Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Văn họcVăn học
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...
Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...

Tỉnh đã có chủ trương nhanh chóng chuyển những hoạt động văn học nghệ thuật từ thời chiến sang thời bình, phục vụ sát sườn những nhiệm vụ chính trị của thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Hoạt động của Phân hội Văn nghệ Đồ Chiểu trong vài năm đầu sau giải phóng còn gắn chặt với những hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin. Từ khi có quyết định thành lập Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của UBND tỉnh, những hoạt động văn nghệ dần dần tách riêng ra thành hoạt động của một hội chuyên ngành độc lập.

Đại hội Văn nghệ của tỉnh lần thứ II (7-1989) đã khẳng định vị trí của văn học là bộ môn chủ chốt của hoạt động văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã tập trung sức để phát triển bộ môn văn học của tỉnh nhà.

Đến Đại hội Văn nghệ tỉnh lần thứ III (1999), số hội viên của Phân hội văn học từ 30 người (trong đại hội lần thứ II) đã tăng lên 90 người. Năm 1994, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã thành lập Hội Thơ Đường luật lấy tên là "Bạch Mai thi hội" gồm 150 hội viên và một câu lạc bộ riêng.

Cơ quan của Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu là tập san "Văn Nghệ Bến Tre", xuất bản định kỳ thay cho những tập Văn nghệ Bến Tre xuất bản theo từng chuyên đề ra đời trước đó. Tập san là tờ báo riêng của giới sáng tác phê bình văn học nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa, sân khấu, lý luận phê bình...) và những người yêu thích văn nghệ trong tỉnh, cùng một số cộng tác viên ngoài tỉnh. Bên cạnh thế hệ những cây bút thời chống Mỹ như: Đoàn Tứ, Chim Trắng, Trang Thế Hy, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Trung Điền, Nguyễn Hồ, Huỳnh Năm Thông, Phan Thảo, Kim Tinh, Lê Dân, Lê Hồng Phương, Trần Ký, Thu Nguyễn, Nguyễn Phước..., một thế hệ những cây bút trẻ sau 1975 xuất hiện ngày một đông đảo trên các tập san và các báo chí khác của địa phương. Trong số đó, nổi lên một số cây bút như: Lê Hoàng Dũng, Thanh Vũ, Kim Ba, Vũ Hồng, Hồ Trường, Nguyễn Chí Bền, Lê Xuân Đoàn, Nguyên Tùng, Phạm Thị Ngọc Diệp.

Nếu như đội ngũ cầm bút trưởng thành từ trong chiến tranh có vốn sống và sự từng trải, vững vàng về chính trị và có tay nghề nhất định, thì thế hệ những cây bút trẻ sau này, tuy có những hạn chế về kinh nghiệm và vốn sống, nhưng sự hiện diện của lực lượng đông đảo này đã làm cho bộ mặt văn học tỉnh mang những nét đa dạng, phong phú của đời sống với những ước mơ, suy tư giàu nhiệt tình, khỏe khoắn và trẻ trung, khát khao cái mới.

Ngoài tập san Văn Nghệ Bến Tre của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, còn phải kể đến tập san "Văn hóa Văn nghệ" của Ty Văn hóa - Thông tin, về sau là Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), xuất bản không định kỳ và một số tập san của các cơ quan đoàn thể trong tỉnh như tờ Công an Bến Tre, Tuổi trẻ Bến Tre, Tư pháp, Sức khỏe, Ngân hàng, Dân số, Vì trẻ em... Các tờ báo ra không định kỳ này, ngoài phần dành cho chuyên ngành vẫn để một số trang riêng đăng tải các sáng tác văn nghệ mới nhất.

Công tác bồi dưỡng đội ngũ, đào tạo cán bộ cho ngành cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Ngoài việc phát hiện những tài năng mới để gởi đi đào tạo ở các trường lớp chính quy theo chính sách, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã phối hợp cùng với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, một số tỉnh lân cận như Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)​, tổ chức những trại bồi dưỡng, những cuộc thi sáng tác, những lớp tập huấn về chính trị và nghiệp vụ để nâng cao tay nghề cùng quan điểm, lập trường của người cầm bút. Nhờ vậy, đội ngũ làm công tác văn học nghệ thuật Bến Tre, từ điểm xuất phát ban đầu vừa mỏng vừa yếu, đến nay đã có một lực lượng tương đối đông đảo. Nhiều hội chuyên ngành như Hội Âm nhạc, Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Mỹ thuật, lần lượt ra đời. Nhiều cây bút trưởng thành nhanh, đặc biệt sự hình thành một lực lượng viết trẻ giàu nhiệt tình, xông xáo, có kiến thức văn hóa, có trình độ lý luận nhất định về nghề nghiệp.

Cũng cần phải kể đến một số tác phẩm đã xuất bản trong cùng thời gian này của những cây bút quê Bến Tre hoạt động văn nghệ ở ngoài tỉnh như Chim Trắng, Bùi Ngọc Trung, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Hồ, Nguyễn Trọng Tín, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Bá, Trầm Hương.. Đó là các tập thơ Những ngả đường và Dấu vết nhỏ nhoi của Chim Trắng. Anh tham gia kháng chiến tại quê hương và bắt đầu làm thơ từ những năm chống Mỹ. Thơ Chim Trắng từ lâu đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trong tỉnh. Tập Những ngả đường của anh đã được giải thưởng văn thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là Tập truyệnMưa ấm và Vết thương thứ 13 của Trang Thế Hy, ông hoạt động văn học từ trong kháng chiến chống Pháp đến sau 1954, có một thời gian hoạt động văn nghệ, báo chí ở nội thành Sài Gòn, Trang Thế Hy là một cây bút chuyên về truyện ngắn. ngoài những tác phẩm kể trên, anh còn có các tập truyện Nắng đẹp miền quê ngoại, Người yêu và mùa thu, tập truyện Anh Thơm râu rồng, Tiếng khóc và tiếng hát...

 Đó là Giữa lòng thành phố (truyện ký), Vùng tranh chấp (tiểu thuyết),Bông súng đỏ (tập truyện), Cô biệt động (tập truyện), Dòng sông nước mắt (tiểu thuyết) của Thanh Giang.

Đó là Lá cờ Ấp Bắc (ký), Trên vành đai Bình Đức (ký), Khi người con gáiNam Bộ cầm súng  (truyện) của Võ Trần Nhã.

Ngoài ra, còn có những tập truyện như Chuyện tình ngày xưa  (của Đoàn Tứ), Làng nhỏ bên Hàm Luông (của Lê Tâm), Tiếng chuông trôi trên sông (của Vũ Hồng), Thập khúc (của Nguyên Tùng); tập thơ Trăng hoàng hôn (của Kim Ba), Hạt muối nhỏ (thơ thiếu nhi của nhiều tác giả), Tuyển tập thơ Bến Tre 1945-2000, Tuyển tập văn 1945-2000...

Về kịch bản sân khấu có Quê hương và mẹ (của Vĩnh Xuân), Hào quang và bóng tối (của Lê Huỳnh, Hoàng Dũng và Huy Lam), Ánh đuốc êm xuân  (của Ngô Mạn), Rừng ông Gốc (của Huỳnh Thị Đằng), Cay đắng tình đời, Quê hương và ánh lửa (của Vĩnh Xuân và Huỳnh Thị Đằng)...

Nhìn chung, qua chặng đường phát triển của văn nghệ Bến Tre trong những năm qua, hai đề tài chủ yếu vẫn là: đề tài về chiến tranh, hay nói rộng ra là đề tài truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân trong tỉnh nổi bật lên đề tài về Đồng Khởi của những năm đầu thập kỷ 60 và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, đọc những trang viết về thời kỳ này từ hồi ký, truyện ngắn, thơ, kịch bản như Không có con đường nào khác, Ngọn lửa thần kỳ, Những ngày Đồng khởi, Từ trong gian khổ đứng lên, Đội quân tóc dài, Bên bờ Hàm Luông, Mặt trời đêm, Tiếng hát trái tim...  độc giả mới cảm nhận được vẻ đẹp của những con người bình dị, giàu lòng yêu quê hương đất nước, không chịu sống quỳ, sống nhục, dám đứng lên thay đổi vận mệnh của mình.

Những sáng tác về đề tài chiến tranh từ sau ngày giải phóng của các cây bút ở Bến Tre đã có một bước tiến khá rõ so với những truyện ký, những tập sách “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ" xuất bản trong thời kỳ chống Mỹ về cả hai phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.

Về đề tài Đồng khởi, có lẽ đáng chú ý nhất là quyển Dòng sông nước mắt  của Thanh Giang (NXB Tác phẩm mới,1989). Cho đến nay, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và cũng cả ở miền Nam. Chủ đề chính toát lên từ gần 300 trang sách của Dòng sông nước mắt  không nhằm tô đậm tội ác dã man của kẻ thù qua chính sách tố cộng, diệt cộng đẫm máu của một vùng quê, mà nhằm chứng minh một chân lý: "Dân là gốc". Thông qua số phận của hàng loạt nhân vật với những tình huống nghiệt ngã, đau thương tột cùng, tác giả muốn nói với người đọc rằng: "Không có dân, thì không thể có Đồng khởi được”. Về phương diện này, có thể nói tác giả đã đạt được thành công nhất định.

Đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã được nhiều cây bút chú ý. Có thể kể tới "Những giọt nước mắt" của Võ Trần Nhã, “Ở tập đoàn chợ Xép"của Nguyên Tùng viết về các điển hình trong nông nghiệp“Người tập đoàn trưởng" của Đoàn Tứ, “Đất nhà" của Lê Hồng Phương, "Nước chảy qua cây dừa quý"  của Trường Thanh tập trung biểu dương những hạt nhân tiêu biểu của làng xóm Bến Tre đang chuyển mình theo cung cách làm ăn mới.

Công tác lý luận, phê bình, sưu tầm nghiên cứu vốn văn học cổ đã được những người lãnh đạo văn nghệ ở Bến Tre quan tâm khá sớm. Hầu như những sáng tác của các cây bút trong tỉnh đều được giới thiệu, phê bình đều đặn trên các báo chí của địa phương, nhất là trên tờ Văn nghệ Bến Tre.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu vốn văn học cổ của tỉnh được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngành Văn hóa – Thông tin, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu và Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy cùng phối hợp với Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre tổ chức những cuộc điều tra, khảo sát tìm hiểu ảnh hưởng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong nhân dân, kết hợp với việc sưu tầm vốn văn học Hán Nôm, văn học dân gian trên nhiều địa bàn trong tỉnh. Những kết quả thu được từ nơi quê hương thứ hai của Cụ Đồ đã góp phần có ý nghĩa cho việc xuất bản cuốn "Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời" (Ty VHTT Bến Tre,1983 ).

Năm 1982, tỉnh đã tổ chức hội nghị khoa học có tính chất cả nước về Nguyễn Đình Chiểu với sự phối hợp với hai tỉnh bạn Đồng Nai, Long An và Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ. Tham dự hội nghị có các đơn vị: Viện Văn học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp và Sư phạm Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị được đánh dấu bằng tập Kỷ yếu khoa học với tựa đề "Nguyễn Đình Chiểu" gồm 91 bài viết chọn lọc trong số 106 tham luận từ các nơi gởi về. Có thể nói đó là một cuộc hội nghị khoa học về nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX lớn nhất từ trước đến nay.

Cùng với việc nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, việc điều tra xác minh về nguồn gốc quê quán, gia phả cùng những sáng tác của nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị cũng là một việc làm có ý nghĩa. Việc làm này đã góp phần đính chính những điều sai sót từng bị lặp đi lặp lại về nhà thơ (người sau trích dẫn cái sai của người đi trước và cứ thế...) trên nhiều công trình xuất bản trước đây như "Lược sử tác gia Việt Nam", "Từ điển văn học" và cả trên nhiều cuốn sách giáo khoa đã xuất bản từ 1989 về trước. Ngoài những số đặc san kỷ niệm về Phan Văn Trị, Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre còn cho xuất bản cuốn "Phan Văn Trị - quê hương, con người và tác phẩm" của Nguyễn Văn Châu.

Về việc sưu tầm và nghiên cứu vốn văn nghệ dân gian của tỉnh trước hết phải kể đến cuốn "Dân ca Bến Tre" ( Sở VHTT Bến Tre, 1989 ) của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang, và cuốn "Văn học dân gian Bến Tre"( NXB KHXH, 1988) do Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bích Liên sưu tập và giới thiệu. Ở tập thứ nhất, các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ các thể loại dân ca Bến Tre, hình thức và môi trường diễn xướng, cùng cấu trúc nghệ thuật của từng làn điệu. Đây là một trong những công trình biên soạn về dân ca của một địa phương thuộc loại sớm ở Nam Bộ, mở đầu cho việc xuất bản một loạt tập dân ca của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những năm sau đó. Cuốn thứ hai, "Văn học dân gian Bến Tre", là một công trình được tiến hành trong gần 10 năm trời, bao gồm việc sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp lại một cách hệ thống, kèm theo phần phân tích, đánh giá của các tác giả nói trên. Có thể nói hai tập sách trên đã bổ sung cho nhau, tạo nên những đường nét cơ bản về diện mạo văn nghệ dân gian vốn rất phong phú của vùng đất ba dải cù lao này.

Nói đến thành tựu của chặng đường phát triển văn học của tỉnh từ sau ngày giải phóng đến nay, không thể không đề cập đến việc tạo nên một công chúng văn học mới. Đương nhiên, ngay từ trong kháng chiến gian khổ, một công chúng văn nghệ mới cũng đã dần dần hình thành song song với sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ cách mạng buổi đầu. Quần chúng không chỉ đóng vai trò của người thưởng thức mà còn tham gia sáng tác văn nghệ. Nhưng phải nói rằng, chỉ từ sau ngày giải phóng, chúng ta mới có đầy đủ điều kiện để tạo nên một công chúng văn học mới nói riêng và văn nghệ nói chung.​

Đã ban hành
Cù lao LáCù lao Lá
 

Cù lao nhỏ trên sông Ba Lai, nằm ở phía cuối cù lao Bảo trước đây, thuộc xã Phú Long, huyện Bình Đại, nay thuộc xã Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri, có diện tích khoảng 150ha.

Lá ở đây là lá dừa nước dùng để lợp nhà, làm vách che. Dừa nước ở cù lao mọc thành rừng.

Nơi đây từng là căn cứ của nghĩa quân chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Trong KCCP và KCCM, cù lao Lá là căn cứ của Huyện ủy Ba Tri, của Tỉnh ủy Bến Tre và của LLVT địa Phương.

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)
 

Image
Ca Văn Thỉnh (1902-1987)
    Sinh ngày 21-3-1902, trong một gia đình nông dân ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ca Văn Thỉnh thuở nhỏ học trường tiểu học ở tỉnh. Nhờ học giỏi, ông được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn, sau đó học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Thời sinh viên, Ca Văn Thỉnh cùng với bạn đồng học như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở Hà Nội. Vở cải lương về Nguyễn Trãi lấy tên là Bầu nhiệt huyết của ông đã bị thực dân Pháp cấm diễn.

   Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Ca Văn Thỉnh được bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Bến Tre. Tháng 8-1945, ông tham gia cướp chính quyền ở tỉnh. Năm 1946, là thành viên phái đoàn khu 8 vượt biển raTrung ương báo cáo tình hình, xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ và được mời nhận chức vụ Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ Kháng chiến.

  Năm 1952, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, được phân công làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, kiêm ủy viên Ủy ban Liên Việt Nam Bộ. Sau hiệp định Genève (1954), tập kết ra Bắc, đã kinh qua các công tác: phụ trách vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao, Đại sứ ở Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

  Trong suốt mấy chục năm trời từ sau CMT8-1945, Ca Văn Thỉnh hoạt động liên tục cho đến khi nghỉ hưu và đã có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt chính trị, xã hội, giáo dục. Do đó, được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

   Cống hiến nổi bật nhất của Ca Văn Thỉnh là đã góp một phần có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa và văn học Nam Bộ, khơi dậy những giá trị chân chính trong truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của mảnh đất phương Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu với cả nước những nhà văn hóa, nhà thơ yêu nước như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông trên một quan điểm dân tộc, tiến bộ.

   Với bút hiệu Ngạc Xuyên (có nghĩa là Rạch Cá Sấu - một địa danh của quê hương), trong KCCP, ông bắt đầu giới thiệu văn thơ yêu nước của các sĩ phu Nam Bộ, trên các báo chí cách mạng. Tập kết ra Bắc, ông vẫn cần mẫn nghiên cứu, dịch, giới thiệu phần thơ văn này trên các báo Văn nghệ, trên Tạp chí Văn học…Ông cùng với Bảo Định Giang biên soạn cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Thơ văn Nguyễn Văn Thông. Sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng, tuy tuổi già sức yếu, ông đã để công biên soạn cuốn Hào khí Đồng Nai, một tập sách phân tích, đánh giá những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ.

   Công bình mà nói, Ca Văn Thỉnh để lại trước tác không nhiều so với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác, nhưng những cuốn sách, bài báo của ông từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời là một mảng đóng góp có ý nghĩa, trong việc nghiên cứu văn hóa của vùng đất mới của Tổ quốc. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Chùa An LinhChùa An Linh
Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Từ thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, rồi theo đường tỉnh 888 đến thị trấn Thạnh Phú (44km), đi tiếp theo hướng đến UBND xã An Nhơn (12km), rẽ phải vào huyện lộ 51 khoảng 500m là đến di tích.

chua-an-linh.jpg 

Chùa An Linh

Chùa An Linh tọa lạc trên khu đất giồng ấp An Hòa, xã An Nhơn có diện tích 3.850,7m2; diện tích xây dựng chùa là 424,44m2. Kiến trúc của chùa dạng tứ trụ, nóc hình chóp. Nội thất bên trong chủ yếu là những bệ thờ bằng xi măng lát gạch ceramic và ban thờ bằng gỗ. Phía trên bệ thờ được đặt trang nghiêm tượng phật Di Lạc. Trong những năm kháng chiến, phía dưới bệ thờ của tượng phật Di Lạc này được xây dựng hầm bí mật có diện tích khoảng 1,5m2 để che chở những cán bộ cách mạng của địa phương. Hiện nay, khu chính điện là nơi thờ Phật Di Lặc, Quan Thế Âm, Tiêu Diện, Thích Ca, Hộ Pháp, Tam Tạng,…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tôn giáoTôn giáo
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Đạo Nho ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của người dân vùng ba cù lao này từ nửa đầu thế kỷ XX về trước, nhưng xét về mặt hành đạo cũng như hệ thống giáo quyền, đạo Nho hoàn toàn không giống như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa. Đây là đạo thờ ông bà, một thứ tín ngưỡng đã có gốc rễ sâu sắc trong quảng đại quần chúng từ xa xưa, vừa mang ý nghĩa luân lý, vừa là sự biểu rõ tình cảm về huyết thống được thể hiện trong môi trường gia đình, gia tộc, không mang tính chất thần thánh hóa, không có giáo điều, giáo lý, cũng không có giáo chủ, không cần người thuyết giảng để làm cái gạch nối giữa đạo và đời. Từ “đạo” ở đây theo cách hiểu của dân gian là một tập tục hàm chứa lòng biết ơn, nghĩa sinh thành, lòng hiếu thảo với ông bà, tổ tiên, sự ý thức về nguồn gốc của mình.

Ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống mang theo từ mảnh đất cội nguồn, những lưu dân người Việt trên bước đường di chuyển và định cư ở vùng đất mới, đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân bản địa. Hầu như các tôn giáo phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở Bến Tre từ đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, đạo Dừa... xét về mặt ảnh hưởng cũng như số lượng tín đồ, thì đáng chú ý nhất là 3 tôn giáo lớn: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Cao Đài.

Đã ban hành
Giồng TrômGiồng Trôm
&nbsp;

Huyện được thành lập giữa năm 1959 trên cơ sở của huyện Tán Kế, hình thành từ sau CMT8-1945, gồm một số xã tách ra từ huyện Ba Tri và một số xã tách ra từ huyện Châu Thành. Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142ha, đứng hàng thứ hai trong 7 huyện, nằm khoảng giữa cù lao Bảo, bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai, đông giáp huyện Ba Tri, tây giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, nam giáp huyện Mỏ Cày, có ranh giới chung sông Hàm Luông.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Giồng Trôm gồm có 21 xã và 1 thị trấn. Huyện Giồng Trôm được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thị trấn Giồng Trôm

Thị trấn, huyện lỵ Giồng Trôm, thành lập theo Quyết định số 141/CP ngày 3-4-1979 của Hội đồng Chính phủ. Thị trấn nằm trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri với những hàng quán, chợ, cửa hàng dịch vụ, trường học… kéo dài cả kílômét.

Đã ban hành
Tống Viết DươngTống Viết Dương


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá,
trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ
thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> bộ và
Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường
huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên
địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971,
Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của
anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá
hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ
súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ
binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá
hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ
biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có
nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp
kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến
dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận
trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978,
Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.

Từ thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam bộ và Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971, Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
&nbsp;

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Cồn QuiCồn Qui
&nbsp;
Cồn nằm trên sông Tiền, ở giữa 2 xã Tân Thạch và Quới Sơn, huyện Châu Thành, có diện tích 65ha, cách thị xã Bến Tre 22km đường sông. Cồn Qui có nhiều khu vườn cây ăn trái như bưởi, cam, nhãn, mận, sapôchê, sầu riêng, xoài, mít tố nữ…Dạo chơi trên sông Tiền, du khách thường ghé lại Cồn Qui để thưởng thức các loại trái cây và các loại tôm cá nước ngọt
Đã ban hành
Duy MinhDuy Minh
&nbsp;

Huyện tách ra từ huyện Tân Minh (gồm huyện Duy Minh và Tân Minh) vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thuộc phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Trần Thị Kế (1909 – 1959)Trần Thị Kế (1909 – 1959)
&nbsp;

 Đứng ở bến đò Phước Long nhìn sang ben kia bờ, cù lao Ốc như một chiến hạm nổi khổng lồ nằm giữa dòng sông Hàm Luông bát ngát, mà chiều dài là màu xanh bất tận trông ngút tầm mắt. Theo các cụ già, thì cù lao này có từ thời khai hoang, lập ấp. Trong bản đồ cũ cách đây 100 năm đã có ghi cù lao này. Cùng nằm chung trong quy luật hình thành các cồn bãi trên dòng Cửu Long, cù lao Ốc do phù sa từ phía thượng nguồn từ năm này qua năm khác bồi tụ nên. Một loài ốc nước ngọt bám lấy những cây sú, vẹt, cóc kèn, ô rô bám rễ, mọc lên trên bãi bồi , sinh sôi nảy nở ngày một nhiều. Cái tên cồn Ốc ra đời từ đó. Ngày nay, cái cồn mang tên dân dã ấy là một hòn đảo ngập tràn màu xanh của dừa, chuối, vú sửa, xoài, mận… dân cư đông đúc, nhà cửa khang trang. Khách có thể đi bằng xe gắn máy t rên con lộ dài đến 7, 8 km từ đầu đến cuối đảo, nay là xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm.

   Bà Trần Thị Kế chào đời ngay trên mảnh đất này năm 1909, là con út của một gia đình khá giả. Chồng bà, ông Phạm Công Văn, tham gia phong trào Thiên Địa hội, bị bắt và bị tù. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, ông lại bị bắt đày đi Bà Rá (tỉnh Bình Phước). Năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở địa phương, công tác ở tỉnh đội Bến Tre, sau chuyển qua Hội Nông dân cứu quốc tỉnh.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), khi Ngô Đình Diệm phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, khủng bố những người kháng chiến cũ, thì chồng và các con lớn của bà đều thoát ly, hoặc “điều lắng” nơi khác, chỉ còn một mình bà bám trụ, hoạt động hợp pháp tại quê nhà.

   Trong KCCP, bà Trần Thị Kế tham gia vào Ban chấp hành Phụ nữ cứu quốc xã, được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1948. Điều này, một số tên chỉ điểm tay sai ở địa phương dường như đã đánh hơi biết được.

   Trong những năm 1957-1959, địch tập trung đánh phá phong trào cách mạng ở Bến Tre rất khốc liệt. Hàng ngàn đảng viên, quần chúng yêu nước bị bắt bớ, truy lùng, giam cầm. Khám Lá – nhà lao tỉnh Bến Tre – không còn đủ chỗ giam người, tù nhân phải nằm la liệt ngoài hè, ngoài sân. Nhà thờ, chùa, thánh thất, cả trường học biến thành chỗ tra tấn, giam cầm. Mỗi ngày có hàng chục người bị đưa đi thủ tiêu bí mật, xác ném xuống sông rạch. Phong trào cách mạng Bến Tre đứng trước những thử thách vô cùng nghiệt ngã.

   Ngày 17-4-1959, bọn công an Ngô Quyền kéo đến cồn Ốc, bao vây nhà má Kế. Chúng lùng sục, xăm kiếm hầm bí mật khắp nơi, nhưng không tìm ra dấu vết khả nghi nào có "Việt cộng nằm vùng", bèn quay ra bắt má đem tra khảo, truy bức về tông tích của chồng con. Trải qua những đòn tra tấn tàn bạo, má Kế một mực trả lời chúng là chồng con bà đã biệt tích từ nhiều năm nay, bà chỉ ở đây một mình với hai đứa cháu. Như một bầy thú hăng máu, chúng lồng lộn đạp, đá bà, giở những thủ đoạn tra tấn man rợ nhất, hòng moi ra đôi chút tin tức.

  Từ lâu, trước tình hình khủng bố ác liệt của địch, má Kế cũng đã cảnh giác, rằng một ngày nào đó, chúng sẽ “sờ” đến gia đình má, nhưng không ngờ lại diễn ra quá đột ngột, bức bách như thế này. Những trận đòn xối xả trút lên thân hình già nua của má ác liệt hơn, Trước tình thế đó, má Kế gượng ngồi dậy, rồi bảo chúng hãy nghe bà khai. Má đưa tay chỉ vào ngực mình nói: "Chồng con tao ở trong tim của tao đây. Chúng bay mổ ra mà kiếm!".

   Tên cầm đầu thấy không nên kéo dài cuộc tra hỏi tại đây nữa, bèn ra lệnh cho bọn dưới quyền đưa má xuống xuồng máy, chở về thị xã Bến Tre. Ơ Ty Công an tỉnh, bọn chúng sẽ có những phương tiện khác, những dụng cụ tra tấn tối tân hơn, hòng có thể khuất phục được má. Nhưng bọn chúng đã nhầm. Trải qua 3 ngày đêm truy bức với những ngón đòn tàn bạo nhất, chúng vẫn không khai thác được một chi tiết nào ở má Kế ngoài sự lặng im. Ngày 20-4-1959, má Kế trút hơi thở cuối cùng tại nhà giam của Ty Công an Bến Tre. Biết tin đau đớn này, gia đình nhờ người tới xin xác đem về, nhưng chúng bảo là không biết, không có. Nhờ cơ sở bên trong báo ra, gia đình mới biết là chúng đã bí mật đưa thi hài má chôn ở Bình Nguyên. Mãi sau này giải phóng, Sở Thương binh – Xã hội cùng gia đình mới tổ chức cải táng hài cốt má về nghĩa trang tỉnh.

   "Chồng con tao ở trong tim của tao đây. Chúng bay mổ ra mà kiếm!". Câu trả lời đầy khí phách can trường của má Trần Thị Kế vọng lên giữa không khí khủng bố, đàn áp ngột ngạt đang đè nặng lên cuộc sống của người dân Bến Tre thời ấy, có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nó cảnh tỉnh những người đang dao động, có tư tưởng bảo mạng trước thủ đoạn gian ác của kẻ thù; nó tiếp sức chiến đấu cho những cán bộ, đảng viên đang đối diện trước uy vũ, bạo lực của kẻ thù, động viên họ giữ vững ý chí bất khuất; nó nêu lên một tấm gương ngời sáng về lòng chung thủy, sắt son đối với người thân, đối với quê hương đất nước.

Đã ban hành
Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)
&nbsp;

    Cho đến nay, gia phả về họ Phan vẫn chưa tìm được. Nhưng căn cứ vào các nguồn tư liệu lịch sử thành văn và tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri, ta có thể xác định được như sau: Phan Ngọc Tòng quê ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, sau đó là xã An Đức, nay thuộc thị trấn Ba Tri. Phan sinh năm nào, chưa có tài liệu nào ghi rõ, nhưng căn cứ vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc binh Phan Công trận vong của Nguyễn Đình Chiểu, thì ta có thể đoán được ông sinh năm 1818 và hy sinh đêm 6 rạng 7 tháng giêng, Mậu Thìn, tức ngày 30 tháng 1 năm 1868 (Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy, Quan bảy, tám ngày sướng ích chi).

   Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Vốn là một ông giáo làng, Phan Tòng đứng ra tập hợp dân chúng, tổ chức chống Pháp và được cử làm Đốc binh. Vừa mới nhận chức có 7, 8 ngày (Son đóng chưa khô ấn đốc binh) thì giặc Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Đêm đến, chúng cụm lại, đóng quân trên một gò cát có tên là Giồng Gạch (còn gọi là Gò Trụi).

   Phan Ngọc Tòng đã chỉ huy nghĩa quân tấn công vào cứ điểm của giặc, với khẩu lệnh khi xung phong thì hô tiếng "Hè" để uy hiếp tinh thần địch. Vì vậy, nhân dân địa phương còn gọi trận đánh này là "trận giặc Hè". Trong trận đánh giáp lá cà này, Phan Ngọc Tòng đã hy sinh cùng với một số nghĩa quân. Về sau, hàng năm vào ngày này, dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh.

   Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, xúc động trước tấm gương anh dũng bất khuất, đã viết một mạch 10 bài thơ điếu người chỉ huy nghĩa quân đầu tiên của Bến Tre, đồng thời cũng là người bạn tâm giao, đã ngã xuống một cách oanh liệt, vì sự nghiệp chống xâm lược, trong đó có câu:

Tinh thần hai chữ phau sương tuyết

hí phách ngàn thu rỡ núi non.

   Phần mộ của Phan Ngọc Tòng hiện nằm ở sau đình làng An Bình Đông, huyện Ba Tri.

Chú thích:

(1) Lâu nay, có nhiều sách chép Phan Tòng, hay Phan Công Tòng hoặc Phan Ngọc Tòng. Căn cứ vào tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri (Ông Bùi Văn Tranh ở ấp An Hiệp gọi Phan bằng cố nuôi, ông Huỳnh Văn Miêu ở ấp An Thạnh là chắt ngoại), chúng tôi lấy tên Phan Ngọc Tòng (xem thêm Nguyễn Đình Chiểu, Thơ văn yêu nước chống Pháp, Ty Văn hoá – Thông tin Bến Tre xb, 1982).

Phan Ngọc Tòng - Người anh hùng chống Pháp

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Sông Cổ ChiênSông Cổ Chiên
&nbsp;

Sông dài 82km chảy dọc theo địa giới phía nam của tỉnh, làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và tỉnh Trà Vinh, đổ nước ra cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre năm 1882 ghi là Branche du sông Cỏ Chiên.

Cửa chính của sông Cổ Chiên đổ ra biển, có độ sâu từ 5m đến 6m, ít bãi bồi, nên tàu bè ra vào tương đối thuận tiện. Trong khi đó cửa Cung Hầu (cửa phụ) do một bãi nông trên mực nước triều án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Văn Lộc TrịAnh hùng liệt sĩ Văn Lộc Trị
Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm.

Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm. Văn Lộc Trị thường xuyên bám sát địa bàn, bám đất, bám dân, xây dựng được trên 30 cơ sở tích cực, làm chổ dựa vững chắc cho đơn vị hoạt động, đồng thời tạo hành lang cho cán bộ lãnh đạo huyện thâm nhập vào vùng địch hậu trực tiếp chỉ đạo phong trào. Văn Lộc Trị đã chỉ huy đơn vị và phối hợp với các đơn vị khác chiến đấu nhiều trận giành thắng lợi. Riêng đồng chí đã diệt và làm bị thương nhiều tên địch, trong đó có 1 trưởng cuộc cảnh sát, 3 trung úy trình báo, bắn bị thương 1 trực thăng, thu 3 máy chữ và nhiều tài liệu khác. Trong chiến đấu, Văn Lộc Trị luôn thể hiện sự mưu trí, kiên quyết tiêu diệt những tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân…Đặc biệt là trận chiến đấu tháng 4 năm 1972, bảo vệ an toàn cho 20 đồng chí đại biểu về dự hội nghị thi đua toàn tỉnh Bến Tre. Văn Lộc Trị đã dũng cảm vừa đánh trả quyết liệt toán phục kích của địch, vừa tìm mọi cách báo tin cho đoàn cán bộ thoát khỏi vùng nguy hiểm. Trong trận chiến đấu này Văn Lộc Trị đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng. Ngày 13 tháng 8 năm 1980, Văn Lộc Trị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
&nbsp;
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Thành tích khen thưởng của nhân dân tỉnh Bến Tre (1975-2000)Thành tích khen thưởng của nhân dân tỉnh Bến Tre (1975-2000)
Huân chương sao vàng
07 Huân chương Hồ Chí Minh
1.532 Huân chương Độc lập
69 Huân chương Thành Đồng
Huân chương giải phóng
...
  1. Huân chương sao vàng
  2. 07 Huân chương Hồ Chí Minh
  3. 1.532 Huân chương Độc lập
  4. 69 Huân chương Thành Đồng
  5. Huân chương giải phóng
  6. Huân chương Quyết thắng
  7. 38.630 Huân chương Kháng chiến
  8. 634 Huy chương giải phóng
  9. 425 Huy chương Quyết thắng
  10. 11.871 Huy chương Kháng chiến
  11. 29 Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công
  12. 810 Kỷ niệm chương cho cán bộ chiến sĩ bị địch bắt tù đày
  13. 7.725 Bằng khen Chính phủ
  14. 6.396 Bằng khen UBND tỉnh
  15. 2.267 Bằng vàng gia đình danh dự
  16. 10.463 Bảng gia đình vẻ vang.
  17. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bến Tre
  18. 5 Huyện được tuyên dương Anh hùng LLVTND
  19. 66 Xã được tuyên dương Anh hùng LLVTND
  20. 18 Đơn vị Anh hùng LLVTND
  21. 43 Anh hùng LLVTND
  22. 1.937 Bà mẹ Việt Nam anh hùng
  23. 2 Đơn vị Anh hùng Lao động
  24. 3 Cá nhân Anh hùng Lao động
  25. 122 Huân chương Lao động
  26. 3 Cờ thi đua Chính phủ
  27. 710 Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh
  28. 388 Bằng khen Chính phủ
  29. 41.537 Bằng khen UBND tỉnh
  30. 438 Tập thể lao động xã hội chủ nghĩa.
  31. 244 Tập thể lao động xuất sắc
  32. 4.060 Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.
Đã ban hành
Ba TriBa Tri

<br />

Quận, lập năm 1942, gồm 5 tổng (Bảo An, Bảo Lộc,Bảo Phước, Bảo Thuận, Bảo Trị), 27 làng.

Ba Tri

Huyện, nằm ở phía cuối cù lao Bảo, có diện tích 354,8km2, bắc giáp huyện Bình Đại, có chung ranh giới con sông Ba Lai, phía nam giáp huyện Thạnh Phú, có chung ranh giới con sông Hàm Luông, phía đông giáp với biển (với chiều dài bờ biển gần 10km), phía tây giáp huyện Giồng Trôm. Do vị trí thuận lợi, nằm giữa hai cửa sông lớn, huyện Ba Tri là điểm định cư sớm nhất của những lưu dân người Việt trên đất Bến Tre.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Ba Tri gồm có 22 xã và 1 thị trấn.

Ba Tri

Thị trấn của huyện Ba Tri, một trung tâm kinh tế, văn hóa được hình thành tương đối sớm trên cù lao Bảo, thuận tiện cả giao thông thủy bộ, có tỉnh lộ 885 nối thị xã Bến Tre về phía tây và ra tận xã An Thủy về phía đông sát biển. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã từng sống tại đây hơn một phần tư thế kỷ, hiện còn nền nhà cũ của cụ ở trước kia. Cách hơn 1km là nơi yên nghỉ của nhà thơ, nay được xây dựng thành khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Chợ Ba Tri nằm trong thị trấn là một chợ đầu mối. Ngoài sản phẩm nông nghiệp còn có sản phẩm của biển khá dồi dào: tôm, cá, nghêu, sò, muối…Một thời, Ba Tri còn có nghề nuôi tằm, dệt lụa, trồng bông, dệt vải. “Lụa Ba Tri có tiếng đồn” được nhắc đến trong Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca.

Cũng tại nơi đây, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác và đã đọc bài Văn tế nghĩa sĩ Lục tỉnh trước đông đảo quần chúng nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sông Hàm LuôngSông Hàm Luông
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Chính vì thế, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh, góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

 Hệ thống sông Hàm Luông

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

K. Xáng

Ranh giới xã Sơn Định và thị trấn Chợ Lách, nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên

7,5 km

R. Lách

Từ thị trấn Chợ Lách đến xã Long Thới (H. Chợ Lách)

7,0 km

R. Sóc Sãi

Từ xã Tân Phú đến xã Tiên Thủy (H. Châu Thành)

10,0 km

R. Vĩnh Thành

Từ xã Vĩnh Thành qua xã Phú Sơn thông với rạch Cái Mơn (H. Chợ Lách)

10,0 km

R. Cái Mơn

Ranh giới giữa xã Vĩnh Thành và xã Tân Thiềng (H. Chợ Lách)

9,0 km

S. Cái Cấm

Ranh giới của 3 xã Thanh Tân, Thạnh Ngãi và Tân Thành Bình (H. Mỏ Cày)

11,0 km

S. Bến Tre

Từ xã Tân Hào (H. Giồng Trôm) qua xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre)

20,0 km

R. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã Tân Thành Bình và xã Định Thủy

6,5 km

R. Cái Sơn

Từ xã Sơn Phú đến xã Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

7,5 km

R. Giồng Keo

Từ xã Thành An đến xã Hòa Lộc nối với R. Mỏ Cày

5,5 km

R. Thủ Cửu

Từ xã Long Mỹ đến xã Phước Long (H. Giồng Trôm)

6,0 km

K. Giồng Trôm

Từ thị trấn Giồng Trôm, đến xã Lương Hòa, nối với R. Ông Hương

8,0 km

R. Tài Phú

Ranh giới của 3 xã Thuận Điền, Lương Phú, Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

6,0 km

R. Cái Mít

Từ xã Hưng Lễ đến xã Thạnh Phú Đông (H. Giồng Trôm), thông với K. Tắc

7,0 km

R. Tân Hương

Từ xã Hương Mỹ đến xã Minh Đức (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Hương Điểm

Từ xã Tân Lợi Thạnh đến xã Hưng Nhượng (H. Giồng Trôm) đào năm 1885

5,0 km

R. Sơn Đốc

Từ xã Hưng Nhượng đến xã Hưng Lễ (H. Giồng Trôm), nối với K. Miễu Ông và K. Tắc

5,0 km

R. Giồng Luông

Từ xã Tân Phú đến xã Phú Khánh (H. Thạnh Phú)

6,0 km

R. Băng Cung

Từ xã Mỹ Hưng đến xã Giao Thạnh (H. Thạnh Phú) 2 đầu gặp sông Hàm Luông

21,0 km

R. Cái Bông

Từ xã Mỹ Chánh đến xã An Hiệp (H. Ba Tri)

13,0 km

R. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã An Đức, thông ra sông Hàm Luông

8,0 km

K. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã Phú Ngãi, thông với K. Đồng Xuân

6,5 km

R. Bà Hiền

Từ xã Tân Thủy đến xã An Hòa Tây (H. Ba Tri)

8,0 km

Chú thích

(1)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

 
Đã ban hành
Di tích đầu cầu tiếp nhận chi viện Bắc NamDi tích đầu cầu tiếp nhận chi viện Bắc Nam
&nbsp;
- Địa điểm khu di tích của xã Thạnh Phong (vàm Khâu Băng, cồn Bửng, cồn Lợi, cồn Lớn) nằm cách thị trấn Thạnh Phú khoảng 25km, cách Thị xã Bến Tre khoảng 70km. Có thể đi đến khu di tích bằng hai đường bộ và thủy, cả hai đều thuận tiện.
 
- Di tích đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam ở xã Thạnh Phong đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 23 tháng 12 năm 1995.
 
Đã ban hành
Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc ThăngĐền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
&nbsp;
Image

- Đền thờ tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm bên cạnh đường tỉnh 885, cách Thị xã Bến Tre khoảng 6,5km.

 - Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07 tháng 5 năm 1997.
 
Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Lý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến TreLý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến Tre
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành  phố Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận rằng, hệ thống các khách sạn nằm bên bờ sông Bến Tre hiền hòa, thơ mộng và trên con đường Hùng Vương này thật lý tưởng. Lướt qua hệ thống khách sạn khá tiêu biểu nằm bên hai bờ sông Bến Tre trên đường Hùng Vương, để du khách có thể chọn lựa khi đến lưu trú tại xứ dừa Bến Tre như:

Khách sạn Việt Úc: Số 144, Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại (075) 3511888. Nằm ở vị trí vô cùng lý tưởng và tuyệt đẹp ngay cạnh Trung tâm chợ Phường 3, gần trung tâm thương mại phường 2 và khu mua sắm chợ đêm, bên cạnh Bảo tàng tỉnh Bến Tre…, nên rất thuận lợi trong việc tham quan, mua sắm. Khách sạn mới được xây dựng tương đương chuẩn 3 sao, với 74 phòng tiện nghi theo phong cách châu Âu gồm các loại phòng: cao cấp (superior), sang trọng (deluxe), phòng đáp ứng nhu cầu (suite) và phòng thấp hơn (Junior) nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu lưu trú của khách. Khách sạn Việt Úc sẽ chính thức khai trương và đưa vào hoạt động vào ngày 15/6/2012. Những tầng trên của khách sạn, từ những phòng nghỉ, du khách có thể vừa ngắm nhìn sông Bến Tre, vừa có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Bến Tre. Trong khách sạn còn có 02 nhà hàng, món ăn phục vụ theo phong cách Nam Bộ lẫn Âu và Á. Phòng hội nghị sang trọng với sức chứa lên đến 700 khách. Ngoài ra, còn có các dịch vụ khác như: Cà phê VIP với các đêm nhạc đặc sắc diễn ra hàng tuần, quầy bar ngoài trời (sunny bar) với các loại cocktail mang đặc trưng thương hiệu Việt Úc, mới lạ với karaoke mang phong cách Ả Rập, thư giãn chăm sóc sức khỏe với dịch vụ spa, massage, bồn tắm trị liệu, …

Khách sạn Hùng Vương: Số 148 – 166, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3822408. Là khách sạn ra đời tương đối sớm tại thành phố Bến Tre, đến nay vẫn là một trong những địa chỉ quen thuộc cho nhiều du khách khi về Bến Tre lưu trú. Với trên 38 phòng, đầy đủ các thiết bị thiết yếu, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, thân thiện. Nằm tại vị trí thuận lợi cạnh bên là Bảo Tàng tỉnh. Tại ngôi nhà Bảo Tàng từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Trước khách sạn là bến du thuyền để du khách có thể chọn lựa đến các điểm đến du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre.

Khách sạn Hàm Luông: Số 200C, Hùng Vương, Phường 5, thành phố Bến Tre; điện thoại: (0753) 3 560 560. Đây là khách sạn đầu tiên của Bến Tre đạt chuẩn 3 sao, ngoài dịch vụ phòng Hàm Luông còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác cho khách đến đây lưu trú như: dịch vụ massage, karaoke, hồ bơi, … Đặt biệt, vào buổi sáng du khách có thể thưởng thức điểm tâm buffet với nhiều món ăn phong phú. Đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp. Khách sạn Hàm Luông có trên 66 phòng, với các loại phòng:  phòng chuẩn (standand), cao cấp (superior), deluxe (sang trọng) và nhiều phòng đáp ứng nhu cầu (suite)…, nên du khách sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra tầng 5 của khách sạn còn có quầy café sân thượng, không khí mát mẻ, truy cập được wifi, đặc biệt hơn du khách có thể vừa thưởng thức được các loại thức uống vừa có thể ngắm toàn cảnh sông Bến Tre.

Khách sạn Đại An: Số D7, Hùng Vương, phường 7, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3512050. Đại An là khách sạn đạt chuẩn 1 sao, hệ thống phòng được thiết kế trang nhã, giá cả hợp lý, nên phù hợp với mọi đối tượng khách, bên cạnh đó du khách đến đây còn có thể thư giãn và ngắm cảnh sông Bến Tre tại quầy café phía trước khách sạn.

Khách sạn Oasis: Địa chỉ số 151C, Mỹ An C, Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 2467799. Khách sạn Oasis nằm bên phía bờ nam sông Bến Tre, đạt chuẩn 1 sao và theo tâm sự của người quản lý khách sạn sẽ luôn đi đầu với tiêu chí “Ốc đảo hòa bình và thư giãn”, không gian nơi đây rất thoáng mát, vừa mang dáng vấp thành thị và nông thôn. Tất cả các phòng đều được trang bị đầy đủ tiện nghi, an toàn với hệ thống máy nước nóng sử dụng bằng năng lượng mặt trời, hồ bơi…. Khách sạn còn tổ chức phục vụ bữa ăn theo yêu cầu của khách. Các loại phòng gồm có: phòng đơn, phòng đôi, phòng dành cho gia đình.

Phải nhìn nhận rằng, lợi thế của các khách sạn ven sông Bến Tre lấy yếu tố hướng ra sông làm chủ đạo, nên rất tuyệt. Đến Bến Tre nếu chọn lưu trú tại các khách sạn ven sông, sẽ thuận tiện và được chiêm ngưỡng “Tượng đài Chiến thắng trên sông” được xây dựng tại công viên Hùng Vương, nhằm tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”. Hay thả bộ, ngắm cảnh con đường Hùng Vương nối dài đến tận Bến phà Hàm Luông cũ. Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, để được hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, để rồi mọi người sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Ở vị thế này, về đêm du khách có thể chọn ngắm cảnh ở cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, là hai cây cầu đẹp nằm trên đường Hùng Vương. Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông hay ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa, kết hợp với mỹ quan của đô thị thành phố Bến Tre; những ánh đèn đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông và xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông…,  tất cả cùng đan xen tỏa sắc màu ánh sáng dạ trên mặt sông và du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp thơ mộng, hiền hòa, yên ả, thanh bình của thành phố Bến Tre. Thú vị nhất là thỉnh thoảng làn gió nhè nhẹ thoảng qua, làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quí khách. Những hình ảnh thân thương đáng yêu ấy cùng hòa quyện vào nhau, tạo nên những hình ảnh đẹp làm xao động lòng người, để rồi mọi người nhớ mãi đến sông nước xứ dừa du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

 

Nhà khách Bến Tre

Ngoài hệ thống các khách sạn ven sông Bến Tre, còn rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ tiêu biểu khác cũng rất lý tưởng ở trung tâm và vùng ven thành phố Bến Tre, để du khách có thể chọn làm điểm nghỉ qua đêm như: Nhà khách Bến Tre nằm tại nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi trên đường  Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, hay Khách sạn Đồng Khởi (nằm bên bờ hồ Trúc Giang); Khách sạn Bến Tre nằm đối diện công viên Tượng đài Đồng Khởi; Khách sạn sân vườn Sao Mai (đạt chuẩn 1 sao) tại số 106C, Bình Thành, Bình Phú, thành phố Bến Tre; Khách sạn Hoa Dừa số 323/1, ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre, phía sau Trung tâm bến xe Bến Tre ….  Những cơ sở lưu trú này có nhiều loại phòng nghỉ và đầy đủ tiện nghi, có dịch vụ ăn, uống, quà lưu niệm, đặc sản xứ dừa.…, và cũng rất thuận tiện cho du khách đón các tuyến xe buýt đến các điểm du lịch tại ở các huyện của tỉnh Bến Tre. Và còn nhiều cơ sở lưu trú khác cũng nằm ở vị trí trung tâm và ngoại ô thành phố Bến Tre rất đẹp, thuận lợi, đảm bảo an toàn cho du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer