Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Anh hùng lực lượng vũ trang
 
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại). 
 
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh. 
 
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. 
Đoàn Thị E (08/11/2014)
 
Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm. 
Khấu Trung Gương (08/11/2014)
 
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. 
Tạ Thị Kiều (08/11/2014)
 
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. 
Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.  
 
Võ Viết Thanh (08/11/2014)
 
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.  
Cao Văn Trung (08/11/2014)
 
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh.  
Nguyễn Thành Trung (08/11/2014)
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Lê Long Vân (1908 – 1988)Lê Long Vân (1908 – 1988)
 

Image
Lê Long Vân (1908-1988)
    Trong tập hồi ký Kể chuyện cải lương của nghệ sĩ Ba Vân, tức Lê Long Vân, kể lại "những ngày đầu đi hát” như sau: “Tôi sinh ra ở Ba Tri (xã An Đức – BS), một vùng quê nghèo của tỉnh Bến Tre, nhưng lại rất giàu đờn ca. Bến Tre lúc đó cũng là vùng đất có phong trào ca hát tài tử phát triển mạnh ở Lục Tỉnh. Nhà tôi nghèo lại đông anh em, ba má tôi muốn các con có một nghề nhàn nhã tấm thân, không phải chịu cảnh nhọc nhằn hôm sớm đồng ruộng , nên đã cố gắng rước thầy về dạy nhạc cho anh em tôi ngay từ nhỏ. Chúng tôi được học đủ các loại nhạc cụ, từ đánh trống, đánh đồ ngang, chọi bạc, rồi học đờn tranh, đờn kìm… Tôi có giọng hát thanh, trong, nên được thầy chú ý. Sau một thời gian học, tôi được thầy cho đi thi hát ở các đám tiệc trong làng, đó là vào năm 1917…" (1)

  Từ buổi tập tễnh bước vào con đường ca hát nghiệp dư đến khi trở thành một diễn viên chuyên nghiệp trong các đoàn hát, rồi trở thành nghệ sĩ tiếng tăm lan khắp 3 miền, được Nhà nuớc ta phong danh hiệu cao quý "Nghệ sĩ nhân dân" (1984), ông là một tấm gương sáng về lòng say mê nghệ thuật, về ý thức kiên trì học hỏi, rèn luyện không ngừng, tập luyện từ giọng ca, ngón đàn, nhịp trống đến sắc diện, cử chỉ, động tác, diễn xuất…

   Ông bắt đầu theo nghề ca hát từ năm 14 tuổi. Ban đầu ông theo nhóm Kiều Vân Tiên. Năm sau ông gia nhập gánh Tái Đồng Ban, rồi gánh Tân Hí, Đồng Thinh và Nghĩa Hiệp Ban. Từ năm 1927 đến năm 1929 ông gia nhập gánh Quảng Lạc ở Hà Nội.

   Tài nghệ của ông nở rộ vào những năm 1937 – 1939 ở đất Hà Nội, khi gánh cải lương Đại Phước Cương ra mắt công chúng. Người xem hồi ấy xúc động, cảm phục, say mê trước tài diễn xuất điêu luyện của ông qua nhiều vai: từ vai hài đến vai bi, từ vai ông lão đến vai trẻ trung, từ quan văn đến quan võ, từ vai phụ đến kép chính. Các nhân vật do ông đóng trên sân khấu, dù khác nhau về thân phận, tâm lý, trong sinh hoạt đời thường hay chốn giàu sang quyền quý, từ nơi triều đình vua chúa, quan trường đến cảnh bần cùng, dưới đáy xã hội đều được ông nhập vai một cách xuất sắc, độc đáo với tài năng nghệ thuật bậc thầy.

   Khi thì ông mang dáng đạo mạo, từ bi của kẻ tu hành, lúc ngây thơ hồn nhiên pha chút tinh nghịch, dí dỏm của một đứa ở thông minh, khi thì vừa dại vừa thông minh của một người điên, lúc khác dáng thiểu não, bệnh hoạn của một gã ghiền thuốc phiện với niềm uẩn khúc, day dứt vì lỗi lầm, vì lương tâm cắn rứt, vò xé…Tất cả được hòa nhập vào tính cách nhân vật trong những tình huống giàu kịch tính, làm nổi bật lên cá tính từng con người, tạo nên mối đồng cảm sâu sắc giữa người diễn trên sân khấu và người xem.

   Khởi nguồn từ lòng say mê nghệ thuật, nghệ sĩ Ba Vân đã toàn tâm toàn ý dâng trọn cuộc đời cho sân khấu cải lương, kiên trì vượt qua mọi cản ngại, gian khó để thâm nhập cuộc sống, nghiên cứu nắm bắt thực tế, tâm lý, cá tính từng loại người trong xã hội để tái hiện lại một cách xuất sắc trên sàn diễn. Là một tài năng kiệt xuất trong những nghệ sĩ nổi tiếng, có công nhiều đối với nền nghệ thuật cải lương như Năm Châu, Tư Trang, Ba Du, Bảy Nhiêu, Tám Danh, Năm Phỉ, Phùng Há…, nghệ sĩ Ba Vân bao giờ cũng rất mực khiêm tốn khi nói về bản thân, trong khi đó lại rất trân trọng, đề cao những cống hiến của các đồng nghiệp, bạn bè với một thái độ chân thật, trong sáng từ đáy lòng. Ông tâm sự: “Hơn nửa thế kỷ qua, tôi đã từng gắn bó chìm nổi với sân khấu cải lương, đã gặt hái cho mình không ít điều hay (…) Tôi có cái diễm phúc là đã được quen biết, hợp tác và học tập rất nhiều ở các nghệ sĩ đầu đàn, những người có thể nói mà không sợ quá đáng rằng nếu không có họ, thì cải lương không có được như ngày nay. (2)

   Năm 1984, ông được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, nhiều người mến mộ đến chúc mừng người “nghệ sĩ lão thành" đã đạt được vinh quang cao quý ấy, ông từ tốn đáp: “Tôi chỉ có “lão" mà chưa có thành".

   Sống thanh bạch và giản dị, tình cảm đôn hậu, trong sáng, nghệ sĩ Ba Vân không những chỉ có bạn bè, đồng nghiệp, học trò của ông quý trọng, mà còn được đông đảo công chúng mến mộ. Cuộc đời hơn nửa thế kỷ gắn bó nghệ thuật cải lương cho đến khi trút hơi thở cuối cùng của ông là một bài học vô giá cho lớp nghệ sĩ hôm nay về tinh thần lao động nghệ thuật, lòng nhân nghĩa, đạo lý ở đời, về đức khiêm nhường, bao dung, về lòng yêu thương con người và yêu nghề. Ông qua đời tại TP. Hồ Chí Minh ngày 24-8-1988.

Chú thích:

(1) Ba Vân, Kể chuyện cải lương, Lê Thị Hoàng Mai ghi, Nxb TP.Hồ Chí Minh, 1988, tr.73-74
(2)
Trích Lời nói đầu của tập “Kể chuyện cải lương”, Sđd

Đã ban hành
Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)
 

Image
Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
    Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8 –1945, phong trào học sinh sinh viên yêu nước rầm rộ từ Bắc chí Nam, Huỳnh Tấn Phát lúc bấy giờ là kiến trúc sư ra trường đã lâu, có văn phòng riêng, làm ăn phát đạt. Thế nhưng, chí hướng của người kiến trúc sư trẻ ấy không vì mục đích làm giàu, nên văn phòng ấy chính là nơi lui tới, hội họp sinh viên, trí thức yêu nước Sài Gòn. Trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương (AGEI) vào những năm 40, trước CMT8 – 1945, tên tuổi của Huỳnh Tấn Phát nổi bật lên trong đám trí thức đàn anh. Tờ tuần báo Thanh niên (1944) do ông làm chủ nhiệm trở thành cơ quan ngôn luận của giới trí thức trẻ. Được kết nạp vào ĐCS tháng 3-1945, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó giám đốc Sở Thông tin báo chí của UBND Nam Bộ. Cũng từ đây, ông tạm giã từ chuyên môn, dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

   Khi quân Pháp chiếm lại Sài Gòn, ông bị chúng bắt và bị kết án tù hai năm. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở nội thành đến năm 1949 mới ra chiến khu, và được cử làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, rồi ủy viên UBKCHC đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động ở nội thành. Đầu năm 1959, ra vùng giải phóng, được cử làm ủy viên Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, phụ trách công tác vận động trí thức, tư sản và công tác Mặc trận. Cuối 1960, Đại hội MTDTGPMNVN cử làm Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN. Tháng 6-1969, được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ CMLTCHMNNVN.

   Năm 1975, sau ngày giải phóng, đã giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCHVN, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII, VIII. Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

   Trên đây là những nét lớn về tiểu sử cùng những hoạt động cách mạng của ông. Nhưng điều đáng nói hơn không phải là ở chỗ chức vụ, danh vọng, vị trí xã hội đã đạt được, mà là tấm lòng, nhân cách, đức độ, tác phong sống của một người trí thức chân chính. Người ta kính trọng ông, một kiến trúc sư, một trí thức lớn sẵn sàng vứt bỏ mọi vinh hoa, phú quý của xã hội thượng lưu, lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn của nhân dân vì độc lập, tự do. Những người từng sống gắn bó với ông từ cán bộ cấp cao đến người bảo vệ, liên lạc, yêu quý, mến phục ông với cái tên thân thương Tám Chí. Nhà văn Thép Mới, trong bài viết sau khi ông qua đời, có nhận xét: "Phong thái anh không lẫn với ai khác được. Anh đã sống nhiều năm ở vùng Tam Giác Sắt không khác gì các chiến sĩ, đồng bào. Lính trẻ Củ Chi chịu anh tình thương lính tráng. Cô bác Phú Hòa Đông, Nhuận Đức quý anh như bạn, như người cao tuổi trong gia đình. Ai cũng trọng anh, nhưng không ai coi anh là nhân sĩ. Anh là người vận động cụ thể, tổ chức cụ thể, chăm lo thể hiện những chủ trương cụ thể về công tác Mặt trận và vận động trí thức ở thành. Anh đã là anh rồi, nên không nghĩ đến cá nhân nhiều… Cái cách anh quan hệ, ứng xử với các bạn trí thức, đến với cách mạng cũng có những nét riêng. Anh không hùng biện, không sắc cạnh, không bắt ai phục mình. Ánh sáng là ánh sáng chung của cuộc đời. Tự anh không phát sáng. Nhưng anh biết làm cho "than hồng nhen thành lửa ngọn". Anh thuyết phục họ bằng chính con người anh, một con người Sài Gòn, lẽ ra có thể sống ít nhiều vương giả lắm chứ, nếu muốn. Vậy mà, anh dấn thân vào trường kỳ kháng chiến, dấn thân đến cùng, sống cách mạng một cách chân thật, tự nhiên, trong trẻo". (Báo Nhân dân, số 14-10-1989). Còn giáo sư Nguyễn Văn Chí, một trí thức lớn của Sài Gòn, đã từng sống với anh ở khu, có nhận xét: "Huỳnh Tấn Phát sống ở rừng, làm cách mạng trông vẫn thanh niên như hồi cắm trại ở suối Lồ Ồ".

   Sinh năm 1913 trong một gia đình viên chức nhỏ ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Tấn Phát học ở Sài Gòn, rồi Hà Nội. Nhưng, nơi ông gắn bó sâu sắc và lâu dài nhất vẫn là thành phố Sài Gòn và vùng đất Nam Bộ. So với trí thức và nghệ sĩ đã đến với cách mạng và kháng chiến, cống hiến tài năng chuyên môn hay nghệ thuật, hoặc đánh giặc, Huỳnh Tấn Phát đã đóng góp bằng cách riêng của mình.

   Ông đã dành gần như trọn đời cho những hoạt động vận động quần chúng trực tiếp, làm công tác phong trào, từ khi chủ trương tờ Thanh niên cho đến cuối đời, làm Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông sống chân tình, cởi mở, bao dung, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, trăn trở của từng người, dù người đó là nhân vật có tên tuổi, hay là người bảo vệ bình thường của cơ quan. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên mà Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tặng ông Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết.

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)
&nbsp;

Image
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Trương Vĩnh Ký, còn có tên J.B. Trương Chánh Ký, hoặc Pétrus Ký, sinh ngày 6-12-1837 tại làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, Ký bắt đầu học chữ Hán. Đến chín tuổi cha mất. Lúc này, có một nhà truyền giáo người Pháp, thường gọi là cha Long, thấy cậu bé Ký có trí thông minh nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy học chữ La-tinh. Năm 12 tuổi, Trương theo cha Hòe (tức linh mục Belleveaux) sang học tại Trường Pinhalu ở Phnom Penh.

   Năm 1851, Trương được trường này cấp học bổng sang học tại Chủng viện Pinang ở Indonesia - một trung tâm đào tạo linh mục cho các nước Đông Nam Á. Tại Tổng chủng viện Pinang, Trương Vĩnh Ký trong quá trình học tập đã tỏ ra "có khả năng thu nhận khác thường" hệ thống tư tưởng và các tri thức khoa học tự nhiên cũng như xã hội đương thời, đến nỗi ngay các nhân vật có tiếng tăm lúc ấy cũng phải ngạc nhiên và khen ngợi trí thông minh và trình độ "học vấn uyên vấn uyên bác" của ông… Ông cũng tỏ ra là một người có năng khiếu về ngôn ngữ học. Ngoài các sinh ngữ Pháp, Anh, La-tinh, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật, ông còn thông thạo cả tiếng Y Pha Nho, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến.Trương Vĩnh Ký hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực văn hóa, ngoại trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp.

Tháng 2-1859, quân Pháp đánh chiếm Gia Định, ông được giám mục người Pháp Lefèbre chỉ định làm thông ngôn cho bộ chỉ huy "Đoàn quân chiếm đóng" ở Nam Kỳ. Tháng 6-1863, thực dân Pháp cử ông làm phiên dịch cho phái bộ "chuộc đất” của triều đình do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp. Trong chuyến đi này, ngoài nhiệm vụ thông ngôn được đảm nhận một cách xuất sắc, ông còn tiếp xúc với một số nhân vật cao cấp của chính quyền Pháp, gặp gỡ một số nhà văn nổi tiếng như Victor Hugo, Littré, Renan… đi thăm nhiều nơi ở Pháp và một số nước khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai Cập, Italia và được Giáo hoàng La Mã tiếp. Trong hành trình kéo dài 8 tháng, cả đi lẫn về, Trương Vĩnh Ký có dịp sống gần gũi với hai vị quan đại thần Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ; đó không chỉ là hai vị quan đại thần, mà còn là những nhân vật đáng kính về tài đức. Trương Vĩnh Ký cũng có cơ hội đề hiểu rõ hơn về nội tình đất nước và đồng bào của mình. Chính trong hồi ký sau chuyến đi này, Trương đã viết: "Tôi trở về với tâm hồn sung sướng vô cùng". Có thề nói chuyến đi này đã góp phần định hướng những suy tư và hoạt động của ông tìm về văn hóa dân tộc một cách tích cực hơn.

   Sau khi chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỳ, các "Toàn quyền đô đốc” (Geuverneurs – Amiraux) đã sử dụng Trương Vĩnh Ký như một quan chức An Nam đầu tiên của chính quyền Pháp” đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như: giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866 – 1868 ), chủ bút tờ Gia Định báo (1868), Giám đốc trường Sư phạm kiêm thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở Trường Tham biện Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires – 1874)… Tháng 2-1876, Trương được Toàn quyền Paul Bert cử làm giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Viện Cơ mật đến tháng 10-1876 thì trở về Sài Gòn.Sau cái chết đột ngột của Paul Bert (11-11-1886), Trương Vĩnh Ký không còn được trọng dụng như trước. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách, báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn.

Trong lĩnh vực văn hóa, Trương Vĩnh Ký đã chứng tỏ có kiến thức uyên bác về nhiều mặt, không chỉ trong khoa học xã hội mà cả trong khoa học tự nhiên. Đặc biệt về hoạt động sưu tầm, biên khảo, phiên âm, phiên dịch, ông đạt những thành tựu đáng kể. Ông dịch sách chữ Hán, phiên ra chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, Lục súc tranh công… biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài v.v…Ông có một năng lực làm việc phi thường. Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 - 1898), Trương Vĩnh Ký đã để lại cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch, phiên âm trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn. Ở buổi đầu giao tiếp giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương tại Việt Nam, một sự nghiệp đồ sộ như thế quả là hiếm có. Trương Vĩnh Ký có chân trong hàng chục hội khoa học châu Âu, ở cuối thế kỷ XIX J.Bouchot, một học giả Pháp, gọi ông là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho chí ở nước Trung Hoa hiện đại nữa”.(1) Ở nước ta trước đây, một số nhà nghiên cứu đã đánh giá những cống hiến của ông khá cao. Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký trong 3 tiếng “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn" (2) và, trong lời tựa cuốn Trương Vĩnh Ký của Lê Thanh, ông cho rằng họ Trương là "một nhà lập ngôn bất hủ… một tay cự phách trong văn học, đã nổi tiếng là một nhà sư phạm". Vũ Ngọc Phan, trong tập Nhà văn hiện đại, ông đã viết "Còn Trương Vĩnh Ký thì thiệt là một nhà bác học. Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật mà còn là một người giỏi về ngôn ngữ". Mặt khác, cũng có nhiều ý kiến phê phán, buộc tội họ Trương là đã cộng tác với thực dân, phản lại Tổ quốc, như Lê Thanh trong quyển Trương Vĩnh Ký, Trần Huy Liệu trong Lịch sử 80 năm chống Pháp, Phạm Long Điền và Nguyễn Sinh Duy trong quyển Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký…

Những ý kiến trái ngược nhau tùy thuộc vào chỗ đứng, cách nhìn và đánh giá khác nhau của từng người đối với nhân vật lịch sử này. Cũng cần thấy thêm rằng do bản thân cuộc đời hoạt động của Trương Vĩnh Ký có nhiều điều phức tạp và rắc rối. Con người giàu tài năng và có sức làm việc to lớn như thế, đến cuối đời đã rơi vào hoàn cảnh nghèo nàn, túng bấn. Về mặt tinh thần, lúc sinh thời ông cũng đã bộc lộ nhiều băn khoăn, khắc khoải. Hai câu cuối của Bài thơ tuyệt mệnh như muốn gửi gấm tâm sự cho người đời sau, khi phẩm bình về sự nghiệp của ông:

Cuốn sổ bình sanh công với tội
Tìm nơi thẩm phán để thừa sai

 

Ông mất ngày 1-9-1898 tại Sài Gòn, hưởng thọ 62 tuổi. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Nhưng những hoạt động ở lĩnh vực thứ hai này lại không thể tách rời với tư tưởng chính trị khá nhất quán của ông là phục vụ trung thành nước Pháp, như ông đã hơn một lần thừa nhận. Tuy nhiên không vì vậy mà ta xếp ông vào hàng những tên tay sai bán nước như Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, từ đó đi đến phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa của dân tộc. Đáng chú ý nhất là những đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí, cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học v.v…Những năm gần đây, trong bầu không khí tinh thần cởi mở, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, một số công trinh nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký được đăng tải trên các tạp chí, hoặc in thành sách, thể hiện một quan điểm lịch sử khách quan và rộng rãi hơn, một cách nhìn bình tĩnh và khoa học hơn. Trong đó, đáng chú ý là cuốn Trương Vĩnh Ký – con người và sự thật của nhà biên khảo Nguyễn Văn Trấn do Ban Khoa học xã hội Thành ủy TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993 và quyển Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký của Bằng Giang, Nhà xuất bản Văn học, 1994.

Chú thích:

1. J. Bouchot, Péutrus Ký, un savant et un patriote Cochinchinois, S, 1927, p 10
2. Kỷ yếu hội Trí Tri Bắc kỳ, số 1-2 năm 1937

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945)Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945)

Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký kết hòa ước Nhâm Tuất (1874), giao trọn chủ quyền sáu tỉnh cho Pháp, thực dân Pháp bắt tay tổ chức ngay bộ máy cai trị ở Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng. Chúng lập ra phủ Thống đốc – cơ quan cai trị cao nhất ở Nam Kỳ – do thống đốc đứng đầu. Viên Thống đốc đô đốc (Governeur Amiral) đầu tiên ở Nam Kỳ là Victor Auguste Duperré. Tiếp đến, chúng phân chia toàn bộ Nam Kỳ Lục tỉnh thành 4 khu vực hành chính: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Ở dưới cấp khu vực có những tiểu khu trực thuộc. Tiểu khu Bến Tre nằm trong khu vực Vĩnh Long. Năm 1867, Nam Kỳ được chia thành 25 sở tham biện (inspection), cù lao An Hóa thuộc sở tham biện Kiến Hòa, cù lao Minh và cù lao Bảo lúc đầu nằm trong tham biện Bến Tre, sau đó lại chia làm hai: sở tham biện Mỏ Cày và sở tham biện Bến Tre. Đến ngày 7-6-1871, hai sở tham biện lại nhập thành một: sở tham biện Bến Tre. Cơ cấu hành chính này tồn tại mãi đến ngày 20-12-1899, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định chính thức đổi tên gọi tiểu khu thành tỉnh (province).

   Đứng đầu mỗi tỉnh là viên Chánh chủ tỉnh (Administrateur chef de province) do người Pháp trực tiếp giữ chức vụ này. Ở Bến Tre Chánh chủ tỉnh đầu tiên là Quesnel (1920), sau đó là Georges Rivoal (1926), Gaston Travernoy (1928), Fernad Caire (1929-1930) v.v...

   Đơn vị hành chính dưới tỉnh là quận, do chủ quận đứng đầu, dưới quận là tổng, có cai tổng đứng đầu. Đơn vị hành chính cơ sở là làng, và ở đây về cơ bản, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên hệ thống tổ chức cũ của nhà Nguyễn với một hội đồng kỳ hào gồm 11 đến 12 người (1). Bọn thống trị thực dân từ Paul Doumer đến Albert Sarraut đều muốn duy trì bộ máy xã thôn cũ, làm công cụ đàn áp và bóc lột nhân dân ta ở nông thôn. Chính Doumer đã từng nhấn mạnh: "Theo tôi, duy trì trọn vẹn thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kỹ, mà chúng ta thấy đó là một điều tốt. Theo cách tổ chức này, thì mỗi làng sẽ là một nước cộng hòa nhỏ bé, độc lập trong những giới hạn quyền lợi của địa phương. Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỷ luật và rất có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó - những cá nhân mà chính quyền cấp trên không cần biết tới - điều đó rất thuận lợi cho công việc của chính quyền" (2).

   Với dụng ý trên, ở Bến Tre, sau khi hoàn thành việc đánh chiếm, thực dân Pháp không ngừng củng cố và phát triển bộ máy hành chính xã thôn có sẵn thời Nguyễn. Năm 1867 về trước, tại cù lao Minh và cù lao Bảo chỉ có một phủ và bốn huyện (Tân Minh, Duy Minh, Bảo Hựu và Bảo An), nhưng đến năm 1929 thực dân Pháp đã chia ra làm 4 quận: Sóc Sãi (về sau, đổi tên thành quận Châu Thành), Ba Tri (ở cù lao Bảo) và Mỏ Cày, Thạnh Phú (ở cù lao Minh) gồm 20 tổng (10 tổng ở Bảo, 10 tổng ở Minh) với 94 làng ở Bảo, 41 làng ở Minh. Hệ thống tổ chức này không chỉ có giá trị về hành chính, an ninh mà còn có giá trị về kinh tế. Chúng lại đưa địa chủ vào nắm các chức vụ trong bộ máy cai trị đó như Phó Hoài, Phủ Kiểng, Hương Liêm, Cai Tâm, Cai Thì, Hội đồng Nhơn, Hội đồng Thạch v.v... thực hiện sự cấu kết giữa địa chủ phong kiến và thực dân trong việc khống chế và áp bức nhân dân lao động ở nông thôn.

   Đi đôi với việc thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp thi hành chính sách bóc lột, vơ vét tài nguyên và lao động của nước ta phục vụ cho sự phồn vinh của chính quốc Pháp.

   Để có một ngân sách chi tiêu vào công việc trong xứ, thực dân Pháp duy trì việc thu thuế đinh cùng thuế điền và mức thuế đã không ngừng tăng lên nhanh chóng. Kết quả là riêng ở Nam Kỳ, năm 1899 chúng mới thu được 4,7 triệu tiền thuế, đến năm 1907 con số đó lên đến 7 triệu đồng Đông Dương.

   Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp thi hành chính sách cướp đoạt ruộng đất của nông dân để nuôi béo bọn điền chủ Pháp. Sắc lệnh tháng 7-1888, và nhất là sắc lệnh 18-8-1896 của Toàn quyền cho phép bọn "colon" người Pháp được phép chiếm đoạt ruộng đất dưới hình thức nhượng với những điều kiện hết sức rộng rãi. Với sắc lệnh này, chính quyền thực dân có thể nhượng cho điền chủ người Pháp cả một vùng rộng lớn, bất kể trong đó ruộng đất thuộc của ai (trên thực tế, phần lớn thuộc sở hữu của nông dân khai phá). Thủ tục khai báo xin nhượng đất rất đơn giản. Muốn xin đất, bọn điền chủ Pháp chỉ cần khai báo diện tích, vị trí, giới mốc và trả tiền theo giá 1 đồng cho mỗi hécta và sau 5 năm mới phải nộp thuế.

   Chính sách cướp đoạt này đã đưa tới hậu quả là trong cả nước, tính đến năm 1913 bọn điền chủ Pháp đã chiếm tới 470.000 ha. Riêng ở Bến Tre, số ruộng đất rơi vào tay bọn điền chủ Pháp cũng rất lớn. Năm 1880, tên Pilet chiếm 200 ha ở Mỹ Chánh. Năm 1895, Pilet, Oudin và Blanc, mỗi tên chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1897, tên Brondeau chiếm 100 ha ở Thạnh Phú, tên Guyot chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1901, tên Giovansili chiếm 300 ha Giao Thạnh. Năm 1903, tên Mariani chiếm 185 ha ở Bình Khương. Năm 1905, tên Prédiani chiếm 718 ha ở An Nhơn. Năm 1922, Hội truyền giáo nước ngoài (Mission Étrangère) chiếm 53 ha ở Thạnh Phú...

   Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đi đôi với sự tăng cường đầu tư của tư bản Pháp vào nông nghiệp, thực dân Pháp còn ban hành chính sách mới, tạo điều kiện thuận lợi cho bọn điền chủ Pháp chiếm đoạt nhiều ruộng đất hơn nữa. Theo nghị định ngày 18-8-1926, bọn điền chủ Pháp có thể xin cấp đất không phải mất tiền và không phải nộp thuế về sản phẩm thu hoạch trên diện tích từ 300 ha trở lại. Còn từ 300 ha trở lên, chúng cũng chỉ phải nộp một số thuế bằng 2% giá trị sản phẩm thu hoạch.

   Sắc luật tháng 11-1928 của thực dân Pháp lại xóa bỏ mọi hạn chế về diện tích chiếm hữu và nới rộng quyền hạn cấp đất của các cấp chính quyền thuộc địa. Sắc luật ấy còn giành đặc quyền chiếm đoạt ruộng đất cho bọn điền chủ Pháp.

   Đến năm 1935, thực dân Pháp lại ban hành luật điền thổ mới giành nhiều quyền ưu tiên cho ngoại kiều - chủ yếu là người Pháp - về sự chiếm hữu ruộng đất. Kết quả là đến năm 1930, ở nước ta, bọn điền chủ Pháp đã chiếm được 850.000 ha, bằng một phần sáu diện tích đất trồng trọt.

   Riêng ở Bến Tre, đến những năm 1939 - 1940, đã có những điền chủ người Pháp, người Ấn và người Việt quốc tịch Pháp chiếm những diện tích đất đai lớn như:

   Ở Bình Đại có Baudson chiếm 825 ha vùng rừng đình Đầu Trâu, Raymond Gelet chiếm 77 ha đất trồng dừa. Ở khu vực Đê Đông, René Théophile Leroy chiếm 425 ha. Avémei Di Mesah (Ấn kiều) chiếm 44 ha ở xã Phú Long.

   Ở Giồng Trôm có Hamet Toussaint chiếm 30 ha thuộc khu vực ngã ba Giồng Trường lên đến trạm máy kéo Giồng Trôm hiện nay, Thérèse Phạm Túy Anh, Phạm Văn Chánh chiếm 176 ha vùng Hưng Nhượng - Sơn Đốc.

   Ở Thạnh Phú có Sounassoudiane Chetli (Ấn kiều) chiếm 31 ha vùng Rạch Sấu, Rạch Cừ, xã An Thạnh. Elisabeth Nguyễn Thị Quang chiếm 176 ha thuộc Mỹ Hưng, xã Quới Điền.

   Ở Châu Thành có Roger Nguyễn Võ Hiền chiếm 89 ha ở An Hiệp. Ngoài ra còn có Philippe Nguyễn Văn Phụng chiếm 56 ha ở Sơn Phú, Phú Hưng. Họ đạo Cái Bông (Giồng Tre) chiếm 130 ha vùng chung quanh nhà thờ.

   Đi đôi với việc tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho các điền chủ Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, thực dân Pháp cũng tỏ ra dễ dãi đối với số điền chủ người Việt bao chiếm ruộng đất, nhằm biến số này thành chỗ dựa xã hội cho sự thống trị của chúng. Ở Bến Tre, số này được thực dân Pháp nâng đỡ khuyến khích, tiến hành bao chiếm khai thác những mảnh đất rộng lớn ở vùng cuối của cù lao Minh và cù lao Bảo. Một trường hợp điển hình là khoảng năm 1930, cha con Huỳnh Ngọc Khiêm (tục danh Hương Liêm) được thực dân Pháp cho bao chiếm khai thác vùng đất từ Dinh Bà lên vàm Băng Cung, xã Quới Điền, dải phù sa ven biển Thạnh Phú.

   Chính sách ruộng đất nói trên của thực dân Pháp đã đưa tới sự hình chế độ sở hữu ruộng đất lớn và sự tăng trưởng nhanh chóng tầng lớp địa chủ, phú hào cả về số lượng lẫn quy mô chiếm hữu. Ở Bến Tre, năm 1867, toàn tỉnh có không đầy 20 đại điền chủ có từ 100 ha trở lên, mà đến năm 1929 đã có đến 44 điền chủ từ 100 đến 500 ha và 168 điền chủ có từ 50 đến 100 ha. Toàn bộ số điền chủ này chỉ chiếm 0,7% dân số trong tổng số 315.000 dân, mà đã chiếm gần 27.000 ha trong tổng số 158.000 ha ruộng đất toàn tỉnh, tức 17% diện tích ruộng đất.

   Trong khi đó, trong tổng số 315.000 dân, ngoài số 212 đại và trung điền chủ nói trên, chỉ còn có 38.009 người có ruộng đất, trong đó 34.243 người có từ 1 đến 10 ha, và 3.766 người có từ 11 đến 50 ha. Như vậy nếu tính gộp chung lại, thì trong tổng số 315.000 dân chỉ có 38.185 người có ruộng đất, tức 12%. Còn 88% còn lại , tức 276.815 người thì không có một tí ruộng đất nào (3).

   Điều này cho thấy chính sách cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp thâm độc đến mức nào.

   Điều cần nói thêm là bọn "colon" Pháp và số điền chủ người Việt đổ xô vào nông nghiệp, đua nhau cướp đoạt ruộng đất, nhưng cách khai thác vẫn theo phương thức phong kiến, nghĩa là phát canh thu tô, hoặc cho nông dân thuê bằng tiền. Do đó năng suất lúa trong thời gian này rất thấp, thấp nhất trong số các nước sản xuất lúa ở Đông Nam Á, chỉ 12,1 tạ trên một hecta. Riêng Bến Tre, tình trạng còn bi đát hơn là mặc dù diện tích canh tác mở rộng, nhưng sản lượng lúa nói chung của toàn tỉnh thì lại lên xuống rất thất thường, thậm chí có những năm bị giảm sút nghiêm trọng.

   Từ năm 1899 đến năm 1908, hằng năm thực dân Pháp xuất khẩu khoảng 820.000 tấn gạo, đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, con số này nhảy vọt lên tới 1.763.587 tấn, chiếm từ 60 - 70% tổng giá trị xuất khẩu trong thời gian này. Số lúa xuất khẩu ấy chủ yếu vơ vét từ nông thôn chứ không phải do các đồn điền thực dân cung cấp. Ở Nam Kỳ có đến hàng chục công ty xuất khẩu gạo hoạt động. Những công ty này có một mạng lưới trung gian người Việt, nhất là người Hoa, tung về khắp nông thôn vơ vét lúa gạo. Không những thế, để có đủ gạo xuất cảng, các công ty xuất khẩu gạo được chính quyền thực dân giúp đỡ, đã dùng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ số lúa quá ít ỏi của họ. Nông dân do đó bị kiệt sức, không có khả năng để cải tiến kỹ thuật canh tác.

   Như vậy là chính sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp đã đẩy nông nghiệp Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng vào tình trạng hết sức tiêu điều. Về tình cảnh của những người bần cố nông, tá điền ở Nam Kỳ thời kỳ thuộc Pháp, đồng chí Lê Duẩn có nhận xét: "Tình hình đời sống của tá điền khổ hơn nông nô. Bọn địa chủ cột chặt đời sống của tá điền vào ruộng đất không phải hằng tháng, mà suốt đời, từ đời cha đến đời con, bằng cách chồng chất lên đầu tá điền hàng trăm thứ nợ... Trong những năm thuộc Pháp - Nhật có những người con gái tá điền 15, 16 tuổi không có áo che thân, có người phải tự tử, có gia đình cả vợ chồng, con cái chỉ có một cái quần" (4). Tá điền ở Bến Tre cũng không thoát khỏi tình trạng chung đó.

   Trên lĩnh vực công nghiệp - nhìn trong phạm vi cả nước - dưới thời thực dân, hầu hết các hầm mỏ, công trường, xí nghiệp đều do Nhà nước, hoặc bọn tư sản Pháp nắm, mà hướng phát triển thì đã được xác định khá rõ ngay từ đầu: “... Nếu có mở mang công nghiệp ở đây (tức là Việt Nam) thì chỉ giới hạn trong phạm vi là nền công nghiệp đó không làm hại đến công nghiệp chính quốc" (5). Bị khống chế trong một giới hạn như vậy, cho nên nền công nghiệp ở Việt Nam nói chung rất nhỏ bé và què quặt.

   Bến Tre vốn là một tỉnh nông nghiệp, lại đứng trước một chính sách hạn chế phát triển công nghiệp như vậy, nên cơ sở công nghiệp rất nhỏ bé và còi cọc. Hơn 80 năm thống trị, bọn thực dân Pháp không đầu tư vào đây một cơ sở công nghiệp nào có giá trị, kể cả việc chế biến sản phẩm nổi tiếng ở đây là dừa. Có điều là để bảo đảm có gạo xuất khẩu, một số tên thực dân và điền chủ lớn đã xây dựng ở đây hàng loạt nhà máy xay, năm 1921, có 17 cái, năm 1929, tăng 32 cái và năm 1930, lên đến 45 cái, nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ.

   Ngoài số nhà máy xay xát ra, các cơ sở công nghiệp khác coi như không đáng kể. Toàn tỉnh chỉ có một trạm phát điện diésel, chủ yếu phục vụ cho việc thắp sáng ở tỉnh lỵ Bến Tre, 3 lò gạch, 12 trại cưa, một nhà máy rượu với công suất 435.000 lít/năm. Hầu hết các cơ sở sản xuất này nằm trong tay các nhà kinh doanh Hoa kiều.

   Về mặt giao thông, phải thừa nhận rằng dưới thời thực dân Pháp, đường bộ ở Bến Tre mới được mở mang một bước quan trọng. Công việc này được bắt đầu xúc tiến từ năm 1880 với dự án của kỹ sư công chánh Pháp Thévenet. Tất nhiên những công trình cầu đường này được xây dựng trước hết không phải vì mục tiêu kinh tế - xã hội, mà vì nhu cầu bình định, nhằm bảo đảm cho lực lượng xe cơ giới của bộ máy quân sự và an ninh Pháp có thể cơ động đối phó kịp thời với các cuộc nổi dậy của dân chúng, cũng như cho những cuộc tuần tra trong tỉnh. Cùng với con đường liên tỉnh từ Mỹ Tho đi Trà Vinh, qua thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày dài 54km, một hệ thống đường rải đá, đường đất nối liền các trung tâm kinh tế, dân cư trên 3 dải cù lao cũng được xây dựng.

   Ngoài ra, vừa để đáp ứng nhu cầu giao thông, vừa để phục vụ việc dẫn nước tưới tiêu, rửa phèn, rất cần cho việc đẩy mạnh khai thác nông nghiệp, từ năm 1872, thực dân Pháp đã cho vét và đào thêm một số con kênh. Trong đó có mấy con kênh quan trọng như: kênh Tân Hương dài 5km (kênh này đã có sẵn, người Pháp chỉ nạo vét và mở rộng ra), giúp cho sự thông thương từ sông Hàm Luông qua sông Cổ Chiên; kênh Mỏ Cày - Cái Quao dài 7km, bắt đầu từ rạch Cái Quao đổ ra sông Hàm Luông, có tác dụng mở rộng sự giao lưu nội địa; kênh Chẹt Sậy nối liền rạch Bến Tre với sông Ba Lai dài 5,900km; kênh Cái Bông - Mỹ Chánh, dài 4,700km, dùng để thoát nước cho vùng đất thấp sình lầy thuộc tổng Bảo Thuận, khu vực Ba Mỹ; kênh Ba Tri, dài 11km, có tác dụng làm thoát nước cho một cánh đồng lớn lầy thụt, nhờ đó mà sau khi đào xong, các làng ở dọc theo kênh như Phước Tuy, Phú Ngãi, Bảo Thạnh và Đồng Xuân trồng trọt được tốt, đồng thời còn giúp cho việc đi lại bằng ghe thuyền từ sông Ba Lai đến sông Hàm Luông, tránh được đường vòng vừa xa, vừa nguy hiểm; kênh Bưng Cát, dài 2,300km, là đường thủy từ Bến Tre sang Trà Vinh; kênh Giồng Trôm nối liền Giồng Trôm với rạch Bến Tre có tác dụng mở ra một vùng đất rộng cho việc trồng trọt; kênh Mỏ Cày - Thom, dài 15,100km nối liền sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên, tạo thành một con đường vận chuyển hành khách và hàng hóa đi Mỹ Tho và Trà Vinh xuyên qua thị xã Bến Tre và Mỏ Cày v.v...

   Tất cả những con kênh nói trên tuy về khách quan có tác dụng mở rộng lưu thông nội địa và phát triển nông nghiệp, nhưng động cơ chính của việc đào kênh của thực dân Pháp là nhằm lợi ích trước tiên vơ vét thật nhiều lúa gạo và nông sản cho xuất khẩu.

   Như vậy, dưới thời thực dân Pháp, tỉnh Bến Tre cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ thực sự trở thành nơi cung cấp lúa gạo cho xuất khẩu nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách thuộc địa. Kẻ phải gánh chịu trước nhất và nặng nhất những hậu quả do chính sách đó gây ra là người nông dân. Ruộng đất của họ cứ mất dần vào tay bọn điền chủ Pháp và Việt. Họ lại phải đóng không biết bao thứ thuế. Nếu đem chia số thuế thực dân Pháp thu được ở cả ba kỳ cho số dân, thì mỗi người dân một năm phải đóng 3,2đ tiền thuế, tức 8 francs, tương đương với 1,6 tạ gạo loại I (giá một tạ gạo loại I lúc đó trên dưới 5 francs).

   Hơn nữa quá trình tập trung ruộng đất ở Nam Kỳ đã làm cho tuyệt đại bộ phận nông dân ở đây không có ruộng, mà hầu hết cũng không có nghề thủ công tự túc trong gia đình, do đó chúng chuyển sức lao động của nông dân từ chỗ dùng vào sản xuất ra sản phẩm tự nuôi mình (tự cung, tự cấp) sang chỗ sản xuất ra hàng hóa. Nghĩa là, đời sống của tất cả nông dân đều phải dính chặt với địa chủ và tư sản thương nghiệp. Do đó, người nông dân ở đây bị ba loại độc quyền bóc lột: địa chủ, tư sản thương nghiệp và bọn cho vay.

   Phá sản, phải đi bán sức lao động bằng đủ mọi cách, hoặc phải tha phương cầu thực là con đường khó tránh khỏi của người nông dân Bến Tre, cũng như nông dân ở nhiều nơi khác. Có người ở lại nông thôn làm mướn cho bọn địa chủ, một số bỏ làng đi làm công trong các đồn điền trồng cây công nghiệp, chủ yếu là đồn điền cao su của Pháp ở các tỉnh miền Đông; số khác lên Sài Gòn - Chợ Lớn kiếm sống bằng những nghề phụ như cắt tóc, làm phu hồ, kéo xe, hoặc đi làm bồi bếp, con sen, vú em, sống cuộc đời tôi tớ, bấp bênh. Một số khác vì không chịu nổi ách áp bức, bóc lột đứng lên chống lại bọn địa chủ, lý dịch thì bị bắt bớ, tù đày, hoặc phải trốn lánh đi nơi khác.

   Ở Bến Tre vào những thập niên đầu thế kỷ XX, do sự ra đời của một số nhà máy xay xát gạo của các điền chủ lớn, một số lò gạch, xưởng dệt vải, xưởng dệt chiếu của số ít tư sản, nên bên cạnh nông dân đông đảo, cũng xuất hiện một số lượng công nhân ít ỏi. Tầng lớp mới này cũng chịu sự bóc lột hà khắc nên số phận của họ cũng không hơn gì cuộc đời nông dân gắn với ruộng đồng trước đây.

   Ngoài ra, ở thị xã còn xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản thành thị, bao gồm những tiểu thương vốn liếng nhỏ, làm ăn bấp bênh, những viên chức nhỏ của bộ máy chính quyền thực dân, những cai ký trong các nhà máy, hãng buôn. Tuy cuộc sống buôn bán, hoặc làm công ăn lương của họ có phần dễ chịu hơn so với nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị, song do giá sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ (chỉ tính từ năm 1897 đến năm 1907, giá sinh hoạt đã tăng gấp 3 lần), đời sống của họ cũng quá eo hẹp, chật vật.

   Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, ở Bến Tre cũng như nhiều địa phương khác của Nam Kỳ, còn xuất hiện một số trí thức nho học mới bên cạnh sĩ phu đã tỏ ra chán nản, bi quan, bế tắc trước thời cuộc. Họ là những trí thức, mà sau những thất bại của phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, vẫn giữ vững lòng ưu ái với đồng bào, vẫn thường xuyên có ý thức chăm sóc tinh thần lớp con em mình, và trước tình hình con đường cứu nước của các bậc cha anh đã tỏ ra vô vọng, họ luôn nung nấu tâm can, tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn.

   Nhìn chung, sự thống trị của thực dân Pháp đã gây nên những biến đổi kinh tế và xã hội lớn trên đất nước ta nói chung, ở Bến Tre nói riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất của chính sách cai trị đó đã làm cho nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, công nhân lâm vào cảnh đói rách thường xuyên, đời sống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn bị đe dọa, trong khi đó mọi quyền tự do của nhân dân đều bị tước đoạt, bóp nghẹt.

   Sự áp bức gay gắt về chính trị và bóc lột tàn bạo về kinh tế của thực dân Pháp và phong kiến tay sai tất yếu đưa đến sự căm phẫn của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, nhất là nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân ta (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt. Đó là cơ sở, là tiền đề cho một phong trào dân tộc, dân chủ mà mục tiêu là "độc lập dân tộc" và "người cày có ruộng" có điều kiện nảy nở và phát triển. Trong cuộc đấu tranh chung này, nhân dân Bến Tre đã có những đóng góp rất xứng đáng, làm sáng thêm truyền thống hào hùng của quê hương.

Đã ban hành
Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm và làm việc tại Bến TrePhó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm và làm việc tại Bến Tre
<div style="text-align: justify;">
<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial;">Ngày 22/1, phát biểu với lãnh đạo tỉnh Bến Tre, sau khi đi thăm một số địa phương bị bão số 9 tàn phá đầu tháng 12/2006, Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa nhận xét: “ Thiệt hại do bão số 9 gây ra được khắc phục cơ bản, đâu vào đó, chớ không còn cảnh ngổn ngang, đổ nát...“.</span> </div>
Image
Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm khu du lịch Cồn Phụng.
Từ ngày 12 đến 14-4, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa đã về thăm và làm việc tại tỉnh Bến Tre. Cùng đi với đoàn có Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Bùi Hồng Lĩnh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Vũ Tiến Cảnh và Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Chính phủ Nguyễn Hữu Lục.

Trong ngày làm việc đầu tiên, đoàn đã đến thăm công trình cầu Rạch Miễu. Phó Chủ tịch nước thăm hỏi về tiến độ, tình hình thi công công trình. Đây là công trình nhằm thể hiện lòng tri ân đối với Đảng bộ và nhân dân quê hương Đồng Khởi, vì vậy Ban quản lý dự án và công nhân xây dựng cố gắng khắc phục mọi khó khăn, sớm hoàn thành công trình như dự kiến.

Rời cầu Rạch Miễu, Phó Chủ tịch nước đến thăm các khu du lịch Cồn Phụng, Hảo Ai và Quới An (huyện Châu Thành). Tại Quới An, đoàn nghe lãnh đạo Sở Thương mại-Du lịch báo cáo về hoạt động du lịch của tỉnh và những định hướng trong thời gian tới. Phó Chủ tịch nước đánh giá cao những cố gắng của Bến Tre, đặc biệt là công tác xã hội hóa hoạt động du lịch. Bà cũng lưu ý xã hội hóa hoạt động du lịch để phát triển theo định hướng chung của tỉnh chứ không phải mọi người, mọi cơ sở du lịch đều làm giống nhau, cạnh tranh không lành mạnh. Du lịch sinh thái kết hợp văn hóa, lịch sử là thế mạnh, và Phó Chủ tịch nước lưu ý Bến Tre phải biết tận dụng, phát huy thế mạnh này. Tỉnh cần nghiên cứu tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo của riêng mình nhằm giữ chân du khách được lâu hơn.

Ngày 13-4, đoàn đến thăm và làm việc tại các xã Mỹ Hưng, Bình Thạnh (Thạnh Phú), Tân Thành Bình, Thành An (Mỏ Cày) và làm việc với UBND hai huyện này. Sau khi nghe chủ tịch UBND các xã và huyện báo cáo về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trên địa bàn, Phó Chủ tịch nước lưu ý các địa phương trong việc chuyển dịch kinh tế, lao động phải gắn với qui hoạch tổng thể của tỉnh, chú ý đào tạo nguồn nhân lực để đón đầu cơ hội mới cho Bến Tre sau khi cầu Rạch Miễu hoàn thành.

Phó Chủ tịch nước đặc biệt quan tâm đến công tác xóa đói giảm nghèo. Có nhiều xã, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh nhiều năm liền nhưng vẫn còn nhiều hộ đảng viên nghèo là điều không chấp nhận được. Bà đề nghị, từng chi hội, đoàn thể phải điều tra, tìm hiểu thật kỹ nguyên nhân dẫn đến nghèo và có giải pháp thiết thực. Tại mỗi xã đến thăm, Phó Chủ tịch nước tặng bộ máy vi tính cho UBND xã và 15 phần quà cho gia đình chính sách.

Làm việc với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh vào sáng 14-4, ngoài những chỉ đạo về công tác xóa đói giảm nghèo, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa còn quan tâm nhiều đến công tác bầu cử Quốc hội khóa XII. Với tư cách là Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử Trung ương, bà Trương Mỹ Hoa đã gửi gắm các nữ ứng cử viên trên địa bàn với Hội LHPN tỉnh. Bởi theo bà, muốn giải phóng phụ nữ không ai khác ngoài chính bản thân người phụ nữ phải biết tự vươn lên khẳng định mình.

Image
Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa làm việc với Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
Sau Hội LHPN, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa bắt đầu cuộc làm việc với Tỉnh ủy, UBND và các Sở, ban, ngành tỉnh. Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Văn Be, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Hà đã tiếp và làm việc với đoàn. Bà Nguyễn Thị Thanh Hà báo cáo với đoàn về tình hình kinh tế, xã hội quí I-2007, công tác xóa đói giảm nghèo, chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa XII và công tác thi đua khen thưởng của tỉnh. Công tác bầu cử Quốc hội khóa XII được tỉnh chuẩn bị chu đáo, đúng luật.

Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh cho biết, sau khi tham khảo ý kiến, Bộ đã đồng ý hỗ trợ cho Bến Tre kinh phí xây dựng trường kỹ nghệ, nâng cấp Trung tâm dạy nghề Mỏ Cày thành trường Dạy nghề khu vực. Đồng thời, Thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh cũng lưu ý tỉnh Bến Tre về công tác xã hội hóa dạy nghề nhằm thu hút nhiều tổ chức, cá nhân tham gia. Theo Thứ trưởng Lĩnh, Bến Tre cần quan tâm nhiều hơn đến đào tạo nguồn nhân lực, khi có trường nghề phải đầu tư trang thiết bị hiện đại để học viên làm được việc ngay sau khi học xong.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục du lịch Vũ Tiến Cảnh gợi ý Bến Tre nên chọn thời điểm thích hợp làm năm du lịch nhằm quảng bá mạnh hơn về các loại hình du lịch của tỉnh.

Nói chuyện với lãnh đạo tỉnh, bà Trương Mỹ Hoa tỏ ý mừng và khen ngợi Bến Tre, dù tỉnh vừa trải qua bão lớn, sâu bệnh hại lúa, dịch bệnh (trên gia súc, gia cầm) nhưng đến nay đã phục hồi và phát triển khá nhanh. Phong trào xây dựng gia đình, làng xã văn hóa và đặc biệt lĩnh vực chăm sóc sức khỏe được tỉnh quan tâm nhiều. Phó Chủ tịch nước nói, Bến Tre còn khó khăn nhiều mặt nhưng tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em rất thấp, điều đó thể hiện sự tiến bộ, văn minh trong mỗi người dân Bến Tre.

Về những công việc thời gian tới, Phó Chủ tịch nước lưu ý Bến Tre phải khởi động ngay về nhiều mặt bởi cơ hội cho Việt Nam và cho riêng Bến Tre đang đến. Chuẩn bị tốt nguồn nhân lực là yếu tố quyết định thành công của tỉnh. Bến Tre phải chuẩn bị ngay từ bây giờ về nguồn lao động phổ thông, kể cả xuất khẩu. Phó Chủ tịch nước lưu ý, trong khi nhiều tỉnh phía Bắc thu được nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu lao động, thì với riêng Bến Tre hoạt động này thực sự chưa nhiều và chưa tạo thành phong trào trong nhân dân.

Trong công tác xóa đói giảm nghèo, Phó Chủ tịch đề nghị từng Đảng bộ, ban ngành, đoàn thể phải rà soát ngay trong đơn vị mình để nắm rõ từng nguyên nhân dẫn đến nghèo và có biện pháp tháo gỡ cụ thể. Phó Chủ tịch nước nói: “Xóa nghèo hôm nay phải được nâng lên tầm cao hơn. Các cấp, các ngành phải phát động phong trào thi đua “xóa nghèo-làm giàu” để khích lệ nhân dân. Riêng những hộ nghèo không thể khắc phục được thì phải lập danh sách riêng và giải quyết theo chế độ xã hội.”
Đã ban hành
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre - Họ và tên: Cao Văn Trọng
- Sinh ngày: 09/9/1961
- Quê quán: Xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Kinh tế Công nghiệp; Cử nhân Hành chính; Thạc sĩ Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cử nhân

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa An LinhChùa An Linh
Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 1763/QĐ-UBND về việc công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo.

Từ thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, rồi theo đường tỉnh 888 đến thị trấn Thạnh Phú (44km), đi tiếp theo hướng đến UBND xã An Nhơn (12km), rẽ phải vào huyện lộ 51 khoảng 500m là đến di tích.

chua-an-linh.jpg 

Chùa An Linh

Chùa An Linh tọa lạc trên khu đất giồng ấp An Hòa, xã An Nhơn có diện tích 3.850,7m2; diện tích xây dựng chùa là 424,44m2. Kiến trúc của chùa dạng tứ trụ, nóc hình chóp. Nội thất bên trong chủ yếu là những bệ thờ bằng xi măng lát gạch ceramic và ban thờ bằng gỗ. Phía trên bệ thờ được đặt trang nghiêm tượng phật Di Lạc. Trong những năm kháng chiến, phía dưới bệ thờ của tượng phật Di Lạc này được xây dựng hầm bí mật có diện tích khoảng 1,5m2 để che chở những cán bộ cách mạng của địa phương. Hiện nay, khu chính điện là nơi thờ Phật Di Lặc, Quan Thế Âm, Tiêu Diện, Thích Ca, Hộ Pháp, Tam Tạng,…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Món mặnMón mặn
&nbsp;

Image
Bên cạnh nguồn chất bột là nguồn chất đạm. Đất đai, sông nước Bến Tre là một kho dự trữ dồi dào về chất đạm, đặc biệt chất đạm từ tôm cá, cua, sò. Biển Bến Tre tuy không nhiều cá như ở Bình Thuận, nhưng chỉ kể đến việc đánh bắt trong lộng và ven bờ, chưa kể ngoài khơi, hằng năm cũng đã có hàng vạn tấn tôm cá vừa để xuất khẩu vừa để phục vụ bữa ăn cho người dân. Ở những sông lớn và sông nhỏ có nhiều loại cá ngon, sản lượng tương đối lớn: cá thác lác, cá hô, cá úc, cá chép, cá chẽm, cá duồn, cá bống tượng, cá bông lau v.v… Đó là chưa kể đến nguồn thủy, hải sản khác cũng là nguồn thức ăn giàu đạm nơi ven bãi, dưới tán rừng ngập mặn như: còng, cua, ba khía, nghêu sò, cá bống kèo v.v… nói chung các loại thủy hải sản mà thiên nhiên ưu đãi cho Bến tre quả là dồi dào và phong phú, một nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với đời sống con người.

Về mặt chất béo, Bến Tre có thế mạnh về dừa so với nhiều địa phương khác. Bên cạnh nguồn mỡ động vật, dầu dừa, nước cốt dừa, cơm dừa nạo thường có mặt ở nhiều món ăn trong bữa cơm, trong các loại bánh, chè ngọt. Có hơn 50 món ăn và ngọt được pha chế với chất béo của trái dừa.

Thường thì, ngoài cơm có nhiều thức ăn mặn, thịt kho hay cá kho, cá kho, cá khô nướng, bát dưa chua và chén mắm, với mục đích để “chặt bụng”. Buổi chiều, sau khi về nhà, tắm rửa xong xuôi, họ mới lo bữa cơm chiều thường gồm nhiều món hơn, đủ chất hơn; có canh, có xào, rau luộc với một món mặn. Buổi trưa, khi mặt trời đã ở đỉnh đầu, họ về tạm nghỉ để tránh cơn nắng cháy da  cho đến 1 giờ 30 hay 2 giờ chiều lại ra đồng làm tiếp cho đến khi mặt trời lặn mới chịu nghỉ tay. Trong lúc nghỉ trưa, họ thường tổ chức bữa ăn phụ. Nếu ở trong nhà thì có thể đàng hoàng hơn, với thức ăn nóng: một nồi cơm nếp, hay là một nồi khoai luộc, hay là một nồi chuối luộc, một nồi mít non, hay sakê hầm dừa cùng với một đĩa bánh lá mía chấm nước cốt dừa "thắng bồng con". Nếu là nghỉ tạm trưa ở ngoài đồng, trong vườn cây thì bữa ăn phụ là những thức ăn đem theo được bày trên mấy tàu lá chuối đặt dưới gốc cây, hay trên bờ cỏ. Những ngày mùa bận rộn, bà con nông dân cũng thường tổ chức ăn cơm ngoài đồng. Có khi là cơm nguội mang theo với mấy con mắm sống cộng với mấy trái bần chua, mấy đọt vứng, đọt bứa, vài trái ớt tươi, dăm ba lát gừng sống. Một bữa ăn “điền dã” với chừng ấy thứ cũng đủ no nê và chắc bụng, để người nông dân có thể tiếp tục công việc gặt hái cho đến suốt ngày.

Đã ban hành
Những món ăn để cúng, lễNhững món ăn để cúng, lễ
&nbsp;

Image
Trước đây, trong các lễ cúng đình, cúng miễu hàng năm, ngoài phần lễ và hội vui, còn có tổ chức ăn uống. Tùy theo từng lễ cúng lớn hay nhỏ, làng giàu hay nghèo, năm mất mùa hoặc được mùa, mà quy mô cuộc lễ cũng như vật phẩm dâng cúng có thay đổi. Trong lễ cúng lớn, người ta vật trâu hay bò, nhưng thường là giết heo. Cúng miễu, thì thường là cỗ xôi, với chiếc đầu heo, nhỏ hơn nữa thì cỗ xôi và con gà. Vịt ta, vịt xiêm, ngỗng, chim thường ít dùng để cúng lễ. Gà cúng phải chọn gà trống non, béo, mổ khéo và luộc nguyên con để trên đĩa, không chặt thành miếng. Trước khi luộc gà để cúng người ta uốn sửa đầu cánh con gà sao cho ngay ngắn, cân phân, để sau khi luộc đặt gà lên mâm trông như con gà đang nằm. Luộc gà phải biết đun vừa lửa, thịt chín, da không bị nứt. Ngoài món thịt gà hay thịt heo, lễ vật dâng cúng thường có các loại bánh nếp gói lá chuối hay lá dong và các loại trái cây.

Mâm cỗ ngày Tết

Ba ngày Tết là những ngày ăn uống, vui chơi, thăm hỏi và chúc tụng nhau những điều tốt lành. Do vậy nhà nào dù giàu hay nghèo cũng đều có chuẩn bị mâm cơm Ngày Tết sao cho đàng hoàng, có thịt, có bánh mứt, có trái cây. Nhà khá hơn thì có nem, có chả và vài món đặc sản đắt tiền để cúng ông bà, tổ tiên, sau đó đãi khách. Thịt thì chủ yếu là thịt heo và thịt gia cầm. Thịt bò, trâu, dê thường ít dùng để cúng trong ngày Tết. Ở Bến Tre, trong ngày Tết, hầu như nhà nào cũng có nồi thịt heo kho chung cùng cá lóc, cá bông và trứng vịt, dĩ nhiên không thể thiếu nước dừa, còn có thêm một nồi canh khổ qua để nguyên trái nhồi thịt. Nhà khá hơn thì gói thêm vài chục gói nem, đôi cây giò lụa, bì bó. Bánh tráng cũng là món ăn góp phần rôm rả trong ngày Tết. Đặc biệt là món dưa chua, có thể là dưa giá, dưa cổ hũ dừa, củ kiệu dùng để ăn kèm với thịt mỡ cho đỡ ngán. Đó cũng là món để những người thích nhậu thường dùng để đẩy chất cay trong ngày Tết. Trong ba ngày Tết, bà con ta thường giữ tập quán mời khách ăn uống dù ít hoặc nhiều khi khách đến nhà. Thường qua ngày mùng 4, người ta tổ chức ăn nhẹ. Tô cháo gà nấu loãng, hoặc cháo ám cá lóc ăn nóng với rau ghém có nõn chuối non xấc mỏng với các loại rau thơm, sau những bữa ăn nhiều chất béo, có tác dụng gây cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu. Dưa hấu cũng là món không thể thiếu được trong ngày Tết. Chất ngọt dịu và mát của miếng dưa hấu sẽ góp phần đẩy lùi cảm giác ớn, ngấy vì những món ăn, thức uống của ngày Tết gây ra.

 Cỗ đám tang, đám giỗ 

Một tập tục lâu đời là gia đình có tang, bên cạnh khay trầu, cau, thuốc lá, nước trà để tiếp khách, thường cố gắng chạy cho được con heo, dù lớn hay nhỏ, để làm cỗ thết đãi những bạn bè bà con, láng giềng đến giúp đỡ, phúng điếu, lo toan mọi việc chôn cất, trong khi gia chủ bối rối nhiều thứ. Khác với phương Tây, người ta kỷ niệm ngày sinh là chủ yếu còn phương Đông thì coi ngày chết, lấy đó làm kỷ niệm hằng năm, tổ chức cúng giỗ để tưởng nhớ người đã khuất. Tùy theo từng gia đình, từng hoàn cảnh mà mâm cỗ có khác nhau. Giỗ nhà nghèo thì thường đơn giản. Nhưng dù túng thiếu đến đâu, chủ nhà cũng mua sắm một ít thịt, cá, rau, trứng để làm mâm cơm dâng cúng người thân quá cố không đến nỗi quá đạm bạc. Những nhà khá giả, hoặc giàu có, đông con cháu thì đám giỗ được chuẩn bị được tiến hành từ một vài tháng trước đó. Một số gia đình theo nếp cũ, nhiều khi tổ chức đám giỗ kéo dài hai ba ngày: tiên thường, chánh giỗ, hậu thường.

Cơm đãi khách

Nói về tập tục của người Gia Định trong phạm vi giao tế, vào đầu thế kỷ XIX Trịnh Hoài Đức đã viết: “Ở Gia Định có người khách đến nhà, đầu tiên gia chủ dâng trầu cau, sau dâng tiếp cơm, bánh tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ, quen lạ, tung tích ở đâu, ắt đều thâu nạp khoản đãi, cho nên người đi chơi không cần đem tiền gạo theo... ". Tinh thần hiếu khách, của quan niệm lấy tình lấy nghĩa làm chính, làm trọng của người xưa, người Bến Tre vẫn bảo lưu khá đậm cho đến ngày nay.

 Cơm khách thường sử dụng những sản phẩm "cây nhà lá vườn " như tôm càng và cua lột. Với tôm càng, có thể chế biến cả chục món ăn hấp dẫn: tôm nướng than gáo dừa, tôm bóc vỏ kho tàu, tôm quết nhuyễn vò viên nấu cháo, hoặc đắp quanh miếng mía lau đã róc vỏ, đem nướng làm món chạo tôm, nem chua làm từ thịt tôm càng có hương vị vượt xa nem thịt heo v.v…

Cơm khách khác với cơm cỗ bàn ở chỗ nó không bị gò bó vào quy cách nấu nướng, và số món ăn, số lượng bát, đĩa, cách bày biện v.v… có khi chủ nhà thích đãi khách bằng một bữa "cơm mắm", nhưng thực tế mâm cơm lại đầy cá thịt, trái cây của vườn nhà. Sự tiếp đãi ân cần, mâm bát sạch đẹp, cách bày biện, nấu nướng khéo, thái độ hòa nhã lịch sự của chủ nhà là những chi tiết quan trọng, góp phần làm cho bữa cơm khách thêm ngon đậm đà và ý vị.

Đã ban hành
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
&nbsp;

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1947 - 1954 )Thế kỷ 20 ( 1947 - 1954 )

1947

Tháng 2, Toàn đoàn lính nguỵ UMDC do Léon Leroy chỉ huy càn quét các xã Phong Nẫm, Hữu Ðịnh, Cầu Hòa và đã gây ra vụ thảm sát Cầu Hòa, giết 286 người, phần lớn là trẻ em và phụ nữ.

19 tháng 5 , Thành lập trung đoàn 99 do Ðồng Văn Cống chỉ huy.

2 tháng 9, Tại căn cứ kháng chiến ở Ðồng Tháp Mười, hoạ sĩ Diệp Minh Châu đã rạch tay mình, chấm máu vẽ bức hoạ Bác Hồ và ba cháu Bắc - Trung - Nam quây quần quanh Bác.

1 tháng 12, Ðài tiếng nói Nam Bộ kháng chiến đặt tại chiến khu Ðồng Tháp Mười, phát sóng buổi đầu tiên.

12 tháng 12, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban. Ðến tháng 6-1948, ban Quân sự Nam Bộ do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh.

1948

15 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các sắc lệnh 132/SL và 133/SL, cử các ông: Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch UBKCHC Nam Bộ; Phạm Ngọc Thuần và Nguyễn Bình làm Phó Chủ tịch; Kha Vạn Cân và Ung Văn Khiêm làm ủy viên, Cao Triều Phát và Nguyễn Bá Sang làm Cố vấn.

8 tháng 3, Khánh thành con kênh mang tên "Phụ nữ" ở cù lao Minh bắt đầu từ kênh Cầu Mống - Vàm Ðồn ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày xuyên qua các xã Phú Khánh, Ðại Ðiền, Quới Ðiền nối với sông Băng Cung ở huyện Thạnh Phú.

Ðể hoàn thành con kênh, UBKCHC tỉnh đã giao cho Ðoàn Phụ nữ cứu quốc hai huyện Mỏ Cày và Thạnh Phú thực hiện. Chị em đã bỏ ra hàng ngàn ngày công, làm việc ròng rã trong 3 tháng trời, bất chấp nắng mưa, đêm làm ngày nghỉ để tránh máy bay địch.

Tháng 7, Cuối tháng 7, giữa chiến khu Ðồng Tháp Mười, Ðại hội đại biểu Ðảng bộ ÐCS Nam Bộ được triệu tập, gồm đại biểu từ cấp tỉnh, cấp trung đoàn trở lên.

Ðại hội đã kiểm điểm, đánh giá tình hình, đồng thời vạch ra những nội dung cơ bản trong kháng chiến ở Nam Bộ. Ðại hội đã bầu Lê Duẫn làm Bí thư XUNB, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Ðức Thuận làm Phó bí thư.

Tỉnh Ðồ Chiểu được đổi lại tên cũ Bến Tre.

Ðội quân UMDC của Léon Leroy gây ra các vụ thảm sát ở Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Ðông, Cồn Thùng, Phước Thạnh.

1949

21 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 18/SL, 19/SL và 20/SL cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức Tư lệnh, ông Trần Văn Trà làm Phó tư lệnh, ông Phạm Ngọc Thuần làm Chính trị viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

20 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 120/SL thành lập một Ban cố vấn bên cạnh UBKCHC Nam Bộ, gồm các ông: Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Hưởng, Phan Văn Chương và Lê Duẫn.

1950

5 tháng 1, Căn cứ vào chỉ thị của Trung ương, sau khi tham khảo ý kiến của Hội nghị đại biểu nông dân 4 tỉnh miền Tây Nam Bộ, do UBKCHC Nam Bộ triệu tập, XUNB ra Chỉ thị số 113-CTX phát động chủ trương tạm cấp ruộng đất cho nông dân trong toàn Nam Bộ.

9 tháng 1, Biểu tỉnh của 2.000 học sinh và phụ huynh trước dinh Thủ hiến, đòi gặp mặt Thủ hiến Nam phần Trần Văn Hữu để chất vấn về việc đóng cửa một trường học và trả tự do số học sinh bị bắt. Cảnh sát đàn áp cuộc biểu tình. Học sinh Trần Văn Ơn bị trúng đạn, hy sinh.

Từ đây, ngày 9-1 trở thành Ngày học sinh, sinh viên toàn quốc.

12 tháng 1, Hơn nửa triệu người xuống đường tham gia đám tang Trần Văn Ơn. Toàn thành phố Sài Gòn bãi thị. Ðám tang trò Ơn đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng chính trị của quần chúng lớn nhất từ sau lễ Quốc khánh 2-9-1945.

19 tháng 3, 300.000 đồng bào Sài Gòn xuống đường biểu tình qua các đường phố chính, hô vang các khẩu hiệu: "Ðả đảo Mỹ và bọn bù nhìn tay sai", "Mỹ cút đi!”. Hoảng sợ, đêm 19-3, hai chiến hạm Mỹ lặng lẽ nhổ neo chuồn mất. Từ đó, ngày 19-3 trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ.

1951

Tháng 1, Thành lập Ðài tiếng nói Sài Gòn tự do do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát phụ trách, đặt tại rừng Bàu Cá Trê (chiến khu Ð). Ban đầu mỗi tuần phát 3 buổi, về sau phát hàng ngày vào buổi chiều.

Tháng 6, Chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu. Phân liên khu miền Ðông gồm 5 tỉnh: Gia Ðịnh Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Phân liên khu miền Tây gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà.

1954

13 tháng 3, Tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ gồm 49 đồn bót, tổ chức thành 8 cụm với hệ thống hỏa lực nhiều tầng, với số quân lúc cao nhất là 17 tiểu đoàn. Trong 5 ngày đầu chiến dịch, quân ta đã tấn công tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Ðộc Lập và làm chủ toàn bộ phân khu Bắc.

Tháng 4, Trong chiến dịch Ðông Xuân, phối hợp với chiến trường chính, quân và dân tỉnh Bến Tre đã diệt 53 đồn, 144 tên địch, bắt sống 234 tên, thu 200 súng các loại.

7 tháng 5, Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng gian khổ và anh dũng, lúc 17 giờ 30 phút, quân ta chiếm được sở chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ. Tướng De Castries và toàn bộ bộ tham mưu đầu hàng. 16.200 quân địch bị bắt sống và đầu hàng, 62 máy bay bị bắn rơi và phá hủy. Ta thu toàn bộ súng đạn, quân dụng. Chiến dịch Ðiện Biên Phủ toàn thắng.

8 tháng 5, Hội nghị Genève (Thụy Sĩ) về Ðông Dương khai mạc. Phái đoàn VNDCCH do Thủ tướng kim Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Ðồng làm trưởng đoàn. Có 9 phái đoàn đại diện các chính phủ tham dự: VNDCCH, Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia.

Tháng 5, 352 nhà trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn ra "Bản tuyên ngôn hòa bình" đòi chính phủ Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh ở Ðông Dương.

8 tháng 6, Mỹ đưa Ngô Ðình Diệm về Sài Gòn, chuẩn bị con chủ bài trong âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

16 tháng 6, Dưới sức ép của Mỹ, Pháp và Bảo Ðại phải chấp nhận việc đưa Ngô Ðình Diệm về làm Thủ tướng.

6 tháng 7, Thành lập Chính phủ Ngô Ðình Diệm. Bảo Ðại vẫn giữ vai trò Quốc trưởng. Ngô Ðình Diệm làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Quốc phòng.

20 tháng 7, Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam" gồm 6 chương, 47 điều được ký kết.

Các nước tham gia Hội nghị thông qua Bản tuyên bố chung thừa nhận: tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, Campuchia và Lào, quy định quân đội Pháp phải rút khỏi Ðông Dương, và 2 miền Nam, Bắc Việt Nam sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước vào tháng 7-1956.

22 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ.

Tháng 7, Dân số tỉnh Bến tre có 600.000 người.

9 tháng 8, Trong "Tuyên cáo của Chính phủ quốc gia Việt Nam", Ngô Ðình Diệm nói rõ: "Về bất cứ phương diện nào, Chính phủ không tự coi mình bị ràng buộc bởi hiệp định Genève mà Chính phủ không ký".

19 tháng 8, Cuộc biểu tình của 15.000 đồng bào huyện Bình Ðại, đòi thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của hiệp định Genève.

Tháng 8, Theo chỉ định của TƯC, Tỉnh ủy mới của Bến Tre được thành lập gồm 9 ủy viên, do Nguyễn Văn Khước làm Bí thư.

13 tháng 9, Hơn 10.000 người biểu tình ở Mỏ Cày, đòi thi hành hiệp định Genève, bị chính quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp đẫm máu. Ðây là cuộc thảm sát đầu tiên ở Bến Tre làm chấn động dư luận cả nước.

2 tháng 12, Trước sức ép của Mỹ, Pháp phải ký hiệp ước về việc rút quân Pháp khỏi miền Nam Việt Nam để đế quốc Mỹ thay thế cho thực dân Pháp.

Tháng 12, Hội nghị TƯCMN tại An Biên (Cà Mau) quyết định giải thể TƯC, thành lập XUNB do Lê Duẫn làm Bí thư. Hội nghị đã nghiên cứu cụ thể tình hình cách mạng miền Nam và đề ra sách lược, công tác tư tưởng và tổ chức trong tình hình mới.

Đã ban hành
Tân XuânTân Xuân
&nbsp;

Xã thuộc huyện Ba Tri, từ 2 làng Đông Xuân và Tân Trang sáp nhập lại. Nơi đây, năm 1927, tổ chức VNTNCMĐCH của tỉnh Bến Tre được thành lập tại đây. Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1930) một cuộc biểu tình đòi dân sinh dân chủ tại đây, trong khi đó lá cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên tung bay trên ngọn cây da đôi của xã.

Đã ban hành
Các sinh vật trên cạnCác sinh vật trên cạn
 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

Đất vườn trù phú cũng là nơi sinh sống của các loài chim. Nhưng nổi bật nhất ở Bến Tre là các nhóm chim sống ven bờ nước, tiêu biểu cho rừng ngập mặn. Với những diện tích bãi triều rộng, đặc biệt vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng của các loài chim ăn các sinh vật ven bờ nước, kể cả các đàn chim di cư bay từ phương bắc đến. Những rừng đước trồng mới ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri đang trải rộng màu xanh ven biển, hứa hẹn một sự hội tụ ngày một đông đảo các dòng họ chim từ các nơi khác đến. Nhóm chim dùng thức ăn tôm cá và sinh vật ở bãi triều đóng vai trò nhất định trong việc bón phân cho thủy vực, tham gia vào quá trình chu chuyển vật chất nói chung, có tác dụng tích cực đối với các loài sinh vật sống dưới rừng ngập mặn.

Nhóm chim sống gần người như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo... có thể gặp ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây. Chúng săn bắt côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng, rau xanh, ăn những loại hạt cỏ dại...

Ngày nay, những nơi như Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn (Ba Tri) đang dần dần lấy lại sự trù phú, đông đảo của cảnh sân chim một thời đã mất. Người ta ước tính có khoảng ba mươi loại chim đang quy tụ về đây, trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế. Vào mùa sinh sản, nhìn lên những rặng bần, mắm, ta thấy chim đậu dày đặc. Có những cây trĩu nặng hàng chục tổ cò, tổ diệc, cồng cộc, sáo, le le... Chiều về, các loài chim đi ăn từ mọi nơi hạ cánh để tìm chỗ đậu, hay để mớm thức ăn cho con, cho chim mái ấp trứng v.v... ồn ào, náo nhiệt như họp chợ. Ở cồn Đất trước đây còn có rất nhiều dơi quạ.

Chim ưa môi trường trong sạch và yên tĩnh. Sự có mặt cùng những hoạt động đa dạng của chúng là những dấu hiệu tốt lành của môi trường sống, ngược lại sự vắng bóng của chúng là chỉ báo cho sự xấu đi, là tình trạng đáng báo động của điều kiện sống ở nơi đó. Môi trường bị ô nhiễm, trước hết phải kể đến nước, kế đến là không khí, sau cùng là đất. Cần phải tạo mọi điều kiện tốt cho chim chóc về sinh sống ngày một nhiều - cảnh quan, đất đai Bến Tre vốn có đủ các điều kiện đó - vỉ xét trên nhiều phương diện, nguồn lợi về chim không nhỏ.

Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng và phong phú nhất là côn trùng. Ở Bến Tre, số lượng của chúng chắc phải đến hàng ngàn loại. Loại có ích như ong. Ong không chỉ cho mật, mà còn góp phần thụ phấn cho hoa, nâng cao năng suất cây trồng. Kiến vàng, lớn con với bộ giò cao lêu nghêu, di chuyển nhanh, thường kéo hàng đàn, bò từ cây này sang cây khác, có mặt thường xuyên ở các vườn cây. Đội quân này giúp cho người làm vườn tiêu diệt được nhiều loại sâu bọ hại cây ăn quả. Bà con ta biết đưa chúng về các vườn cam, quýt... để làm "người bảo vệ" cho cây trái, nếu nơi ấy còn vắng bóng chúng.

Kiến vương thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng là kẻ thù đáng gờm của các nhà trồng dừa. Ấu trùng của kiến vương sống trong các đống rác, rơm mục rải rác khắp nơi. Khi trưởng thành, ấu trùng (con đuôn) đục thân cây dừa, chọn nơi ngọn (cổ hũ dừa) làm nơi sinh trưởng. Một đọt dừa bị đuôn đục thân có thể chặt ra, bắt hàng chục có khi cả trăm con đuôn lớn bằng ngón tay. Cây dừa bị đuôn đục ngọn coi như là bỏ đi (đuôn dừa, đặc biệt là đuôn chà là, tẩm bột rán vàng là một món ăn cao cấp, được dân nhậu ưa thích).

Bên cạnh một số loại côn trùng có ích giúp cho việc thụ phấn, đậu quả, có nhiều loại côn trùng gây hại đến rau màu, lúa, cây ăn quả, nhất là các loại sâu bọ, ong ký sinh và nhóm côn trùng ăn thịt khác. Có loại côn trùng, khi còn giai đoạn ấu trùng thì sống trong các ao hồ, là động vật ăn thịt, đến lúc trưởng thành mới sống trên cạn, như ấu trùng chuồn chuồn. Số lượng loại này có nhiều trong các thủy vực, là kẻ thù của tôm và cá con.

Đã ban hành
Cây lúa nướcCây lúa nước
Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục...
Image

 Với kinh nghiệm trồng lúa nước ở vùng đất cao, ông cha chúng ta khi đến định cư ở vùng đất Bến Tre cũng đã liên tục cải tiến phương pháp, kỹ thuật canh tác, chọn các giống thích hợp... để đạt năng suất cao và chất lượng gạo tốt. Những tác giả của những quyển sách như Gia Định thành thông chí, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục... đều nhắc đến lượng và phẩm của gạo tẻ và gạo nếp của Bến Tre. Tuy nhiên do những điều kiện hạn chế về khoa học kỹ thuật, cho nên năng suất lúa trong cả giai đoạn lịch sử dài nhìn chung còn rất thấp. Mãi đến những năm gần đây, cùng với việc đầu tư khoa học kỹ thuật, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới v.v... năng suất, sản lượng lúa đã có bước tăng nhảy vọt. Những cánh đồng thâm canh, vùng lúa cao sản được xây dựng ở nhiều nơi trong tỉnh, với hai vụ lúa mỗi năm, thay vì một vụ như trước đây.
Có những giống lúa địa phương thích ứng với từng vùng như: cuống trâu, ba đuông, nàng gáo, nếp bòng ở vùng nhiễm mặn; nàng trích, nàng loan, tàu hương ở vùng nước lợ; bảy dãnh, nàng loan, một bụi, ba bụi ở vùng nước ngọt. Đây là những nguồn "gien" quý giá cho chương trình nghiên cứu lai tạo giống lúa có năng suất cao và thích hợp với môi trường đồng đất địa phương.
Trong quá trình xây dựng vùng lúa cao sản, một số giống lúa có năng suất cao của những viện nghiên cứu của Nhà nước, hoặc nhập  ngoại cũng đã được trồng thí nghiệm trên đất Bến Tre và đã cho thấy triển vọng phát triển tốt, năng suất cao.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sông TiềnSông Tiền
&nbsp;

Còn gọi  sông Mỹ  Tho

Đoạn sông nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, giáp biển Đông, dài 83km, chảy ra cửa Tiểu, cửa Đại, làm thành ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Nước ngọt của các dòng sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước từ sông Tiền.

Do sự biến động của dòng chảy và sự tác động của thủy triều mặn thâm nhập sâu vào trong đất liền, trên dòng sông xuất hiện nhiều cồn bãi nổi và ngầm, làm cho việc đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn.

Đã ban hành
Đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dânĐơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
  • Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bến Tre, 11-1978.
  • Đơn vị an ninh vũ trang tỉnh Bến Tre, 6-1976.
  • Đơn vị trinh sát vũ trang tỉnh Bến Tre.
  • Tiểu đoàn 516A, được tặng danh hiệu: “Tiến công liên tục, thắng Mỹ diệt ngụy", 2-1970.
  • Tiểu đoàn 560 được tặng danh hiệu: “Trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang".
  • Tiểu đoàn 712, 1-1983.
  • Bộ đội địa phương huyện Chợ Lách được tặng danh hiệu: “Tấn công ba mặt, giết giặc mở vùng".
  • Đại đội 3, tiểu đoàn 263A được tặng danh hiệu: "Anh hùng xung phong, đánh nhanh diệt gọn", 9-1970.
  • Đại đội đặc công thủy được tặng danh hiệu: “Cởi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ", 12-1969.
  • Đại đội săn tàu số 1 được tặng danh hiệu: “Anh hùng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ", 2-1970.
  • Đội phẫu thuật tiền phương 1 được tặng danh hiệu: “Anh dũng quên mình phục vụ thương binh", 2-1970.
  • Lực lượng giao bưu, thông tin, liên lạc tỉnh Bến Tre, 7-1998.
  • Đại đội 12,8 ly tỉnh Bến Tre, 6-1976.
  • Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Mỏ Cày, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Thành Thới, huyện Mỏ Cày, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày.
  • Đội du kích xã An Định, huyện Mỏ Cày, 10-1976.
  • Đội du kích xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, 10-1976.
  • Đại đội 1 bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày, 1-1976.
  • Đơn vị trinh sát vũ trang huyện Mỏ Cày, 6-1976.
  • Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Giồng Trôm, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, 10-1976.
  • Đơn vị trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm, 10-1976.
  • Dân quân du kích xã An Phước, huyện Châu Thành, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Hữu Định, huyện Châu Thành, 11-1978.
  • Ban an ninh xã Phú An Hòa, huyện Châu Thành, 6-1976.
  • Dân quân du kích xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, 11-1978.
  • Đơn vị trinh sát vũ trang huyện Thạnh Phú, 1976.
  • Ban an ninh xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, 6-1976.
  • Dân quân du kích xã Vang Quới, huyện Bình Đại, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, 11-1978.
  • Dân quân du kích xã An Bình Tây, huyện Ba Tri, 11-1978.
  • Phân trại K20, Công an tỉnh Bến Tre, 6-1986.
  • Ban Công an và nhân dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ba Tri, 11-1990.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày 12-1994.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, 12-1994.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Châu Thành, 8-1995.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân An Khánh, huyện Châu Thành, 8-1995.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, 8-1995.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, 8-1995.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Thiền, huyện Chợ Lách, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tường Đa, huyện Châu Thành, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Túc, huyện Châu Thành, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Bình Đại, huyện Bình Đại 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thới Thuận, huyện Bình Đại 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Sơn Đông, thị xã Bến Tre, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thành An, huyện Mỏ Cày 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã An Qui, huyện Thạnh Phú, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân huyện Thạnh Phú, 1-1996.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Qui Điền, huyện Thạnh Phú 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Hưng, huyện Ba Tri, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã An Thới, huyện Mỏ Cày, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Lộc Thuận, huyện Bình Đại 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tam Phước, huyện Châu Thành, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, 7-1998.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phú Đức, huyện Châu Thành, 6-1999.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, 6-1999.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày, 6-1999.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm, 6-1999.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, 6-1999.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre, 4-2000.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, 4-2000.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày, 4-2000.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày, 4-2000.
  • Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, 4-2000.
Đã ban hành
Nhà bảo tàng Bến TreNhà bảo tàng Bến Tre
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474 m2. Mái lợp ngói, tường gạch, cùng nhiều cửa sổ cũng hình vòm trên chạm đầu rồng hoặc sư tử. Bốn hướng đều có cổng ra vào với 3 mặt giáp với 3 con đường lớn: Hùng Vương, Cách Mạng Tháng Tám, Lê Đại Hành.

Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, nằm ngay trung tâm thành phố với những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng tươi tốt, quý giá và hàng rào khang trang bao bọc làm cho ngôi nhà trở nên biệt lập và sang trọng.

Đây là một vị trí đẹp, thuận lợi về mọi mặt, là điểm hẹn của nhân dân trong tỉnh, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ Dừa.

Chính vì vị trí quan trọng như vậy nên khi xâm chiếm đất Bến Tre, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi nhà này để làm Dinh Tham biện.

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), đế quốc Mỹ nhảy vào dựng lên ở miềm Nam chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ngôi nhà này được Mỹ Ngụy chọn làm Dinh Tỉnh trưởng. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngôi nhà được Tỉnh ủy Bến Tre tiếp quản, sau đó giao lại cho Ty Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm phòng Bảo tồn Bảo tàng vào năm 1976.

Khi Bảo tàng Bến Tre được thành lập theo Quyết định số 1564 ngày 26/10/1981, tỉnh đã quyết định giao lại ngôi nhà cho Bảo tàng sử dụng để trưng bày những hình ảnh và hiện vật truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tại đây từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân, dân Bến Tre. Đây là cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu vào năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường; là nơi diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy vào tháng 10/1945; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá - Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960 - 1962.

Hiện nay, nội thất ngôi nhà đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày. Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn ba ngàn hiện vật, hình ảnh, tư liệu, gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, …

Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình,… Bảo tàng Bến Tre có thể giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một tòa nhà mới theo Quyết định số 2234/QĐ-UB ngày 20/6/2002 trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà khách Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)Nguyễn Văn Khước (1905 – 1975)
&nbsp;

Image
Nguyễn Văn Khước (1905-1975)
Sinh trong một gia đình nông dân ở xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Khước (tên thường gọi là Năm Chung) sớm giác ngộ cách mạng, đã cùng người anh ruột là Nguyễn Văn Khái tham gia tổ chức Nông hội đỏ vào những năm cuối thập kỷ 20. Giữa năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD cùng với một số đồng chí khác như Nguyễn Văn Khái, Nguyễn Văn Soái, hoạt động ở vùng cù lao Minh. Năm 1940, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, bị bắt và đưa đi đày ở Bà Rá, thuộc tỉnh Bình Phước. Năm 1942, cùng với một số đồng chí khác, tổ chức vượt ngục, về miền Tây Nam Kỳ, xây dựng cơ sở tại nơi đây.

   Đầu năm 1945, đồng chí về Mỏ Cày, móc nối cơ sở Đảng ở địa phương, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa, giành chính quyền. Sau ngày cách mạng thành công, ông được cử làm Trưởng quốc gia tự vệ cuộc huyện Mỏ Cày, tức công an huyện. Năm 1948-1949, được cử làm Trưởng an huyện Chợ Lách, sau đó làm Trưởng công an huyện Thạnh Phú. Năm 1950, được bầu vào Tỉnh ủy, đến năm 1953, giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

  Năm 1954, sau hiệp định Genève, đồng chí được phân công ở lại miền Nam và được XUNB quyết định là Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đồng chí đã cùng với các thành viên trong Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân, xây dựng và duy trì phong trào vượt qua những bước khó khăn, đen tối nhất trước sự đánh phá vô cùng tàn bạo và khốc liệt của kẻ địch.

   Năm 1958, được điều về công tác ở Khu ủy khu Trung Nam Bộ (tức khu 8). Đến sau cuộc Đồng Khởi (1960), được Khu ủy cử về vùng rừng ngập mặn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tổ chức việc tiếp nhận và phân phối hàng hóa, vũ khí chi viện từ miền Bắc vào Nam qua đường Hồ Chí Minh trên biển, tại vị trí đầu cầu xã Thạnh Phong.

  Năm 1963, được bầu vào Khu ủy khu 8, phụ trách tổ chức, an ninh và binh vận. Trong thời kỳ địch bình định ác liệt (1969-1971), đồng chí đã đến công tác ở nhiều nơi, trong đó có Bến Tre, cùng với các cấp ủy địa phương chỉ đạo phong trào, đối phó lại âm mưu địch.

  Năm 1970, đồng chí được cử giữ chức Trưởng ban kiểm tra của Khu ủy khu 8.

  Đầu năm 1974, do tuổi cao, sức khỏe yếu, đồng chí được đưa ra miền Bắc, sau đó được nghỉ dưỡng và chữa bệnh ở Cộng hòa dân chủ Đức. Đến đầu năm 1975, đồng chí trở lại chiến trường, công tác ở Ban tổ chức Khu ủy Trung Nam Bộ.

   Do bị tai biến mạch máu não, đồng chí đã đột ngột qua đời tại cứ ở “R”, thuộc xã Hòa Hưng, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vào ngày 5-4-1975, giữa lúc quân và dân ta đang sôi nổi chuẩn bị bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn – Gia Định.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)
&nbsp;

    Sinh ngày 18-10-1904 tại làng An Hội, huyện Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống hành nghề Đông y. Học tiểu học ở Bến Tre sau lên học trung học ở Trường Taberd (Sài Gòn). Từ nhỏ, ông đã say mê nghệ thuật, qua những bức tranh thủy mặc treo nơi bàn thờ tổ tiên. Ý tưởng muốn theo học ngành nghệ thuật ở nước ngoài đã thôi thúc ông tìm đường sang Pháp.

   Theo lời khuyên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp, ông dự thi vào Trường Mỹ thuật Toulouse và đã đỗ sau kỳ thi sát hạch. Ba năm miệt mài học tập, ông đã đỗ bằng tốt nghiệp ngành sơn dầu với đề tài Người mẫu xem tranh khi họa sĩ vắng mặt. Tác phẩm này đoạt giải nhất Manry của thành phố Toulouse với huy chương bạc và 1.000 quan tiền thưởng. Ông đến Paris, học tiếp ở Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật, vừa phải chật vật kiếm sống để tiếp tục học tập, vừa tham gia phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp.

   Năm 1934, ông về nước. Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Krautheimer tìm cách tranh thủ ông, đề nghị ông làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, nhưng ông từ chối, về tạm trú nơi quê vợ ở Mỹ Tho. Tại đây, nhà sư Minh Đường trụ trì ở chùa Vĩnh Tràng đã đặt ông làm tượng mình và vị sư tiền nhiệm. Tượng hai vị hòa thượng mặc áo cà sa, chắp tay niệm Phật còn được lưu giữ đến nay ở bên cổng chùa.

   Một thời gian sau, ông lên Sài Gòn sống bằng nghề vẽ tranh phong cảnh (Một số tranh tĩnh vật vẽ theo phong cách tân cổ điển, nay được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).

  Năm 1935, ông dạy vẽ ở Trường Donnai và Huỳnh Khương Ninh. Cũng trong thời gian này tập tiểu thuyết Vì đâu, chủ đề tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp được đăng tải nhiều kỳ trên báo Dân quyền. Tháng 8-1945, ông tham gia giành chính quyền Sài Gòn, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên. Khi kháng chiến bùng nổ, ông là ủy viên tài chính UBKCHC Nam Bộ.

   Sau hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, ông được điều về giảng dạy ở Trường Mỹ thuật Việt Nam toàn quốc tại Nhà hát lớn Hà Nội, bức tranh Hồi tưởng đất Bắc của ông đã đoạt giải nhì. Bức tranh được Đại sứ Tiệp Khắc tại Hà Nội mua ngay trong ngày khai mạc.

   Về đề tài lịch sử chống ngoại xâm, ông có những bức tranh Hai Bà Trưng xuất trận, Trận Bạch Đằng, Vua Quang Trung tiến vào Ngọc Hồi, Trương Định được nhân dân phong soái v.v… Những tranh này hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian này, ông hoàn thành quyển Lược khảo mỹ thuật Việt Nam (Nxb KHXH, 1970). Sách được dịch sang tiếng Nga sau đó.

   Hòa bình lập lại, ông trở về TP. Hồ Chí Minh, giảng dạy lịch sử mỹ thuật ở Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tác phẩm Một số nền mỹ thuật thế giới được Nxb Văn hóa in năm 1978. Quyển sách đã được ông bổ sung, hoàn chỉnh và ra mắt bạn đọc với tên mới Mỹ thuật và nghệ sĩ (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993). Ký ức lão cuồng họa, tập hồi ký kể về cuộc đời mình từ lúc nhỏ nơi quê nhà, sang Pháp học hành, tham gia cách mạng và hoạt động nghệ thuật chưa kịp xuất bản, thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9-1-2001.

   Cuộc đời ông là một tấm gương lao động nghệ thuật tận tụy và trong sáng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất. Viện Tiểu sử ABI (Mỹ) tặng ông Huy chương vàng năm 1997.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer