không thể đến viếng được.

   Sau cái chết của Trịnh Viết Bàng ít lâu, thì ông Kiểu bị giặc bắn chết ở Vang Quới. Trước sức tấn công, bao vây của địch, lực lượng nghĩa quân dần dần tan rã. Ông Tô qua ẩn náu bên Ba Tri, rồi mất tích, về sau không ai biết đến nữa. Nhân dân vùng cù lao thời ấy còn lưu truyền câu ca dao.

Ô hô! Tô, Kiểu bể rồi

Bàng kia trốc gốc, Diệm ngồi ngẩn ngơ!

   Đó là dấu ấn còn lại trong tình cảm của nhân dân đối với những người con nghĩa khí trong hoàn cảnh thất thế. Câu ca dao đồng thời cũng nói lên tâm trạng nhuốm màu bi quan trước thời cuộc đang đổi thay bất lợi cho dân tộc.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Các anh hùng lao động của tỉnh Bến TreCác anh hùng lao động của tỉnh Bến Tre
&nbsp;

Đoàn Thúy Ba

An Thới, Mỏ Cày.

Thứ trưởng Bộ Y tế

Anh hùng Lao động, 2000.

Phạm Khắc

Phước Long, Giồng Trôm.

Giám đốc Đài truyền hình TP.HCM.

Anh hùng Lao động, 2000.

Đặng Văn Thân

Phước Long, Giồng Trôm.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện.

Anh hùng Lao động, 2000

Đã ban hành
Đồng Văn CốngĐồng Văn Cống
&nbsp;

Image
Đồng Văn Cống
    Sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân, tham gia phong trào cách mạng từ năm 1936, vào ĐCSĐD năm 1939. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.

   Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

   Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

   Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ.

   Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ.

   Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958).

   Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam.

   Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9. Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam. Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8. Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

   Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, làm Tư lệnh phó quân khu 7. Năm 1981, làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng.

  Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, đồng chí Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Đồng chí không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng LLVT trong KKCP và KCCM. Đồng chí đã được tặng thưởng 18 huân chương các loại, trong đó có phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
Nói thơ Vân TiênNói thơ Vân Tiên
&nbsp;
 Nói thơ Vân Tiên là một loại hát kể mang tính chất ngâm ngợi, phù hợp với giọng thổ của nam giới. Nội dung là truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu – tác phẩm Lục Vân Tiên - được diễn đạt theo nhịp điệu không buông rơi đều đặn như hát bài chòi, hoặc hát sắc bùa, mà luôn luôn thay đổi từ khoan thai đến dồn dập. Giai điệu thường bắt đầu ở âm khu cao của đầu điệp khúc rồi lên xuống giữa âm khu trung và âm khu trầm và chậm dần để kết thúc mỗi điệp khúc. Khác với hiện tượng “cưỡng âm” ở lý, sáu thanh điệu của ngôn ngữ lời thơ trong nói thơ Vân Tiên bao giờ cũng được tôn trọng. Các dấu giọng (hỏi, ngã, nặng) đều được luyến láy rõ lời. Nói thơ Vân Tiên không sử dụng tiếng đệm lót, hãn hữu mới thấy tiếng "mà" giặm vào, hoặc tiếng đưa hơi "ơ ớ" tùy theo lối ngâm của từng người.

Theo nhạc sĩ Lê Nhất Vũ, căn cứ vào thang âm và điệu thức nói thơ Vân Tiên ở Bến Tre sử dụng điệu thức nam (hơi ai), trong khi đó nói thơ Sáu Trọng, nói thơ Hia Miêng, nói thơ Bạc Liêu thường diễn xướng trên điệu khúc oán.

Khi phong trào ca nhạc tài tử ra đời, tiếp theo là ca nhạc sân khấu cải lương thịnh hành và trở thành thời thượng, thì nói thơ Vân Tiên cũng bị phai nhạt dần. Vả chăng nhịp điệu nói thơ chỉ phù hợp với đời sống xã hội nông nghiệp cổ, không còn thích ứng với tâm lý con người trong thời đại công nghiệp, thời đại của ”mốt”, của tốc độ. Về phương diện thẩm mỹ, công chúng ngày nay, nhất là thế hệ trẻ, không chấp nhận sự lặp đi lặp lại những hình tượng nghệ thuật cũ kỹ, dù cho nó đã từng một thời làm say mê lòng người. Tuy nhiên, cho đến nay, ở Bến Tre, trong các làng quê vẫn còn những cụ già nằm lắc lư theo nhịp võng, vừa vuốt râu ngâm ngợi say mê điệu nói thơ Vân Tiên trong buổi trưa hè, hay giữa buổi chiều êm ả, tĩnh mịch: "dữ răn việc trước, lành dè thân sau...".

Đã ban hành
Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)
&nbsp;

Image
Ca Văn Thỉnh (1902-1987)
    Sinh ngày 21-3-1902, trong một gia đình nông dân ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ca Văn Thỉnh thuở nhỏ học trường tiểu học ở tỉnh. Nhờ học giỏi, ông được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn, sau đó học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Thời sinh viên, Ca Văn Thỉnh cùng với bạn đồng học như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở Hà Nội. Vở cải lương về Nguyễn Trãi lấy tên là Bầu nhiệt huyết của ông đã bị thực dân Pháp cấm diễn.

   Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Ca Văn Thỉnh được bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Bến Tre. Tháng 8-1945, ông tham gia cướp chính quyền ở tỉnh. Năm 1946, là thành viên phái đoàn khu 8 vượt biển raTrung ương báo cáo tình hình, xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ và được mời nhận chức vụ Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ Kháng chiến.

  Năm 1952, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, được phân công làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, kiêm ủy viên Ủy ban Liên Việt Nam Bộ. Sau hiệp định Genève (1954), tập kết ra Bắc, đã kinh qua các công tác: phụ trách vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao, Đại sứ ở Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

  Trong suốt mấy chục năm trời từ sau CMT8-1945, Ca Văn Thỉnh hoạt động liên tục cho đến khi nghỉ hưu và đã có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt chính trị, xã hội, giáo dục. Do đó, được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

   Cống hiến nổi bật nhất của Ca Văn Thỉnh là đã góp một phần có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa và văn học Nam Bộ, khơi dậy những giá trị chân chính trong truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của mảnh đất phương Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu với cả nước những nhà văn hóa, nhà thơ yêu nước như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông trên một quan điểm dân tộc, tiến bộ.

   Với bút hiệu Ngạc Xuyên (có nghĩa là Rạch Cá Sấu - một địa danh của quê hương), trong KCCP, ông bắt đầu giới thiệu văn thơ yêu nước của các sĩ phu Nam Bộ, trên các báo chí cách mạng. Tập kết ra Bắc, ông vẫn cần mẫn nghiên cứu, dịch, giới thiệu phần thơ văn này trên các báo Văn nghệ, trên Tạp chí Văn học…Ông cùng với Bảo Định Giang biên soạn cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Thơ văn Nguyễn Văn Thông. Sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng, tuy tuổi già sức yếu, ông đã để công biên soạn cuốn Hào khí Đồng Nai, một tập sách phân tích, đánh giá những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ.

   Công bình mà nói, Ca Văn Thỉnh để lại trước tác không nhiều so với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác, nhưng những cuốn sách, bài báo của ông từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời là một mảng đóng góp có ý nghĩa, trong việc nghiên cứu văn hóa của vùng đất mới của Tổ quốc. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu.

Đã ban hành
Chẹt SậyChẹt Sậy
&nbsp;

 Kênh Chẹt Sậy

Kênh nối từ xã Phong Nẫm (huyện Giồng Trôm) qua xã Phú Hưng (thị xã Bến Tre), dài 5km, đào năm 1878, sau đó được khơi thông và mở rộng năm 1902.

Chẹt là chổ hẹp (chẹt đá). Áo chẹt là áo bó sát người, quần ống chẹt là quần có ống bó sát người. Kênh Chẹt Sậy là con đường nước xuyên qua rừng sậy um tùm, bị che khuất.

Cầu Chẹt Sậy

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua kinh Chẹt Sậy trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri.

Đã ban hành
Sơn Định phát triển du lịch sinh thái làng nghềSơn Định phát triển du lịch sinh thái làng nghề
Khai thác tiềm năng từ nghề sản xuất cây giống hoa kiểng và vườn cây ăn trái, Sơn Định đã đầu tư phát triển du lịch sinh thái làng nghề. Dự án đã hoàn thành giai đoạn I đang thực hiện giai đoạn II, bước đầu mang lại nhiều hiệu quả.

Khai thác tiềm năng từ nghề sản xuất cây giống hoa kiểng và vườn cây ăn trái, Sơn Định đã đầu tư phát triển du lịch sinh thái làng nghề. Dự án đã hoàn thành giai đoạn I đang thực hiện giai đoạn II, bước đầu mang lại nhiều hiệu quả.

Sơn Định là 01 trong 10 xã và thị trấn của huyện Chợ Lách, có quốc lộ 57 xuyên qua với chiều dài 3,2 km được nhựa hóa. Là tuyến giao thông huyết mạch nối liền giữa tỉnh Bến Tre với tỉnh Vĩnh Long. Xã có diện tích đất tự nhiên 1468,80 ha với 3264 hộ; 12954 nhân khẩu, được chia thành 8 ấp. Địa hình bằng phẳng, thấp với sông rạch chằng chịt, lượng phù sa bồi đắp hàng năm thuận lợi cho việc trồng cây ăn trái đặc sản lâu năm.

 

Đường đến khu du lịch sinh thái làng nghề Sơn Định

Bên cạnh đó, Sơn Định còn có đoạn sông giáp sông Cổ Chiên, bãi cát bồi đắp dài khoảng 300m, có tuyến kênh đào Chợ Lách được làm bờ kè chắc chắn dài và đẹp. Trên dòng sông này tàu thuyền lưu thông qua lại thường xuyên, thuận lợi cho tham quan du lịch bằng thuyền trên sông nước hữu tình.

Mặc khác người dân trong xã không chỉ hiền hòa hiếu khách, sống bằng nghề nông nghiệp và dịch vụ, họ còn tích cực tìm tòi và học hỏi những tiến bộ khoa học kỷ thuật cao đưa vào sản xuất nên các vườn cây ăn trái luôn cho quả quanh năm. Sản lượng hàng năm khoảng 15 ngàn tấn và chất lượng được đánh giá cao. Bên cạnh, Sơn Định còn có 02 làng nghề cây giống hoa kiểng, mỗi năm cung cấp cho thị trường trên 500 ngàn cây giống, hoa kiểng các loại.

Những thuận lợi đó, cùng với đáp ứng nhu cầu hưởng thụ bầu không khí trong lành của miệt vườn sông nước thông qua loại hình du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá của du khách ngày càng tăng. Sơn Định huyện Chợ Lách đã mạnh dạng chuyển mình mở ra mô hình họat động mới- Phát triển du lịch sinh thái làng nghề.

Ông Nguyễn Văn Triết - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Định cho biết “Mục đích  của đề án Phát triển du lịch xã Sơn Định giai đoạn 2012 - 2015 nhằm định hướng ngành nghề ngày càng phát triển tạo thu nhập bền vững cho nhân dân, đồng thời tạo điều kiện giao lưu văn hóa cho địa phương với các vùng lân cận, góp phần giải quyết an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo” .

Ấp Sơn Châu - Sơn Phụng xã Sơn Định được chọn thực hiện đề án này, với tour được xây dựng điểm từ nhà ông Tư Thành ấp Sơn Châu đến đuôi cồn nhà Ông Thầy Ngon ấp Phụng Châu. Dự án có quy mô hơn 30 ngàn mét vuông. Kinh phí xây dựng ở giai đoạn I hơn 9,4 tỷ đồng và giai đoạn II hơn 1 tỷ 120 triệu đồng. Nguồn ngân sách tỉnh hổ trợ 400 triệu đồng, phần còn lại do 3 hộ dân trong xã trực tiếp đóng góp. Trong đó gồm có 3 điểm du lịch phục vụ du khách tham quan như: Điểm du lịch tại nhà ông Tư Thành – khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc. Tham quan vườn ương cây giống – hoa kiểng lớn tiêu biểu, phục vụ cho du khách tự uốn sửa kiểng, chiết ghép cây giống tại điểm du lịch nhà ông Hai Đê và du lịch tắm cồn- giao lưu đờn ca tài tử - thưởng thức món ăn dân dã miệt vườn tại điểm du lịch nhà Thầy Ngon. Hiện tại các điểm du lịch đã hoàn thành giai đoạn I đưa vào họat động, đang triển khai thực hiện giai đoạn II.

Riêng khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc (nhà ông Tư Thành). Có tổng diện tích 20 ngàn mét vuông, bao gồm các hạng mục: nhà nghỉ dưỡng, tham quan vườn cây ăn trái; thưởng thức món ăn dân dã miền quê sông nước; du thuyền trên sông; chèo xuồng, bắt cá trong mương vườn, ….

 

Khu nhà sàn nghỉ dưỡng tại khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc

Ông Nguyễn Công Thành – chủ khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc cho biết “Sau thời gian đi vào hoạt động, cơ sở có nhiều thuận lợi được sự quan tâm các ngành, các cấp ở địa phương, du khách đến tham quan khá nhiều. Đầu năm đến nay điểm du lịch Đại Lộc đã tiếp đón hàng chục ngàn du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Hướng tới cơ sở đầu tư thêm nhiều loại hình mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ của du khách gần xa”.

Giai đoạn I đã hoàn tất, các điểm du lịch đã phát huy hiệu quả, từ đó tiến hành giai đoạn II (2013-2015), mở rộng mô hình họat động ra toàn xã. Trong đó chú trọng  các ấp có điều kiện, có đình chùa, nhà thờ, bến cảng, chợ đầu mối trái cây…. Đầu tư xây dựng mới 4 điểm nghỉ, phục vụ ăn uống tại nhà dân cặp sông Tiền Giang ấp Tân Thới, Thới Lộc, Tân Phú. Riêng điểm du lịch ấp Sơn Châu, Phụng Châu hiện có tiếp tục đấu tư theo hướng chất lượng hoàn hảo, hoàn thành hệ thống giao thông đường bộ.

Với mục tiêu đề ra đến năm 2015 tổng doanh thu về du lịch tại Sơn Định đạt 10 tỷ đồng và tốc độ tăng tưởng 10%/năm. Lượng khách tham quan đạt 50 ngàn lượt khách, trong đó khách quốc tế 5 ngàn lượt và có hơn 500 lao động trực tiếp, gián tiếp trên lĩnh vực du lịch được giải quyết việc làm…. Qua đó Sơn Định đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển du lịch, nhất là về vốn của các thành phần kinh tế và trong dân, dựa vào thế mạnh tài nguyên sẵn có xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương, xây dựng chương trình tham quan thường xuyên. Đầu tư phát triển các điểm du lịch vườn, du lịch trên sông rạch, … Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng các dịch vụ, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh du lịch và tổ chức tốt dịch vụ du lịch.

Tiếp đến hình thành và phát triển các mô hình du lịch như: Du lịch sông nước miệt vườn gắn với hộ gia đình, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, giải khát, vườn cây ăn trái theo mùa, chèo thuyền trên sông rạch nhỏ, tour xe đạp, nghỉ nhà dân, làm nông dân, làm nghệ nhân sửa kiểng…

Hình thành và ổn định một số nghề, dịch vụ, sản phẩm, phương tiện đưa rước khách chuyên phục vụ cho du lịch. Đặc biệt phải thương hiệu hóa các sản phẩm của địa phương. Phát triển chọn lọc những ngành nghề có thế mạnh của địa phương như uốn sửa kiểng cổ, bon sai, cắt tháp cây giống, chăm sóc cây trồng phục vụ khách du lịch. …

Để thực hiện tốt đề án này, ngoài nổ lực của địa phương cần có sự chung tay của các ngành các cấp và nhân dân Sơn Định trong việc quãng bá tiềm năng du lịch của địa phương đến với mọi miền đất nước. Đối với điểm du lịch cần có sự đổi mới, tạo môi trường thông thoáng, trong lành, hấp dẫn du khách tham quan. Riêng các hộ sản xuất cây giống- hoa kiểng, không ngừng nâng cao tay nghề, tìm tòi học hỏi tạo ra những sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu du khách khi đến tham quan.

Có thể thấy rằng, Du lịch sinh thái làng nghề cây giống, hoa kiểng ấp Sơn Châu- Sơn Phụng ra đời là điều kiện cho Sơn Định chuyển mình, đời sống người dân nơi đây từng bước phát triển. Làng nghề cây giống hoa kiểng và trái cây Sơn Định được nhiều nơi biết đến.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Mỹ LồngMỹ Lồng
&nbsp;

Còn gọi Mỹ Luông

Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.

 Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.

  Bến Tre nhiều gái chưa chồng
  Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem.
 
                                                    (Ca dao)
Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Cái CốiCái Cối
&nbsp;

Rạch nằm bên phía tả ngạn chảy ra sông Bến Tre, đối diện với chợ Bến Tre, nay thuộc xã Mỹ Thạnh An. Nhiều thợ làm nghề đóng cối xay lúa bằng tre tập trung bên bờ rạch và hình thành nên một xóm thợ làm nghề thủ công phục vụ cho việc xay giã lúa gạo. Từ đó, rạch này mang cái tên Cái Cối (trước đây khi chưa có máy xay xát cơ giới, việc xay giã lúa gạo đều làm theo lối thủ công).

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tt và hết)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tt và hết)
Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên

Tháng 10-1945, thực hiện chủ trương của đảng bộ, Ba Dương thuyết phục các băng nhóm thống nhất lại thành lực lượng vũ trang Nhà Bè do đích thân ông làm chỉ huy trưởng, Đinh Văn Nhị làm ủy viên chính trị, Từ Văn Ri tham mưu trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 súng, có 2 đại bác, 7 trọng liên 13,2 ly, 15 trung liên. Khác với quân của Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) chỉ lo bảo toàn lực lượng, chạy dài khi đối phương tấn công, bộ đội Nhà Bè chủ động đánh nhiều trận, trong đó có trận Cây Khô do Ba Dương trực tiếp chỉ huy, có sự phối hợp của bộ đội Tám Mạnh, phục kích tiêu diệt gọn đoàn tàu, diệt và bắt sống toàn bộ quân địch, thu một tàu kéo, một xà lan và 4 ghe đầy lương thực, thực phẩm. Sau trận đánh, Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gởi thư khen: “…Toàn quốc nghe tin bộ đội Bình Xuyên đánh giặc dũng cảm. Các anh em xứng đáng với tên Giải phóng quân Nam bộ. Nhân danh Khu bộ trưởng, tôi gởi lời khen và số tiền 3.000 đồng để ủy lạo anh em.” Đồng thời Nguyễn Bình cử Nguyễn Văn Hội, Lương Văn Trọng làm phái viên của Khu 7 tại Ban chỉ huy bộ đội Dương Văn Dương. Bộ đội Ba Dương hoạt động đúng hướng, tích cực, hiệu quả nhất và nổi danh nhờ những trận đánh táo bạo vào nội thành và trên kinh Cây Khô.

Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thăm sở chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An, quyết định bổ nhiệm Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7 và giao nhiệm vụ Ba Dương chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở đồng bằng sông Cửu Long, đánh giặc trên đường đi và thống nhất lực lượng vũ trang nơi đơn vị đến.

Theo yêu cầu chi viện của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu, đầu năm 1946, Ba Dương triệu tập hội nghị tại Rạch Su trình bày việc đưa quân xuống tăng cường chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa – Giao Hòa bị Tây uy hiếp nặng. Thực hiện mệnh lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, Ba Dương chỉ thị chọn các đơn vị có thành tích lập liên quân gồm 5 đại đội đi Bến Tre, đích thân Ba Dương chỉ huy. Đơn vị liên quân tổ chức ăn tết trước đồng bào 3 ngày. Đêm 30 tết liên quân vượt sông Soài Rạp, xuyên qua Bình Phục Nhất, Chợ Gạo, vượt Cửa Tiểu qua An Hóa. Vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh Nhà Bè đánh Cần Giuộc, cánh Tân Thuận đánh Cần Đước, cánh Tân Quy đánh Chợ Trạm. Sau đó hợp quân tại Chợ Gạo trước khi hành quân vào Bến Tre. Nhưng khi đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin mặt trận An Hóa – Giao Hòa đã mất. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của địch, sau đó kéo quân về xã Châu Bình (Giồng Trôm) cùng hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc của Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn, bàn kế hoạch mở mặt trận đánh Tây và phối hợp giải tán Đệ Tam Sư đoàn đã có hành động quân phiệt làm nhân dân ta thán.

Đang hội nghị thì được tin Tây sắp tấn công. Đơn vị của Ba Dương ở ấp Bình Khương (Châu Bình) chưa kịp triển khai phòng tuyến thì bị bao vây tứ phía. Nhận thấy tình hình nguy ngập, một cán bộ tham mưu đưa ra một xấp giấy thuế thân để Ba Dương và một số anh em giả dạng thường dân “chém vè” bảo toàn lực lượng. Nhưng tính cách “anh hai” ở con người Nam bộ này vẫn như ngày nào, ông xé giấy thuế thân và trả lời người cận vệ: “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”. Hai chiếc Spitfire bắn phá dọn đường cho bộ binh Pháp. Ba Dương xoay quanh cây rơm sau nhà trú quân, vừa tránh đạn vừa ra lệnh cho đơn vị triển khai chiến đấu. Không may, Ba Dương trúng đạn tử thương lúc 8 giờ 30 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Tuất (1946), an táng tại Châu Bình và hài cốt được cải táng về nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh sau ngày miền Nam giải phóng.

Khi Ba Dương trở thành người chỉ huy quân đội, ông là vị chỉ huy gương mẫu, dũng cảm, được anh em tin yêu. Nhưng cuộc đời binh nghiệp của ông lại ngắn ngủi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên cách mạng và nhiều người ngưỡng mộ ông.

Trong giới “hảo hán” theo cách mạng, có lẽ Ba Dương là người tiêu biểu cho sự tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên và cũng là người đại diện tiêu biểu có đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng, mà mọi người vẫn gọi là sự nghiệp của quần chúng. Đánh giá chung về con người của Ba Dương, có sách viết “Tuy là dân giang hồ, nhưng Ba Dương có học đến tiểu học, lại có tư cách đạo đức của một thủ lĩnh, có uy tín với đàn em. Chọn Ba Dương làm người phất cao lá cờ giang hồ theo cách mạng là thủ thuật hay nhất để nắm lấy giới giang hồ mã thượng. Ba Dương tử trận, tướng Nguyễn Bình mất một cánh tay đắc lực. Lập tức Nguyễn Bình đánh điện chia buồn cho Dương Văn Hà (em cùng mẹ khác cha với Ba Dương) cùng các Chi đội trong Liên khu Bình Xuyên. Đồng thời Nguyễn Bình cùng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ đề nghị Trung ương và Bác Hồ truy phong Thiếu tướng cho Khu bộ phó Khu 7 Dương Văn Dương đã anh dũng hy sinh trên chiến trường Bến Tre…”. Ngày 05-8-1948, Dương Văn Dương được truy phong hàm thiếu tướng.

Trong mật điện số 946/TRT năm 1946 gởi Khu 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn với gia quyến Dương Văn Dương. Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một con kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười (45 km) nối từ huyện Tân Thạnh (Long An) sang tỉnh Đồng Tháp. Kinh Dương Văn Dương thay cho tên Lagrange, nguyên là chủ tỉnh Long An thời Pháp thuộc. Ngoài ra, Trung đoàn 300 – Trung đoàn nam tiến đánh giặc giỏi còn được vinh dự mang tên Dương Văn Dương.

Khi còn đương thời, các tướng Trần Văn Trà, Tô Ký, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…đều xem Dương Văn Dương là bậc đàn anh của các tướng lĩnh Nam bộ. Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có tên Dương Văn Dương trong Bách Khoa Quân sự Việt Nam, mặc dù ông là thiếu tướng đầu tiên của Nam bộ và cuốn đại tự điển này được tái bản lần thứ hai. Ở Bến Tre (nơi ông sinh ra và hy sinh) và Nhà Bè, Quận 7 (nơi ông lớn lên, trụ lại và nổi danh Ba Dương) vẫn chưa có con đường nào mang tên ông – Dương Văn Dương.

Người viết bài này rất mong mỏi mọi người hôm nay và mai sau có dịp đi trên dòng kinh mang tên ông, đừng vô tình thốt ra câu hỏi “Dương Văn Dương là ai ?”

Đã ban hành
Hoằng AnHoằng An
&nbsp;
Phủ được thăng lên từ một đơn vị hành chính cấp huyện (Tân An) vào năm Minh Mạng thứ 4 (1823) gồm 2 huyện Bảo An và Tân Minh, thuộc trấn Vĩnh Thanh. Đến năm 1832, khi trấn đổi thành tỉnh, thì phủ Hoằng An thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer