Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Di tích
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này. 
 
 
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). 
Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ rất độc đáo, hiện nội thất còn bảo tồn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà tọa lạc tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng cách nay hơn 100 năm do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) làm nên. Ông là người miền Trung (theo lời truyền miệng từ đời trước) vào miền Nam lập nghiệp, từ lúc còn trắng tay cho đến khi lập nên sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ. 
 
 
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái. 
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân. 
 
Đình Tân Ngãi (20/09/2016)
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng. 
 
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân. 
 
 
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Trường Trung học Tư thục Bình Hòa, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh thuộc loại hình di tích lịch sử cách mạng, nơi đào tạo nhân tài của tỉnh nhà. 
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2. 
 
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Sông Ba LaiSông Ba Lai
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi đến xã Thành Thiệu (dài 17 km) dòng sông cạn và hẹp. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Nước từ sông Mỹ Tho qua kênh An Hóa, chảy mạnh vào sông Ba Lai làm hạn chế quá trình lắng đọng phù sa của đoạn sông này. Lúc kênh mới đào, chiều rộng chưa đầy 30 m, nhưng do dòng nước chảy xiết nên sông bị xói mòn nhanh và rộng dần ra cả trăm mét. Do nước chảy mạnh, dưới đáy sông lại có những cồn ngầm, cho nên vào mùa gió chướng thổi mạnh, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, gây nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng.Vào giữa năm 2000, một kế hoạch thủy lợi lớn nhất tỉnh, xây dựng cống đập Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre đã bắt đầu được khởi công.

Hệ thống sông Ba Lai

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

R. Bà Tam

Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H. Châu Thành)

5,0 km

R. Phú Hữu

Ranh giới giữa xã Phước Thạnh và Hữu Định (H. Châu Thành)

8,0 km

R. Khai Luông

Xã Phước Thạnh (H. Châu Thành)

6,0 km

K. Chẹt Sậy

Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm 1878 – 1902

5,0 km

R. Ba Tri Rơm

Xã Châu Hòa (H. Giồng Trôm)

5,0 km

R. Cái Muồng

Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H. Bình Đại)

10,0 km

R. Vàm Hồ

Ranh giới giữa xã Châu Bình (H. Giồng Trôm) và xã Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,5 km

K. Số 1

Từ xã Bình Thới đến xã Thạnh Trị (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Mỹ Nhiên

Ranh giới giữa xã Mỹ Chánh, Tân Xuân và Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,0 km

R. Xẻo Tượng

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Chim

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Khiêm

Xã Thạnh Phước (H. Bình Đại) thông với K. Ông Cai

5,5 km

R. Ruộng Muối

Xã Bảo Thạnh (H. Ba Tri)

5,0 km

Chú thích :

(1)

Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H. 
Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đôn NhơnĐôn Nhơn
 
Quận thành lập theo Nghị định số 209-NV của Tổng thống VNCH ngày 7-3-1963, thuộc tỉnh Kiến Hòa, gồm có 3 tổng (Minh Lý, Minh Thiện, Minh Thuận) và 9 xã. Quận lỵ đặt tại Ba Vát.
Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Đình Tân NgãiĐình Tân Ngãi
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

dinh-tan-ngai.png 

Đình​ ​Tân Ngãi

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 11/​02/2011 công nhận đình Tân Ngãi tại ấp Tân Ngãi, xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về tín ngưỡng dân gian và lịch sử cách mạng.

Từ thành phố Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua Cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 khoảng 4km, tiếp tục rẽ phải khoảng 3km nữa là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Đình Tân Ngãi được xây dựng năm 1850 (năm Canh Tý) do nhân dân trong vùng đóng góp công sức và tiền bạc. Đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, sắc thần được phong dưới thời Tự Đức ngũ niên (1852).

Năm 1945, được sự hỗ trợ của Ban Khánh tiết đình Tân Ngãi, Đảng và chính quyền địa phương tổ chức cuộc mittinh có hàng trăm quần chúng nhân dân tham dự. Tại ngôi đình này, Mặt trận còn phát động tuần lễ vàng giúp cách mạng và sau một tuần phát động, nhân dân đã đóng góp được 26 lượng vàng, 16 bộ lư đồng, 30 mâm thau.

Từ năm 1949-1951, giặc Pháp đánh chiếm huyện Sóc Sãi và huyện Châu Thành, Ủy ban hành chánh kháng chiến của 2 huyện này chuyển qua đóng ở đình Tân Ngãi đứng chân hoạt động. Đầu năm 1960, ông Bùi Văn Sỹ Phong - Bí thư Huyện ủy Mỏ Cày về mở nhiều cuộc hội nghị tập huấn cho cán bộ lãnh đạo các xã như Thạnh Ngãi, Phú Sơn, Thanh Tân, Tân Thành Bình, Tân Phú Tây tại ngôi đình này.

Từ năm 1962-1963, chính quyền cách mạng lấy ngôi đình này làm nơi tiếp nhận thương binh, bệnh binh để điều dưỡng, điều trị và có đào hầm bí mật xung quanh đình để bảo toàn tính mạng cho cán bộ, thương binh.

Từ năm 1960-1965, đình Tân Ngãi là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí, là địa điểm để tổ chức hội họp trong xã và các xã lân cận. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, chính quyền cách mạng lấy địa điểm đình để tập hợp lực lượng, có khoảng 3 tiểu đoàn (ở khu vực Bắc Mỏ Cày) để chuẩn bị tiến quân về giải phóng thị xã Bến Tre.

Từ năm 1970-1975, bộ đội địa phương quân Mỏ Cày do đồng chí Huỳnh Văn Be (Phương Hùng) chỉ huy và đồng chí Lý Hùng Chiến - Bí thư Huyện uỷ Mỏ Cày đóng tại đình Tân Ngãi, đứng chân hoạt động.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cù lao MinhCù lao Minh
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn hợp thành tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Bảo và cù lao Minh. Đến 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách ra khỏi tỉnh Mỹ Tho nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Minh gồm: huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày và huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến tại huyện Ba TriCự ly các điểm đến tại huyện Ba Tri
Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa tại di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu - Ba Tri

- Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

- Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri: 36 km.

- Từ trung tâm huyện Ba Tri đến các điểm trên địa bàn huyện như sau:

  • Khu di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức (01 km);

  • Di tích nghệ thuật Đình Phú Lễ, xã Phú Lễ (04 km);

  • Di tích mộ Võ Trường Toản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi, xã Tân Xuân (12 km);

  • Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng, xã An Hiệp (03 km);

  • Miếu thờ cụ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh (08 km);

  • Khu mộ và đền thờ tiến sĩ Phan Thanh Giản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề đan đát Phước Tuy, xã Phước Tuy (06 km);

  • Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phú Lễ, xã Phú Lễ (sản xuất mây tre đan và sản xuất rượu nếp) (04km);

  • Làng nghề "Bánh phồng Phú Ngãi", xã Phú Ngãi (08 km);

  • Làng nghề "Muối Bảo Thạnh", xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề "Cá khô An Thủy", xã An Thủy (09 km);

  • Sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ (15 km);

  • Nhà thờ Cái Bông, xã An Phú Trung (03 km).

  • Các điểm đến trên, phương tiện xe 50 chỗ đến được. Riêng sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ đi được cả đường bộ và đường thủy.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) và khu mộ (Di tích Quốc gia)Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) và khu mộ (Di tích Quốc gia)
Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ rất độc đáo, hiện nội thất còn bảo tồn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà tọa lạc tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng cách nay hơn 100 năm do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) làm nên. Ông là người miền Trung (theo lời truyền miệng từ đời trước) vào miền Nam lập nghiệp, từ lúc còn trắng tay cho đến khi lập nên sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ.

Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ rất độc đáo, hiện nội thất còn bảo tồn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà tọa lạc tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng cách nay hơn 100 năm do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) làm nên. Ông là người miền Trung (theo lời truyền miệng từ đời trước) vào miền Nam lập nghiệp, từ lúc còn trắng tay cho đến khi lập nên sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ.

Ngôi nhà có diện tích trên 500m2 (rộng khoảng 17m, dài 25m, cao 5,70m) được cất theo kiểu nhà xuyên trính, hình chữ nhất, ba gian hai chái và hai liễm đôi theo kiểu chái bắt vần với liễm, nhà có 48 cây cột bằng gỗ lim, đường kính của cột từ 0,40 - 0,50m (kể cả cột chái và cột liễm) và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư) thay cho cột gỗ bị hư hỏng vào những năm 1945 - 1954. Kèo là những thanh gỗ to đẽo cong chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn, đầu kèo chạm hình rồng. Nền xây tam cấp, lót gạch tàu, mái lợp ngói âm dương.

Nội thất chia thành 2 phần: từ cột nhứt của mặt hậu trở vào sử dụng sinh hoạt gia đình, từ cột nhứt của mặt hậu trở ra cột hàng nhì của mặt tiền sử dụng vào việc thờ tự. Liễm và chái mặt tiền sử dụng chủ yếu vào việc phục vụ lễ tân. Mỗi căn bố trí một khánh thờ xếp thành 2 lớp, chạm trổ công phu, sơn son thếp vàng tất cả đều được đặt trên ghế thờ. Phía tả thờ Cửu Huyền Thất Tổ, giữa thờ Phật Bà Quan Âm, phía hữu thờ ông, bà Huỳnh Ngọc Khiêm.

Khánh thờ Phật Bà Quan Âm chạm trổ long, lân, phụng theo lối long phụng tranh châu, nền đế là 2 kỳ lân đối diện, cùng nhe nanh, mặt hướng ra ngoài, chân trụ chạm rồng 3 móng, mặt hướng lên trên (theo truyền tụng rồng 3 móng thường dành cho dân thượng lưu, rồng 4 móng dành cho quan lại, rồng 5 móng dành cho vua). Hai khánh thờ còn lại chạm hình hoa trái, công phụng gặp bầy. Nền đế chạm nhiều loại trái cây, thân trụ chạm chim, hoa, cây, trái,.. Phía trên chạm hoa, cây, trái cùng hướng vào vầng thái dương. Tất cả các bức hoành phi, bài vị, biển đề,…đều viết bằng chữ Hán khắc vào gỗ, chạm trổ hoa văn rất công phu, được sơn son thiếp vàng hoặc cẩn xà cừ, có tuổi đời tương đương với tuổi thọ ngôi nhà.

nha-co-huynh-phu.png 

Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm)

Thợ làm nhà là những người thợ có thể từ miền Trung hoặc miền Bắc vào, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. Tài hoa của thợ thủ công có kỹ - nghệ thuật khắc gỗ, chạm lộng điêu luyện phải kể đến các bức vách trước các gian giữa với diện tích gần 100m2. Đó là bức tranh mô tả cảnh vật thiên nhiên rất sinh động của vùng đồng bằng sông nước, của vùng đất cù lao bốn mùa cây xanh, trái ngọt. Với cảnh vật thanh bình, chim muôn ca hát cùng các loại sinh vật khác được chạm trổ rất công phu. Theo truyền tụng, thời gian hoàn thành vách phênh tương đương với thời gian từ dở gỗ đến gát đòn dông (khoảng trên 10 năm). Tiền công thù lao cho người thợ không tính bằng ngày công mà tính bằng khối lượng dăm bào sau một ngày lao động. Mỗi chén dăm bào được trả 5 cắc bạc, riêng thợ cái được trả 2 đồng một ngày, cơm nước chủ nhà đài thọ (thời gian này một giạ lúa bằng 1,8 cắc bạc).

Không ai biết ngôi nhà được xây dựng vào năm nào, chỉ biết mất một thời gian rất dài mới hoàn thành với những chuyện kể gần như là giai thoại. Chuyện kể lại rằng: các người thợ lúc kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà. Rồi hột bưởi nẩy mầm thành cây, lớn lên cho trái chín mà ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải 6 - 7 năm mới cho trái). Khi người thợ cả mất, ông Khiêm rước vợ con ông ấy vào và lo đám tang chu toàn. Các thợ làm nhà khi còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con mà ngôi nhà vẫn chưa hoàn thành.

Nhưng nếu căn cứ vào bức hoành phi mừng tân gia họ Huỳnh của Tri huyện Bảo An - Thái Hữu Võ tặng vào năm Giáp Thìn (huyện Bảo An thuộc cù lao Bảo, tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ) thì ta biết rằng: ngôi nhà được hoàn thành trước năm Giáp Thìn (1904) vì năm 1904 là năm tổ chức ăn tân gia. Vì thế có thể ngôi nhà được xây dựng vào khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX. Nhìn các công trình chạm khắc gỗ dầy đặc và tỉ mỉ ở nội thất ngôi nhà, chúng ta thấy thời gian xây dựng kéo dài là hoàn toàn hợp lý khi mà ở thời điểm đó toàn bộ các công việc từ cưa, xẻ gỗ đến tiện, đục, bào, chạm đều được làm bằng thủ công.

Đây là một ngôi nhà cổ có kiến trúc đẹp thuộc dạng hiếm hoi của tỉnh Bến Tre. Nội thất ngôi nhà trang trí các bức hoành phi sơn son thiếp vàng, liễn áp cột cẩn ốc xà cừ, các hoa văn chạm khắc gỗ thể hiện các đề tài như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu, Nhị Thập Tứ Hiếu,… Công trình ngoài nội dung trang trí còn mang ý nghĩa cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

Khu mộ cách ngôi nhà cổ 3km thuộc xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, diện tích 966m2 (34,5m x 28m) được ông Khiêm tạo lập vào năm Tân Hợi (1911) để chuẩn bị cho hậu sự của mình. Vật liệu xây dựng là đá xanh từ hàng rào bên ngoài cho đến phần lăng mộ bên trong. Rào cao khoảng 1,5m gồm 2 phần: trên là những thanh đá được cắt hình chữ nhật hoặc hình tam giác, phần dưới là những phiến đá nguyên. Mái cổng làm 2 tầng, tạc hình ngói ống tre, nóc mái trên trang trí hình con dơi, giữa 2 tầng mái là hoa văn dây leo, phần dưới cùng là hoa văn dây leo và quả lựu.

Bên trong khu mộ được chia làm 2 phần: bên trong là nền ciment được kè đá xanh chung quanh, nơi mộ của ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm, bên ngoài là nền đất có 4 ngôi mộ gồm mộ ông Hội đồng Huỳnh Ngọc Cứ (con ông Huỳnh Ngọc Khiêm) và vợ là bà Ngô Thị Châu, cùng với mộ của bà Huỳnh Thị Điểu và ông Huỳnh Ngọc Hổ (là anh em của ông Huỳnh Ngọc Cứ).

Hai ngôi mộ của ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm làm giống nhau theo kiểu lăng mộ với tường đá cao bao bọc xung quanh. Chân mộ là tấm bia cao 1,5m, rộng 1,2m có mái che với hoa văn trên nóc và chân bia. Mặt trước bia khắc chữ Hán với nội dung là ngày tháng năm tạo lập khu mộ, tên tuổi, ngày sinh, ngày mất của người chết và tên người lập phần mộ. Mộ bà cũng được làm và trang trí giống như mộ ông nhưng hoa văn trang trí và nội dung các câu chữ Hán thì khác nhau. Công trình thể hiện nét tài hoa của người thợ điêu khắc đá với nhiều hoa văn tinh xảo: dơi, dây leo, quả lựu, mãng cầu,… cùng với các con vật như tùng, lộc, lân, nghê,… và cột, trụ đá khắc chữ Hán.

Nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ thuộc xã Đại Điền, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia bằng Quyết định số 1251/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 4 năm 2011.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Lễ hộiLễ hội
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú.
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. Hàng trăm tàu thuyền đánh bắt cá của huyện, của tỉnh và các tỉnh bạn như Tiền Giang, Trà Vinh thậm chí các tỉnh xa hơn nữa, trong khi hành nghề thuận tiện vẫn tập trung về nơi cửa Đại cùng ngư dân Bến Tre tham gia lễ hội Nghinh Ông.

Lễ hội thứ hai mang ý nghĩa văn hóa - lịch sử là lễ hội Nguyễn Đình Chiểu,  (nay là Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre) tổ chức vào ngày 1 tháng 7 hàng năm tại cụm đền thờ, mộ nhà thơ (nay là Khu di tích Đền thờ và Lăng mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) tại xã An Đức, huyện Ba Tri với hàng ngàn người tham dự. Thường trong dịp này, có những đoàn khách của tỉnh bạn, của một số ngành Trung ương về cùng tham dự. Từ 1975 sau ngày giải phóng đến nay, chính quyền địa phương với sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa đã đầu tư công sức, tiền bạc để tôn tạo khu vực này thành một di tích lịch sử có giá trị mang ý nghĩa giáo dục về tinh thần yêu nước, thương dân. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ có tầm cỡ của nửa sau thế kỷ XIX, mà còn là một nhà giáo, một thầy thuốc giàu tâm huyết.

Ngoài ra ở Bến Tre còn có những lễ hội hướng về truyền thống cách mạng như: lễ hội Đồng Khởi, được tổ chức ngày 17 tháng 1 hằng năm, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, đồng thời cũng thu hút một số lượng khách đáng kể của các tỉnh thành bạn cùng tham dự.

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Cồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịchCồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịch
Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Đến cồn Ốc - Hưng Phong, du khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng. Vì vậy, cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông,… cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ. Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Tôi đến cồn Ốc - Hưng Phong đã nhiều lần, nhưng vẫn bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả. Mỗi khi có dịp về Bến Tre, tôi lại về thăm cồn Ốc như một nỗi nhớ quê hương da diết đến khó tả. Phải chăng, đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu, người làm công tác du lịch chọn nơi đây làm điểm du lịch xanh, là nơi trải nghiệm cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, các lữ hành du lịch nên khảo sát để tạo sản phẩm dịch vụ du lịch riêng cho mình, các nhà đầu tư du lịch sinh thái nên chọn cồn Ốc để đầu tư du lịch sinh thái sông nước miệt vườn trên vùng đất cù lao.

 

Một góc Cồn Ốc

Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Mẹ Kế tiêu biểu cho ý chí chiến đấu, kiên cường của quân và dân Bến Tre, đã để lại trong lòng người dân cồn Ốc - Hưng Phong và Bến Tranh - Phước Long sự cảm mến và tình yêu thương bất tận, bởi nơi đây là nơi mẹ sống và lớn lên cùng bà con Hưng Phong.

Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắn rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan xứ cồn Ốc này.

Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa. Hệ thống giao thông trong xã đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với Hưng Phong. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.

 

Nghề đan giỏ cọng dừa

Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.

Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
PHAN SONG TOÀN
 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Nhà cổ Đại ĐiềnNhà cổ Đại Điền
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại rằng: Các người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, khi hột bưởi nẩy mầm thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 - 7 năm mới cho trái). Các thợ làm nhà từ lúc còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con, nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể, phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

 

Nằm trên khoảng đất rộng, cao ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết). Nền nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong lót gạch tàu xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió, bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt, đoạn kèo cuối (từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư) được làm rất công phu theo hình long giáng, thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các gian thờ, các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau. Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần bên ngoài dùng để tiếp khách và các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 161007_82.jpg

Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là nơi thờ tự tôn nghiêm - nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc trám đứng và chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới. Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc. Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên chữ, hoa lá, cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng, ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen, hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…).

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp. Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu "văn hóa lá" ( thân, dây các loại cây trái, con vật có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

 161007_83.jpg

Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp với hoa văn cẩn ốc theo các kiểu: hoa văn và chữ, hoa văn trong chữ, chữ trong hoa văn và còn có cả thi - họa (liễn đối là thơ và tranh Nhị Thập Tứ Hiếu).

Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

Nhà ông Hương Liêm không còn được cái dáng vẻ "tươm tất" do thiếu sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên nội thất còn gần như nguyên vẹn, là cả một công trình nghệ thuật của nghề chạm khắc gỗ, không thua kém những ngôi nhà cổ đẹp hiện còn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn 100 năm đã trôi qua, thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ cũ kỹ rêu phong, đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và cần được bảo tồn cho hậu thế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trần Văn CắtTrần Văn Cắt


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Trần Văn Cắt sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên,
chuẩn úy, đại đội phó đặc công, bộ đội địa phương huyện Châu Thành, tỉnh Bến
Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Chiến
đấu ở địa bàn địch đánh phá ác liệt, Trần Văn Cắt đã diệt và làm bị thương 170
tên địch, bắt 20 tên (có 11 trưởng, phó đồn, 2 trưởng ấp, thu trên 50 súng). Có
trận Trần Văn Cắt được giao nhiệm vụ phụ trách 1 tổ đi điều tra tình hình 1 đại
đội Mỹ đóng ở Cầu Cao chặn hành lang vận chuyển của ta. Trần Văn Cắt chỉ huy 1
mũi luồn sâu vào trung tâm, diệt sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt
đại đội Mỹ gồm 120 tên. Riêng anh diệt 7 tên, phá hủy toàn bộ điện đài. Ngày
10-2-1972, ta đánh đồn Bờ Xoài (xã Tiên Thủy), địch ở đây đóng 1 trung đội, có
công sự kiên cố, Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi nhanh chóng dẫn tổ vượt rào xông
vào đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển đánh thêm 2 lô cốt nữa, diệt 9 tên,
làm bị thương 11 tên. Sau đó, dìu được 2 đồng chí bị thương nặng ra ngoài an
toàn. Trận đánh đồn hãng Nước Đá (xã Sơn Đông) ngày 13-8-1974, đồn này do 1
trung đội địch đóng giữ, có 3 lô cốt chính và 3 lô cốt phụ, Trần Văn Cắt chỉ
huy một mũi. Kết quả mũi của Cắt đã góp phần quan trọng diệt được bọn địch ở
đây. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân
chương chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng
ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 5 lần là Dũng sĩ, 35 bằng và giấy khen. Ngày 6
-11-1978, Trần Văn Cắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Cắt sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, chuẩn úy, đại đội phó đặc công, bộ đội địa phương huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Trần Văn Cắt

Chiến đấu ở địa bàn địch đánh phá ác liệt, Trần Văn Cắt đã diệt và làm bị thương 170 tên địch, bắt 20 tên (có 11 trưởng, phó đồn, 2 trưởng ấp, thu trên 50 súng). Có trận Trần Văn Cắt được giao nhiệm vụ phụ trách 1 tổ đi điều tra tình hình 1 đại đội Mỹ đóng ở Cầu Cao chặn hành lang vận chuyển của ta. Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi luồn sâu vào trung tâm, diệt sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt đại đội Mỹ gồm 120 tên. Riêng anh diệt 7 tên, phá hủy toàn bộ điện đài. Ngày 10-2-1972, ta đánh đồn Bờ Xoài (xã Tiên Thủy), địch ở đây đóng 1 trung đội, có công sự kiên cố, Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi nhanh chóng dẫn tổ vượt rào xông vào đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển đánh thêm 2 lô cốt nữa, diệt 9 tên, làm bị thương 11 tên. Sau đó, dìu được 2 đồng chí bị thương nặng ra ngoài an toàn. Trận đánh đồn hãng Nước Đá (xã Sơn Đông) ngày 13-8-1974, đồn này do 1 trung đội địch đóng giữ, có 3 lô cốt chính và 3 lô cốt phụ, Trần Văn Cắt chỉ huy một mũi. Kết quả mũi của Cắt đã góp phần quan trọng diệt được bọn địch ở đây.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 5 lần là Dũng sĩ, 35 bằng và giấy khen. Ngày 6 -11-1978, Trần Văn Cắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Mỹ thuậtMỹ thuật
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu.

Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947, Diệp Minh Châu vẽ bức tranh Bác Hồ với thiếu nhi Bắc – Trung – Nam bằng chính máu của mình, tác phẩm hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội. Diệp Minh Châu có vinh dự được sống gần Chủ tịch Hồ Chí Minh một thời gian dài và có sáng tác nhiều tranh, tượng về Bác Hồ.

Họa sĩ Lê Văn Đệ (1906-1966), sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với hạng xuất sắc nhất, năm 1931, được một học bổng sang Pháp học tại Trường Mỹ thuật Paris. Ông đoạt giải hội họa của Hội Nghệ sĩ quốc gia Pháp, nên được nhận tiếp một học bổng đi tu nghiệp ở Ý và Hy Lạp. Năm 1936, về nước hoạt động nghệ thuật và là hiệu trưởng đầu tiên của Trường Mỹ nghệ Gia Định (Sài Gòn). Năm 1954, Lê Văn Đệ có nhiều tác phẩm lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Pháp, Bảo tàng Mỹ thuật Hy Lạp và Tòa thánh Vatican.

Trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), họa sĩ Chi Lăng và Đạt Huỳnh có nhiều tác phẩm thể hiện cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào Nam Bộ. Thời chống Mỹ, có họa sĩ Huỳnh Công Thu, quê xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, sau khi tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội, đã về Nam tham gia chiến đấu và đã hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1964). Họa sĩ Lê Tấn hy sinh tại quê nhà năm 1964. Họa sĩ Viễn Phương hy sinh năm 1968. Họa sĩ Võ Kế Nghiệp tập kết ra Bắc, sau đó được cử đi học ở Đại học Mỹ thuật Kiép (Ukraina), ngành lý luận phê bình. Năm 1968, về nước, rồi vào Nam tham gia chiến đấu, hy sinh tại Đồng Tháp Mười (1969). Họa sĩ Phan Văn Thiện cũng hy sinh trong năm này.

Sau Đồng khởi (17-1-1960), tổ hội họa thuộc Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Bến Tre trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn mọi phương tiện, đã sáng tạo ra loại phim đèn chiếu bằng cách vẽ trực tiếp lên phim nhựa, dùng đèn manchon và kính lúp, ly nước để tạo thành "máy chiếu phim" thủ công phục vụ cho công tác tuyên truyền. Hai bộ phim đèn chiếu tiêu biểu là Binh ong, bom Mỹ đại chiến” và Em gái Lương Hòa".

Khi vùng giải phóng của tỉnh được mở rộng, nhiều hội viên của Hội Mỹ thuật giải phóng đã về Bến Tre, phối hợp cùng với anh chị em họa sĩ tại chỗ sáng tác tranh, ghi lại cuộc chiến đấu hào hùng của nhân dân, tổ chức in tranh thạch bản và trưng bày tranh phục vụ đồng bào. Nhiều ký họa phản ánh người và đất Bến Tre thời chống Mỹ cho đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị nghệ thuật. Tranh của "quê hương Đồng khởi" cũng đã từng được trưng bày trong một triển lãm tại thủ đô Hà Nội.

Từ sau chiến thắng lịch sử 30-4-1975 đến nay, nhiều tranh tượng của các tác giả ở Bến Tre đã đoạt giải thưởng của Hội Mỹ thuật Việt Nam, của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Hàng chục hội viên của Hội Mỹ thuật Bến Tre là hội viên của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Một số khá đông đang công tác ở Hội Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, nhiều người đang giảng dạy ở Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Hội từ thiện Rotari khảo sát tiềm năng du lịch ở Bến TreHội từ thiện Rotari khảo sát tiềm năng du lịch ở Bến Tre

<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 26-4, ông Christopher Stewart Smale,
Chủ tịch Hội từ thiện Rotari (Úc) và phái đoàn đã đến khảo sát một số điểm có
tiềm năng phát triển du lịch tại Bến Tre.</span>
Image
Thăm cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Cồn Phụng
Ngày 26-4, ông Christopher Stewart Smale, Chủ tịch Hội từ thiện Rotari (Úc) và phái đoàn đã đến khảo sát một số điểm có tiềm năng phát triển du lịch tại Bến Tre.

Đoàn đã được bà Dương Ngọc Duyên và ông Trần Duy Phương, Giám đốc và Phó Giám đốc Sở Thương mại-Du lịch, đưa đi khảo sát thực tế tại các dự án du lịch như khu du lịch sinh thái sân chim Vàm Hồ ở xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri có diện tích 6 ha, công suất phục vụ 100.000 lượt khách/năm, tổng vốn đầu tư 20 triệu USD; khu du lịch sinh thái Cồn Ốc, xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, diện tích 15 ha, vốn đầu tư 20 triệu USD, phục vụ 100.000 lượt khách/năm; khu du lịch Cồn Qui thuộc hai xã Tân Thạch-Quới Sơn, huyện Châu Thành, diện tích 40 ha, phục vụ 200.000 lượt khách/năm, vốn đầu tư 25 triệu USD. Đây là 3 dự án lớn được ngành du lịch Bến Tre tập trung kêu gọi đầu tư.

Sau khi đi khảo sát thực tế, đoàn từ thiện Rotari đã ghi nhận một số nét lớn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, các chính sách ưu đãi của 3 điểm du lịch trên và có thể sẽ đầu tư vào một điểm có điều kiện hơn trong tương lai.

Được biết, Hội từ thiện Rotari đã thường xuyên hỗ trợ cho 100 trẻ em nghèo ở Bến Tre và nhiều chương trình từ thiện giúp các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, tạo cho họ điều kiện vươn lên trong cuộc sống. Mục đích đầu tư du lịch của Hội cũng nhằm sử dụng khoản lợi nhuận để hỗ trợ cho chương trình này.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer