Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Sự kiện
 
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ! 
 
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có. 
Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre. 
 
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1) 
 
Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...". 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Du lịch Miền Tây tham quan Châu ThànhDu lịch Miền Tây tham quan Châu Thành
Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Bến Tre là xứ sở của dừa, mà Châu Thành là một trong những huyện có diện tích trồng dừa khá lớn, đặc trưng cho Bến Tre, xa xa lúc nào cũng thấp thoáng những ngọn dừa cao vút. Nơi đây còn là  “cái nôi” của những sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo từ cây dừa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các mặt hàng như  khay  ly, chén đĩa, bình trà, đũa, muỗng, nĩa, các dụng cụ gia đình, đồ dùng văn phòng, búp bê và những con thú ngộ nghĩnh… Cọng, lá và bông dừa thì làm lẵng hoa, giỏ, đèn chụp… rất đẹp mắt đã được xuất khẩu qua nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Buổi trưa, du khách sẽ thưởng thức ẩm thực vùng sông nước với các món ăn dân dã đồng quê mang đậm chất Nam Bộ như: cá lóc nướng trui, nấm mối nướng muối ớt, lẩu cá kèo, tép rang dừa,… và đặc biệt du khách sẽ được thưởng thức món cơm dừa thơm ngon được hấp trong trái dừa. Khi ăn, du khách nhai chầm chậm cơm dừa với tép rang dừa, vị ngọt lẫn hương thơm của nước dừa thấm vào hạt cơm tan dần, sẽ làm cho du khách cũng nhận được tất cả sự thơm ngon của món cơm dừa này.

Những đặc sản đồng quê này, sẽ là những món quà độc đáo mà người dân vùng đất ba dãy cù lao này dâng tặng cho du khách nhằm mời gọi du khách bốn phương về với quê hương xứ dừa, nó đặc trưng cho không khí một vùng đất mang đậm nét thiên nhiên vùng sông nước. Dù Châu Thành  đã có bước phát triển kinh tế, đời sống người dân có được nâng lên nhưng nét văn hóa ẩm thực truyền thống vẫn còn lưu giữ.

Đến với Châu Thành, du khách không thể bỏ qua chuyến tham quan Đình Tân Thạch tọa lạc tại xã Tân Thạch- huyện Châu Thành là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia với nhiều công trình kiến trúc cổ như: liễn đối, bao lam, khánh thờ, hoành phi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy và chùa Hội Tôn cổ tự tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành là ngôi chùa cổ nhất Bến Tre do Hòa Thượng Long Thiền, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi theo những người dân đi khai hoang vào thành lập trong giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát trị vì. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc cổ, với nhiều hiện vật cổ xưa có giá trị như quả chuông đồng và các hiện vật cổ khác.

Ngoài ra Châu Thành còn nhiều điểm du lịch khác như du thuyền qua các cù lao: Long-Lân-Quy-Phụng, tham quan Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa) là những điểm thú vị đang chờ đón du khách khám phá. Đến Cồn Phụng, du khách sẽ được tham quan tìm hiểu về di tích ông đạo Dừa, chiêm ngưỡng sân rồng, tòa tháp và cửu trùng đài, du khách có thể chụp ảnh lưu niệm cho chuyến đi.

 

Thuyền đưa du khách đến các điểm tham quan ở huyện Châu Thành - Bến Tre

Thuyền đưa du khách tham quan vườn nhà ông Tư Bi trên cồn Qui, mỏi chân du khách có thể tạm nghỉ trong những căn nhà mái lợp lá nằm giữa vườn cây trái, chọn lựa để người phục vụ gọt đĩa trái cây các loại ưa thích như thanh long, thơm, ổi…hoặc uống một trái dừa xiêm ngọt lịm.

Thuyền lướt êm như ru qua con rạch Xếp xanh ngắt màu lá dừa nước, ô rô …, không gian mát mẻ, trong lành và ríu rít tiếng chim. Đi xe ngựa trên làng khoảng 2km đến thăm một số điểm thưởng thức trà, rượu mật ong, đi đò chèo, nghe nhạc tài tử Nam Bộ,  thưởng thức những món ăn đồng quê theo một hương sắc thật thanh nhã và thú vị.

 

Đi xe ngựa trên đường làng

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
 

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Cồn LợiCồn Lợi
 

Cồn thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, nằm ở phía nam cửa Hàm Luông, 30 năm về trước còn cách bờ khoảng 3km, nay được bãi bồi nối liền với đất liền trở thành bán đảo. Cuối tháng 3-1946, một đoàn cán bộ của tỉnh Bến Tre xuất phát từ Cồn Lợi đã vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho chiến trường khu 8, Nam Bộ.

Chuyến vượt biển lần thứ hai với yêu cầu tương tự như lần trước cũng xuất phát từ Cồn Lợi vào đầu tháng 7-1961 và cũng đã thành công.

Cồn Lợi cũng là một “mỏ nghêu” nổi tiếng của Bến Tre.

            “Sầu riêng, măng cục Cái Mơn,

            Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày”.

                                                                   (Ca dao)

Đã ban hành
Ẩm thựcẨm thực
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần. 
Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.         

Nhìn chung, các món ăn ngày thường và ngày lễ của người Bến Tre cũng gíống như đồng bào các tỉnh trong vùng châu thổ sông Cửu Long, nghĩa là cũng vẫn cách ăn và chế biến món ăn theo khẩu vị và kinh nghiệm của người Việt từ miền ngoài vào định cư trên đất mới với hai mùa mưa, nắng. Họ biết kết hợp việc vận dụng những kiến thức về dinh dưỡng, về y học và sinh học với việc khai thác những ưu thế mà thiên nhiên vùng đất đai, sông nước trù phú đã dành cho con người, để tạo ra những món ăn vừa ngon, vừa bổ, hợp với khí hậu và thổ nghi, đảm bảo sự cân bằng âm dương trong cơ thể, đủ sức duy trì tốt sự sống. Ở Bến Tre là xứ sở của dừa, nên việc sử dụng chất béo của cơm dừa, chất ngọt tự nhiên của nước dừa, vào bữa ăn hàng ngày rất phổ biến.

Ăn theo mùa

Ở Bến Tre, một số món ăn chỉ có theo mùa trong một thời gian nhất định và ngon nhất khi đúng mùa. Ví dụ: cá rô kho tộ, cũng như cá trê, cá bống kèo kho tộ là một món ăn "dân dã" được nhiều người ưa thích, song cá rô ngon nhất là vào tháng 9, tháng 10, lúc ấy cá có trứng và béo nhờ ăn nhiều mồi. Cua gạch và cua lột ngon nhất từ tháng 7 đến tháng 9.

Ếch nhiều và ngon vào tháng trời bắt đầu sau mưa. Lúc này, ếch sắp bắt cặp, nên rất mập và mềm xương. "Ếch tháng ba, gà tháng bảy", câu tục ngữ được tổng kết từ thực tế. Ếch xào xả ớt, nấu càri, xào với bún tàu và mấm hương, nấm mèo, hoặc tẩm bột rán vàng là những món ăn được đánh giá cao…

Bến Tre còn có nhiều loại cá ngon như cá lóc, cá bông lau, cá duồng v v… Riêng con cá cháy, một đặc sản rất hiếm chỉ xuất hiện vào mùa gió chướng ở phần cuối sông Cổ Chiên. Cá cháy ngon nhất là món kho hầm (kho mềm cả xương và vảy), hoặc nướng lửa than hay chiên tươi. Con đuôn chà là cũng là một món ăn quý, nhất là đối với khách làng nhậu. Thời nhà Nguyễn, đuôn chà và là đặc sản để “tiến” vua chúa.

Không nhiều chim như Bạc Liêu, Cà Mau, nhưng sân chim Vàm Hồ có các loài chim thịt ngon như: chàng nghịch, gà nước, cút, óc cao, cúm núm, chim sẻ, chim lá rụng, cò, diệc, quốc. Những người sành thịt chim phân biệt rất rõ loài chim ăn hạt và côn trùng với loài chim ăn cá, ốc, cua v v… Họ biết mùa nào thì thịt chim rô ti rồi ăn với gạo đặc sản vừa mới gặt, sẽ cho ta hương vị đồng quê, thơm ngon dẻo, tinh khiết, đậm đà, chỉ cần ăn một lần nhớ mãi không quên.

Đã ban hành
An BảoAn Bảo
 
Tổng lập năm 1808, có 66 thôn, thuộc huyện Tân An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.
Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
PHAN SONG TOÀN
 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Văn Lộc TrịAnh hùng liệt sĩ Văn Lộc Trị
Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm.

Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm. Văn Lộc Trị thường xuyên bám sát địa bàn, bám đất, bám dân, xây dựng được trên 30 cơ sở tích cực, làm chổ dựa vững chắc cho đơn vị hoạt động, đồng thời tạo hành lang cho cán bộ lãnh đạo huyện thâm nhập vào vùng địch hậu trực tiếp chỉ đạo phong trào. Văn Lộc Trị đã chỉ huy đơn vị và phối hợp với các đơn vị khác chiến đấu nhiều trận giành thắng lợi. Riêng đồng chí đã diệt và làm bị thương nhiều tên địch, trong đó có 1 trưởng cuộc cảnh sát, 3 trung úy trình báo, bắn bị thương 1 trực thăng, thu 3 máy chữ và nhiều tài liệu khác. Trong chiến đấu, Văn Lộc Trị luôn thể hiện sự mưu trí, kiên quyết tiêu diệt những tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân…Đặc biệt là trận chiến đấu tháng 4 năm 1972, bảo vệ an toàn cho 20 đồng chí đại biểu về dự hội nghị thi đua toàn tỉnh Bến Tre. Văn Lộc Trị đã dũng cảm vừa đánh trả quyết liệt toán phục kích của địch, vừa tìm mọi cách báo tin cho đoàn cán bộ thoát khỏi vùng nguy hiểm. Trong trận chiến đấu này Văn Lộc Trị đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng. Ngày 13 tháng 8 năm 1980, Văn Lộc Trị được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Các sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến TreCác sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến Tre
Đồng Văn Cống
Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.
Lê Dũng
Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.
Nguyễn Xuân Ôn
Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày

Trung Tướng

Đồng Văn Cống

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Lê Dũng

Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Xuân Ôn

Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày.

Võ Viết Thanh

Xã Lương Phú, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Thạnh

Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại

Thiếu Tướng

Nguyễn Thị Định

Xã Lương Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Tạ Văn Khâm

Xã An Thạnh, Huyện Mỏ Cày.

Huỳnh Xuân Quang

Xã Mỹ Hoà, Huyện Ba Tri.

Trần Nhiên

Xã Châu Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Sĩ

Phường IV, Thị xã Bến Tre.

Vũ Khắc Sương

Xã Long Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Lê Phú Tươi

Xã An Thới, Huyện Mỏ Cày.

Trần Minh Tích

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Hữu Vị

Xã Châu Bình, Huyện Giồng Trôm.


Đã ban hành
PHAN VĂN TRỊ (1830 - 1910)PHAN VĂN TRỊ (1830 - 1910)
 

Người đời thường gọi ông là Cử Trị, sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Thuận Phú Đông, huyện Giồng trôm, tỉnh Bến Tre, đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu (1849) tại trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông, nhưng nhỏ hơn ông này 3 tuổi, nhỏ hơn Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi. Phan không chỉ là bạn văn chương của hai người, mà còn là bạn chung lý tưởng chống bọn xâm lược và tay sai. Chán ghét triều đình nhà Nguyễn thối nát, ông không chịu ra làm quan, mà về dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An), sau dời về Phong Điền, tỉnh Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, làm thơ cho đến cuối đời.

Sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước khi Pháp xâm lược và sau khi Nam Kỳ rơi vào tay giặc. Giai đoạn đầu, phần lớn là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật như Cái cối xay, Con mèo, Con rận, Con cào cào, Con cóc, Hột lúa... nhằm gởi gắm tâm sự, tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi đất nước rơi vào vòng nô lệ, ông chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và đám tay sai.

Ông nổi tiếng trong cuộc bút chiến chống Tôn Thọ Tường (1825-1877), một tên tay sai của giặc Pháp, dù trước đây hai người là bạn thơ trong nhóm Bạch Mai thi xã. Bị dư luận lên án gay gắt, Tôn Thọ Tường làm bài thơ Từ Thứ quy Tào để ngụy biện, chống đỡ cho hành động phản dân hại nước của y. Phan Văn Trị công kích luận điệu của Tường bằng bài thơ Hát bội.

Cuộc bút chiến dưới hình thức họa thơ nổ ra từ đó. Tôn Thọ Tường làm 10 bài thơ liên hoàn tự thuật, tán dương sức mạnh vật chất của thực dân, cho rằng lực lượng kháng chiến non kém khó mà địch nổi, và trong thực tế cuộc kháng chiến đang lâm vào cảnh bi thảm. Cho nên người trí thức khôn ngoan là phải biết "tùy thời" mà ở.

Họa lại những bài thơ ấy, Phan Văn Trị đã mắng Tôn Thọ Tường là "đứa ngu", là kẻ "đáy giếng trông trời trơ mắt ếch", là "thằng hoang", là "đứa dại trót đời già cũng dại", là "loại tanh nhơ"... Bằng những lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, bằng những hình tượng độc đáo, rất đắt, với một thái độ đĩnh đạc, hiên ngang, ông giáng cho tên tay sai trơ trẽn này những cái tát đau điếng. Ông thách thức:

“Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay!"

Trong cuộc họa thơ này, Phan Văn Trị đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ vào cuộc như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt..., ông cảm hóa được những người lầm đường lạc lối như Lê Quang Chiểu trở về với chính nghĩa dân tộc, chống lại luận điệu bịp bợm của bọn bán nước.

Trong lịch sử văn chương yêu nước chống xâm lược trong gần một thế kỷ qua, cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị mang một giá trị đặc biệt. Thơ ông là lời phát ngôn của phong trào chống Pháp rộng lớn của sĩ phu và nhân dân Nam Kỳ ở cuối thế kỷ XIX. Đến nay, nhiều sáng tác của ông chưa sưu tầm hết, nhưng với trên dưới 50 bài thơ, mà chúng ta biết được, cho thấy rằng nhà thơ có một nhận thức sáng suốt, một lập trường kiên định, một tinh thần tự hào lạc quan, một khí phách hiếm thấy và một ý thức trách nhiệm công nhân đầy đủ đối với dân tộc và đất nước. Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ những nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng văn học yêu nước chống xâm lược thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích... Trong phạm vị của tỉnh Bến Tre, Phan Văn Trị là ngọn cờ tiêu biểu thứ hai của văn chương yêu nước sau Nguyễn Đình Chiểu.

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Nơi nghỉ dưỡng phù hợp cho khách du lịch sông nước miệt vườnNơi nghỉ dưỡng phù hợp cho khách du lịch sông nước miệt vườn
Trung tâm điều dưỡng Người có công, tọa lạc bên bờ sông Hàm Luông thuộc ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; cách thành phố Bến Tre 02 km về hướng Tây Nam; du khách qua cầu Mỹ Hóa (cầu Bến Tre II) đến vòng xoay và rẽ phải về hướng sông Hàm Luông 01 km là đến nơi; đây là công trình xây dựng từ năm 2010, đã được khánh thành đưa vào hoạt động ngày 29/9/2013.

Trung tâm điều dưỡng Người có công, tọa lạc bên bờ sông Hàm Luông thuộc ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; cách thành phố Bến Tre 02 km về hướng Tây Nam; du khách qua cầu Mỹ Hóa (cầu Bến Tre II) đến vòng xoay và rẽ phải về hướng sông Hàm Luông 01 km là đến nơi; đây là công trình xây dựng từ năm 2010, đã được khánh thành đưa vào hoạt động ngày 29/9/2013.

 

Trung tâm với một khuôn viên rộng 1,5 hecta, nằm cập bờ sông Hàm Luông, với bầu không khí trong lành, mát mẻ phù hợp với việc nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe, tham quan du lịch,…; Tất cả gồm có ba khách sạn độc lập, với 36 phòng nghỉ, cả phòng đôi và phòng đơn cùng các hạng mục như: Nhà điều hành; thư viện; hội trường 150 chỗ dùng cho hội nghị, hội thảo; nhà ăn 250 chỗ và một số nhà ăn được thiết kế độc lập, thoáng mát, tiện cho khách đến đặt tiệc hoặc đối ẩm giải trí với bạn bè, phù hợp cho mọi lứa tuổi và mọi đối tượng…;  hạ tầng kỹ thuật gồm sân vườn, bồn hoa, cây xanh, hồ cảnh, vòi phun, hệ thống điện, chiếu sáng, … tạo thành một khu nghỉ dưỡng tuyệt vời của du khách khi đến Bến Tre.

Trung tâm điều dưỡng vừa phục vụ cho người có công với cách mạng trong và ngoài tỉnh, vừa phục vụ cho khách du lịch đến Bến Tre; đây là nơi êm ả với những làn gió nhẹ nhàng từ sông Hàm Luông thổi vào, du khách sẽ ngắm nhìn những ngọn sóng nhấp nhô bên bờ sông hòa lẫn trong những rặng cây dừa nước, những cây bần bên bờ sông trong những lúc đi dạo xung quanh, đặc biệt là những lúc về đêm, du khách sẽ ngắm nhìn những con đom đóm chóp lửa thật đều như đang thưởng thức một bài ca trữ tình, lãng mạn.

Để đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng với số lượng đông của đối tượng người có công với cách mạng tại Bến Tre và các tỉnh bạn; cũng như du khách thập phương đến tham quan, nghiên cứu, học tập, hoặc khách du lịch trong và ngoài nước đến với quê hương xứ dừa; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội mở rộng thêm 5.000m2 đất để đầu tư các hoạt động của trung tâm cho giai đoạn 2 của dự án.

Hiện tại Trung tâm bước đầu đi vào hoạt động gồm các hoạt động như:

- Phòng nghỉ đầy đủ tiện nghi như tivi, tủ lạnh, bồn tắm, giường ngủ,… tương đương phòng nghỉ khách sạn tầm sao, nhưng giá chỉ 300.000đ/ngày đêm;

- Nhà hàng ăn uống phục vụ các món ăn từ bình dân đến cao cấp, các món ăn Âu, Á với giá cả phù hợp, đặt biệt là vào ngày thứ bảy, chủ nhật, giá ăn buffet cho một xuất chỉ 80.000đ;

- Trung tâm phục vụ các tour tham quan trong và ngoài tỉnh theo yêu cầu của du khách.

Bến Tre là quê hương xứ dừa, là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, khi cầu Rạch Miễu khánh thành, cầu Hàm Luông đi vào hoạt động; Bến Tre không còn là tỉnh lẻ mà đã thông thương, không phải lụy phà; nét nguyên sơ còn nguyên vẹn tạo ra được thế mạnh và là cơ hội cho du lịch sinh thái miệt vườn ở vùng sông nước Bến Tre phát triển. Trước đây các lữ hành chỉ đón khách du lịch từ phía Mỹ Tho để đưa khách qua sông Tiền về với các xã ven sông của huyện Châu Thành - Bến Tre rồi trở về Tiền Giang và về TP. HCM; nhưng những năm gần đây du khách về thẳng tận Bến Tre và du lịch sinh thái mở rộng qua vùng Nam TP. Bến Tre, các lữ hành đã tạo nhiều tour tham quan du lịch sinh thái, làng nghề ở các xã Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thuộc TP. Bến Tre; du khách đã đến ngày càng đông và nhất là khách Quốc tế.

 

Trung tâm điều dưỡng đưa vào hoạt động cũng là thời điểm phù hợp trong việc phát triển du lịch phía Nam thành phố, nhằm tạo điều kiện giữ chân du khách ở lại Bến Tre để du khách có điều kiện tham quan những khu di tích lịch sử, những làng nghề truyền thống, những làng hoa kiểng, cây giống đã được mệnh danh là vương quốc cây giống, những vườn cây ăn trái trĩu quả quanh năm tại Bến Tre,…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nước mặtNước mặt
Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3.
Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3.

Song dòng chảy các sông ở tỉnh Bến Tre không đơn thuần do nước từ thượng nguồn đổ về, mà còn do thủy triền biển Đông theo các cửa sông xâm nhập sâu vào trong đất liền, tạo nên dòng chảy khá phức tạp trong những con sông lớn, nhỏ của tỉnh.

Bằng những tính toán, người ta có thể tách riêng được lượng nước ngọt ra khỏi lượng nước nói chung (bao gồm cả nước triều) của các dòng sông.

Lượng dòng chảy mùa cạn

Mùa cạn (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), sông Tiền được phân phối khoảng 52% lượng nước từ thượng nguồn về. Lượng nước này được phân phối cho các sông chảy qua Bến Tre như sau:

- Sông Mỹ Tho có 1.598 m3/giây, trong đó chia ra: cửa Tiểu 236,8 m3/giây, cửa Đại 473,6 m3/giây, cửa Ba Lai 59 m3/giây, cửa Hàm Luông 828 m3/giây.

- Sông Cổ Chiên có 1.480 m3/giây, trong đó chia ra: cửa Cổ Chiên 710,4 m3/giây, cửa Cung Hầu 769,6 m3/giây.

Nếu không bị lấy từ thượng nguồn và không có nước mặn do thủy triều từ biển Đông đẩy vào, thì Bến Tre có thể đủ nước ngọt cho cả đời sống và sản xuất. Song những dòng sông trong xanh này về mùa cạn phần lớn lại chứa một lượng muối khoáng từ 4,5% tới trên 20%, cho nên trong những tháng này, thường bị thiếu nước ngọt nghiêm trọng và người ta phải tính toán khai thác nước ngầm để bù đắp vào.

Lượng dòng chảy mùa lũ

Về mùa lũ, lượng nước ngọt bên phía sông Tiền chiếm xấp xỉ 52% tổng lượng nước của cả sông Tiền và sông Hậu. Lượng nước này được chia ra như sau:

- Sông Mỹ Tho có 6.480 m3/giây, trong đó cửa Tiểu 960 m3/giây, cửa Đại 1.920 m3/giây, cửa Ba Lai 240 m3/giây, cửa Hàm Luông 3.360 m3/giây.

- Sông Cổ Chiên 6.000 m3/giây, trong đó cửa Cổ Chiên 2.880 m3/giây, cửa Cung Hầu 3.120 m3/giây.

Với lượng nước này, nếu thượng nguồn có những công trình điều tiết, trữ nước mùa lũ, xả nước mùa khô, thì lượng nước mùa khô tăng lên có thể đẩy mặn xuống hạ lưu xa hơn, mực nước trong sông cao hơn, chắc chắn sẽ cải thiện được giao thông thủy và việc cấp nước cho đời sống và sản xuất.

Đã ban hành
Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công...
Tổng tiến công và nổi dậy theo phương châm “hai chân, ba mũi” trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân Bến Tre phải nỗ lực lớn, sử dụng mọi khả năng cho đòn tiến công tổng lực, trong đó lực lượng Đặc công là quả đấm quân sự quan trọng.

Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đặc công ở các huyện, thị xã được điều động cùng các phân đội Đặc công của tỉnh, đại đội Đặc công của Tiểu đoàn 516 và phân đội đánh phá giao thông bộ… hợp thành biên chế 2 đại đội Đặc công A và B.

Hai đại đội Đặc công gấp rút học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ. Sau đó được bổ sung thêm lực lượng Đặc công của các huyện để hình thành 4 bộ phận Đặc công không mang phiên hiệu, sẵn sàng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành của các hướng các mũi đồng loạt tiến công vào thị xã Bến Tre xuân Mậu Thân 1968.

HoangLam.jpg

Anh hùng LLVT Phan Bình Trung (Hoàng Lam)
hy sinh trong tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968.

Các bộ phận Đặc công được phân công làm mũi nhọn dẫn đầu bộ binh đánh địch. Mặc dù lực lượng Đặc công được phân công không đúng chức năng nghiệp vụ kỹ thuật tác chiến, nhưng với bản chất tiến công của binh chủng “đặc biệt tinh nhuệ” đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu trên tinh thần “quân lệnh như sơn”. Đội hình bộ đội Đặc công khi bước vào chiến dịch tiến công thị xã được bố trí cụ thể:

- Bộ phận 1 ở phía tả ngạn sông Bến Tre có 1 trung đội bảo vệ Ban chỉ huy thống nhất, 1 trung đội làm lực lượng dự bị và 1 trung đội được phân công tiến công sân bay Tân Thành.

- Bộ phận 2 theo cánh 2 tiến công vào nội ô từ hướng Bình Phú, Bình Nguyên.

- Bộ phận 3 theo cánh 3 từ hướng Hữu Định tiến công địch đóng dã ngoại ở khu Vườn Ươm, trận đại pháo sân bóng đá thị xã và hậu cứ Trung đoàn 10 ngụy.

- Bộ phận 4 vượt sông Bến Tre tiến công theo hướng cầu Cá Lóc và đường Nguyễn Huệ.

Riêng Đặc công thủy chia làm 2 bộ phận “ém quân” sẵn bên bờ hữu ngạn sông Bến Tre để yểm trợ và làm đầu cầu cho Tiểu đoàn 516 vượt sông tiến công làm chủ các mục tiêu quan trọng về quân sự, hành chánh, thương mại, trong đó dinh Tỉnh trưởng là mục tiêu chủ yếu.

Khi kết thúc giai đoạn “Pháo hỏa chuẩn bị” thì các bộ phận Đặc công thủy, Đặc công bộ đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quân sự và là những mũi nhọn mở đường cho lực lượng bộ binh các hướng các mũi tiến công địch ở thị xã.

Đêm 31-1-1968, tất cả các lực lượng trong đó có Đặc công từ điểm tập kết trên các hướng xuất phát hành quân, lặng lẽ bí mật tiếp cận thị xã, triển khai lực lượng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công. Trong khi đó, các tỉnh miền Trung, thành phố Huế và Sài Gòn – Gia Định tiến công trước nên địch kịp thời hủy lệnh “hưu chiến”. Ngụy quân, ngụy quyền Kiến Hòa có ý thức chủ động đối phó, cảnh giác bắn pháo sáng dọc theo sông Bến Tre, pháo binh của chúng bắn vào những nơi nghi ngờ ở vùng ven thị xã nhằm ngăn chặn hướng tiến quân của “đối phương”.

Đêm 1 rạng 2-2-1968 (tức đêm mùng 2 rạng mùng 3 Tết Mậu Thân) khi kết thúc pháo lệnh thì Đặc công thủy nhanh chóng lên bờ tiêu diệt các mục tiêu nhỏ lẻ bên hữu ngạn sông Bến Tre, chiếm giữ 2 đầu cầu của đoạn đường Hùng Vương để yểm trợ cho Tiểu đoàn 516 vượt sông. Cùng thời gian ấy bộ đội Đặc công trên các hướng các mũi thực hành tiến công mở đường cùng bộ binh đánh vào các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Cá Lóc, Vườn Ươm, trận địa pháo sân bóng đá thị xã, hậu cứ Trung đoàn 10, sân bay Tân Thành… . Ở mũi thứ yếu của hướng tiến công chủ yếu, bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam tiến công đánh chiếm bãi Quân xa (trại Đinh Tiên Hoàng), phá hủy 6 xe bọc thép bánh hơi, kềm chân địch để mũi chủ yếu và thứ yếu của Tiểu đoàn 516 phát triển đánh vào các mục tiêu quy định. Tiểu đoàn 41 Biệt động quân của ngụy bảo vệ dinh Tỉnh trưởng đã triển khai đội hình chống trả quyết liệt các mũi tiến công của ta. Đồng chí Hoàng Lam và Mười Thanh chỉ huy đơn vị kiên quyết xung phong đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực phòng thủ của chúng ở các dãy nhà dọc theo lộ Hùng Vương. Tiểu đoàn BB2 của ta từ hướng Bình Phú hành tiến vào nội ô, nhưng đánh chệch mục tiêu và không bắt tay được với mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516. Từ đó bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam và đại đội bộ binh thuộc mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516 quần nhau với lực lượng địch phòng thủ ở dinh Tỉnh trưởng và chiến đấu ngăn chặn Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 10 ngụy phản kích từ hướng Mỹ Hóa vào cứu nguy đồng bọn trong nội ô. Tương quan lực lượng lúc này có lợi cho địch nên đặc công và bộ binh của mũi thứ yếu bị thiệt hại nặng. Mặc dù mất sức chiến đấu, nhưng lực lượng còn lại của Đặc công thủy quyết chiến với địch, gây cho địch thiệt hại đáng kể. Số cán bộ chiến sĩ Đặc công thủy bị thương được dân công hỏa tuyến đưa về tuyến sau. Hoàng Lam – người con ưu tú của đất thép Giồng Trôm, một cán bộ trẻ gan dạ, thông minh và dũng cảm của binh chủng Đặc công đã anh dũng hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các mũi Đặc công bộ tiến công mở đường cùng bộ binh tiến đánh vào các mục tiêu quân sự trong nội ô thị xã và sân bay Tân Thành. Phân đội Đặc công ở hướng Tây-Bắc thị xã có nhiệm vụ tiến công sân bay do Chủ nhiệm binh chủng Hoàng Quốc Thanh trực tiếp chỉ huy kiên quyết nổ súng tiến công Tiểu đoàn 401 Bảo an, bọn chiến tranh tâm lý và Tiểu đoàn pháo binh ngụy, diệt 1 máy bay trinh sát L19, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm. Địch bị động lúng túng đối phó lúc đầu, nhưng chúng cũng kịp hoàn hồn và phản kích quyết liệt. Khi bộ binh và pháo binh của Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ can thiệp vào chiến trường Bến Tre thì phân đội Đặc công hướng Tây-Bắc cùng lực lượng vũ trang địa phương hoạt động tác chiến phục kích để tiêu hao sinh lực và làm chậm bước tiến của bộ binh Mỹ phản kích vào nội ô. Việc 1/3 quân số của Sư đoàn 9 Mỹ tham chiếm đã chứng tỏ mức độ chiến sự ở Bến Tre ác liệt chỉ đứng sau mặt trận Sài Gòn-Gia Định và Huế. Địch hình thành liên quân Việt – Mỹ phản kích vào nội ô thị xã Bến Tre từ 3 hướng Tân Thành, Mỹ Hóa, Phú Hưng. Ưu thế lúc này thuộc về lực lượng phản kích. Bom pháo của địch tăng cường hủy diệt các khu vực và mục tiêu ta đánh chiếm. Ban chỉ huy thống nhất ra lệnh đại bộ phận rút ra ngoại ô. Riêng các đơn vị Đặc công của tỉnh được củng cố gọn nhẹ cùng lực lượng Đặc công biệt động thị xã tích cực hoạt động đánh phá, ngăn chặn, kềm chân, làm giảm tốc độ phản kích của địch, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 516 và các đơn vị bạn hình thành trận địa phục kích đón đánh quân phản kích, làm thiệt hại nặng 2 Tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở phía nam cầu Cá Lóc và bắc cầu Gò Đàng. Một phân đội Đặc công thủy chiếm giữ cầu Cá Lóc theo mệnh lệnh của Tham mưu trưởng mặt trận, liên tục chiến đấu ngày đêm với địch, diệt nhiều tên và phá hủy 10 xe quân sự.

Đối với lực lượng Đặc công các huyện cũng có nỗ lực lớn trong xây dựng và tham gia chiến đấu. Sau khi được điều phần lớn cán bộ chiến sĩ đặc công về nhận nhiệm vụ ở tỉnh, còn lại số cốt cán từ 3 đến 5 đồng chí ở mỗi huyện đã phát triển được 1 đến 2 tiểu đội, khẩn trương huấn luyện nghiệp vụ, chuẩn bị mọi mặt tham gia tổng tiến công. Nổi bật là Đặc công huyện Mỏ Cày đã xây dựng được 1 trung đội và 1 tiểu đội; Châu Thành và Giồng Trôm mỗi huyện có 1 trung đội Đặc công.

Bước vào tổng tiến công, Đặc công Mỏ Cày tiêu diệt các đồn trụ xung quanh thị trấn như tua gác cầu Việt Hoa, công sở Đa Phước Hội. Sau đó cùng bộ binh đánh địch trong nội ô thị trấn, tiêu diệt các đồn trên tuyến giao thông 30 (đồn cống Cây Keo, đồn thằng Quang, đồn Bếp Lý). Khi địch đổ bộ bằng đường không để phản kích thì Đặc công Mỏ Cày thực hiện tập kích quân dã ngoại, diệt 2 tiểu đội địch, thu vũ khí, liên tục tiến công 5 đêm làm cho chúng hoảng sợ. Ở Giồng Trôm, lực lượng Đặc công cùng bộ binh của huyện tiến công đồn bót ven giao thông và quanh thị tứ Mỹ Lồng, đốt kho xăng. Sau đó cùng các đơn vị bạn tiến công địch trong nội ô thị trấn. Đặc công các huyện còn lại đã cùng lực lượng nổi dậy chiếm nhiều đồn bót và đánh quân phản kích, góp phần vào thành tích chung của địa phương.

Binh chủng Đặc công Bến Tre phát triển nhanh chóng và góp công khá xuất sắc trong đợt Tổng tiến công. Chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, hiệu suất chiến đấu cao. Các đơn vị Đặc công từ tỉnh đến huyện chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết một lòng, gắn bó với các đơn vị bạn, kiên quyết tiến công kẻ thù, lập công tập thể. Bộ đội Đặc công cùng với các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận, đoàn thể quần chúng… tham gia tổng tiến công và nổi dậy, chung sức tạo nên bản anh hùng ca xuân Mậu Thân 1968.

Đã ban hành
Chương trình Famtrip tại Bến Tre “Cồn Phụng - khám phá vùng đất tứ linh”Chương trình Famtrip tại Bến Tre “Cồn Phụng - khám phá vùng đất tứ linh”
Cùng đồng hành chia sẻ, kết nối với “Diễn đàn Du lịch Việt Nam” (Vietnam Tourism Forum, viết tắt VTF) trong sự phát triển của Ngành Du Lịch Việt Nam nói chung và du lịch Bến Tre nói riêng. Ngày 01/10/2012 tại Khu du lịch Cồn Phụng đã phối hợp với “Diễn đàn Du lịch Việt Nam” tổ chức chương trình Famtrip về Miền Tây khảo sát tuyến Mêkông, du lịch sinh thái, sông nước, miệt vườn với chủ đề “Cồn Phụng – khám phá vùng đất tứ linh”.

Cùng đồng hành chia sẻ, kết nối với “Diễn đàn Du lịch Việt Nam” (Vietnam Tourism Forum, viết tắt VTF) trong sự phát triển của Ngành Du Lịch Việt Nam nói chung và du lịch Bến Tre nói riêng. Ngày 01/10/2012 tại Khu du lịch Cồn Phụng đã phối hợp với “Diễn đàn Du lịch Việt Nam” tổ chức chương trình Famtrip về Miền Tây khảo sát tuyến Mêkông, du lịch sinh thái, sông nước, miệt vườn với chủ đề “Cồn Phụng – khám phá vùng đất tứ linh”.

Tham gia chương trình có trên 120 thành viên của Diễn đàn Du lịch Việt Nam đại diện cho 90 Công ty Lữ hành, Du lịch, Vận Chuyển, Nhà hàng, Khách sạn trong và ngoài nước ở ba miền Bắc, Trung, Nam tham dự.

Chương trình được khởi hành từ Tp Hồ Chí Minh và điểm đến là Cồn Phụng  Bến Tre. Du thuyền Cồn Phụng đã đưa thành viên đoàn Famtrip du ngoạn trên sông Tiền ngắm cảnh sông nước và khám phá sinh thái miệt vườn tại các điểm du lịch tại các xã ven sông Tiền của huyện Châu Thành, Bến Tre. Đến Cồn Quy đoàn tổ chức 03 đội hóa thân làm nông dân miệt vườn xứ dừa thi nhau tát mương bắt cá trong mưa. Những con cá, tôm bắt được, đoàn đem về Cồn Phụng chế biến thành những món ăn dân dã miệt vườn rất độc đáo. Sau đó đoàn đến khảo sát điểm du lịch Quê Dừa, xã Quới Sơn, thưởng thức “ngũ quả” thứ thiệt của miệt vườn sông nước Bến Tre từ quả chua đến ngọt, sau đó uống trà mật ong nóng để làm ấm thêm lòng du khách. Đoàn tiếp tục hành trình trên những chiếc xe ngựa trên đường làng quê Quới Sơn, Tân Thạch và du ngoạn cùng những chiếc xuồng chèo trên một đoạn sông rạch toàn là cây dừa nước và bần.

Du thuyền đón đoàn trở về Cồn Phụng dự tiệc liên hoan, thưởng thức các món ăn dân dã miệt vườn vùng sông nước xứ dừa, trong đó có món ăn được chế biến từ những cá, tôm thu hoạch của đoàn trên Cồn Quy. Thành viên của đoàn cùng sôi động hòa vào giao lưu văn nghệ, tham gia các trò chơi quản trò…. Thời tiết mưa cả ngày, nhưng chuyến hành trình thật lý thú, đầy hào hứng và vui nhộn. Các đồng nghiệp cùng hội tụ trao đổi giao lưu – học hỏi – hợp tác kinh doanh giữa các đơn vị Lữ hành Du lịch trong nước và ngoài nước, cùng trao đổi khám phá thêm tuyến điểm mới, cũng như những suy nghĩ, cảm nhận việc khảo sát lại các dịch vụ du lịch sinh thái miệt vườn Miền Tây, trong đó có Bến Tre.

 

Các đồng nghiệp giao lưu văn nghệ tại cồn Phụng

Chương trình Famtrip “Cồn Phụng – khám phá vùng đất tứ linh” là dịp để các đồng nghiệp có thời gian thư giãn sau một mùa cao điểm; đặc biệt, là cơ hội để các đồng nghiệp từ mọi miền đất nước kết nối giao lưu, tham quan khảo sát, trải nghiệm và nâng cao tinh thần đoàn kết, chia sẻ, rút kinh nghiệm những kết quả đã đạt được và những hạn chế nhất định qua một thời gian dài cùng hợp tác, liên kết làm việc với nhau. Từ đó, cùng đưa ra giải pháp khắc phục, nhằm tiếp tục liên kết phát triển tour, tuyến, điểm du lịch về Miền Tây ngày càng tốt hơn, trong đó có điểm đến ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre khám phá sông nước, miệt vườn và văn hóa – lịch sử.

Chương trình Famtrip “Cồn Phụng – khám phá vùng đất tứ linh” là một trong các hoạt động chào mừng sinh nhật lần 3 của “Diễn đàn Du lịch Việt Nam”  và cũng là hoạt động hưởng ứng ngày Du lịch thế giới 27/9/2012. Chương trình Famtrip đã để lại ấn tượng cho giới lữ hành, giới hướng dẫn chuyên nghiệp và một kỉ niệm khó phai trong năm 2012.

 

Đoàn Famtrip của diễn đàn VTF họp mặt liên hoan tại Cồn Phụng 

Hy vọng sau chương trình Famtrip “Cồn Phụng – khám phá vùng đất tứ linh”, Bến Tre sẽ có thêm nhiều hãng lữ hành kết nối, phát triển và làm nên nhiều điểm đến du lịch trên quê hương xứ dừa Bến Tre Đồng Khởi.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Du lịch lễ hội xứ dừaDu lịch lễ hội xứ dừa
“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.

Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông… Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Hội đình Phú Lễ

Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

 

Món ăn đạt giải trong "Liên hoan ẩm thực"

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Di tích Mộ nhà giáo Võ Trường ToảnDi tích Mộ nhà giáo Võ Trường Toản
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, không tham gia vào chính trị, từ chối mọi điều ban phát.

Image
Đền thờ Võ Trường Toản
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học, không tham gia vào chính trị, từ chối mọi điều ban phát.

 Nhiều học trò của ông nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm… Ông mất ngày 27-7-1792.

 Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt Võ Trường Toản về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), lúc bấy giờ còn là đất tự do. Văn bia dựng tại mộ do Phan Thanh Giản soạn thảo.

 Hiện nay, khu mộ của ông bà và con gái được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong, 2 tầng để thờ Võ Trường Toản và làm nơi tưởng niệm của khách thập phương.

 Di tích mộ Võ Trường Toản được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24-1-1998.

Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)
&nbsp;

Image
Nguyễn Thanh Trà (1918-1952)
Sinh năm 1918 trong một gia đình trung lưu ở Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh Trà tham gia phong trào yêu nước ngay từ lúc còn là học sinh. Học hết trung học, Trà về quê, được các đồng chí hoạt động bí mật vùng Sóc Sãi tuyên truyền, giác ngộ và được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1935, sau đó được phân công làm Bí thư chi bộ xã Tiên Thủy.

   Khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương thành lập, Nguyễn Thanh Trà tham gia rất tích cực phong trào công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội do Đảng phát động, vận động quần chúng ở địa phương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Nhờ tài diễn thuyết lưu loát, hấp dẫn nên đến đâu, ông cũng thu hút được đông đảo quần chúng. Năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi nhà tù trở về Bến Tre ngày càng đông, đã nhanh chóng khôi phục lại phong trào ở địa phương. Khi Đảng bộ Bến Tre được củng cố lại, Nguyễn Thanh Trà được cử vào Tỉnh ủy (4-1936), phụ trách quận Sóc Sãi.

   Năm 1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ở Đông Dương, thực dân Pháp quay ra đàn áp, khủng bố gắt gao, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù. Cuối năm này, trong một chuyến công tác, ông bị sa vào tay của bọn mật thám Pháp. Chúng đem về giam ở Sài Gòn một thời gian, rồi đưa đi an trí ở “căng” Tà Lài.

   Đầu năm 1944, cùng với một số đồng chí khác, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục Tà Lài, trở về Sóc Sãi, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng cũ của địa phương, xây dựng lại phong trào. Tháng 3-1945, Nguyễn Thanh Trà được bầu vào Tỉnh ủy, thành viên của Ủy ban khởi nghĩa Bến Tre.

   Sau ngày CMT8-1945, đồng chí được cử giữ chức Phó trưởng Ty Công an tỉnh, phụ trách lực lượng cảnh sát, do đó đồng bào quen gọi là "Cò Trà". Khu UBKC tỉnh (về sau đổi thành UBKCHC) được thành lập, ông được cử làm ủy viên.

   Đầu năm 1948, tên Léon Leroy tung quân càn quét, đánh phá khốc liệt phong trào, tiến hành bình định hai cù lao Bảo và Minh. Nhiều cơ sở cách mạng bị đánh bật ra khỏi địa phương. Các cơ quan, đơn vị vũ trang phải rút về rừng Thạnh Phú và Bình Đại.

   Năm 1951, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre đưa cán bộ trở về bám đất bám dân, những chi bộ “ly xã" trở về bám lấy cơ sở, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó bí thư Thị ủy Bến Tre.

   Trong một trận càn, Nguyễn Thanh Trà bị bắt và do sự khai báo của một cán bộ đầu hàng, nên bị lộ. Biết ông là một cán bộ lãnh đạo ở địa phương, có học thức, lại thuộc thành phần khá giả, nên địch tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hứa hẹn dành cho một chỗ ngồi có bổng lộc cao sang, nhưng đồng chí một mực từ chối, không thừa nhận những điều mà tên phản bội đã nói.

   Không đạt được mục đích, bọn chỉ huy ra lệnh dùng mọi cực hình tra tấn ông rất dã man, cuối cùng vẫn không moi được một điều gì quan trọng như chúng muốn. Trong nhà giam, kiệt sức vì đòn roi và bị bỏ đói, đồng chí cảm thấy mình không thể kéo dài được sự sống bao nhiêu ngày nữa, đã dùng mảnh chai đựng nước cam, rạch bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam dòng chữ "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” rồi móc ruột mà chết. Kẻ địch phát hiện kịp, đã gọi bọn lính đến băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu ở nhà thương. Nhưng ông đã bứt băng, lôi ruột mình ném vào mặt bọn gác ngục, rồi tắt thở. Hôm ấy là ngày 24 tháng giêng năm Tân Mão (1952), lúc vừa tròn 33 tuổi.

   Tấm gương hy sinh đầy tiết khí cách mạng trước uy lực kẻ thù của Nguyễn Thanh Trà có tác dụng động viên, giáo dục rất lớn đối với cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ. Và, cho đến nay, gần nửa thế kỷ trôi qua, tên tuổi và hành động anh hùng của đồng chí vẫn còn in sâu trong ký ức của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân Bến Tre. Năm 2000, ông được Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn Bà TưCồn Bà Tư
<br />

Cồn cát nằm cạnh dải rừng ngập mặn ở xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, ngày xưa có tên là cồn Trẹt. Bà Võ Thị Phò tục danh bà Tư Phò đến đây lập nghiệp từ đầu thế kỷ XX. Trong suốt 30 năm chống Pháp và chống Mỹ, bà đã kiên cường bám trụ nơi cồn này, bất chấp chính sách dồn dân, đàn áp và khủng bố của địch, bà vừa làm liên lạc, tiếp tế cho bộ đội và trại thương binh đóng ở rừng Thừa Đức.

Tên bà Tư Phò trở thành điểm sáng của tinh thần yêu nước kiên cường của huyện Bình Đại. Chồng và 2 con bà là liệt sĩ. Nhân dân và cán bộ quen gọi nơi bà bám trụ là cồn bà Tư, còn cái tên cồn Trẹt thời xa xưa đã rơi vào quên lãng, chỉ còn lại trên bảng đồ cũ. Bà Tư Phò được nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đã ban hành
Cù lao MinhCù lao Minh
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn hợp thành tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Bảo và cù lao Minh. Đến 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách ra khỏi tỉnh Mỹ Tho nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Minh gồm: huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày và huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Sông Hàm LuôngSông Hàm Luông
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Chính vì thế, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh, góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

 Hệ thống sông Hàm Luông

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

K. Xáng

Ranh giới xã Sơn Định và thị trấn Chợ Lách, nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên

7,5 km

R. Lách

Từ thị trấn Chợ Lách đến xã Long Thới (H. Chợ Lách)

7,0 km

R. Sóc Sãi

Từ xã Tân Phú đến xã Tiên Thủy (H. Châu Thành)

10,0 km

R. Vĩnh Thành

Từ xã Vĩnh Thành qua xã Phú Sơn thông với rạch Cái Mơn (H. Chợ Lách)

10,0 km

R. Cái Mơn

Ranh giới giữa xã Vĩnh Thành và xã Tân Thiềng (H. Chợ Lách)

9,0 km

S. Cái Cấm

Ranh giới của 3 xã Thanh Tân, Thạnh Ngãi và Tân Thành Bình (H. Mỏ Cày)

11,0 km

S. Bến Tre

Từ xã Tân Hào (H. Giồng Trôm) qua xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre)

20,0 km

R. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã Tân Thành Bình và xã Định Thủy

6,5 km

R. Cái Sơn

Từ xã Sơn Phú đến xã Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

7,5 km

R. Giồng Keo

Từ xã Thành An đến xã Hòa Lộc nối với R. Mỏ Cày

5,5 km

R. Thủ Cửu

Từ xã Long Mỹ đến xã Phước Long (H. Giồng Trôm)

6,0 km

K. Giồng Trôm

Từ thị trấn Giồng Trôm, đến xã Lương Hòa, nối với R. Ông Hương

8,0 km

R. Tài Phú

Ranh giới của 3 xã Thuận Điền, Lương Phú, Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

6,0 km

R. Cái Mít

Từ xã Hưng Lễ đến xã Thạnh Phú Đông (H. Giồng Trôm), thông với K. Tắc

7,0 km

R. Tân Hương

Từ xã Hương Mỹ đến xã Minh Đức (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Hương Điểm

Từ xã Tân Lợi Thạnh đến xã Hưng Nhượng (H. Giồng Trôm) đào năm 1885

5,0 km

R. Sơn Đốc

Từ xã Hưng Nhượng đến xã Hưng Lễ (H. Giồng Trôm), nối với K. Miễu Ông và K. Tắc

5,0 km

R. Giồng Luông

Từ xã Tân Phú đến xã Phú Khánh (H. Thạnh Phú)

6,0 km

R. Băng Cung

Từ xã Mỹ Hưng đến xã Giao Thạnh (H. Thạnh Phú) 2 đầu gặp sông Hàm Luông

21,0 km

R. Cái Bông

Từ xã Mỹ Chánh đến xã An Hiệp (H. Ba Tri)

13,0 km

R. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã An Đức, thông ra sông Hàm Luông

8,0 km

K. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã Phú Ngãi, thông với K. Đồng Xuân

6,5 km

R. Bà Hiền

Từ xã Tân Thủy đến xã An Hòa Tây (H. Ba Tri)

8,0 km

Chú thích

(1)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

 
Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer