Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Điều kiện Tự nhiên
Sông Hàm Luông (18/01/2007)
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen. 
 
Sông Ba Lai (18/01/2007)
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi... 
 
Sông Mỹ Tho (18/01/2007)
Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng.  
 
Vấn đề mặn (18/01/2007)
Trong thủy văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.Mặn biến đổi theo thời gianBến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tôn giáoTôn giáo
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Đạo Nho ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của người dân vùng ba cù lao này từ nửa đầu thế kỷ XX về trước, nhưng xét về mặt hành đạo cũng như hệ thống giáo quyền, đạo Nho hoàn toàn không giống như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa. Đây là đạo thờ ông bà, một thứ tín ngưỡng đã có gốc rễ sâu sắc trong quảng đại quần chúng từ xa xưa, vừa mang ý nghĩa luân lý, vừa là sự biểu rõ tình cảm về huyết thống được thể hiện trong môi trường gia đình, gia tộc, không mang tính chất thần thánh hóa, không có giáo điều, giáo lý, cũng không có giáo chủ, không cần người thuyết giảng để làm cái gạch nối giữa đạo và đời. Từ “đạo” ở đây theo cách hiểu của dân gian là một tập tục hàm chứa lòng biết ơn, nghĩa sinh thành, lòng hiếu thảo với ông bà, tổ tiên, sự ý thức về nguồn gốc của mình.

Ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống mang theo từ mảnh đất cội nguồn, những lưu dân người Việt trên bước đường di chuyển và định cư ở vùng đất mới, đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân bản địa. Hầu như các tôn giáo phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở Bến Tre từ đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, đạo Dừa... xét về mặt ảnh hưởng cũng như số lượng tín đồ, thì đáng chú ý nhất là 3 tôn giáo lớn: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Cao Đài.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành
Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.

Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy. Ngày 8-4-1975, từ căn cứ không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích. Khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè. Ngày 16-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc máy bay A37 lấy được của địch, tập huấn cho phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng lực lượng không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A37, máy bay F5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng; đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A37 và trung đoàn tiêm kích F5 - trung đoàn duy nhất của không quân Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

Ngày 20-12-1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1960 - 1961 )Thế kỷ 20 ( 1960 - 1961 )

1960

1 tháng 1, Hội nghị Tỉnh ủy Bến Tre tại xã Minh Ðức, huyện Mỏ Cày. Ðồng chí Nguyễn Thị Ðịnh (Phó Bí thư Tỉnh ủy) truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 của Trung ương Ðảng và chủ trương của Khu ủy 8. Hội nghị quyết định phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong toàn tỉnh, bắt đầu từ ngày 17-1-1960.

2 tháng 1, Hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày vào ban đêm để truyền đạt Nghị quyết 15 của BCHTƯÐCS và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch.

17 tháng 1, Cuộc Ðồng khởi ở Bến Tre tạo ra một thế mới trên toàn chiến trường, làm nảy sinh hình thức đấu tranh "3 mũi giáp công" (chính trị - quân sự - binh vận), sử dụng thế hợp pháp linh hoạt. Từ "Ðồng khởi" ra đời từ đây và kích thích phong trào nổi dậy khắp nơi ở miền Nam.

26 tháng 1, Trận tấn công bất ngờ Tua Hai (Tây Ninh) của LLVT giải phóng miền Ðông, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 32, Sư đoàn 13 ngụy, đã diệt và bắt sống nhiều tên địch, thu trên 1.200 súng các loại. Ðây là phát pháo hiệu đầu tiên của phong trào nổi dậy ở miền Ðông Nam Bộ.

22 tháng 2, Trước cao trào Ðồng khởi nổ ra thắng lợi ở 3 xã Ðịnh Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày), Mỹ, Diệm đã huy động 12.000 quân chủ lực, có 15 tàu chiến và máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc Ðồng Khởi, nhằm tiên diệt LLVT cách mạng còn non trẻ, lập lại trật tự cũ.

27 tháng 2, Ðể chống lại cuộc đàn áp của 12.000 quân chủ lực của địch đang bao vây càn quét 3 xã Ðịnh Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh, hàng ngàn dân chúng đi trên 200 chiếc xuống, gồm các chị, các mẹ bế con cái, mang cả người bị thương, đội khăn tang “tản cư” ra thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét, khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

11 tháng 3, Trước áp lực đấu tranh của 5.000 phụ nữ bồng con bế cái, kéo vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách buộc quận trưởng phải liên hệ với tỉnh trưởng Bến Tre ra lệnh chấm dứt cuộc càn quét, khủng bố của quân đội Sài Gòn, đến ngày thứ 12, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân phải ra lệnh rút quân khỏi Mỏ Cày.

15 tháng 3, Xuất hiện “đội quân tóc dài" trong cao trào Ðồng khởi ở Bến Tre với hơn 5.000 phụ nữ đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh.

Tháng 3, Báo Hòa bình Thống nhất (Bến Tre) đổi tên thành báo Chiến thắng.

Sau Ðồng khởi (17-1-1960), Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định nhập hai huyện Sóc Sãi và Châu Thành, lập thành huyện Châu Thành (mới).

Tháng 9, Cuộc Ðồng khởi đợt II, Tỉnh ủy Bến Tre chọn huyện Giồng Trôm làm huyện điểm.

11 tháng 11, Cuộc đảo chính lật đổ Ngô Ðình Diệm do đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Cuộc đảo chính đã kết thúc thất bại tối ngày 12-11-1960.

5 tháng 12, Thành lập quận mới lấy tên là quận Hương Mỹ, gồm 9 xã của quận Mỏ Cày trước đó và 4 xã của quận Thạnh Phú trước đó hợp lại (Nghị định số 1192/NV ngày 5-12-1960 của Tổng thống VNCH).

20 tháng 12, Tại vùng giải phóng tỉnh Tây Ninh, Ðại hội thành lập MTDTGPMNVN khai mạc. Ðại hội đã thông qua tuyên ngôn và cương lĩnh hành động 10 điểm.

28 tháng 12, 400 đại biểu nhân dân họp đại hội tại Mỹ Chánh, huyện Ba Tri đã bầu ra Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre.

Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre ra mắt đồng bào tại ấp Bến Bàu, xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri.

1961

15 tháng 5, Chính phủ Kennedy thông qua kế hoạch thực hiện bước 2 chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, bình định miền Nam trong 18 tháng. Công thức của chiến lược này là: quân ngụy + vũ khí Mỹ, đặt dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, mà biện pháp cơ bản là "ấp chiến lược".

Công bố "kế hoạch Staley - Taylor" lập 17.000 ấp chiến lược, dùng chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận để bình định miền Nam trong vòng 18 tháng.

tháng 5, Bộ Quốc phòng nước VNDCCH ra quyết định thành lập các quân khu và Bộ chỉ huy quân sự miền Nam. Mật danh đầu não của Nam Bộ là R; các quân khu là T; các tỉnh là U.

Tháng 6, Chiếc thuyền máy do Ðặng Bá Tiên (tức Sáu Giáo) và Nguyễn Văn Kiệm, xuất phát từ Cồn Lợi thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, vượt biển ra miền Bắc. Sau 5 ngày đêm vật lộn với sóng gió, né tránh các tuyến kiểm soát của địch, chiếc thuyền chở 6 người đã cập bãi biển Hà Tĩnh. Hai ngày sau khi liên lạc được với Trung ương, đoàn đại biểu của tỉnh Bến Tre đã đến Hà Nội an toàn. Ðây là chuyến vượt biển lần thứ hai xuất phát từ Bến Tre, mở đầu cho việc thiết lập “đường Hồ Chí Minh trên biển".

Tháng 7, Ngô Ðình Diệm bắt đầu lập “ấp chiến lược” thí điểm ở một số tỉnh ở Nam Bộ và Trung Bộ.

15 tháng 10, Ngô Ðình Diệm công bố "tình trạng khẩn cấp trên toàn bộ miền Nam" trước cao trào đấu tranh của nhân dân ngày một dâng cao. Ngô Ðình Diệm yêu cầu Mỹ đưa quân chiến đấu sang miền Nam.

Tháng 10, Xuất bản nguyệt san Văn nghệ Bến Tre, in typô, số lượng phát hành 3.000 bản, mở đầu cho một thời kỳ phát triển văn nghệ mới của tỉnh.

Đã ban hành
Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)
 

Image
Ca Văn Thỉnh (1902-1987)
    Sinh ngày 21-3-1902, trong một gia đình nông dân ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ca Văn Thỉnh thuở nhỏ học trường tiểu học ở tỉnh. Nhờ học giỏi, ông được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn, sau đó học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Thời sinh viên, Ca Văn Thỉnh cùng với bạn đồng học như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở Hà Nội. Vở cải lương về Nguyễn Trãi lấy tên là Bầu nhiệt huyết của ông đã bị thực dân Pháp cấm diễn.

   Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Ca Văn Thỉnh được bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Bến Tre. Tháng 8-1945, ông tham gia cướp chính quyền ở tỉnh. Năm 1946, là thành viên phái đoàn khu 8 vượt biển raTrung ương báo cáo tình hình, xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ và được mời nhận chức vụ Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ Kháng chiến.

  Năm 1952, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, được phân công làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, kiêm ủy viên Ủy ban Liên Việt Nam Bộ. Sau hiệp định Genève (1954), tập kết ra Bắc, đã kinh qua các công tác: phụ trách vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao, Đại sứ ở Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

  Trong suốt mấy chục năm trời từ sau CMT8-1945, Ca Văn Thỉnh hoạt động liên tục cho đến khi nghỉ hưu và đã có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt chính trị, xã hội, giáo dục. Do đó, được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

   Cống hiến nổi bật nhất của Ca Văn Thỉnh là đã góp một phần có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa và văn học Nam Bộ, khơi dậy những giá trị chân chính trong truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của mảnh đất phương Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu với cả nước những nhà văn hóa, nhà thơ yêu nước như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông trên một quan điểm dân tộc, tiến bộ.

   Với bút hiệu Ngạc Xuyên (có nghĩa là Rạch Cá Sấu - một địa danh của quê hương), trong KCCP, ông bắt đầu giới thiệu văn thơ yêu nước của các sĩ phu Nam Bộ, trên các báo chí cách mạng. Tập kết ra Bắc, ông vẫn cần mẫn nghiên cứu, dịch, giới thiệu phần thơ văn này trên các báo Văn nghệ, trên Tạp chí Văn học…Ông cùng với Bảo Định Giang biên soạn cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Thơ văn Nguyễn Văn Thông. Sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng, tuy tuổi già sức yếu, ông đã để công biên soạn cuốn Hào khí Đồng Nai, một tập sách phân tích, đánh giá những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ.

   Công bình mà nói, Ca Văn Thỉnh để lại trước tác không nhiều so với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác, nhưng những cuốn sách, bài báo của ông từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời là một mảng đóng góp có ý nghĩa, trong việc nghiên cứu văn hóa của vùng đất mới của Tổ quốc. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu.

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Lý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến TreLý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến Tre
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành  phố Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận rằng, hệ thống các khách sạn nằm bên bờ sông Bến Tre hiền hòa, thơ mộng và trên con đường Hùng Vương này thật lý tưởng. Lướt qua hệ thống khách sạn khá tiêu biểu nằm bên hai bờ sông Bến Tre trên đường Hùng Vương, để du khách có thể chọn lựa khi đến lưu trú tại xứ dừa Bến Tre như:

Khách sạn Việt Úc: Số 144, Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại (075) 3511888. Nằm ở vị trí vô cùng lý tưởng và tuyệt đẹp ngay cạnh Trung tâm chợ Phường 3, gần trung tâm thương mại phường 2 và khu mua sắm chợ đêm, bên cạnh Bảo tàng tỉnh Bến Tre…, nên rất thuận lợi trong việc tham quan, mua sắm. Khách sạn mới được xây dựng tương đương chuẩn 3 sao, với 74 phòng tiện nghi theo phong cách châu Âu gồm các loại phòng: cao cấp (superior), sang trọng (deluxe), phòng đáp ứng nhu cầu (suite) và phòng thấp hơn (Junior) nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu lưu trú của khách. Khách sạn Việt Úc sẽ chính thức khai trương và đưa vào hoạt động vào ngày 15/6/2012. Những tầng trên của khách sạn, từ những phòng nghỉ, du khách có thể vừa ngắm nhìn sông Bến Tre, vừa có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Bến Tre. Trong khách sạn còn có 02 nhà hàng, món ăn phục vụ theo phong cách Nam Bộ lẫn Âu và Á. Phòng hội nghị sang trọng với sức chứa lên đến 700 khách. Ngoài ra, còn có các dịch vụ khác như: Cà phê VIP với các đêm nhạc đặc sắc diễn ra hàng tuần, quầy bar ngoài trời (sunny bar) với các loại cocktail mang đặc trưng thương hiệu Việt Úc, mới lạ với karaoke mang phong cách Ả Rập, thư giãn chăm sóc sức khỏe với dịch vụ spa, massage, bồn tắm trị liệu, …

Khách sạn Hùng Vương: Số 148 – 166, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3822408. Là khách sạn ra đời tương đối sớm tại thành phố Bến Tre, đến nay vẫn là một trong những địa chỉ quen thuộc cho nhiều du khách khi về Bến Tre lưu trú. Với trên 38 phòng, đầy đủ các thiết bị thiết yếu, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, thân thiện. Nằm tại vị trí thuận lợi cạnh bên là Bảo Tàng tỉnh. Tại ngôi nhà Bảo Tàng từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Trước khách sạn là bến du thuyền để du khách có thể chọn lựa đến các điểm đến du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre.

Khách sạn Hàm Luông: Số 200C, Hùng Vương, Phường 5, thành phố Bến Tre; điện thoại: (0753) 3 560 560. Đây là khách sạn đầu tiên của Bến Tre đạt chuẩn 3 sao, ngoài dịch vụ phòng Hàm Luông còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác cho khách đến đây lưu trú như: dịch vụ massage, karaoke, hồ bơi, … Đặt biệt, vào buổi sáng du khách có thể thưởng thức điểm tâm buffet với nhiều món ăn phong phú. Đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp. Khách sạn Hàm Luông có trên 66 phòng, với các loại phòng:  phòng chuẩn (standand), cao cấp (superior), deluxe (sang trọng) và nhiều phòng đáp ứng nhu cầu (suite)…, nên du khách sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra tầng 5 của khách sạn còn có quầy café sân thượng, không khí mát mẻ, truy cập được wifi, đặc biệt hơn du khách có thể vừa thưởng thức được các loại thức uống vừa có thể ngắm toàn cảnh sông Bến Tre.

Khách sạn Đại An: Số D7, Hùng Vương, phường 7, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3512050. Đại An là khách sạn đạt chuẩn 1 sao, hệ thống phòng được thiết kế trang nhã, giá cả hợp lý, nên phù hợp với mọi đối tượng khách, bên cạnh đó du khách đến đây còn có thể thư giãn và ngắm cảnh sông Bến Tre tại quầy café phía trước khách sạn.

Khách sạn Oasis: Địa chỉ số 151C, Mỹ An C, Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 2467799. Khách sạn Oasis nằm bên phía bờ nam sông Bến Tre, đạt chuẩn 1 sao và theo tâm sự của người quản lý khách sạn sẽ luôn đi đầu với tiêu chí “Ốc đảo hòa bình và thư giãn”, không gian nơi đây rất thoáng mát, vừa mang dáng vấp thành thị và nông thôn. Tất cả các phòng đều được trang bị đầy đủ tiện nghi, an toàn với hệ thống máy nước nóng sử dụng bằng năng lượng mặt trời, hồ bơi…. Khách sạn còn tổ chức phục vụ bữa ăn theo yêu cầu của khách. Các loại phòng gồm có: phòng đơn, phòng đôi, phòng dành cho gia đình.

Phải nhìn nhận rằng, lợi thế của các khách sạn ven sông Bến Tre lấy yếu tố hướng ra sông làm chủ đạo, nên rất tuyệt. Đến Bến Tre nếu chọn lưu trú tại các khách sạn ven sông, sẽ thuận tiện và được chiêm ngưỡng “Tượng đài Chiến thắng trên sông” được xây dựng tại công viên Hùng Vương, nhằm tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”. Hay thả bộ, ngắm cảnh con đường Hùng Vương nối dài đến tận Bến phà Hàm Luông cũ. Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, để được hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, để rồi mọi người sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Ở vị thế này, về đêm du khách có thể chọn ngắm cảnh ở cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, là hai cây cầu đẹp nằm trên đường Hùng Vương. Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông hay ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa, kết hợp với mỹ quan của đô thị thành phố Bến Tre; những ánh đèn đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông và xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông…,  tất cả cùng đan xen tỏa sắc màu ánh sáng dạ trên mặt sông và du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp thơ mộng, hiền hòa, yên ả, thanh bình của thành phố Bến Tre. Thú vị nhất là thỉnh thoảng làn gió nhè nhẹ thoảng qua, làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quí khách. Những hình ảnh thân thương đáng yêu ấy cùng hòa quyện vào nhau, tạo nên những hình ảnh đẹp làm xao động lòng người, để rồi mọi người nhớ mãi đến sông nước xứ dừa du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

 

Nhà khách Bến Tre

Ngoài hệ thống các khách sạn ven sông Bến Tre, còn rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ tiêu biểu khác cũng rất lý tưởng ở trung tâm và vùng ven thành phố Bến Tre, để du khách có thể chọn làm điểm nghỉ qua đêm như: Nhà khách Bến Tre nằm tại nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi trên đường  Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, hay Khách sạn Đồng Khởi (nằm bên bờ hồ Trúc Giang); Khách sạn Bến Tre nằm đối diện công viên Tượng đài Đồng Khởi; Khách sạn sân vườn Sao Mai (đạt chuẩn 1 sao) tại số 106C, Bình Thành, Bình Phú, thành phố Bến Tre; Khách sạn Hoa Dừa số 323/1, ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre, phía sau Trung tâm bến xe Bến Tre ….  Những cơ sở lưu trú này có nhiều loại phòng nghỉ và đầy đủ tiện nghi, có dịch vụ ăn, uống, quà lưu niệm, đặc sản xứ dừa.…, và cũng rất thuận tiện cho du khách đón các tuyến xe buýt đến các điểm du lịch tại ở các huyện của tỉnh Bến Tre. Và còn nhiều cơ sở lưu trú khác cũng nằm ở vị trí trung tâm và ngoại ô thành phố Bến Tre rất đẹp, thuận lợi, đảm bảo an toàn cho du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Bến TreBến Tre
 

Hạt (arrondissement) lập năm 1892, thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm cù lao Bảo (11 tổng, 99 làng) và cù lao Minh (10 tổng,83 làng).

Thị xã Bến Tre

Thị xã, tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên, có diện tích 6.575 ha, gồm 9 phường nội ô mang số từ 1 đến 8 và 6 xã ngoại ô: Sơn Đông, Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh, Bình Phú và Phú Hưng.

Phía đông và đông bắc giáp huyện Châu Thành, phía đông và đông nam giáp huyện Giồng Trôm, phía tây và tây nam giáp sông Hàm Luông.

Nằm ở vị trí gần như trung tâm của tỉnh, với hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận lợi, có đường ô tô nối với Thành Phố Hồ Chí Minh dài 86km, có đường liên tỉnh nối với Mỹ Tho và Trà Vinh, có đường các thị trấn, thị xã Bến Tre có đầy đủ những ưu thế để phát triển thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh.

Tỉnh Bến Tre

Ngày 1-1-1900, Toàn quyền Paul Doumer cho áp dụng trong toàn cõi Nam Kỳ nghị định ký ngày 20-12-1899 đổi các sở tham biện (inspection) thành tỉnh (province). Bến Tre được gọi là tỉnh bắt đầu từ đó, gồm có cù lao Bảo và cù lao Minh, với 21 tổng và 182 làng.

Năm 1930, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 20 tổng, 94 làng.

Tháng 8-1945, tỉnh Bến Tre có 4 quận (Châu Thành, Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú), 18 tổng, 94 làng.

Năm 1995, tỉnh Bến Tre có 8 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm thị xã Bến Tre và các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú), 7 thị trấn, 8 phường, 136 xã.

Sông Bến Tre

Sông chảy từ xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm (trung tâm cù lao Bảo) qua thị xã Bến Tre, đổ ra sông Hàm Luông, dài 30km. Đây là một trong những con đường thủy quan trọng của tỉnh Bến Tre, nối liền sông Hàm Luông với sông Mỹ Tho qua đoạn kênh Chẹt Sậy – An Hóa.

Bến Tre

Sở tham biện (inspection) lập ngày 4-12-1867 theo nghị định của Thống đốc Nam Kỳ De La Grandiere gồm vùng đất nằm trên cù lao Bảo lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Các sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến TreCác sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến Tre
Đồng Văn Cống
Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.
Lê Dũng
Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.
Nguyễn Xuân Ôn
Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày

Trung Tướng

Đồng Văn Cống

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Lê Dũng

Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Xuân Ôn

Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày.

Võ Viết Thanh

Xã Lương Phú, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Thạnh

Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại

Thiếu Tướng

Nguyễn Thị Định

Xã Lương Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Tạ Văn Khâm

Xã An Thạnh, Huyện Mỏ Cày.

Huỳnh Xuân Quang

Xã Mỹ Hoà, Huyện Ba Tri.

Trần Nhiên

Xã Châu Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Sĩ

Phường IV, Thị xã Bến Tre.

Vũ Khắc Sương

Xã Long Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Lê Phú Tươi

Xã An Thới, Huyện Mỏ Cày.

Trần Minh Tích

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Hữu Vị

Xã Châu Bình, Huyện Giồng Trôm.


Đã ban hành
Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công...
Tổng tiến công và nổi dậy theo phương châm “hai chân, ba mũi” trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân Bến Tre phải nỗ lực lớn, sử dụng mọi khả năng cho đòn tiến công tổng lực, trong đó lực lượng Đặc công là quả đấm quân sự quan trọng.

Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đặc công ở các huyện, thị xã được điều động cùng các phân đội Đặc công của tỉnh, đại đội Đặc công của Tiểu đoàn 516 và phân đội đánh phá giao thông bộ… hợp thành biên chế 2 đại đội Đặc công A và B.

Hai đại đội Đặc công gấp rút học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ. Sau đó được bổ sung thêm lực lượng Đặc công của các huyện để hình thành 4 bộ phận Đặc công không mang phiên hiệu, sẵn sàng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành của các hướng các mũi đồng loạt tiến công vào thị xã Bến Tre xuân Mậu Thân 1968.

HoangLam.jpg

Anh hùng LLVT Phan Bình Trung (Hoàng Lam)
hy sinh trong tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968.

Các bộ phận Đặc công được phân công làm mũi nhọn dẫn đầu bộ binh đánh địch. Mặc dù lực lượng Đặc công được phân công không đúng chức năng nghiệp vụ kỹ thuật tác chiến, nhưng với bản chất tiến công của binh chủng “đặc biệt tinh nhuệ” đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu trên tinh thần “quân lệnh như sơn”. Đội hình bộ đội Đặc công khi bước vào chiến dịch tiến công thị xã được bố trí cụ thể:

- Bộ phận 1 ở phía tả ngạn sông Bến Tre có 1 trung đội bảo vệ Ban chỉ huy thống nhất, 1 trung đội làm lực lượng dự bị và 1 trung đội được phân công tiến công sân bay Tân Thành.

- Bộ phận 2 theo cánh 2 tiến công vào nội ô từ hướng Bình Phú, Bình Nguyên.

- Bộ phận 3 theo cánh 3 từ hướng Hữu Định tiến công địch đóng dã ngoại ở khu Vườn Ươm, trận đại pháo sân bóng đá thị xã và hậu cứ Trung đoàn 10 ngụy.

- Bộ phận 4 vượt sông Bến Tre tiến công theo hướng cầu Cá Lóc và đường Nguyễn Huệ.

Riêng Đặc công thủy chia làm 2 bộ phận “ém quân” sẵn bên bờ hữu ngạn sông Bến Tre để yểm trợ và làm đầu cầu cho Tiểu đoàn 516 vượt sông tiến công làm chủ các mục tiêu quan trọng về quân sự, hành chánh, thương mại, trong đó dinh Tỉnh trưởng là mục tiêu chủ yếu.

Khi kết thúc giai đoạn “Pháo hỏa chuẩn bị” thì các bộ phận Đặc công thủy, Đặc công bộ đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quân sự và là những mũi nhọn mở đường cho lực lượng bộ binh các hướng các mũi tiến công địch ở thị xã.

Đêm 31-1-1968, tất cả các lực lượng trong đó có Đặc công từ điểm tập kết trên các hướng xuất phát hành quân, lặng lẽ bí mật tiếp cận thị xã, triển khai lực lượng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công. Trong khi đó, các tỉnh miền Trung, thành phố Huế và Sài Gòn – Gia Định tiến công trước nên địch kịp thời hủy lệnh “hưu chiến”. Ngụy quân, ngụy quyền Kiến Hòa có ý thức chủ động đối phó, cảnh giác bắn pháo sáng dọc theo sông Bến Tre, pháo binh của chúng bắn vào những nơi nghi ngờ ở vùng ven thị xã nhằm ngăn chặn hướng tiến quân của “đối phương”.

Đêm 1 rạng 2-2-1968 (tức đêm mùng 2 rạng mùng 3 Tết Mậu Thân) khi kết thúc pháo lệnh thì Đặc công thủy nhanh chóng lên bờ tiêu diệt các mục tiêu nhỏ lẻ bên hữu ngạn sông Bến Tre, chiếm giữ 2 đầu cầu của đoạn đường Hùng Vương để yểm trợ cho Tiểu đoàn 516 vượt sông. Cùng thời gian ấy bộ đội Đặc công trên các hướng các mũi thực hành tiến công mở đường cùng bộ binh đánh vào các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Cá Lóc, Vườn Ươm, trận địa pháo sân bóng đá thị xã, hậu cứ Trung đoàn 10, sân bay Tân Thành… . Ở mũi thứ yếu của hướng tiến công chủ yếu, bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam tiến công đánh chiếm bãi Quân xa (trại Đinh Tiên Hoàng), phá hủy 6 xe bọc thép bánh hơi, kềm chân địch để mũi chủ yếu và thứ yếu của Tiểu đoàn 516 phát triển đánh vào các mục tiêu quy định. Tiểu đoàn 41 Biệt động quân của ngụy bảo vệ dinh Tỉnh trưởng đã triển khai đội hình chống trả quyết liệt các mũi tiến công của ta. Đồng chí Hoàng Lam và Mười Thanh chỉ huy đơn vị kiên quyết xung phong đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực phòng thủ của chúng ở các dãy nhà dọc theo lộ Hùng Vương. Tiểu đoàn BB2 của ta từ hướng Bình Phú hành tiến vào nội ô, nhưng đánh chệch mục tiêu và không bắt tay được với mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516. Từ đó bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam và đại đội bộ binh thuộc mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516 quần nhau với lực lượng địch phòng thủ ở dinh Tỉnh trưởng và chiến đấu ngăn chặn Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 10 ngụy phản kích từ hướng Mỹ Hóa vào cứu nguy đồng bọn trong nội ô. Tương quan lực lượng lúc này có lợi cho địch nên đặc công và bộ binh của mũi thứ yếu bị thiệt hại nặng. Mặc dù mất sức chiến đấu, nhưng lực lượng còn lại của Đặc công thủy quyết chiến với địch, gây cho địch thiệt hại đáng kể. Số cán bộ chiến sĩ Đặc công thủy bị thương được dân công hỏa tuyến đưa về tuyến sau. Hoàng Lam – người con ưu tú của đất thép Giồng Trôm, một cán bộ trẻ gan dạ, thông minh và dũng cảm của binh chủng Đặc công đã anh dũng hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các mũi Đặc công bộ tiến công mở đường cùng bộ binh tiến đánh vào các mục tiêu quân sự trong nội ô thị xã và sân bay Tân Thành. Phân đội Đặc công ở hướng Tây-Bắc thị xã có nhiệm vụ tiến công sân bay do Chủ nhiệm binh chủng Hoàng Quốc Thanh trực tiếp chỉ huy kiên quyết nổ súng tiến công Tiểu đoàn 401 Bảo an, bọn chiến tranh tâm lý và Tiểu đoàn pháo binh ngụy, diệt 1 máy bay trinh sát L19, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm. Địch bị động lúng túng đối phó lúc đầu, nhưng chúng cũng kịp hoàn hồn và phản kích quyết liệt. Khi bộ binh và pháo binh của Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ can thiệp vào chiến trường Bến Tre thì phân đội Đặc công hướng Tây-Bắc cùng lực lượng vũ trang địa phương hoạt động tác chiến phục kích để tiêu hao sinh lực và làm chậm bước tiến của bộ binh Mỹ phản kích vào nội ô. Việc 1/3 quân số của Sư đoàn 9 Mỹ tham chiếm đã chứng tỏ mức độ chiến sự ở Bến Tre ác liệt chỉ đứng sau mặt trận Sài Gòn-Gia Định và Huế. Địch hình thành liên quân Việt – Mỹ phản kích vào nội ô thị xã Bến Tre từ 3 hướng Tân Thành, Mỹ Hóa, Phú Hưng. Ưu thế lúc này thuộc về lực lượng phản kích. Bom pháo của địch tăng cường hủy diệt các khu vực và mục tiêu ta đánh chiếm. Ban chỉ huy thống nhất ra lệnh đại bộ phận rút ra ngoại ô. Riêng các đơn vị Đặc công của tỉnh được củng cố gọn nhẹ cùng lực lượng Đặc công biệt động thị xã tích cực hoạt động đánh phá, ngăn chặn, kềm chân, làm giảm tốc độ phản kích của địch, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 516 và các đơn vị bạn hình thành trận địa phục kích đón đánh quân phản kích, làm thiệt hại nặng 2 Tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở phía nam cầu Cá Lóc và bắc cầu Gò Đàng. Một phân đội Đặc công thủy chiếm giữ cầu Cá Lóc theo mệnh lệnh của Tham mưu trưởng mặt trận, liên tục chiến đấu ngày đêm với địch, diệt nhiều tên và phá hủy 10 xe quân sự.

Đối với lực lượng Đặc công các huyện cũng có nỗ lực lớn trong xây dựng và tham gia chiến đấu. Sau khi được điều phần lớn cán bộ chiến sĩ đặc công về nhận nhiệm vụ ở tỉnh, còn lại số cốt cán từ 3 đến 5 đồng chí ở mỗi huyện đã phát triển được 1 đến 2 tiểu đội, khẩn trương huấn luyện nghiệp vụ, chuẩn bị mọi mặt tham gia tổng tiến công. Nổi bật là Đặc công huyện Mỏ Cày đã xây dựng được 1 trung đội và 1 tiểu đội; Châu Thành và Giồng Trôm mỗi huyện có 1 trung đội Đặc công.

Bước vào tổng tiến công, Đặc công Mỏ Cày tiêu diệt các đồn trụ xung quanh thị trấn như tua gác cầu Việt Hoa, công sở Đa Phước Hội. Sau đó cùng bộ binh đánh địch trong nội ô thị trấn, tiêu diệt các đồn trên tuyến giao thông 30 (đồn cống Cây Keo, đồn thằng Quang, đồn Bếp Lý). Khi địch đổ bộ bằng đường không để phản kích thì Đặc công Mỏ Cày thực hiện tập kích quân dã ngoại, diệt 2 tiểu đội địch, thu vũ khí, liên tục tiến công 5 đêm làm cho chúng hoảng sợ. Ở Giồng Trôm, lực lượng Đặc công cùng bộ binh của huyện tiến công đồn bót ven giao thông và quanh thị tứ Mỹ Lồng, đốt kho xăng. Sau đó cùng các đơn vị bạn tiến công địch trong nội ô thị trấn. Đặc công các huyện còn lại đã cùng lực lượng nổi dậy chiếm nhiều đồn bót và đánh quân phản kích, góp phần vào thành tích chung của địa phương.

Binh chủng Đặc công Bến Tre phát triển nhanh chóng và góp công khá xuất sắc trong đợt Tổng tiến công. Chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, hiệu suất chiến đấu cao. Các đơn vị Đặc công từ tỉnh đến huyện chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết một lòng, gắn bó với các đơn vị bạn, kiên quyết tiến công kẻ thù, lập công tập thể. Bộ đội Đặc công cùng với các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận, đoàn thể quần chúng… tham gia tổng tiến công và nổi dậy, chung sức tạo nên bản anh hùng ca xuân Mậu Thân 1968.

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

Image
Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

CMT8-1945 bùng nổ, ông tham gia công tác ở Sài Gòn, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội, hoạt động ở miền Tây Nam Bộ, đến kết thúc kháng chiến chống Pháp (7-1954) là cán bộ cấp trung đoàn.

Sau hiệp định Genève, ông được tổ chức bố trí ở lại, hoạt động bí mật với cái vỏ bọc bên ngoài, làm nghề dạy học ở các trường tư Sài Gòn. Bị bọn mật vụ theo dõi, mấy lần vây bắt hụt, phải lánh về Vĩnh Long để nhờ sự bảo lãnh của Giám mục Ngô Đình Thục, vốn đã quen thân từ trước với gia đình ông.

Nhờ sự giới thiệu của giám mục với Ngô Đình Diệm, ông mới đưa được vợ con lên sống ở Sài Gòn. Năm 1956, làm việc ở Ngân hàng quốc gia Sài Gòn, sau chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc “Đại úy đồng hóa” trong quân lực VNCH, lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đoàn trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, Chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Sau khi học trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas) tại Hoa Kỳ, về nước được thăng thiếu tá, làm việc ở phủ Tổng thống (cạnh Ngô Đình Nhu). Được Ngô Đình Diệm tin cậy, nên ông được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) với cấp bậc trung tá.

Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), Phạm Ngọc Thảo được nhóm sĩ quan cầm đầu cuộc đảo chính thăng đại tá, làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân cách mạng", rồi làm tùy viên văn hóa của Sứ quán VNCH tại Hoa Kỳ.

Đầu năm 1965, bị gọi về nước, vì chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đã phát hiện ông hoạt động cho đối phương. Biết đã bị lộ, ông không chấp hành lệnh, tìm cách trốn tránh và liên hệ móc nối với các lực lượng đối lập khác như tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để lật đổ chế độ hiện thời. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19-2-1965 ở Sài Gòn, nhưng chỉ làm làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt, ông đào thoát vào một tu viện Công giáo ở Thủ Đức.

Ngày 16-7-1965, ông bị một toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào đầu, nhưng không chết, sau đó được một linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở Biên Hòa. Bị lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại đưa về Sài Gòn, tra tấn đến chết vào đêm 17-7-1965.

Sau ngày giải phóng (30-4-1975), ông được Nhà nước ta truy nhận liệt sĩ với hàm đại tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động của ông đã được nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý xây dựng thành bộ tiểu thuyết nhiều tập Ván bài lật ngửa, và sau đó được dựng thành phim cùng tên với nhân vật chính mang tên Nguyễn Thành Luân.

Đã ban hành
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đình Tân NgãiĐình Tân Ngãi
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

dinh-tan-ngai.png 

Đình​ ​Tân Ngãi

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/​02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua Cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 khoảng 4km, tiếp tục rẽ phải khoảng 3km nữa là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Đình Tân Ngãi được xây dựng năm 1850 (năm Canh Tý) do nhân dân trong vùng đóng góp công sức và tiền bạc. Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, sắc thần được phong dưới thời Tự Đức ngũ niên (1852).

Năm 1945, được sự hỗ trợ của Ban Khánh tiết đình Tân Ngãi, Đảng và chính quyền địa phương tổ chức cuộc mittinh có hàng trăm quần chúng nhân dân tham dự. Tại ngôi đình này, Mặt trận còn phát động tuần lễ vàng giúp cách mạng và sau một tuần phát động, nhân dân đã đóng góp được 26 lượng vàng, 16 bộ lư đồng, 30 mâm thau.

Từ năm 1949-1951, giặc Pháp đánh chiếm huyện Sóc Sãi và huyện Châu Thành, Ủy ban hành chánh kháng chiến của 2 huyện này chuyển qua đóng ở đình Tân Ngãi đứng chân hoạt động. Đầu năm 1960, ông Bùi Văn Sỹ Phong - Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày về mở nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cán bộ lãnh đạo các xã như Thạnh Ngãi, Phú Sơn, Thanh Tân, Tân Thành Bình, Tân Phú Tây tại ngôi đình này.

Từ năm 1962-1963, chính quyền cách mạng lấy ngôi đình này làm nơi tiếp nhận thương binh, bệnh binh để điều dưỡng, điều trị và có đào hầm bí mật xung quanh đình để bảo toàn tính mạng cho cán bộ, thương binh.

Từ năm 1960-1965, đình Tân Ngãi là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, là địa điểm để tổ chức hội họp trong xã và các xã lân cận. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, chính quyền cách mạng lấy địa điểm đình để tập hợp lực lượng, có khoảng 3 tiểu đoàn (ở khu vực Bắc Mỏ Cày) để chuẩn bị tiến quân về giải phóng thị xã Bến Tre.

Từ năm 1970-1975, bộ đội địa phương quân Mỏ Cày do đồng chí Huỳnh Văn Be (Phương Hùng) chỉ huy và đồng chí Lý Hùng Chiến - Bí thư Huyện uỷ Mỏ Cày đóng tại đình Tân Ngãi, đứng chân hoạt động.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc TòngKhu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh lộ 885 đến ngã tư Bình Tây khoảng 35km, rẽ phải theo đường liên xã An Bình Tây - An Hiệp khoảng 2km là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang, nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu.

Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên là Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch, đánh giáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Phan Ngọc Tòng cùng với nhiều nghĩa quân khác đã hy sinh. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Võ Văn LẹAnh hùng liệt sĩ Võ Văn Lẹ
Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Võ Văn Lẹ sớm giác ngộ cách mạng, năm 13 tuổi đã làm giao liên cho cán bộ kháng chiến ở địa phương. Năm 17 tuổi, đã chính thức tình nguyện vào lực lượng vũ trang, Ban an ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình công tác và chiến đấu cho đến lúc hy sinh (9-1972), Võ Văn Lẹ đã trực tiếp tham gia chiến đấu 27 trận đánh, diệt và làm bị thương 93 tên trong đó có 18 tên ác ôn khét tiếng có nhiều nợ máu với dân.

Tiêu biểu như trong các tháng 7, 8, 11-1969, Võ Văn Lẹ đã cùng đồng đội bí mật đột kích, đón đường phục kích hoặc đóng giả làm lính sư đoàn 7 nguỵ tổ chức 3 trận đánh, diệt 3 tên ác ôn, bắn bị thương 6 tên, thu 1 súng M16, 1 súng AR15, và bắt sống tên Ut, ác ôn khét tiếng (đã có quyết định tử hình) đưa về căn cứ khai thác, góp phần đẩy mạnh phong trào cách mạng ở địa phương. Tháng 5 và tháng 9-1970, cũng với biện pháp cải trang mật phục và đóng giả làm học sinh đi học, Võ Văn Lẹ đã mưu trí cùng đồng đội bắt sống tên Thọ là cảnh sát đặc biệt ác ôn và tung lựu đạn diệt 4 tên, làm bị thương 2 tên, khiến cho địch khiếp sợ không dám đàn áp phong trào cách mạng ở địa phương như trước.

Tháng 1-1972, Võ Văn Lẹ chỉ huy tổ trinh sát vũ trang phục kích ven đường quốc lộ 17 diệt gọn 1 xe GMC chở 27 tên lính ngụy, bẻ gãy trận càn của chúng. Tháng 9-1972, trong trận chiến đấu không cân sức giữa ta và địch, để bảo vệ cho đồng đội rút lui an toàn, Võ Văn Lẹ đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng nhiều Huân chương và bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, Võ Văn Lẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Địa chấtĐịa chất
Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Phần đất cao hơn hết đi từ Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía bắc và tây bắc của thành phố Bến Tre. Đây là khu vực của cồn sông cổ bị lũ hằng năm đem phù sa phủ lấp lên. Cao độ tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m.

Một phần đất cao nữa nằm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển, gọi là giồng, với độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m. Đa số địa danh cao đều mang thêm từ giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Mù U, v.v...

Phần đất thấp gồm có 2 loại. Trước hết là các lòng máng của những dòng sông cổ và mới, đã bị lấp toàn phần hoặc từng phần bởi trầm tích lũ hiện nay. Ví dụ như Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành, hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại thứ hai là những vũng mặn cổ, nay cũng đã được lấp đầy từng phần như xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri; Bình Quới, Mỹ Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại này chỉ có độ cao từ 1 đến 1,5 m và đa số bị ảnh hưởng triều rất mạnh. Ví dụ: Ở xóm Rạch Vọp, ảnh hưởng triều xảy ra mỗi ngày, tạo nên một loại trầm tích keo hóa gọi là trầm tích đồng thủy triều.

Cuối cùng là đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước mực triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều. Loại này khó vượt quá cao độ 0,5 m. Diện tích chung có tính giới hạn, nằm cạnh ven biển. Đất đầm mặn phát triển nhiều ở huyện Bình Đại nhưng trở nên ít đi ở huyện Ba Tri, và kém phát triển ở huyện Thạnh Phú.

Ngược dòng lịch sử, đất Bến Tre chỉ xuất hiện lên bên trên mặt biển từ 4.500 năm trở lại đây, tức là sau khi đã có đất Cai Lậy và Tân Hiệp, mà tuổi tuyệt đối nằm vào khoảng 5.000 năm. Trước hết là một cồn cửa sông to lớn kiểu cù lao Dung hiện nay xuất hiện bên dưới Chợ Lách, rồi một số giồng phát sinh tại nơi đầu cù lao, mà dấu vết ngày nay còn nằm ở Vũng Liêm (Trà Vinh) và Nam Chợ Lách (Bến Tre).

Một cù lao lớn thứ hai xuất hiện sau đó ở Châu Thành, với các lòng sông to lớn tạo nên một cửa sông mới, cửa sông Mỹ Tho, với giồng cát biển phát sinh tại thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre và Chợ Gạo (Tiền Giang). Sông Ba Lai sinh ra từ đó và góp phần bồi tích cho đến ngày nay, cùng lúc với sông Hàm Luông ở phía tây và sông Tiền ở phía đông.

Ba con sông này lấn biển và bồi đất rất nhanh chóng, tạo nên các giồng cát nằm san sát nhau. Dạng bờ biển trước kia cũng hao hao giống dạng bờ biển ngày nay, bên trong là đầm mặn mới bồi sau. Ví dụ: Ngày nay ở Bình Đại, Giồng Củ, Giồng Cà xuất hiện, tạo ra bên trong một ao biển kín, nay biến thành đất rừng ngập mặn gọi là đầm mặn. Tại Giồng Trôm, trước kia cũng có trường hợp như vậy. Giồng Trôm xuất hiện trước, bọc bên cánh tây một vũng mặn, về sau mới lấp đầy. Cho nên con sông Bến Tre mới bắt nguồn từ Giồng Trôm (vùng đất cao), chảy ngược dòng với sông Ba Lai và sông Hàm Luông (cặp song song với nó) và xuôi về hướng tây bắc. Mũi khoan kiểm tra cho thấy có đất vũng mặn ở độ sâu 9 m tại đó.

Bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở phía đầu trên, lượng nước yếu đi không tống nổi phù sa của sông Cửa Đại đang bít nghẽn dòng chảy ra biển. Do vậy, nó sẽ "chết", lòng cổ của nó bị lấp dần, xóa hẳn ở huyện Châu Thành, gần xóa ở huyện Giồng Trôm và sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại. Trong quá khứ ở huyện Mỏ Cày cũng có những con sông bị xóa như vậy, mà ảnh máy bay cho thấy khá rõ rệt.

Lịch sử hình thành tỉnh Bến Tre là phần đúc kết tất cả các quy luật địa chất của địa phương. Các quy luật đó giúp ta đi vào tìm hiểu bản chất của sự vật cụ thể, là những loại phù sa khác nhau, để áp dụng vào nông nghiệp, thủy lợi, nước ngầm, khoáng sản đủ loại kể cả an ninh quốc phòng. Điều tra chi tiết hơn, sẽ cho thấy các chi tiết của những quy luật ấy, giúp phần vận dụng có chiếu cố về ngoại lệ của quy luật, và tránh được những lãng phí do thiếu sót về quy luật, tức là thiếu sót về cơ bản khoa học, trong đó có cơ bản trầm tích học là cơ bản của mọi cơ bản.

Đã ban hành
Cù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồnCù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồn
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Chẳng biết tự bao giờ ai cũng bảo hễ đi đâu “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre”. Và cù lao Minh là vùng đất có diện tích trồng dừa lớn nhất tỉnh, xen lẫn những cánh đồng lúa, những ruộng mía, những vườn cây ăn trái và có cả một phần đất biển. Thiên nhiên đã ban tặng cho cù lao này hai dòng sông lớn: Hàm Luông và Cổ Chiên, đã ôm ấp, bao bọc, vun đắp phù sa qua nhiều thế kỷ, làm cho cây trái vùng này oằn sai trĩu quả, nhất là rừng dừa mãi mãi tốt tươi với những rặng dừa cao vút, rễ bám sâu vào đất mẹ, để dẻo dai trước bão giông, quật cường cùng con người trong đấu tranh và xây dựng. Từ đỉnh cầu Hàm Luông nhìn về hướng cù lao Minh ta sẽ thỏa sức ngắm nhìn với rừng dừa bạt ngàn xanh biếc đứng hiên ngang với những vườn cây ăn trái.

Về xứ dừa Bến Tre sang cù lao Minh ta có thể chọn tham quan, khám phá, trải nghiệm tại những điểm đến, điểm hẹn về nguồn như:

1. Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định”:

 

Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định (hay còn gọi Y4, T4)  được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận cấp Quốc gia vào ngày 23/12/1995 và tọa lạc tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày Bắc. Vào tháng 6/1969, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã chuyển về đóng tại đây, là vùng mới giải phóng, có địa hình rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế. Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã xung quanh như: Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng khu di tích này đang được phục hồi, mở rộng khoảng 02ha, với các hạng mục chính như: hầm ở và làm việc của ông Võ Văn Kiệt; nơi ở và làm việc của bộ phận cơ yếu, hầm cứu thương; hầm bí mật của các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng…; nhà trưng bày các hiện vật lịch sử và các công trình liên quan khác. Công trình có ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước đối với thanh thiếu niên. Và trở thành một trong những điểm về nguồn của các hoạt động dã ngoại và điểm đến du lịch của tỉnh.

2. Các điểm đến du lịch sinh thái Chợ Lách:

Đi theo tuyến QL 57 về hướng tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Long là huyện Chợ Lách. Thiên nhiên đã ưu đãi vùng này nước ngọt quanh năm và những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả, cây giống và hoa kiểng xanh tươi tốt cả bốn mùa. Có lẻ vậy, mà Chợ Lách đang thu hút, hấp dẫn mọi người đến với nhiều điểm du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước. Đặc biệt, Chợ Lách còn nổi tiếng cả nước với “Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn” (Vĩnh Thành) và nhà thờ cổ Cái Mơn, là một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, được xây dựng vào năm 1872. Nhà bia tưởng niệm, ghi nhớ nơi sinh của nhà bác học Trương Vĩnh Ký cũng tại Cái Mơn, ông là người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản. Thú vị nhất ở vùng đất Chợ Lách là được tham quan, khám phá các làng nghề ghép cây giống, sản xuất hoa kiểng, thưởng thức đặc sản trái cây tại những vườn chuyên canh như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh và nhiều loại cây ăn trái khác…

 

3. Di tích Đồng Khởi và đình Rắn:

 

Di tích Đồng Khởi

Có thể khẳng định đây là điểm hẹn về nguồn lý tưởng nhất. Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 57, đến thị trấn Mỏ Cày Nam, rẽ trái khoảng 04km là đến khu Di tích Đồng Khởi. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông đến tận trung tâm cái nôi Đồng khởi. Đến đây, du khách sẽ gặp những người dân đôn hậu, những con người đã "bám chặt quê hương", đã đứng lên "dựng những pháo đài" ở xã Định Thủy, nơi đã làm nên cuộc Đồng Khởi năm xưa trên đất xứ dừa. Di tích này được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhân di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Và khu Di tích Đồng Khởi được xây dựng trên một diện tích 5.000 m2, gồm một trệt, một lầu. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng Khởi cháy sáng mãi trên xứ dừa. Bên trong là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch …. Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

Tại Định Thủy còn có đình Rắn, cũng là di tích lịch sử, nhưng còn ít người biết đến với huyền thoại đầy bí ẩn. Theo địa chí Bến Tre, năm Minh Mạng thứ 5 thì đình được nhận sắc phong. Vào thời đó đất đai ở đây còn hoang hóa mênh mông và nằm trên một khoảnh đất cao, vì thế rắn độc tụ hội rất nhiều, nhiều hang ăn sâu vào giữa đình. Khi thờ cúng, các chức việc trong đình phải lấy ván bao quanh miệng hang để tránh sự cố xảy ra, từ đấy có tên “Đình Rắn”. Nhiều người còn kể rằng, cũng nhờ có “ông rắn” mà bọn tề, ngụy, việt gian tối đến không bao giờ dám bén mảng tới nơi này. Nên kể từ sau Cách mạng tháng Tám, “Đình Rắn” là một trong những cơ sở cách mạng bí mật để hội họp, mít tinh. Lúc bấy giờ nữ tướng Nguyễn Thị Định là một trong những người thường xuyên lui tới đây để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Miền Nam. Đến năm 1970, cuộc chiến càng lúc lan rộng, bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt, đình gần như bị sập hoàn toàn nên cơ sở cách mạng ở đây được chuyển đi nơi khác.

Đến Định Thủy mọi người còn khám phá du lịch sinh thái “Vàm Nước Trong”, cửa ngõ đường thủy của huyện Mỏ Cày Nam nối với sông Hàm Luông. Với những vườn dừa rợp bóng, những bãi bờ hoang sơ tĩnh lặng, nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công vang dội của những người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đến đây, mọi người có dịp lai rai đặc sản mắm tép kẹp với thịt ba rọi luộc hoặc ăn với cá lóc nướng trui hay tôm, tép nướng; cá ngát nấu chua với bần dốt; bánh bột gạo rau mơ hấp; bánh xèo, bánh khọt pha với nước cốt dừa, thơm béo vô cùng. Điều du khách không thể bỏ qua là sự chân tình, mến khách, yêu thích văn hóa - văn nghệ của người dân Định Thủy, du khách cùng thưởng thức đờn ca tài tử và có thể giao lưu loại hình này bên dòng Hàm Luông thơ mộng rợp bóng dừa xanh.

 

4. Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh:

Rời Di tích Đồng Khởi, trở lại tuyến QL 57 đến “Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh” tọa lạc tại xã Minh Đức. Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến Chùa Tuyên Linh  khoảng 14 km, Chùa được xây dựng từ năm 1861 (Tân Dậu), dưới triều Tự Đức năm thứ 14. Năm 1930 nhân dịp chùa được trùng tu, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới “Tuyên Linh”. Nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý như: vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian. Cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của Hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Và kể từ khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Hay trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào cách mạng mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận di tích Quốc gia ngày 20/7/1994.

Đến Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc du khách còn được hướng dẫn tham quan cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa, se chỉ sơ dừa, dệt thảm sơ dừa… và cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ làm từ chất liệu dừa, sản xuất kẹo dừa…

5. Các điểm đến tại huyện Thạnh Phú:

Trên bản đồ tỉnh Bến Tre, huyện Thạnh Phú nằm ở cuối cù lao Minh, có bờ biển dài 25 km. Là một trong 03 huyện duyên hải của Bến Tre, Thạnh Phú được biết đến với những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ những giồng cát và những dải rừng ngập mặn ven biển và cũng có nhiều tiềm năng, đang dần dần thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Điểm dừng chân đầu tiên trên mãnh đất này là ghé  thăm bia lưu liệm nơi làm lễ xuất quân của Tiểu đoàn 307 “đánh đâu được đấy - oai hùng biết mấy” của bộ đội ta trong thời kỳ chống thực dân Pháp ở xã Đại Điền (hay còn gọi là Giồng Luông).

Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ” được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 14/4/2011. cũng ở xã Đại Điền. Những ai đã một lần đến thăm cũng không khỏi bỡ ngỡ khi đứng trước ngôi nhà cổ đẹp, bề thế của gia tộc họ Huỳnh. Dẫu trải qua hàng trăm năm, ngôi nhà vẫn còn mang nét đặc sắc của nhà cổ đồng bằng và cái lộng lẫy của gia chủ một thời sung túc. Chu vi nhà khoảng 100 m, bên trong có hoành phi sơn son thếp vàng và thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh, vật “tứ linh” thật sống động; mái nhà lợp ngói âm dương, trên mỗi miếng ngói có in hình sinh hoạt dân gian như mục đồng cỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của nông dân…. Tương truyền ngày ấy, khi những người thợ đầu tiên đến động thổ xây dựng ngôi nhà này, gia chủ mời họ ăn cam, rồi họ nhã hột gần đó, hột lên cây và đến khi cây cho trái cam đầu tiên thì ngôi nhà mới hoàn thành. Điều đó nói lên nhà đã xây dựng từ 7 – 10 năm mới hoàn thành.

Tại Thạnh Phú còn có “Di tích đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam” tại xã Thạnh Phong, di tích này được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận di tích cấp Quốc gia vào 23/12/1995. Về lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nơi đây đã ghi lại bộ đội Miền Nam vượt biển từ xã Thạnh Phong ra miền Bắc xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Đầu cầu tiếp nhận vũ khí tại xã Thạnh Phong gồm có Vàm Khâu Băng, cồn Bửng (hiện nay thuộc xã Thạnh Hải), cồn Lợi, cồn Lớn, địa điểm di tích này du khách trong và ngoài tỉnh có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thủy rất thuận tiện. Hiện tại khu di tích này đang được mở rộng qui mô để thực hiện dự án “Bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường mòn Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre”. Khi dự án hoàn thành đây sẽ là điểm hẹn về nguồn và điểm đến du lịch rất lý tưởng.

 

Ngoài ra, đến Thạnh Phú còn tham quan làng nghề truyền thống sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu xi-măng tại xã Hòa Lợi. Nghề ở đây “Cha truyền con nối” và sản phẩm này cũng được tiêu thụ tại địa phương, một số tỉnh và xuất khẩu sang Campuchia. Hay ghé sang xã Mỹ Hưng tìm hiểu nghề chằm nón bài thơ Huế ở ấp Thạnh Hưng, do một người quê ở Huế về định cư tại đây gầy dựng. Bà con ở đây chằm nón rất khéo, nhiều người cho rằng nón chằm đẹp hơn thợ chằm nón lá ở Huế. Nón được chằm bằng lá cật phải mua tận Bến Cầu (Tây Ninh), còn vành nón được làm bằng tre của Thạnh Phú. Cứ thế, lá của Tây Ninh, vành của Bến Tre, người chằm nón ở Thạnh Hưng đã chăm chút, thổi hồn vào từng đường kim mũi chỉ khiến nón lá Mỹ Hưng càng nhìn càng dễ thương. Tại đây mọi người còn tận mắt chứng kiến sự khéo tay không chỉ có phụ nữ mà còn có cả nam giới. Trên thực tế nón lá cũng là một sản phẩm phục vụ cho khách du lịch. Duy trì được nghề chằm nón cũng là góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của dân tộc ta.

Không những tham quan nghề đúc lu, chằm nón, mà du khách còn được hướng dẫn đến xem làng nghề bó chổi bằng cọng dừa nổi tiếng ở Mỹ An, một nghề mà người dân nơi đây thường nói “nghề làm chơi mà ăn thiệt”. Tại đây, du khách sẽ tận mắt nhìn thấy sự khéo tay của những siêu sao bó chổi, trong một ngày có người đã bó được trên 100 cây chổi. Ở đây, nhà nào cũng đầy chổi, chổi bó rồi, chổi đang bó…, tiếng quay dây cước vào trục nghe rè rè, tiếng kêu ken két đầy ấn tượng, rồi đến tiếng xe máy chở nguyên vật liệu ra vào, khiến làng chổi càng thêm nhộn nhịp. Mỗi sản phẩm làm ra là một kỷ niệm thấm đẫm tình người, với biết bao niềm hy vọng tươi sáng của người dân hiền lành, chất phác ở một vùng quê sông nước xứ dừa luôn tin tưởng nghề này không bị mất đi và sản phẩm làm ra có nơi tiêu thụ.

Về phong cảnh, Thạnh Phú còn có con đường làng vào xã Phú Khánh có hàng cây – hàng cây cổ thụ rất đẹp, rất hữu tình. Hay du khách sẽ thư thái, thỏa sức ngắm nhìn những cách đồng lúa xanh mơn mởn xen với mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa. Hoặc về xã biển Thạnh Hải khám phá sự hoang sơ của bãi biển nơi đây, tham quan đền thờ 02 con cá Ông, mỗi      con chục tấn và bộ xương sống của cá Ông vẫn còn lưu lại nơi đây. Hàng năm, cứ vào ngày lễ hội Nghinh Ông có hàng ngàn lượt du khách đến với các xã biển Thạnh Phú để tham quan. Hay rừng ngặp mặn Thạnh Phú nằm trong quần thể vùng bưng trũng, cũng là điểm để du khách khám phá những điều thú vị ở đó. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, rừng ngập mặn Thạnh Phú cũng là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền.

Điều vô cùng lý thú, nhất là cho những du khách thích phiêu lưu mạo hiểm, tìm hiểu thêm việc làm đáy hàng khơi của người dân Thạnh Phú tại Vàm Băng Cung –  Giao Thạnh. Hay ở qua đêm ở Thạnh Phong vào mùa ba khía hội,  có thể đi theo những ngư dân lành nghề bắt ba khía trong rừng ngập mặn. Vào những đêm tối, trời yên biển lặng, ba khía ra khỏi hang, chúng bám dày đặc vào thân cây mắm, cây cóc hay bò trên những bãi bùn ven bờ rạch, tha hồ bắt chúng vào giỏ. Hoặc theo người dân, ngồi trên những chiếc ghe nhỏ để len lỏi theo những con rạch nhỏ sâu trong rừng mắm, cóc, đước…và thưởng thức bản hòa tấu của một số loài chim, qua đó mà trải lòng mình trong chuyến du khảo về đất biển Thạnh Phú.

Về ẩm thực không thể bỏ qua đặc sản truyền thống bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng ở Thạnh Phú, một khi du khách đã thưởng thức rồi thì không thể nào quên bởi sự khéo tay của phụ nữ Đại Điền hay bì bún Giồng Luông cũng rất độc đáo. Hay Thạnh Phú cũng đã tận dụng hết những tiềm năng vốn có để nuôi trồng và khai thác thủy sản….Và Thạnh Phú ngày nay đã cũng được nhiều du khách biết đến qua những món hải sản như cua biển (cua gạch điều), tôm, sò huyết, nghêu, ba khía…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer