Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Điều kiện Tự nhiên
Cây lúa nước (18/01/2007)
 
Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục...  
Cây dừa (18/01/2007)
 
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng. Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa. 
Cây cau (18/01/2007)
 
Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau. 
 
Đây là khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng của thủy triều lên xuống ngày hai lần, đất bùn lầy lội, mặn nhiều nên chỉ có rừng ngập mặn phát triển. Đây là kiểu rừng cây thân gỗ thấp, chiều cao khoảng 8 – 15 m với một tầng cây độc nhất chiếm ưu thế gồm các loài mắm trắng, bần đắng trên đất bùn nhão, đước, đưng, vẹt, tách, dà, sú mọc hỗn giao trên đất bùn chặt ở vị trí cao hơn nên thời gian ngập triều cũng ngắn hơn. 
 
Bến Tre đặc biệt có một hệ thống giồng cát hình cánh cung song song với bờ biển, dấu vết của các đồi cát ven biển khi xưa được bao phủ bởi các khu rừng dày nằm ở bên trong rừng ngập mặn với cây thân gỗ có khi cao đến 20 m, thuộc các họ sao dầu, họ trôm xen lẫn một số cây có vết tích của rừng ngập mặn còn sót lại ở chân giồng như các loại tra, tra lâm vồ, cui, mù u, nhàu, mướp xác. Đây là khu vực đất tương đối cao, có vỉa nước ngọt ngầm ở gần mặt đất, nên những người dân có khuynh hướng tập trung trên các giồng để dựng nhà, lập vườn, xây dựng thôn ấp 
 
Bến Tre có một hệ thống sông rạch chằng chịt mang nước ngọt từ trên thượng nguồn ra biển đồng thời lại chịu ảnh hưởng của thủy triều, nên các quần thể thực vật ven sông rạch thể hiện rõ nét ba vùng sinh thái tiêu biểu: vùng mặn, vùng lợ và vùng ngọt. 
 
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường: 
Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng. 
 
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá. 
 
Sông Cổ Chiên (18/01/2007)
Sông Cổ Chiên nằm ở phía nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc điểm tương tự như sông Mỹ Tho. Về tên Cổ Chiên cũng có thuyết cho rằng tên sông có liên quan đến một sự kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
 

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Lý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến TreLý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến Tre
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành  phố Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận rằng, hệ thống các khách sạn nằm bên bờ sông Bến Tre hiền hòa, thơ mộng và trên con đường Hùng Vương này thật lý tưởng. Lướt qua hệ thống khách sạn khá tiêu biểu nằm bên hai bờ sông Bến Tre trên đường Hùng Vương, để du khách có thể chọn lựa khi đến lưu trú tại xứ dừa Bến Tre như:

Khách sạn Việt Úc: Số 144, Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại (075) 3511888. Nằm ở vị trí vô cùng lý tưởng và tuyệt đẹp ngay cạnh Trung tâm chợ Phường 3, gần trung tâm thương mại phường 2 và khu mua sắm chợ đêm, bên cạnh Bảo tàng tỉnh Bến Tre…, nên rất thuận lợi trong việc tham quan, mua sắm. Khách sạn mới được xây dựng tương đương chuẩn 3 sao, với 74 phòng tiện nghi theo phong cách châu Âu gồm các loại phòng: cao cấp (superior), sang trọng (deluxe), phòng đáp ứng nhu cầu (suite) và phòng thấp hơn (Junior) nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu lưu trú của khách. Khách sạn Việt Úc sẽ chính thức khai trương và đưa vào hoạt động vào ngày 15/6/2012. Những tầng trên của khách sạn, từ những phòng nghỉ, du khách có thể vừa ngắm nhìn sông Bến Tre, vừa có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Bến Tre. Trong khách sạn còn có 02 nhà hàng, món ăn phục vụ theo phong cách Nam Bộ lẫn Âu và Á. Phòng hội nghị sang trọng với sức chứa lên đến 700 khách. Ngoài ra, còn có các dịch vụ khác như: Cà phê VIP với các đêm nhạc đặc sắc diễn ra hàng tuần, quầy bar ngoài trời (sunny bar) với các loại cocktail mang đặc trưng thương hiệu Việt Úc, mới lạ với karaoke mang phong cách Ả Rập, thư giãn chăm sóc sức khỏe với dịch vụ spa, massage, bồn tắm trị liệu, …

Khách sạn Hùng Vương: Số 148 – 166, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3822408. Là khách sạn ra đời tương đối sớm tại thành phố Bến Tre, đến nay vẫn là một trong những địa chỉ quen thuộc cho nhiều du khách khi về Bến Tre lưu trú. Với trên 38 phòng, đầy đủ các thiết bị thiết yếu, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, thân thiện. Nằm tại vị trí thuận lợi cạnh bên là Bảo Tàng tỉnh. Tại ngôi nhà Bảo Tàng từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Trước khách sạn là bến du thuyền để du khách có thể chọn lựa đến các điểm đến du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre.

Khách sạn Hàm Luông: Số 200C, Hùng Vương, Phường 5, thành phố Bến Tre; điện thoại: (0753) 3 560 560. Đây là khách sạn đầu tiên của Bến Tre đạt chuẩn 3 sao, ngoài dịch vụ phòng Hàm Luông còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác cho khách đến đây lưu trú như: dịch vụ massage, karaoke, hồ bơi, … Đặt biệt, vào buổi sáng du khách có thể thưởng thức điểm tâm buffet với nhiều món ăn phong phú. Đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp. Khách sạn Hàm Luông có trên 66 phòng, với các loại phòng:  phòng chuẩn (standand), cao cấp (superior), deluxe (sang trọng) và nhiều phòng đáp ứng nhu cầu (suite)…, nên du khách sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra tầng 5 của khách sạn còn có quầy café sân thượng, không khí mát mẻ, truy cập được wifi, đặc biệt hơn du khách có thể vừa thưởng thức được các loại thức uống vừa có thể ngắm toàn cảnh sông Bến Tre.

Khách sạn Đại An: Số D7, Hùng Vương, phường 7, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3512050. Đại An là khách sạn đạt chuẩn 1 sao, hệ thống phòng được thiết kế trang nhã, giá cả hợp lý, nên phù hợp với mọi đối tượng khách, bên cạnh đó du khách đến đây còn có thể thư giãn và ngắm cảnh sông Bến Tre tại quầy café phía trước khách sạn.

Khách sạn Oasis: Địa chỉ số 151C, Mỹ An C, Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 2467799. Khách sạn Oasis nằm bên phía bờ nam sông Bến Tre, đạt chuẩn 1 sao và theo tâm sự của người quản lý khách sạn sẽ luôn đi đầu với tiêu chí “Ốc đảo hòa bình và thư giãn”, không gian nơi đây rất thoáng mát, vừa mang dáng vấp thành thị và nông thôn. Tất cả các phòng đều được trang bị đầy đủ tiện nghi, an toàn với hệ thống máy nước nóng sử dụng bằng năng lượng mặt trời, hồ bơi…. Khách sạn còn tổ chức phục vụ bữa ăn theo yêu cầu của khách. Các loại phòng gồm có: phòng đơn, phòng đôi, phòng dành cho gia đình.

Phải nhìn nhận rằng, lợi thế của các khách sạn ven sông Bến Tre lấy yếu tố hướng ra sông làm chủ đạo, nên rất tuyệt. Đến Bến Tre nếu chọn lưu trú tại các khách sạn ven sông, sẽ thuận tiện và được chiêm ngưỡng “Tượng đài Chiến thắng trên sông” được xây dựng tại công viên Hùng Vương, nhằm tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”. Hay thả bộ, ngắm cảnh con đường Hùng Vương nối dài đến tận Bến phà Hàm Luông cũ. Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, để được hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, để rồi mọi người sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Ở vị thế này, về đêm du khách có thể chọn ngắm cảnh ở cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, là hai cây cầu đẹp nằm trên đường Hùng Vương. Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông hay ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa, kết hợp với mỹ quan của đô thị thành phố Bến Tre; những ánh đèn đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông và xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông…,  tất cả cùng đan xen tỏa sắc màu ánh sáng dạ trên mặt sông và du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp thơ mộng, hiền hòa, yên ả, thanh bình của thành phố Bến Tre. Thú vị nhất là thỉnh thoảng làn gió nhè nhẹ thoảng qua, làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quí khách. Những hình ảnh thân thương đáng yêu ấy cùng hòa quyện vào nhau, tạo nên những hình ảnh đẹp làm xao động lòng người, để rồi mọi người nhớ mãi đến sông nước xứ dừa du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

 

Nhà khách Bến Tre

Ngoài hệ thống các khách sạn ven sông Bến Tre, còn rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ tiêu biểu khác cũng rất lý tưởng ở trung tâm và vùng ven thành phố Bến Tre, để du khách có thể chọn làm điểm nghỉ qua đêm như: Nhà khách Bến Tre nằm tại nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi trên đường  Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, hay Khách sạn Đồng Khởi (nằm bên bờ hồ Trúc Giang); Khách sạn Bến Tre nằm đối diện công viên Tượng đài Đồng Khởi; Khách sạn sân vườn Sao Mai (đạt chuẩn 1 sao) tại số 106C, Bình Thành, Bình Phú, thành phố Bến Tre; Khách sạn Hoa Dừa số 323/1, ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre, phía sau Trung tâm bến xe Bến Tre ….  Những cơ sở lưu trú này có nhiều loại phòng nghỉ và đầy đủ tiện nghi, có dịch vụ ăn, uống, quà lưu niệm, đặc sản xứ dừa.…, và cũng rất thuận tiện cho du khách đón các tuyến xe buýt đến các điểm du lịch tại ở các huyện của tỉnh Bến Tre. Và còn nhiều cơ sở lưu trú khác cũng nằm ở vị trí trung tâm và ngoại ô thành phố Bến Tre rất đẹp, thuận lợi, đảm bảo an toàn cho du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm và làm việc tại Bến TrePhó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm và làm việc tại Bến Tre
<div style="text-align: justify;">
<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial;">Ngày 22/1, phát biểu với lãnh đạo tỉnh Bến Tre, sau khi đi thăm một số địa phương bị bão số 9 tàn phá đầu tháng 12/2006, Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa nhận xét: “ Thiệt hại do bão số 9 gây ra được khắc phục cơ bản, đâu vào đó, chớ không còn cảnh ngổn ngang, đổ nát...“.</span> </div>
Image
Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm khu du lịch Cồn Phụng.
Từ ngày 12 đến 14-4, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã về thăm và làm việc tại tỉnh Bến Tre. Cùng đi với đoàn có Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Bùi Hồng Lĩnh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Vũ Tiến Cảnh và Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Chính phủ Nguyễn Hữu Lục.

Trong ngày làm việc đầu tiên, đoàn đã đến thăm công trình cầu Rạch Miễu. Phó Chủ tịch nước thăm hỏi về tiến độ, tình hình thi công công trình. Đây là công trình nhằm thể hiện lòng tri ân đối với Đảng bộ và nhân dân quê hương Đồng Khởi, vì vậy Ban quản lý dự án và công nhân xây dựng cố gắng khắc phục mọi khó khăn, sớm hoàn thành công trình như dự kiến.

Rời cầu Rạch Miễu, Phó Chủ tịch nước đến thăm các khu du lịch Cồn Phụng, Hảo Ai và Quới An (huyện Châu Thành). Tại Quới An, đoàn nghe lãnh đạo Sở Thương mại-Du lịch báo cáo về hoạt động du lịch của tỉnh và những định hướng trong thời gian tới. Phó Chủ tịch nước đánh giá cao những cố gắng của Bến Tre, đặc biệt là công tác xã hội hóa hoạt động du lịch. Bà cũng lưu ý xã hội hóa hoạt động du lịch để phát triển theo định hướng chung của tỉnh chứ không phải mọi người, mọi cơ sở du lịch đều làm giống nhau, cạnh tranh không lành mạnh. Du lịch sinh thái kết hợp văn hóa, lịch sử là thế mạnh, và Phó Chủ tịch nước lưu ý Bến Tre phải biết tận dụng, phát huy thế mạnh này. Tỉnh cần nghiên cứu tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo của riêng mình nhằm giữ chân du khách được lâu hơn.

Ngày 13-4, đoàn đến thăm và làm việc tại các xã Mỹ Hưng, Bình Thạnh (Thạnh Phú), Tân Thành Bình, Thành An (Mỏ Cày) và làm việc với UBND hai huyện này. Sau khi nghe chủ tịch UBND các xã và huyện báo cáo về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trên địa bàn, Phó Chủ tịch nước lưu ý các địa phương trong việc chuyển dịch kinh tế, lao động phải gắn với qui hoạch tổng thể của tỉnh, chú ý đào tạo nguồn nhân lực để đón đầu cơ hội mới cho Bến Tre sau khi cầu Rạch Miễu hoàn thành.

Phó Chủ tịch nước đặc biệt quan tâm đến công tác xóa đói giảm nghèo. Có nhiều xã, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh nhiều năm liền nhưng vẫn còn nhiều hộ đảng viên nghèo là điều không chấp nhận được. Bà đề nghị, từng chi hội, đoàn thể phải điều tra, tìm hiểu thật kỹ nguyên nhân dẫn đến nghèo và có giải pháp thiết thực. Tại mỗi xã đến thăm, Phó Chủ tịch nước tặng bộ máy vi tính cho UBND xã và 15 phần quà cho gia đình chính sách.

Làm việc với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh vào sáng 14-4, ngoài những chỉ đạo về công tác xóa đói giảm nghèo, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa còn quan tâm nhiều đến công tác bầu cử Quốc hội khóa XII. Với tư cách là Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử Trung ương, bà Trương Mỹ Hoa đã gửi gắm các nữ ứng cử viên trên địa bàn với Hội LHPN tỉnh. Bởi theo bà, muốn giải phóng phụ nữ không ai khác ngoài chính bản thân người phụ nữ phải biết tự vươn lên khẳng định mình.

Image
Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa làm việc với Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
Sau Hội LHPN, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa bắt đầu cuộc làm việc với Tỉnh ủy, UBND và các Sở, ban, ngành tỉnh. Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Văn Be, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Hà đã tiếp và làm việc với đoàn. Bà Nguyễn Thị Thanh Hà báo cáo với đoàn về tình hình kinh tế, xã hội quí I-2007, công tác xóa đói giảm nghèo, chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa XII và công tác thi đua khen thưởng của tỉnh. Công tác bầu cử Quốc hội khóa XII được tỉnh chuẩn bị chu đáo, đúng luật.

Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh cho biết, sau khi tham khảo ý kiến, Bộ đã đồng ý hỗ trợ cho Bến Tre kinh phí xây dựng trường kỹ nghệ, nâng cấp Trung tâm dạy nghề Mỏ Cày thành trường Dạy nghề khu vực. Đồng thời, Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh cũng lưu ý tỉnh Bến Tre về công tác xã hội hóa dạy nghề nhằm thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tham gia. Theo Thứ trưởng Lĩnh, Bến Tre cần quan tâm nhiều hơn đến đào tạo nguồn nhân lực, khi có trường nghề phải đầu tư trang thiết bị hiện đại để học viên làm được việc ngay sau khi học xong.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Vũ Tiến Cảnh gợi ý Bến Tre nên chọn thời điểm thích hợp làm năm du lịch nhằm quảng bá mạnh hơn về các loại hình du lịch của tỉnh.

Nói chuyện với lãnh đạo tỉnh, bà Trương Mỹ Hoa tỏ ý mừng và khen ngợi Bến Tre, dù tỉnh vừa trải qua bão lớn, sâu bệnh hại lúa, dịch bệnh (trên gia súc, gia cầm) nhưng đến nay đã phục hồi và phát triển khá nhanh. Phong trào xây dựng gia đình, làng xã văn hóa và đặc biệt lĩnh vực chăm sóc sức khỏe được tỉnh quan tâm nhiều. Phó Chủ tịch nước nói, Bến Tre còn khó khăn nhiều mặt nhưng tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em rất thấp, điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh trong mỗi người dân Bến Tre.

Về những công việc thời gian tới, Phó Chủ tịch nước lưu ý Bến Tre phải khởi động ngay về nhiều mặt bởi cơ hội cho Việt Nam và cho riêng Bến Tre đang đến. Chuẩn bị tốt nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của tỉnh. Bến Tre phải chuẩn bị ngay từ bây giờ về nguồn lao động phổ thông, kể cả xuất khẩu. Phó Chủ tịch nước lưu ý, trong khi nhiều tỉnh phía Bắc thu được nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu lao động, thì với riêng Bến Tre hoạt động này thực sự chưa nhiều và chưa tạo thành phong trào trong nhân dân.

Trong công tác xóa đói giảm nghèo, Phó Chủ tịch đề nghị từng Đảng bộ, ban ngành, đoàn thể phải rà soát ngay trong đơn vị mình để nắm rõ từng nguyên nhân dẫn đến nghèo và có biện pháp tháo gỡ cụ thể. Phó Chủ tịch nước nói: “Xóa nghèo hôm nay phải được nâng lên tầm cao hơn. Các cấp, các ngành phải phát động phong trào thi đua “xóa nghèo-làm giàu” để khích lệ nhân dân. Riêng những hộ nghèo không thể khắc phục được thì phải lập danh sách riêng và giải quyết theo chế độ xã hội.”
Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc TòngKhu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh lộ 885 đến ngã tư Bình Tây khoảng 35km, rẽ phải theo đường liên xã An Bình Tây - An Hiệp khoảng 2km là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang, nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu.

Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên là Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch, đánh giáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Phan Ngọc Tòng cùng với nhiều nghĩa quân khác đã hy sinh. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXPhong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX

Sau khi cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược qui mô lớn cuối cùng ở vùng Lục tỉnh - cuộc khởi nghĩa Long trì do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo bị thất bại, và tiếp theo đó thực dân Pháp gấp rút thiết lập bộ máy cai trị kiềm kẹp với sự tiếp tay của tầng lớp địa chủ “tân trào", phong trào khởi nghĩa chống Pháp xâm lược và chống phong kiến phản bội, đầu hàng của nhân dân Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng, có tạm thời lắng xuống (1). Nhưng chẳng bao lâu sau đó, vào những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân Nam Kỳ lại tiếp tục đứng lên cùng đồng bào cả nước, tiến hành cuộc đấu tranh nhằm đánh đổ sự thống trị của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.

Trong phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Nam Kỳ nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, nổi bật nhất là hoạt động của tổ chức hội kín Thiên Địa hội.

Thiên Địa hội vốn là một tổ chức vừa mang tính chất tương tế, vừa mang tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ. Hội có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, khẩu hiệu chính trị là: "phản Thanh phục Minh". Khi du nhập vào Nam Kỳ, hội này hoạt động mạnh trong giới người Hoa, nhất là trong số mới di cư đến làm ăn vào những năm cuối thế kỷ XIX (còn có tên gọi khác là hội Tam hợp). Sang đầu thế kỷ XX, Thiên Địa hội Nam Kỳ của Hoa kiều đã tích cực đóng góp tiền bạc cho phong trào cách mạng do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo.

Người Nam Kỳ, nhất là những nông dân lưu tán và dân nghèo thành thị, xin vào hội rất đông để nhẹ bớt phần nào cuộc sống cơ cực dưới chính quyền thực dân Pháp, và để tìm ở đó nguồn động viên cho tình cảm yêu nước không có điều kiện bộc lộ. Người Việt vào hội đã thành lập một chi nhánh riêng. Thiên Địa hội của người Nam Kỳ vẫn giữ tục lệ cũ, nhưng thay đổi khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh” thành "phản Pháp phục Nam".

Vào đầu thế kỷ XX, hội kín ở Nam Kỳ càng phát triển mạnh và đặc biệt mạnh vào những năm xảy ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Lý do là vì, dưới chính sách bóc lột của thực dân Pháp từ đầu thế kỷ XX và chính sách động viên nhân tài vật lực của chúng trong những năm chiến tranh, người nông dân Nam Kỳ phải nếm trải một sự cùng khổ tột bực. Trong khi đó, cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu yêu nước ở đây lại tương đối yếu, không đủ sức tập hợp nông dân để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Trong tình hình ấy, người nông dân Nan Kỳ phải tìm cho mình một lối thoát. Và họ đã tìm thấy ở các hội kín do Hoa kiều du nhập một hình thức hoạt động phù hợp với hoàn cảnh của họ, và một chừng mực nào đó có thể giải quyết được tình cảm yêu nước thiết tha, niềm căm hờn sâu sắc kẻ cướp nước. Hình thức hoạt động thần bí của các hội kín lại rất phù hợp với đức tính can trường và mạo hiểm, thích thuật số của người Nam Kỳ lúc ấy. Vốn giàu lòng yêu nước và có tinh thần bất khuất cao, những nông dân Nam Kỳ nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động phổ biến để đấu tranh với địch.

Thành phần tham gia hội kín, ngoài nông dân là lực lượng đông đảo nhất, còn có những người vô nghề nghiệp tức là nông dân bị bần cùng hóa phải bỏ nông thôn đi lưu tán. Ngoài ra là dân nghèo thành thị như tiểu thương, những người làm nghề tự do (cắt tóc, chữa xe đạp, khuân vác, chạy hàng v.v...), những công nhân thất nghiệp. Một thành phần khác tuy ít hơn nhưng có vai trò quan trọng, đó là những người làm nghề phương thuật như thầy phù thủy, thầy ngải, thầy tăng, thầy tướng số, thầy bói.

Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước và tình hữu ái giai cấp ấy đã chịu ảnh hưởng rất đậm của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí. Trong tất cả các lời thề đều nhắc tới vua, đều nhấn mạnh lòng trung thành với vua. Họ mơ ước được sống dưới triều đại phong kiến thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn. "Ông vua" mà họ tôn sùng lúc đầu là Phan Xích Long, về sau là Cường Để. Phan Xích Long theo quan niệm của họ, là "ông vua" được thần, Phật chỉ định và phù trợ, lại có pháp thuật cao cường.

Ngoài ra, tư tưởng và tình cảm của hội viên hội kín còn bị pha trộn thêm nhiều nhân tố hỗn tạp khác, nhu đạo đức Khổng Mạnh, thuyết báo ứng của nhà Phật và nhiều điều dị đoan khác.

So với nhiều nơi khác, Bến Tre là một trong những hội kín phát triển mạnh. Tại đây, tháng 2-1916, xuất hiện hội kín của Lê Văn Khanh tức Tư Khanh. Ở Giồng Trôm, năm 1916, phong trào hội kín Thiên Địa hội phát triển ở các xã Châu Hóa, Bình Chánh, Phước Long, Tân Thanh, Tân Hào. Ở Thạnh Phú, tổ chức hội kín Thiên Địa hội cũng thu hút được nhiều người tham gia.

Hoạt động nổi nhất của hội kín Thiên Địa hội ở Bến Tre là cuộc tấn công vào làng Tân Phú Tây, tổng Minh Thiện, quận Mỏ Cày năm 1916. Trước ngày Tết Nguyên đán, một toán lối 50 người dưới sự chỉ huy của một người tên là Nguyễn Văn Đáng - tên thường gọi là Tám Đáng - và một phù thủy tên là thầy Chín Sửu, đã xông vào nhà cựu hương cả Trần Trung Bình làng này, để buộc Bình giao cho cây súng mà y đang giữ. Trần Trung Bình trốn thoát, họ bắt đứa con trai của y làm con tin, sau đó tiến vào chợ Ba Vát, đập phá hai tiệm buôn, rồi bao vây nhà cửa cựu chánh tổng Minh Thiện và phó tổng Lê Phước Toản. Trong khi đó, một toán khác lối 100 người đánh chiếm nhà việc làng Tân Phú Tây. Lúc bắt đầu cuộc tấn công, họ nổi trống báo cho nhân dân biết là họ đi đánh người Pháp, để mọi người khỏi khiếp sợ. Tân chủ quận đưa lính sen đầm đến đàn áp, Nguyễn Văn Đáng bị bắt (2).

Ngoài các phong trào lớn kể trên, thời kỳ này ở Bến Tre còn có những nhân sĩ trí thức, quan lại yêu nước và tiến bộ tham gia phong trào yêu nước chống Pháp bằng việc sáng tác, hoặc giảng dạy thơ văn kích động lòng yêu nước căm thù giặc trong nhân dân. Đáng chú ý là những hoạt động của Nguyễn Đình Chiêm, Nguyễn Văn Vinh, Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Dư Hoài, Hà Đăng Đàng v.v...

Cùng với các phong trào chống Pháp của các nông dân và các nhân sĩ trí thức yêu nước và tiến bộ kể trên, ở Bến Tre còn có nhiều cuộc đấu tranh của các tầng lớp xã hội khác nữa.

Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1919, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lỵ khác, đã nổ ra phong trào "tẩy chay hàng hóa của khách trú". Về thực chất, cuộc tẩy chay này phản ánh sự xung đột quyền lợi giữa hai cấp tư sản Việt Nam mới nổi lên với các thế lực tư bản nước ngoài cạnh tranh với họ. Song mũi nhọn của cuộc đấu tranh này mới chỉ chĩa vào tư bản Hoa kiều, mà chưa dám chĩa vào tư bản thực dân Pháp. Trong khi đó, chính quyền thực dân lợi dụng cuộc đấu tranh này vào mục đích đánh lạc hướng nhân dân Việt Nam, nhất là đám thanh niên thành thị, hướng sự chú ý của họ không phải vào chính sách khai thác thuộc địa qui mô lớn và sự bóc lột, vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp, mà vào các hoạt động của thương nhân người Hoa, đồng thời gây áp lực buộc bọn này phải nộp thêm hàng triệu đồng bạc thuế cho chúng.

Sau cuộc “tẩy chay khách trú”, năm 1923 tư sản và điền chủ lớn ở Nam Kỳ lại phát động cuộc chiến tranh chống việc một công ty tư bản Pháp, được nhà cầm quyền thuộc địa ủng hộ, định giành lấy độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn. Đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tư sản ở Sài Gòn, Bến Tre và một số tỉnh Nam Kỳ đã tham gia vào cuộc đấu tranh này. Được sự ủng hộ của quần chúng, cuộc đấu tranh đã có tiếng vang tới chính giới bên Pháp. Kết quả là chính quyền thuộc địa buộc phải tạm gác lại, chưa thi hành nghị quyết của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ về vấn đề trên.

Đến cuối năm 1925, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bến Tre lại hưởng ứng mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu đang bị thực dân Pháp giam giữ tại nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội.

Trước sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, thực dân Pháp buộc phải xóa án cho Phan Bội Châu (trước đó đã bị kết án khổ sai chung thân). Cuộc đấu tranh này đã làm thất bại âm mưu nhà cầm quyền Pháp định lợi dụng bản án Phan Bội Châu để uy hiếp tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Vào năm 1926, nhân dân Bến Tre tiếp tục cuộc đấu tranh yêu nước của mình bằng hành động tích cực tham gia vào việc tổ chức lễ tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh - một chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân. Đám tang được tổ chức tại Sài Gòn. Mười bốn vạn người của Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bến Tre... gồm đủ mọi tầng lớp học sinh, trí thức, nhà kinh doanh, công nhân, người lao động nghèo đưa Phan Châu Trinh về nơi an nghỉ cuối cùng. Sau đám tang, tại tỉnh lỵ Bến Tre cũng như ở khắp Trung, Nam, Bắc, nhân dân tiếp tục tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước.

Đám tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh thực sự là một cuộc đấu tranh chính trị chống thực dân Pháp, một cuộc biểu dương tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng.

Vào những năm 1927-1928, nhân dân Bến Tre, trước hết là nông dân nô nức hưởng ứng cuộc vận động chống Pháp của Nguyễn An Ninh. Từ đó xuất hiện cái gọi là phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh – hay theo danh từ thường gọi là "Thanh niên cao vọng hội" – phát triển khá mạnh. Thực ra Hội kín Nguyễn An Ninh chính là biến tướng của tổ chức hội kín Thiên Địa hội đã có từ trước. Đây là kết quả của sự gặp nhau giữa một bên là tổ chức quần chúng không có lãnh tụ - tổ chức Thiên Địa hội, và một bên là lãnh tụ không có tổ chức quần chúng - Nguyễn An Ninh. Cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ, hoạt động của các cơ sở Hội kín Nguyễn An Ninh ở Bến Tre đã gây cho thực dân Pháp nhiều lo ngại. Nhưng Hội kín Nguyễn An Ninh chưa có tôn chỉ mục đích rõ ràng, tổ chức lại không chặt chẽ, nên năm 1929, khi ông bị bắt lần thứ hai tại Bến Lức (3) và bị kết án 3 năm tù ở, thì phong trào cũng tan vỡ nhanh chóng.

Tất cả các phong trào đấu tranh nói trên của nhân dân Bến Tre cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước là những đòn đả kích mạnh mẽ vào chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các phong trào quần chúng thời kỳ này vẫn chưa được hướng dẫn bởi một đường lối cứu nước đúng đắn, chưa được đặt dưới sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, vì vậy hiệu quả của các cuộc đấu tranh mang lại còn thấp, có nhiều hạn chế, chưa đạt được những mục tiêu đề ra là độc lập dân tộc và cải thiện dân sinh.

Nhưng cũng từ những năm 1925-1926 trở đi, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn và các tỉnh khác ở Nam Kỳ đã bắt đầu nhen nhóm một phong trào yêu nước mang màu sắc mới được sự soi rọi bởi một đường lối cứu nước đúng đắn – con đường cách mạng vô sản – do Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú nhất của dân tộc mang lại. Phong trào yêu nước ấy được thực hiện thông qua hoạt động của một tổ chức lấy tên là VNTNCMĐCH do chính Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6-1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).

VNTNCMĐCH là đoàn thể cách mạng mới có xu hướng mácxít, một tổ chức tiền thân của ĐCS trong tương lai. Mục đích của Hội là "làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)" (4).

Từ năm 1926, VNTNCMĐCH bắt đầu có cơ sở trong nước. Kỳ bộ Nam Kỳ của VNTNCMĐCH được thành lập vào năm 1927 với những cán bộ lãnh đạo như Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Phát. Đến đầu năm 1929, Kỳ bộ Nam Kỳ đã được tổ chức được ba thành bộ và tỉnh bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho với 10 chi bộ và 12 hội quần chúng công, nông, binh, phụ ở nhiều nơi.

Ở Bến Tre, tổ chức của Hội được hình thành và hoạt động vào khoảng cuối năm 1926 đầu năm 1927. Vào khoảng thời gian này, tỉnh bộ VNTNCMĐCH được thành lập do đồng chí Hoài Nghĩa làm Bí thư, trụ sở đặt tại hiệu ảnh Tướng Quán đường Clémenceau tại thị xã Bến Tre (5).

Tháng 9-1927, đồng chí Hoài Nghĩa đến Ba Tri tổ chức ra nhiều chi bộ VNTNCMĐCH ở Tân Xuân, An Đức, An Hiệp, Mỹ Nhơn, Phú Lễ, An Bình Tây. Cũng trong thời gian này, chi bộ thị xã được tổ chức do đồng chí Phạm Văn Minh (tức Thả) làm Bí thư. Sau đó tổ chức của Hội phát triển nhanh chóng sang Mỏ Cày và Bình Đại. Ở Mỏ Cày, các chi bộ Phước Hiệp, Bình Khánh, An Thạnh, Tân Thành Bình. Ở Bình Đại, có các chi bộ Thới Thuận, Lộc Thuận. Các chi bộ hoạt động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Tỉnh bộ VNTNCMĐCH với nội dung chủ yếu trước mắt là tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng để phát triển thêm hội viên mới.

Từ năm 1926, theo chỉ thị của Kỳ bộ Nam Kỳ, Tỉnh bộ VNTNCMĐCH Bến Tre đã cử những thanh niên ưu tú sang Quảng Châu dự lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng, do Nguyễn Ái Quốc mở và trực tiếp huấn luyện. Trong số này có Nguyễn Văn Phát, sau khi học xong được kết nạp vào Cộng sản đoàn, về nước tham gia vào Ban chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ.

Hoạt động của các chi bộ VNTNCMĐCH từ năm 1926 đã tạo tiền đề về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng bộ Cộng sản Bến Tre vào đầu năm 1930.

Chú thích

(1) Ở Bến Tre, cuộc nổi dậy chống Pháp cuối cùng do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương tổ chức ở Mỏ Cày vào năm 1895
(2)  Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd
(3) Trước khi bị bắt, Nguyễn An Ninh đã cùng với Phan Văm Hùm dùng cách bán dầu cù là, đi về vùng nông thôn các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh... vận động quần chúng nông dân chống Pháp.
(4)  Xem điều lệ của VNTNCMĐCH.
(5) Tỉnh đọ gồm các đồng chí Hoài Nghĩa (tức Nguyễn Văn Ngọc), Trương Minh Tài (thầy giáo ở Mỏ Cày), Hồ Thả (thợ bạc ở thị xã), Tám Trừ (thợ bạc ở Giồng Trôm), Phan Văn Minh và Ba Đặng.

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chợ ThomChợ Thom
&nbsp;

Địa danh có gốc từ tiếng Khmer (Thom có nghĩa là lớn). Trước năm 1945, chợ Thom là một trung tâm kinh tế sầm uất của cù lao Minh do nằm trên trục giao thông thủy thuận lợi. Xưa, Thom là một trong những bến tàu khách chạy tuyến đường sông Trà Vinh – Vĩnh Long – Bến Tre lên Sài Gòn.

Chợ Thom hiện nay thuộc loại chợ hạng trung của huyện Mỏ Cày có đường giao thông thuận lợi cả thuỷ lẫn bộ.

Đã ban hành
Nguyễn Ngọc Nhựt (1918 – 1952)Nguyễn Ngọc Nhựt (1918 – 1952)
&nbsp;

Image
Nguyễn Ngọc Nhựt (1918-1952)
Sinh ngày 15-9-1918 tại làng An Hội (nay là phường 5, thị xã Bến Tre) trong một gia đình thuộc tầng lớp trên. Cha là Nguyễn Ngọc Tương, một điền chủ, đốc phủ sứ, đồng thời là Giáo tông chi phái Cao đài Ban Chỉnh, được Chính phủ VNDCCH tặng thưởng Huân chương Kháng chiến vì những công lao đóng góp trong sự nghiệp chống Pháp 1945 – 1954.

   Nguyễn Ngọc Nhựt du học ở Pháp, đậu bằng kỹ sư Tạo tác E.C.P, làm chuyên viên kỹ thuật cho các hãng kinh doanh của Pháp trong nhiều năm. Vợ là con một kỹ sư người Pháp, đã từng giúp đỡ ông trong những năm tháng khó khăn dưới ách chiếm đóng của phát xít Đức, trong chiến tranh thế giới thứ II. Công ty kênh đào Suez đã có lần ngỏ ý mời ông về làm tại công ty này, nhưng ông từ chối.

   Là một kỹ sư tài năng, giàu kinh nghiệm, bố vợ lại là giám đốc của một công ty lớn ở Pháp, có nhiều uy tín và giàu có, Nguyễn Ngọc Nhựt đủ điều kiện để ung dung hưởng thụ cuộc sống giàu sang trong xã hội tư bản phát triển vào thời kỳ sau chiến tranh. Thế nhưng, năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Việt Nam sang thăm nước Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp, trong một cuộc gặp gỡ giữa trí thức Việt kiều với Bác, kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt đã tự nguyện xin được về Tổ quốc sớm, để cùng đồng bào xây dựng đất nước.

   Nếu đối với ông, việc giã từ cuộc sống phú quý, đầy đủ tiện nghi khá nhẹ nhàng, thì trái lại nhà cầm quyền Pháp đã tìm nhiều cách để ngăn trở dự định đó. Được sự giúp đỡ của người anh là Nguyễn Ngọc Bích, nguyên là Khu bộ phó khu 9, bị Pháp bắt đưa sang quản thúc tại Pháp, ông đã làm căn cước giả, rồi trà trộn trong số lính thợ Việt Nam ONS (1), đáp tàu thủy về Sài Gòn. Đầu năm 1947, sau khi gặp lại cha và các anh chị em trong gia đình, thăm một số bạn bè xưa cũ, Nguyễn Ngọc Nhựt bắt liên lạc với cơ sở cách mạng, ra vùng kháng chiến tại chiến khu Đồng Tháp Mười. Lúc này, LLVT của ta còn rất non yếu, vũ khí, đạn dược vô cùng thiếu thốn. Trước tình hình đó, Nguyễn Ngọc Nhựt lao ngay vào công việc, tổ chức hướng dẫn anh em công nhân sửa chữa vũ khí, sản xuất đạn dược ở công binh xưởng khu 8. Ông đã trút bỏ bộ cánh của một kỹ sư của xã hội tư bản, mặc bộ bà ba đen, sống và làm việc một cách chan hòa, hồn nhiên cùng với anh em trong các lán trại nơi bưng biền.

   Năm 1948, Nguyễn Ngọc Nhựt được cử làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, phụ trách công tác thương binh và xã hội.

   Ngày 2-6-1949, trong một trận càn của quân Pháp ở Đồng Tháp Mười, ông bị bắt tại Cái Bèo (thuộc tỉnh Sa Đéc cũ) nay là tỉnh Đồng Tháp. Ông khai là Nguyễn Văn Huyện, làm giáo viên bình dân học vụ, nhưng vì trong số những người bị bắt có kẻ đã khai báo sự thật về ông với bọn địch. Bọn chúng tìm đủ mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, khuyên ông đầu hàng và nhận làm việc cho chúng, nhưng ông một mực từ chối. Chúng cho tay chân tự xưng là môn đệ của giáo chủ Nguyễn Ngọc Tương (tức cha của ông) mời ông ra tham gia chính phủ Nam Kỳ tự trị với chức vụ Bộ trưởng Công chánh và Quốc phòng. Nhưng cuộc mặc cả ấy không thành. Hết Bazin, trùm mật thám Nam Kỳ, đến tướng De Latour, tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Nam Kỳ, ra sức dụ dỗ, đe dọa, cố lôi kéo ông tham gia chính phủ bù nhìn Bảo Đại, nhưng ông đều kiên quyết cự tuyệt. Người vợ đầm từ bên Pháp bay sang, can thiệp và thuyết phục ông hãy làm giấy đầu thú bọn chúng, để gia đình bên vợ có lý do bảo lãnh về nhà, rồi sau đó muốn đi đâu cũng được, nhưng ông cũng không chịu nghe theo.

   Thấy những thủ đoạn mua chuộc và đe dọa không có hiệu quả, giặc Pháp ra lệnh cho bọn tay chân mật thám tra tấn và hành hạ ông thậm tệ. Chúng tiêm thuốc gây rối loạn thần kinh để hòng moi được những điều bí mật ở ông, nhưng vô hiệu. Sau hai lần thay đổi nhà tù và những thủ đoạn o ép về tinh thần lẫn thể xác, đã làm ông kiệt sức, mất trí. Chúng đưa ông vào nhà thương điên Biên Hòa và giam lỏng ở đây. Một năm sau, ông qua đời giữa những cơn đau dữ dội mà không được thuốc thang chữa trị. Đó là ngày 16-5-1952, lúc vừa tròn 34 tuổi.

   Là một trí thức thuộc tầng lớp trên, được đào tạo và nuôi nấng trong môi trường xã hội tư sản với nhiều ưu đãi, Nguyễn Ngọc Nhựt vẫn giữ được dòng máu yêu nước trong người. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và dân tộc, ông đã từ bỏ cuộc sống tiện nghi, giàu có để gia nhập vào cuộc chiến đấu của toàn dân, giải phóng đất nước. Chân tình và giản dị trong cuộc sống, Nguyễn Ngọc Nhựt đã mang hết nhiệt tình và tri thức của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Khi bị sa vào tay giặc, trước mọi sự mua chuộc, dụ dỗ và khảo tra của kẻ thù, lòng trung thành tuyệt đối của ông đối với lý tưởng đã không hề suy suyển.

Ở tuổi 30, ông được cử làm Ủy viên UBKCHC Nam Bộ, thành viên trẻ nhất ở cương vị cao cấp nhất của chính quyền cách mạng ở đây. Điều ấy hoàn toàn xứng đáng với tài năng và phẩm cách của ông. Trong một lá thư từ nhà tù viết gửi ra bên ngoài, ông khẳng định: "Tôi sẽ không bao giờ nhận định một cách sai lạc đường đi, lối bước đã chọn". Thời gian ở nhà thương điên Biên Hòa, các bác sĩ, y tá, hộ lý đều cảm phục, quý mến ông và hết lòng giúp đỡ, nhưng chính sách thâm độc của nhà cầm quyền lúc bấy giờ đã giết chết ông ở cái tuổi tràn đầy hứa hẹn.

  Chính phủ VNDCCH khi được tin ông mất đã đánh điện chia buồn với UBKCHC Nam Bộ và gia quyến ông. Bức điện có đoạn: “Hồ Chủ tịch và Chính phủ truy tặng liệt sĩ kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt Huân chương Kháng chiến hạng nhất". Cùng với những trí thức yêu nước khác, như Thái Văn Lung, Dương Minh Châu và sau này là Nguyễn Thái Bình, tên tuổi của kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt sống mãi trong lòng đồng bào ta, đồng thời cũng là niềm tự hào chung của đội ngũ trí thức yêu nước và cách mạng.

Chú thích:

(1) Ouvrier non spécialisé

Đã ban hành
Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)Nguyễn Tẩu (1907 – 1978)
&nbsp;

Image
Nguyễn Tẩu (1907-1978)
Tên thật là Nguyễn Văn Tời, bí danh Ba Lê, Hồ Việt Đông, sinh ngày 23-10-1907 trong một gia đình trung nông ở xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học chữ Nho, chữ quốc ngữ và học võ. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê có truyền thống văn hóa và có phong trào yêu nước sôi nổi, anh thanh niên Nguyễn Văn Tẩu đã sớm hiểu được nỗi nhục mất nước. Năm 1929, gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH, đến năm 1930 được kết nạp vào ĐCSĐD. Trong đợt khủng bố của địch sau phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, đồng chí trốn sang Phom Penh, đến cuối năm 1932 về lại Bến Tre bắt liên lạc với các đồng chí Nguyễn Văn Bích, Trần Văn An gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1935, được cử làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, năm 1936 là Tỉnh ủy viên Bến Tre, có nhiều đóng góp trong phong trào Dân chủ (1936 – 1939). Cuối năm 1939, đồng chí bị địch bắt trên đường công tác ở xã Châu Bình (nay thuộc huyện Giồng Trôm) đưa đi đày ở Tà Lài (tỉnh Biên Hòa). Năm 1943, mãn hạn tù, được đưa về quản thúc tại Bến Tre. Đồng chí đã bắt liên lạc với những đảng viên còn lại ở Ba Tri, củng cố lại tổ chức Đảng, thành lập Quận ủy Ba Tri, móc nối lại với các cơ sở Đảng ở Châu Thành, Sóc Sãi, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre.

   Cuộc họp tháng 12-1944 của “Ủy ban sáng kiến” gồm có đại biểu các quận Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Sóc Sãi tại Giồng Chuối (Ba Tri) để thành lập Tỉnh ủy Bến Tre mới, đã nhất trí cử đồng chí Nguyễn Tẩu làm Bí thư (cũng trong thời gian này, tại Bến Tre một số đảng viên đã liên lạc với Xứ ủy lâm thời do Trần Văn Giàu làm Bí thư, đã thành lập Tỉnh ủy do đồng chí Đỗ Văn Khuyến làm Bí thư. Đến tháng 4-1945, hai Tỉnh ủy mới hợp nhất lại, do Nguyễn Tẩu làm Bí thư).

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Bến Tre được hoàn tất vào chiều ngày 25-8-1945. Đồng chí Nguyễn Tẩu được phân công làm Trưởng Quốc gia tự vệ cuộc (tức công an ngày nay) và được bầu làm đại biểu quốc hội khóa đầu tiên của tỉnh Bến Tre cùng với các ông Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Trần Quế Tử. Khi quân Pháp chiếm lại Bến Tre, đồng chí được chuyển sang phụ trách Tỉnh đội Bộ Dân quân.

   Năm 1951, đồng chí được cấp trên điều về công tác ở TƯ Cục phụ trách công tác nông thôn, rồi công tác tổ chức.

   Tập kết ra miền Bắc, sau khi được cử đi học bổ túc văn hóa và chính trị, đồng chí được điều về làm Phó ban thanh tra Bộ Nội thương, Phó cục trưởng Cục muối, Phó cục trưởng Cục Nhà đất thuộc Bộ Nội vụ, cho đến năm 1971 thì nghỉ hưu. Đồng chí mất ngày 8-1-1978 tại thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sông Cổ ChiênSông Cổ Chiên
&nbsp;

Sông dài 82km chảy dọc theo địa giới phía nam của tỉnh, làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và tỉnh Trà Vinh, đổ nước ra cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre năm 1882 ghi là Branche du sông Cỏ Chiên.

Cửa chính của sông Cổ Chiên đổ ra biển, có độ sâu từ 5m đến 6m, ít bãi bồi, nên tàu bè ra vào tương đối thuận tiện. Trong khi đó cửa Cung Hầu (cửa phụ) do một bãi nông trên mực nước triều án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Đã ban hành
Trúc GiangTrúc Giang
&nbsp;

Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long, Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn, Tân Thạch.

Trúc Giang

Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Lê Anh Xuân (1940 – 1968)Lê Anh Xuân (1940 – 1968)
&nbsp;

Image
Lê Anh Xuân (1940-1968)
    Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại thị xã Bến Tre. Quê nội anh là Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thân sinh là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học có uy tín. Lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước có truyền thống văn học, Lê Anh Xuân sớm tiếp xúc với văn thơ từ nhỏ. Năm 12 tuổi, Lê Anh Xuân đi theo kháng chiến, vừa học văn hóa, vừa tập việc ở nhà in Trịnh Đình Trọng, thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ trong chiến khu.

   Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc, học ở các trường học sinh miền Nam, Trường phổ thông trung học Nguyễn Trãi (Hà Nội), rồi vào học khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

   Những năm tháng học tập ở miền Bắc, tâm hồn và kiến thức của anh ngày càng được bồi đắp phong phú thêm. Bài thơ đầu tiên ra mắt bạn đọc Nhớ mưa quê hương của Lê Anh Xuân, viết trong dòng cảm xúc thương nhớ da diết miền Nam, đã chiếm được cảm tình độc giả và được giải nhì trong cuộc thi thơ năm 1960 của tạp chí Văn Nghệ.

   Tốt nghiệp Đại học, Lê Anh Xuân được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở khoa Sử và được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng anh đã từ chối, chọn lựa con đường trở về quê hương chiến đấu. Cuối năm 1964, cùng với bạn bè đồng chí, Lê Anh Xuân đã vượt Trường Sơn về Nam, khi cuộc chiến đấu đang ở giai đoạn gay go quyết liệt nhất. Anh công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn TƯCMN, sau đó công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam.

   Trong suốt thời gian này, Lê Anh Xuân đã sống và làm việc như một người chiến sĩ – nghệ sĩ chân chính. Anh tham gia viết ký về các anh hùng trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ I, tình nguyện đi đến những nơi ác liệt nhất. Khi về công tác ở Bến Tre, anh tham gia tất cả những công việc gian khó như một cán bộ ở địa phương: làm công tác tuyên truyền, phá đường, sáng tác thơ, cùng bộ đội, du kích chống càn ở Mỏ Cày v.v…

   Từ cuộc sống gian khổ mà hào hùng ấy, anh đã gởi đến bạn đọc nhiều bài thơ mới với bút danh Lê Anh Xuân: Không đâu như ở miền Nam, Dừa ơi, Về Bến Tre, Trở về quê nội…

   Bên cạnh lòng yêu văn chương, Lê Anh Xuân còn làm việc với một ý thức công dân tích cực. Ngoài việc làm thơ, viết trường ca, anh còn viết cả văn xuôi. Truyện ký về anh hùng Nguyễn Văn Tư của anh đã được đăng trên báo Văn Nghệ năm 1965 với cái tên Giữ đất. Trường ca Nguyễn Văn Trỗi gần 1.500 câu thơ lục bát là một đóng góp kịp thời của anh.

   Tiếng gà gáy, tập thơ đầu tay, tập hợp những bài viết của Lê Anh Xuân trong 10 năm sống ở miền Bắc, ra đời năm 1965, khẳng định vị trí của anh Lê Anh Xuân trong đội ngũ sáng tác trẻ thời chống Mỹ. Hoa dừa là tập thơ thứ hai của anh gồm những bài thơ sáng tác trong những năm ở chiến trường miền Nam cho đến khi hy sinh. Năm 1966, anh được vinh dự đứng vào hàng ngũ ĐCSVN.

   Những chiến thắng và khí thế tiến công của chiến dịch xuân Mậu Thân (1968) đã dội vào thơ anh những âm hưởng hùng tráng: Mùa xuân Sài Gòn, mùa xuân chiến thắng. Dựng lại hình ảnh của những anh hùng, Lê Anh Xuân thường có ý thức phát hiện và khái quát những phẩm chất cao đẹp của dân tộc. Bài thơ Dáng đứng Việt Nam được viết trong cảm hứng ấy và cũng là tác phẩm cuối cùng mà anh đã để lại cho chúng ta.

   Lê Anh Xuân tham gia đợt 2 Tổng công kích Mậu Thân cùng một số văn nghệ sĩ khác. Trên đường tiến vào Sài Gòn, ngày 21-5-1968, đến ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, anh hy sinh trong một trận càn của giặc Mỹ.

   Từ Tiếng gà gáy đến Hoa dừa, từ truyện ký Giữ đất đến Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, cảm hứng chủ đạo của Lê Anh Xuân vẫn là tình yêu quê hương đất nước quyện chặt với tình yêu nhân dân và lý tưởng cách mạng. Đặc biệt, hình ảnh quê hương Bến Tre đã chiếm một vị trí quan trọng trong thơ anh và có sức lay động sâu xa trong lòng người đọc.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ
 Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Ra đời ở một chiến trường bốn bề mênh mông sông nước và kênh rạch chằng chịt, trong một hoàn cảnh đặc biệt - giặc Mỹ áp dụng "chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông” - binh chủng đặc biệt này đã biết vận dụng một cách sáng tạo phương châm “lấy ít đánh nhiều”, lấy ý chí dũng cảm, trí thông minh để đối chọi lại với phương tiện hiện đại và kỹ thuật tối tân của Mỹ và đã đạt được nhiều chiến công vang dội liên tiếp, làm đau đầu những tên chỉ huy sừng sỏ của cái gọi là "Lầu năm góc phương Đông” ở Sài Gòn.

   Được thành lập năm 1961, ban đầu chỉ vỏn vẹn một tổ ba người, cho đến lúc trưởng thành gồm cả một đại đội với quân số 72 người. Ngoài đại đa số chiến sĩ là nam giới, còn có một đơn vị đặc công nữ (từ chỉ huy đến chiến sĩ đều do chị em tự quản lấy) mà những thành tích không kém thua nam giới. Đơn vị đặc công thủy Bến Tre không chỉ hoạt động trên địa bàn tỉnh nhà, mà còn chi viện cho các tỉnh bạn. Một tổ đặc công thủy ở đây đã tham gia đánh sập cầu Bến Lức (Long An) nằm trên đoạn quốc lộ 1A Sài Gòn - Mỹ Tho.

   Hoạt động của họ thường là thầm lặng, không ồn ào, rầm rộ, nhưng chiến công của họ thì lẫy lừng, vang dội, có lúc vượt ra ngoài biên giới đất nước. Với số quân không đông, nhưng thành tích của đội đặc công thủy Bến Tre thật là to lớn. Hằng trăm tàu địch, trong đó có những hạm tàu sửa chữa lớn có trọng tải hàng ngàn tấn, và hàng ngàn tên giặc bị nhận chìm xuống đáy dòng sông quê hương cùng với các loại vũ khí tối tân: xe pháo, thiết giáp, đạn dược các loại.

   Ðể đạt được những chiến công lừng lẫy đó, góp phần cùng sự nghiệp đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng quê hương, nhiều chiến sĩ đặc công đã ngã xuống, trong đó có Anh hùng LLVTND Hoàng Lam - người chỉ huy xuất sắc - có Nguyễn Thị Thủy, Lê Thị Hồng, những chiến sĩ đặc công dũng cảm, thông minh.

Chiến công đầu tiên 

   Để cắt đứt con đường bộ nối liền thị xã Bến Tre qua thị trấn Giồng Trôm, thị trấn Ba Tri để ra tận biển, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quyết định đánh sập cầu Chẹt Sậy. Nhiệm vụ đó được giao cho đội đặc công thủy và cũng coi như là thử thách đầu tiên của đơn vị đặc biệt này. Tổ chiến đấu gồm có Kiên Trì (tổ trưởng), Lê Tự, Hoàng Lam và Việt Dũng.

   Là một chiếc cầu quan trọng nằm trên đường vận chuyển chiến lược của cù lao Bảo, do đó địch bố phòng khá nghiêm ngặt. Trên cầu có một trung đội thường trực canh giữ ngày đêm. Đặc biệt ban đêm, đèn điện các trụ và hai bên mô cầu sáng trưng như ban ngày. Cứ cách khoảng 15 phút, chúng ném lựu đạn xuống quanh các chân cầu một lần và bắn vào tất cả những dề lục bình khả nghi trôi về phía cầu để đề phòng sự đột nhập của bộ đội, du kích ta.

   Vào một đêm tháng 11-1962, các chiến sĩ bằng kỹ thuật thuần thục, đã áp sát chân cầu, gài mìn, nhưng vì trục trặc về kỹ thuật, mìn không nổ, lại phải rút ra. Đêm hôm sau, các chiến sĩ đột nhập trở lại. Khối thuốc nổ lớn làm rung chuyển cả hai bên bờ sông. Hai nhịp cầu sắt dài trên 50m gục đổ. Sáng ra, nhìn cây cầu sập, đồng bào vô cùng hồ hởi, khâm phục trong khi địch hoang mang không hiểu bộ đội ta đã đột nhập bằng con đường nào. Tiếp theo chiến công này là một loạt trận đánh diễn ra ở các cầu Lương Quới, Giồng Quéo, Bình Chánh, Cái Cấm, Ba Lai. Riêng cầu Chẹt Sậy đã bị lực lượng đặc công thủy đánh đi đánh lại đến 4 lần. Lần cuối cùng vào tháng 4-1975, cận kế ngày giải phóng, nhằm hạn chế sự vận động xe cơ giới của địch trên đường này nhằm chống lại cuộc tiến quân của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đánh chìm hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre

   Trong những năm chiến tranh ác liệt, nơi vàm sông Bến Tre ra sông Hàm Luông, tàu chiến Mỹ thường tập trung rất đông, vì mực nước ở đây sâu, lòng sông rộng, địa hình trống trải, từ đây tàu địch có thể cơ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra trên một khu vực rộng lớn.

  Tổ đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy nhận được lệnh đánh vào chiếc tàu dài 110m, rộng 25m - một cơ xưởng nổi sửa chữa tàu thuộc loại hiện đại từ Mỹ đưa sang - đang đậu tại đây. Để bảo vệ tàu, địch quy định một chế độ canh phòng rất cẩn mật. Giữa dòng chảy xiết của sông Hàm Luông, chúng bố trí đèn pha cực mạnh có thể soi sáng từ xa, phát hiện tất cả những vật di động lớn nhỏ trên mặt nước. Cứ năm phút, lính tuần tiễu ném xuống quanh tàu lựu đạn và mìn hơi. Chúng còn dùng dòng điện cực mạnh phóng liên tục xuống nước để đề phòng đặc công ta có thể đột nhập vào bên trong cụm tàu đang bỏ neo. Trên bờ sông còn có bót Giồng Xoài, do một đại đội bảo an phối hợp cùng bọn mật vụ rải dài canh gác khu vực này, nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của bộ đội ta từ phía bờ.

   Đêm 23-11-1967, tổ đặc công xuất kích, đã dũng cảm, mưu trí vượt qua các màng lưới bố phòng của địch, kể cả máy bay trực thăng rọi đèn từ trên cao và các tàu tuần tiễu quần đảo liên tục chung quanh, đưa khối thuốc nổ 200kg áp vào thành buồng máy của hạm tàu một cách an toàn. Đúng 2 giờ khuya, một tiếng nổ long trời dội vào tận thị xã và vùng phụ cận. Có người đã chứng kiến hôm ấy, một cột nước cao gần trăm mét phụt lên không trung. Lửa cháy lan ra kín cả một khúc sông. Tàu 883 cùng 10 chiếc tàu nhỏ đậu chung quanh để chờ sửa chữa đều bị nhận chìm xuống dòng nước Hàm Luông, kéo theo hàng trăm sĩ quan, kỹ sư, thợ máy, kỹ thuật viên Mỹ, Úc, Tân Tây Lan...

Trận tập kích căn cứ nổi trên Hàm Luông

  Trong khi địch chưa hoàn hồn về trận tiến công hàm tàu sửa chữa đêm 23-11-1967, thì vào đêm 29-12-1967, các chiến sĩ bộ đội đặc công lại đánh bồi tiếp một trận mới tại căn cứ nổi của Mỹ nơi vàm Băng Cung. Trong trận này, đơn vị đặc công thủy đã đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có một tàu hải quân mang số 821 dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M.113 trên tàu bị phá hủy.

   Chỉ trong vòng hơn một tháng trời, bằng lực lượng nhỏ tinh nhuệ, quân ta đã đánh hai trận xuất sắc vang dội cả nước, gây tổn thất to lớn cho “chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông" của giặc Mỹ ngay trên chiến trường Bến Tre.

Đội nữ đặc công thủy 

   “Đội quân tóc dài" ở miền Nam, mà nơi đầu tiên ra đời là đất Bến Tre, từng vang danh trong cả nước và tiếng tăm của nó cũng đã vượt ra ngoài biên giới Tổ quốc. Thế nhưng, còn có một kỳ tích nữa của phụ nữ Bến Tre mà người ta ít biết đến là những chiến công xuất sắc của đội nữ đặc công thủy ở đây trong những ngày đánh Mỹ. Xét về mặt thể lực, về tâm sinh lý cũng như đặc điểm giới tính, chị em không thể bơi lội ngâm mình, vật lộn với sóng nước cả ngày như những "con cá kình" nam giới. Nhưng rồi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh - đánh địch trên bộ được, thì chị em cũng có thể đánh địch được cả ở dưới nước. Và, một tổ đặc công thủy toàn nữ ra đời. Thực tế, chị em không khỏe và có sức chịu đựng dẻo dai như nam giới khi vật lộn với sóng nước, nhưng bù vào đó là tác phong tỉ mỉ, chu đáo, kiên trì - những đức tính rất cần thiết đối với người chiến sĩ đặc công - và chị em cũng có ưu thế hơn nam giới là khi cần có thể trà trộn vào ra nơi địch đóng quân để điều tra, trinh sát, hoặc đưa những phương tiện đặc biệt cần thiết vào sâu bên trong, chuẩn bị cho trận đánh thắng lợi.

   Đội nữ đặc công thủy Bến Tre gồm một đại đội, hoàn toàn do chị em tự điều khiển, từ đại đội trưởng đến chính trị viên, tổ trưởng v.v... Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp hoạt động với các tổ nam đặc công, đơn vị của các chị đã hoạt động trên khắp sông nước Bến Tre. Trong những thành tích mà bản tuyên dương công trạng anh hùng của đơn vị đặc công thủy Bến Tre đã nêu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ" có phần đóng góp không nhỏ của chị em. Tất nhiên, có chiến công nào, thắng lợi nào mà không phải đổi bằng những hy sinh mất mát, có khác chăng sự hy sinh ở đây thường diễn ra thầm lặng hơn. Trong danh sách những liệt sĩ của đơn vị đặc công thủy có Nguyễn Thị Thủy hy sinh ở cầu Chẹt Sậy, Lê Thị Hồng hy sinh ở Phước Hiệp... Họ đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng quê hương ở tuổi đôi mươi đầy hứa hẹn.
Đã ban hành
Cái MơnCái Mơn
&nbsp;

Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong). Ngày xưa, nơi con rạch này có nhiều tổ ong mật. Cái Mơn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, nay là một thị tứ sầm uất của huyện Chợ Lách, có nhà thờ Thiên Chúa lâu đời. Cái Mơn cũng là nơi nổi tiếng sản xuất cây kiểng và các loại cây giống ăn trái của đồng bằng sông Cửu Long.

Cái Mơn nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

Đã ban hành
Trần Việt HùngTrần Việt Hùng


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trần Việt Hùng
sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi
được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, Chủ nhiệm thông
tin phòng tham mưu, tỉnh đội Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ năm 1948 đến tháng 4</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1965, Trần Việt
Hùng là cán bộ thông tin của tỉnh ủy Bến Tre. Từ tháng 5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1965 đến tháng 4</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1975, Hùng phụ
trách chủ nhiệm thông tin tỉnh đội</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> Trần Việt Hùng đã xây dựng,
tổ chức mạng thông tin vô tuyến điện của 6 huyện, 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn
trực thuộc tỉnh. Ngoài ra, anh còn góp phần bảo đảm thông tin liên lạc từ tỉnh
lên Bộ tư lệnh Quân khu, Bộ tư lệnh Miền và tuyến vận tải vũ khí từ biên giới
xuống đồng bằng. <br /></span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"></span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trần Việt Hùng luôn bám
sát các đơn vị chiến đấu, giải quyết nhiều tình huống khó khăn, bảo đảm mạng
lưới thông tin thông suốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong 2 năm 1970 - 1971,
địch &quot;bình định&quot; ác liệt, Trần Việt Hùng được giao tổ chức hệ thống
thông tin vô tuyến điện bằng máy PRC - 25 thu được của địch. Tuy đang rất yếu,
nhưng Trần Việt Hùng vẫn cố gắng chỉ huy anh em vận chuyển phương tiện đến các
địa điểm, hướng dẫn nghiệp vụ, bảo đảm thông tin thông suốt. Xuân 1975, Hùng đã
chuẩn bị và củng cố tốt hệ thống thông tin trong tỉnh. Đến ngày 15</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1975 mạng lưới
thông tin mới thu được đã ổn định đi vào khai thác sử dụng, tiết kiệm nhiều
triệu đống cho công quỹ.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công
giải phóng hạng ba, 20 bằng khen và giấy khen, 4 lần là Chiến sĩ thi đua, 4 lần
đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">11</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1978, Trần Việt
Hùng được Nhà nước tặng dnah hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Việt Hùng sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, Chủ nhiệm thông tin phòng tham mưu, tỉnh đội Bến Tre.

Từ năm 1948 đến tháng 4-1965, Trần Việt Hùng là cán bộ thông tin của tỉnh ủy Bến Tre. Từ tháng 5-1965 đến tháng 4-1975, Hùng phụ trách chủ nhiệm thông tin tỉnh đội. Trần Việt Hùng đã xây dựng, tổ chức mạng thông tin vô tuyến điện của 6 huyện, 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn trực thuộc tỉnh. Ngoài ra, anh còn góp phần bảo đảm thông tin liên lạc từ tỉnh lên Bộ tư lệnh Quân khu, Bộ tư lệnh Miền và tuyến vận tải vũ khí từ biên giới xuống đồng bằng.

Image
Anh hùng Trần Việt Hùng

Trần Việt Hùng luôn bám sát các đơn vị chiến đấu, giải quyết nhiều tình huống khó khăn, bảo đảm mạng lưới thông tin thông suốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong 2 năm 1970 - 1971, địch "bình định" ác liệt, Trần Việt Hùng được giao tổ chức hệ thống thông tin vô tuyến điện bằng máy PRC - 25 thu được của địch. Tuy đang rất yếu, nhưng Trần Việt Hùng vẫn cố gắng chỉ huy anh em vận chuyển phương tiện đến các địa điểm, hướng dẫn nghiệp vụ, bảo đảm thông tin thông suốt. Xuân 1975, Hùng đã chuẩn bị và củng cố tốt hệ thống thông tin trong tỉnh. Đến ngày 15-5-1975 mạng lưới thông tin mới thu được đã ổn định đi vào khai thác sử dụng, tiết kiệm nhiều triệu đống cho công quỹ.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 20 bằng khen và giấy khen, 4 lần là Chiến sĩ thi đua, 4 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978, Trần Việt Hùng được Nhà nước tặng dnah hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
&nbsp;
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Tôi đến Bến Tre thời “qua sông còn phải lụy phà”, khi ấy đi mất nhiều thời gian, ngán lắm. Bây giờ thì từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre rất nhanh (chỉ mất khoảng 1 giờ 45). Bởi chiếc cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ hai tỉnh Bến Tre - Tiền Giang, Bến Tre đã hoàn toàn phá bỏ thế cách trở của vùng đất cù lao. Và thời ấy đến Bến Tre cũng không có nhiều khách sạn, nhà nghỉ để mà lựa chọn như bây giờ.

 

Qua sự giới thiệu của bè bạn, lần này đến Bến Tre với gia đình tôi chọn điểm nghỉ ở Khách sạn Sao Mai, số 106C - ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Cơ sở lưu trú này cũng dễ tìm và nằm ở vị trí khá thuận lợi, cạnh khu vực chợ phường 7 và gần với khu dân cư cao cấp Sao Mai.

Quan sát chung, tôi thấy toàn khu vực khách sạn lấy ý tưởng cảnh sân vườn là chủ yếu, nên không gian rất thoáng mát, kết hợp trang trí bên ngoài cùng màu xanh của cây cảnh rất hấp dẫn. Các vật dụng bàn, ghế đều làm bằng gỗ cao cấp, được bố trí ở những gian nhà ngoài để du khách có thể ngồi ngắm cảnh, thư giãn, trao đổi công việc…. Khung cảnh nơi đây đã thật sự tạo cho du khách sự thích thú khác lạ. Những ngày nghỉ tại đây, tôi gặp một số nhạc sĩ khá nổi tiếng của thành phố Hồ Chí Minh đang ở đây đi thực tế sáng tác. Tôi nghĩ với không gian cảnh quan thoáng mát, xanh – sạch - đẹp, yên ả thế này, thì rất lý tưởng cho giới văn nghệ sĩ cảm hứng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật hay phục vụ cho đời.

Với tôi, đây là điểm nghỉ ngơi lý tưởng, thích nhất là bữa ăn trưa, ăn chiều rất hợp khẩu vị, ngon miệng, giá bình dân, do khách sạn phục vụ theo yêu cầu của khách. Qua tìm hiểu, Khách sạn Sao Mai hiện có 36 phòng, được trang bị đầy đủ tiện nghi và chia thành nhiều loại phòng để khách có thể lựa chọn. Mỗi phòng nghỉ phía trước hoặc phía sau đều có bố trí bàn uống trà và ghế bố để du khách thư giãn….  Ngoài ra, trong khu khách sạn còn có sân tennis, sân cầu lông để khách rèn luyện sức khỏe hay giao lưu thể thao cùng bạn bè thân hữu mỗi khi đến công tác hay nghỉ dưỡng tại đây. Và khoảng sân vườn trống có bố trí lối đi, du khách đi tản bộ xung quanh. Tại khu khách sạn này có bố trí bãi để xe và xe 50 chỗ thoải mái vào đến nơi.

Thời điểm tôi và gia đình nghỉ tại đây cũng là lúc Khách sạn Sao Mai vừa mới được nâng cấp và đang làm thủ tục đề nghị ngành chức năng công nhận 1 sao, bây giờ chắc đã được công nhận rồi. Và tôi nghĩ rằng với sự phát triển hiện nay của  Bến Tre sẽ còn nhiều cơ sở lưu trú lý tưởng hơn hoặc cỡ như Khách sạn Sao Mai.

 

Trong khuôn viên khách sạn có hội trường mini khoảng 100 chỗ ngồi, thích hợp để tổ chức những cuộc hội nghị vừa, nhỏ, những cuộc gặp gỡ, giao lưu…, tất cả bàn, ghế và một số trang trí khác trong hội trường chủ yếu làm bằng gỗ cao cấp nhìn rất sang trọng và cổ kính. Khu nhà hàng thiết kế theo dạng nhà sàn, vật liệu chính cũng là gỗ, được xây dựng bên hồ nước, giúp điều hòa không khí đảm bảo thực khách khi dùng bữa ở nhà hàng luôn luôn thoải mái…. Các món ăn đặc sản của vùng sông nước ĐBSCL cũng được khách sạn đưa vào thực đơn phục vụ khách như: Cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, mắm chưng, mắm kho, canh chua cá bông lau, cá ngát, cá hú, … và còn nhiều món hấp dẫn khác sẽ phục vụ khách.

Nghỉ tại Khách sạn Sao Mai, đêm xuống du khách có thể tản bộ theo hướng vòng xoay Hàm Luông (trên đường tránh QL 60), đây là con đường rộng, khá sang trọng, có nhiều lối kiến trúc xây dựng nhà ở hay các công trình khác rất đẹp, hai bên đường tránh có nhiều quán ăn, uống, các điểm sinh hoạt giải trí…, tạm gọi là “làng ẩm thực – giải trí”. Ở đây, có đủ các món đặc sản để du khách mặc tình khám phá và thưởng thức. Nếu du khách thả bộ theo hướng về vòng xoay Bình Phú, đến cầu Bến Tre 2, tản bộ ngắm cảnh sông Bến Tre về đêm và con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông. Con đường này cũng được nhiều du khách chấm là con đường đẹp không thua gì các con đường ở Tp Hồ Chí Minh. Thích thú nhất là được tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát, yên ả của vùng sông nước xứ dừa và những nụ cười thân thiện mến khách, tận tình hướng dẫn của người dân nơi đây.

 

Sau vài ngày nghỉ ngơi thoải mái, từ giã xứ dừa Bến Tre, trả phòng và chia tay Khách sạn Sao Mai, cũng là lúc khách sạn đang tiếp nhận đoàn khách học sinh (gồm 02 xe 50 chỗ ngồi) là con của các chuyên gia nước ngoài đến làm việc tại Tp Hồ Chí Minh đến tham quan tại Bến Tre. Bắt gặp được điều đó, cũng có thể khẳng định sự tin cậy, an toàn, lý tưởng của điểm nghỉ kết hợp với sân vườn ở đây. Hy vọng Khách sạn “Sân vườn Sao Mai” tại thành phố Bến Tre sẽ ngày càng thu hút nhiều khách và phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợiLàm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi

    Góp phần làm phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1969 - 1975)

    Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân đã giáng một đòn mạnh và ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và làm chấn động dư luận nước Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, tìm cách rút dần quân Mỹ về nước. Tuy nhiên, với bản chất xâm lược và hiếu chiến, đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ dã tâm của chúng, ngoan cố tiến hành chính sách thực dân mới bằng những thủ đoạn thâm độc khác.

   Nixon, người đại diện cho đường lối mới của Mỹ, bước vào Nhà Trắng và cho ra đời cái gọi là "Học thuyết Nixon" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu. Bởi vậy, trong khi rút quân nhỏ giọt ra khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Nixon đã tận dụng số quân Mỹ còn lại rất lớn trên chiến trường cùng quân ngụy, đẩy mạnh đánh phá nông thôn bằng “bình định cấp tốc”, “bình định xây dựng" và "bình định đặc biệt”, hòng tiêu diệt cơ sở hạ tầng của cách mạng, đẩy LLVT cách mạng ra xa các thành phố và các căn cứ quân sự của chúng, cắt đứt các nguồn chi viện của ta, trước hết là nguồn chi viện qua đường Campuchia, nhằm cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

   Tại tỉnh Bến Tre, từ tháng 4-1969, Mỹ, ngụy bắt đầu triển khai chương trình "bình định cấp tốc”. Chúng đưa về đây sư đoàn 7 và một bộ phận sư đoàn 9 (lực lượng cơ động của vùng 4 chiến thuật), nhiều tiểu đoàn biệt động quân, thủy quân lục chiến (lực lượng tổng dự bị của quân ngụy), 40 đoàn cán bộ bình định, cùng với lực lượng ngụy quân tại chỗ liên tiếp mở các cuộc càn quét, bình định kết hợp với các cuộc đánh phá ác liệt của không quân, kể cả máy bay B.52, vào các vùng giải phóng của ta.

   Sau khi hoàn thành bước cuối cùng "bình định kiểu mẫu" ở Ba Tri, ngày 9-6-1969, địch lấn chiếm 4 xã Minh Đức, Tân Trung, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, cắt ngang cù lao Minh, Tỉnh ủy họp hội nghị bất thường tại Bình Khánh (huyện Mỏ Cày), chủ trương phát động quân và dân các địa phương kiên quyết chống địch càn quét và bình định.

   Ở thị xã, tự vệ mật và an ninh vũ trang thiêu hủy kho xăng, phá hủy một đại đội pháo tại sân vận động. Đầu năm 1970 các đội săn tàu của ta chặn đánh đoàn tàu địch tuần tiễu trên sông Giồng Trôm, Vàm Nước Trong (Mỏ Cày), bắn chìm và bắn cháy 21 tàu, 2 giang thuyền. Trong đợt tấn công Xuân – Hè 1970, bộ đội tỉnh đã đánh địch 7 ngày liền, diệt 900 tên địch, bắn chìm và bắn cháy 40 tàu, 2 giang thuyền. Ở Bình Đại, bộ đội địa phương diệt được 2 đội bảo an, bắn rơi 6 trực thăng, bắn cháy 6 xe.

   Trong thời gian này, ở hội trường công chức thị xã, tự vệ mật Minh Hiền dùng mìn diệt 83 tên cán bộ bình định, làm bị thương 75 tên khác trong một lớp huấn luyện.

   Qua một năm chiến đấu gian khổ và đầy hy sinh, quân và dân Bến Tre đã ngăn chặn được một phần kế hoạch lấn chiếm bình định của địch. Tuy nhiên, nhìn chung trên diện toàn tỉnh, kế hoạch càn quét, bình định của địch đã gây cho ta nhiều tổn thất: mất đất, mất dân, các căn cứ, đường hành lang vận chuyển bị phá hoại. Cán bộ, bộ đội và nhân dân phải sống và chiến đấu trong điều kiện hết sức gay go, gian khổ. Mặc dù vậy, tình hình lại không dừng lại ở đây.

   {mospagebreak}Tháng 8-1970, hai sư đoàn 7 và 9 của ngụy được điều trở lại Bến Tre để tiếp tục chương trình bình định mới bằng hai bước "bình định xây dựng" và "bình định phát triển".

   Kết quả là Bến Tre từ chỗ có 72 xã giải phóng, chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh, trở thành một tỉnh bị chiếm đóng, đồn bót dày đặc. Mỗi xã có từ 5 đến 20 đồn, toàn tỉnh có tới 916 đồn bót và tháp canh. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, du kích bị hy sinh. Lực lượng quần chúng cách mạng bị tiêu hao, nhà cửa tan nát, vườn tược hoa màu bị tiêu hủy, kinh tế bị đảo lộn, đời sống nhân dân trở nên hết sức cơ cực. Hàng ngàn quần chúng trong vùng giải phóng phải tản cư vào sống chen chúc trong các "lõm địa hình" ở các quận Mỏ Cày, Châu Thành, vùng ven thị xã, thị trấn...

   Cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cách mạng ở nhiều nơi bị tan rã, xáo trộn, tư tưởng cầu an, dao động nảy sinh, nhiều cán bộ, đảng viên lánh né hoặc chạy dài.

   Phong trào cách mạng Bến Tre lại đứng trước khó khăn và thử thách mới. Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy chủ trương các cơ quan lãnh đạo và các tổ chức quần chúng phải nhanh chóng chuyển hướng hoạt động cho phù hợp. Các ủy viên xuống các huyện, trực tiếp làm bí thư huyện ủy, hàng trăm huyện ủy viên và cán bộ huấn luyện xuống trực tiếp phụ trách xã. Tỉnh ủy được tổ chức thành ba phân ban, đứng chân ở ba khu vực: Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành. Hai huyện Mỏ Cày và Châu Thành được chia làm đôi (1).

   Số đồng chí già yếu, bệnh tật, không có khả năng bám trụ, được chuyển ra khỏi vùng đánh phá ác liệt. LLVT được phân tán thành từng tiểu đội, bám giữ các địa bàn căn cứ. Với kinh nghiệm truyền thống bám đất, bám dân, cán bộ, đảng viên đêm đêm từ hầm bí mật len lỏi về hoạt động trong sự đùm bọc, che chở của nhân dân.

   Về phía nhân dân, mặc dù bị kìm kẹp khắc nghiệt, bà con vẫn hết lòng bảo vệ Đảng, đào hầm bí mật, nuôi giấu cán bộ trong nhà.

  Nhờ có quyết tâm chịu đựng, chấp nhận mọi gian khổ hy sinh, và kiên trì phấn đấu, chỉ trong thời gian 2 tháng, đa số cán bộ, đảng viên, du kích đã trở về bám lại được đất, được dân. Có nơi nổi dậy diệt ác ôn, trừng trị những tên chiêu hồi, chỉ điểm. Các tổ chức quần chúng dần dần được khôi phục trở lại.

   Trong khi, phong trào kháng chiến của Bến Tre dần dần tạo được thế và lực mới, thì trên phạm vi toàn cầu chiến trường miền Nam, BTC chủ trương sẽ mở cuộc tập kích chiến lược trong năm 1972, nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng.

  Tháng 11-1971, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng, chủ trương “động viên toàn Đảng, quân và dân Bến Tre khắc phục khó khăn, chuẩn bị hợp đồng với chiến trường toàn miền, tiến hành tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972".

   Để tạo thêm thế lực cho chiến dịch, đầu tháng 1-1972, LLVT của ta được lệnh tiến công vào hệ thống đồn bót địch ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, Bình Đại, tiêu diệt 20 đồn bót, cùng nhiều sinh lực địch. Tiếp đến ngày 23-3-1972, LLVT tỉnh lại cùng với bộ đội đặc công của Quân khu 8, kết hợp với cơ sở nội tuyến, tấn công diệt gọn chi khu Trúc Giang, một cứ điểm mạnh của địch án ngữ trên liên tỉnh lộ 6A và tỉnh lộ 17, cách bến phà Rạch Miễu 3km.

   Đêm 5 rạng ngày 6-4-1972, theo kế hoạch chung của toàn khu 8, quân và dân khắp nơi trong tỉnh đồng loạt nổi dậy tiến công địch ở Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Đợt 1 chiến dịch kết thúc gần 2 tháng tiến công và nổi dậy, tuy chưa giành được thắng lợi to lớn, nhưng cũng đã thúc đẩy được phong trào nổi dậy của quần chúng. Để đẩy mạnh chiến dịch liên tục tấn công địch, Tỉnh ủy quyết định mở đợt tấn công thứ hai vào các điểm then chốt ở Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam.

   Lúc này tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi có lợi cho ta. Chủ tịch địch ở vùng 4 chiến thuật phải rút khỏi chiến trường Bên Tre. Trong khi đó, tỉnh thành lập trung đoàn chủ lực "Đồng khởi", ngoài ra còn được tăng cường thêm một trung đoàn của quân khu.

   Cuộc tấn công và nổi dậy Xuân – Hè 1972 của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi lớn. Ta đã tiêu diệt 1.051 tên địch, làm bị thương và bắt sống 6.687 tên, làm tan rã 13.844 tên, diệt 185 đồn bót, bức rút 162 đồn, giải phóng hoàn toàn các xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ, Phước Hiệp và 167 ấp với 16 vạn dân. LLVT đã tạo được bàn đạp vững chắc trên các địa bàn then chốt như Mỏ Cày, Giồng Trôm và một số vùng ven biển ở Thạnh Phú, Bình Đại.

   Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam cùng với chiến công suất sắc của quân và dân miền Bắc, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, cuối cùng buộc Chính phủ Mỹ phải ký hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" vào ngày 27-1-1973 tại Pari, mở ra thời kỳ đấu tranh mới.

   Nhưng với bản chất hiếu chiến và phản động, đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, vẫn tiếp tục thực hiện chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", ra sức giúp ngụy quyền và tay sai mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng, nhằm xóa bỏ cái gọi là "hình thái da báo".

   Ở Bến Tre, đúng vào giờ ngừng bắn có hiệu lực, Mỹ, ngụy đã tập trung lực lượng gồm 13 tiểu đoàn, tiến hành nhiều cuộc hành quân càn quét. Chỉ trong hơn 4 tháng, từ tháng 2 đến cuối tháng 6-1973, chúng đã lấn chiếm lại 64 ấp giải phóng, đóng thêm 119 đồn bót, ngoài ra chúng còn dồn sức bắt lính, đôn quân, phát triển đội quân tay sai lên hàng vạn tên.

   Tháng 7-1973, Hội nghị BCHTƯĐCS lần thứ 21, xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới: "...Dù phát triển theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, bất kể trong tình hình nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên... Nhiệm vụ đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm mới của địch, giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển lực lượng cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết, vừa cơ bản".

   Đầu quý 4-1973, Tỉnh ủy Bến Tre mở hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình và xác định nhiệm vụ của tỉnh trong giai đọan mới là: "Quán triệt xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tiến công, huy động phong trào toàn dân nổi dậy với sinh khí mới, đánh địch bằng ba mặt ở cả ba vùng...".

   Tính đến cuối năm 1974, ta đã đạt được kết quả: 33 ấp giải phóng hoàn toàn, 21 xã giải phóng về cơ bản.

   Giữa lúc tình hình Bến Tre cũng như tình hình chiến trường toàn miền Nam đang có những chuyển biến có lợi cho ta, thì ngày 30-9-1974, BCT họp, nhận định thời cơ chiến lược thuận lợi để hoàn toàn giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 - 1976.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền chỉ đạo các địa phương triển khai đợt hoạt động mùa khô 1974 - 1975.

   Chấp hành sự chỉ đạo trên, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định mở chiến dịch mùa khô từ ngày 9-12-1974, và kết thúc vào cuối tháng 1-1975. Kết quả nhân dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 4.950 tên địch, diệt 111 đồn bót, làm tan rã nhiều toán phòng vệ dân sự, mở thêm nhiều lõm giải phóng ở Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và Ba Tri...

   Chiến dịch đợt hai được mở tiếp vào thượng tuần tháng 3-1975, mà vùng tiến công trọng điểm là huyện Ba Tri và huyện Chợ Lách. Cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân Ba Tri diễn ra trong hơn 20 ngày, đã bức hàng và bức rút hơn 60 đồn bót. Ở Chợ Lách, được trung đoàn Đồng Tháp của quân khu 8 hỗ trợ, quân dân trong huyện đã tiêu diệt 13 trung đội dân vệ, bức hàng, bức rút 36 đồn bót, trong đó có phân chi khu, giải phóng hoàn toàn xã Tân Tiềng, 12 ấp của các xã Long Thới, Phú Mỹ, Phú Sơn... gồm trên một vạn dân.

   Phối hợp với hai huyện điểm, trong hơn một tháng tiến công và nổi dậy, quân dân tỉnh đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng trăm đồn bót, giải phóng hoàn toàn 3 xã, chuyển 80 xã do địch kiểm soát thành vùng tranh chấp.

   Ngày 25-3 đến ngày 31-3, BCT họp nhận định: thời cơ chiến lược tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa đánh vào sào huyệt của địch đã hoàn toàn chín mùi, ta cần có quyết tâm lớn hoàn thành trận quyết chiến chiến lược cuối cùng tốt nhất trong tháng 4-1975.

   Thực hiện quyết tâm của BCT, dưới sự chỉ đạo của TƯCMN, nhân dân Bến Tre đã dồn sức người, sức của cho trận quyết chiến cuối cùng. Hàng ngàn thanh niên lên đường nhập ngũ, hơn 200 đội du kích xã, ấp được củng cố, hàng vạn người được phiên chế thành những tiểu đoàn, đại đội, trung đội, được phân công bao vây 754 đồn bót và tháp canh, các phân chi khu, tất cả đều trong tư thế sẵn sàng vùng lên, khi có hiệu lệnh. Các đơn vị bộ đội chủ lực của tỉnh được lệnh chuyển quân về áp sát địa bàn quanh thị xã.

   Có thể nói trong những ngày cuối tháng 4-1975, khắp Bến Tre như sống lại không khí sôi động của những ngày Đồng khởi 15 năm về trước.

   Trong khi đó, kẻ địch cũng cảm nhận được ngày tàn của chúng đã tới gần, nên rất hoang mang. Chỉ trong 10 ngày cuối tháng 4, đã có hơn 7.000 binh lính địch đào ngũ, hàng trăm tên trưởng, phó đồn và trên 400 sĩ quan ngụy móc nối liên lạc với ta, xin làm nội ứng cho cách mạng, trong đó có những tên nắm nhiều chức vụ quan trọng.

   Vào mấy ngày cuối tháng tư, mọi công việc chuẩn bị đã hoàn tất, chỉ còn chờ hiệu lệnh nổ súng, thì kế hoạch tấn công thị xã bị lộ. Do đó, ngày 27-4, Ban chỉ đạo chiến dịch quyết định chuyển sang phương án mới, tấn công chi khu Lương Quới (Giồng Trôm), bố trí diệt viện ở Đồng Gò, cắt đứt đường giao thông 26, tạo điều kiện để đánh chiếm thị xã khi có thời cơ.

   Đêm 29-4, bộ đội chủ lực phối hợp với các đơn vị đặc công tấn công chi khu Lương Quới và 3 đồn nằm trên trục lộ 26. Được tin báo, sáng 30-4, bọn chỉ huy ở tiểu khu lập tức tung 5 tiểu đoàn bảo an xuống giải tỏa, chúng đã bị LLVT của ta tiêu diệt một phần lớn. Trên đường tiến về thị xã, LLVT đã hỗ trợ quần chúng ở các xã Lương Quới, Châu Thành, Bình Hòa, Phong Mỹ và các xã dọc theo lộ 26, từ Giồng Trôm đến kênh Chẹt Sậy, nổi dậy giành quyền làm chủ và nhanh chóng tiếp cận thị xã.

   Chiều ngày 30-4-1975, theo mệnh lệnh của Ban chỉ huy chiến dịch, các LLVT phối hợp với lực lượng khởi nghĩa của quần chúng, tiến công hầu hết các đồn bót, phân chi khu và căn cứ quan trọng ở các huyện, và hàng loạt đồn bót ven thị xã. Lực lượng chính trị, binh vận cũng được triển khai vào nội ô thị xã, thị trấn, thúc ép địch đầu hàng.

   Trong tình thế tuyệt vọng, vào 18 giờ ngày 30-4, tên đại tá tỉnh trưởng Phạm Chí Kim chạy trốn (sau đó hắn đã bị bắt). Đến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng, triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu quyên bố đầu hàng.

   Đúng 4 giờ sáng ngày 1-5, bộ đội ta chiếm lĩnh sân bay Tân Sơn Nhất. Cùng lúc, hàng ngàn quần chúng võ trang từ các ngã kéo vào thị xã cùng với các đội an ninh hạ cờ ngụy, treo cờ cách mạng, xông vào chiếm dinh tỉnh trưởng, và các cơ quan khác. Thị xã Bến Tre được hoàn toàn giải phóng.

   Trong khi đó, ở các thị trấn Mỏ Cày, Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Thạnh Phú, Châu Thành, Chợ Lách và cả một vùng nông thôn rộng lớn, lực lượng du kích cùng hàng chục vạn quần chúng xông lên tiến vào chiếm các phân chi khu, công sở, đồn bót, thực hiện trọn vẹn khẩu hiệu "huyện giải phóng huyện", "xã giải phóng xã".

   Như vậy, từ chiều tối ngày 30-4-1975 đến sáng ngày 1-5-1975, toàn tỉnh Bến Tre đã được hoàn toàn giải phóng, trật tự trị an nhanh chóng được thiết lập. Cuộc sống độc lập tự do đã trở về với nhân dân. Cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân Bến Tre đã giành được thắng lợi giòn giã và trọn vẹn. Bộ máy ngụy quân, ngụy quyền gồm 33.444 tên, hơn 103 chi khu và phân chi khu với gần 800 đồn bót bị sụp đổ chỉ trong vòng 2 ngày.

   Thắng lợi cuối cùng của nhân dân Bến Tre đã góp phần cùng nhân dân cả nước quét sạch quân xâm lược Mỹ ra khỏi bờ cõi, đánh sập ngụy quyền Sài Gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất.

Chú thích:

(1) Huyện Mỏ Cày chia thành Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam; huyện Châu Thành chia thành Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.

Đã ban hành
 Lê Văn Vàng Lê Văn Vàng


<p style="text-align: justify; text-indent: 37.4pt;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Lê Văn Vàng
(tức Ba B</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">ứng</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">) sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân
Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trú quán xã An Quy, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến
Tre.</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là Đảng
viên, thượng úy, chính trị viên huyện đội Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p style="text-align: justify; text-indent: 37.4pt;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="text-align: justify; text-indent: 37.4pt;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Lê Văn Vàng trưởng thành
từ du kích lên cán bộ huyện đội. Anh và đơn vị đã diệt, làm bị thương hàng ngàn
tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Riêng anh diệt, làm bị
thương hàng trăm tên. Tháng 1 năm 1969, Lê Văn Vàng nhận nhiệm vụ chỉ huy tiểu
đoàn hành quân từ Mỏ Cày xuống Ba Tri. Đơn vị 2 lần chặn đánh địch quyết liệt,
bảo vệ được lực lượng ta đến đích an toàn. Lần thứ nhất ngày 16 tháng 1, đơn vị
đến An Khánh (Châu Thành), địch cho 2 tiểu đoàn Mỹ đánh vào đội hình trú của
quân ta, chúng sử dụng 20 đợt máy bay ném bom yểm trợ cho bộ binh mở 10 đợt tấn
công. Lê Văn Vàng động viên anh em chiến đấu đẩy lùi tất cả các đợt tiến công
của chúng, diệt hơn 100 tên Mỹ. Lần thứ hai, ngày 20 tháng 1, đơn vị vừa hành
quân đến Châu Bình (Giồng Trôm), gặp 1 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụy, địch
liên tiếp mở 12 đợt tấn công vào lực lượng ta, có 5 lần chọc thủng trận địa. Lê
Văn Vàng chỉ huy đơn vị chiến đấu đánh trả quyết liệt, đơn vị diệt và làm bị
thương 300 tên (có 200 tên Mỹ), sau đó tiếp tục chỉ huy đơn vị đến đích
đúng<span>&nbsp;</span>thời gian quy định.<o:p /></span></p>

<p style="text-align: justify; text-indent: 37.4pt;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công
giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ, 26
bằng và giấy khen. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Văn Vàng được Nhà nước tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Lê Văn Vàng (tức Ba Bứng) sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trú quán xã An Quy, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là Đảng viên, thượng úy, chính trị viên huyện đội Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Image
Chân dung Anh hùng Lê Văn Vàng

Lê Văn Vàng trưởng thành từ du kích lên cán bộ huyện đội. Anh và đơn vị đã diệt, làm bị thương hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Riêng anh diệt, làm bị thương hàng trăm tên. Tháng 1 năm 1969, Lê Văn Vàng nhận nhiệm vụ chỉ huy tiểu đoàn hành quân từ Mỏ Cày xuống Ba Tri. Đơn vị 2 lần chặn đánh địch quyết liệt, bảo vệ được lực lượng ta đến đích an toàn. Lần thứ nhất ngày 16 tháng 1, đơn vị đến An Khánh (Châu Thành), địch cho 2 tiểu đoàn Mỹ đánh vào đội hình trú của quân ta, chúng sử dụng 20 đợt máy bay ném bom yểm trợ cho bộ binh mở 10 đợt tấn công. Lê Văn Vàng động viên anh em chiến đấu đẩy lùi tất cả các đợt tiến công của chúng, diệt hơn 100 tên Mỹ. Lần thứ hai, ngày 20 tháng 1, đơn vị vừa hành quân đến Châu Bình (Giồng Trôm), gặp 1 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn ngụy, địch liên tiếp mở 12 đợt tấn công vào lực lượng ta, có 5 lần chọc thủng trận địa. Lê Văn Vàng chỉ huy đơn vị chiến đấu đánh trả quyết liệt, đơn vị diệt và làm bị thương 300 tên (có 200 tên Mỹ), sau đó tiếp tục chỉ huy đơn vị đến đích đúng thời gian quy định.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 4 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Dũng sĩ, 26 bằng và giấy khen. Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Văn Vàng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)
&nbsp;

Image
Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
    Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8 –1945, phong trào học sinh sinh viên yêu nước rầm rộ từ Bắc chí Nam, Huỳnh Tấn Phát lúc bấy giờ là kiến trúc sư ra trường đã lâu, có văn phòng riêng, làm ăn phát đạt. Thế nhưng, chí hướng của người kiến trúc sư trẻ ấy không vì mục đích làm giàu, nên văn phòng ấy chính là nơi lui tới, hội họp sinh viên, trí thức yêu nước Sài Gòn. Trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương (AGEI) vào những năm 40, trước CMT8 – 1945, tên tuổi của Huỳnh Tấn Phát nổi bật lên trong đám trí thức đàn anh. Tờ tuần báo Thanh niên (1944) do ông làm chủ nhiệm trở thành cơ quan ngôn luận của giới trí thức trẻ. Được kết nạp vào ĐCS tháng 3-1945, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó giám đốc Sở Thông tin báo chí của UBND Nam Bộ. Cũng từ đây, ông tạm giã từ chuyên môn, dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

   Khi quân Pháp chiếm lại Sài Gòn, ông bị chúng bắt và bị kết án tù hai năm. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở nội thành đến năm 1949 mới ra chiến khu, và được cử làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, rồi ủy viên UBKCHC đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động ở nội thành. Đầu năm 1959, ra vùng giải phóng, được cử làm ủy viên Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, phụ trách công tác vận động trí thức, tư sản và công tác Mặc trận. Cuối 1960, Đại hội MTDTGPMNVN cử làm Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN. Tháng 6-1969, được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ CMLTCHMNNVN.

   Năm 1975, sau ngày giải phóng, đã giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCHVN, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII, VIII. Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

   Trên đây là những nét lớn về tiểu sử cùng những hoạt động cách mạng của ông. Nhưng điều đáng nói hơn không phải là ở chỗ chức vụ, danh vọng, vị trí xã hội đã đạt được, mà là tấm lòng, nhân cách, đức độ, tác phong sống của một người trí thức chân chính. Người ta kính trọng ông, một kiến trúc sư, một trí thức lớn sẵn sàng vứt bỏ mọi vinh hoa, phú quý của xã hội thượng lưu, lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn của nhân dân vì độc lập, tự do. Những người từng sống gắn bó với ông từ cán bộ cấp cao đến người bảo vệ, liên lạc, yêu quý, mến phục ông với cái tên thân thương Tám Chí. Nhà văn Thép Mới, trong bài viết sau khi ông qua đời, có nhận xét: "Phong thái anh không lẫn với ai khác được. Anh đã sống nhiều năm ở vùng Tam Giác Sắt không khác gì các chiến sĩ, đồng bào. Lính trẻ Củ Chi chịu anh tình thương lính tráng. Cô bác Phú Hòa Đông, Nhuận Đức quý anh như bạn, như người cao tuổi trong gia đình. Ai cũng trọng anh, nhưng không ai coi anh là nhân sĩ. Anh là người vận động cụ thể, tổ chức cụ thể, chăm lo thể hiện những chủ trương cụ thể về công tác Mặt trận và vận động trí thức ở thành. Anh đã là anh rồi, nên không nghĩ đến cá nhân nhiều… Cái cách anh quan hệ, ứng xử với các bạn trí thức, đến với cách mạng cũng có những nét riêng. Anh không hùng biện, không sắc cạnh, không bắt ai phục mình. Ánh sáng là ánh sáng chung của cuộc đời. Tự anh không phát sáng. Nhưng anh biết làm cho "than hồng nhen thành lửa ngọn". Anh thuyết phục họ bằng chính con người anh, một con người Sài Gòn, lẽ ra có thể sống ít nhiều vương giả lắm chứ, nếu muốn. Vậy mà, anh dấn thân vào trường kỳ kháng chiến, dấn thân đến cùng, sống cách mạng một cách chân thật, tự nhiên, trong trẻo". (Báo Nhân dân, số 14-10-1989). Còn giáo sư Nguyễn Văn Chí, một trí thức lớn của Sài Gòn, đã từng sống với anh ở khu, có nhận xét: "Huỳnh Tấn Phát sống ở rừng, làm cách mạng trông vẫn thanh niên như hồi cắm trại ở suối Lồ Ồ".

   Sinh năm 1913 trong một gia đình viên chức nhỏ ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Tấn Phát học ở Sài Gòn, rồi Hà Nội. Nhưng, nơi ông gắn bó sâu sắc và lâu dài nhất vẫn là thành phố Sài Gòn và vùng đất Nam Bộ. So với trí thức và nghệ sĩ đã đến với cách mạng và kháng chiến, cống hiến tài năng chuyên môn hay nghệ thuật, hoặc đánh giặc, Huỳnh Tấn Phát đã đóng góp bằng cách riêng của mình.

   Ông đã dành gần như trọn đời cho những hoạt động vận động quần chúng trực tiếp, làm công tác phong trào, từ khi chủ trương tờ Thanh niên cho đến cuối đời, làm Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông sống chân tình, cởi mở, bao dung, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, trăn trở của từng người, dù người đó là nhân vật có tên tuổi, hay là người bảo vệ bình thường của cơ quan. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên mà Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tặng ông Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết.

Đã ban hành
Đình Tân NgãiĐình Tân Ngãi
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

dinh-tan-ngai.png 

Đình​ ​Tân Ngãi

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/​02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua Cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 khoảng 4km, tiếp tục rẽ phải khoảng 3km nữa là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Đình Tân Ngãi được xây dựng năm 1850 (năm Canh Tý) do nhân dân trong vùng đóng góp công sức và tiền bạc. Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, sắc thần được phong dưới thời Tự Đức ngũ niên (1852).

Năm 1945, được sự hỗ trợ của Ban Khánh tiết đình Tân Ngãi, Đảng và chính quyền địa phương tổ chức cuộc mittinh có hàng trăm quần chúng nhân dân tham dự. Tại ngôi đình này, Mặt trận còn phát động tuần lễ vàng giúp cách mạng và sau một tuần phát động, nhân dân đã đóng góp được 26 lượng vàng, 16 bộ lư đồng, 30 mâm thau.

Từ năm 1949-1951, giặc Pháp đánh chiếm huyện Sóc Sãi và huyện Châu Thành, Ủy ban hành chánh kháng chiến của 2 huyện này chuyển qua đóng ở đình Tân Ngãi đứng chân hoạt động. Đầu năm 1960, ông Bùi Văn Sỹ Phong - Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày về mở nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cán bộ lãnh đạo các xã như Thạnh Ngãi, Phú Sơn, Thanh Tân, Tân Thành Bình, Tân Phú Tây tại ngôi đình này.

Từ năm 1962-1963, chính quyền cách mạng lấy ngôi đình này làm nơi tiếp nhận thương binh, bệnh binh để điều dưỡng, điều trị và có đào hầm bí mật xung quanh đình để bảo toàn tính mạng cho cán bộ, thương binh.

Từ năm 1960-1965, đình Tân Ngãi là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, là địa điểm để tổ chức hội họp trong xã và các xã lân cận. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, chính quyền cách mạng lấy địa điểm đình để tập hợp lực lượng, có khoảng 3 tiểu đoàn (ở khu vực Bắc Mỏ Cày) để chuẩn bị tiến quân về giải phóng thị xã Bến Tre.

Từ năm 1970-1975, bộ đội địa phương quân Mỏ Cày do đồng chí Huỳnh Văn Be (Phương Hùng) chỉ huy và đồng chí Lý Hùng Chiến - Bí thư Huyện uỷ Mỏ Cày đóng tại đình Tân Ngãi, đứng chân hoạt động.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer