Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Anh hùng lực lượng vũ trang
 
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại). 
 
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh. 
 
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. 
Đoàn Thị E (08/11/2014)
 
Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm. 
Khấu Trung Gương (08/11/2014)
 
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. 
Tạ Thị Kiều (08/11/2014)
 
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. 
Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.  
 
Võ Viết Thanh (08/11/2014)
 
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.  
Cao Văn Trung (08/11/2014)
 
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh.  
Nguyễn Thành Trung (08/11/2014)
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ
 Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Ra đời ở một chiến trường bốn bề mênh mông sông nước và kênh rạch chằng chịt, trong một hoàn cảnh đặc biệt - giặc Mỹ áp dụng "chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông” - binh chủng đặc biệt này đã biết vận dụng một cách sáng tạo phương châm “lấy ít đánh nhiều”, lấy ý chí dũng cảm, trí thông minh để đối chọi lại với phương tiện hiện đại và kỹ thuật tối tân của Mỹ và đã đạt được nhiều chiến công vang dội liên tiếp, làm đau đầu những tên chỉ huy sừng sỏ của cái gọi là "Lầu năm góc phương Đông” ở Sài Gòn.

   Được thành lập năm 1961, ban đầu chỉ vỏn vẹn một tổ ba người, cho đến lúc trưởng thành gồm cả một đại đội với quân số 72 người. Ngoài đại đa số chiến sĩ là nam giới, còn có một đơn vị đặc công nữ (từ chỉ huy đến chiến sĩ đều do chị em tự quản lấy) mà những thành tích không kém thua nam giới. Đơn vị đặc công thủy Bến Tre không chỉ hoạt động trên địa bàn tỉnh nhà, mà còn chi viện cho các tỉnh bạn. Một tổ đặc công thủy ở đây đã tham gia đánh sập cầu Bến Lức (Long An) nằm trên đoạn quốc lộ 1A Sài Gòn - Mỹ Tho.

   Hoạt động của họ thường là thầm lặng, không ồn ào, rầm rộ, nhưng chiến công của họ thì lẫy lừng, vang dội, có lúc vượt ra ngoài biên giới đất nước. Với số quân không đông, nhưng thành tích của đội đặc công thủy Bến Tre thật là to lớn. Hằng trăm tàu địch, trong đó có những hạm tàu sửa chữa lớn có trọng tải hàng ngàn tấn, và hàng ngàn tên giặc bị nhận chìm xuống đáy dòng sông quê hương cùng với các loại vũ khí tối tân: xe pháo, thiết giáp, đạn dược các loại.

   Ðể đạt được những chiến công lừng lẫy đó, góp phần cùng sự nghiệp đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng quê hương, nhiều chiến sĩ đặc công đã ngã xuống, trong đó có Anh hùng LLVTND Hoàng Lam - người chỉ huy xuất sắc - có Nguyễn Thị Thủy, Lê Thị Hồng, những chiến sĩ đặc công dũng cảm, thông minh.

Chiến công đầu tiên 

   Để cắt đứt con đường bộ nối liền thị xã Bến Tre qua thị trấn Giồng Trôm, thị trấn Ba Tri để ra tận biển, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quyết định đánh sập cầu Chẹt Sậy. Nhiệm vụ đó được giao cho đội đặc công thủy và cũng coi như là thử thách đầu tiên của đơn vị đặc biệt này. Tổ chiến đấu gồm có Kiên Trì (tổ trưởng), Lê Tự, Hoàng Lam và Việt Dũng.

   Là một chiếc cầu quan trọng nằm trên đường vận chuyển chiến lược của cù lao Bảo, do đó địch bố phòng khá nghiêm ngặt. Trên cầu có một trung đội thường trực canh giữ ngày đêm. Đặc biệt ban đêm, đèn điện các trụ và hai bên mô cầu sáng trưng như ban ngày. Cứ cách khoảng 15 phút, chúng ném lựu đạn xuống quanh các chân cầu một lần và bắn vào tất cả những dề lục bình khả nghi trôi về phía cầu để đề phòng sự đột nhập của bộ đội, du kích ta.

   Vào một đêm tháng 11-1962, các chiến sĩ bằng kỹ thuật thuần thục, đã áp sát chân cầu, gài mìn, nhưng vì trục trặc về kỹ thuật, mìn không nổ, lại phải rút ra. Đêm hôm sau, các chiến sĩ đột nhập trở lại. Khối thuốc nổ lớn làm rung chuyển cả hai bên bờ sông. Hai nhịp cầu sắt dài trên 50m gục đổ. Sáng ra, nhìn cây cầu sập, đồng bào vô cùng hồ hởi, khâm phục trong khi địch hoang mang không hiểu bộ đội ta đã đột nhập bằng con đường nào. Tiếp theo chiến công này là một loạt trận đánh diễn ra ở các cầu Lương Quới, Giồng Quéo, Bình Chánh, Cái Cấm, Ba Lai. Riêng cầu Chẹt Sậy đã bị lực lượng đặc công thủy đánh đi đánh lại đến 4 lần. Lần cuối cùng vào tháng 4-1975, cận kế ngày giải phóng, nhằm hạn chế sự vận động xe cơ giới của địch trên đường này nhằm chống lại cuộc tiến quân của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đánh chìm hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre

   Trong những năm chiến tranh ác liệt, nơi vàm sông Bến Tre ra sông Hàm Luông, tàu chiến Mỹ thường tập trung rất đông, vì mực nước ở đây sâu, lòng sông rộng, địa hình trống trải, từ đây tàu địch có thể cơ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra trên một khu vực rộng lớn.

  Tổ đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy nhận được lệnh đánh vào chiếc tàu dài 110m, rộng 25m - một cơ xưởng nổi sửa chữa tàu thuộc loại hiện đại từ Mỹ đưa sang - đang đậu tại đây. Để bảo vệ tàu, địch quy định một chế độ canh phòng rất cẩn mật. Giữa dòng chảy xiết của sông Hàm Luông, chúng bố trí đèn pha cực mạnh có thể soi sáng từ xa, phát hiện tất cả những vật di động lớn nhỏ trên mặt nước. Cứ năm phút, lính tuần tiễu ném xuống quanh tàu lựu đạn và mìn hơi. Chúng còn dùng dòng điện cực mạnh phóng liên tục xuống nước để đề phòng đặc công ta có thể đột nhập vào bên trong cụm tàu đang bỏ neo. Trên bờ sông còn có bót Giồng Xoài, do một đại đội bảo an phối hợp cùng bọn mật vụ rải dài canh gác khu vực này, nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của bộ đội ta từ phía bờ.

   Đêm 23-11-1967, tổ đặc công xuất kích, đã dũng cảm, mưu trí vượt qua các màng lưới bố phòng của địch, kể cả máy bay trực thăng rọi đèn từ trên cao và các tàu tuần tiễu quần đảo liên tục chung quanh, đưa khối thuốc nổ 200kg áp vào thành buồng máy của hạm tàu một cách an toàn. Đúng 2 giờ khuya, một tiếng nổ long trời dội vào tận thị xã và vùng phụ cận. Có người đã chứng kiến hôm ấy, một cột nước cao gần trăm mét phụt lên không trung. Lửa cháy lan ra kín cả một khúc sông. Tàu 883 cùng 10 chiếc tàu nhỏ đậu chung quanh để chờ sửa chữa đều bị nhận chìm xuống dòng nước Hàm Luông, kéo theo hàng trăm sĩ quan, kỹ sư, thợ máy, kỹ thuật viên Mỹ, Úc, Tân Tây Lan...

Trận tập kích căn cứ nổi trên Hàm Luông

  Trong khi địch chưa hoàn hồn về trận tiến công hàm tàu sửa chữa đêm 23-11-1967, thì vào đêm 29-12-1967, các chiến sĩ bộ đội đặc công lại đánh bồi tiếp một trận mới tại căn cứ nổi của Mỹ nơi vàm Băng Cung. Trong trận này, đơn vị đặc công thủy đã đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có một tàu hải quân mang số 821 dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M.113 trên tàu bị phá hủy.

   Chỉ trong vòng hơn một tháng trời, bằng lực lượng nhỏ tinh nhuệ, quân ta đã đánh hai trận xuất sắc vang dội cả nước, gây tổn thất to lớn cho “chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông" của giặc Mỹ ngay trên chiến trường Bến Tre.

Đội nữ đặc công thủy 

   “Đội quân tóc dài" ở miền Nam, mà nơi đầu tiên ra đời là đất Bến Tre, từng vang danh trong cả nước và tiếng tăm của nó cũng đã vượt ra ngoài biên giới Tổ quốc. Thế nhưng, còn có một kỳ tích nữa của phụ nữ Bến Tre mà người ta ít biết đến là những chiến công xuất sắc của đội nữ đặc công thủy ở đây trong những ngày đánh Mỹ. Xét về mặt thể lực, về tâm sinh lý cũng như đặc điểm giới tính, chị em không thể bơi lội ngâm mình, vật lộn với sóng nước cả ngày như những "con cá kình" nam giới. Nhưng rồi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh - đánh địch trên bộ được, thì chị em cũng có thể đánh địch được cả ở dưới nước. Và, một tổ đặc công thủy toàn nữ ra đời. Thực tế, chị em không khỏe và có sức chịu đựng dẻo dai như nam giới khi vật lộn với sóng nước, nhưng bù vào đó là tác phong tỉ mỉ, chu đáo, kiên trì - những đức tính rất cần thiết đối với người chiến sĩ đặc công - và chị em cũng có ưu thế hơn nam giới là khi cần có thể trà trộn vào ra nơi địch đóng quân để điều tra, trinh sát, hoặc đưa những phương tiện đặc biệt cần thiết vào sâu bên trong, chuẩn bị cho trận đánh thắng lợi.

   Đội nữ đặc công thủy Bến Tre gồm một đại đội, hoàn toàn do chị em tự điều khiển, từ đại đội trưởng đến chính trị viên, tổ trưởng v.v... Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp hoạt động với các tổ nam đặc công, đơn vị của các chị đã hoạt động trên khắp sông nước Bến Tre. Trong những thành tích mà bản tuyên dương công trạng anh hùng của đơn vị đặc công thủy Bến Tre đã nêu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ" có phần đóng góp không nhỏ của chị em. Tất nhiên, có chiến công nào, thắng lợi nào mà không phải đổi bằng những hy sinh mất mát, có khác chăng sự hy sinh ở đây thường diễn ra thầm lặng hơn. Trong danh sách những liệt sĩ của đơn vị đặc công thủy có Nguyễn Thị Thủy hy sinh ở cầu Chẹt Sậy, Lê Thị Hồng hy sinh ở Phước Hiệp... Họ đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng quê hương ở tuổi đôi mươi đầy hứa hẹn.
Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịchCồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịch
Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Đến cồn Ốc - Hưng Phong, du khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng. Vì vậy, cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông,… cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ. Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Tôi đến cồn Ốc - Hưng Phong đã nhiều lần, nhưng vẫn bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả. Mỗi khi có dịp về Bến Tre, tôi lại về thăm cồn Ốc như một nỗi nhớ quê hương da diết đến khó tả. Phải chăng, đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu, người làm công tác du lịch chọn nơi đây làm điểm du lịch xanh, là nơi trải nghiệm cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, các lữ hành du lịch nên khảo sát để tạo sản phẩm dịch vụ du lịch riêng cho mình, các nhà đầu tư du lịch sinh thái nên chọn cồn Ốc để đầu tư du lịch sinh thái sông nước miệt vườn trên vùng đất cù lao.

 

Một góc Cồn Ốc

Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Mẹ Kế tiêu biểu cho ý chí chiến đấu, kiên cường của quân và dân Bến Tre, đã để lại trong lòng người dân cồn Ốc - Hưng Phong và Bến Tranh - Phước Long sự cảm mến và tình yêu thương bất tận, bởi nơi đây là nơi mẹ sống và lớn lên cùng bà con Hưng Phong.

Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắn rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan xứ cồn Ốc này.

Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa. Hệ thống giao thông trong xã đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với Hưng Phong. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.

 

Nghề đan giỏ cọng dừa

Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.

Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Cụm duyên hải phía Đông ĐBSCL theo đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) định hình, có diện tích khoảng 8.618 km2, được bao bọc bởi các nhánh sông (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu) thuộc hệ thống sông Cửu Long; các tỉnh cụm phía Đông nầy cũng là cửa ngỏ khi du khách từ các nơi trên cả nước về với miền Tây Nam bộ; đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến.

Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi; du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ TP.HCM -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm; quý khách đến đây sẽ bắt gặp trên 30 lữ hành của các tỉnh đang chào đón tại bến tàu du lịch Tiền Giang để đưa khách thập phương đi tham quan các tuyến điểm du lịch tại Bến Tre, Vĩnh Long hay cả miền Tây Nam bộ; bến tàu du lịch nầy có từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay do hệ thống giao thông về các tỉnh trong khu vực thời điểm nầy còn phải ngăn sông, lụy phà.

Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre, dọc theo sông Tiền có gần 40 điểm dừng chân tham quan du lịch sông nước miệt vườn với nhiều mô hình làng nghề xen lẫn, du khách sẽ được các lữ hành đưa đi lênh đênh trên những chiếc tàu du lịch để ngắm nhìn quần thể Long, Lân, Qui, Phụng, đây là bốn cồn nằm trên sông Tiền, trong đó điểm du lịch cồn Phụng được chọn một trong những điểm tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long, du khách sẽ được chèo thuyền trong rạch nhỏ, tảng bộ trong đường làng để thưởng thức những trái cây ngon và uống ngụm trà mật ong, nghe đàn ca tài tử tại đây hay được đi trên những chiếc xe ngựa trên đường nông thôn hoặc tham gia tát mương bắt cá rồi thưởng thức tại chỗ cùng người dân sở tại.

 

Điểm dừng chân thưởng thức trà mật ong tại Châu Thành - Bến Tre

Rời khỏi Châu Thành, đi thêm 12km là đến TP.Bến Tre, du khách mua sản phẩm lưu niệm đặc sản có thể ghé các điểm trên đoạn đường nầy như: Kẹo Dừa Yến Hương, Thanh Long 1, Thanh Long 2, Thanh Long 3, kẹo dừa Bến Tre hoặc nhiều điểm khác trên các tuyến đường sẽ có đầy đủ những sản phẩm của quê hương như trái cây, hàng lưu niệm, kẹo dừa, bánh phồng, bánh tráng, .v.v. Thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, khang trang, sạch đẹp; một quê hương được mệnh danh là quê hương xứ dừa (với 63ha dừa, hơn 1/3 diện tích dừa cả nước hiện nay) cũng là nơi vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống đã cung cấp trong cả nước và các nước lân cận; quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ, phù hợp cho du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, kết hợp nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử; nhiều làng nghề truyền thống có hàng trăm năm tuổi; đặc biệt là nhiều món ẩm thực từ dừa như: Cơm nấu trong trái dừa, tép bạt đất rang nước cốt dừa, gỏi tủ hủ dừa, bánh xèo hến với tủ hủ dừa và nhiều món bánh ăn khác với nước cốt dừa,…; sẽ tạo nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi có một chuyến thưởng ngoạn tại quê hương xứ dừa…

 

Điểm dừng chân du lịch bên Cầu Rạch Miểu (Nhà hàng thủy sản Mê Kông)

Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo quốc lộ 60 khoảng 30km qua phà Cổ Chiên (Cầu đang thi công) sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, một thành phố đẹp có nhiều cây cổ thụ quí giá nhất của vùng; một quê hương đa dạng nét văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Khơme, Hoa, nơi có nhiều lễ hội của các dân tộc như: Đua ghe ngo, lễ hội Ok – Om – Bok,…; đặt biệt Trà Vinh có khu đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng từ thập niên 60 ở thế kỷ XX và được trùng tu khang trang trở thành điểm tham quan du lịch; trong khu có tái dựng nhà sàn Bác Hồ và những sản vật bảo tồn, bảo tàng làm phong phú cho sản phẩm du lịch; kế đó là khu Ao Bà Om thơ mộng bên cạnh chùa Ân thanh tịnh, với hàng trăm cây cổ thụ được trồng xung quanh đã làm nên một quần thể tham quan tuyệt đẹp trong lòng thành phố. Đặc biệt ở Trà Vinh du khách sẽ được chiêm ngưỡng và tham gia du lịch tâm linh trên 140 ngôi chùa Khơme như: Chùa Ân, Chùa Hang,…với nét kiến trúc màu sắc độc đáo của người Khơme.

Xuôi về  tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã phát triển tốt, đặc biệt là du lịch homestay đã đi vào hoạt động phục vụ khách quốc tế từ những năm 2004, sau đó mới phát triển qua Bến Tre. Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây ĐBSCL đến mũi Cà Mau.

Bốn địa phương của 4 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang,Vĩnh Long và Trà Vinh; có cùng bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ, cùng chia sẻ một lịch sử chung, có cùng cội nguồn, đời sống sinh hoạt cũng có nét tương đồng, giống nhau về sông nước miệt vườn có tiềm năng du lịch đa dạng, nhưng có nhiều sản phẩm đặc thù khác nhau đem lại cho du khách một điểm đến hấp dẫn; đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch homestays, du lịch nông thôn. Dự báo đến năm 2020 cụm sẽ đón 29% lượng khách nội địa và 56% lượng khách quốc tế của toàn vùng ĐBSCL. Đến cụm phía Đông duyên hải ĐBSCL, du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc sản từ dừa, ăn bưởi da xanh thì đến Bến Tre; ăn bưởi năm roi thì ghé Vĩnh Long, không thể ghé Vĩnh Long mà ăn bưởi da xanh và đến Bến Tre mà ăn bưởi năm roi sẽ không ngon; muốn ăn dừa dứa, dừa xiêm thì đến Bến Tre, ăn dừa sáp thì qua Trà Vinh, muốn tham quan chợ nổi thì về Cái Bè (Tiền Giang), muốn đi du lịch biển, thưởng thức hải sản tươi sống thì xuống huyện Thạnh Phú, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre hay Ba Động của tỉnh Trà Vinh… Do vậy mà mỗi tỉnh sẽ có những sản phẩm đặc thù của từng địa phương trong những nét chung của đồng bằng tạo thành một sản phẩm chung của cụm, tạo nên một điểm đến hấp dẩn với nhu cầu du lịch của một chuyến hành trình trên bốn địa phương.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triểnChắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triển
“Bến Tre biển cá sông tôm, Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

“Bến Tre biển cá sông tôm,

 Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

Nếu ai đã một lần về thăm mảnh đất Ba Tri vùng đất biển với biết bao sản vật địa phương, hải sản biển, nơi nức danh với danh tửu “rượu Phú Lễ”, bánh phồng Phú Ngãi mang đậm hương vị quê nhà, nhiều sản phẩm thủ công tinh xảo của làng nghề đan đát Phú Lễ và Phước Tuy thì sẽ nhớ mãi cái tình người, tình đất và tình quê hương xứ sở ở một vùng đất biển cuối nguồn dòng Ba Lai.

Ba Tri quê tôi, miền đất thuộc cù lao Bảo của tỉnh Bến Tre, được thiên thiên ưu đãi, nguồn lợi kinh tế biển dồi dào, có lịch sử khai phá hình thành và phát triển khá lâu đời, cư dân sống chủ yếu bằng kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là chính. Trải qua ngần ấy thời gian, mảnh đất này đã mang theo trong mình những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, với những danh nhân đã làm nên những trang sử hào hùng cho đất nước như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Tán Kế, Phan Ngọc Tòng,... Với một hệ thống các di tích văn hóa- lịch sử phong phú như: Khu tưởng niệm nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (An Đức - Ba Tri), Mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản (Bảo Thạnh - Ba Tri), di tích cây Da Đôi (Tân Xuân - Ba Tri), di tích đình Phú Lễ (Phú Lễ - Ba Tri), di tích miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế) ở Mỹ Thạnh - Ba Tri, di tích khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng ở An Hiệp - Ba Tri, là điều kiện thuận lợi để Ba Tri phát triển loại hình du lịch về nguồn.

Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công truyền thống cũng được người dân địa phương giữ gìn và lưu truyền từ đời này sang đời khác như: Làng nghề cá khô An Thủy, làng nghề sản xuất muối Bảo Thạnh, làng nghề đan đát và nấu rượu Phú Lễ, làng nghề bánh phồng Phú Ngãi,... đang ngày càng phát triển bền vững và vươn xa giữa nhịp sống hiện đại. Duy trì và gắn bó với nghề không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế gia đình mà còn là giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề để cho các làng nghề không bị mai một theo thời gian. Đây cũng là một tiềm năng lớn để Ba Tri phát triển loại hình du lịch làng nghề.

Vùng đất biển Ba Tri không có những vườn cây ăn trái trĩu quả như huyện Chợ Lách, không có “lung linh sông nước” như du lịch huyện Châu Thành, nhưng Ba Tri luôn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc của vùng đất biển, cái chân chất, thật thà của những con người đôn hậu, nghĩa tình. Với môi trường sinh thái biển trong lành, sự đa dạng sinh học cao, nhiều rừng đước, mắm, bần,…nơi quy tụ nhiều loại sinh vật biển, chim cò, các loại cá tôm, bò sát,… nên Ba Tri có nhiều điều kiện thuận lợi trong công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng dương để phòng chống lũ lụt, xói mòn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Ba Tri còn có trên 20km đường bờ biển với nhiều bãi biển đẹp như: Bãi Ngao, cồn Tròn, cồn Hố, cồn Nhàn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển trong tương lai.

Bến Tre đang phát triển nhiều loại hình du lịch thu hút du khách: Du lịch sông nước miệt vườn, du lịch homestay, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa - lịch sử và du lịch biển. Vì vậy, các công ty du lịch tại Bến Tre cũng đã tập trung khai thác các chương trình tham quan tại huyện Ba Tri như: Đưa du khách đi tham quan các di tích văn hóa-lịch sử, khám phá vườn chim Vàm Hồ, tham quan công trình kiến trúc nghệ thuật đình Phú Lễ, các bãi biển đẹp: Bãi Ngao, cồn Nhàn, cồn Hố, và thưởng thức hải sản biển tươi sống. Mặc khác, các doanh nghiệp này cũng đưa khách khám phá các làng nghề truyền thống của huyện để gắn kết giữa du lịch về nguồn với du lịch biển và du lịch làng nghề tạo nên sự đa dạng sản phẩm trong tour du lịch về Ba Tri.

Nói đến Ba Tri là nói đến vùng đất biển với những hào sản mà thiên nhiên đã ban tặng. Đến đây, du khách có thể tham gia vào lễ hội nghinh Ông Nam Hải được tổ chức vào trung tuần tháng 6 Âm lịch hằng năm tại xã An Thủy, hòa cùng không khí sôi nổi háo hức của lễ hội, đây là một lễ hội mang đậm nét truyền thống văn hóa của cư dân miệt biển, cầu cho mưa thuận gió hòa, đánh bắt cá có một mùa bội thu, và trở thành một tín ngưỡng dân gian in sâu vào tâm linh của những người dân xứ biển này.

Cảm giác của biển luôn làm lay động lòng người viễn xứ, về Ba Tri mà du khách chưa đến Tiệm Tôm xem như là chưa đến Ba Tri. Cái địa danh này không biết có từ khi nào, nhưng nghe tên thì du khách cũng cảm nhận được nơi đây rất giàu tôm, cá. Về đây, du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống làng quê của cư dân miền biển tại làng chài Tiệm Tôm thuộc xã An Thủy huyện Ba Tri, tham quan làng nghề cá khô An Thủy - Ba Tri, tham quan cảng cá Tiệm Tôm, ngắm nhìn cảnh biển, chợ sáng trên cảng với không khí nhộn nhịp. Hay đi dọc theo những con đường quê, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh từng phên cá được phơi khô với đủ các loại cá ngon như: Cá trích, cá ngừ, cá bạc má, mực, tôm, … Đúng là một vùng quê xứ biển, cái mùi thơm thoang thoảng của các loại cá khô như muốn níu chân du khách.

Đến cảng cá Tiệm Tôm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những đoàn tàu ra khơi lúc bình minh, vươn ra đại dương mênh mông để trở về với những khoang thuyền đầy ắp cá, tôm. Lắng lòng giữa biển cả mênh mông, để cảm nhận những làn gió biển vi vu suốt ngày đêm, như những tiếng đàn, tiếng lòng của quê hương xứ biển, dừng chân tại một nhà hàng ven biển với không gian thoáng mát, du khách sẽ thưởng thức hải sản tươi sống với nhiều món đặc sản hấp dẫn như: tôm hấp nước dừa, mực nướng, sò huyết, nghêu hấp lá quế, cá đối nướng, cá ngát nấu canh chua bần,… Đặc biệt, du khách sẽ được thưởng thức món mắm còng Ba Tri nổi tiếng thơm ngon.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 tổ chức tại huyện Ba Tri đang là một trong những sản phẩm để phát triển du lịch

Cứ hẹn lại lên, từ ngày 01-03/7 hằng năm là Ba Tri sẽ nhộn nhịp vào mùa lễ hội. Trong thời gian này, du khách về thăm khu di tích nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sẽ được hòa mình vào không khí tưng bừng, rộn ràng của các hoạt động văn hóa, văn nghệ thuật của lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 như: Liên hoan “Đờn ca tài tử” và hóa trang các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, lễ dâng hương, hội thi mâm cơm ngày giỗ, mâm xôi ngày hội, và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao khác,… Đây là dịp để người dân vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, văn nghệ, ngâm thơ Lục Vân Tiên, tham gia vào nhiều hoạt động đa dạng, hấp dẫn. Đồng thời để giáo dục truyền thống văn hóa cho các thế hệ mai sau.

Ngược về xã Phú Lễ, du khách sẽ tham quan đình Phú Lễ với công trình kiến trúc độc đáo còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Hoành phi, liễn đối, bao lam,… được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Hằng năm, Đình là nơi tổ chức lễ cúng kỳ yên lớn và tiêu biểu của tỉnh. Ngoài ra, du khách không thể bỏ qua việc tìm hiểu về làng nghề nấu rượu và đan đát để chiêm ngưỡng các sản phẩm thủ công đẹp mắt, mà những nghệ nhân của làng nghề tạo ra như: Bung, giỏ, thúng, rổ,… Du khách cũng có thể tự tay làm nên một sản phẩm thủ công mà mình thích, để trải nghiệm cùng người nghệ nhân.

 

Đình Phú Lễ - Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về vùng đất biển Ba Tri

Cách Thị trấn Ba Tri khoảng chừng 15km, du khách sẽ đến với vườn chim Vàm Hồ, đây là một vườn chim tự nhiên với hàng ngàn cá thể cò, vạc. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, nước ròng; tiếng chim vịt kêu chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…. Hiện tại, vườn chim Vàm Hồ đã có dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, phát triển du lịch do công ty TNHH xuất nhập khẩu Hải Vân làm chủ đầu tư. Hy vọng, dự án hoàn thành và đưa vào khai thác thì sẽ thu hút du khách về đây nhiều hơn, tạo nguồn thu cho huyện, góp phần giải quyết việc làm và tạo sự bức phá trong lĩnh vực du lịch huyện nhà.

 

Du khách tham quan vườn chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Ba Tri còn đó rất nhiều điều thú vị mà du khách là người khám phá, quê tôi vùng đất biển chỉ có nắng gió, nhưng những hào sản mà thiên nhiên ban tặng thật sự là những món quà đầy ý nghĩa mà đất và con người Ba Tri dâng tặng cho du khách thập phương. Ba Tri không ồn ào, tấp nập nhưng nó có sức hấp dẫn kỳ lạ như “người con gái ngủ say” đang chờ du khách đánh thức; đang chờ các nhà đầu tư du lịch về đầu tư kinh doanh tại vùng đất đầy tiềm năng của Ba Tri.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nhộn nhịp làng nghề ven sông Thơm - Một sản phẩm du lịch cần được khai thácNhộn nhịp làng nghề ven sông Thơm - Một sản phẩm du lịch cần được khai thác
Từ thành phố Bến Tre, xuôi theo Quốc lộ 60 hướng đi Trà Vinh đến ngã ba chợ Thơm, rẽ vào khoảng chừng 500m, du khách sẽ đến với làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa An Thạnh thuộc huyện Mỏ Cày Nam cách thành phố Bến Tre hơn 20km, người ta gọi làng nghề này với cái tên gọi thân thương là làng nghề “chỉ vàng”. Có thể nói, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh là làng “làm giàu”. Có dịp đến với làng nghề này du khách mới cảm nhận được sự nhộn nhịp và sôi động, hầu như làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh hoạt động quanh năm không ngừng nghỉ; một sản phẩm du lịch làng nghề hấp dẫn.

Từ thành phố Bến Tre, xuôi theo Quốc lộ 60 hướng đi Trà Vinh đến ngã ba chợ Thơm, rẽ vào khoảng chừng 500m, du khách sẽ đến với làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa An Thạnh thuộc huyện Mỏ Cày Nam cách thành phố Bến Tre hơn 20km, người ta gọi làng nghề này với cái tên gọi thân thương là làng nghề “chỉ vàng”. Có thể nói, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh là làng “làm giàu”. Có dịp đến với làng nghề này du khách mới cảm nhận được sự nhộn nhịp và sôi động, hầu như làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh hoạt động quanh năm không ngừng nghỉ; một sản phẩm du lịch làng nghề hấp dẫn.

Theo chân đoàn làm phim phóng sự của Đài truyền hình Việt Nam (VTV3) qua hành trình khám phá du lịch “Bên dòng Hàm Luông” tôi mới có dịp về với làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh. Đến đây, ấn tượng đầu tiên là sự hiếu khách, nhiệt tình và cái chân chất của người dân nơi làng nghề. Chuyến hành trình khám phá làng nghề bắt đầu, công ty du lịch Nam Bộ đưa tàu chạy trên dòng sông Thơm thơ mộng mang nặng phù sa của tình đất và tình người nơi quê hương xứ dừa, như là một nhân chứng cho sự thăng trầm và phát triển của những con người cần mẫn bao năm gắn bó suốt đời nơi làng nghề này. Đập vào mắt chúng tôi, san sát hai bên vàm sông Thơm là các cơ sở lột dừa lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười của những người thợ chuyên lột dừa. Từng ghe chở dừa chở đầy ắp dừa cặp bến; không khí bắt đầu hối hả, người chuyền, người đếm, chỉ không đầy 2 giờ một ghe đầy ắp dừa đã chuyển hết số dừa lên bờ, và những người thợ lột dừa luôn trong tư thế sẵn sàng cho công việc của mình. Ở đây, một điều đặc biệt là nghề lột dừa không những là đàn ông mà cả chị em phụ nữ.

 

Người nông dân cần mẫn với nghề lột dừa trên sông Thơm

Người dân Bến Tre từ lâu đã biết sử dụng, sáng tạo các chế phẩm từ cây dừa như: thân dừa, gáo dừa, lá dừa,…. phục vụ vào các nghề thủ công truyền thống, đến xây dựng nhà ở, ẩm thực, các sản phẩm công nghiệp từ cây dừa; dừa được biến hóa ra nhiều sản phẩm rất phong phú và đa dạng. Nhưng đặc biệt, tại làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh là sản xuất ra những sản phẩm từ xơ dừa se lại thành chỉ để xuất khẩu sang các nước. Từ chỉ xơ dừa sản xuất ra nhiều loại khác nhau như chỉ nệm, chỉ xơ cứng, thảm dệt, chiếu thảm, thảm trải sàn,… còn phần mụn thì làm đất sạch để trồng cây. Hiện nay các sản phẩm này được xuất thường xuyên sang các nước Hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc,…

Làng nghề bên dòng sông Thơm đã giải quyết việc làm hơn 3.000 lao động, chúng tôi bắt gặp hình ảnh những cơ sở lột dừa và thu mua dừa trái, phơi chỉ xơ dừa, nằm trải dài và nối liền suốt con sông Thơm, từng ghe chở đầy dừa ghé vào các cơ sở; chị Hồng Cúc một nhân công lột dừa ở An Thạnh- Mỏ Cày Nam cho biết: “Công việc của chị bắt đầu lúc 2 giờ sáng hôm trước đến 12 giờ trưa hôm sau mới hoàn thành, trung bình mỗi ngày làm việc như vậy chị lột được khoảng 1.800 trái dừa, thu nhập khoảng 300-400 ngàn, công việc đòi hỏi phải vất vả và tốn rất nhiều sức nhưng chị cho biết, công việc này đã gắn bó với chị hơn mười mấy năm nay rồi, nên cái nghề cái nghiệp gắn với chị là vậy”.

 

Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh lúc nào cũng nhộn nhịp và sôi động

Đến với làng nghề chỉ xơ dừa, người dân phơi chỉ xơ dừa, trong cái nắng gay gắt 11 giờ trưa; hai bên bờ sông luôn tấp nập, nhộn nhịp những chiếc ghe chở trái dừa, vỏ dừa từ các tỉnh lân cận đến không khác gì một chợ nổi mua bán dừa trên sông. Những chiếc tàu chở dừa xuôi ngược khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh lân cận cùng nhau thu mua trái dừa, vỏ dừa chở về làng nghề cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa.

 

Phơi chỉ xơ dừa của người dân nơi làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh

Tìm hiểu về về nghề phơi chỉ dừa, anh Đào Thanh Ngọc-Quản lý cơ sở lột dừa Hai Tiến chia sẻ: “Sau khi lột vỏ dừa xong, sẽ đem vỏ dừa vào máy đập vỏ dừa để cho ra chỉ; chỉ phơi nếu trời nắng tốt chỉ phơi trong ngày.

Ở làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh cũng có các vệ tinh lân cận làm theo các công đoạn, có hộ mua dừa trái về tách phần vỏ bán cho cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa, còn lại phân loại: dừa loại gáo lớn bán cho các tàu chở đi TP.HCM, loại nhỏ hơn tách lấy cơm bán cho doanh nghiệp sản xuất cơm dừa nạo sấy, gáo dừa bán cho doanh nghiệp sản xuất than thiêu kết, cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ dừa, nước dừa bán cho cơ sở sản xuất thạch dừa. Đến với xã An Thạnh, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy nhà nhà, người người đều làm chỉ xơ dừa. Theo lời người dân xung quanh, nhờ làng nghề này mà cuộc sống của nhiều người dân ở đây khấm khá hơn, nhiều hộ gia đình trở nên giàu có và ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa mọc lên. Nghề làm chỉ xơ dừa có từ rất lâu, người dân ở đây thu nhập chủ yếu từ nghề chỉ xơ dừa, nghề chỉ xơ dừa đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đã góp phần trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở địa phương.

Đến nay, làng nghề xã An Thạnh có trên 90 cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa lớn, nhỏ nằm rải rác các ấp trong xã. Được biết, mỗi ngày, một cơ sở bình quân sản xuất từ 3-4 tấn chỉ ướt. Những cơ sở lớn có trên 25 công nhân có thể sản xuất số lượng nhiều hơn. Nghề chỉ xơ dừa không chỉ mang thu nhập cao cho chủ cơ sở mà còn cho cả người lao động do nhu cầu xuất khẩu về mặt hàng này ngày càng nhiều. Nhìn chung, làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh không chỉ tạo thu nhập và việc làm ổn định cho người lao động địa phương mà còn mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần nâng cao sự phát triển kinh tế- xã hội xã nhà.

Với đặc tính là nghề nhàn rỗi nhưng thu nhập khá, nên nghề làm chỉ xơ dừa đang thu hút rất nhiều lao động nông thôn tham gia và nhiều gia đình đã vươn lên khá giả. Dọc hai bên sông Vàm Thơm bây giờ, nhiều ngôi nhà khang trang mọc lên, những mái ngói đỏ ẩn hiện trong những rừng dừa xanh mướt và trĩu quả, cầu đường cũng được bê tông hóa đến tận xóm ấp. Giữa nhịp sống hiện đại, nhưng sự cần mẫn của những con người chân chất, nghĩa tình, vẫn đang gắn chặt với nghề chỉ xơ dừa như quê hương xứ sở; đó là sản phẩm du lịch làng nghề mà du khách thích tham quan trải nghiệm, nhất là khách quốc tế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”
Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Về Chợ Lách, du khách sẽ thỏa sức đắm mình vào không gian sông nước hữu tình, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại cây trái ngon như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi, bòn bon,... , thưởng thức ngay tại vườn sẽ là những trải nghiệm đáng nhớ cho một chuyến khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách.

Về với xứ sở “cây lành trái ngọt”

Bến Tre có 63.000ha dừa, chiếm trên 1/3 diện tích dừa cả nước và trên 33.000ha cây ăn trái, tập trung nhiều nhất là huyện Chợ Lách. Chợ Lách được biết đến như là “vương quốc trái cây, cây giống và hoa kiểng”, ngành du lịch của huyện đã không ngừng phát triển, hàng năm đón trên 200 ngàn lượt khách tham quan, đặc biệt trong Ngày hội Cây-trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp tỉnh Bến Tre được tổ chức tại huyện Chợ Lách (mùng 5/5 Âm lịch) đón trên hàng chục ngàn lượt khách tham quan, thưởng thức và mua sắm. Chính vì vậy, phát triển du lịch của huyện Chợ Lách được xem là một khâu đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Trong đó, chú trọng phát triển loại hình du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch cộng đồng và du lịch homestay,…; các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong tỉnh không ngừng đẩy mạnh phát triển điểm đến, xây dựng tour, tuyến du lịch về Chợ Lách với các sản phẩm du lịch đa dạng nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của du khách.

Đến huyện Chợ Lách, du khách sẽ đi từ hai hướng: Một là đi từ Vĩnh Long, qua phà Đình Khao đi 13km sẽ đến thị trấn Chợ Lách; hướng thứ hai là từ thành phố Bến Tre, xuôi theo Quốc lộ 57 khởi hành đi Chợ Lách, du khách sẽ ghé các điểm vườn kiểng, cây giống của làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” tham quan mô hình kiểng thú và kiểng lá với nhiều sản phẩm đa dạng, độc đáo thể hiện nét tài hoa của người nông dân vùng đất này. Ở đây, có rất nhiều sản phẩm kiểng hình như: bộ 12 con giáp, nhà cây xanh, lục bình, ấm trà, … .Mỗi năm, làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” cung cấp cho cả nước hàng trăm loại cây giống hoa kiểng và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản...

 

Nghề cây giống và hoa kiểng là một sản phẩm du lịch độc đáo đối với du khách khi về du lịch miệt vườn Chợ Lách

Theo con đường hoa kiểng Nam Kinh-Vĩnh Bắc, du khách sẽ được ngắm nhìn dọc theo hai bên đường là những vườn cây giống và hoa kiểng rất đẹp, từng hàng kiểng, liếp hoa đua nhau khoe sắc đẹp lung linh dưới ánh nắng vàng buổi sáng bình minh. Dừng chân tại các điểm vườn sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, … du khách sẽ tham quan vườn cây đua nhau cho trái với mùa nào trái ấy, du khách có thể ăn trưa ở các điểm dừng chân nơi đây với nhiều món ăn dân dã miệt vườn hấp dẫn như: cháo gà ta thả vườn, cá tai tượng chiên xù, bánh xèo hến, canh chua cá bông lao,…

Đến đây, du khách sẽ bị cuốn hút trước những vườn sầu riêng trĩu quả, chôm chôm chín đỏ, vườn dâu xanh ngắt, vườn măng cụt, bòn bon, cam, quýt, bưởi, nhãn che khuất cả lối đi. Du khách có thể vào tận vườn tự hái và thưởng thức những trái chín thơm ngon, nghe chủ vườn giới thiệu và hướng dẫn cách chăm sóc từng loại cây để có được những vụ mùa trái cây đạt năng suất, chất lượng cao cung cấp cho thị trường cả nước.

 

Một vườn sầu riêng cơm vàng hạt lép ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre

Dừng chân ở xã Vĩnh Thành, du khách còn có dịp tham quan nhà thờ Cái Mơn - một trong những nhà thờ cổ xây dựng năm 1872 lớn nhất Nam Bộ, nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân Cái Mơn. Đối diện nhà thờ Cái Mơn là nhà bia tưởng niệm nhà bác học Trương Vĩnh Ký, một trong những nhà bác học nổi tiếng thế giới vào thế kỷ 19, thông thạo 26 ngoại ngữ và có 118 tác phẩm được xuất bản.

Đến Thị trấn Chợ Lách, du khách được du thuyền trên sông Cổ Chiên với khung cảnh sông nước hữu tình, hai bên là những vườn trái cây, du khách sẽ tham quan khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa, tản bộ trên con đường quê, tham quan cơ sở nuôi ong mật, thưởng thức tách trà mật ong và mua đặc sản mật ong về làm quà.

Trải nghiệm thưởng thức đặc sản địa phương

Về Chợ Lách, ngoài việc được thưởng thức trái cây miệt vườn, tham quan các cơ sở cây giống và hoa kiểng thì du khách còn được thưởng thức các đặc sản địa phương độc đáo. Mỗi năm, xứ này đón khách đổ về vui chơi miệt vườn, thưởng thức tài nghệ của nông dân có bàn tay vàng trong các món ăn đặc sản như bánh xèo hến, ốc gạo cồn Phú Đa và nghe đờn ca tài tử Nam bộ nơi vùng sông nước miệt vườn.

 

Đặc sản bánh xèo hến luôn hấp dẫn du khách

Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư xây dựng hoàn thiện, khách du lịch về với huyện Chợ Lách ngày một đông hơn, mỗi khi đến mùa ốc gạo thì khách đến cồn Phú Đa đông hơn rất nhiều, họ đến đây để tham quan cồn, thưởng thức đặc sản ốc gạo Phú Đa. Ngoài ra, du khách cũng có thể thuê xe đạp khám phá du lịch vườn, đạp xe trên những con đường làng rợp bóng cây, tìm hiểu về cuộc sống của người dân xứ vườn, nét văn hóa cũng như phong tục tập quán của cư dân xứ cù lao. Đến huyện Chợ Lách, du khách cũng có thể tham gia loại hình du lịch homestay, tìm hiểu về những nét văn hóa địa phương xứ sở cây trái và hoa kiểng.

Hằng năm, huyện Chợ Lách đón trên 200.000 lượt khách đến tham quan, thưởng thức trái cây miệt vườn và mua các sản phẩm hoa kiểng các loại. Hiện tại, toàn huyện Chợ Lách có khoảng 30 cơ sở lưu trú, 17 cơ sở phục vụ ăn uống du lịch. Ngoài các điểm du lịch đã được hình thành trước đây như: Việt Hải, Năm Công, Ba Ngói, Tám Lộc, Ba Phúc, vườn xoài Thanh Sơn,… thì một số điểm mới hình thành và phát triển trong thời gian gần đây như: Đại Lộc, Bảy Thảo, Năm Vũ, Năm Hiền,... với các loại hình tham quan vườn cây ăn trái, làng nghề hoa kiểng Cái Mơn, du lịch homestay, thưởng thức mật ong, du lịch trên sông, trải nghiệm khám phá cồn Phú Đa, thưởng thức các món ăn đặc sản của miền Tây,… đều thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

Chợ Lách với ưu thế vườn cây ăn trái, hoa kiểng phong phú, cùng cảnh quan sinh thái miệt vườn hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng vùng sông nước Cửu Long. Chợ Lách đang dần khẳng định vị trí và thương hiệu không chỉ trên bản đồ du lịch của Bến Tre mà còn của vùng Nam Bộ và cả nước. Với những điều kiện như vậy huyện Chợ Lách sẽ phát triển du lịch bền vững cho Chợ Lách nói riêng và du lịch Bến Tre nói chung sẽ là điểm đến hấp dẫn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Làng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịchLàng nghề dệt chiếu An Hiệp - Châu Thành một sản phẩm du lịch
Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) An Hiệp được hình thành từ những năm 1950, trải qua mấy mươi năm phát triển với biết bao thăng trầm, nghề dệt chiếu truyền thống vẫn không bị mai một theo thời gian mà vẫn được bảo tồn và phát triển, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Sức sống ở làng nghề dệt chiếu truyền thống

Làng nghề dệt chiếu An Hiệp với đa dạng các sản phẩm chiếu khác nhau nhưng mặt hàng chủ lực là chiếu cói, sau này có thêm chiếu lục bình; không chỉ sản xuất các mặt hàng chiếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, xuất khẩu mà còn là nơi sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp khác, đa dạng về nguyên liệu, phong phú về sản phẩm. Lực lượng lao động ở làng nghề không ngừng tăng lên, với hơn 50 hộ ban đầu nay đã có trên 200 hộ tham gia dệt chiếu và gần 400 hộ tham gia các mặt hàng khác, có trên 1.000 lao động. Mỗi năm, làng nghề An Hiệp sản xuất trên hàng chục ngàn m2 chiếu, hàng trăm tấn chỉ xơ dừa và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khá

 

Du khách trải nghiệm dệt chiếu tại làng nghề dệt chiếu An Hiệp

Theo chân đoàn làm phim phóng sự làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại Bến Tre, tôi có dịp về lại xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bây giờ, vùng đất An Hiệp đã hoàn toàn mới với những con đường tận trong các thôn ấp đã được trải bê tông phẳng phiu, những hàng dừa tỏa bóng mát dọc hai bên đường, những khu vườn với đủ các loại trái cây như: Bưởi da xanh, cam, quýt, cacao,… xanh mướt, điều kiện giao thông nông thôn của người dân ở đây đã thuận lợi hơn trước rất nhiều, kinh tế- xã hội xã nhà ngày càng phát triển. Được biết, chính quyền địa phương và nhân dân xã An Hiệp đang chung tay phấn đấu hoàn thành các tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới để góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, đưa kinh tế xã An Hiệp phát triển một cách bền vững.

Theo con đường làng quanh co nông thôn, chúng tôi tìm gặp cô Nguyễn Thị Khánh, người đã gắn bó với nghề dệt chiếu từ rất lâu. Cô cho biết: "Năm nay tôi đã được 55 tuổi và gắn bó với nghề dệt chiếu truyền thống ở An Hiệp hơn 20 năm, lúc đầu gia đình chỉ có vợ chồng tôi làm chiếu, cuộc sống cũng gặp rất nhiều khó khăn, sản phẩm làm ra chỉ bỏ mối cho một vài cơ sở nhỏ lẻ, nhưng gia đình tôi quyết gắn bó với nghề chiếu, vì đây là nghề truyền thống, nên tôi quyết tâm giữ các nghề, cái nghiệp là vậy"; cô cho biết nguyên liệu chính để dệt chiếu là lát, ngoài ra còn sử dụng lục bình để dệt chiếu. Cô Khánh cho biết thêm: "Muốn làm nên một sản phẩm chiếu cói đẹp thì phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu như lựa lát, lục bình đem đi phơi khô rồi mới dệt; dệt xong thì chuyển sang khâu may biên, đem đi phơi nắng, tẩy trắng, chống mốc, sơn bóng rồi đóng gói, xuất hàng đi.

Ở làng nghề dệt chiếu, từ người già đến trẻ con ai cũng biết dệt chiếu; những em học sinh, sinh viên ở đây vào những ngày nghỉ hè, các em cũng tập tành dệt chiếu nhằm giữ gìn và bảo tồn cái nghiệp mà các thế hệ đi trước đã để lại. Em Nguyễn Khánh Thuy- học sinh lớp 10 cho biết: "Cả nhà em ai cũng dệt chiếu, ngoài giờ học trên lớp, về nhà em phụ cha mẹ dệt chiếu để bán cho các cơ sở, phụ giúp gia đình kiếm tiền để trang trải cuộc sống và đóng học phí cho em, nhờ nghề dệt chiếu này mà cuộc sống của gia đình em đã khá hơn trước rất nhiều".

Nhiều điều kiện để phát triển du lịch

Hiện nay, du lịch Bến Tre đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, du khách ngày càng biết đến Bến Tre nhiều hơn. Đặc biệt, loại hình du lịch làng nghề đang được ưu tiên phát triển tại Bến Tre. Sở Công Thương tỉnh cũng đã tập trung hỗ trợ đầu tư về khuyến công, hạ tầng, xúc tiến thương mại, mở nhiều lớp tập huấn đào tạo nghề, kỹ năng quản lý, kiến thức hội nhập, kỹ thuật an toàn cho người dân ở các làng nghề. Ở Bến Tre, việc phát triển các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn từ lâu đã được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp-nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, đây cũng là một trong những mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới đặt ra. Vì vậy, việc ổn định và phát triển làng nghề dệt chiếu An Hiệp- Châu Thành không những góp phần xây dựng nông thôn mới mà còn có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương cùng với việc gắn liền với vùng du lịch sông nước 8 xã ven sông Tiền. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để An Hiệp vực dậy ngành kinh tế du lịch địa phương.

161014_112.jpg 

Người nông dân cần mẫn gắn bó với nghề dệt chiếu

Nếu làng nghề dệt chiếu An Hiệp được hỗ trợ vốn để các hộ sản xuất đều được đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các công đoạn dệt chiếu, nâng cao hiệu suất sản phẩm, tiết kiệm thời gian, mẫu mã tạo ra ngày càng tinh xảo hơn được nhiều du khách yêu thích, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì kinh tế- xã hội của xã An Hiệp nói chung, kinh tế gia đình của các cơ sở dệt chiếu ở đây cũng được nâng cao vươn lên làm giàu một cách bền vững. Ngoài ra, các cấp các ngành quản lý, các Hiệp hội làng nghề, các nhà đầu tư cũng cần hỗ trợ, quan tâm hơn đến các làng nghề trên địa bàn tỉnh, nhất là những nghề truyền thống để không mai một góp phần xây dựng các làng nghề là điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về du lịch sinh thái miền sông nước Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế mạnh lữ hành Bến Tre và Cụm Du lịch năm tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu LongThế mạnh lữ hành Bến Tre và Cụm Du lịch năm tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu Long
Năm tỉnh du lịch liên kết phía đông ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh giữa 2 sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và Trà Nóc (Thành phố Cần Thơ); nằm gọn trong 6 nhánh sông đổ ra biển Đông thông qua Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên thuộc sông Tiền và cửa Cung Hầu sông Hậu của dòng sông Mêkông và nơi có thể xem là vùng đất đa dạng sinh học (gồm sinh thái mặn, lợ và ngọt), có nhiều đồng lúa bát ngát, vườn cây trái sum sê, khí hậu ấm áp với hai mùa mưa, nắng cùng cảnh quang thơ mộng và người dân rất hiền hòa, mến khách.

Năm tỉnh du lịch liên kết phía đông ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh giữa 2 sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và Trà Nóc (Thành phố Cần Thơ); nằm gọn trong 6 nhánh sông đổ ra biển Đông thông qua Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên thuộc sông Tiền và cửa Cung Hầu sông Hậu của dòng sông Mêkông và nơi có thể xem là vùng đất đa dạng sinh học (gồm sinh thái mặn, lợ và ngọt), có nhiều đồng lúa bát ngát, vườn cây trái sum sê, khí hậu ấm áp với hai mùa mưa, nắng cùng cảnh quang thơ mộng và người dân rất hiền hòa, mến khách.

Tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa vùng miền

Tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng nhất của đồng bằng sông Cửu Long là sông nước, miệt vườn gắn với hệ thống kênh rạch chằng chịt, các cồn, cù lao, miệt vườn, đồng ruộng và vườn cây ăn trái. Đây có thể coi là tài nguyên du lịch đặc thù nhất của vùng. Tiêu biểu là: cồn Phụng, cồn Ốc, cồn Quy (Bến Tre), cồn Thới Sơn (Tiền Giang) hay cù lao Bình Hòa Phước (Long Hồ, Vĩnh Long)…; chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang; ruộng lúa nước của người Khmer - Trà Vinh; lúa trời còn gọi là lúa ma ở Đồng Tháp Mười… đã và đang được khai thác phục vụ du lịch tương đối hiệu quả. Không chỉ có sông nước, miệt vườn, ĐBSCL còn có hệ sinh thái tự nhiên tương đối đa dạng và đặc sắc như khu bảo tồn tự nhiên Làng Sen - Long An, Sân chim Vàm Hồ - Ba Tri, rừng ngập mặn Thạnh Phú - Bến Tre … Đây còn là một trong những vựa cá nước ngọt cũng như phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản lớn tại khu vực Nam Bộ.

 

Sông nước Bến Tre Quê Tôi

Văn hóa truyền thống của người dân, nét sinh hoạt, sản xuất thích hợp với các điều kiện tự nhiên của vùng được xác định là giá trị tài nguyên du lịch nhân văn cốt lõi của vùng. Đồng bằng sông Cửu Long còn nổi tiếng là một vùng đất anh hùng trong suốt chiều dài lịch sử với nhiều địa danh, chiến địa nổi tiếng như: phong trào Đồng Khởi - Bến Tre, Di tích lịch sử đầu cầu tiếp nhận vũ khí của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển - Bến Tre, Trà Vinh và các tỉnh ven biển đến tận Cà Mau; Chiến thắng Ấp Bắc, chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút - Tiền Giang; Chiến thắng tại Vàm Nhật Tảo của Nguyễn Trung Trực (Long An) … Bên cạnh đó, nhiều khu lưu niệm, đền thờ được xây dựng để tôn vinh sự nghiệp và ghi nhớ công lao của các vị anh hùng như: Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định - Bến Tre, khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Hùng, khu lưu niệm Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Vĩnh Long … Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống chùa chiền và đền miếu tương đối phong phú, đặc sắc. Tiêu biểu là: Văn Thánh Miếu - Vĩnh Long, chùa Vĩnh Tràng - Tiền Giang, chùa Tôn Thạnh - Long An, chùa Âng - Ao Bà Ôm và trên 100 ngôi chùa Khmer khác đã thể hiện nét văn hóa của Dân tộc Khmer tại Trà Vinh hay chùa Hội Tôn Châu Thành - Bến Tre, làng cổ Đông Hòa Hiệp - Tiền Giang… Vùng đồng bằng sông Cửu Long này là nơi có nhiều hoạt động lễ hội trong năm. Tùy vào nội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch sử, lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội dân gian của khu vực. Các lễ hội đặc sắc như: Oóc-om-bóc (toàn bộ người dân Khmer), lễ hội nghinh Ông tại các tỉnh ven biển, Lễ hội trái cây ngon an toàn - Bến Tre… Đối với phát triển du lịch, ca múa nhạc dân tộc cũng là một loại hình sản phẩm du lịch đang được chú ý phát triển. Tiêu biểu là đờn ca tài tử Nam Bộ, vọng cổ, cải lương, hò đối đáp trên sông nước Cửu Long…

Ẩm thực khu vực cụm 5 tỉnh phía Đông đồng bằng sông Cửu Long khá phong phú, nét đặc sắc của "ẩm thực khẩn hoang" gắn với những nguyên liệu hết sức đơn giản, dân dã, tự nhiên. Ẩm thực khẩn hoang của miền Tây có thể được coi là đóng góp hết sức có giá trị của đồng bằng sông Cửu Long cho văn hóa ẩm thực và du lịch Việt Nam.

161007_102.jpg 

Du khách thưởng thức trái cây và bưởi da xanh Bến Tre

Làng nghề tiểu thủ công được coi là nghề phụ để cải thiện thu nhập. Các làng nghề của vùng là nguồn cung cấp các sản vật địa phương, quà lưu niệm đồng thời là những tài nguyên du lịch quan trọng, điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách như Bến Tre có kẹo dừa, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ làm ra từ cây dừa, chỉ xơ dừa, hoa kiểng - cây giống hay bánh phồng - bánh tráng; Vĩnh Long có nghề làm gốm, tàu hủ ky …

Các tuyến du lịch tiềm năng

Hiện nay, các tỉnh liên kết đang khảo sát các điểm đến và tiềm năng du lịch của từng địa phương, chọn sản phẩm du lịch hấp dẫn nằm trên các tuyến, trục du lịch của từng tỉnh để tạo tuyến liên kết du lịch 5 tỉnh phía đông ĐBSCL. Lấy du lịch sông nước miệt vườn, tham quan làng nghề truyền thống, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng ngập nước và di tích lịch sử làm chủ đạo. Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của cụm hợp lý về không gian, thời gian, điều kiện tiếp cận. 

161007_103.jpg 

Du khách Úc trãi nghiệm tát mương, bắt cá

Cụ thể là thiết kế chương trình tour 5 ngày/4 đêm liên kết toàn tuyến 5 tỉnh gồm: Long An với Khu du lịch Happy Land, nhà cổ Phước Lộc Thọ; Tiền Giang thăm Chợ nổi Cái Bè, làng cổ Đông Hòa Hiệp, Chùa Vĩnh Tràng, trại rắn Đồng Tâm; Bến Tre trải nghiệm sông nước sinh thái xứ dừa, hoa kiểng cây giống Cái Mơn, làng nghề thủ công mỹ nghệ từ dừa; Trà vinh nghiên cứu Văn hóa dân tộc và hệ thống chùa Khmer; Vĩnh Long viếng các di tích lịch sử cách mạng, làng nghề, sông nước sinh thái, homestay.

Ngoài ra, các tours 3 ngày - 2 đêm nối 2 hoặc 3 tỉnh theo nhóm với nhau để tạo ra nhiều lựa chọn cho các hãng lữ hành của các thị trường trọng tâm và du khách như:

  • TP. Hồ Chí Minh - Long An - Tiền Giang - Bến Tre - Vĩnh Long;

  • TP. Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh;

  • Cần Thơ - Vĩnh Long - Bến Tre - Tiền Giang…
    Bên cạnh đó, tiềm năng tổ chức hệ thống tuyến đường sông có thể khai thác phát triển thành các tuyến du lịch đường thủy hấp dẫn như các tuyến dọc sông Tiền, sông Hậu, kết nối Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ với An Giang và Campuchia.
    Tiềm năng du lịch cụm du lịch duyên hải 5 tỉnh phía Đông ĐBSCL là rất lớn và khả năng còn phát triển đa dạng, phong phú hơn. Các cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị kinh doanh du lịch của 5 tỉnh cần tiếp tục quy hoạch, liên kết và phát triển để tạo nhiều sản phẩm khác biệt để thu hút khách; từng bước đầu tư và củng cố hệ thống cơ sở vật chất; nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách để phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của Cụm du lịch duyên hải phía Đông đồng bằng sông Cửu Long này.


    Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng TrômĐình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng Trôm
Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Tuyến du lịch TP. Bến Tre - Giồng Trôm - Ba Tri là tuyến có nhiều làng nghề như Bánh tráng Mỹ Lồng - bánh phồng Sơn Đốc, làng nghề rượu Phú Lễ tại xã Phú Lễ, làng nghề đan đát tại Phước Tuy; bên cạnh đó có nhiều danh lam thắng cảnh và những di tích cấp quốc gia cùng các công trình nghệ thuật như: Di tích Lãnh binh (Nguyễn Ngọc Thăng), di tích nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, di tích Võ Trường Toản, Nhà lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định, đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống, ngoài ra còn nhiều khu mộ của các bật danh nhân như cụ Phan Thanh Giản, cụ Phan Văn Trị và nhiều di tích cấp quốc gia khác; đặc biệt đình Bình Hòa là di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc cũng nằm trên tuyến tham quan nầy.

 

Nghệ thuật chạm trỗ của Đình Bình Hòa

Ngày 30/7/2012 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm tổ chức lễ khởi công công trình trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa; sau 01 năm thi công, đến nay đã hoàn tất, đảm bảo chất lượng, tiến độ và cơ bản giữ được đường nét kiến trúc xưa, bảo tồn tối đa yếu tố gốc của di tích. Đây là di tích lịch sử, văn hóa, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07/01/1993. Di tích đình nằm cạnh đường tỉnh 885, địa phận thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Từ Tp. Bến Tre, du khách đi đến địa phận Giồng Trôm 05 km (cầu Chẹt Sậy) là đến làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, đi tiếp theo 02 km là đến đền thờ tưởng niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định, rời khu tưởng niệm cách 07 km theo hướng đi Ba Tri là đến đình Bình Hòa; đình có qui mô toàn khu là 9.000m2 (trong đó diện tích xây dựng là 1.760m2), bao gồm các hạng mục: nhà võ ca, nhà hương, nhà chính, nhà tiền sảnh, hành lang, hậu đường, miếu Quan Thánh, tường rào và sân đường nội bộ tổng mức đầu tư là 20,1 tỷ đồng; trong đó chi phí xây dựng tôn tạo các hạng mục là: 14,09 tỷ đồng.

Đình Bình Hòa có tuổi thọ đến nay đã trên 100 năm, nguyên thủy được xây dựng vào năm 1831 bằng nguyên vật liệu xây dựng đơn sơ như: cây, lá. Đến năm 1903 ngôi đình được các cụ trong ban khánh tiết đứng ra tổ chức, vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của để xây dựng lại theo kiểu cách qui mô, đồ sộ hơn, lúc này Đình được dời sang vị trí hiện nay. Các bô lão trong làng kể lại rằng ngôi đình từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành phải mất trên 10 năm (1903 - 1913). Đó là kết quả lao động rất công phu, cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân bậc thầy từ miền ngoài vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao đã làm ròng rã suốt một thập niên.

 

Quang cảnh chung của Đình Bình Hòa

Đến nay công trình trùng tu, tôn tạo di tích Kiến trúc Nghệ thuật đình Bình Hòa đã hoàn thành, qua đó đã lưu giữ những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của dân tộc, của các thế hệ ông cha để lại, những kiến trúc nghệ thuật ấy thể hiện trên những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo, tinh xảo, hoa mỹ, đậm đà sắc thái truyền thống dân tộc của những người thợ thủ công tài hoa. Nổi bật là ở nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian cổ truyền rất công phu, có nhiều điểm hết sức lý thú, hấp dẫn. Càng nhìn về giá trị nghệ thuật chạm trổ, chúng ta càng quý trọng sự lao động cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân trước đây. Toàn bộ tác phẩm điêu khắc, chạm trổ mỹ thuật ở đình Bình Hòa là một di sản văn hóa quí báu, góp phần to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm du lịch cho du khách thập phương đến chiêm ngưỡng.

Đây là một di sản văn hóa và cũng là sản phẩm du lịch góp phần cho du lịch huyện Giồng Trôm nói riêng và cho du lịch tỉnh Bến Tre nói chung sẽ phát triển được loại hình du lịch sinh thái, kết hợp du lịch làng nghề, du lịch về nguồn và du lịch tâm linh,… hy vọng trong thời gian tới, huyện Giồng Trôm sẽ tập trung từ huyện đến xã, từ chính quyền đến tận người dân với quyết tâm cao, tạo nhiều sản phẩm du lịch, nhiều dịch vụ phục vụ khách du lịch nhằm đưa ngành du lịch huyện nhà phát triển ngang tầm xu thế phát triển chung của tỉnh để góp phần trong việc phát triển kinh tế địa phương mà ngành du lịch là ngành công nghiệp không khói sẽ trở thành mũi nhọn đến năm 2020.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Lý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến TreLý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến Tre
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành  phố Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận rằng, hệ thống các khách sạn nằm bên bờ sông Bến Tre hiền hòa, thơ mộng và trên con đường Hùng Vương này thật lý tưởng. Lướt qua hệ thống khách sạn khá tiêu biểu nằm bên hai bờ sông Bến Tre trên đường Hùng Vương, để du khách có thể chọn lựa khi đến lưu trú tại xứ dừa Bến Tre như:

Khách sạn Việt Úc: Số 144, Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại (075) 3511888. Nằm ở vị trí vô cùng lý tưởng và tuyệt đẹp ngay cạnh Trung tâm chợ Phường 3, gần trung tâm thương mại phường 2 và khu mua sắm chợ đêm, bên cạnh Bảo tàng tỉnh Bến Tre…, nên rất thuận lợi trong việc tham quan, mua sắm. Khách sạn mới được xây dựng tương đương chuẩn 3 sao, với 74 phòng tiện nghi theo phong cách châu Âu gồm các loại phòng: cao cấp (superior), sang trọng (deluxe), phòng đáp ứng nhu cầu (suite) và phòng thấp hơn (Junior) nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu lưu trú của khách. Khách sạn Việt Úc sẽ chính thức khai trương và đưa vào hoạt động vào ngày 15/6/2012. Những tầng trên của khách sạn, từ những phòng nghỉ, du khách có thể vừa ngắm nhìn sông Bến Tre, vừa có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Bến Tre. Trong khách sạn còn có 02 nhà hàng, món ăn phục vụ theo phong cách Nam Bộ lẫn Âu và Á. Phòng hội nghị sang trọng với sức chứa lên đến 700 khách. Ngoài ra, còn có các dịch vụ khác như: Cà phê VIP với các đêm nhạc đặc sắc diễn ra hàng tuần, quầy bar ngoài trời (sunny bar) với các loại cocktail mang đặc trưng thương hiệu Việt Úc, mới lạ với karaoke mang phong cách Ả Rập, thư giãn chăm sóc sức khỏe với dịch vụ spa, massage, bồn tắm trị liệu, …

Khách sạn Hùng Vương: Số 148 – 166, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3822408. Là khách sạn ra đời tương đối sớm tại thành phố Bến Tre, đến nay vẫn là một trong những địa chỉ quen thuộc cho nhiều du khách khi về Bến Tre lưu trú. Với trên 38 phòng, đầy đủ các thiết bị thiết yếu, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, thân thiện. Nằm tại vị trí thuận lợi cạnh bên là Bảo Tàng tỉnh. Tại ngôi nhà Bảo Tàng từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Trước khách sạn là bến du thuyền để du khách có thể chọn lựa đến các điểm đến du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre.

Khách sạn Hàm Luông: Số 200C, Hùng Vương, Phường 5, thành phố Bến Tre; điện thoại: (0753) 3 560 560. Đây là khách sạn đầu tiên của Bến Tre đạt chuẩn 3 sao, ngoài dịch vụ phòng Hàm Luông còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác cho khách đến đây lưu trú như: dịch vụ massage, karaoke, hồ bơi, … Đặt biệt, vào buổi sáng du khách có thể thưởng thức điểm tâm buffet với nhiều món ăn phong phú. Đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp. Khách sạn Hàm Luông có trên 66 phòng, với các loại phòng:  phòng chuẩn (standand), cao cấp (superior), deluxe (sang trọng) và nhiều phòng đáp ứng nhu cầu (suite)…, nên du khách sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra tầng 5 của khách sạn còn có quầy café sân thượng, không khí mát mẻ, truy cập được wifi, đặc biệt hơn du khách có thể vừa thưởng thức được các loại thức uống vừa có thể ngắm toàn cảnh sông Bến Tre.

Khách sạn Đại An: Số D7, Hùng Vương, phường 7, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3512050. Đại An là khách sạn đạt chuẩn 1 sao, hệ thống phòng được thiết kế trang nhã, giá cả hợp lý, nên phù hợp với mọi đối tượng khách, bên cạnh đó du khách đến đây còn có thể thư giãn và ngắm cảnh sông Bến Tre tại quầy café phía trước khách sạn.

Khách sạn Oasis: Địa chỉ số 151C, Mỹ An C, Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 2467799. Khách sạn Oasis nằm bên phía bờ nam sông Bến Tre, đạt chuẩn 1 sao và theo tâm sự của người quản lý khách sạn sẽ luôn đi đầu với tiêu chí “Ốc đảo hòa bình và thư giãn”, không gian nơi đây rất thoáng mát, vừa mang dáng vấp thành thị và nông thôn. Tất cả các phòng đều được trang bị đầy đủ tiện nghi, an toàn với hệ thống máy nước nóng sử dụng bằng năng lượng mặt trời, hồ bơi…. Khách sạn còn tổ chức phục vụ bữa ăn theo yêu cầu của khách. Các loại phòng gồm có: phòng đơn, phòng đôi, phòng dành cho gia đình.

Phải nhìn nhận rằng, lợi thế của các khách sạn ven sông Bến Tre lấy yếu tố hướng ra sông làm chủ đạo, nên rất tuyệt. Đến Bến Tre nếu chọn lưu trú tại các khách sạn ven sông, sẽ thuận tiện và được chiêm ngưỡng “Tượng đài Chiến thắng trên sông” được xây dựng tại công viên Hùng Vương, nhằm tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”. Hay thả bộ, ngắm cảnh con đường Hùng Vương nối dài đến tận Bến phà Hàm Luông cũ. Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, để được hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, để rồi mọi người sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Ở vị thế này, về đêm du khách có thể chọn ngắm cảnh ở cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, là hai cây cầu đẹp nằm trên đường Hùng Vương. Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông hay ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa, kết hợp với mỹ quan của đô thị thành phố Bến Tre; những ánh đèn đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông và xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông…,  tất cả cùng đan xen tỏa sắc màu ánh sáng dạ trên mặt sông và du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp thơ mộng, hiền hòa, yên ả, thanh bình của thành phố Bến Tre. Thú vị nhất là thỉnh thoảng làn gió nhè nhẹ thoảng qua, làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quí khách. Những hình ảnh thân thương đáng yêu ấy cùng hòa quyện vào nhau, tạo nên những hình ảnh đẹp làm xao động lòng người, để rồi mọi người nhớ mãi đến sông nước xứ dừa du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

 

Nhà khách Bến Tre

Ngoài hệ thống các khách sạn ven sông Bến Tre, còn rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ tiêu biểu khác cũng rất lý tưởng ở trung tâm và vùng ven thành phố Bến Tre, để du khách có thể chọn làm điểm nghỉ qua đêm như: Nhà khách Bến Tre nằm tại nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi trên đường  Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, hay Khách sạn Đồng Khởi (nằm bên bờ hồ Trúc Giang); Khách sạn Bến Tre nằm đối diện công viên Tượng đài Đồng Khởi; Khách sạn sân vườn Sao Mai (đạt chuẩn 1 sao) tại số 106C, Bình Thành, Bình Phú, thành phố Bến Tre; Khách sạn Hoa Dừa số 323/1, ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre, phía sau Trung tâm bến xe Bến Tre ….  Những cơ sở lưu trú này có nhiều loại phòng nghỉ và đầy đủ tiện nghi, có dịch vụ ăn, uống, quà lưu niệm, đặc sản xứ dừa.…, và cũng rất thuận tiện cho du khách đón các tuyến xe buýt đến các điểm du lịch tại ở các huyện của tỉnh Bến Tre. Và còn nhiều cơ sở lưu trú khác cũng nằm ở vị trí trung tâm và ngoại ô thành phố Bến Tre rất đẹp, thuận lợi, đảm bảo an toàn cho du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sân khấuSân khấu
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...

​Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa... Căn cứ vào nội dung và giá trị nghệ thuật, ở đây chỉ giới thiệu 4 thể loại dân ca tiêu biểu của tỉnh

  •  
  • nói thơ Vân Tiên
  • hát sắc bùa..

Phát triển trên vùng đất 3 cù lao nằm giữa các nhành sông Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, hò Bến Tre hình thành theo hai hệ thống: hò trên sông nước và hò trên cạn. Cũng như vôn văn nghệ dân gian nói chung, hò Bến Tre có cội nguồn từ miền đất cũ do những thế hệ lưu dân người Việt mang theo cùng với hành trang khác của mình trên đường di chuyển để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn về phương Nam.

Hò trên sống nước gồm có:

  • Hò chèo thuyền (chèo ghe)
  • Hò mái đoản (mái cụt)
  • Hò mái trường (mái dài)

Hò trên cạn gồm có

  • Hò cúng chùa
  • Hò bản đờn
  • Hò lờ
  • Hò cấy lúa
  • Hò đối đáp.

Dù hò trên sông hay hò trên cạn, tiếng hò Bến Tre, do những điều kiện làm ăn sinh sống và do khung cảnh thiên nhiên qui định, nên có phần thanh nhàn và ung dung hơn so với hò miền Trung hay miền Bắc với tiết tấu khỏe, gấp rút, vội vàng. Là một loại hình nghệ thuật dân gian, hò Bến Tre cũng có lề lối diễn xướng riêng. Hò trong lao động, hò giải trí trong lúc nghỉ ngơi, hò trong lễ hội, hò để đua tài cao thấp, hò trong môi trường vui chơi mỗi độ xuân về.

Hò cấy thường diễn ra ngay trên đồng ruộng, có thể kéo dài từ sáng cho đến chiều tối. Các nhóm hò, có kẻ xướng người xô, vừa lao động, vừa trổ tài đối đáp. Xưa kia, mỗi vạn cấy thường tập trung từ 20 đến 30 người, đứng đầu là một anh "trùm vạn" - người làm trung gian giữa chủ ruộng và thợ cấy. Những thợ cấy hò giỏi, hò hay thường được mọi người trọng vọng, công xá bao giờ cũng được nhận phần cao hơn so với các người khác trong vạn.

Hò cấy được phân bố hầu như khắp địa bàn trong tỉnh, nhưng phổ biến nhất là ở miệt ruộng của huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại.

Ở Thạnh Phú cũng thịnh hành hò chèo thuyền, Bình Đại có hò lờ, hò cúng chùa, hò bản đờn. Dọc theo sông Hàm Luông, ven vàm Tân Hương lại rất phổ biến hò mái đoản, hò mái trường, hò chèo ghe (chèo thuyền).

Trong dân gian, thuật ngữ hò rơi dùng để chỉ trường hợp hò lẻ một mình, chẳng có ai bắt, ai luận, ai gài, ai gỡ, dù có một hoặc nhiều người hò cũng vậy. Trong khi đó, hò kết lại có người bỏ, người bắt, người luận, người gài, người bẻ, tức là có đối có đáp.

Hò mép (hoặc hò bắt quàng) là loại hò ngẫu hứng, đòi hỏi nghệ nhân phải có trình độ nhạy cảm và có năng lực đối đáp ngay lúc biểu diễn trước cảnh và tình xung quanh.

Hò văn, hò thơ, hò truyện đòi hỏi người hò phải am hiểu chữ nghĩa, sử dụng thành thạo các thành ngữ, tục ngữ, nhất là những thành ngữ Hán Việt, phải thuộc nhiều thơ Nôm, thơ lục bát, nhất là các truyện thơ (Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Phạm Công – Cúc Hoa), biết nhiều điển tích trong các truyện Tàu như Tam quốc, Tây du, Đông Chu liệt quốc, Thủy hử.

Hò quốc sự ra đời muộn màng hơn so với các loại hò trên, cùng lúc với các phong trào đấu tranh chống xâm lược, giải phóng đất nước.

Hò đối đáp vốn là một loại hình dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước, có lề lối sinh hoạt nghệ thuật giống nhau, đồng thời ở mỗi vùng lại có những tục lệ riêng. Hò đối đáp Bến Tre trải qua 3 giai đoạn diễn xướng. Mở đầu là hò rao, hò mời, hò hỏi thăm. Lời hò ở giai đoạn này chủ yếu là để tìm hiểu đối phương, cho nên thường khiêm nhường, từ tốn, lịch sự. Giai đoạn hai - phần chính của cuộc hò – là lúc thi tài cao thấp, phân định thắng bại, cho nên sôi nổi, căng thẳng, hồi hộp, gay cấn, nhưng cũng là giai đoạn lý thú và hào hứng nhất. Giai đoạn thứ ba mang tính chất kết thúc với những lời hò giã từ, tiễn đưa, hò hẹn, tạm biệt, có khi là sự luyến tiếc, vương vấn, buồn thương, cảm phục...

Chú thích
(1) Những tài liệu trong phần Dân ca này chủ yếu dựa vào công trình nghiên cứu Dân ca Bến Tre của Lư Nhất Vũ và Lư Giang, Ty Văn Hoá - Thông tin Bến Tre, 1981 và một số bản tham luận khoa học đã được đăng trên báo chí của tỉnh.

Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành
Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.

Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy. Ngày 8-4-1975, từ căn cứ không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích. Khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè. Ngày 16-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc máy bay A37 lấy được của địch, tập huấn cho phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng lực lượng không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A37, máy bay F5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng; đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A37 và trung đoàn tiêm kích F5 - trung đoàn duy nhất của không quân Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

Ngày 20-12-1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Hữu NghiệpTrần Hữu Nghiệp

<br />

Image
Trần Hữu Nghiệp
 Sinh ngày 15-3-1911 tại xã Tân Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Trần Hữu Nghiệp thuở nhỏ học tại Trường tiểu học Bến Tre, sau lên học tại Trường trung học Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Năm 1931, sau khi đỗ Tú tài, ông sang Pháp, thi vào học ngành y. Năm 1937, tốt nghiệp bác sĩ y khoa ở Paris.

   Khi Pháp đánh chiếm Nam Bộ, ông tham gia kháng chiến ngay từ ngày đầu và từ đó bắt đầu cuộc đời hoạt động trong ngành y tế cách mạng cho đến ngày nghỉ hưu (1979).

  Tháng 3-1946, trong lúc đang phụ trách công tác cứu thương ở mặt trận cù lao An Hóa (lúc này còn thuộc tỉnh Mỹ Tho), ông được gọi về tham gia phái đoàn của các tỉnh miền Trung Nam Bộ cùng với Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định ra Hà Nội gặp Trung ương, để báo cáo tình hình và xin chi viện vũ khí cho Nam Bộ. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (20-12-1946), ông phụ trách công tác thanh tra quân y thuộc Cục quân y ở liên khu 4 một thời gian, sau đó xin về lại Nam Bộ.

   Tháng 7-1947, ông cùng với bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng (từ Sài Gòn mới ra chiến khu) bắt tay xây dựng ngành dân y, đào tạo cán bộ quản lý và nhân viên y tế và được cử làm Phó giám đốc Sở Y tế phụ trách miền Trung Nam Bộ. Ông đã đào tạo nhiều lớp y tá, cứu thương, hộ sinh cho các tỉnh Vĩnh Trà, Bến Tre, Sa Đéc và làm nhiệm vụ bác sĩ điều trị ở Quân y viện II (thuộc khu 8).

   Đến khi có chủ trương chia chiến trường Nam Bộ thành phân liên khu miền Đông và phân liên khu miền Tây (8-1951), ông được điều về miền Tây Nam Bộ, phụ trách đào tạo cán bộ y sĩ cho ngành.

   Tập kết ra Bắc, năm 1955, được cử làm Trưởng ban Huấn luyện Bộ Y tế, và ủy viên Ban biên tập tạp chí Y học thực hành. Năm 1956, được cử làm Hiệu trưởng Trường Cán bộ y tế trung ương, đến năm 1964, thì chuyển sang làm Phó chủ nhiệm khoa Nội, bệnh viện Bạch Mai và là ủy viên cố vấn Bộ Y tế từ năm 1958 đến năm 1965.

   Năm 1965, mặc dù đã cao tuổi, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp lại tình nguyện xin trở lại chiến trường Nam Bộ, góp phần "chia lửa" cùng với đồng bào, đồng chí ở quê hương, cũng như lần thứ nhất vào năm 1947, ông từ miền Bắc, đang công tác tại Cục Quân y, xin trở về chiến khu Đồng Tháp Mười, trực tiếp tham gia kháng Pháp. Trở về Nam, ông được phân công làm bác sĩ điều trị tại một số bệnh viện ở R, làm Hiệu trưởng Trường đào tạo Cán bộ y tế, bổ túc từ trung cấp lên cao cấp. Khi Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông là cố vấn Bộ Y tế.

   Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông tham gia giảng dạy bộ môn tâm lý y học và y đức học ở Trường Kỹ thuật Y tế và Trường Quản lý ngành y tế ở phía Nam cho đến khi về nghỉ hưu (1979).

   Là một bác sĩ y khoa, Trần Hữu Nghiệp còn tham gia viết sách. Quyển sách đầu tiên là một tập ký nhan đề Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc, với bút hiệu Hằng Ngôn, gồm 20 bài ghi chép những điều tai nghe mắt thấy về uy tín của lãnh tụ và mối quan hệ gắn bó giữa lãnh tụ và quần chúng nhân dân trong chuyến đi từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam năm 1946-1947 của ông. Sách được Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh Bến Tre xuất bản năm 1949. Ngoài những tập sách truyền bá kiến thức y học như Chữa bệnh cho con khi xa thầy thuốc (Nxb Y học giải phóng, 1975), Chủ động bảo vệ hạnh phúc gia đình (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1978), Nói chuyện với người uống rượu (Nxb TP. Hồ Chí MInh, 1981), Nói chuyện với người hút thuốc (Nxb TP. Hồ Chí MInh, 1983), ông còn có tập ghi chép Binh chủng đặc biệt của đội quân tóc dài (Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, 1990) và Lịch sử phụ nữ ngành y tế miền Nam trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1991).

   Năm 1988, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân.

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Cây cauCây cau
Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.
Image

Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.

Những con số thống kê qua Địa bạ Minh Mạng (1836), cho biết Bến Tre có diện tích đất trồng cau khá lớn. Cau ở Giồng Trôm, Châu Thành từng nổi tiếng – "Xẻo Sâu cau tốt ai bì" (ca dao). Xẻo Sâu nay thuộc xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm.

Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, mức tiêu thụ cau (cả khô và tươi) trên thị trường giảm đi gần như tuyệt đối, do đó phần lớn những vườn cau của Bến Tre được thay bằng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Dáng cây cau thon, thẳng, đẹp, hoa cau có mùi thơm thoang thoảng vừa dân dã vừa thanh cao, đã tạo nên nét đặc trưng riêng của quê hương.

Đã ban hành
Cát bùn và diễn biến các dòng sôngCát bùn và diễn biến các dòng sông
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.

Kích thước các con sông và sự diễn biến lòng sông

Xem xét kích thước con sông người ta có thể xác định điều kiện ổn định động lực của nó, có thể giải thích các nguyên nhân phá vỡ cân bằng động lực, có thể dự đoán sự phát triển tương lai của dòng sông.

Các sông tỉnh Bến Tre, nhìn chung phân bố theo hình nan quạt và tương đối phẳng, có độ rộng tăng dần và độ sâu giảm dần về phía biển và có hiện tượng bồi lắng tăng dần từ nội địa ra biển.

Diễn biến – xâm thực các vùng cửa sông

Sự diễn biến lòng sông diễn ra khá phức tạp. Tình trạng xói lở bờ cũ, hình thành bờ mới, tách ra, nhập vào của các cồn bãi trên sông diễn ra thường xuyên, liên tục. Qua khảo sát thực tế năm 1996, vùng cửa sông Cửa Đại có độ sâu thay đổi từ 5 – 9 m. Đáy sông thuộc phía Bến Tre thường là nông, độ sâu trung bình từ 5 – 6 m; trong khi phí Tiền Giang, độ sâu từ 8 – 9 m. Một dải bồi tụ giữa sông nối tiếp cồn Bà Nở kéo dài tới 4 km và lệch về phía Bến Tre, làm lệch dòng chảy và gây xâm thực bờ sông phía Bến Đình. Đoạn từ Bình Thới đến Thừa Mỹ bị xâm thực mạnh. Bến Đình (1,75 km), tây bắc rạch Bà Khoai (0,5 km), tây bắc rạch Thừa Mỹ (1,5 km), vách xâm thực cao trung bình từ 1 – 1,5 m. Về phía biển, quá trình bồi tụ diễn ra rất mạnh. Một dải bồi tụ kéo dài từ rạch Thừa Mỹ đến cồn Tàu.

Cửa Hàm Luông có đáy sông nông hơn cửa Đại, trung bình từ 6 – 7 m, theo kiểu lòng máng cong đều, rãnh sâu lệch về phía bờ nam (8 – 10 m). Từ giồng Gò Chùa đến cửa rạch Đùng (cồn Hố) dài 6 – 7 km, bị xâm thực mạnh tại các điểm Bà Hiền (1,8 km), khém Bắc Kỳ (0,5 km), tây rạch Đùng (1,75 km). Các vị trí còn lại là bờ bồi tụ.

Cửa Cổ Chiên có địa hình đáy sông sâu 7 – 8 m. Nhìn chung phần giữa sông mặt đáy khá bằng phẳng, bờ sông bị xâm thực mạnh ở khu vực từ cửa Cái Bai đến Eo Lói (2,25 km), nam rạch Eo Lói (0,7 km), đông rạch Khém Thuyền (0,3 km), nam rạch Khâu Băng (0,7 km). Một cồn cát tích tụ kéo dài từ cù lao Long Hòa (Trà Vinh) về phía đông nam tới 5 km.

Cửa Ba Lai có trắc diện hình chữ U hơi lõm, độ sâu phổ biến từ 5 – 7 m. Khu vực cửa Ba Lai đang trong quá trình bồi tụ, mạnh nhất là bờ bên phải, từ cửa ấp Thạnh Phước đến Bảo Thuận (3 km) và khu vực từ rạch Vũng Luông đến xóm Trên (1 km). Địa hình các dãy tích tụ này phân bổ ở độ sâu trung bình 6 m khi triều cường và phần lớn lộ ra khi triều kém, nước ròng, tạo thành những bãi cát ngầm rộng tới 500 m. Vùng này hiện là các sân nghêu lớn của địa phương. Sự xâm thực chỉ xuất hiện trên đoạn bờ trái dài khoảng 500 – 800 m, bắt đầu từ chỗ rạch Thị Diễm đến cửa rạch Vũng Luông. Tại đây, đáy sông có lạch sâu từ 12 – 14 m.

Nhìn chung địa hình đáy sông vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Phiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá tại Bình Thắng (huyện Bình Đại), An Thủy (huyện Ba Tri), An Nhơn (huyện Thạnh Phú). Ở các cửa sông của Bến Tre, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, đặc biệt là khu vực sông cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực các cửa sông diễn ra với qui mô nhỏ, liên quan chủ yếu đến hoạt động thủy triều, sóng và do tích tụ ở giữa sông, từ đó làm lệch dòng chảy.

Bồi tụ xâm thực ven biển

Biến động ven biển mạnh mẽ với quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Tài liệu qua ảnh chụp từ vệ tinh nghiên cứu trong 21 năm (1968 – 1989) cho thấy tổng diện tích bồi tụ là 61,170 km2 (trong đó huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989 km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2). Như vậy trong 21 năm, tỉnh Bến Tre lấn ra biển 68,9 km2, tốc độ bình quân mỗi năm là 2,33 km2.

Đất bồi tụ hình thành dải hẹp ở phía bắc và phía nam cửa Đại. Vùng bồi tụ mạnh nhất là cửa Ba Lai, phía nam cửa Hàm Luông đến phía bắc cửa Cổ Chiên, diễn ra liên tục, tạo thành sân nghêu lớn ở phía đông cồn Lớn, trải dài trên diện tích từ Vàm Hồ đến cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực chỉ thấy ở diện tích nhỏ nằm phía tây cồn Lớn thuộc cửa Cổ Chiên và rải rác ở phía bắc và phía nam của sông này. Cửa Cổ Chiên thường có độ sâu 5 đến 6 m và ít bãi cạn, nên giao thông tương đối thuận lợi. Cửa Cung Hầu nông hơn cửa Cổ Chiên, có một bãi nông trên mực nước triều trung bình án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Nhìn chung, vùng hạ lưu và vùng cửa sông có nhiều cồn bãi nổi và ngầm. Vì vậy, việc ra vào, đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn, trừ cửa Cổ Chiên có khá hơn chút ít.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
 Dưới chế độ thực dân Pháp (1867-1945) Dưới chế độ thực dân Pháp (1867-1945)
Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận.

Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận. Thành Định Tường bị chiếm ngày 12-4-1861, Biên Hòa ngày 18-12-1861, tiếp đó thành Vĩnh Long rơi vào tay giặc ngày 23-12-1862.

Phản ứng lại hành động của quân cướp nước, đồng bào ta đã nhất tề đứng dậy chiến đấu chống lại chúng với tất cả những gì mà họ có được. Hầu như các tầng lớp xã hội đều có mặt và đã đóng góp hết sức mình, từ người Việt đến người Minh Hương. Truyền thống yêu nước của đồng bào ta hun đúc từ hàng thế kỷ trong quá trình lịch sử, nay được bộc lộ với tất cả những nét đẹp và hào hùng nhất. Nhiều người yêu nước ở các tỉnh miền Đông không chịu sống trong vùng do giặc kiểm soát, đã bỏ ruộng vườn, cơ nghiệp để đi đến vùng đất còn thuộc quyền kiểm soát của triều đình ở phía Bắc như Bình Thuận, hoặc về các tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Vùng đất Bến Tre, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long (được Pháp trả lại cho triều đình Huế theo hiệp ước 1862) đã trở thành nơi tiếp nhận những luồng người "tị địa”. Cụ Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình từ quê vợ Cần Giuộc đi thuyền về cư trú ở Ba Tri là một ví dụ. Việc các học trò của cụ Võ Trường Toản, trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông... tổ chức di dời hài cốt của thầy từ Hòa Hưng (Sài Gòn) về Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) với ý tưởng không để thầy “nằm trên đất địch chiếm đóng” cũng phản ánh quan điểm sĩ phu Nam Kỳ lúc bấy giờ.

Cuộc chiến tranh xâm lược đã gây nên những xáo trộn nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng cư dân ở đây, đặc biệt từ năm 1867, khi ba tỉnh miền Tây rơi nốt vào tay giặc. Theo số liệu thống kê của thực dân vào thời kỳ đầu của cuộc xâm lược Pháp ở Nam Kỳ (1859) tỉnh Bến Tre có 110.000 dân (1). Đến năm 1869, nghĩa là sau 10 năm - thời kỳ diễn ra cuộc “tị địa” về các tỉnh miền Tây, vùng đất còn tự do – dân số Bến Tre tăng lên 156.000 người (2), tức gấp rưỡi, trung bình mỗi năm tăng 4.700 người. Điều này chỉ có thể giải thích được là ngoài số dân tăng tự nhiên, còn có khá đông người “tị địa” từ nơi khác đến Bến Tre.

Thế nhưng, đến khoảng thời gian 10 năm tiếp theo (1869 – 1879), dân số Bến Tre chỉ tăng lên đến 163.000 người, nghĩa là số tăng (6.300 người) chỉ bằng một năm rưỡi của mười năm trước đó. Vấn đề đặt ra là phải chăng số tử suất tăng nhiều do chiến tranh, nên tốc độ phát triển dân số chậm lại? Tất nhiên số người chết trong chiến tranh bao giờ cũng cao hơn thời bình, nhưng sẽ không đúng khi vận dụng để giải thích trong trường hợp cụ thể của tỉnh nhà trong những năm 1869 – 1879. Như ta biết, đây là những năm đầu Bến Tre bị giặc chiếm. Vùng đất “tị địa” của những sĩ phu và đồng bào yêu nước của các tỉnh miền Đông trong thời kỳ trước 1867 giờ đây cũng chịu chung số phận đau thương: “Lòng giận ngàn thu đất nổi dày" (3).

Với truyền thống bất khuất, nhân dân Bến Tre đã đứng lên cầm vũ khí trực tiếp chống giặc. Tiếp nối những gương hy sinh anh dũng thuộc thế hệ chống Pháp đầu tiên trên đất Bến Tre như Trương Tấn Chí (trận Hưng Điểm), Phan Tòng (trận Giồng Gạch), nhiều cuộc nổi dậy của nghĩa quân liên tiếp nổ ra. Đó là cuộc khởi nghĩa do hai anh em Phan Tôn, Phan Liêm lãnh đạo ở Ba Tri, cuộc khởi nghĩa ở vùng Ba Châu do Tán Kế lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa ở Mỏ Cày do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương tổ chức. Nhiều nơi ở trong tỉnh, nhân dân đã tỏ thái độ bất hợp tác với giặc. Họ hy sinh tài sản, tổ chức làm "vườn không nhà trống", đốt chợ, đào đường, phá cầu để ngăn bước tiến của giặc. Nhân dân cả làng Quới Điền, tổng Minh Phú và làng An Thới, tổng Minh Huệ đã bỏ quê kéo nhau đi nơi khác sinh sống (4).

Tình hình diễn ra trên đây cho phép ta đi đến kết luận về hiện tượng tăng dân số chậm của 10 năm qua (1869 – 1879) là do tử suất tăng vì chiến tranh, nhưng phần chính là do một bộ phận nhân dân đã tự động bỏ quê đi nơi khác, hoặc lẩn tránh ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thực dân. Trong chiến tranh, số người chết do đánh nhau thường là nam giới, kể cả đối tượng bị bọn thống trị truy nã buộc phải bỏ xứ tránh đi nơi khác cũng phần lớn là nam giới. Điều này đã làm thay đổi cơ cấu dân số, tỷ lệ giữa nam và nữ, tháp tuổi, và tất nhiên hiện tượng này có ảnh hưởng nhất định đến tốc độ phát triển kinh tế và đời sống xã hội trong nhiều năm sau đó.

Ngày 15-10-1888, chính quyền thuộc địa ra nghị định đánh thuế ruộng và thuế thân theo chính sách mới ở Nam Kỳ. Chúng bãi bỏ cách đánh thuế thân theo lối phân bố cho từng làng của nhà Nguyễn trước đó, bắt buộc những người được coi là “nội đinh” đều phải nộp một đồng bạc Đông Dương mỗi năm.

Ngày 5-10-1882, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh cho phép Thống đốc Nam Kỳ được thu thêm mỗi làng xã một khoản tiền để chi vào việc "giữ gìn trật tự, trị an" và những khoản "tiền phát" đối với những làng xã có người tham gia phong trào chống Pháp. Như vậy có nghĩa là, chính quyền thuộc địa muốn dùng biện pháp kinh tế để đe dọa và khống chế những người yêu nước ngay trong làng quê của họ.

Ngày 3-10-1883, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định bắt các làng xã ở Nam Kỳ lập sổ bộ sinh tử, giá thú để nắm chặt số dân hơn nữa.

Kể từ thập kỷ 80 về sau, công cuộc "bình định” của thực dân Pháp ở Nam Kỳ về cơ bản coi như đã xong, những cuộc khởi nghĩa và nổi dậy của lực lượng yêu nước đã bị dập tắt. Chính quyền thuộc địa, cùng với việc củng cố bộ máy thống trị từ trên đến dưới, cũng tiến hành xây cất các công sở. Ở Bến Tre, tiếp theo các việc xây dựng tòa hành chính là việc lập khám đường, ty cảnh sát, kho bạc, ty thương chánh, trại lính mã tà, tòa án. Ngoài ra, một số công trình công cộng xã hội cũng được xây dựng như bệnh viện, trường tiểu học, chợ Bến Tre...

Ngày 6-10-1891, một cuộc điều tra, đo đạc, phân loại ruộng đất trên toàn cõi Nam Kỳ được tiến hành. Thêm vào đó, bọn tay sai "tân trào" lại ra sức bóc lột, cướp giật đất đai, tiền của của những gia đình có người tham gia nghĩa quân, hoặc có cảm tình, ủng hộ kháng chiến. Ở Bến Tre, chúng đã tiến hành việc lập địa bạ, phân định lại ranh giới đất tư và đất công.

Các chủ trương trên không ngoài việc chuẩn bị cho một kế hoạch khai thác thuộc địa quy mô, mà việc xuất khẩu lúa gạo là một trong những mục tiêu quan trọng nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người nông dân vẫn là đối tượng bị đè nén, bóc lột, bị bần cùng hóa hơn mà thôi. Nhiều người nông dân phải cầm bán ruộng đất, bỏ quê hương đến nơi khác để sinh sống, hoặc ra thành thị làm cu-li, tạp dịch, kéo xe v.v... Thực trạng này đã làm cho sự biến động dân cư thêm phức tạp.

Các số liệu thống kê của chính quyền thực dân cho thấy diễn biến của sự gia tăng dân số của Bến Tre (không kể cù lao An Hóa lúc này còn thuộc tỉnh Mỹ Tho) trong những năm đầu thế kỷ XX như sau:


1901: 216.816 người

1909: 219.000 người

1914: 270.000 người

1918: 309.000 người

1929: 315.000 người (5)

Như vậy, trong vòng 30 năm, số dân Bến Tre từ 216.000 người tăng lên 315.000 người, trung bình mỗi năm tăng 3.270 người. Đó là tỷ lệ phát triển dân cư tương đối thấp. Trong khi đó, ở giai đoạn 15 năm cuối cùng của chế độ thực dân Pháp (1930 – 1945) dân số của Bến Tre mỗi năm tăng trung bình 9.000 người (6). Trong giai đoạn này có một vài sự kiện đáng ghi nhận: cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) với chính sách khủng bố trắng của địch và việc động viên một số thanh niên đi lính sang châu Âu trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những sự kiện này nhìn chung không gây nên những xáo trộn lớn về mặt dân cư.

Một điều đáng lưu ý là ở Bến Tre từ sau khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ, không còn những nguồn lưu dân từ phía Bắc bổ sung liên tục như ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX về trước. Sự tăng trưởng về dân số chủ yếu là tăng theo tự nhiên. Có một số dân cư từ các tỉnh khác ở Nam Kỳ di chuyển đến Bến Tre, nhưng không nhiều.

Về tình hình phân bố dân cư, nếu như từ nửa đầu thế kỷ XIX về trước, cư dân Bến Tre tập trung chủ yếu ở các vùng giồng, đất đai cao ráo và ở các miệt vườn, ven sông rạch cùng các bến sông, bến tàu thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá, thì sau khi người Pháp đến chiếm đóng, mở mang thêm hệ thống giao thông đường bộ, nhiều tụ điểm dân cư mới được hình thành ở ngã ba, ngã tư, bến phà và những thị tứ mới... Ở các trung tâm hành chính (tỉnh lỵ, quận lỵ) dân số cũng tăng nhanh.

Tỉnh lỵ Bến Tre đặt tại làng An Hội là một trong những điểm dân cư quan trọng. Nằm trên bờ sông Bến Tre, ngay từ thế kỷ XVIII, nơi đây cũng đã làm điểm giao thương sầm uất, thuyền bè lui tới tấp nập, tỉnh lỵ xứng đáng là một trung tâm kinh tế, văn hoá nằm giữa một vùng đất đai trù phú. Con đường liên tỉnh 6A (nay là quốc lộ 60) nối từ bến phà Rạch Miễu ngang qua tỉnh lỵ đến bến phà Hàm Luông, sang tận bến phà Cổ Chiên và tỉnh lộ 26 nay là đường tỉnh 885, từ thị xã chạy qua Mỹ Lồng, Cái Bông, Ba Tri ra tận đến biển đã làm tăng thêm vị trí quan trọng của tỉnh lỵ. Mặc dù dồn về Mỏ Cày, nhưng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của nó vẫn không thay đổi. Dân số ở đây vẫn tiếp tục tăng đều. Theo thống kê của Pháp, đầu thế kỷ XX, làng An Hội có 5.352 người, đến năm 1930, tỉnh lỵ có 6.130 người và đầu năm 1943, có 9.800 người (7).

Theo J. C. Baurac trong quyển Nam Kỳ và dân cư (8), vào cuối thế kỷ XIX, tỉnh Bến Tre (không kể cù lao An Hóa) đã hình thành 18 trung tâm dân cư có từ 300 đến 800 người sống tập trung buôn bán, làm các nghề thủ công như Mỹ Lồng, Ba Tri, Hương Điểm, Sóc Sãi, Mỏ Cày, An Định, Đại Điền, Cái Mơn, Thom, Ba Vát v.v... Số dân của hai cù lao lúc bấy giờ là 162.834 người, diện tích canh tác chiếm 97.613 ha trong 154.600 ha diện tích đã được đo đạc.

Ở Bến Tre, vùng có mật độ dân số cao thường là những vùng được khai phá sớm như tổng Bảo An, Bảo Hựu, Bảo Lộc, Bảo Thành (ở cù lao Bảo), các tổng Minh Đạo, Minh Đạt, Minh Thiện, Minh Thuận (ở cù lao Minh) và tổng Hòa Quới ở cù lao An Hóa. Đến đầu thế kỷ XX, thì đất đai ở Bến Tre về cơ bản đã được khai phá xong, không còn những vùng đất hoang rộng lớn như ở các tỉnh miền Tây, trừ một số đất rừng ngập mặn vùng ven biển Bình Đại và Thạnh Phú.

Nhiều chợ búa được lập ra để đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cũng như những nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của người dân. Từ chỗ 14 chợ được xây cất nhà lồng chắc chắn vào năm 1892 (không kể các chợ chồm hổm) đến năm 1945, con số đó tăng lên 51 chợ (9), trong đó có những thị trấn, thị tứ sầm uất, hoạt động thương mại khá phồn thịnh như Mỹ Lồng, Giồng Trôm, Hương Điểm, Ba Tri, Mỏ Cày, Thom, Bang Tra, Giồng Luông, Thạnh Phú, Chợ Lách, Tân Thạch, Bình Đại. Nhìn chung, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre trong giai đoạn thuộc Pháp, so với các tỉnh bạn không có hiện tượng đột biến lớn, trừ giai đoạn đầu mới chiếm đóng có những xáo trộn nhất định cùng vài hiện tượng lên, xuống về số dân như đã nêu ở trên. Sự phân bố dân cư diễn ra tương đối đều giữa các vùng và khá ổn định, không có sự chênh lệch quá đáng giữa vùng này với vùng khác trong tỉnh.

Chú thích:

(1) Dẫn theo Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 55.
(2) Nguyễn Duy Oanah, Sđd, tr. 55.
(3) Nguyễn Đình Chiểu, Thơ điếu Phan Tòng, Liên hoàn thập thủ, bài II.
(4) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Ban NCLSĐ Bến Tre, 1985, tr. 21.
(5) Theo Statistique de la population de la Cochinchine và Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.
(6) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd.
(7) Theo Annuaire Statistique du Vietnam, No 1801.
(8) J.C. Baurac, La Cochinchine et ses habitants, Sđd, chapitre “Arrondissement de Bentre”.
(9) Theo Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 166 – 168. Nếu kể cả cù lao An Hóa thì số chợ lên đến 60 cái.

Đã ban hành
Địa hìnhĐịa hình
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m. Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5 m, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn bề đều có sông nước bao bọc. Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: An Hóa, Bảo và Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ. Hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sông lớn, không chỉ thuận cho giao thông thủy, mà còn tạo nên nguồn tài nguyên nước dồi dào quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Dương Thị Lan  (1912 - ?)Dương Thị Lan  (1912 - ?)
&nbsp;

    Sinh năm 1912 tại xã Hưng Khánh Trung, huyện Mỏ Cày, trong một gia đình nông dân, khi có chồng về xã Thành An thì mang tên chồng với cái tên gọi là Chín Giao.

   Những năm 1957-1959, chính quyền Ngô Đình Diệm phát động chiến dịch “tố cộng", "diệt cộng" khắp tỉnh nhà, nhất là sau khu Luật 10/59 được ban hành. Một làn sóng khủng bố, tra tấn, giết chóc diễn ra khắp phố chợ, làng quê. Hàng ngàn cán bộ kháng chiến và người yêu nước bị bắt bớ, tù đày, tra tấn vô cùng dã man. Hàng loạt cán bộ, đảng viên cộng sản bị truy lùng, bị giết công khai hay thủ tiêu bí mật. Một không khí u tối, ngột ngạt trùm lên các làng quê thuở ấy.

   Giữa lúc phong trào cách mạng lâm vào bước khó khăn nghiêm trọng, thì má Dương Thị Lan đào hầm ngay trong nhà mình, bí mật nuôi dấu cán bộ của xã, của huyện. Chị Lê Thị Tiết (thường gọi là Út Hạnh) bị địch bắt tra tấn đến tàn phế, chỉ còn da bọc xương, sau khi được cứu thoát khỏi nhà tù, được má đem về chăm sóc nuôi dưỡng với tình mẫu tử trong suốt nhiều năm tháng. Nhờ đó, sức khỏe chị Tiết được phục hồi dần, rồi chị trở về với đội ngũ chiến đấu.

   Sau Đồng Khởi (1960-1961), bọn tề điệp, ác ôn ở vùng quê của má được quét sạch. Nơi đây trở thành chỗ dừng chân của các cơ quan huyện, tỉnh, của các đơn vị vũ trang, trạm quân y, trạm giao liên của một số cơ quan của Y.4 (mật danh của Thành ủy Sài Gòn – Gia Định). Người đông, nhu cầu về lương thực, thực phẩm càng tăng. Việc đi lại, ăn ở cũng trở thành vấn đề lớn trong công tác bảo mật. Má Dương Thị Lan đã giữ vai trò quan trọng trong các khâu tổ chức, tiếp tế, giao liên. Bản thân gia đình má đã đóng góp một phần vật chất không nhỏ trong suốt nhiều năm.

   Có chân trong ban chỉ huy đấu tranh chính trị của “đội quân tóc dài" huyện Mỏ Cày, má Lan đã tỏ ra là một người lãnh đạo khôn khéo, dũng cảm, biết tiến thoái lúc cần thiết, ứng phó linh hoạt trong nhiều tình huống gây cấn. Đã nhiều lần bị địch bắt, giam cầm, đem đi ngâm nước, phơi nắng… nhưng mọi thủ đoạn đàn áp, khủng bố của kẻ địch không làm cho má chùn bước. Do đó, quần chúng rất tin cậy má, coi má như một điểm tựa tinh thần của họ mỗi lần “xuống đường” đấu tranh. Đã có hơn 70 lần má được cấp huyện và tỉnh biểu dương, khen thưởng.

   Năm 1971-1972, địch ở chi khu Ba Vát (thuộc huyện Mỏ Cày) tập trung lực lượng càn quét đánh phá dài ngày, phong tỏa các đường giao liên bộ và thủy, nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng tại đây. Má Dương Thị Lan với mưu kế của mình, đã cùng với số nòng cốt ở địa phương, lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng hình thức hợp pháp và bán hợp pháp, phá vỡ được âm mưu của địch.

   Trong những năm “bình định” ác liệt nhất của địch, má Lan là người đìều hành mạng lưới tiếp tế, hậu cần cho LLVT của tỉnh và Quân khu 8, để các đơn vị có thể bám trụ, chiến đấu chống giặc trong nhiều tháng trời, phá vỡ thế bao vây của địch, tạo điều kiện cho nhân dân phá banh các ấp chiến lược, trở về làng cũ. Cái danh hiệu "Bà mẹ Chính ủy hậu cần" của má Dương Thị Lan ra đời từ đó. Đối với người lính cách mạng từng hoạt động ở vùng này trong những ngày gian khổ, "má Lan – Chính ủy hậu cần" là hình ảnh khó quên.

   Cuối năm 1976, má Dương Thị Lan được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Ba VátBa Vát
&nbsp;

Ba Vát (còn gọi Ba Việt)

Địa danh gốc Khmer (Pears Watt là chùa phật). Vào thế kỷ XVIII, nơi đây là huyện lỵ của huyện Tân An - một trung tâm kinh tế khá phồn thịnh thời bấy giờ. Năm 1777, đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt tại đây…

Ca dao xưa:

        Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát,

        Đường Ba Vát gió mát tận xương.

Câu ca dao phản ánh ít nhiều vị trí của thị tứ này thời ấy.

Thời KCCM, Ba Vát là quận lỵ của quận Đôn Nhơn (3-1963). Nằm trên đường Mỏ Cày đi Chợ Lách, Ba Vát là một thị tứ đang phát triển, có chợ có bến thuyền, kho hàng, trường học và nhiều cửa hàng, cơ sở dịch vụ.

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer