Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945
Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một).

Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của nông dân chống cướp đất, đòi chia ruộng công, chống sưu cao thuế nặng cũng liên tiếp nổ ra tại một số tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng với một số cuộc bãi khóa của học sinh và bãi chợ của tiểu thương.

   Trong thực tiễn của làn sóng dân tộc dân chủ đang cuồn cuộn dâng lên khắp đất nước, VNTNCMĐCH không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng nữa. Một xu thế cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thật sự của giai cấp công nhân. Đáp ứng yêu cầu bức thiết đó của cách mạng, 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhưng sự song song tồn tại của ba tổ chức cộng sản chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào cách mạng Việt Nam.

   Để khắc phục tình trạng đó, ngày 3-2-1930, tại Cửu Long, bên cạnh Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, đã chủ trì cuộc hội nghị đại biểu của 3 tổ chức cộng sản, quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một ĐCS duy nhất, lấy tên là ĐCS Đông Dương.

   Sau khi ĐCS được thành lập, việc thống nhất các tổ chức Đảng ở các nơi trong nước lập tức được triển khai. Tại Nam Kỳ, ngay trong tháng 2-1930, Ban lâm thời chấp ủy (tức Xứ ủy) đã được cử ra, gồm 4 đồng chí, do đồng chí Bách (tức Ngô Gia Tự) làm Bí thư. Sau đó, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định các tỉnh ủy lâm thời để lãnh đạo phong trào và xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở.

   Tại Bến Tre, tháng 4-1930, thực hiện quyết định của XUNK về việc xây dựng cơ sở Đảng ở đây, Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho đã cử một Ban cán sự gồm 3 đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn Trí về hoạt động.

   Ban cán sự đã phân công đồng chí Nguyễn Văn Ân phụ trách cù lao Bảo, đồng chí Nguyễn Văn Trí phụ trách cù lao Minh, đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách chung. Hai đồng chí Nguyễn Văn Trí, và Nguyễn Văn Ân chọn Tân Xuân (cù lao Bảo) và Bình Khánh, Phước Hiệp (cù lao Minh), là những nơi có nhiều hội viên để gầy dựng cơ sở Đảng trước, từ đó sẽ phát triển dần tổ chức ra tỉnh.

   Cuối tháng 4-1930, trên cơ sở những năm đảng viên được kết nạp cùng với số đảng viên được chuyển từ VNTNCMĐCH sang, đồng chí Nguyễn Văn Ân đã thay mặt Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho thành lập chi bộ đầu tiên của Bến Tre tại xã Tân Xuân (Ba Tri), gồm 11 đảng viên (1) do đồng chí Trần Văn An làm bí thư. Đây là hạt nhân lãnh đạo cách mạng đầu tiên của tỉnh.

   Sau ngày thành lập, chi bộ Tân Xuân đi ngay vào hoạt động, tổ chức các buổi diễn thuyết bí mật, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng, tổ chức các đoàn thể: nông hội, công hội, thanh niên...

   Ngày 1-5-1930, nhân ngày Quốc tế lao động, chi bộ tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng tại địa phương, thu hút trên 200 người tham dự. Cuộc biểu tình đầu tiên này đã tạo được khí thế cách mạng trong quần chúng.

   Tháng 6-1930, Liên tỉnh ủy Bến Tre - Mỹ Tho được thành lập, do đồng chí Nguyễn Thiệu làm Bí thư. Liên tỉnh ủy ra tờ báo Dân cày (2) làm cơ quan tuyên truyền, và cử đồng chí Nguyễn Thiệu sang Bến Tre hoạt động. Tại đây, sau cuộc biểu tình ngày 1-5, tuy địch bố ráp liên miên, nhưng nhờ nắm vững nguyên tắc hoạt động bí mật, nên tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng vẫn tồn tại và phát triển. Số xã có đảng viên ngày một tăng. Đến tháng 6-1930, Bến Tre đã có thêm chi bộ ghép ở Phú Lễ và Phú Ngãi.

   Được tổ chức và lãnh đạo, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố của quần chúng bắt đầu nổ ra nhiều nơi. Kỷ niệm ngày Công xã Paris (18-3), các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Châu Bình đều có tổ chức mít-tinh, biểu tình. Phong trào lan ra các xã Bảo Thạnh, Mỹ Chánh và đến cả thị xã.

   Ở cù lao Minh và An Hóa, ở các xã trước đây có hội viên VNTNCMĐCH hoạt động, phong trào cũng phát triển khá nhanh. Đến tháng 10-1930, toàn tỉnh Bến Tre đã có 7 chi bộ ở 2 cù lao Minh và Bảo và một số đảng viên hoạt động rải rác ở các xã.

   Giữa lúc phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của nhân dân trong tỉnh đang phát triển, thì trên phạm vi cả nước thực dân Pháp cũng đang tập trung sức đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng, nhất là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Trước tình hình ấy, tháng 10-1930, Ban chấp hành TƯĐCS chủ trương phát động một phong trào đấu tranh chống khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Thực hiện chủ trương trên, Đảng bộ Bến Tre liên tiếp tổ chức các cuộc mít-tinh, biểu tình trong những tháng cuối năm 1930 đầu năm 1931. Mở đầu là cuộc biểu tình của hơn 1.000 quần chúng ở vùng Ba Châu (Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới) do đồng chí Huỳnh Khắc Mẫn (Mười Mắn), Bí thư chi bộ Châu Bình và đồng chí Nguyễn Thiệu lãnh đạo nổ ra vào tháng 11-1930. Quần chúng với giáo, mác, gậy, gộc kéo đến trụ sở xã Châu Bình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó kéo vào đập phá nhà việc, đốt hết sổ sách của hội tề. Từ Châu Bình, quần chúng tiếp tục kéo đến phá trụ sở 2 làng Châu Phú, Châu Thới, tổ chức mít-tinh kêu gọi đấu tranh "giành chính quyền".

   Sau sự kiện này, bộ máy cai trị của địch ở ba xã bị lung lay. Chúng chưa hết hoang mang thì một cuộc biểu tình quy mô lớn diễn ra trên địa bàn hai huyện Ba Tri, Giồng Trôm, bao gồm các xã: Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Ba Mỹ, Phước Tuy, Bảo Thạnh, Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới, Phong Nẫm, Phong Mỹ, do các đồng chí Nguyễn Thiệu, Huỳnh Khắc Mẫn, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Ân lãnh đạo.

   Lực lượng biểu tình gồm trên 1.000 người, có vũ trang giáo mác, gậy gộc, chia làm hai cánh: cánh thứ nhất tập trung tại xã Tân Xuân, cánh thứ hai tập trung ở Châu Bình; mỗi cánh đều có tổ chức đội tự vệ chặt cây ngăn lộ, phá đường, cản địch đến đàn áp. Họ kéo vào các nhà việc, đốt sổ sách. Bọn tề xã hoảng sợ bỏ trốn.

   Để đối phó, nhà cầm quyền thực dân tập trung lực lượng lính sen đầm từ Mỹ Tho, Lương Quới, Giồng Trôm, Ba Tri kéo đến đàn áp. Tại Ba Tri, đội tự vệ của ta đã chống cự kịch liệt với lính địch ở ngã ba lộ Quẹo (Tân Xuân). Địch dùng súng bắn xả vào đoàn biểu tình, làm chết và bị thương một số người, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Ngươn, đội trưởng đội tự vệ, và bắt đi một số người khác.

   Ở Giồng Trôm, địch phục kích bến đò Phong Nẫm, bắt được một số cán bộ lãnh đạo trong đó có đồng chí Nguyễn Thiệu, Bí thư Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Sự khủng bố của địch làm cho nhiều cơ sở cách mạng bị bể, bị tiêu hao, phong trào trong tỉnh giảm sút nghiêm trọng.

   Trước tình hình trên, Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre tập trung chỉ đạo các chi bộ ở các xã nhanh chóng củng cố tư tưởng của cán bộ đảng viên nhằm giữ vững phong trào. Đến tháng 1-1931, truyền đơn, biểu ngữ lại xuất hiện ở một số nơi trong tỉnh. Tiếp đến tháng 2-1931, hai cuộc biểu tình nổ ra ở Long Mỹ và Bình Thành (Ba Tri) với hơn 1.000 người tham gia.

   Từ tháng 3 đến tháng 5-1931, phong trào lên đến đỉnh cao với 16 cuộc biểu tình lớn nhỏ, nổ ra ở khắp các nơi trong tỉnh như Tân Thủy, Tân Hưng, Tân Xuân, Châu Bình, Long Mỹ, Bình Thành thuộc quận Ba Tri; Phú Nhuận, Phước Long thuộc quận Châu Thành; An Thạnh, An Qui thuộc quận Thạnh Phú; Lộc Thuận thuộc quận An Hóa.

   Tháng 5-1931, Tỉnh ủy Bến Tre chính thức được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn làm Bí thư. Sau khi thành lập, Tỉnh ủy bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh lại tổ chức, củng cố các cơ sở Đảng ở địa phương, nhưng lại vấp phải một đợt khủng bố mới của địch. Chúng đánh phá phần lớn các cơ sở, bắt đi nhiều cán bộ, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Bí thư Tỉnh ủy (7-1931) và Nguyễn Văn Trước (5-1932). Tỉnh ủy bị tan rã. Hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Cuối năm 1932, phong trào trong tỉnh bị suy yếu và lắng dần.

   Tình hình này kéo dài cho đến năm 1935. Lúc này trên thế giới và trong nước xảy ra những sự kiện mới có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng cả nước nói chung và phong trào cách mạng của Bến Tre nói riêng.

   Trên thế giới, bọn phát xít Đức, Ý, Nhật ráo riết chuẩn bị chiến tranh đe dọa hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ở Pháp, ĐCS liên minh với Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến thành lập Mặt trận Nhân dân Pháp (tháng 11-1935). Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp đã giành được thắng lợi và lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ban bố một số cải cách dân chủ đối với thuộc địa, trong đó chủ trương ân xá chính trị phạm và thành lập một phái đoàn Quốc hội Pháp đi điều tra tình hình ở các thuộc địa.

   Sự kiện đó đã tác động mạnh đến Đông Dương. Bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương, trước sức ép của Chính phủ Mặt trận Nhân dân và phong trào Dân chủ ở Pháp, đã phải miễn cưỡng thực hiện việc ân xá chính trị. Nhiều đảng viên, cán bộ của ta bị giam ở các nhà tù đế quốc được thả ra.

   Trong bối cảnh chung ấy, ở Bến Tre, đến năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi tù, trở về địa phương tương đối đông. Về tới địa phương, các đồng chí đã tìm bắt liên lạc với nhau để khôi phục lại các cấp lãnh đạo của Đảng ở trong tỉnh. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của các đồng chí, trong một thời gian ngắn, các chi bộ Đảng được khôi phục ở thị xã và các xã Tân Xuân, Mỹ Chánh Hòa, Vĩnh Hòa, Phú Ngãi thuộc quận Ba Tri; Phước Long, Bình Chánh thuộc quận Châu Thành; Định Thủy, Khánh Thạnh Tân, An Thạnh thuộc quận Mỏ Cày. Cuối năm 1936, Tỉnh ủy Bến Tre được củng cố lại, do đồng chí Nguyễn Văn Triều (tức Ba Chà) làm Bí thư. Đến năm 1937, hai Quận ủy Thạnh Phú và Mỏ Cày được thành lập.

   Tỉnh ủy chủ trương đưa một bộ phận đảng viên có uy tín ra hoạt động công khai và bán công khai trong các hội Ái hữu của thợ cưa, thợ cắt tóc, các hội thể dục thể thao, vạn cấy để hướng dẫn các tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng.

   Tỉnh ủy xuất bản tờ báo Cờ chiến đấu làm cơ quan tuyên truyền công khai, phổ biến các sách báo của Đảng và lưu hành rộng rãi tờ báo Dân chúng, tổ chức các buổi diễn thuyết nhằm phổ biến chủ trương của Đảng trong quần chúng lao động.

   Vào giữa năm 1936, nhân việc Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp dự định cử một phái đoàn sang Đông Dương điều tra tình hình, thu thập nguyện vọng quần chúng, TƯĐCS đã phát động một cuộc vận động đòi triệu tập Đông Dương Đại hội thông qua bản “thỉnh nguyện” chung.

   Hưởng ứng cuộc vận động, tại Bến Tre, tháng 7-1936, “Ủy ban hành động” của tỉnh được thành lập, để tập hợp quần chúng đưa kiến nghị và bầu đại biểu đi dự đại hội. Đến cuối năm 1936, các “Ủy ban hành động” được thành lập ở đều khắp các quận và ở nhiều xã. Trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ đã nổ ra liên tục trong tỉnh.

   Chủ trương sáng suốt và kịp thời này đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang cao trào mới, hết sức sôi sục. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các căn cứ địa cách mạng được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh sau cuộc đảo chính của Nhật. Ngày 25-6-1945, XUNK họp hội nghị tại một địa điểm ở Mỹ Tho, ra nghị quyết chỉ đạo các địa phương khẩn trương chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

   Chấp hành nghị quyết của XUNK, và xuất phát từ tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Bến Tre đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh công tác tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, sẵn sàng đón thời cơ, giành chính quyền.

   Ngay từ tháng 4-1945, Tỉnh ủy đã chủ trương mở rộng tổ chức Việt Minh vào tầng lớp tiểu tư sản ở thị xã, lôi cuốn công chức, trí thức vào Mặt trận. Các tổ chức Cứu quốc phát triển tương đối nhanh, nhất là trong các tầng lớp công nhân, nông dân, đội quân chủ lực của cách mạng. Đến tháng 7-1945, các nghiệp đoàn có tới 900 người, nông hội thu hút được 7.000 hội viên, riêng quận Ba Tri có tới 3.000.

   Tỉnh ủy cũng chú trọng công tác vận động binh lính địch, cử nhiều cán bộ có uy tín và năng lực bí mật thâm nhập vào các tổ chức thân Nhật, tổ vận động lôi kéo một số người đứng về phía cách mạng.

   Trong các tổ chức quần chúng công khai, thì Đoàn Thanh niên tiền phong là tổ chức thu hút được đông đảo thanh niên trí thức, công chức, học sinh. Vì vậy, Tỉnh ủy quyết định nắm lấy tổ chức này để biến thanh niên thành lực lượng xung kích trong cuộc Tổng khởi nghĩa sắp tới, bằng cách đưa cán bộ cốt cán vào nắm các chức vụ thủ lãnh (3).

   Ở nông thôn, thanh niên tích cực luyện tập võ nghệ, rèn dao găm, mã tấu. Ở các thị trấn như Ba Tri, Mỏ Cày, Sóc Sãi, Thạnh Phú, hàng trăm cuộc mít-tinh, biểu tình có hàng ngàn người tham gia, đã diễn ra.

   Khoảng cuối tháng 7-1945, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu (ngã tư Phú Khương ngày nay). Sau khi kiểm điểm công tác chuẩn bị khởi nghĩa, hội quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa (4) do đồng chí Nguyễn Tẩu phụ trách.

   Với sự nỗ lực của Ủy ban khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn vừa tổ chức vừa luyện tập, đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, các đội Cứu quốc quân trong tỉnh đã có tới hàng ngàn đội viên. Như vậy, với thời gian trên 3 tháng chuẩn bị, lực lượng cách mạng trong tỉnh bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã sẵn sàng, chỉ cần có thời cơ là sẽ đứng lên giành chính quyền.

   Và thời cơ đó đã đến.

   Ngày 12-8, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ở Đông Dương, quân đội Nhật hoang mang, tê liệt. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim giải thể. Tin phát xít Nhật đầu hàng nhanh chóng truyền đi khắp nước cùng với mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra từ Đại hội Quốc dân Tân Trào làm nức lòng người.

   Ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi ở thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8, cách mạng thành công ở Huế. Sự thành công nhanh chóng của các cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Hà Nội, Huế đã cổ vũ và thôi thúc mạnh mẽ Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đứng lên hành động. Lúc này (ngày 23-8) ở Bến Tre, đại biểu của Tỉnh ủy đi dự hội nghị do XUNK triệu tập chưa về đến, nhưng căn cứ vào diễn biến của tình hình chung, Ủy ban khởi nghĩa đã ra lệnh cho các quận huy động lực lượng quần chúng kéo về áp sát thị xã, đồng thời ra lệnh cho các đoàn thanh niên tại thị xã phải túc trực ở trụ sở, chuẩn bị sẵn sàng hành động.

   Đêm 23-8, theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa, khắp nơi trong tỉnh trương biểu ngữ, phát truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ chính quyền bù nhìn, thiết lập chính quyền cách mạng.

   Ngày 24-8, Mặt trận Việt Minh tỉnh ra công khai tại câu lạc bộ thị xã (5). Bọn cầm đầu ngụy quyền không dám có thái độ chống đối.

   Trưa ngày 25-8, nhân cơ hội tên cò Lắm - chỉ huy trưởng lực lượng bảo an ninh thị xã - đến trụ sở Việt Minh xin phép đi xuống địa phương thu gom vũ khí của bọn cai tổng và hội tề ở Mỏ Cày, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh cấp tốc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc16 giờ cùng ngày.

   Với sức mạnh quật khởi, lực lượng quần chúng khởi nghĩa đã nhất tề xông lên với giáo mác, tầm vông tràn tới chiếm trại Bảo an ninh, buộc chúng phải nộp vũ khí đầu hàng. Sau đó lực lượng khởi nghĩa đã nhanh chóng tiến chiếm các công sở, tòa án, bưu điện, kho bạc, nhà máy điện, bót cảnh sát... Trước khí thế của quần chúng khởi nghĩa, quân Nhật và bọn tay sai, không dám chống cự. Tỉnh trưởng bù nhìn Phan Văn Chỉ buộc phải đầu hàng và xin giao chính quyền cho cách mạng. Bộ máy ngụy quyền tay sai Nhật sụp đổ. Chính quyền về tay nhân dân lúc 17 giờ, sớm hơn thời gian dự định trong kế hoạch.

   Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thị xã có ảnh hưởng quyết định đến cuộc khởi nghĩa ở các huyện. Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Bình Đại (lúc này còn thuộc Mỹ Tho). Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Mỏ Cày. Đêm 25 rạng 26-8, khởi nghĩa tiếp tục thắng lợi ở Sóc Sãi, Thạnh Phú, Châu Thành, Ba Tri.

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công nhanh chóng trong toàn tỉnh. Ngày 26-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Bến Tre làm lễ ra mắt đồng bào trong một cuộc mít-tinh long trọng được tổ chức tại sân vận động thị xã.

    Cách mạng tháng Tám thành công là bước nhảy vọt vĩ đại, đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn, một cuộc đổi đời trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử nhân dân Bến Tre nói riêng. Từ chỗ là người nô lệ, nhân dân Bến Tre cũng như nhân dân cả nước đã trở thành người làm chủ đất nước đã trở thành người làm chủ đất nước, quê hương, làm chủ vận mệnh của mình. Vì vậy CMT8-1945 thực sự là ngày hội lớn của toàn thể nhân dân trong tỉnh. Và từ đây, nhân dân Bến Tre sẽ cùng nhân dân cả nước quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để gìn giữ nền độc lập vừa mới giành được.

Chú thích

(1) Theo Hồi ký của các đồng chí Nguyễn Văn Trước (tức Năm Thành), 11 đảng viên trong đó có Trần Văn An, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Sau, Trần Văn Biên, Trần Văn Biện, Nguyễn Thị Tâm (tức Thâu), Phan Văn tạo, Nguyễn Văn Ngươn.
(2) Báo Dân cày do đồng chí Phạm Hùng làm chủ bút, được phân phát cho các Tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ...
(3)  Đồng chí Nguyễn Văn Cái làm Tổng thư ký Thanh niên tiền phong tỉnh, Huỳnh Kỳ Thanh làm thủ lĩnh Thanh niên tiền phong thị xã, Đỗ Phát Quang vào Trường Huấn luyện thanh niên ở Hưng Khánh Trung, Nguyễn Văn Tất vào Bảo an binh.
(4)  Ủy ban khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Nguyễn Tẩu, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Cái, Lê Lợi, Võ Tấn Nhứt
(5)  Nay là trường phổ thông cơ sở Bến Tre

Đã ban hành
Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)Võ Tấn Nhứt (1915 – 1959)
 

 Sinh năm 1915 tại Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình trung lưu. Sau khi học hết bậc tiểu học ở Bến Tre, Võ Tấn Nhứt được gia đình gởi lên Sài Gòn học tiếp tại Trường Huỳnh Khương NInh, một trường tư có nhiều thầy giáo có tư tưởng yêu nước, tiến bộ tham gia giảng dạy lúc bấy giờ. Do đó, Võ Tấn Nhứt đã tiếp thụ được ảnh hưởng tiến bộ của những người thầy của mình.

   Năm 1934, thôi học trở về quê, và cũng tại đây anh được một số người cộng sản hoạt động bí mật dìu dắt, giúp đỡ rồi được kết nạp vào ĐCSĐD tại chi bộ Sơn Hòa. Năm 1936 - thời kỳ Mặt trận Dân chủ phát triển lan rộng – Võ Tấn Nhứt cùng với Hồ Văn Nguyện, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Bích lập ra Đông Phương thư xã tạ thị xã Bến Tre.

   Năm 1939, bị địch bắt, nhưng vì không đủ chứng cứ để truy tố ra tòa, nên được đưa về “quản thúc” tại xã Phú An Hòa (huyện Châu Thành), tách khỏi quê quán cũ.

   Đầu năm 1944, Nguyễn Thanh Trà trốn khỏi nhà tù đế quốc, trở về địa phương, móc nối, liên lạc với một số đồng chí cũ, trong đó có Võ Tấn Nhứt. Từ đây, Võ Tấn Nhứt bắt đầu hoạt động trở lại, phát triển phong trào Việt Minh ở huyện Châu Thành và thị xã.

   Tháng 4-1945, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy Bến Tre, phụ trách Mặt trận Việt Minh tỉnh, có chân trong Ủy ban khởi nghĩa, cướp chính quyền ở tỉnh ngày 25-8-1945. Cuối năm 1945, phụ trách công tác tổ chức cán bộ của tỉnh. Đến khi giặc Pháp chiếm Bến Tre (2-1946), đồng chí được giao tổ chức công binh xưởong của tỉnh, sau đó phụ trách công binh xưởng 1038 thuộc khu 8. Đến năm 1950, trước tình hình lấn chiếm rộng ra và bình định ác liệt của địch, công binh xưởng của khu 8 chuyển xuống miền Tây Nam Bộ, thì Võ Tấn Nhứt lại trở về công tác tại tỉnh nhà, làm Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), ông được Tỉnh ủy phân công ở lại và có nhiệm vụ tổ chức chôn giấu vũ khí để khi cần sử dụng sau này.

   Đến cuối năm 1954, ông được điều đi nhận công tác vận động quần chúng trong đồng bào theo đạo Hòa hảo ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc, với cái tên mới là Nguyễn Văn Nho. Đầu năm 1957, bị địch bắt giam tại nhà lao Phú Lợi. Khi vụ đầu độc cả ngàn tù nhân xảy ra ở nhà lao này, đồng chí với tư cách là Bí thư trung tâm ủy, đã lãnh đạo tù nhân đấu tranh tố cáo âm mưu đen tối của chúng ở nhà tù Phú Lợi ra trước dư luận, sau đó bị đày ra Côn Đảo cùng với nhiều anh em tù nhân khác. Tại nhà tù Côn Đảo, một tên chỉ điểm đã biết tông tích của đồng chí, tố cáo với bọn cai ngục rằng đồng chí tên thật là Võ Tấn Nhứt, nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Bến Tre.

   Bọn địch đã chuyển Võ Tấn Nhứt từ nhà lao Côn Đảo về Bến Tre để tiếp tục khai thác. Tên Lê Xuân Khánh, trưởng Ty công an ngụy và bọn tay chân ra sức dùng đủ trò dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man, đánh đồng chí gãy một lúc ba xương sườn, đóng đinh vào 10 đầu ngón tay, rồi ngày thì đem căng phơi nắng trên ống cống xi-măng nóng bỏng, đêm bỏ vào hầm tối. Chúng hành hạ đồng chí cho đến khi kiệt sức mà không khai thác được một điều bí mật nào. Đồng chí hy sinh tại nhà giam của Ty công an Bến Tre vào khoảng giữa năm 1959, để lại tấm gương sáng về lòng trung thành, ý chí bất khuất của một người cộng sản chân chính.

Đã ban hành
Trần Văn BảyTrần Văn Bảy


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Trần Văn Bảy (Bảy Sơn) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành Triệu,
huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng
viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 320.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong
20 năm chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam làm nhiệm vụ
quốc tế, từ chiến sĩ trưởng thành lên cán bộ trung đoàn, Trần Văn Bảy đã chiến
đấu và chỉ huy chiến đấu 215 trận lớn nhỏ. Riêng đồng chí diệt 104 tên địch (có
1 tên Mỹ), bắt sống 8 tên (có 1 đồn trưởng), làm bị thương 37 tên. Một số trận
tiêu biểu: Tháng 4 năm 1965, Trần Văn Bảy được cử làm đại đội trưởng đã chỉ huy
đại đội 265 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 44 biệt động
quân, diệt 120 tên, bắt 15 tên, thu 80 súng. Riêng đại đội 265 diệt 60 tên, thu
35 súng, 2 máy PRC25, bắt 8 tên. Đầu năm 1968, với cương vị là tham mưu trưởng
trung đoàn 295 Trần Văn Bảy chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 trung đội Mỹ, đánh thiệt
hại nặng 1 tiểu đoàn bảo an, diệt 34 tên, thu 21 súng. Đầu năm 1975, đồng chí
tham gia chỉ huy tiểu đoàn 502 diệt và làm bị thương 125 tên trong đó có ban
chỉ huy tiểu đoàn địch, giữ vững vùng giải phóng. Mùa xuân năm 1975, đơn vị
Trần Văn Bảy đã tham gia chiến đấu giải phóng và tiếp quản thị xã Sa Đéc. Năm
1977, đồng chí giữ chức trung đoàn trưởng trung đoàn 320 chiến đấu bảo vệ biên
giới Tay Nam diệt hàng trăm tên lính Pôn Pốt giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ
quốc suốt từ năm 1977 đến năm 1978.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần đạt
danh hiệu Dũng sĩ quyết thắng, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 28-4-2000,
Trần Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
<o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Bảy (Bảy Sơn) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 320.

Trong 20 năm chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam làm nhiệm vụ quốc tế, từ chiến sĩ trưởng thành lên cán bộ trung đoàn, Trần Văn Bảy đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 215 trận lớn nhỏ. Riêng đồng chí diệt 104 tên địch (có 1 tên Mỹ), bắt sống 8 tên (có 1 đồn trưởng), làm bị thương 37 tên. Một số trận tiêu biểu: Tháng 4 năm 1965, Trần Văn Bảy được cử làm đại đội trưởng đã chỉ huy đại đội 265 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 44 biệt động quân, diệt 120 tên, bắt 15 tên, thu 80 súng. Riêng đại đội 265 diệt 60 tên, thu 35 súng, 2 máy PRC25, bắt 8 tên. Đầu năm 1968, với cương vị là tham mưu trưởng trung đoàn 295 Trần Văn Bảy chỉ huy đơn vị diệt gọn 1 trung đội Mỹ, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bảo an, diệt 34 tên, thu 21 súng. Đầu năm 1975, đồng chí tham gia chỉ huy tiểu đoàn 502 diệt và làm bị thương 125 tên trong đó có ban chỉ huy tiểu đoàn địch, giữ vững vùng giải phóng. Mùa xuân năm 1975, đơn vị Trần Văn Bảy đã tham gia chiến đấu giải phóng và tiếp quản thị xã Sa Đéc. Năm 1977, đồng chí giữ chức trung đoàn trưởng trung đoàn 320 chiến đấu bảo vệ biên giới Tay Nam diệt hàng trăm tên lính Pôn Pốt giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc suốt từ năm 1977 đến năm 1978.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ quyết thắng, 3 năm liền là Chiến sĩ thi đua. Ngày 28-4-2000, Trần Văn Bảy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Đôi nét về điểm du lịchĐôi nét về điểm du lịch
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, mưa thuận gió hòa, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt giống như các tỉnh trong khu vực; nhưng do trước đây Bến Tre là tỉnh lẻ, đến Bến Tre phải qua phà ngang cách trở, không thu hút được các nhà đầu tư đến khai thác về nông nghiệp cũng như công nghiệp; từ yếu tố đó giúp cho Bến Tre còn giữ được nét nguyên sơ so với các tỉnh đồng bằng trong khu vực.

Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, mưa thuận gió hòa, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt giống như các tỉnh trong khu vực; nhưng do trước đây Bến Tre là tỉnh lẻ, đến Bến Tre phải qua phà ngang cách trở, không thu hút được các nhà đầu tư đến khai thác về nông nghiệp cũng như công nghiệp; từ yếu tố đó giúp cho Bến Tre còn giữ được nét nguyên sơ so với các tỉnh đồng bằng trong khu vực.

Tuy nhiên! khi cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông hoàn thành, ngành công nghiệp không khói trở thành mũi nhọn trong con đường phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nó là thời cơ cho một tiềm năng du lịch sinh thái mang đậm tính Nam bộ, với những vườn cây ăn trái xum xuê, những rừng dừa bao phủ, những dòng sông hiền hòa, dòng kênh ngọt ngào êm diệu được che rợp bóng mát của cây ven hai bờ.

Những sản phẩm du lịch đặc thù miền sông nước như: Du lịch sinh thái; du lịch miệt vườn làng quê; du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch thể thao sông nước; du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề, … Cùng với những yếu tố tự nhiên, nét văn hóa quê hương đa dạng và phong phú làm cho du khách xa gần không thể bỏ qua một nơi du lịch sông nước đầy ấn tượng tại Đất Bến.

Đến Bến Tre quí du khách sẽ tìm thấy một hệ thống di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng khá đa dạng và phong phú; nhắc đến Bến Tre, cả nước ai ai cũng đều biết đến quê hương Đồng Khởi đã một thời kháng chiến anh dũng, đặc biệt là đội quân tóc dài cảm tình vào lòng dân tộc, bên cạnh đó Bến Tre cũng là vùng đất sản sinh và định cư nhiều danh nhân sống mãi trong lịch sử như: Cụ Nguyễn Đình Chiểu, Cụ Phan Văn Trị, Cụ Phan Thanh Giản, Cụ Võ Trường Toản, Cụ Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng, Lê Quang Quan (Cụ Tán Kế), Cụ Trương Vĩnh Ký, Trung tướng Đồng Văn Cống, Nữ Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Huỳnh Tấn Phát…, hiện đã được xây dựng, trùng tu thành khu tưởng niệm, nơi tham quan cho khách du lịch.

Những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng hiện nay như: cồn Quy, cồn Phụng thuộc quần thể các cồn "Long Lân Quy Phụng"; cồn Ốc, cồn Phú Bình, cồn Phú Đa, cồn Hố, sân chim Vàm Hồ, vùng du lịch 8 xã ven sông Tiền (có đến gần 40 điểm đón khách du lịch với các dịch vụ phục vụ quí khách như: ăn trái cây, uống trà mật ong, nghe đàn ca tài tử Nam bộ, đi xe đạp trên đường làng, đi xe ngựa, đi xuồng chèo, thuyền máy…), những làng hoa kiểng nổi tiếng, vùng trái cây quanh năm của huyện Chợ Lách luôn luôn đón chào quí khách…, một số dự án đang đầu tư xây dựng và đã đi vào hoạt động như: khu du lịch sinh thái Lan Vương (xã Phú Nhuận, Tp. Bến Tre), khu du lịch biển Thừa Đức - xã Thừa Đức - Bình Đại, Điểm du lịch Phú Bình - Chợ Lách, ... đặc biệt là khu nghỉ dưỡng Forever Green Resort - xã Phú Túc - Châu Thành góp phần phát triển du lịch tại quê hương đất Bến, đây là một công trình có tầm cở khu vực.

161007_1.jpg

Hệ thống nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ được các nhà đầu tư xây dựng rãi đều tại các huyện, riêng thành phố Bến Tre có các khách sạn đạt chuẩn 03 sao như: NH-KS Hàm Luông, NH-KS Việt Út và nhiều nhà hàng - khách sạn đạt chuẩn 01 sao luôn luôn đón chào và phục vụ tận tình cho quí khách.

Thật vậy! Khu Forever Green Resort - Bến Tre là một trong những công trình lớn do Công ty TNHH TM Lô Hội thuộc tập đoàn Liên Hoa làm chủ đầu tư; có tổng diện tích của dự án là 21 ha, tổng vốn đầu tư cho dự án là 50 triệu USD. Forever Green Resort phát huy thế mạnh của du lịch sinh thái miệt vườn sông nước Bến Tre, với một sắc thái độc đáo riêng biệt do các nhà kiến trúc ngoại quốc thực hiện.

 

Hiện Bến Tre tiếp tục phát triển đầu tư và kêu gọi đầu tư nhằm đẩy mạnh các tour, tuyến, điểm du lịch trên địa bàn theo kế hoạch từ nay đến năm 2015 và tầm nhìn 2020 để các điểm được đưa vào khai thác như:- Dự án Mekong Pearl - Cồn Phụng - xã Tân Thạch - Châu Thành;

- Làng du kích gắn với di tích Đồng Khởi - Mỏ Cày Nam;

- Khu du lịch sinh thái Vàm Hồ - Ba Tri;

- Khu du lịch biển Thới Thuận - Bình Đại;

- Khu bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích lịch sử Đường Hồ Chí Minh trên biển tỉnh Bến Tre;

- Phát triển điểm du lịch cộng đồng; trong đó có 7 điểm homestay.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)TRƯƠNG GIA MÔ (1866-1929)
&nbsp;

Trương Gia Mô, hiệu Cúc Nông, sinh tại làng Tân Hào, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuy sinh ra ở giải đất cù lao đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ngay từ thời niên thiếu, ông đã theo cha sống ở Thuận Khánh. Người ta gọi ông là Nghè Mô không phải vì ông đổ tiến sĩ, mà vì ông là ấm sinh, con của cụ Trương Gia Hội, lại có vốn tri thức uyên bác được nhiều người nể phục. Năm 1892, khi làm thừa phái Bộ Công của triều Nguyễn, Trương Gia Mô đã làm bản điều trần lên vua gồm 5 điểm(1), nhưng không được chấp nhận, lại còn bị Thượng thơ Nguyễn Trọng Hợp cho "ông là kẻ thiếu niên hiếu sự". Lúc ấy ông mới ngoài 20 tuổi. Ông cởi áo từ quan, về ở ẩn. Thời gian này ông cùng với Nguyễn Lộ Trạch, một người bạn thân mưu tính việc lớn, xuất dương để học thêm, nhưng không thành. Khi về sống ở Bình Thuận, ông kết giao với Phan Châu Trinh nhân chuyến "Nam du" của họ Phan và cùng với các thân sĩ ở đây hô hào duy tân cải cách, lập công ty Liên Thành và trước Dục Thanh ở Phan Thiết. Trương Gia Mô cũng là người đã đưa Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) vào Sài Gòn, để từ đây anh ra đi tìm đường cứu nước trên chiếc tàu Latouche Tréville.

Ở giai đoạn cuối đời, ông có nhiều điều bất đắc chí, buồn vì cảm thấy bất phùng thời, bị đổ vỡ về ảo tưởng chính trị, có lúc uất ức đến giận dữ, rồi đem đốt cả thơ mình, tìm quên trong men rượu và khói thuốc phiện. Ông đã đi gần khắp các tỉnh Nam Bộ, gặp gỡ nhiều người, trao đổi mạn đàm thế sự, nhưng vẫn không sao khuây khỏa nỗi lòng. Một đêm cuối năm 1929, con người từng một thời xông xáo hăng hái hoạt động trong phong trào Duy Tân năm xưa, đã gieo mình từ trên tháp pháo đài xuống vực sâu, kết liễu cuộc đời mình bên chân núi Sam ở Châu Đốc, nơi ông dừng chân trạm cuối cùng trong một chuyến đi du ngoạn miền Lục tỉnh, và chỉ để lại trong túi áo bài thơ Tuyệt mệnh gồm bốn câu:

Ngũ sự khuyết nhân, nhân bất hành,
Cam vi nô lệ, nhật du sanh
Tức kim lão hủ hoàn thiên địa
Hoán tác phong đào, đái hận vinh.

Tạm dịch:

Năm điều cải cách khuyên người
Không nghe, cam phận tôi đòi, chán thay
Thân già trả lời đất trời
Hóa ra sóng gió, hận thù hét vang.

(Trương Gia Kỳ Sanh dịch)

Sau khi sự việc xảy ra, các báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ như Thần chung, Phụ nữ tân văn đã đưa tin, bình luận về cái chết của cụ Nghè Mô với thái độ nể trọng và tiếc thương. Trương Gia Mô muốn lấy cái chết để khẳng định sĩ khí của một nhà nho trước thế cuộc điên đảo mà bản thân ông thấy bất lực. Nhiều trí thức, chí sĩ yêu nước gần xa như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Đông Hồ... đều có thơ điếu họ Trương.

Cúc Nông Trương Gia Mô đã để lại tác phẩm Gia Định tam tiên liệt truyện, đây là một tập ghi chép tiểu sử và công nghiệp của ba vị anh hùng kháng Pháp đất Gia Định: Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân và Hồ Huân Nghiệp, vừa mang giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học. Hai tập thơ Thu hoài phú Cúc Nông thi tập (cả hai đều bị thất lạc) chỉ còn lại 35 bài thơ chữ Hán và 10 bài thơ chữ Nôm đăng trên báo Nam Phong. Ngoài ra, còn một số bài thơ "giáo huấn" (dạy con, dạy học trò), một bài tán đề trên tường miếu Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá và một số bài thơ truyền khẩu. Thơ ông gồm có ngũ ngôn, thất ngôn (bát cú hay tứ tuyệt). Nhìn chung số thơ còn lưu giữ đều được ra đời trước năm 1920, nhiều bài sáng tác khi còn nhậm chức ở kinh đô, có bài viết trong ngục sau sự biến 1908 (Tọa kê Khánh Hòa thu dạ) có những bài viết trên lộ trình từ cực nam Trung Kỳ đến Nam Kỳ. Thơ ông phản ánh một tâm trạng băn khoăn với nhiều day dứt khôn nguôi về tình hình đất nước, về vận mệnh con người và sự trường tồn của dân tộc. Mấy câu thơ trong bài tán (viết trên tường miếu Nguyễn Trung Trực) biểu lộ lòng khâm phục đối với người anh hùng cứu nước.

... Ủy bỉ nhân ngư
Hùng tai quốc sĩ
Hỏa Nhựt Tảo thuyền
Đồ Kiên Giang lũy...

Dịch nghĩa:

Đáng sợ thay người dân chài.
Anh hùng thay người quốc sĩ.
Đã đốt cháy tàu giặc trên sông Nhựt Tảo.
Rồi mưu lập đồn lũy Kiên Giang.

Cúc Nông Trương Gia Mô là nhà thơ duy tân Nam Kỳ, thuộc giai đoạn bản lề cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nằm trong đội ngũ những tác gia thuộc dòng văn học yêu nước cận đại Việt Nam.

Chú thích

(1) Xem thêm tiểu sử, mục Nhân vật ở phần Phụ Lục.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Ngôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê DuẩnNgôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê Duẩn
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   

Image
Mô hình ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   Đồng chí Lê Duẩn sống và làm việc ở đây gần 5 tháng, khi nhận thấy có dấu hiệu nghi ngờ bọn mật vụ có thể đánh hơi biết được, nên đã chuyển sang một cơ sở khác bí mật ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, sau đó chuyển tiếp sang một số gia đình cơ sở khác ở xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày. Ngày 5-7-1956, đồng chí Lê Duẩn rời Bến Tre lên thành phố Sài Gòn.

   Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), đồng chí Lê Duẩn có về thăm lại ngôi nhà xưa, cùng những đồng bào, đồng chí cơ sở đã nuôi dưỡng, cưu mang và bảo vệ mình trong những ngày cách mạng miền Nam bị địch đánh phá khốc liệt. Ngôi nhà ngày xưa đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại chiếc tủ đứng bẳng gỗ làm hầm bí mật, hiện đang được trưng bày ở nhà bảo tàng tỉnh Bến Tre. Đồng chí Lê Duẩn đã chỉ thị cho chính quyền tỉnh giúp đỡ gia đình ông Mười Trác xây dựng lại ngôi nhà, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

  Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia ngày 7-5-1997.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
&nbsp;

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
&nbsp;

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
&nbsp;

Văn học Bến Tre ở thời kỳ này phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nhiều năm. Văn học được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ ĐCS Bến Tre cả về tổ chức lẫn tư tưởng. Nhà văn là người chiến sĩ đánh giặc bằng vũ khí ngòi bút, lấy việc phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân làm mục đích hoạt động. 

Do tính chất của cuộc chiến tranh giải phóng và do tương quan lực lượng giữa ta và địch, trong thực tế đã hình thành hai vùng khác nhau: vùng kháng chiến và vùng địch chiếm (chủ yếu là thành phố, thị xã, thị trấn). Do đó, phương thức hoạt động văn nghệ ở hai vùng cũng không giống nhau.

Từ nhận thức “văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận", Tỉnh ủy và UBKCHC tỉnh Bến Tre đã có chủ trương tập hợp đội ngũ những văn nghệ sĩ, trí thức có khả năng viết văn, làm báo vào các cơ quan thông tin tuyên truyền, báo chí để động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ tham gia vào cuộc kháng chiến cứu nước. Trên tờ báo Hy sinh (cơ quan của Tỉnh ủy) và tờ báo Đoàn kết (Cơ quan của Mặt trận Việt Minh, sau này đổi thành Liên Việt), ngoài những bài xã luận, lời kêu gọi và tin tức, còn có những bài phóng sự ngắn, bài ca dao, thơ, hò, vè hô hào tòng quân giết giặc, động viên đồng bào sản xuất, nuôi quân, bố phòng, hoặc tố cáo tội ác của giặc... Về sau, đề tài càng được mở rộng phong phú hơn, như vấn đề đoàn kết quân dân, thi đua yêu nước, bình dân học vụ, địch ngụy vận, thực hành đời sống mới và những mẫu chuyện vui kháng chiến...

Đương nhiên những sáng tác nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu lúc này còn rất vụng về, thô sơ về nội dung lẫn hình thức, giá trị văn học không nhiều, nhưng hiệu quả của nó đối với phong trào là điều không thể phủ nhận được. Có thể nói rằng những bài thơ còn mang đậm hơi hướng ca dao, những câu hò, bài chập cải lương, bài vè, mẫu chuyện vui kháng chiến chân chất và hồn nhiên ấy là những đốm lửa ban đầu thắp sáng dòng văn học hiện đại của Bến Tre khai sinh từ CMT8-1945.

Đầu năm 1948, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập. Đây là tổ chức văn nghệ đầu tiên của tỉnh có nhiệm vụ tập hợp lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ trong tỉnh, tổ chức sáng tác, xuất bản, xây dựng và phát triển phong trào. Hoạt động của Đoàn dựa trên phương châm "dân tộc, khoa học và đại chúng", lấy việc phục vụ kháng chiến làm mục đích chính.

Thư ký Đoàn là đồng chí Lê Hoài Đôn, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, các ủy viên: Lê Hà (thơ), Võ Trọng Cảnh (văn), Truy Trọng (nhạc), Đoàn Chi Lăng (họa), Phong Đảo (kịch) và Nguyễn Tân Tấn phụ trách công tác tổ chức. Đoàn cũng đã tập hợp được một đội ngũ thuộc đủ các bộ môn nghệ thuật trong tỉnh. Về văn và thơ có Nguyễn Ngọc, Lê Tâm, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Văn Châu, Mạch Văn Tư. Về họa có Đạt Huỳnh, Đoàn Chi Lăng, Đinh Giang. Về nhạc có Nguyễn Việt Tân, Truy Trọng, Chu Tấn Hưng. Ngoài ra còn có sự tham gia của một số cán bộ lãnh đạo của các ngành quân, dân, chính có tinh thần yêu thích văn nghệ như Trần Trường Sinh (cố vấn của Đoàn), Bùi Ngọc Nghi, Lê Văn Lượng...

Nhờ có tổ chức chuyên trách, tình hình hoạt động văn hóa, văn nghệ của tỉnh có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận. Các tờ báo như Hy sinh, Đoàn kết, Thông tin Bến Tre, Tin tức (thuộc trung Đoàn 99) đều dành số trang nhất định của từng số báo để đăng những sáng tác của những cây bút trong tỉnh. Từ giữa năm 1949, tập san Văn hóa phổ thông - tờ báo chuyên ngành đầu tiên ở tỉnh - được xuất bản định kỳ 3 tháng một sứ với số lượng in cả ngàn bản. Ngoài các báo chí của tỉnh, lúc này đường dây liên lạc giữa khu 8 và Nam Bộ được củng cố thông suốt, do đó, tài liệu, báo chí của khu, của miền cũng được phát hành đến Bến Tre như các tờ như Tổ quốc (khu 8), Lá lúa (cơ quan của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ), Tiếng súng không kháng địch (khu 9). Sinh hoạt văn nghệ của tỉnh nhờ đó mà sôi động hẳn lên.

Từ năm 1948 đến năm 1950, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh cũng đã tiến hành hai lần đại hội tại vùng căn cứ của tỉnh ở Mỏ Cày. Đây là những dịp họp mặt đông đủ nhất của những người làm công tác văn hóa văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc bầu ban chấp hành mới, các đoàn viên đã cùng nhau đánh giá lại các công việc đã làm, trao đổi, thảo luận về đường lối, phương pháp sáng tác, trách nhiệm của người cầm bút trước yêu cầu của cách mạng và kháng chiến.. Đoàn đã tổ chức in và xuất bản một số tác phẩm, trong đó đáng chú ý nhất là các quyển sách sau đây: Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc của Hằng Ngôn, Con đường sáng của Lê Tâm, tập thơ La ngà của Lê Hà. Tác giả Hằng Ngôn tức bác sĩ Nguyễn Hữu Nghiệp, vốn là thành viên của đoàn cán bộ miền Nam, trong đó có Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định, vượt biển ra Trung ương xin chi viện (1946). Tập sách gồm 20 bài bút ký được tác giả ghi lại qua những điều mắt thấy tai nghe về tình cảm và lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân ta từ Nam chí Bắc. Đây cũng là quyển sách đầu tiên viết về Bác Hồ được xuất bản ở Nam Bộ.

Con đường sáng là tập tiểu thuyết của nữ tác giả Lê Tâm xuất bản đầu tiên ở tỉnh nhà, và là một trong ba cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp(1). Cốt truyện xoay quanh nhân vật chính tên Nhung – con gái một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu. Từ nhiệt tình yêu nước ban đầu, cô gái đã đến với cách mạng một cách hồn nhiên. Rồi kháng chiến bùng nổ, cô đã thoát ly gia đình, cùng bạn bè gia nhập vào đại cuộc của dân tộc. Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, nhưng không thiếu niềm vui và niềm tự hào, đã giúp cho Nhung ngày một trưởng thành và già dặn.

Cũng cần phải kể đến một số cây bút quê ở Bến Tre, nhưng hoạt động ở địa bàn khác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Hải Trừng hoạt động ở Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Anh sáng tác nhiều thơ, truyện ngắn, truyện thơ đăng trên các báo ở khu 9 và trên tạp chí văn nghệ Lá úa. Đáng chú ý nhất là truyện thơ Chú Hai Neo gồm gần 1.000 câu lục bát, được tặng thưởng giải 3 giải văn nghệ Cửu Long 1951-1953.

Lãng Sĩ (tức Nguyễn Duy Oanh) có Hận Cầu Hòa, tập ký sự về vụ thảm sát tập thể do tên Léon Leroy gây ra ở Bến Tre được giải khuyến khích Văn nghệ Cửu Long 1951-1953. Một số truyện ngắn khác của ông ca ngợi về cảnh đẹp và con người của quê hương được tập hợp lại in trong tập Sóng gợn hồn quê(2) với bút hiệu Nguyễn Duy.

Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, quê xã Nhơn Thạnh, thị xã Bến Tre, thuộc thế hệ cầm bút trước CMT8-1945. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh hoạt động ở Sài Gòn, đã chủ trương các tờ báo Văn hóa, Điện báo, Thế giới, Công lý và tham gia phong trào "Báo chí thống nhất", chống âm mưu chia cắt đất nước. Năm 1949, anh xuất bản tập truyện Một vũ trụ sụp đổ và tiểu thuyết Tranh đấu. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Nam Bộ về đề tài nông dân, phản ánh cuộc đầu tranh chống lại sự cấu kết của bọn cường hào phong kiến với bọn thực dân trong việc chiếm đoạt ruộng đất, nhũng nhiễu người dân lương thiện và đẩy họ vào vòng tù tội. Thời kỳ ở khu 9 (1950-1954) anh làm việc ở tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ, có sáng tác một số tuồng hát bội như Trương Phi thủ cổ thành, Hý Charton và Le Page.

Bùi Đức Tịnh, tên thật là Bùi Kiêm Bích, còn có bút hiệu khác: Thanh Ba, Ngao Châu, Bạch Mai Châu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Sài Gòn. Ngoài các bài đăng các báo công khai như Lẽ sống, Đại chúng, Thần chung, Tiếng chuông, Ngày mới, ông là thành viên ban biên tập báo Việt Minh (Thành bộ Việt Minh Sài Gòn), Liên Việt và Tổ quốc trên hết (Mặt trận Liên Việt Sài Gòn). Với bút hiệu Ngao Châu, ông có tập thơ Chiêu hồn (nhà xuất bản Dân tộc, 1949) và Đường lên cõi Bắc (phóng tác theo truyện của nhà văn da đen Richar Wringt, Nxb Đại chúng, 1949), Văn phạm Việt Nam (1952) và Lịch sử giải phóng Việt Nam (Bùi Đức Tịnh và Hùng Ngôn, 1948)...

Lê Thọ Xuân, một cây bút khảo cứu, đã có nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí trước CMT8-1945 như Đồng Nai, Mai, Tri tân, Đại Việt tạp chí, trong kỷ yếu Société des Études Indocchinoises. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Chủ tịch phong trào "Báo chí thống nhất" tại Sài Gòn, chống chủ trương Nam Kỳ tự trị "của Pháp và tay sai". Năm 1949, ông phụ trách Ban biên tập báo Thần chung (của Nam Đình) với sự cộng tác của Nguyễn Văn Hiếu, Phi Vân, Bùi Đức Tịnh, Thê Húc; phụ trách tuần báo Việt báo, tạp chí Sông Hương. Những bài nghiên cứu của ông về văn chương, lịch sử được viết trên lập trường dân tộc, yêu nước và tiến bộ.

Chú thích

(1) Hai tiểu thuyết khác: Vỡ đất của Hoàng Văn Bổn, viết về đề tài sản xuất và chiến đấu của bộ đội miền Đông Nam Bộ, giải nhất giải thưởng Văn nghệ Cửu Long 1951-1952 và tiểu thuyết 2707 của Trần Vạn An viết về đề tài hoạt động của quân báo ở nội thành.

(2) Nxb Hương quê, 1953. 

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trường Trung học Tư thục Bình HòaTrường Trung học Tư thục Bình Hòa
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Trường Trung học Tư thục Bình Hòa, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh thuộc loại hình di tích lịch sử cách mạng, nơi đào tạo nhân tài của tỉnh nhà.

truong-binh-hoa.jpg

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Trường Trung học Tư thục Bình Hòa, thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh thuộc loại hình di tích lịch sử cách mạng, nơi đào tạo nhân tài của tỉnh nhà.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường tỉnh 885 đến thị trấn Giồng Trôm (khoảng 28km) là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1955, Đồng chí Nguyễn Thanh Liêm (Tư Chí) - Bí thư Huyện ủy Ba Tri về tại ấp Đông Ngô, xã Bình Hòa triệu tập một số Đảng viên, cán bộ để tổ chức thành lập trường trung học, lấy tên là trường Trung học Tư thục Bình Hòa.

Ngày 22/8/1955, Trường Trung học Tư thục Bình Hòa khai giảng niên học đầu tiên (1955 - 1956). Năm học đầu tiên trường chỉ có 03 lớp học, gồm 01 lớp đệ lục và 02 lớp đệ thất tổng cộng là 96 học sinh. Đến năm 1957, Ban lãnh đạo Trường đã thuê ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Du tọa lạc tại ấp 5, Thị trấn Giồng Trôm. Đây là ngôi nhà xây dựng từ năm 1930 có kiến trúc theo kiểu Pháp, nhưng đặc trưng nhà ở vùng Nam Bộ (3 gian, 2 chái).

Học sinh trường Trung học tư thục Bình Hòa (sau này là Trường Trung học Tư thục Thanh Trí) phần lớn là con em của gia đình cách mạng, những người nông dân nghèo được nhà trường đào tạo, nhiều người đã trưởng thành trong chiến đấu, nhiều người được giao trọng trách và giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam như đồng chí Trương Vĩnh Trọng - nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Nguyễn Văn Thới - nguyên Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre; đồng chí Hà Văn Hiển (Tư Biên), nguyên Phó Ban Tài chính Quản trị Trung ương; đồng chí Bùi Quang Tôn (Trần Đông Phong), nguyên Phó Ban Dân vận Trung ương; đồng chí Đỗ Hoàng Hải (Năm Khoa), nguyên Trưởng Ban Kinh tế Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh,…

Các ngày 04 tháng 3, ngày 20 tháng 11 (Ngày Nhà giáo Việt Nam), ngày mùng 3 Tết, ngày 26 tháng 6 (ngày giỗ thầy Lê Quang Quới) được xem là những ngày truyền thống của Trường Tư thục Bình Hòa.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình ChiểuDi tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Image
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

 Ngày 3-7-1888, ông trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 66 tuổi. Người ta kể rằng, hôm đưa đám tang ông, cánh đồng An Bình Đông, nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, trắng xóa khăn tang – khăn tang của học trò, của các thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, của bạn bè và bà con xa gần mến mộ tài đức của ông. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời cũng là người trợ thủ đắc lực của ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các họat động xã hội khác, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo Nữ giới chung.

 Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay. Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27-4-1990.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)
&nbsp;

    Sinh ngày 18-10-1904 tại làng An Hội, huyện Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống hành nghề Đông y. Học tiểu học ở Bến Tre sau lên học trung học ở Trường Taberd (Sài Gòn). Từ nhỏ, ông đã say mê nghệ thuật, qua những bức tranh thủy mặc treo nơi bàn thờ tổ tiên. Ý tưởng muốn theo học ngành nghệ thuật ở nước ngoài đã thôi thúc ông tìm đường sang Pháp.

   Theo lời khuyên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp, ông dự thi vào Trường Mỹ thuật Toulouse và đã đỗ sau kỳ thi sát hạch. Ba năm miệt mài học tập, ông đã đỗ bằng tốt nghiệp ngành sơn dầu với đề tài Người mẫu xem tranh khi họa sĩ vắng mặt. Tác phẩm này đoạt giải nhất Manry của thành phố Toulouse với huy chương bạc và 1.000 quan tiền thưởng. Ông đến Paris, học tiếp ở Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật, vừa phải chật vật kiếm sống để tiếp tục học tập, vừa tham gia phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp.

   Năm 1934, ông về nước. Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Krautheimer tìm cách tranh thủ ông, đề nghị ông làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, nhưng ông từ chối, về tạm trú nơi quê vợ ở Mỹ Tho. Tại đây, nhà sư Minh Đường trụ trì ở chùa Vĩnh Tràng đã đặt ông làm tượng mình và vị sư tiền nhiệm. Tượng hai vị hòa thượng mặc áo cà sa, chắp tay niệm Phật còn được lưu giữ đến nay ở bên cổng chùa.

   Một thời gian sau, ông lên Sài Gòn sống bằng nghề vẽ tranh phong cảnh (Một số tranh tĩnh vật vẽ theo phong cách tân cổ điển, nay được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).

  Năm 1935, ông dạy vẽ ở Trường Donnai và Huỳnh Khương Ninh. Cũng trong thời gian này tập tiểu thuyết Vì đâu, chủ đề tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp được đăng tải nhiều kỳ trên báo Dân quyền. Tháng 8-1945, ông tham gia giành chính quyền Sài Gòn, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên. Khi kháng chiến bùng nổ, ông là ủy viên tài chính UBKCHC Nam Bộ.

   Sau hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, ông được điều về giảng dạy ở Trường Mỹ thuật Việt Nam toàn quốc tại Nhà hát lớn Hà Nội, bức tranh Hồi tưởng đất Bắc của ông đã đoạt giải nhì. Bức tranh được Đại sứ Tiệp Khắc tại Hà Nội mua ngay trong ngày khai mạc.

   Về đề tài lịch sử chống ngoại xâm, ông có những bức tranh Hai Bà Trưng xuất trận, Trận Bạch Đằng, Vua Quang Trung tiến vào Ngọc Hồi, Trương Định được nhân dân phong soái v.v… Những tranh này hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian này, ông hoàn thành quyển Lược khảo mỹ thuật Việt Nam (Nxb KHXH, 1970). Sách được dịch sang tiếng Nga sau đó.

   Hòa bình lập lại, ông trở về TP. Hồ Chí Minh, giảng dạy lịch sử mỹ thuật ở Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tác phẩm Một số nền mỹ thuật thế giới được Nxb Văn hóa in năm 1978. Quyển sách đã được ông bổ sung, hoàn chỉnh và ra mắt bạn đọc với tên mới Mỹ thuật và nghệ sĩ (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993). Ký ức lão cuồng họa, tập hồi ký kể về cuộc đời mình từ lúc nhỏ nơi quê nhà, sang Pháp học hành, tham gia cách mạng và hoạt động nghệ thuật chưa kịp xuất bản, thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9-1-2001.

   Cuộc đời ông là một tấm gương lao động nghệ thuật tận tụy và trong sáng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất. Viện Tiểu sử ABI (Mỹ) tặng ông Huy chương vàng năm 1997.

Đã ban hành
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
&nbsp;

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Du lịch Miền Tây tham quan Châu ThànhDu lịch Miền Tây tham quan Châu Thành
Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Bến Tre là xứ sở của dừa, mà Châu Thành là một trong những huyện có diện tích trồng dừa khá lớn, đặc trưng cho Bến Tre, xa xa lúc nào cũng thấp thoáng những ngọn dừa cao vút. Nơi đây còn là  “cái nôi” của những sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo từ cây dừa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các mặt hàng như  khay  ly, chén đĩa, bình trà, đũa, muỗng, nĩa, các dụng cụ gia đình, đồ dùng văn phòng, búp bê và những con thú ngộ nghĩnh… Cọng, lá và bông dừa thì làm lẵng hoa, giỏ, đèn chụp… rất đẹp mắt đã được xuất khẩu qua nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Buổi trưa, du khách sẽ thưởng thức ẩm thực vùng sông nước với các món ăn dân dã đồng quê mang đậm chất Nam Bộ như: cá lóc nướng trui, nấm mối nướng muối ớt, lẩu cá kèo, tép rang dừa,… và đặc biệt du khách sẽ được thưởng thức món cơm dừa thơm ngon được hấp trong trái dừa. Khi ăn, du khách nhai chầm chậm cơm dừa với tép rang dừa, vị ngọt lẫn hương thơm của nước dừa thấm vào hạt cơm tan dần, sẽ làm cho du khách cũng nhận được tất cả sự thơm ngon của món cơm dừa này.

Những đặc sản đồng quê này, sẽ là những món quà độc đáo mà người dân vùng đất ba dãy cù lao này dâng tặng cho du khách nhằm mời gọi du khách bốn phương về với quê hương xứ dừa, nó đặc trưng cho không khí một vùng đất mang đậm nét thiên nhiên vùng sông nước. Dù Châu Thành  đã có bước phát triển kinh tế, đời sống người dân có được nâng lên nhưng nét văn hóa ẩm thực truyền thống vẫn còn lưu giữ.

Đến với Châu Thành, du khách không thể bỏ qua chuyến tham quan Đình Tân Thạch tọa lạc tại xã Tân Thạch- huyện Châu Thành là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia với nhiều công trình kiến trúc cổ như: liễn đối, bao lam, khánh thờ, hoành phi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy và chùa Hội Tôn cổ tự tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành là ngôi chùa cổ nhất Bến Tre do Hòa Thượng Long Thiền, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi theo những người dân đi khai hoang vào thành lập trong giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát trị vì. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc cổ, với nhiều hiện vật cổ xưa có giá trị như quả chuông đồng và các hiện vật cổ khác.

Ngoài ra Châu Thành còn nhiều điểm du lịch khác như du thuyền qua các cù lao: Long-Lân-Quy-Phụng, tham quan Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa) là những điểm thú vị đang chờ đón du khách khám phá. Đến Cồn Phụng, du khách sẽ được tham quan tìm hiểu về di tích ông đạo Dừa, chiêm ngưỡng sân rồng, tòa tháp và cửu trùng đài, du khách có thể chụp ảnh lưu niệm cho chuyến đi.

 

Thuyền đưa du khách đến các điểm tham quan ở huyện Châu Thành - Bến Tre

Thuyền đưa du khách tham quan vườn nhà ông Tư Bi trên cồn Qui, mỏi chân du khách có thể tạm nghỉ trong những căn nhà mái lợp lá nằm giữa vườn cây trái, chọn lựa để người phục vụ gọt đĩa trái cây các loại ưa thích như thanh long, thơm, ổi…hoặc uống một trái dừa xiêm ngọt lịm.

Thuyền lướt êm như ru qua con rạch Xếp xanh ngắt màu lá dừa nước, ô rô …, không gian mát mẻ, trong lành và ríu rít tiếng chim. Đi xe ngựa trên làng khoảng 2km đến thăm một số điểm thưởng thức trà, rượu mật ong, đi đò chèo, nghe nhạc tài tử Nam Bộ,  thưởng thức những món ăn đồng quê theo một hương sắc thật thanh nhã và thú vị.

 

Đi xe ngựa trên đường làng

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer