Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Anh hùng lực lượng vũ trang
Anh hùng Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí là đảng viên, Thiếu tướng, Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam. Sau năm 1975, đồng chí là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khoá IV, V, VI), đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch liên đoàn Phụ nữ thế giới, Chủ tịch hội hữu nghị Việt Nam - Cu Ba. Đồng chí từ trần năm 1992. 
 
Đoàn Hoàng Minh (05/12/2007)
 
Anh hùng Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ. 
 
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
 

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
 Dưới chế độ thực dân Pháp (1867-1945) Dưới chế độ thực dân Pháp (1867-1945)
Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận.

Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận. Thành Định Tường bị chiếm ngày 12-4-1861, Biên Hòa ngày 18-12-1861, tiếp đó thành Vĩnh Long rơi vào tay giặc ngày 23-12-1862.

Phản ứng lại hành động của quân cướp nước, đồng bào ta đã nhất tề đứng dậy chiến đấu chống lại chúng với tất cả những gì mà họ có được. Hầu như các tầng lớp xã hội đều có mặt và đã đóng góp hết sức mình, từ người Việt đến người Minh Hương. Truyền thống yêu nước của đồng bào ta hun đúc từ hàng thế kỷ trong quá trình lịch sử, nay được bộc lộ với tất cả những nét đẹp và hào hùng nhất. Nhiều người yêu nước ở các tỉnh miền Đông không chịu sống trong vùng do giặc kiểm soát, đã bỏ ruộng vườn, cơ nghiệp để đi đến vùng đất còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình ở phía Bắc như Bình Thuận, hoặc về các tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Vùng đất Bến Tre, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long (được Pháp trả lại cho triều đình Huế theo hiệp ước 1862) đã trở thành nơi tiếp nhận những luồng người "tị địa”. Cụ Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình từ quê vợ Cần Giuộc đi thuyền về cư trú ở Ba Tri là một ví dụ. Việc các học trò của cụ Võ Trường Toản, trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông... tổ chức di dời hài cốt của thầy từ Hòa Hưng (Sài Gòn) về Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) với ý tưởng không để thầy “nằm trên đất địch chiếm đóng” cũng phản ánh quan điểm sĩ phu Nam Kỳ lúc bấy giờ.

Cuộc chiến tranh xâm lược đã gây nên những xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt từ năm 1867, khi ba tỉnh miền Tây rơi nốt vào tay giặc. Theo số liệu thống kê của thực dân vào thời kỳ đầu của cuộc xâm lược Pháp ở Nam Kỳ (1859) tỉnh Bến Tre có 110.000 dân (1). Đến năm 1869, nghĩa là sau 10 năm - thời kỳ diễn ra cuộc “tị địa” về các tỉnh miền Tây, vùng đất còn tự do – dân số Bến Tre tăng lên 156.000 người (2), tức gấp rưỡi, trung bình mỗi năm tăng 4.700 người. Điều này chỉ có thể giải thích được là ngoài số dân tăng tự nhiên, còn có khá đông người “tị địa” từ nơi khác đến Bến Tre.

Thế nhưng, đến khoảng thời gian 10 năm tiếp theo (1869 – 1879), dân số Bến Tre chỉ tăng lên đến 163.000 người, nghĩa là số tăng (6.300 người) chỉ bằng một năm rưỡi của mười năm trước đó. Vấn đề đặt ra là phải chăng số tử suất tăng nhiều do chiến tranh, nên tốc độ phát triển dân số chậm lại? Tất nhiên số người chết trong chiến tranh bao giờ cũng cao hơn thời bình, nhưng sẽ không đúng khi vận dụng để giải thích trong trường hợp cụ thể của tỉnh nhà trong những năm 1869 – 1879. Như ta biết, đây là những năm đầu Bến Tre bị giặc chiếm. Vùng đất “tị địa” của những sĩ phu và đồng bào yêu nước của các tỉnh miền Đông trong thời kỳ trước 1867 giờ đây cũng chịu chung số phận đau thương: “Lòng giận ngàn thu đất nổi dày" (3).

Với truyền thống bất khuất, nhân dân Bến Tre đã đứng lên cầm vũ khí trực tiếp chống giặc. Tiếp nối những gương hy sinh anh dũng thuộc thế hệ chống Pháp đầu tiên trên đất Bến Tre như Trương Tấn Chí (trận Hưng Điểm), Phan Tòng (trận Giồng Gạch), nhiều cuộc nổi dậy của nghĩa quân liên tiếp nổ ra. Đó là cuộc khởi nghĩa do hai anh em Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo ở Ba Tri, cuộc khởi nghĩa ở vùng Ba Châu do Tán Kế lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa ở Mỏ Cày do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương tổ chức. Nhiều nơi ở trong tỉnh, nhân dân đã tỏ thái độ bất hợp tác với giặc. Họ hy sinh tài sản, tổ chức làm "vườn không nhà trống", đốt chợ, đào đường, phá cầu để ngăn bước tiến của giặc. Nhân dân cả làng Quới Điền, tổng Minh Phú và làng An Thới, tổng Minh Huệ đã bỏ quê kéo nhau đi nơi khác sinh sống (4).

Tình hình diễn ra trên đây cho phép ta đi đến kết luận về hiện tượng tăng dân số chậm của 10 năm qua (1869 – 1879) là do tử suất tăng vì chiến tranh, nhưng phần chính là do một bộ phận nhân dân đã tự động bỏ quê đi nơi khác, hoặc lẩn tránh ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thực dân. Trong chiến tranh, số người chết do đánh nhau thường là nam giới, kể cả đối tượng bị bọn thống trị truy nã buộc phải bỏ xứ tránh đi nơi khác cũng phần lớn là nam giới. Điều này đã làm thay đổi cơ cấu dân số, tỷ lệ giữa nam và nữ, tháp tuổi, và tất nhiên hiện tượng này có ảnh hưởng nhất định đến tốc độ phát triển kinh tế và đời sống xã hội trong nhiều năm sau đó.

Ngày 15-10-1888, chính quyền thuộc địa ra nghị định đánh thuế ruộng và thuế thân theo chính sách mới ở Nam Kỳ. Chúng bãi bỏ cách đánh thuế thân theo lối phân bố cho từng làng của nhà Nguyễn trước đó, bắt buộc những người được coi là “nội đinh” đều phải nộp một đồng bạc Đông Dương mỗi năm.

Ngày 5-10-1882, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho phép Thống đốc Nam Kỳ được thu thêm mỗi làng xã một khoản tiền để chi vào việc "giữ gìn trật tự, trị an" và những khoản "tiền phát" đối với những làng xã có người tham gia phong trào chống Pháp. Như vậy có nghĩa là, chính quyền thuộc địa muốn dùng biện pháp kinh tế để đe dọa và khống chế những người yêu nước ngay trong làng quê của họ.

Ngày 3-10-1883, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định bắt các làng xã ở Nam Kỳ lập sổ bộ sinh tử, giá thú để nắm chặt số dân hơn nữa.

Kể từ thập kỷ 80 về sau, công cuộc "bình định” của thực dân Pháp ở Nam Kỳ về cơ bản coi như đã xong, những cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của lực lượng yêu nước đã bị dập tắt. Chính quyền thuộc địa, cùng với việc củng cố bộ máy thống trị từ trên đến dưới, cũng tiến hành xây cất các công sở. Ở Bến Tre, tiếp theo các việc xây dựng tòa hành chính là việc lập khám đường, ty cảnh sát, kho bạc, ty thương chánh, trại lính mã tà, tòa án. Ngoài ra, một số công trình công cộng xã hội cũng được xây dựng như bệnh viện, trường tiểu học, chợ Bến Tre...

Ngày 6-10-1891, một cuộc điều tra, đo đạc, phân loại ruộng đất trên toàn cõi Nam Kỳ được tiến hành. Thêm vào đó, bọn tay sai "tân trào" lại ra sức bóc lột, cướp giật đất đai, tiền của của những gia đình có người tham gia nghĩa quân, hoặc có cảm tình, ủng hộ kháng chiến. Ở Bến Tre, chúng đã tiến hành việc lập địa bạ, phân định lại ranh giới đất tư và đất công.

Các chủ trương trên không ngoài việc chuẩn bị cho một kế hoạch khai thác thuộc địa quy mô, mà việc xuất khẩu lúa gạo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người nông dân vẫn là đối tượng bị đè nén, bóc lột, bị bần cùng hóa hơn mà thôi. Nhiều người nông dân phải cầm bán ruộng đất, bỏ quê hương đến nơi khác để sinh sống, hoặc ra thành thị làm cu-li, tạp dịch, kéo xe v.v... Thực trạng này đã làm cho sự biến động dân cư thêm phức tạp.

Các số liệu thống kê của chính quyền thực dân cho thấy diễn biến của sự gia tăng dân số của Bến Tre (không kể cù lao An Hóa lúc này còn thuộc tỉnh Mỹ Tho) trong những năm đầu thế kỷ XX như sau:


1901: 216.816 người

1909: 219.000 người

1914: 270.000 người

1918: 309.000 người

1929: 315.000 người (5)

Như vậy, trong vòng 30 năm, số dân Bến Tre từ 216.000 người tăng lên 315.000 người, trung bình mỗi năm tăng 3.270 người. Đó là tỷ lệ phát triển dân cư tương đối thấp. Trong khi đó, ở giai đoạn 15 năm cuối cùng của chế độ thực dân Pháp (1930 – 1945) dân số của Bến Tre mỗi năm tăng trung bình 9.000 người (6). Trong giai đoạn này có một vài sự kiện đáng ghi nhận: cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) với chính sách khủng bố trắng của địch và việc động viên một số thanh niên đi lính sang châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những sự kiện này nhìn chung không gây nên những xáo trộn lớn về mặt dân cư.

Một điều đáng lưu ý là ở Bến Tre từ sau khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, không còn những nguồn lưu dân từ phía Bắc bổ sung liên tục như ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX về trước. Sự tăng trưởng về dân số chủ yếu là tăng theo tự nhiên. Có một số dân cư từ các tỉnh khác ở Nam Kỳ di chuyển đến Bến Tre, nhưng không nhiều.

Về tình hình phân bố dân cư, nếu như từ nửa đầu thế kỷ XIX về trước, cư dân Bến Tre tập trung chủ yếu ở các vùng giồng, đất đai cao ráo và ở các miệt vườn, ven sông rạch cùng các bến sông, bến tàu thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá, thì sau khi người Pháp đến chiếm đóng, mở mang thêm hệ thống giao thông đường bộ, nhiều tụ điểm dân cư mới được hình thành ở ngã ba, ngã tư, bến phà và những thị tứ mới... Ở các trung tâm hành chính (tỉnh lỵ, quận lỵ) dân số cũng tăng nhanh.

Tỉnh lỵ Bến Tre đặt tại làng An Hội là một trong những điểm dân cư quan trọng. Nằm trên bờ sông Bến Tre, ngay từ thế kỷ XVIII, nơi đây cũng đã làm điểm giao thương sầm uất, thuyền bè lui tới tấp nập, tỉnh lỵ xứng đáng là một trung tâm kinh tế, văn hoá nằm giữa một vùng đất đai trù phú. Con đường liên tỉnh 6A (nay là quốc lộ 60) nối từ bến phà Rạch Miễu ngang qua tỉnh lỵ đến bến phà Hàm Luông, sang tận bến phà Cổ Chiên và tỉnh lộ 26 nay là đường tỉnh 885, từ thị xã chạy qua Mỹ Lồng, Cái Bông, Ba Tri ra tận đến biển đã làm tăng thêm vị trí quan trọng của tỉnh lỵ. Mặc dù dồn về Mỏ Cày, nhưng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nó vẫn không thay đổi. Dân số ở đây vẫn tiếp tục tăng đều. Theo thống kê của Pháp, đầu thế kỷ XX, làng An Hội có 5.352 người, đến năm 1930, tỉnh lỵ có 6.130 người và đầu năm 1943, có 9.800 người (7).

Theo J. C. Baurac trong quyển Nam Kỳ và dân cư (8), vào cuối thế kỷ XIX, tỉnh Bến Tre (không kể cù lao An Hóa) đã hình thành 18 trung tâm dân cư có từ 300 đến 800 người sống tập trung buôn bán, làm các nghề thủ công như Mỹ Lồng, Ba Tri, Hương Điểm, Sóc Sãi, Mỏ Cày, An Định, Đại Điền, Cái Mơn, Thom, Ba Vát v.v... Số dân của hai cù lao lúc bấy giờ là 162.834 người, diện tích canh tác chiếm 97.613 ha trong 154.600 ha diện tích đã được đo đạc.

Ở Bến Tre, vùng có mật độ dân số cao thường là những vùng được khai phá sớm như tổng Bảo An, Bảo Hựu, Bảo Lộc, Bảo Thành (ở cù lao Bảo), các tổng Minh Đạo, Minh Đạt, Minh Thiện, Minh Thuận (ở cù lao Minh) và tổng Hòa Quới ở cù lao An Hóa. Đến đầu thế kỷ XX, thì đất đai ở Bến Tre về cơ bản đã được khai phá xong, không còn những vùng đất hoang rộng lớn như ở các tỉnh miền Tây, trừ một số đất rừng ngập mặn vùng ven biển Bình Đại và Thạnh Phú.

Nhiều chợ búa được lập ra để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cũng như những nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của người dân. Từ chỗ 14 chợ được xây cất nhà lồng chắc chắn vào năm 1892 (không kể các chợ chồm hổm) đến năm 1945, con số đó tăng lên 51 chợ (9), trong đó có những thị trấn, thị tứ sầm uất, hoạt động thương mại khá phồn thịnh như Mỹ Lồng, Giồng Trôm, Hương Điểm, Ba Tri, Mỏ Cày, Thom, Bang Tra, Giồng Luông, Thạnh Phú, Chợ Lách, Tân Thạch, Bình Đại. Nhìn chung, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre trong giai đoạn thuộc Pháp, so với các tỉnh bạn không có hiện tượng đột biến lớn, trừ giai đoạn đầu mới chiếm đóng có những xáo trộn nhất định cùng vài hiện tượng lên, xuống về số dân như đã nêu ở trên. Sự phân bố dân cư diễn ra tương đối đều giữa các vùng và khá ổn định, không có sự chênh lệch quá đáng giữa vùng này với vùng khác trong tỉnh.

Chú thích:

(1) Dẫn theo Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 55.
(2) Nguyễn Duy Oanah, Sđd, tr. 55.
(3) Nguyễn Đình Chiểu, Thơ điếu Phan Tòng, Liên hoàn thập thủ, bài II.
(4) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Ban NCLSĐ Bến Tre, 1985, tr. 21.
(5) Theo Statistique de la population de la Cochinchine và Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.
(6) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd.
(7) Theo Annuaire Statistique du Vietnam, No 1801.
(8) J.C. Baurac, La Cochinchine et ses habitants, Sđd, chapitre “Arrondissement de Bentre”.
(9) Theo Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 166 – 168. Nếu kể cả cù lao An Hóa thì số chợ lên đến 60 cái.

Đã ban hành
Cát bùn và diễn biến các dòng sôngCát bùn và diễn biến các dòng sông
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.

Kích thước các con sông và sự diễn biến lòng sông

Xem xét kích thước con sông người ta có thể xác định điều kiện ổn định động lực của nó, có thể giải thích các nguyên nhân phá vỡ cân bằng động lực, có thể dự đoán sự phát triển tương lai của dòng sông.

Các sông tỉnh Bến Tre, nhìn chung phân bố theo hình nan quạt và tương đối phẳng, có độ rộng tăng dần và độ sâu giảm dần về phía biển và có hiện tượng bồi lắng tăng dần từ nội địa ra biển.

Diễn biến – xâm thực các vùng cửa sông

Sự diễn biến lòng sông diễn ra khá phức tạp. Tình trạng xói lở bờ cũ, hình thành bờ mới, tách ra, nhập vào của các cồn bãi trên sông diễn ra thường xuyên, liên tục. Qua khảo sát thực tế năm 1996, vùng cửa sông Cửa Đại có độ sâu thay đổi từ 5 – 9 m. Đáy sông thuộc phía Bến Tre thường là nông, độ sâu trung bình từ 5 – 6 m; trong khi phí Tiền Giang, độ sâu từ 8 – 9 m. Một dải bồi tụ giữa sông nối tiếp cồn Bà Nở kéo dài tới 4 km và lệch về phía Bến Tre, làm lệch dòng chảy và gây xâm thực bờ sông phía Bến Đình. Đoạn từ Bình Thới đến Thừa Mỹ bị xâm thực mạnh. Bến Đình (1,75 km), tây bắc rạch Bà Khoai (0,5 km), tây bắc rạch Thừa Mỹ (1,5 km), vách xâm thực cao trung bình từ 1 – 1,5 m. Về phía biển, quá trình bồi tụ diễn ra rất mạnh. Một dải bồi tụ kéo dài từ rạch Thừa Mỹ đến cồn Tàu.

Cửa Hàm Luông có đáy sông nông hơn cửa Đại, trung bình từ 6 – 7 m, theo kiểu lòng máng cong đều, rãnh sâu lệch về phía bờ nam (8 – 10 m). Từ giồng Gò Chùa đến cửa rạch Đùng (cồn Hố) dài 6 – 7 km, bị xâm thực mạnh tại các điểm Bà Hiền (1,8 km), khém Bắc Kỳ (0,5 km), tây rạch Đùng (1,75 km). Các vị trí còn lại là bờ bồi tụ.

Cửa Cổ Chiên có địa hình đáy sông sâu 7 – 8 m. Nhìn chung phần giữa sông mặt đáy khá bằng phẳng, bờ sông bị xâm thực mạnh ở khu vực từ cửa Cái Bai đến Eo Lói (2,25 km), nam rạch Eo Lói (0,7 km), đông rạch Khém Thuyền (0,3 km), nam rạch Khâu Băng (0,7 km). Một cồn cát tích tụ kéo dài từ cù lao Long Hòa (Trà Vinh) về phía đông nam tới 5 km.

Cửa Ba Lai có trắc diện hình chữ U hơi lõm, độ sâu phổ biến từ 5 – 7 m. Khu vực cửa Ba Lai đang trong quá trình bồi tụ, mạnh nhất là bờ bên phải, từ cửa ấp Thạnh Phước đến Bảo Thuận (3 km) và khu vực từ rạch Vũng Luông đến xóm Trên (1 km). Địa hình các dãy tích tụ này phân bổ ở độ sâu trung bình 6 m khi triều cường và phần lớn lộ ra khi triều kém, nước ròng, tạo thành những bãi cát ngầm rộng tới 500 m. Vùng này hiện là các sân nghêu lớn của địa phương. Sự xâm thực chỉ xuất hiện trên đoạn bờ trái dài khoảng 500 – 800 m, bắt đầu từ chỗ rạch Thị Diễm đến cửa rạch Vũng Luông. Tại đây, đáy sông có lạch sâu từ 12 – 14 m.

Nhìn chung địa hình đáy sông vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Phiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá tại Bình Thắng (huyện Bình Đại), An Thủy (huyện Ba Tri), An Nhơn (huyện Thạnh Phú). Ở các cửa sông của Bến Tre, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, đặc biệt là khu vực sông cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực các cửa sông diễn ra với qui mô nhỏ, liên quan chủ yếu đến hoạt động thủy triều, sóng và do tích tụ ở giữa sông, từ đó làm lệch dòng chảy.

Bồi tụ xâm thực ven biển

Biến động ven biển mạnh mẽ với quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Tài liệu qua ảnh chụp từ vệ tinh nghiên cứu trong 21 năm (1968 – 1989) cho thấy tổng diện tích bồi tụ là 61,170 km2 (trong đó huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989 km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2). Như vậy trong 21 năm, tỉnh Bến Tre lấn ra biển 68,9 km2, tốc độ bình quân mỗi năm là 2,33 km2.

Đất bồi tụ hình thành dải hẹp ở phía bắc và phía nam cửa Đại. Vùng bồi tụ mạnh nhất là cửa Ba Lai, phía nam cửa Hàm Luông đến phía bắc cửa Cổ Chiên, diễn ra liên tục, tạo thành sân nghêu lớn ở phía đông cồn Lớn, trải dài trên diện tích từ Vàm Hồ đến cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực chỉ thấy ở diện tích nhỏ nằm phía tây cồn Lớn thuộc cửa Cổ Chiên và rải rác ở phía bắc và phía nam của sông này. Cửa Cổ Chiên thường có độ sâu 5 đến 6 m và ít bãi cạn, nên giao thông tương đối thuận lợi. Cửa Cung Hầu nông hơn cửa Cổ Chiên, có một bãi nông trên mực nước triều trung bình án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Nhìn chung, vùng hạ lưu và vùng cửa sông có nhiều cồn bãi nổi và ngầm. Vì vậy, việc ra vào, đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn, trừ cửa Cổ Chiên có khá hơn chút ít.

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Anh hùng Khấu Trung Gương kể chuyện ăn Tết và đánh giặcAnh hùng Khấu Trung Gương kể chuyện ăn Tết và đánh giặc
Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày.

Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày đều được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng. Còn ông tiếp nối truyền thống gia đình, bỏ nhà theo cách mạng năm 1965. 10 năm chiến đấu ông đánh hơn 100 trận lớn nhỏ. Nhiều trận quan trọng do ông làm trinh sát, đánh địch tả tơi. Năm 1978, ông được nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Đầu xuân mới Đinh Hợi, tôi có dịp gặp ông, nghe ông kể chuyện “ăn Tết” trong chiến tranh và đánh giặc.
Ông Khấu Trung Gương theo cách mạng khi vừa tròn 16 tuổi. Chưa hiểu gì nhiều, nhưng thấy các Anh Ba, Anh Tư đi bộ đội, ông cũng xin gia đình cho đi. Ba ông thấy ông còn nhỏ tuổi quá nên khuyên: “Con ba đứa nào muốn đi đánh giặc ba cho đi hết và đi không được về, nhưng con chờ lớn thêm chút nữa rồi đi.” Thế nhưng, ham quá ông trốn nhà đi. Ông quảy đồ theo các anh bộ đội đang đóng quân ở xã Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) về gia nhập Tiểu đoàn 263 của Quân khu 8. Nhỏ tuổi, nhỏ người ở đơn vị đặt cho ông biệt danh Dũng Nhỏ và giao ông làm nhiệm vụ thông tin vô tuyến điện thoại. Từ chiến sĩ, ông được giao làm tiểu đội phó và tham gia chiến dịch nổi tiếng Ba Rài, huyện Cai Lậy, Mỹ Tho, năm 1967. Chiến dịch này quân Mỹ thua tan tát phải rút quân trong sự chua cay. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ công nhận đây là một trong những trận đau đầu nhất cả nước và là trận thứ hai ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trận thứ nhất là trận Ấp Bắc, ta đánh diệt chiến dịch Phượng hoàng bay, trận thứ hai ở Ba Rài ta đánh diệt chiến thuật Hạm đội nhỏ trên sông của địch. Theo báo chí Mỹ, trận Ba Rài ta đánh diệt trên 200 tên Mỹ, đánh chìm và cháy trên 20 tàu chiến. Sau chiến dịch Ba Rài, Mỹ rút quân và viết truyền đơn gửi lại với nội dung: 263 ở lại củng cố, Sư đoàn 9 đi một thời gian sẽ gặp lại 263. Sau trận đánh này, ông tham gia hoạt động ở địa bàn Mỹ Tho.

Trận đánh lớn thứ hai anh hùng Khấu Trung Gương được trực tiếp tham chiến chính là trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Giờ vừa hưởng một cái Tết ấm cúng, an lành, vui vẻ bên gia đình, nhắc đến trận đánh Tết Mậu Thân diễn ra cách nay gần 40 năm, ông Gương vẫn không quên chút nào. Ông kể lại: “Chúng tôi nhận lệnh bất ngờ phải sẵn sàng chiến đấu với quyết tâm cao nhất. Vậy là cùng nhau hành quân mà trong đầu không còn chuyện Tết nhứt gì hết. Đó cũng là năm anh ba tôi, Khấu Văn Khiết, hy sinh.” Ví như không có trận đánh Mậu Thân năm ấy thì cái Tết trong chiến tranh vẫn diễn ra như thường niên là thiếu thốn đủ thứ, lấy tình đồng đội, anh em trong chiến đấu động viên ngày đầu năm là chính. Chiến tranh không có Tết, chỉ khác cái là mừng năm mới cấp trên cho tăng cường thêm bữa ăn nhiều hơn với ngày thường chứ không có gì đặc biệt. Chẳng hạn cấp trên cho mỗi đại đội một con heo vài chục kg làm thịt ăn bữa ăn một ngày đầu năm. Tết Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn chuẩn bị một con trâu để mần ăn Tết. Cận Tết, tiểu đoàn được lệnh: Tình hình cấp tốc, chiến dịch có một không hai, theo tiến súng mà tiến công. Đơn vị ông hành quân ròng rã từ huyện Cái Bè về đến nội thành Mỹ Tho đúng Mùng Một Tết là nổ súng. Trên đường hành quân, người dân đã chuẩn bị sẵn dưa hấu, bánh tét biếu tặng bộ đội. Nhưng lệnh cấp trên không được nhận quà biếu của dân mà luôn trong tư thế tiến bước. Ông Gương kể tiếp: “Tư tưởng bộ đội chúng tôi lúc đó phơi phới tâm hồn không cần thiết ăn, không nghĩ gì mà quyết chiến giải phóng miền Nam. Anh em lên đường chỉ với bộ đồ đẹp, ba lô thì giấu lại, súng đạn mang đầy đủ. Vào Mỹ Tho, chúng tôi đánh khá suông sẻ vì địch bất ngờ. Khi đánh tiến được tới cầu quay, địch chống cự quyết liệt và tăng cường dàn pháo tại đồn bót xã Bình Đức gần đó đánh hủy diệt để ngăn cản bộ đội đánh chiếm dinh tỉnh trưởng. Sau này tôi mới biết ngay ngày trận đánh này diễn ra, tổng thống Thiệu đang có mặt tại dinh Tỉnh trưởng Mỹ Tho. Lúc đó Thiệu về thăm vợ bé ở khu vực bờ hồ Tiền Giang. Nếu bộ đội đánh nhanh hơn chút nữa bắt được tổng thống Thiệu thì có vấn đề xảy ra. Đánh tới đánh lui, cuối cùng không chiếm được Tiền Giang. Theo lệnh từ Bộ tư lệnh Miền, ta đánh phản kích liên tục cao điểm 1, 2, 3. Sau đó, giặc tăng cường thêm quân và đánh phản kích trở lại ta quá nhiều nên ta về vùng giải phóng. Địch thực hiện chiến dịch Da Beo, gắm thêm đồn bót đánh chiếm lại vùng giải phóng của ta. Chúng tôi đánh dai dẳng mãi đến năm 1969. Những năm sau, Tết đến luôn có hiệp định ngưng bắn, nhưng cũng luôn giữ vững trạng thái sẵn sàng chiến đấu”. Đến đầu năm 1970 Tiểu đoàn 263 được tăng cường về Bến Tre (với tên gọi D7) hoạt động ở tất cả các huyện thị trên quê hương Đồng khởi.

Năm 1972 anh hùng Khấu Trung Gương được giao nhiệm vụ làm đội trưởng trinh sát của tiểu đoàn. Chính ông là người chỉ huy anh em trinh sát, phục kích đánh tơi bời nhiều tiểu đoàn của địch ở xứ dừa. Bến Tre khét tiếng với tiểu đoàn 401 ác ôn. Tiểu đoàn 401 làm sơ đồ giống như ta đánh, bởi tên chỉ huy vốn là người của ta chiêu hồi ra huấn luyện. Tiểu đoàn này đánh nhiều cơ sở của ta tan hoang. Tiểu đoàn 263 được giao nhiệm vụ phục kích Tiểu đoàn 401, nhưng mấy lần không thành công vì địch đánh khôn khéo. Đội trưởng trinh sát Khấu Trung Gương nhận lệnh trực tiếp củng cố lực lượng giữa hông tiểu đoàn và hút lực lượng địch. Nơi ông chỉ huy cách đánh phục kích sau đó diệt được gần hai đại đội. Cũng trong năm 1972, tại trận đánh Giồng Keo (ở xã Tân Bình, Mỏ Cày), ông tiếp tục làm đội trưởng trinh sát và đánh địch ở đây. Cả một trung đội do ông chỉ huy với nhiệm vụ đánh chặn đầu địch ngay nhà thờ Giồng Keo, kéo địch lại để bộ đội chủ lực tấn công. Khoảng 5 giờ chiều địch kéo xuống từ hướng chợ Ba Vác. Hỏa lực của địch mạnh ghê gớm gồm M 79, M 72, cối thép, cuối cùng trung đội của ông cũng chặn được địch và tiêu diệt được khoảng hai đại đội. Số còn lại lợi dụng lúc trời tối, co cụm cố thủ. Trung đội trinh sát của ông được giao nhiệm vụ bám địch để đưa đơn vị vào. Hai chiến sĩ dưới quyền được ông giao đi và bị địch phát hiện tiêu diệt. Nhớ đến sự hy sinh của hai đồng đội sát cánh bên mình, ông Gương bùi ngùi nói: “Hồi đó, chính sách của ta là không bỏ tử sĩ ngoài mặt trận. Đích thân tôi tìm cách lấy xác hai liệt sĩ hy sinh về ngay trong đêm và đem hỏa lực vào diệt địch. Lần đó, nhiều đồng chí bên ngoài nói tôi sẽ hy sinh vì cũng bị địch phát hiện đang bò vào lấy xác đồng chí, nhưng may mắn tôi thoát được. Tôi đem được xác hai chiến sĩ ra bên ngoài lúc gần 3 giờ sáng.”

Trận gần ngày giải phóng nhất mà anh hùng Khấu Trung Gương tham gia là trận đánh diệt tư lệnh tiểu đoàn 454. Năm 1974 ông được giao giữ chức vụ Đại đội trưởng đại đội 3 – đại đội anh hùng và là đại đội chủ lực của Tiểu đoàn 263. Trận này có nhiều đơn vị của ta cùng tham chiến. Địch đi trật ý định của ta, đang tiến vào chạm ngay các đơn vị bạn. Đại đội 3 được giao nhiệm vụ nhanh chóng áp sát đồn Giao Hòa (huyện Châu Thành) để đánh chặn. Ông vừa triển khai xong lực lượng, địch kéo xuống. Lúc địch đi ngay sau lưng đại đội 1, ông lập tức chỉ đạo đánh chặn diệt địch giúp Đại đội 1 không bị thiệt hại. Sau đó, cả Trung đoàn Đồng khởi mở chiến dịch Đồng Gò (Giồng Trôm) chuẩn bị đánh về thị xã. Quân khu chỉ đạo Tiểu đoàn 263 mở trận phục kích ở Đồng Gò đánh chi khu Lương Qưới. Đại đội 3 được giao nhiệm vụ đánh diệt gọn địch trong đêm. Đêm 29 rạng 30-4, được lệnh của tiểu đoàn, với cách đánh mưu trí, táo bạo, Đại đội của anh hùng Khấu Trung Gương luồn sâu vào bên trong nắm tình hình, sau đó đưa bộ binh vào đánh vây lấn. Đến 9 giờ sáng 30-4-1975, Dương Văn Minh kêu gọi lực lượng địch đầu hàng. 

Gia đình anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương gồm ba, mẹ, và hai người anh, một người em hy sinh. Ông với bao chiến công hiển hách, ngày trở về trong mình còn hằn 6 vết thương. Ở chân, vai trái vẫn còn những mảnh đạn nằm sâu bên trong. Sau nhiều công tác khác nhau, hiện nay ông đã về hưu sống bên con cháu và tham gia sinh hoạt hội cựu chiến binh địa phương ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
Lễ hộiLễ hội
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú.
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. Hàng trăm tàu thuyền đánh bắt cá của huyện, của tỉnh và các tỉnh bạn như Tiền Giang, Trà Vinh thậm chí các tỉnh xa hơn nữa, trong khi hành nghề thuận tiện vẫn tập trung về nơi cửa Đại cùng ngư dân Bến Tre tham gia lễ hội Nghinh Ông.

Lễ hội thứ hai mang ý nghĩa văn hóa - lịch sử là lễ hội Nguyễn Đình Chiểu,  (nay là Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre) tổ chức vào ngày 1 tháng 7 hàng năm tại cụm đền thờ, mộ nhà thơ (nay là Khu di tích Đền thờ và Lăng mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) tại xã An Đức, huyện Ba Tri với hàng ngàn người tham dự. Thường trong dịp này, có những đoàn khách của tỉnh bạn, của một số ngành Trung ương về cùng tham dự. Từ 1975 sau ngày giải phóng đến nay, chính quyền địa phương với sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa đã đầu tư công sức, tiền bạc để tôn tạo khu vực này thành một di tích lịch sử có giá trị mang ý nghĩa giáo dục về tinh thần yêu nước, thương dân. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ có tầm cỡ của nửa sau thế kỷ XIX, mà còn là một nhà giáo, một thầy thuốc giàu tâm huyết.

Ngoài ra ở Bến Tre còn có những lễ hội hướng về truyền thống cách mạng như: lễ hội Đồng Khởi, được tổ chức ngày 17 tháng 1 hằng năm, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, đồng thời cũng thu hút một số lượng khách đáng kể của các tỉnh thành bạn cùng tham dự.

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộDương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ
Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.
​Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.

Từ thời kháng chiến chống Pháp, Dương Văn Dương thường được bộ hạ thân thuộc cũng như đồng bào quen gọi với cái tên thân thương là “anh Ba Dương”.

Ba Dương – thủ lĩnh hàng đầu trong các thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên, xưa kia là “giang hồ hảo hán”, nhưng khi đến với cách mạng trở thành người chỉ huy tài ba, mẫu mực và là phó tướng, cánh tay đắc lực của Trung tướng Nguyễn Bình.

Theo nhiều nguồn tài liệu được kiểm chứng, bước đầu xác định Dương Văn Dương là người gốc Bến Tre, xuất thân trong một gia đình nghèo ở cù lao Minh, con của ông Ngô Văn Mà và bà Dương Thị Biếu. Ông Ngô Văn Mà có tinh thần chống Tây, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Ba Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ đi bước nữa, người cha kế thương Ba Dương như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc Dương Văn Dương thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, TP HCM).

Dương Văn Dương có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ba Dương không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là Ba Dương liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ba Dương có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của Ba Dương nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.

Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …

Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa. Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương lần mò trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.

Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có.

Đang đứng giữ bến xe Tây Ninh – Nam Vang thì Tây ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc “chém vè”. Không thoát khỏi bọn chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận độc ác buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.

Dương Văn Dương dạy võ cho Thanh niên tiền phong Cần Giộc tham gia cướp chính quyền. Khi bị mất chính quyền, bọn làng lính kéo nhau đi trình diện. Chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng bộ đội Dương Văn Dương, tên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử: “Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”. Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Văn họcVăn học
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...
Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...

Tỉnh đã có chủ trương nhanh chóng chuyển những hoạt động văn học nghệ thuật từ thời chiến sang thời bình, phục vụ sát sườn những nhiệm vụ chính trị của thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Hoạt động của Phân hội Văn nghệ Đồ Chiểu trong vài năm đầu sau giải phóng còn gắn chặt với những hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin. Từ khi có quyết định thành lập Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của UBND tỉnh, những hoạt động văn nghệ dần dần tách riêng ra thành hoạt động của một hội chuyên ngành độc lập.

Đại hội Văn nghệ của tỉnh lần thứ II (7-1989) đã khẳng định vị trí của văn học là bộ môn chủ chốt của hoạt động văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã tập trung sức để phát triển bộ môn văn học của tỉnh nhà.

Đến Đại hội Văn nghệ tỉnh lần thứ III (1999), số hội viên của Phân hội văn học từ 30 người (trong đại hội lần thứ II) đã tăng lên 90 người. Năm 1994, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã thành lập Hội Thơ Đường luật lấy tên là "Bạch Mai thi hội" gồm 150 hội viên và một câu lạc bộ riêng.

Cơ quan của Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu là tập san "Văn Nghệ Bến Tre", xuất bản định kỳ thay cho những tập Văn nghệ Bến Tre xuất bản theo từng chuyên đề ra đời trước đó. Tập san là tờ báo riêng của giới sáng tác phê bình văn học nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa, sân khấu, lý luận phê bình...) và những người yêu thích văn nghệ trong tỉnh, cùng một số cộng tác viên ngoài tỉnh. Bên cạnh thế hệ những cây bút thời chống Mỹ như: Đoàn Tứ, Chim Trắng, Trang Thế Hy, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Trung Điền, Nguyễn Hồ, Huỳnh Năm Thông, Phan Thảo, Kim Tinh, Lê Dân, Lê Hồng Phương, Trần Ký, Thu Nguyễn, Nguyễn Phước..., một thế hệ những cây bút trẻ sau 1975 xuất hiện ngày một đông đảo trên các tập san và các báo chí khác của địa phương. Trong số đó, nổi lên một số cây bút như: Lê Hoàng Dũng, Thanh Vũ, Kim Ba, Vũ Hồng, Hồ Trường, Nguyễn Chí Bền, Lê Xuân Đoàn, Nguyên Tùng, Phạm Thị Ngọc Diệp.

Nếu như đội ngũ cầm bút trưởng thành từ trong chiến tranh có vốn sống và sự từng trải, vững vàng về chính trị và có tay nghề nhất định, thì thế hệ những cây bút trẻ sau này, tuy có những hạn chế về kinh nghiệm và vốn sống, nhưng sự hiện diện của lực lượng đông đảo này đã làm cho bộ mặt văn học tỉnh mang những nét đa dạng, phong phú của đời sống với những ước mơ, suy tư giàu nhiệt tình, khỏe khoắn và trẻ trung, khát khao cái mới.

Ngoài tập san Văn Nghệ Bến Tre của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, còn phải kể đến tập san "Văn hóa Văn nghệ" của Ty Văn hóa - Thông tin, về sau là Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), xuất bản không định kỳ và một số tập san của các cơ quan đoàn thể trong tỉnh như tờ Công an Bến Tre, Tuổi trẻ Bến Tre, Tư pháp, Sức khỏe, Ngân hàng, Dân số, Vì trẻ em... Các tờ báo ra không định kỳ này, ngoài phần dành cho chuyên ngành vẫn để một số trang riêng đăng tải các sáng tác văn nghệ mới nhất.

Công tác bồi dưỡng đội ngũ, đào tạo cán bộ cho ngành cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Ngoài việc phát hiện những tài năng mới để gởi đi đào tạo ở các trường lớp chính quy theo chính sách, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã phối hợp cùng với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, một số tỉnh lân cận như Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)​, tổ chức những trại bồi dưỡng, những cuộc thi sáng tác, những lớp tập huấn về chính trị và nghiệp vụ để nâng cao tay nghề cùng quan điểm, lập trường của người cầm bút. Nhờ vậy, đội ngũ làm công tác văn học nghệ thuật Bến Tre, từ điểm xuất phát ban đầu vừa mỏng vừa yếu, đến nay đã có một lực lượng tương đối đông đảo. Nhiều hội chuyên ngành như Hội Âm nhạc, Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Mỹ thuật, lần lượt ra đời. Nhiều cây bút trưởng thành nhanh, đặc biệt sự hình thành một lực lượng viết trẻ giàu nhiệt tình, xông xáo, có kiến thức văn hóa, có trình độ lý luận nhất định về nghề nghiệp.

Cũng cần phải kể đến một số tác phẩm đã xuất bản trong cùng thời gian này của những cây bút quê Bến Tre hoạt động văn nghệ ở ngoài tỉnh như Chim Trắng, Bùi Ngọc Trung, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Hồ, Nguyễn Trọng Tín, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Bá, Trầm Hương.. Đó là các tập thơ Những ngả đường và Dấu vết nhỏ nhoi của Chim Trắng. Anh tham gia kháng chiến tại quê hương và bắt đầu làm thơ từ những năm chống Mỹ. Thơ Chim Trắng từ lâu đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trong tỉnh. Tập Những ngả đường của anh đã được giải thưởng văn thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là Tập truyệnMưa ấm và Vết thương thứ 13 của Trang Thế Hy, ông hoạt động văn học từ trong kháng chiến chống Pháp đến sau 1954, có một thời gian hoạt động văn nghệ, báo chí ở nội thành Sài Gòn, Trang Thế Hy là một cây bút chuyên về truyện ngắn. ngoài những tác phẩm kể trên, anh còn có các tập truyện Nắng đẹp miền quê ngoại, Người yêu và mùa thu, tập truyện Anh Thơm râu rồng, Tiếng khóc và tiếng hát...

 Đó là Giữa lòng thành phố (truyện ký), Vùng tranh chấp (tiểu thuyết),Bông súng đỏ (tập truyện), Cô biệt động (tập truyện), Dòng sông nước mắt (tiểu thuyết) của Thanh Giang.

Đó là Lá cờ Ấp Bắc (ký), Trên vành đai Bình Đức (ký), Khi người con gáiNam Bộ cầm súng  (truyện) của Võ Trần Nhã.

Ngoài ra, còn có những tập truyện như Chuyện tình ngày xưa  (của Đoàn Tứ), Làng nhỏ bên Hàm Luông (của Lê Tâm), Tiếng chuông trôi trên sông (của Vũ Hồng), Thập khúc (của Nguyên Tùng); tập thơ Trăng hoàng hôn (của Kim Ba), Hạt muối nhỏ (thơ thiếu nhi của nhiều tác giả), Tuyển tập thơ Bến Tre 1945-2000, Tuyển tập văn 1945-2000...

Về kịch bản sân khấu có Quê hương và mẹ (của Vĩnh Xuân), Hào quang và bóng tối (của Lê Huỳnh, Hoàng Dũng và Huy Lam), Ánh đuốc êm xuân  (của Ngô Mạn), Rừng ông Gốc (của Huỳnh Thị Đằng), Cay đắng tình đời, Quê hương và ánh lửa (của Vĩnh Xuân và Huỳnh Thị Đằng)...

Nhìn chung, qua chặng đường phát triển của văn nghệ Bến Tre trong những năm qua, hai đề tài chủ yếu vẫn là: đề tài về chiến tranh, hay nói rộng ra là đề tài truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân trong tỉnh nổi bật lên đề tài về Đồng Khởi của những năm đầu thập kỷ 60 và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, đọc những trang viết về thời kỳ này từ hồi ký, truyện ngắn, thơ, kịch bản như Không có con đường nào khác, Ngọn lửa thần kỳ, Những ngày Đồng khởi, Từ trong gian khổ đứng lên, Đội quân tóc dài, Bên bờ Hàm Luông, Mặt trời đêm, Tiếng hát trái tim...  độc giả mới cảm nhận được vẻ đẹp của những con người bình dị, giàu lòng yêu quê hương đất nước, không chịu sống quỳ, sống nhục, dám đứng lên thay đổi vận mệnh của mình.

Những sáng tác về đề tài chiến tranh từ sau ngày giải phóng của các cây bút ở Bến Tre đã có một bước tiến khá rõ so với những truyện ký, những tập sách “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ" xuất bản trong thời kỳ chống Mỹ về cả hai phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.

Về đề tài Đồng khởi, có lẽ đáng chú ý nhất là quyển Dòng sông nước mắt  của Thanh Giang (NXB Tác phẩm mới,1989). Cho đến nay, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và cũng cả ở miền Nam. Chủ đề chính toát lên từ gần 300 trang sách của Dòng sông nước mắt  không nhằm tô đậm tội ác dã man của kẻ thù qua chính sách tố cộng, diệt cộng đẫm máu của một vùng quê, mà nhằm chứng minh một chân lý: "Dân là gốc". Thông qua số phận của hàng loạt nhân vật với những tình huống nghiệt ngã, đau thương tột cùng, tác giả muốn nói với người đọc rằng: "Không có dân, thì không thể có Đồng khởi được”. Về phương diện này, có thể nói tác giả đã đạt được thành công nhất định.

Đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã được nhiều cây bút chú ý. Có thể kể tới "Những giọt nước mắt" của Võ Trần Nhã, “Ở tập đoàn chợ Xép"của Nguyên Tùng viết về các điển hình trong nông nghiệp“Người tập đoàn trưởng" của Đoàn Tứ, “Đất nhà" của Lê Hồng Phương, "Nước chảy qua cây dừa quý"  của Trường Thanh tập trung biểu dương những hạt nhân tiêu biểu của làng xóm Bến Tre đang chuyển mình theo cung cách làm ăn mới.

Công tác lý luận, phê bình, sưu tầm nghiên cứu vốn văn học cổ đã được những người lãnh đạo văn nghệ ở Bến Tre quan tâm khá sớm. Hầu như những sáng tác của các cây bút trong tỉnh đều được giới thiệu, phê bình đều đặn trên các báo chí của địa phương, nhất là trên tờ Văn nghệ Bến Tre.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu vốn văn học cổ của tỉnh được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngành Văn hóa – Thông tin, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu và Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy cùng phối hợp với Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre tổ chức những cuộc điều tra, khảo sát tìm hiểu ảnh hưởng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong nhân dân, kết hợp với việc sưu tầm vốn văn học Hán Nôm, văn học dân gian trên nhiều địa bàn trong tỉnh. Những kết quả thu được từ nơi quê hương thứ hai của Cụ Đồ đã góp phần có ý nghĩa cho việc xuất bản cuốn "Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời" (Ty VHTT Bến Tre,1983 ).

Năm 1982, tỉnh đã tổ chức hội nghị khoa học có tính chất cả nước về Nguyễn Đình Chiểu với sự phối hợp với hai tỉnh bạn Đồng Nai, Long An và Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ. Tham dự hội nghị có các đơn vị: Viện Văn học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp và Sư phạm Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị được đánh dấu bằng tập Kỷ yếu khoa học với tựa đề "Nguyễn Đình Chiểu" gồm 91 bài viết chọn lọc trong số 106 tham luận từ các nơi gởi về. Có thể nói đó là một cuộc hội nghị khoa học về nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX lớn nhất từ trước đến nay.

Cùng với việc nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, việc điều tra xác minh về nguồn gốc quê quán, gia phả cùng những sáng tác của nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị cũng là một việc làm có ý nghĩa. Việc làm này đã góp phần đính chính những điều sai sót từng bị lặp đi lặp lại về nhà thơ (người sau trích dẫn cái sai của người đi trước và cứ thế...) trên nhiều công trình xuất bản trước đây như "Lược sử tác gia Việt Nam", "Từ điển văn học" và cả trên nhiều cuốn sách giáo khoa đã xuất bản từ 1989 về trước. Ngoài những số đặc san kỷ niệm về Phan Văn Trị, Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre còn cho xuất bản cuốn "Phan Văn Trị - quê hương, con người và tác phẩm" của Nguyễn Văn Châu.

Về việc sưu tầm và nghiên cứu vốn văn nghệ dân gian của tỉnh trước hết phải kể đến cuốn "Dân ca Bến Tre" ( Sở VHTT Bến Tre, 1989 ) của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang, và cuốn "Văn học dân gian Bến Tre"( NXB KHXH, 1988) do Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bích Liên sưu tập và giới thiệu. Ở tập thứ nhất, các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ các thể loại dân ca Bến Tre, hình thức và môi trường diễn xướng, cùng cấu trúc nghệ thuật của từng làn điệu. Đây là một trong những công trình biên soạn về dân ca của một địa phương thuộc loại sớm ở Nam Bộ, mở đầu cho việc xuất bản một loạt tập dân ca của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những năm sau đó. Cuốn thứ hai, "Văn học dân gian Bến Tre", là một công trình được tiến hành trong gần 10 năm trời, bao gồm việc sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp lại một cách hệ thống, kèm theo phần phân tích, đánh giá của các tác giả nói trên. Có thể nói hai tập sách trên đã bổ sung cho nhau, tạo nên những đường nét cơ bản về diện mạo văn nghệ dân gian vốn rất phong phú của vùng đất ba dải cù lao này.

Nói đến thành tựu của chặng đường phát triển văn học của tỉnh từ sau ngày giải phóng đến nay, không thể không đề cập đến việc tạo nên một công chúng văn học mới. Đương nhiên, ngay từ trong kháng chiến gian khổ, một công chúng văn nghệ mới cũng đã dần dần hình thành song song với sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ cách mạng buổi đầu. Quần chúng không chỉ đóng vai trò của người thưởng thức mà còn tham gia sáng tác văn nghệ. Nhưng phải nói rằng, chỉ từ sau ngày giải phóng, chúng ta mới có đầy đủ điều kiện để tạo nên một công chúng văn học mới nói riêng và văn nghệ nói chung.​

Đã ban hành
Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình ChiểuDi tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Image
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

 Ngày 3-7-1888, ông trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 66 tuổi. Người ta kể rằng, hôm đưa đám tang ông, cánh đồng An Bình Đông, nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, trắng xóa khăn tang – khăn tang của học trò, của các thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, của bạn bè và bà con xa gần mến mộ tài đức của ông. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời cũng là người trợ thủ đắc lực của ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các họat động xã hội khác, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo Nữ giới chung.

 Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay. Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27-4-1990.

Đã ban hành
Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)
 

Image
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Trương Vĩnh Ký, còn có tên J.B. Trương Chánh Ký, hoặc Pétrus Ký, sinh ngày 6-12-1837 tại làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, Ký bắt đầu học chữ Hán. Đến chín tuổi cha mất. Lúc này, có một nhà truyền giáo người Pháp, thường gọi là cha Long, thấy cậu bé Ký có trí thông minh nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy học chữ La-tinh. Năm 12 tuổi, Trương theo cha Hòe (tức linh mục Belleveaux) sang học tại Trường Pinhalu ở Phnom Penh.

   Năm 1851, Trương được trường này cấp học bổng sang học tại Chủng viện Pinang ở Indonesia - một trung tâm đào tạo linh mục cho các nước Đông Nam Á. Tại Tổng chủng viện Pinang, Trương Vĩnh Ký trong quá trình học tập đã tỏ ra "có khả năng thu nhận khác thường" hệ thống tư tưởng và các tri thức khoa học tự nhiên cũng như xã hội đương thời, đến nỗi ngay các nhân vật có tiếng tăm lúc ấy cũng phải ngạc nhiên và khen ngợi trí thông minh và trình độ "học vấn uyên vấn uyên bác" của ông… Ông cũng tỏ ra là một người có năng khiếu về ngôn ngữ học. Ngoài các sinh ngữ Pháp, Anh, La-tinh, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật, ông còn thông thạo cả tiếng Y Pha Nho, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến.Trương Vĩnh Ký hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực văn hóa, ngoại trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp.

Tháng 2-1859, quân Pháp đánh chiếm Gia Định, ông được giám mục người Pháp Lefèbre chỉ định làm thông ngôn cho bộ chỉ huy "Đoàn quân chiếm đóng" ở Nam Kỳ. Tháng 6-1863, thực dân Pháp cử ông làm phiên dịch cho phái bộ "chuộc đất” của triều đình do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp. Trong chuyến đi này, ngoài nhiệm vụ thông ngôn được đảm nhận một cách xuất sắc, ông còn tiếp xúc với một số nhân vật cao cấp của chính quyền Pháp, gặp gỡ một số nhà văn nổi tiếng như Victor Hugo, Littré, Renan… đi thăm nhiều nơi ở Pháp và một số nước khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai Cập, Italia và được Giáo hoàng La Mã tiếp. Trong hành trình kéo dài 8 tháng, cả đi lẫn về, Trương Vĩnh Ký có dịp sống gần gũi với hai vị quan đại thần Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ; đó không chỉ là hai vị quan đại thần, mà còn là những nhân vật đáng kính về tài đức. Trương Vĩnh Ký cũng có cơ hội đề hiểu rõ hơn về nội tình đất nước và đồng bào của mình. Chính trong hồi ký sau chuyến đi này, Trương đã viết: "Tôi trở về với tâm hồn sung sướng vô cùng". Có thề nói chuyến đi này đã góp phần định hướng những suy tư và hoạt động của ông tìm về văn hóa dân tộc một cách tích cực hơn.

   Sau khi chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỳ, các "Toàn quyền đô đốc” (Geuverneurs – Amiraux) đã sử dụng Trương Vĩnh Ký như một quan chức An Nam đầu tiên của chính quyền Pháp” đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như: giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866 – 1868 ), chủ bút tờ Gia Định báo (1868), Giám đốc trường Sư phạm kiêm thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở Trường Tham biện Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires – 1874)… Tháng 2-1876, Trương được Toàn quyền Paul Bert cử làm giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Viện Cơ mật đến tháng 10-1876 thì trở về Sài Gòn.Sau cái chết đột ngột của Paul Bert (11-11-1886), Trương Vĩnh Ký không còn được trọng dụng như trước. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách, báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn.

Trong lĩnh vực văn hóa, Trương Vĩnh Ký đã chứng tỏ có kiến thức uyên bác về nhiều mặt, không chỉ trong khoa học xã hội mà cả trong khoa học tự nhiên. Đặc biệt về hoạt động sưu tầm, biên khảo, phiên âm, phiên dịch, ông đạt những thành tựu đáng kể. Ông dịch sách chữ Hán, phiên ra chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, Lục súc tranh công… biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài v.v…Ông có một năng lực làm việc phi thường. Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 - 1898), Trương Vĩnh Ký đã để lại cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch, phiên âm trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn. Ở buổi đầu giao tiếp giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương tại Việt Nam, một sự nghiệp đồ sộ như thế quả là hiếm có. Trương Vĩnh Ký có chân trong hàng chục hội khoa học châu Âu, ở cuối thế kỷ XIX J.Bouchot, một học giả Pháp, gọi ông là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho chí ở nước Trung Hoa hiện đại nữa”.(1) Ở nước ta trước đây, một số nhà nghiên cứu đã đánh giá những cống hiến của ông khá cao. Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký trong 3 tiếng “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn" (2) và, trong lời tựa cuốn Trương Vĩnh Ký của Lê Thanh, ông cho rằng họ Trương là "một nhà lập ngôn bất hủ… một tay cự phách trong văn học, đã nổi tiếng là một nhà sư phạm". Vũ Ngọc Phan, trong tập Nhà văn hiện đại, ông đã viết "Còn Trương Vĩnh Ký thì thiệt là một nhà bác học. Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật mà còn là một người giỏi về ngôn ngữ". Mặt khác, cũng có nhiều ý kiến phê phán, buộc tội họ Trương là đã cộng tác với thực dân, phản lại Tổ quốc, như Lê Thanh trong quyển Trương Vĩnh Ký, Trần Huy Liệu trong Lịch sử 80 năm chống Pháp, Phạm Long Điền và Nguyễn Sinh Duy trong quyển Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký…

Những ý kiến trái ngược nhau tùy thuộc vào chỗ đứng, cách nhìn và đánh giá khác nhau của từng người đối với nhân vật lịch sử này. Cũng cần thấy thêm rằng do bản thân cuộc đời hoạt động của Trương Vĩnh Ký có nhiều điều phức tạp và rắc rối. Con người giàu tài năng và có sức làm việc to lớn như thế, đến cuối đời đã rơi vào hoàn cảnh nghèo nàn, túng bấn. Về mặt tinh thần, lúc sinh thời ông cũng đã bộc lộ nhiều băn khoăn, khắc khoải. Hai câu cuối của Bài thơ tuyệt mệnh như muốn gửi gấm tâm sự cho người đời sau, khi phẩm bình về sự nghiệp của ông:

Cuốn sổ bình sanh công với tội
Tìm nơi thẩm phán để thừa sai

 

Ông mất ngày 1-9-1898 tại Sài Gòn, hưởng thọ 62 tuổi. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Nhưng những hoạt động ở lĩnh vực thứ hai này lại không thể tách rời với tư tưởng chính trị khá nhất quán của ông là phục vụ trung thành nước Pháp, như ông đã hơn một lần thừa nhận. Tuy nhiên không vì vậy mà ta xếp ông vào hàng những tên tay sai bán nước như Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, từ đó đi đến phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa của dân tộc. Đáng chú ý nhất là những đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí, cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học v.v…Những năm gần đây, trong bầu không khí tinh thần cởi mở, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, một số công trinh nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký được đăng tải trên các tạp chí, hoặc in thành sách, thể hiện một quan điểm lịch sử khách quan và rộng rãi hơn, một cách nhìn bình tĩnh và khoa học hơn. Trong đó, đáng chú ý là cuốn Trương Vĩnh Ký – con người và sự thật của nhà biên khảo Nguyễn Văn Trấn do Ban Khoa học xã hội Thành ủy TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993 và quyển Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký của Bằng Giang, Nhà xuất bản Văn học, 1994.

Chú thích:

1. J. Bouchot, Péutrus Ký, un savant et un patriote Cochinchinois, S, 1927, p 10
2. Kỷ yếu hội Trí Tri Bắc kỳ, số 1-2 năm 1937

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
 

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trúc GiangTrúc Giang
 

Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long, Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn, Tân Thạch.

Trúc Giang

Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.

Đã ban hành
Có một con đường hoa kiểng – cây giốngCó một con đường hoa kiểng – cây giống
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.

Chợ Lách cách thành phố Bến tre khoảng 40km, nằm trên vùng đất cù lao Minh, chếch về hướng tây bắc. Giao thông thủy, bộ để giao lưu trong vùng và để du khách tìm đến đây  đều rất thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm luông theo quốc lộ 60 (khoảng 04km), đến ngã tư Tân Thành Bình – Mỏ Cày Bắc, rồi rẽ phải vào đường tỉnh 882 nối với quốc lộ 57 (10km) để bắt đầu con đường hoa kiểng – cây giống nổi tiếng không chỉ trong tỉnh mà còn lan rộng cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Hiện nay cũng đã có tuyến xe buýt (MST 08) Bến Tre – Mỏ Cày Bắc – Chợ Lách – Phà Đình Khao (Vĩnh Long), lộ trình trên dưới 60km rất dễ để du khách đến cả từ hướng Bến Tre và Vĩnh Long.

 

Và quả thật, vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách nổi tiếng với con đường hoa kiểng - cây giống cùng nhiều làng nghề truyền thống sẽ không làm thất vọng cả những du khách khó tính khi đến vùng sông nước yên bình và thơ mộng này. Có thể lướt qua một vài điểm dừng chân, được du khách ưa chuộng trên con đường hoa kiểng – cây giống mà mỗi khi du khách về tham quan tại Bến Tre:

1. Khu “Di tích Căn cứ Quân khu ủy Sài Gòn – Gia Định” (còn gọi là Y4, T4): Cách thành phố Bến Tre 14km, căn cứ Y4 đã từng là nơi ở và làm việc của Khu ủy Sài gòn – Gia Định những năm 1969-1970. Di tích vừa được tái tạo trên khu đất 02ha và khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 28/4/2012 gồm: Nhà bia, nhà trưng bày hình ảnh, hiện vật, hầm làm việc và hầm bí mật của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ và ông Trần Bạch Đằng; hầm cơ yếu; hầm cứu thương và hầm tiếp khách… Di tích được Bộ Văn Hóa - Thông Tin công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 23/12/1995.

 

2. Vườn kiểng thú Năm Công (09km từ căn cứ Y4): Do nghệ nhân Năm Công làm chủ cơ sở, tại đây đã chế tác nhiều loại cây kiểng lớn hình 12 con giáp, lục bình và nhiều loại nhà cây xanh cung cấp cho các khu du lịch, resorts trong và ngoài nước. Hiện nay, nghề làm kiểng thú đã phát triển ra nhiều hộ chung quanh và trở thành làng nghề làm kiểng thú rất sung túc.

3. Vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy: Từ vườn kiểng thú Năm Công đi tiếp hơn 01km là vườn kiểng và cây giống Hoàng Duy có diện tích 1,8ha với hơn 40 loại kiểng lá, kiểng bông, bonsai và cây giống. Nơi có lối đi tham quan mát mẽ và du khách có thể chọn mua kiểng bon sai…

4. Đường hoa kiểng, cây giống Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam: tại xã Vĩnh Thành (dưới dốc bên phải cầu Cái Mơn nhỏ). Đây là làng nghề truyền thống hoa kiểng Vĩnh Bắc, Vĩnh Nam đã được công nhận từ nhiều năm nay. Đường hoa rực rở, muôn màu, muôn sắc có hình vòng cung dài hơn 10km được dòng sông Cái Mơn thơ mộng bao quanh. Hai bên đường, các nghệ nhân trong làng trồng tỉa, sắp xếp các loại hoa kiểng ngay ngắn, thẳng hàng. Một số hoa kiểng trồng chuẩn bị cho mùa tết, một số cao kiểng, hoa kiểng, cây cảnh khác, cây giống, đang chờ các thương lái từ các nơi đến nhận theo hợp đồng ký kết để bán ra các nơi khác.

5. Vườn sầu riêng Bảy Thảo: Nằm trên đoạn giữa đường hoa Vĩnh Bắc – Vĩnh Nam, có diện tích hơn 1,2ha. Nơi đây, chủ nhà còn thường xuyên chăm sóc gần 100 con gà nòi cung cấp cho thị trường Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong nước. Điểm Vườn sầu riêng Bảy Thảo, du khách có thể được phục vụ trái cây tại vườn, ăn trưa với các món ăn truyền thống miền quê sông nước và ngủ lại nhà dân (homestay) nếu du khách có nhu cầu.

 

6. Nhà thờ Cái Mơn: Một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, xây dựng vào năm 1872. Tháp chuông 09 tầng, cao 56,52m với 06 chuông đúc tại nước Pháp và tổng trọng lượng các chuông đồng đến 4.000 kg. Nhà thờ là nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân xã Vĩnh Thành (Cái Mơn). Đối diện nhà thờ là nhà bia tưởng niệm và ghi nhớ nơi sinh của  nhà bác học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký) người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản, là một trong 18 vị bác học thế kỷ XIX.

7. Điểm du lịch Ba Ngói – vườn chôm chôm – khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Thuộc địa phận xã Vĩnh Bình, qua thị trấn Chợ Lách  khoảng 06km. Du khách có thể tham gia cào ốc gạo, thăm vườn chôm chôm, sầu riêng và thưởng thức bánh xèo hến, gỏi cuốn ốc gạo…

8. Điểm du lịch Tám Lộc – vườn chôm chôm – trại nuôi ong mật - khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa: Nằm trong ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình, cách thị trấn huyện Chợ Lách gần 07km. Các dịch vụ cũng giống như điểm du lịch Ba Ngói và du khách còn có thể tham quan trại nuôi ong mật cạnh vườn chôm chôm, có lúc mùa cao điểm lên đến 700 – 800 thùng ong.

9. Ngoài ra, tại cồn Phú Đa – Vĩnh Bình còn có vườn xoài tứ quí Thanh Sơn; khu bãi cát tắm sông cồn Phú Bình (sông Cổ Chiên) và làng bó chổi cạnh các điểm du lịch ấp Phú Hiệp, xã Vĩnh Bình.

Vùng đất Chợ Lách – Cái Mơn, vương quốc hoa kiểng, cây giống và nhiều loại trái cây đặc sản, giá trị cao có nhiều địa điểm du lịch liên hoàn, theo chuỗi tham quan theo không gian và lộ trình tuyến điểm đã và đang thu hút không những khách lẻ, tự sắp xếp chuyến đi mà còn rất thích hợp và thuận lợi cho các đơn vị hãng lữ hành tổ chức cho các đoàn khách lớn của Công ty. Du lịch đến Chợ Lách – Cái Mơn không những hấp dẫn nhờ những ưu thế hoa kiểng, cây giống, một miệt vườn  khác, rất êm đềm và thanh bình, giao lưu văn hóa nghệ thuật cấy ghép giống của các nghệ nhân giàu tình cảm, mến khách. Xin mời quí khách hãy đến vùng đất Cái Mơn – Chợ Lách này để một lần cảm nhận hay trải nghiệm thú vị với một miền quê còn nhiều điều nên khám phá và thư giãn thưởng ngoạn trước cuộc sống ngày càng hối hả hiện nay.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)
 

 Trần Văn Kiết sinh năm 1911 trong một gia đình giàu có ở thị xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Cha ông tên là Trần Phương Danh - thường gọi là hương chủ Danh - một điền chủ có hàng trăm mẫu ruộng (2), nhưng là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Chính gia đình ông Danh là cơ sở đi về, hội họp, móc nối cán bộ, gây dựng phong trào cách mạng ở địa phương trong thời kỳ bí mật vào những năm 1930 – 1931. Đặng Văn Quang, một người bạn thân với Trần Văn Kiết, sau này có lúc làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, đã kể lại rằng trong thời kỳ bí mật, ông đã về tá túc tại ngay nhà ông hương chủ Danh để gây dựng phong trào ở huyện Chợ Lách.

   Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường thị xã Vĩnh Long, Trần Văn Kiết được cha gửi lên Sài Gòn học tiếp ở Trường Chasseloup Laubat, cùng một lớp với Trần Văn Giàu. Sau đó, ông sang Pháp tiếp tục học lên cấp III, rồi thi vào đại học tại Toulouse.

   Vốn thông minh lại hiếu học, nên từ cấp I đến cấp III, cũng như ở đại học, ông luôn luôn tỏ ra là một học sinh xuất sắc. Điều kiện và hoàn cảnh cộng với tư chất thông minh sẵn có, ông có thể dễ dàng đạt được một cuộc sống tương lai hạnh phúc không mấy khó khăn; hoặc học hành đỗ đạt rồi tìm một việc làm ở Pháp, sống đời ung dung của một công chức trí thức, hoặc trở về nước làm quan tay sai cho thực dân với nhiều bổng lộc. Thế nhưng, Trần Văn Kiết đã chọn một hướng đi khác. Cuộc sống lầm than của đồng bào quê hương mà ông đã từng chứng kiến, đã gợi lên trong ông nhiều điều suy nghĩ về dân tộc, về đất nước. Khi còn là học sinh ở quê nhà, ông cũng đã từng tham gia phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh tại Sài Gòn. Sống ở Pháp, ông càng thấm thía nỗi nhục của người dân nô lệ.

   Năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đã đàn áp một cách dã man. Lúc ấy, Trần Văn Kiết đang học ở Toulouse. Cùng với bà con Việt kiều ở đây, ông tham gia biểu tình, nêu yêu sách đòi nhà cầm quyền Pháp phải ngưng ngay cuộc đàn áp. Cùng năm ấy, ông gia nhập ĐCS Pháp tại đảng bộ Toulouse. Sống trên đất Pháp, tham gia hoạt động trong ĐCS, có điều kiện tiếp xúc với những nhân vật chính trị cấp tiến, những học giả có uy tín, cùng những sách báo của chủ nghĩa Mác, Trần Văn Kiết dần dần nhận thức được rằng muốn giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô lệ, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Ông thấy cần phải sang Liên Xô để tìm hiểu và học tập thêm, sau đó mới trở về giúp nước có hiệu quả. Được sự giúp đỡ của ĐCS Pháp, ông đã đến quê hương của Cách mạng tháng Mười, vào học tại Trường Đại học Phương Đông tại Matxcơva, nơi các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong đã từng học.

   Sau khi tốt nghiệp, năm 1938, từ Matxcơva ông theo đường bí mật, về thẳng Sài Gòn. Tại đây, ông bắt liên lạc với Trung ương Đảng, lúc bấy giờ đóng tại Hóc Môn, và được giới thiệu bổ sung vào ban biên tập báo Dân chúng, tờ báo công khai, hợp pháp của Đảng lúc bấy giờ. Khi Dương Bạch Mai bị bắt, thì ông được trên chỉ thị thay ông Mai phụ trách cả hai tờ Le Peuple Dân chúng (3). Mặc dù sức khỏe kém, nhưng ông đã làm việc không biết mệt mỏi, vừa giải quyết công việc hàng ngày của hai tờ báo, vừa đối phó với nhà cầm quyền, vừa tổ chức những lớp huấn luyện để trang bị kiến thức về chủ nghĩa cộng sản cho anh chị em cán bộ.

   Ngày 7-3-1939, bọn mật thám Pháp ập vào khám xét tòa soạn. Mặc dù không tìm ra chứng cứ phạm pháp nào, chúng cũng bắt ông cùng với Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Trấn…

   Trong phiên tòa của thực dân lần ấy, đồng bào Sài Gòn đã có dịp chứng kiến thái độ đường hoàng, hiên ngang của một số bị cáo là những đảng viên Cộng sản, đặc biệt người ta tập trung chú ý đến một thanh niên đẹp trai hơi gầy, đứng trước vành móng ngựa nói tiếng Pháp rất sõi theo giọng Paris, bằng lập luận đanh thép, dõng dạc bác bỏ từng lời buộc tội trong bản cáo trạng của tên biện lý người Pháp. Có thể nói công chúng dự phiên tòa hôm ấy đã bị con người ấy chinh phục. Người thanh niên đứng trước vành móng ngựa đó chính là Trần Văn Kiết. Tên chánh án tòa án đã phải nhiều lần rung chuông, cắt đứt những lời tự bào chữa của ông, và cuối cùng chúng kết án bừa Trần Văn Kiết một năm tù giam.

   Trong khi bị giam trong Khám Lớn Sài Gòn, thì chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra, bọn thực dân Pháp chuyển số chính trị phạm đi an trí ở “căng” Tà Lài, trong số đó có Trần Văn Kiết. Tại đây, ông được các đồng chí tín nhiệm bầu vào ban lãnh đạo của trại cùng với Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông…

   Năm 1941, do biến chuyển của tình hình bên ngoài thôi thúc, ban lãnh đạo trại chủ trương tổ chức cho một số đồng chí vượt ngục ra hoạt động bên ngoài, Trần Văn Kiết vượt ngục về Sài Gòn, móc nối lại được cơ sở cũ, hoạt động một thời gian, thì đầu năm 1943 lại bị địch bắt tại Chợ Lớn.

   Theo lời kể lại của một số đồng chí cũ, Thanh tra mật thám Bazin, khi nghe tin ông bị bắt trở lại, đã không giấu được nỗi vui mừng khoái trá. Sau những thủ đoạn mua chuộc và dụ dỗ cùng những đòn tra tấn dã man, kẻ địch không moi được ở ông một lời khai nào có giá trị. Biết không thể lay chuyển được ý chí của người trí thức thuộc tầng lớp trên đã giác ngộ lý tưởng cộng sản, chúng đã đưa ông đi thủ tiêu một cách hèn hạ. Lúc ấy ông mới 32 tuổi và cũng chưa lập gia đình riêng.

  Trần Văn Kiết đã hy sinh cả hạnh phúc cá nhân để cống hiến trọn vẹn đời mình cho cách mạng. Ông là một tấm gương sáng của một trí thức yêu nước, một người cộng sản chân chính. Trong tập hồi ký Chúng tôi làm báo (Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1985), Nguyễn Văn Trấn, một đồng chí đã từng hoạt động với ông trong những ngày làm báo Dân chúng, đã nhắc đến Trần Văn Kiết với tất cả tấm lòng trân trọng: “Viết đến đây, tôi xin mặc niệm một đồng chí, một người thầy quý mến của chúng tôi”.

(1) Viết theo tài liệu của đồng chí Nguyễn Trí Ảnh, lưu trữ ở Ban NCLSĐ tỉnh Bến Tre.
(2)
Một mẫu ruộng ở chợ Lách, giá trị bằng ba, bốn mẫu ruộng ở vùng đất chua mặn.
(3)
Hai tờ báo Dân chúng (tiếng Việt) và Le Peuple (tiếng Pháp) có cùng một nội dung, cùng xuất bản một lúc. "Le Peuple" dịch ra tiếng Việt có nghĩa là "Dân chúng".

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
 

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Đồng Văn Cống là người có công lớn xây dựng LLVT Bến Tre và chiến trường khu 8 thời kháng Pháp, đóng góp tích cực trong việc xây dựng “Thế trận đồng bằng Nam Bộ” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông là vị tướng chiến trường mà chiến tích không tách rời lịch sử chiến tranh nhân dân của Bến Tre và Nam Bộ “thành đồng Tổ quốc”. Nếu như đồng đội của ông – nữ tướng Nguyễn Thị Định có công khai mở con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng quân Đồng Văn Cống lại có công tổ chức, củng cố vững chắc và có hiệu quả con đường lịch sử đó mang mật danh 559B khi ông đảm nhiệm cương vị Cục phó Cục Tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu, bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phần I:

THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY

Đồng Văn Cống sinh năm 1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống). Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống đến với cách mạng.

Image
Đồng Văn Cống

Đồng Văn Cống vốn được trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.

Đồng Văn Cống sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự. Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.

Image
Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu

Vợ ông, bà Lê Thị Gấm, lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu – một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân nhân cách mạng.

Đội du kích Tân Hào của Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu 8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ, ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là chánh vì tướng”.

Đã ban hành
Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)Ca Văn Thỉnh (1902 – 1987)
 

Image
Ca Văn Thỉnh (1902-1987)
    Sinh ngày 21-3-1902, trong một gia đình nông dân ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ca Văn Thỉnh thuở nhỏ học trường tiểu học ở tỉnh. Nhờ học giỏi, ông được học bổng vào Trường Sư phạm Sài Gòn, sau đó học Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Thời sinh viên, Ca Văn Thỉnh cùng với bạn đồng học như Đặng Thai Mai, Phạm Thiều hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước ở Hà Nội. Vở cải lương về Nguyễn Trãi lấy tên là Bầu nhiệt huyết của ông đã bị thực dân Pháp cấm diễn.

   Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Ca Văn Thỉnh được bổ nhiệm làm Đốc học tỉnh Bến Tre. Tháng 8-1945, ông tham gia cướp chính quyền ở tỉnh. Năm 1946, là thành viên phái đoàn khu 8 vượt biển raTrung ương báo cáo tình hình, xin chi viện cho chiến trường Nam Bộ và được mời nhận chức vụ Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ Kháng chiến.

  Năm 1952, ông trở lại chiến trường Nam Bộ, được phân công làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, kiêm ủy viên Ủy ban Liên Việt Nam Bộ. Sau hiệp định Genève (1954), tập kết ra Bắc, đã kinh qua các công tác: phụ trách vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao, Đại sứ ở Campuchia, Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), ông được cử làm Viện trưởng Viện Khoa học xã hội miền Nam, đại diện Ủy ban Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh.

  Trong suốt mấy chục năm trời từ sau CMT8-1945, Ca Văn Thỉnh hoạt động liên tục cho đến khi nghỉ hưu và đã có nhiều cống hiến to lớn trên các mặt chính trị, xã hội, giáo dục. Do đó, được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất.

   Cống hiến nổi bật nhất của Ca Văn Thỉnh là đã góp một phần có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn hóa và văn học Nam Bộ, khơi dậy những giá trị chân chính trong truyền thống văn học yêu nước chống ngoại xâm của mảnh đất phương Nam. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu, giới thiệu với cả nước những nhà văn hóa, nhà thơ yêu nước như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông trên một quan điểm dân tộc, tiến bộ.

   Với bút hiệu Ngạc Xuyên (có nghĩa là Rạch Cá Sấu - một địa danh của quê hương), trong KCCP, ông bắt đầu giới thiệu văn thơ yêu nước của các sĩ phu Nam Bộ, trên các báo chí cách mạng. Tập kết ra Bắc, ông vẫn cần mẫn nghiên cứu, dịch, giới thiệu phần thơ văn này trên các báo Văn nghệ, trên Tạp chí Văn học…Ông cùng với Bảo Định Giang biên soạn cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Thơ văn Nguyễn Văn Thông. Sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng, tuy tuổi già sức yếu, ông đã để công biên soạn cuốn Hào khí Đồng Nai, một tập sách phân tích, đánh giá những đặc trưng văn hóa của Nam Bộ.

   Công bình mà nói, Ca Văn Thỉnh để lại trước tác không nhiều so với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp khác, nhưng những cuốn sách, bài báo của ông từ tuổi thanh xuân cho đến cuối đời là một mảng đóng góp có ý nghĩa, trong việc nghiên cứu văn hóa của vùng đất mới của Tổ quốc. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, một nhân cách cao đẹp và nhân hậu.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Đình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng TrômĐình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng Trôm
Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Tuyến du lịch TP. Bến Tre - Giồng Trôm - Ba Tri là tuyến có nhiều làng nghề như Bánh tráng Mỹ Lồng - bánh phồng Sơn Đốc, làng nghề rượu Phú Lễ tại xã Phú Lễ, làng nghề đan đát tại Phước Tuy; bên cạnh đó có nhiều danh lam thắng cảnh và những di tích cấp quốc gia cùng các công trình nghệ thuật như: Di tích Lãnh binh (Nguyễn Ngọc Thăng), di tích nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, di tích Võ Trường Toản, Nhà lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định, đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống, ngoài ra còn nhiều khu mộ của các bật danh nhân như cụ Phan Thanh Giản, cụ Phan Văn Trị và nhiều di tích cấp quốc gia khác; đặc biệt đình Bình Hòa là di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc cũng nằm trên tuyến tham quan nầy.

 

Nghệ thuật chạm trỗ của Đình Bình Hòa

Ngày 30/7/2012 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm tổ chức lễ khởi công công trình trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa; sau 01 năm thi công, đến nay đã hoàn tất, đảm bảo chất lượng, tiến độ và cơ bản giữ được đường nét kiến trúc xưa, bảo tồn tối đa yếu tố gốc của di tích. Đây là di tích lịch sử, văn hóa, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07/01/1993. Di tích đình nằm cạnh đường tỉnh 885, địa phận thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Từ Tp. Bến Tre, du khách đi đến địa phận Giồng Trôm 05 km (cầu Chẹt Sậy) là đến làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, đi tiếp theo 02 km là đến đền thờ tưởng niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định, rời khu tưởng niệm cách 07 km theo hướng đi Ba Tri là đến đình Bình Hòa; đình có qui mô toàn khu là 9.000m2 (trong đó diện tích xây dựng là 1.760m2), bao gồm các hạng mục: nhà võ ca, nhà hương, nhà chính, nhà tiền sảnh, hành lang, hậu đường, miếu Quan Thánh, tường rào và sân đường nội bộ tổng mức đầu tư là 20,1 tỷ đồng; trong đó chi phí xây dựng tôn tạo các hạng mục là: 14,09 tỷ đồng.

Đình Bình Hòa có tuổi thọ đến nay đã trên 100 năm, nguyên thủy được xây dựng vào năm 1831 bằng nguyên vật liệu xây dựng đơn sơ như: cây, lá. Đến năm 1903 ngôi đình được các cụ trong ban khánh tiết đứng ra tổ chức, vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của để xây dựng lại theo kiểu cách qui mô, đồ sộ hơn, lúc này Đình được dời sang vị trí hiện nay. Các bô lão trong làng kể lại rằng ngôi đình từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành phải mất trên 10 năm (1903 - 1913). Đó là kết quả lao động rất công phu, cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân bậc thầy từ miền ngoài vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao đã làm ròng rã suốt một thập niên.

 

Quang cảnh chung của Đình Bình Hòa

Đến nay công trình trùng tu, tôn tạo di tích Kiến trúc Nghệ thuật đình Bình Hòa đã hoàn thành, qua đó đã lưu giữ những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của dân tộc, của các thế hệ ông cha để lại, những kiến trúc nghệ thuật ấy thể hiện trên những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo, tinh xảo, hoa mỹ, đậm đà sắc thái truyền thống dân tộc của những người thợ thủ công tài hoa. Nổi bật là ở nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian cổ truyền rất công phu, có nhiều điểm hết sức lý thú, hấp dẫn. Càng nhìn về giá trị nghệ thuật chạm trổ, chúng ta càng quý trọng sự lao động cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân trước đây. Toàn bộ tác phẩm điêu khắc, chạm trổ mỹ thuật ở đình Bình Hòa là một di sản văn hóa quí báu, góp phần to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm du lịch cho du khách thập phương đến chiêm ngưỡng.

Đây là một di sản văn hóa và cũng là sản phẩm du lịch góp phần cho du lịch huyện Giồng Trôm nói riêng và cho du lịch tỉnh Bến Tre nói chung sẽ phát triển được loại hình du lịch sinh thái, kết hợp du lịch làng nghề, du lịch về nguồn và du lịch tâm linh,… hy vọng trong thời gian tới, huyện Giồng Trôm sẽ tập trung từ huyện đến xã, từ chính quyền đến tận người dân với quyết tâm cao, tạo nhiều sản phẩm du lịch, nhiều dịch vụ phục vụ khách du lịch nhằm đưa ngành du lịch huyện nhà phát triển ngang tầm xu thế phát triển chung của tỉnh để góp phần trong việc phát triển kinh tế địa phương mà ngành du lịch là ngành công nghiệp không khói sẽ trở thành mũi nhọn đến năm 2020.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer