Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Anh hùng lực lượng vũ trang
 
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại). 
 
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh. 
 
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. 
Đoàn Thị E (08/11/2014)
 
Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm. 
Khấu Trung Gương (08/11/2014)
 
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. 
Tạ Thị Kiều (08/11/2014)
 
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. 
Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.  
 
Võ Viết Thanh (08/11/2014)
 
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.  
Cao Văn Trung (08/11/2014)
 
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh.  
Nguyễn Thành Trung (08/11/2014)
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Hoằng TrịHoằng Trị
 

Phủ đổi tên từ phủ Hoằng Đạo năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), gồm 2 huyện Bảo An và Bảo Hựu đều nằm trên cù lao Minh. Năm Tự Đức thứ 4 (1851), hai phủ Hoằng Trị và Hoằng An hợp nhất lại, chia thành 4 huyện: Tân Minh, Duy Minh, Bảo An và Bảo Hựu.

Đã ban hành
Cầu Cá LócCầu Cá Lóc

<br />

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua rạch Cá Lóc (rạch này ngày xưa có rất nhiều cá lóc) trên đường tỉnh 885 từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri.

Đã ban hành
Lê Văn Đệ (1906 - 1966)Lê Văn Đệ (1906 - 1966)
&nbsp;

Image
Lê Văn Đệ (1906-1966)
    Trong lịch sữ mỹ thuật Việt Nam, Lê Văn Đệ được nhắc đến như một nghệ sĩ bậc thầy, tiêu biểu cho xu hướng cổ điển và tân cổ điển Việt Nam. Sinh trong một gia đình nhà nho ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thân sinh là Lê Quang Hòe, cai tổng Minh Đạt, hàm Tri huyện. Ông là con thứ 10 trong số 13 anh chị em. Lúc nhỏ, học ở trường tiểu học ở quê nhà, sau lên học ở Trường Tabert, Sài Gòn. Ngay từ thời còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, ông đã được bạn bè ngợi ca về tài vẽ nhanh và đẹp. Năm 1925, sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội. Cùng với Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê An Phan… ông trúng tuyển trong số 10 người, trong tổng số 400 thí sinh dự thi. Trong những năm theo học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật, ông luôn được xếp vào hạng sinh viên xuất sắc của trường và đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp.

   Năm 1931, ông được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris, dưới sự hướng dẫn của giáo sư J.Pierre Laurence vẽ tranh sơn dầu. Trong những năm học tại Paris, nhiều tác phẩm của ông đã gây được sự chú ý trong giới nghệ thuật tại thủ đô ánh sáng này và ông đã đoạt giải thưởng hội họa do Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp tổ chức. Với thành tích rực rỡ này, ông được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp thêm về hội họa tại Ý và Hy Lạp.

   Năm 1933, tranh ông được chọn triển lãm tại phòng số 1 - một gian phòng dành cho những tài năng xuất sắc chọn từ 5.000 họa sĩ các nước. Có hơn 40 tờ báo Pháp lúc bấy giờ đã đề cập đến tác phẩm của ông (theo Đông Dương tuần báo). Trong cuộc triển lãm Nghệ sĩ quốc gia Pháp năm 1934, Bộ Văn hóa Pháp đã chọn mua ngay một bức tranh Trong gia đình của ông để treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Luxembourg.

   Năm 1936, tại một cuộc triển lãm tranh do tổ chức báo chí Công giáo bảo trợ tại Roma, có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của 30 quốc gia trên thế giới, trong số đó có nhà danh họa Bouleau (Pháp), tác phẩm của Lê Văn Đệ được tặng giải nhất. Do đó, ông được mời phụ trách một nhóm 11 kỹ sư và 20 họa sĩ làm nhiệm vụ vẽ, chạm trổ, trang hoàng trong điện Vatican. Công trình do ông chỉ đạo thực hiện đã được báo chí Ý và nhiều nước đánh giá cao.

   Năm 1938, ông trở về nước, vừa sáng tác vừa tiếp tục nghiên cứu hội họa dân tộc và các nền hội họa phương Đông. Bức tranh Thiếu nữ ngủ ngày của ông là một tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ. Công lao lớn nhất của Lê Văn Đệ là đã sáng lập ra Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, làm cho việc giảng dạy và đào tạo cán bộ mỹ thuật ở miền Nam được nâng cao và phong phú hơn. Năm 1954, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Gia Định thành lập, ông được cử làm Giám đốc đầu tiên của trường. Tác phẩm của ông thiên về khuynh hướng cổ điển và tân cổ điển, mặc dù ông nắm khá chắc kỹ thuật và có kiến thức uyên bác về khuynh hướng mỹ thuật hiện đại của châu Âu.

   Ông say mê nghiên cứu thủ ấn họa của Nhật Bản và các trường phái hội họa nguyên thủy châu Âu, nhưng sở trường nhất của ông vẫn là tranh lụa, tranh sơn dầu và bích họa. Trong kỹ thuật tranh lụa, ông đã có những tìm tòi độc đáo như dùng màu sắc thiên nhiên thay thế cho màu hóa học, để làm tăng thêm chất hiện thực và vẻ mềm mại của loại tranh này.

   Đánh giá về ông, giới họa sĩ cho rằng hai cố họa sĩ đàn anh xuất thân từ Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đem lại vinh dự cho Việt Nam là hai ông Lê Văn Đệ và Nguyễn Gia Trí.

   Nhiều tác phẩm của ông hiện được lưu giữ tại các bảo tàng một số nước châu Âu như: bức Trong gia đình (sơn dầu), 1934 - Viện Bảo tàng Luxemburg ở Paris, bức Đức Mẹ và bức Bà Thánh Madeleine dưới chân thập giá - Viện Bảo tàng Mỹ thuật giáo sĩ thừa sai Vatican, bức Mẹ và con - Viện Bảo tàng Mỹ thuật Aix La Chapelle…

   Là một người bình dị, thích cái đẹp thôn dã, giàu lòng vị tha, ngoài chức vụ Giám đốc Trường Mỹ thuật, ông Đệ lúc sinh thời còn là Phó hội trưởng Hội hoa kiểng Việt Nam - một ngành có liên quan nhiều đến mỹ thuật như kiểng bonsai, hòn non bộ và vườn cảnh. Ông từ trần ngày 16-3-1966 tại Sài Gòn.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình ChiểuDi tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Image
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

 Ngày 3-7-1888, ông trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 66 tuổi. Người ta kể rằng, hôm đưa đám tang ông, cánh đồng An Bình Đông, nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, trắng xóa khăn tang – khăn tang của học trò, của các thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, của bạn bè và bà con xa gần mến mộ tài đức của ông. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời cũng là người trợ thủ đắc lực của ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các họat động xã hội khác, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo Nữ giới chung.

 Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay. Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27-4-1990.

Đã ban hành
Niên biểu Bến TreNiên biểu Bến Tre
1. Niên biểu này bắt đầu từ năm 1620 cho đến năm 2000.
2. Những sự kiện xác định rõ được ngày, tháng, năm thì có ghi đầy đủ ngày, tháng, năm.​

3. Những sự kiện xảy ra trong một quá trình, mà không xác định được ngày thì ghi tháng hoặc năm. Những ngày tháng thuộc âm lịch có ghi thêm (âl).

4. Niên biểu này ghi lại những sự kiện xảy ra trên đất Bến Tre cùng những sự kiện lịch sử khác xảy ra ở phạm vi miền, trong nước, ngoài nước và trên thế giới nhưng có liên quan nhiều mặt với Bến Tre.

5. Niên biểu được biên soạn dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử của Bến Tre và các tập niên biểu của các nhà xuất bản trong nước và một số sách báo Pháp.

Đã ban hành
Nhà bảo tàng Bến TreNhà bảo tàng Bến Tre
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474 m2. Mái lợp ngói, tường gạch, cùng nhiều cửa sổ cũng hình vòm trên chạm đầu rồng hoặc sư tử. Bốn hướng đều có cổng ra vào với 3 mặt giáp với 3 con đường lớn: Hùng Vương, Cách Mạng Tháng Tám, Lê Đại Hành.

Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, nằm ngay trung tâm thành phố với những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng tươi tốt, quý giá và hàng rào khang trang bao bọc làm cho ngôi nhà trở nên biệt lập và sang trọng.

Đây là một vị trí đẹp, thuận lợi về mọi mặt, là điểm hẹn của nhân dân trong tỉnh, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ Dừa.

Chính vì vị trí quan trọng như vậy nên khi xâm chiếm đất Bến Tre, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi nhà này để làm Dinh Tham biện.

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), đế quốc Mỹ nhảy vào dựng lên ở miềm Nam chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ngôi nhà này được Mỹ Ngụy chọn làm Dinh Tỉnh trưởng. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngôi nhà được Tỉnh ủy Bến Tre tiếp quản, sau đó giao lại cho Ty Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm phòng Bảo tồn Bảo tàng vào năm 1976.

Khi Bảo tàng Bến Tre được thành lập theo Quyết định số 1564 ngày 26/10/1981, tỉnh đã quyết định giao lại ngôi nhà cho Bảo tàng sử dụng để trưng bày những hình ảnh và hiện vật truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tại đây từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân, dân Bến Tre. Đây là cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu vào năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường; là nơi diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy vào tháng 10/1945; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá - Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960 - 1962.

Hiện nay, nội thất ngôi nhà đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày. Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn ba ngàn hiện vật, hình ảnh, tư liệu, gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, …

Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình,… Bảo tàng Bến Tre có thể giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một tòa nhà mới theo Quyết định số 2234/QĐ-UB ngày 20/6/2002 trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà khách Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Vàm ĐồnVàm Đồn

<br />

Ngã ba sông thuộc xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp có đặt một đồn canh tại đây để kiểm soát ghe thuyền đi lại. Nơi đây, sau ngày giải phóng, một công trình thủy lợi được xây dựng để tưới tiêu những cánh đồng lúa trong vùng, gọi là công trình thủy lợi Vàm Đồn.

Đã ban hành
Hương ĐiểmHương Điểm
&nbsp;

Chợ mang tên người lập ra là hương chủ Trần Văn Điểm. Trong buổi đầu Pháp chiếm đóng Bến Tre, nơi đây đã từng xảy ra trận đánh giáp lá cà giữa nghĩa quân với giặc đêm 13-11-1867. Hiện nay, chợ nằm cách tỉnh lộ 885 khoảng 4km và tỉnh lộ 887 gần 1km, thuộc xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm.

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Lê Thị HồngLê Thị Hồng


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Lê Thị Hồng
(tức Minh Thắng) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày,
tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính trị
viên phân đội biệt động 3 </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">t</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị xã Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong chiến đấu, Lê Thị
Hồng luôn thể hiện quyết tâm cao, tích cực tiến công, dũng cảm, táo bạo luồn
sâu đánh địch</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">C</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị đã trực tiếp đánh 8 trận ở nội đô </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">t</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị xã Bến Tre,
diệt 65 tên địch (có nhiều sĩ quan), làm bị thương hơn 20 tên, phá huỷ 6 tấn
đạn dược. Nhiều lần Hồng mưu trí, chuyển vũ khí vượt qua các trạm gác của địch
phục vụ cho các đơn vị đánh các mục tiêu quan trọng trong thị xã. <br /></span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"></span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong trận đánh sở chỉ
huy biệt kích ở ngã năm </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">t</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị xã Bến Tre (20</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1969), mục tiêu
nằm sâu trong thị xã, địch bố phòng cẩn mật, Lê Thị Hồng đã mưu trí thọc sâu
nắm chắc tình hình, đề ra phương án chính xác. Trận này, chị diệt 16 tên địch,
phá huỷ 6 tấn đạn. Trận đánh thắng làm bọn biệt kích hoan</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">g</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> mang, nhiều tên
bỏ ngũ, nhân dân trong thị xã phấn khởi tin tưởng. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trận đánh Ty chiêu hồi
địch ở </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">t</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị xã Bến Tre (1</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">12</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1969), Lê Thị
Hồng làm nhiệm vụ nghiên cứu mục tiêu và vận chuyển vũ khí phục vụ cho trận
đánh. Tuy địch canh phòng nghiêm ngặt, chị vẫn vượt qua các trạm kiểm soát,
dũng cảm bám sát mục tiêu phục vụ cho đơn vị diệt 12 tên, trong đó có tên
trưởng ty chiêu hồi.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công
giải phóng hạng nhì, 12 bằng khen và giấy khen, 1 lần là Chiến sĩ thi đua. Ngày
6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">11</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1978, Lê Thị Hồng được Nhà nước tặng danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Lê Thị Hồng (tức Minh Thắng) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính trị viên phân đội biệt động 3 thị xã Bến Tre.

Trong chiến đấu, Lê Thị Hồng luôn thể hiện quyết tâm cao, tích cực tiến công, dũng cảm, táo bạo luồn sâu đánh địch. Chị đã trực tiếp đánh 8 trận ở nội đô thị xã Bến Tre, diệt 65 tên địch (có nhiều sĩ quan), làm bị thương hơn 20 tên, phá huỷ 6 tấn đạn dược. Nhiều lần Hồng mưu trí, chuyển vũ khí vượt qua các trạm gác của địch phục vụ cho các đơn vị đánh các mục tiêu quan trọng trong thị xã.

Image
Anh hùng Lê Thị Hồng

Trong trận đánh sở chỉ huy biệt kích ở ngã năm thị xã Bến Tre (20-5-1969), mục tiêu nằm sâu trong thị xã, địch bố phòng cẩn mật, Lê Thị Hồng đã mưu trí thọc sâu nắm chắc tình hình, đề ra phương án chính xác. Trận này, chị diệt 16 tên địch, phá huỷ 6 tấn đạn. Trận đánh thắng làm bọn biệt kích hoang mang, nhiều tên bỏ ngũ, nhân dân trong thị xã phấn khởi tin tưởng.

Trận đánh Ty chiêu hồi địch ở thị xã Bến Tre (1-12-1969), Lê Thị Hồng làm nhiệm vụ nghiên cứu mục tiêu và vận chuyển vũ khí phục vụ cho trận đánh. Tuy địch canh phòng nghiêm ngặt, chị vẫn vượt qua các trạm kiểm soát, dũng cảm bám sát mục tiêu phục vụ cho đơn vị diệt 12 tên, trong đó có tên trưởng ty chiêu hồi.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 12 bằng khen và giấy khen, 1 lần là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6-11-1978, Lê Thị Hồng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)
&nbsp;

Image
Nguyễn Thanh Trà (1918-1952)
Sinh năm 1918 trong một gia đình trung lưu ở Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh Trà tham gia phong trào yêu nước ngay từ lúc còn là học sinh. Học hết trung học, Trà về quê, được các đồng chí hoạt động bí mật vùng Sóc Sãi tuyên truyền, giác ngộ và được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1935, sau đó được phân công làm Bí thư chi bộ xã Tiên Thủy.

   Khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương thành lập, Nguyễn Thanh Trà tham gia rất tích cực phong trào công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội do Đảng phát động, vận động quần chúng ở địa phương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Nhờ tài diễn thuyết lưu loát, hấp dẫn nên đến đâu, ông cũng thu hút được đông đảo quần chúng. Năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi nhà tù trở về Bến Tre ngày càng đông, đã nhanh chóng khôi phục lại phong trào ở địa phương. Khi Đảng bộ Bến Tre được củng cố lại, Nguyễn Thanh Trà được cử vào Tỉnh ủy (4-1936), phụ trách quận Sóc Sãi.

   Năm 1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ở Đông Dương, thực dân Pháp quay ra đàn áp, khủng bố gắt gao, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù. Cuối năm này, trong một chuyến công tác, ông bị sa vào tay của bọn mật thám Pháp. Chúng đem về giam ở Sài Gòn một thời gian, rồi đưa đi an trí ở “căng” Tà Lài.

   Đầu năm 1944, cùng với một số đồng chí khác, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục Tà Lài, trở về Sóc Sãi, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng cũ của địa phương, xây dựng lại phong trào. Tháng 3-1945, Nguyễn Thanh Trà được bầu vào Tỉnh ủy, thành viên của Ủy ban khởi nghĩa Bến Tre.

   Sau ngày CMT8-1945, đồng chí được cử giữ chức Phó trưởng Ty Công an tỉnh, phụ trách lực lượng cảnh sát, do đó đồng bào quen gọi là "Cò Trà". Khu UBKC tỉnh (về sau đổi thành UBKCHC) được thành lập, ông được cử làm ủy viên.

   Đầu năm 1948, tên Léon Leroy tung quân càn quét, đánh phá khốc liệt phong trào, tiến hành bình định hai cù lao Bảo và Minh. Nhiều cơ sở cách mạng bị đánh bật ra khỏi địa phương. Các cơ quan, đơn vị vũ trang phải rút về rừng Thạnh Phú và Bình Đại.

   Năm 1951, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre đưa cán bộ trở về bám đất bám dân, những chi bộ “ly xã" trở về bám lấy cơ sở, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó bí thư Thị ủy Bến Tre.

   Trong một trận càn, Nguyễn Thanh Trà bị bắt và do sự khai báo của một cán bộ đầu hàng, nên bị lộ. Biết ông là một cán bộ lãnh đạo ở địa phương, có học thức, lại thuộc thành phần khá giả, nên địch tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hứa hẹn dành cho một chỗ ngồi có bổng lộc cao sang, nhưng đồng chí một mực từ chối, không thừa nhận những điều mà tên phản bội đã nói.

   Không đạt được mục đích, bọn chỉ huy ra lệnh dùng mọi cực hình tra tấn ông rất dã man, cuối cùng vẫn không moi được một điều gì quan trọng như chúng muốn. Trong nhà giam, kiệt sức vì đòn roi và bị bỏ đói, đồng chí cảm thấy mình không thể kéo dài được sự sống bao nhiêu ngày nữa, đã dùng mảnh chai đựng nước cam, rạch bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam dòng chữ "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” rồi móc ruột mà chết. Kẻ địch phát hiện kịp, đã gọi bọn lính đến băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu ở nhà thương. Nhưng ông đã bứt băng, lôi ruột mình ném vào mặt bọn gác ngục, rồi tắt thở. Hôm ấy là ngày 24 tháng giêng năm Tân Mão (1952), lúc vừa tròn 33 tuổi.

   Tấm gương hy sinh đầy tiết khí cách mạng trước uy lực kẻ thù của Nguyễn Thanh Trà có tác dụng động viên, giáo dục rất lớn đối với cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ. Và, cho đến nay, gần nửa thế kỷ trôi qua, tên tuổi và hành động anh hùng của đồng chí vẫn còn in sâu trong ký ức của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân Bến Tre. Năm 2000, ông được Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Tôi đến Bến Tre thời “qua sông còn phải lụy phà”, khi ấy đi mất nhiều thời gian, ngán lắm. Bây giờ thì từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre rất nhanh (chỉ mất khoảng 1 giờ 45). Bởi chiếc cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ hai tỉnh Bến Tre - Tiền Giang, Bến Tre đã hoàn toàn phá bỏ thế cách trở của vùng đất cù lao. Và thời ấy đến Bến Tre cũng không có nhiều khách sạn, nhà nghỉ để mà lựa chọn như bây giờ.

 

Qua sự giới thiệu của bè bạn, lần này đến Bến Tre với gia đình tôi chọn điểm nghỉ ở Khách sạn Sao Mai, số 106C - ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Cơ sở lưu trú này cũng dễ tìm và nằm ở vị trí khá thuận lợi, cạnh khu vực chợ phường 7 và gần với khu dân cư cao cấp Sao Mai.

Quan sát chung, tôi thấy toàn khu vực khách sạn lấy ý tưởng cảnh sân vườn là chủ yếu, nên không gian rất thoáng mát, kết hợp trang trí bên ngoài cùng màu xanh của cây cảnh rất hấp dẫn. Các vật dụng bàn, ghế đều làm bằng gỗ cao cấp, được bố trí ở những gian nhà ngoài để du khách có thể ngồi ngắm cảnh, thư giãn, trao đổi công việc…. Khung cảnh nơi đây đã thật sự tạo cho du khách sự thích thú khác lạ. Những ngày nghỉ tại đây, tôi gặp một số nhạc sĩ khá nổi tiếng của thành phố Hồ Chí Minh đang ở đây đi thực tế sáng tác. Tôi nghĩ với không gian cảnh quan thoáng mát, xanh – sạch - đẹp, yên ả thế này, thì rất lý tưởng cho giới văn nghệ sĩ cảm hứng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật hay phục vụ cho đời.

Với tôi, đây là điểm nghỉ ngơi lý tưởng, thích nhất là bữa ăn trưa, ăn chiều rất hợp khẩu vị, ngon miệng, giá bình dân, do khách sạn phục vụ theo yêu cầu của khách. Qua tìm hiểu, Khách sạn Sao Mai hiện có 36 phòng, được trang bị đầy đủ tiện nghi và chia thành nhiều loại phòng để khách có thể lựa chọn. Mỗi phòng nghỉ phía trước hoặc phía sau đều có bố trí bàn uống trà và ghế bố để du khách thư giãn….  Ngoài ra, trong khu khách sạn còn có sân tennis, sân cầu lông để khách rèn luyện sức khỏe hay giao lưu thể thao cùng bạn bè thân hữu mỗi khi đến công tác hay nghỉ dưỡng tại đây. Và khoảng sân vườn trống có bố trí lối đi, du khách đi tản bộ xung quanh. Tại khu khách sạn này có bố trí bãi để xe và xe 50 chỗ thoải mái vào đến nơi.

Thời điểm tôi và gia đình nghỉ tại đây cũng là lúc Khách sạn Sao Mai vừa mới được nâng cấp và đang làm thủ tục đề nghị ngành chức năng công nhận 1 sao, bây giờ chắc đã được công nhận rồi. Và tôi nghĩ rằng với sự phát triển hiện nay của  Bến Tre sẽ còn nhiều cơ sở lưu trú lý tưởng hơn hoặc cỡ như Khách sạn Sao Mai.

 

Trong khuôn viên khách sạn có hội trường mini khoảng 100 chỗ ngồi, thích hợp để tổ chức những cuộc hội nghị vừa, nhỏ, những cuộc gặp gỡ, giao lưu…, tất cả bàn, ghế và một số trang trí khác trong hội trường chủ yếu làm bằng gỗ cao cấp nhìn rất sang trọng và cổ kính. Khu nhà hàng thiết kế theo dạng nhà sàn, vật liệu chính cũng là gỗ, được xây dựng bên hồ nước, giúp điều hòa không khí đảm bảo thực khách khi dùng bữa ở nhà hàng luôn luôn thoải mái…. Các món ăn đặc sản của vùng sông nước ĐBSCL cũng được khách sạn đưa vào thực đơn phục vụ khách như: Cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, mắm chưng, mắm kho, canh chua cá bông lau, cá ngát, cá hú, … và còn nhiều món hấp dẫn khác sẽ phục vụ khách.

Nghỉ tại Khách sạn Sao Mai, đêm xuống du khách có thể tản bộ theo hướng vòng xoay Hàm Luông (trên đường tránh QL 60), đây là con đường rộng, khá sang trọng, có nhiều lối kiến trúc xây dựng nhà ở hay các công trình khác rất đẹp, hai bên đường tránh có nhiều quán ăn, uống, các điểm sinh hoạt giải trí…, tạm gọi là “làng ẩm thực – giải trí”. Ở đây, có đủ các món đặc sản để du khách mặc tình khám phá và thưởng thức. Nếu du khách thả bộ theo hướng về vòng xoay Bình Phú, đến cầu Bến Tre 2, tản bộ ngắm cảnh sông Bến Tre về đêm và con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông. Con đường này cũng được nhiều du khách chấm là con đường đẹp không thua gì các con đường ở Tp Hồ Chí Minh. Thích thú nhất là được tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát, yên ả của vùng sông nước xứ dừa và những nụ cười thân thiện mến khách, tận tình hướng dẫn của người dân nơi đây.

 

Sau vài ngày nghỉ ngơi thoải mái, từ giã xứ dừa Bến Tre, trả phòng và chia tay Khách sạn Sao Mai, cũng là lúc khách sạn đang tiếp nhận đoàn khách học sinh (gồm 02 xe 50 chỗ ngồi) là con của các chuyên gia nước ngoài đến làm việc tại Tp Hồ Chí Minh đến tham quan tại Bến Tre. Bắt gặp được điều đó, cũng có thể khẳng định sự tin cậy, an toàn, lý tưởng của điểm nghỉ kết hợp với sân vườn ở đây. Hy vọng Khách sạn “Sân vườn Sao Mai” tại thành phố Bến Tre sẽ ngày càng thu hút nhiều khách và phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Làng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịchLàng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịch
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề dệt chiếu An Hiệp với đa dạng các sản phẩm chiếu khác nhau nhưng mặt hàng chủ lực là chiếu cói, sau này có thêm chiếu lục bình; không chỉ sản xuất các mặt hàng chiếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu mà còn là nơi sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp khác, đa dạng về nguyên liệu, phong phú về sản phẩm. Lực lượng lao động ở làng nghề không ngừng tăng lên, với hơn 50 hộ ban đầu nay đã có trên 200 hộ tham gia dệt chiếu và gần 400 hộ tham gia các mặt hàng khác, có trên 1.000 lao động. Mỗi năm, làng nghề An Hiệp sản xuất trên hàng chục ngàn m2 chiếu, hàng trăm tấn chỉ xơ dừa và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khá

 

Du khách trải nghiệm dệt chiếu tại làng nghề dệt chiếu An Hiệp

Theo chân đoàn làm phim phóng sự làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại Bến Tre, tôi có dịp về lại xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bây giờ, vùng đất An Hiệp đã hoàn toàn mới với những con đường tận trong các thôn ấp đã được trải bê tông phẳng phiu, những hàng dừa tỏa bóng mát dọc hai bên đường, những khu vườn với đủ các loại trái cây như: Bưởi da xanh, cam, quýt, cacao,… xanh mướt, điều kiện giao thông nông thôn của người dân ở đây đã thuận lợi hơn trước rất nhiều, kinh tế- xã hội xã nhà ngày càng phát triển. Được biết, chính quyền địa phương và nhân dân xã An Hiệp đang chung tay phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới để góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, đưa kinh tế xã An Hiệp phát triển một cách bền vững.

Theo con đường làng quanh co nông thôn, chúng tôi tìm gặp cô Nguyễn Thị Khánh, người đã gắn bó với nghề dệt chiếu từ rất lâu. Cô cho biết: "Năm nay tôi đã được 55 tuổi và gắn bó với nghề dệt chiếu truyền thống ở An Hiệp hơn 20 năm, lúc đầu gia đình chỉ có vợ chồng tôi làm chiếu, cuộc sống cũng gặp rất nhiều khó khăn, sản phẩm làm ra chỉ bỏ mối cho một vài cơ sở nhỏ lẻ, nhưng gia đình tôi quyết gắn bó với nghề chiếu, vì đây là nghề truyền thống, nên tôi quyết tâm giữ các nghề, cái nghiệp là vậy"; cô cho biết nguyên liệu chính để dệt chiếu là lát, ngoài ra còn sử dụng lục bình để dệt chiếu. Cô Khánh cho biết thêm: "Muốn làm nên một sản phẩm chiếu cói đẹp thì phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu như lựa lát, lục bình đem đi phơi khô rồi mới dệt; dệt xong thì chuyển sang khâu may biên, đem đi phơi nắng, tẩy trắng, chống mốc, sơn bóng rồi đóng gói, xuất hàng đi.

Ở làng nghề dệt chiếu, từ người già đến trẻ con ai cũng biết dệt chiếu; những em học sinh, sinh viên ở đây vào những ngày nghỉ hè, các em cũng tập tành dệt chiếu nhằm giữ gìn và bảo tồn cái nghiệp mà các thế hệ đi trước đã để lại. Em Nguyễn Khánh Thuy- học sinh lớp 10 cho biết: "Cả nhà em ai cũng dệt chiếu, ngoài giờ học trên lớp, về nhà em phụ cha mẹ dệt chiếu để bán cho các cơ sở, phụ giúp gia đình kiếm tiền để trang trải cuộc sống và đóng học phí cho em, nhờ nghề dệt chiếu này mà cuộc sống của gia đình em đã khá hơn trước rất nhiều".

Nhiều điều kiện để phát triển du lịch

Hiện nay, du lịch Bến Tre đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, du khách ngày càng biết đến Bến Tre nhiều hơn. Đặc biệt, loại hình du lịch làng nghề đang được ưu tiên phát triển tại Bến Tre. Sở Công Thương tỉnh cũng đã tập trung hỗ trợ đầu tư về khuyến công, hạ tầng, xúc tiến thương mại, mở nhiều lớp tập huấn đào tạo nghề, kỹ năng quản lý, kiến thức hội nhập, kỹ thuật an toàn cho người dân ở các làng nghề. Ở Bến Tre, việc phát triển các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn từ lâu đã được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, đây cũng là một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới đặt ra. Vì vậy, việc ổn định và phát triển làng nghề dệt chiếu An Hiệp- Châu Thành không những góp phần xây dựng nông thôn mới mà còn có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương cùng với việc gắn liền với vùng du lịch sông nước 8 xã ven sông Tiền. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để An Hiệp vực dậy ngành kinh tế du lịch địa phương.

161014_112.jpg 

Người nông dân cần mẫn gắn bó với nghề dệt chiếu

Nếu làng nghề dệt chiếu An Hiệp được hỗ trợ vốn để các hộ sản xuất đều được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các công đoạn dệt chiếu, nâng cao hiệu suất sản phẩm, tiết kiệm thời gian, mẫu mã tạo ra ngày càng tinh xảo hơn được nhiều du khách yêu thích, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì kinh tế- xã hội của xã An Hiệp nói chung, kinh tế gia đình của các cơ sở dệt chiếu ở đây cũng được nâng cao vươn lên làm giàu một cách bền vững. Ngoài ra, các cấp các ngành quản lý, các Hiệp hội làng nghề, các nhà đầu tư cũng cần hỗ trợ, quan tâm hơn đến các làng nghề trên địa bàn tỉnh, nhất là những nghề truyền thống để không mai một góp phần xây dựng các làng nghề là điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về du lịch sinh thái miền sông nước Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Bãi NgaoBãi Ngao
&nbsp;

Bãi biển thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, có nhiều nghêu nên được gọi là Bãi Ngao. Sách Gia Định thành thông chí gọi là Ngao Châu. Đây là quê hương của Phan Thanh Giản.

Trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Dàu dàu mây bạc cõi Ngao Châu”. Ngao Châu tục danh là Bãi Ngao.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
&nbsp;

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn ThuyềnAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Thuyền


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Nguyễn Văn Thuyền (tức Dũng) sinh năm 1956, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành
Thới, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, thiếu úy,
đại đội trưởng đại đội 3 bộ binh, tiểu đoàn 179, Đoàn 9906, Mặt trận 979, Quân
khu 9.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Tháng
1-1979, Nguyễn Văn Thuyền được bổ nhiệm đại đội trưởng. Anh chỉ huy đơn vị
chiến đấu ở khu vực tỉnh Takeo (Cam-pu-chia). Trong chiến đấu, Nguyễn Văn
Thuyền chỉ huy mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, riêng Thuyền diệt 11 tên
địch, bắt 4 tên, thu 19 súng. Ngày 7-8-1979, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy đơn vị
đánh chiếm trận địa ở núi <st1:place w:st="on"><st1:city w:st="on">Tà</st1:city>
 <st1:state w:st="on">Ri</st1:state></st1:place>. Địch ở thế cao ném lựu đạn và
thủ pháo xuống chặn đội hình tấn công của ta. Thuyền chỉ huy mưu trí đánh vào sườn
và phía sau lưng địch, đơn vị làm chủ trận địa. Đêm đó, địch dùng lực lượng tập
kích vào đơn vị, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy anh em đánh lui nhiều lần tập kích
của địch, giữ vững trận địa. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày
11-3-1979, đơn vị Nguyễn Văn Thuyền làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở tây
nam núi Tượng Lăng. Địch lợi dụng địa thế cao, chống trả quyết liệt. Thuyền chỉ
huy đơn vị vừa đánh địch phía trước, vừa gỡ mìn và cho một bộ phận bí mật bất
ngờ đánh vào sườn địch, thu nhiều vũ khí và 5 tấn đạn, giải phóng hơn 1.000 dân.
<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày
31-3-1979, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy đơn vị chiến đấu liên tục cả ngày ở khu
vực ngã tư chữ K, đánh lui 10 đợt tấn công của tiểu đoàn địch có xe tăng yểm
trợ. Do vết thương quá nặng, Nguyễn Văn Thuyền đã anh dũng hy sinh.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 3 bằng khen. Ngày
25-1-1983, Nguyễn Văn Thuyền được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Thuyền (tức Dũng) sinh năm 1956, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành Thới, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, thiếu úy, đại đội trưởng đại đội 3 bộ binh, tiểu đoàn 179, Đoàn 9906, Mặt trận 979, Quân khu 9.

Tháng 1-1979, Nguyễn Văn Thuyền được bổ nhiệm đại đội trưởng. Anh chỉ huy đơn vị chiến đấu ở khu vực tỉnh Takeo (Cam-pu-chia). Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, riêng Thuyền diệt 11 tên địch, bắt 4 tên, thu 19 súng. Ngày 7-8-1979, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy đơn vị đánh chiếm trận địa ở núi Tà Ri. Địch ở thế cao ném lựu đạn và thủ pháo xuống chặn đội hình tấn công của ta. Thuyền chỉ huy mưu trí đánh vào sườn và phía sau lưng địch, đơn vị làm chủ trận địa. Đêm đó, địch dùng lực lượng tập kích vào đơn vị, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy anh em đánh lui nhiều lần tập kích của địch, giữ vững trận địa.

Ngày 11-3-1979, đơn vị Nguyễn Văn Thuyền làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở tây nam núi Tượng Lăng. Địch lợi dụng địa thế cao, chống trả quyết liệt. Thuyền chỉ huy đơn vị vừa đánh địch phía trước, vừa gỡ mìn và cho một bộ phận bí mật bất ngờ đánh vào sườn địch, thu nhiều vũ khí và 5 tấn đạn, giải phóng hơn 1.000 dân.

Ngày 31-3-1979, Nguyễn Văn Thuyền chỉ huy đơn vị chiến đấu liên tục cả ngày ở khu vực ngã tư chữ K, đánh lui 10 đợt tấn công của tiểu đoàn địch có xe tăng yểm trợ. Do vết thương quá nặng, Nguyễn Văn Thuyền đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 3 bằng khen. Ngày 25-1-1983, Nguyễn Văn Thuyền được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Bến RớBến Rớ
&nbsp;

Thường gọi ngã ba Bến Rớ


Ngã ba sông, nơi gặp nhau của rạch Bần Quỳ và sông Ba Tri cá trại ở cuối xã Châu Hòa, huyện Ba Tri. Nơi đây, ngư dân có dựng một số rớ giàn (dụng cụ đánh bắt cá rất phổ biến ở Trung Bộ) để đánh bắt tôm cá. Tại ngã ba này, ghe thuyền thường đậu lại để mua bán cá tôm, cây, lá lợp nhà, hay đổi nước ngọt, nấu cơm nước, chờ thủy triều lên hay xuống. Câu ca dao lưu truyền ở Bến Tre ca ngợi sản vật nơi đây:

        Bao phen quạ nói với diều,

        Ngã ba Bến Rớ có nhiều cá tôm.

Đã ban hành
Nước ngầmNước ngầm
Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Kết quả thăm dò địa chất – thuỷ văn về nước ở giồng cát , nước ngầm tầng nông và nước ngầm tầng sâu cho thấy ở Bến Tre có các tầng nước như sau:

Nước ngầm ở giồng cát (phức hệ chứa nước Holocene)

Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Theo tính toán của cơ quan khảo sát về nước ngầm, thì nước ở giồng cát có tổng trữ lượng là 12 triệu m3, môđun khai thác khoảng 844 m3/ngày/km2. Chất lượng nước ở vùng giồng cát thay đổi theo mùa và tuỳ thuộc vào độ sâu của giếng. Nhiều nơi, nước giếng bị nhiễm mặn do khai thác quá mức cho phép. Có nơi nước bị nhiễm bẩn do làm muối, nuôi tôm, chăn nuôi súc vật, thải ra nhiều chất hữu cơ. Nhìn chung, về mặt lý hóa, nước ở giồng cát còn tạm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt ở nông thôn trong hoàn cảnh hiện nay, dĩ nhiên về mặt vi sinh còn nhiều vấn đề phải xử lý.

Nước ngầm ở tầng (< 100 m)

Đây là phức hệ chứa nước Pleistocene, gồm hai tầng: tầng thứ nhất ở độ sâu 30 – 50 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng chứa nước < 10 m. Nước có tính kiềm, độ pH từ 6,5 – 7, hàm lượng sắt cao từ 0,5 – 5 mg/l, độ mặn dao động từ 454 – 5.654 mg/l. Cũng có khu vực nước nhạt tập trung ở phía bắc huyện Chợ Lách, huyện Châu Thành, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri (An Thuỷ).

Tầng thứ hai ở độ sâu từ 60 – 90 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng nước > 10 m. Nước có độ pH từ 6 – 7,5, hàm lượng sắt cao từ 0,04 – 10 mg/l, độ mặn dao động lớn từ 454 – 15.071 mg/l, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng thứ hai có khu vực chứa nước nhạt phân bố ở phía bắc huyện Châu Thành, huyện Chợ Lách, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri.

Nước ngầm nhạt tầng nông đang được khai thác phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân trong chương trình cấp nước sạch ở nông thôn của tỉnh.

Nước ngầm ở tầng sâu (> 100 m)

Tầng này gồm 2 phức hệ chứa nước: phức hệ chứa nước Pléistocène và phức hệ chứa nước Miocène.

- Phức hệ chứa nước Pléistocène có nhiều lớp đan xen đến chiều sâu 395 m, trong đó quan trọng nhất là tầng sâu 290 – 350 m, phân bố rộng trong toàn tỉnh, trong đó nước tại Châu Thành có chất lượng tốt hơn cả. Diện tích phân bố tầng nước nhạt này khoảng 112 km2 từ thị xã Bến Tre về đến phía bắc phà Rạch Miễu với trữ lượng tiềm năng là 74.368 m3/ngày đêm, khả năng khai thác công nghiệp cho phép là 10.500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại là nước lợ, mặn.

- Phức hệ chứa nước Miocène tồn tại ở độ sâu 400 m trở xuống, gồm nhiều tầng nước, trong đó quan trọng nhất là tầng ở độ sâu 410 – 440 m, có bề dày trung bình tầng chứa nước là 18 m. Nước có chất lượng tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng chứa nước nhạt này phân bố từ thị xã Bến Tre lên phía bắc huyện Châu Thành, với diện tích rộng 150 km2. Trữ lượng khai thác công nghiệp cho phép là 300 – 500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại nhiễm mặn cao. Nước nhạt tầng sâu có khả năng khai thác để bổ sung cho nhà máy nước thị xã trong mùa khô đồng thời cung cấp cho các xí nghiệp chế biến của tỉnh.

Đã ban hành
Ông già Ba TriÔng già Ba Tri
&nbsp;

Image
Ông già Ba Tri
Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

   Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

   Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến TreKiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

   Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
&nbsp;
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn CẩnAnh hùng liệt sĩ Ngô Văn Cẩn
Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Ông ÓÔng Ó
&nbsp;

    Nói đến những tác giả truyện kể dân gian Nam bộ, không thể không nhắc đến ông Ó. Ông Ó có tài nói trạng nổi tiếng, danh truyền khắp vùng không chỉ vì số lượng sáng tác của ông gấp nhiều lần các tác giả khác, mà còn sự độc đáo của đề tài, ở cấu trúc truyện, nhất là ở biện pháp nghệ thuật dẫn dắt câu chuyện, đưa người nghe vào cuộc, thậm chí có những người thích nghe ông kể chuyện đã có ý thức "cảnh giác" ông gạt mình, thế nhưng rồi vẫn bị mắc mưu ông như thường.

   Tiếng đồn về tài nói trạng và tiếu lâm của ông đã vang đến kinh đô Huế - lúc bấy giờ là dưới triều Minh Mạng và Tự Đức - đến nỗi các ông hoàng bà chúa, do nghe các quan trấn nhậm từ đất Đồng Nai ra hay kể lại tài nói trạng trứ danh của ông Ó, rất muốn được gặp ông. Một đông cung đã yêu cầu các quan ở Nam Kỳ mời ông Ó ra Huế để mua vui cho họ, và ông Ó được gửi theo một chuyến ghe bầu chở lương thực về triều đình. Tài nói trạng và tiếu lâm của ông đã hằn sâu trong ký ức của người dân vùng cù lao Minh đến nỗi hễ ai nói trạng, nói láo giỏi thì người ta gán cho danh hiệu: "Cháu ruột ông Ó đấy!". So với tính chất nho, hay chữ và tinh tế của truyện Trạng Quỳnh hay Xiển Bột thì truyện ông Ó không bằng, nhưng các truyện của ông không thô thiển và tầm thường như truyện của Ba Giai, Tú Xuất. Truyện của ông đã được nhiều nhà sưu tầm văn học dân gian ghi lại, được in trong nhiều tập sách của các nhà xuất bản ở Nam Kỳ và trong cả nước trước đây. Có thể kể ra một số tập như: Truyện Ông Ó do Bùi Quang Nho sưu tầm (1913), Chuyện cười cổ nhân do Vương Hồng Sển sưu tập (1977), trong đó có 15 truyện của ông Ó. Tập Văn học dân gian Bến Tre (NXB Khoa học xã hội, 1988) đã giới thiệu 26 tập truyện ông Ó. Rõ ràng ông Ó là tác giả dân gian có một chỗ đứng trong hàng những tác giả truyện kể dân gian trong cả nước như: Trạng Lợn, Ba Phi, Bộ Lữ v.v... Nói riêng ở vùng đất mới Nam Bộ, ông Ó xuất hiện trước Ba Phi hơn một thế kỷ.

   Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói rõ về dòng họ, năm sinh, năm mất và quê quán của con người này. Nhưng qua "Lời giới thiệu" trong Truyện Ông Ó của ông Bùi Quang Nho, và nếu đối chiếu, liên hệ với những sự kiện cùng thời điểm xảy ra cũng như những vấn đề liên quan thu thập được qua những cuộc điều tra, khảo sát, ta có thể biết được một số nét tương đối cụ thể về cuộc đời, hoàn cảnh, nghề nghiệp cùng chuyện ông vượt qua cả ngàn cây số đường biển đến đất cố đô, để thỏa mãn tính hiếu kỳ của những ông hoàng, bà chúa ăn không ngồi rồi.

   Về quê quán gốc của ông Ó ở đâu thì không rõ, chỉ biết rằng khi hai vợ chồng đến dựng chòi, chặt cây, phá rừng canh tác ở xóm Dưa, thuộc làng Phước Hội, tổng Minh Đạt, hạt Bến Tre, nay là ấp An Quới, xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thì họ đã vào khoảng 50 tuổi và không có con cái. Như vậy có nghĩa là ông Ó sinh vào khoảng những năm 1810 – 1820.

   Người chồng có nghề làm bẫy bắt muông thú rất tài tình, đặc biệt nghề bắt chim ó biển (vùng nay thời ấy có nhiều ó biển thường bay lượn trên trời giống diều hâu, để tìm bắt những con mồi sống như gà, vịt con của bà con nông dân nuôi). Hễ bắt được con ó thì ông lại mang ra chợ bán, đổi gạo và các vật dụng khác, từ đó đám trẻ con quanh vùng rất khoái gặp ông để được xem, được nghịch chim lạ. Chúng gọi ông là "Ông Ó" - tức người chuyên bán chim ó biển ở chợ. Ông lại vốn vui tính, kể chuyện hấp dẫn, đôi khi phóng đại những chuyện về săn bắt thú, chim, về những chuyện “trên trời, dưới đất” nên lôi cuốn trẻ con lẫn người lớn. Cái tên "Ông Ó" được gọi mãi thành quen, và lâu ngày cũng chẳng ai buồn biết đến tên thật của ông là gì nữa. Và cho đến khi ông "chơi xỏ" vợ anh nhà giàu trong làng, "trả đũa" anh hàng thịt tham lam ở chợ, cho một gã nhà giàu khác "mượn trâu", "bán sách nói láo" cho viên tri huyện Cái Quao... thì danh ông Ó được nhiều người đồn đại. Theo lời kể của các bô lão vùng Mỏ Cày, thì ông Ó vốn là một nông dân ít chữ nghĩa, nhưng sáng dạ, tính khí can trường. Ông có tài đối đáp, ứng phó nhanh nhạy, nắm bắt tâm lý của từng đối tượng rất kịp thời, do đó ông thường tạo ra những tình huống bất ngờ bằng những mẩu chuyện "bịa như thật", mà kết cục là những tràng cười khoái trá, hay có khi là nụ cười mỉa mai, chua chát của người nghe, do biết mình bị lừa mà vẫn không tránh khỏi, thậm chí có lúc là những đòn rất đau, nhưng người trong cuộc đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Bằng lối kể chuyện, bằng cách ứng phó linh hoạt, hợp lý, ông phơi bày, chế giễu những thói hư, tật xấu của người đời bằng một chuỗi truyện trạng, truyện tiếu lâm mang ý nghĩa trào lộng. Đặc biệt, mũi nhọn chế riễu, phê phán, bọn có chức có quyền, tham lam, hống hách, ích kỷ, từ kẻ nhà giàu, hương cả trong làng đến viên cai tổng, tri huyện và đến cả Đông cung thái tử và đám quan lại lớn nhỏ ở triều đình Huế, ông cũng không tha. Hay nói như nhà triết học Đức Hégel, ông Ó đã tạo ra được những “tiếng cười làm trúc nhào những thần tượng... làm cho những thần tượng ấy trở thành những cục đất thó" (1), trong xã hội cũ. Có thể nói, ông Ó là một dạng Trạng Quỳnh, Xiển Bột ở vùng đất mới phía Nam trong thế kỷ XIX.

Chú thích:

(1) Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin, Nxb Sự thật, H., 1963.

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer