Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Lê Văn Phòng (Lê Thanh)Lê Văn Phòng (Lê Thanh)


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Lê Văn Phòng
(tức Lê Thanh) sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thạnh, huyện giồng
Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính
trị viên phó tiểu đoàn 516 bộ binh, Mặt trận Trung Nam </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">b</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">ộ.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1960</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">,</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> Lê Thanh nhập
ngũ</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">A</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">nh đã tham gia 121 trận đánh lớn nhỏ, 5
lần bị thương vẫn không rời trận địa. Ngày 13</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">4</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1966, Lê Thanh
chỉ huy đại đội đánh vào trường huấn luyện quân ngụy ở Phú Hưng, đánh thiệt hại
5 đại đội địch, thu nhiều vũ khí. Tháng 10</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1966, đơn vị Lê Thanh
vừa hành quân đến Bình Khánh thì gặp địch đi càn, phi pháo địch bắn phá dữ dội
dọn đường cho bộ binh chúng tiến vào. Mặc dù công sự ta bị ngập nước và chưa
liên lạc được với trên, Lê Thanh vẫn động viên bộ đội quyết tâm chiến đấu. Sau
khi đánh lui 6 đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, được lệnh rút đồng chí
đưa đơn vị rời trận địa an toàn. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong đợt một cuộc tổng
tiến công Xuân 1968, Lê Thanh chỉ huy đơn vị đánh 4 mục tiêu địch trong </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">t</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">hị xã Bến Tre</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> <span lang="VI">Đơn vị
diệt từng ổ đề kháng, chiếm trại Kim Sắt, sở chỉ huy tiểu khu của địch, thu và
phá huỷ 1.000 súng các loại. Tháng 11</span></span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1968, Mỹ - ngụy cho 9
tiểu đoàn, 20 đại đội cùng nhiều tàu, xuồng càn vào vùng giải phóng Sơn Phú -
Giồng Trôm. Lê Thanh đã chỉ huy các mũi bẻ gãy 20 đợt tiến công của địch, chặn
đứng 12 xe M113, không cho chúng tiếp cận vào trận địa ta, góp phần cùng tiểu
đoàn 516 diệt hơn 500 tên địch, giữ vững trận địa.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 4 Huân chương Giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">9</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1970, Lê Thanh
được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Lê Văn Phòng (tức Lê Thanh) sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thạnh, huyện giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chính trị viên phó tiểu đoàn 516 bộ binh, Mặt trận Trung Nam bộ.

Image
Anh hùng Lê Văn Phòng

Năm 1960, Lê Thanh nhập ngũ. Anh đã tham gia 121 trận đánh lớn nhỏ, 5 lần bị thương vẫn không rời trận địa. Ngày 13-4-1966, Lê Thanh chỉ huy đại đội đánh vào trường huấn luyện quân ngụy ở Phú Hưng, đánh thiệt hại 5 đại đội địch, thu nhiều vũ khí. Tháng 10-1966, đơn vị Lê Thanh vừa hành quân đến Bình Khánh thì gặp địch đi càn, phi pháo địch bắn phá dữ dội dọn đường cho bộ binh chúng tiến vào. Mặc dù công sự ta bị ngập nước và chưa liên lạc được với trên, Lê Thanh vẫn động viên bộ đội quyết tâm chiến đấu. Sau khi đánh lui 6 đợt tiến công của địch, diệt nhiều tên, được lệnh rút đồng chí đưa đơn vị rời trận địa an toàn.

Trong đợt một cuộc tổng tiến công Xuân 1968, Lê Thanh chỉ huy đơn vị đánh 4 mục tiêu địch trong thị xã Bến Tre. Đơn vị diệt từng ổ đề kháng, chiếm trại Kim Sắt, sở chỉ huy tiểu khu của địch, thu và phá huỷ 1.000 súng các loại. Tháng 11-1968, Mỹ - ngụy cho 9 tiểu đoàn, 20 đại đội cùng nhiều tàu, xuồng càn vào vùng giải phóng Sơn Phú - Giồng Trôm. Lê Thanh đã chỉ huy các mũi bẻ gãy 20 đợt tiến công của địch, chặn đứng 12 xe M113, không cho chúng tiếp cận vào trận địa ta, góp phần cùng tiểu đoàn 516 diệt hơn 500 tên địch, giữ vững trận địa.

Đồng chí được tặng thưởng 4 Huân chương Giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Lê Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Hương MỹHương Mỹ
&nbsp;

Quận lập theo Nghị định số 1192-NV của Tổng thống VNCH, ngày 5-12-1960, thuộc tỉnh Kiến Hòa, quận lỵ, đặt tại Cầu Mống, gồm 3 tổng (Minh Quới, Minh Huệ, Minh Phúc) và 13 xã.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dânĐánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dân

Thắng lợi trong cao trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam làm cho âm mưu áp đặt chế độ thực dân mới của Mỹ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ. Để cứu nguy, chúng chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm đánh bật LLVT và cơ sở cách mạng của ta ra khỏi nhân dân, giành lại nông thôn.

   Chiến lược này được tiến hành chủ yếu bằng quân đội tay sai tại chỗ với phương tiện vũ khí và sự yểm trợ của không quân, hải quân Mỹ. Mỹ có thể trực tiếp tham gia bằng "lực lượng đặc biệt", với binh khí kỹ thuật ở mức hạn chế.

   Cuối năm 1961, chúng đề ra kế hoạch Staley – Taylor với ba biện pháp chiến lược. Một là, tăng cường quân ngụy, dùng quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy và sử dụng nhiều máy bay trực thăng, xe thiết giáp để nhanh chóng tiêu diệt các LLVT cách mạng. Hai là, giữ vững thành thị, xây dựng ngụy quyền đủ sức ngăn chặn các cuộc đấu tranh chính trị ở thành thị, đồng thời dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn bằng "bình định" và "ấp chiến lược". Ba là, ra sức ngăn chặn ở vĩ tuyến 17, kiểm soát ven biển, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam. Đế quốc Mỹ hy vọng sẽ “bình định” xong miền Nam trong vòng 18 tháng. Ngày 18-10-1961, Ngô Đình Diệm ban bố "tình trạng khẩn cấp" trên toàn miền Nam. Ngày 8-2-1962, Mỹ thành lập tại Sài Gòn "Bộ chỉ huy quân sự đặc biệt” (MACV) do đại tướng Paul Harkins cầm đầu.

   Để đưa phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển lên một bước, ngay từ đầu năm 1961, BTC đã đề ra nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng miền Nam là phải "đấu tranh chính trị và quân sự, tiến lên làm chủ núi rừng, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ, Diệm, giải phóng miền Nam".

   Ở Bến Tre, sau cao trào Đồng khởi – 1960, ngụy quân ngụy quyền trong tỉnh lâm vào tình trạng suy sụp, bộ máy kìm kẹp ở xã ấp rệu rã, tinh thần binh sĩ ngụy hoang mang, sa sút.

   Tháng 1-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy họp rút kinh nghiệm, uốn nắn ngay lệch lạc chủ quan, nóng vội và đề ra phương châm đấu tranh là vừa đẩy mạnh tấn công địch, vừa củng cố phát triển thực lực cách mạng, bảo đảm chiến đấu lâu dài.

   Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, phong trào nhân dân du kích chiến tranh được hình thành và phát triển mạnh. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện gia nhập LLVT, vào các đội du kích. Năm 1961, LLVT tỉnh có 2 đại đội, mỗi huyện có một trung đội, mỗi xã có từ nửa tiểu đội đến một tiểu đội du kích. Một phong trào toàn quân, toàn dân đấu tranh chống địch càn quét, lấn chiếm, chống do thám, chống bắt lính đôn quân, vơ vét cướp bóc được phát động. Bộ đội tỉnh, huyện cùng nhân dân và du kích giữ vững thế chiến công, liên tục tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, làm đòn bẫy cho mũi đấu tranh chính trị phát triển.

   Từ trong thực tiễn đấu tranh với kẻ thù, đội quân chính trị của quần chúng, mà nòng cốt là "Đội quân tóc dài" hình thành từng bước, được tổ chức chặt chẽ, đấu tranh có bài bản, có chỉ huy trong từng trận chiến đấu cụ thể. Ở mỗi cấp (tỉnh, huyện, xã) đều có thành lập ban đấu tranh chính trị do một đồng chí trong cấp ủy phụ trách. Trong mỗi cuộc đấu tranh đều có tổ chức 4 lực lượng. Ban chỉ huy công khai, lực lượng đấu tranh trực diện với địch, lực lượng hậu cần và lực lượng trinh sát, liên lạc. Kế hoạch đấu tranh được chuẩn bị tỉ mỉ, có dự kiến những tình huống bất ngờ. Trước khi ra trận, quần chúng được bồi dưỡng lý lẽ đấu tranh và được tập dượt thuần thục.

   Ngày 31-1-1961 gần 10.000 quần chúng các xã kéo về thị trấn Giồng trôm, đưa kiến nghị đòi địch ngưng càn quét, bắn phá, cướp bóc. Địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình. Quần chúng kiêng xác nạn nhân lên quận, tố cáo tội ác giết người và đòi phải bồi thường nhân mạng. Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của quần chúng, địch phải chấp nhận yêu sách, chịu bồi thường 100.000 đồng và phương tiện chôn cất nạn nhân.

   Tháng 10-1961, hơn 20.000 chị em phụ nữ lại kéo vào thị xã đấu tranh, phản đối địch càn quét khủng bố, cào nhà, cướp đất, bắt lính. Địch dùng lựu đạn cay ném vào đoàn biểu tình, lấy sơn viết khẩu hiệu phản động lên áo, lên nón, cắt tóc chị em, nhưng không sao áp đảo được tinh thần đấu tranh của họ. Cuộc đấu tranh kéo dài 3 ngày, ngụy quyền tỉnh cuối cùng phải chấp nhận yêu sách của quần chúng.

   Giữa năm 1961, chấp hành sự chỉ đạo của TƯCMN, Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre đã cử một đoàn cán bộ của tỉnh, dùng thuyền đánh cá vượt biển ra miền Bắc (1) để báo cáo tình hình Đồng khởi với BCHTƯĐCS và Bác Hồ, để Trung ương có đủ cơ sở thực tiễn đúc kết kinh nghiệm, chỉ đạo phong trào Đồng khởi, nắm tình hình, chuẩn bị mở con đường vận tải trên biển, chi viện cho cách mạng miền Nam.

   Tháng 7-1961, đoàn xuất phát từ cồn Lợi, huyện Thạnh Phú, vượt biển ra Bắc. Nhờ kinh nghiệm của chuyến đi lần thứ nhất (3-1946), các đồng chí trong đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Qua 7 ngày đêm chống chọi với sóng to gió lớn, vượt qua màng lưới kiểm soát của địch, đoàn đã tới Hà Nội. Tại đây, đồng chí Đặng Bá Tiên thay mặt cho tỉnh ủy, đã báo cáo tình hình và kinh nghiệm của Bến Tre, được ban bí thư TƯĐCS đánh giá cao.

   Từ cuộc vượt biển mở đường lần thứ hai này của Bến Tre, Trung ương đã quyết định mở con đường tiếp tế Bắc – Nam trên biển. Hàng ngàn tấn hàng hóa, vũ khí của miền Bắc chi viện được gởi tới căn cứ Thạnh Phong, Giao Thạnh (Thạnh Phú) và một số căn cứ thuộc tỉnh bạn như Trà Vinh, Cà Mau, phục vụ cho cuộc chiến đấu ở miền Nam. Sự chi viện này đã góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần cho phong trào cách mạng của nhân dân Bến Tre và nhân dân miền Nam nói chung.

   Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh, Mỹ, ngụy vội vàng đối phó bằng cách đưa nhiều cố vấn, phương tiện chiến tranh và đưa nhiều tiểu đoàn chủ lực đến Bến Tre, phối hợp với quân ở địa phương, triển khai kế hoạch phản kích lại. Chiến trường Nam Bộ được chia thành 3 vùng chiến thuật và 9 khu chiến thuật. Bến Tre nằm trong khu chiến thuật Tiền Giang (khu 32). Chúng lập thêm quận Hương Mỹ ở cù lao Minh, xây dựng các yếu khu, chi khu, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót, tăng cường bắt lính, đôn quân, phát triển các sắc lính bảo an, dân vệ.

   Từ năm 1962, chúng triển khai các cuộc càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót. Đầu tiên chúng chọn xã Bình Nguyên) ở thị xã và xã Đại Điền (ở huyện Thạnh Phú) làm thí điểm. Sau đó, chúng chọn mỗi huyện một xã, mỗi xã một ấp làm thí điểm, rút kinh nghiệm và tiến hành rộng khắp trong tỉnh. Chúng dùng những thủ đoạn tàn bạo, dã man, bắt ép quần chúng phải rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, vào ở trong các khu gom dân. Ở Thạnh Phú, địch đưa các tiểu đoàn bảo an đến càn quét, khủng bố, bắt dân dỡ nhà, dời vào các khu đồn. Chúng đốt phá, cào sập hàng trăm ngôi nhà trên một tuyến dài dọc sông Hàm Luông từ Trảng Cát tới giồng Bà Thiệm, buộc họ phải vào sống trong ấp chiến lược.

Ở Bình Đại, lính bảo an chi khu đốt phá, khủng bố, cưỡng bức 356 gia đình ở các kênh số 1, ven rừng Rạch Mây, ven sông Ba Lai vào các khu gom dân. Sự phản kích quyết liệt của địch diễn ra giữa lúc LLVT cách mạng, nhất là bộ đội tập trung, còn non yếu, nên chúng đã lấn chiếm được nhiều nơi. Trong năm 1962, địch đóng thêm 70 đồn, lập thêm 194 ấp chiến lược trong toàn tỉnh.

Tháng 12-1962, đồng chí Võ Chí Công, Phó bí thư Trung ương Cục, khi về kiểm tra tình hình tỉnh Bến Tre đã xác định: Trong cuộc chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện của ta, lực lượng chính trị quần chúng và LLVT nhân dân đều là lực lượng cơ bản quyết định, nhưng khi đã đi vào chiến tranh thì LLVT có vai trò trực tiếp quyết định.

   Đầu năm 1963, Tỉnh ủy họp, xác định công tác chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ trung tâm, hàng đầu của toàn Đảng, quân dân Bến Tre.

   Giữa lúc phong trào chiến tranh du kích Bến Tre đang diễn ra trong thế giằng co, thì ngày 22-1-1963, quân dân Mỹ Tho giành thắng lợi lớn trong trận Ấp Bắc. Thắng lợi này cung cấp những kinh nghiệm có giá trị về cách đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, của Mỹ, ngụy. Một phong trào "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" lan rộng khắp miền Nam.

   Tại Bến Tre, Tỉnh ủy kịp thời phát động phong trào thi đua học tập Ấp Bắc, đồng thời triển khai nghị quyết xây dựng LLVT. Cuối năm 1963, mỗi huyện có từ 3 đến 5 trung đội, tỉnh có 3 đại đội. Các đội du kích được củng cố và phát triển mạnh, toàn tỉnh có 17.241 đội viên. Quân và dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.786 tên địch, diệt 50 đồn bót, giải phóng hoàn toàn 27 xã. Quần chúng đấu tranh quyết liệt không cho địch dỡ nhà, cào nhà, dồn quân với khẩu hiệu "một tấc không đi, một li không rời”. Trong các ấp chiến lược, nhân dân đấu tranh đòi trở về ruộng vườn, chống mọi hình thức kìm kẹp của địch. Gần 100 trong số 194 ấp chiến lược đã bị quần chúng phá đi, phá lại nhiều lần.

   Tháng 1-1963, hơn 30.000 người từ các huyện đã kéo về thị xã đấu tranh đòi địch chấm dứt rải chất độc hóa học, đòi bồi thường cho những nạn nhân bị nhiễm độc. Đây là cuộc đấu tranh có qui mô lớn nhất và có ảnh hưởng rộng trong nhân dân vùng địch kiểm soát và cả trong hàng ngũ địch.

   Có thể nói phong trào đấu tranh chống địch rải chất độc hóa học đã kích thích mạnh mẽ tinh thần dân tộc của nhiều tầng lớp trí thức, nhân sĩ, nhà tu hành, binh lính, sĩ quan ngụy quyền. Có cuộc, hàng trăm ghe xuồng tập trung biểu tình trên sông Bến Tre, kéo dài cả cây số với băng cờ khẩu hiệu phản đối.

   Trước những thắng lợi dồn dập của quân và dân miền Nam trên mặt trận quân sự và chống phá ấp chiến lược, kế hoạch Staley – Taylor của Mỹ lâm vào thế nguy cơ phá sản. Phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố lại dâng lên mạnh mẽ, mà nổi bật là phong trào đấu tranh của giới Phật giáo. Ngày 1-11-1963, đế quốc Mỹ buộc phải bật đèn xanh cho một số tướng lĩnh làm đảo chính, lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa Dương Văn Minh lên thay, nhằm xoa dịu làn sóng đấu tranh của nhân dân, đồng thời trấn an bọn tay chân. Thế nhưng, sau cuộc đảo chính, ngụy quyền tay sai càng khủng hoảng, các phe phái tranh chấp, xâu xé lẫn nhau.

Nắm vững thời cơ có lợi, nhân dân Bến Tre cùng với quân và dân toàn miền Nam đẩy mạnh tiến công bằng ba mũi giáp công, tiêu diệt lực lượng chiếm đóng, phá từng mảng ấp chiến lược của địch.

Để cứu vãn tình hình nguy ngập của chúng, tháng 3-1964, Mỹ bèn đưa ra kế hoạch mới, kế hoạch Johnson-Mc Namara, nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965). Chúng lập ra Bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mỹ. Cùng một lúc, chúng tăng thêm 6.000 cố vấn và lính chiến đấu Mỹ, đưa số quân Mỹ ở miền Nam lên trên hai vạn rưỡi tên vào cuối năm 1964.

   Tại Bến Tre, chúng chọn huyện Thạnh Phú, một huyện thuộc vùng biển, làm trọng điểm bình định. Đầu năm 1964, chúng mở cuộc hành quân "Phượng hoàng TG.1", tập trung 6.000 quân, có không quân yểm trợ, đánh vào 2 xã Thạnh Phong và Giao Thạnh nhằm phá hủy căn cứ tiếp vận, cắt đứt sự chi viện Bắc – Nam.

   Quân và dân Thạnh Phú đã chặn đánh địch nhiều trận ở Hồ Cỏ, Cái Cát, Khâu Băng... diệt và làm bị thương 1.240 tên, trong đó, có tên Lye, đại tá không quân Hoàng gia Anh ở Viễn Đông, bắn rơi và bắn hỏng 47 máy bay, thu trên 200 súng. Căn cứ Thạnh Phú được giữ vững, âm mưu triệt phá đầu cầu tiếp vận của Mỹ, ngụy bị bẻ gãy.

   Ở Thạnh Phong, chị em phụ nữ đấu tranh trực diện với cố vấn Mỹ, phản đối việc bắn pháo vào rừng và khu dân cư, đòi chạy chữa những người bị thương. Cuộc đấu tranh thắng lợi đã góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng đồng bào và chiến sĩ ở vùng căn cứ.

   Tháng 2-1964, Tỉnh ủy họp, chủ trương “đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh đều khắp 3 vùng trong tỉnh", chống càn quét, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, gỡ đồn bót, phá dứt điểm ấp chiến lược, làm thất bại âm mưu bình định của địch.

   Mở đầu chiến dịch, ta diệt gọn một loạt đồn ở Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Tân Xuân (Ba Tri). Các đồn bót còn lại ở các xã Bảo Thạnh, Tân Thủy, Phú Ngãi, Phú Lễ, Phước Tuy được gom về đồn Xã Diệu ở An Hòa Tây. Nhờ nội ứng, ta tiêu diệt luôn đồn này, thu trên 150 súng. Những đồn còn lại cuốn chạy về thị trấn.

   Địch điều sư đoàn 7 chủ lực đến Ba Tri. Một cuộc biểu tình lớn phản đối cuộc càn quét, đánh phá của địch đông trên 25.000 người (trong đó có 2.000 người nhà binh sĩ) kéo vào thị xã, làm cho tên tỉnh trưởng bất ngờ, lúng túng phải ra lệnh rút quân chủ lực về để bảo vệ thị xã, chỉ để lại một tiểu đoàn “Ó đỏ”.

Trong lúc ta tấn công mạnh ở Ba Tri, quân và dân Bình Đại nổi lên tiêu diệt, bức hàng và bức rút cả chục đồn bót. Sau thắng lợi ở Ba Tri, Bình Đại, chiến dịch phát triển sang cù lao Minh. LLVT của ta đánh thiệt hại nặng đồn Cây Điệp (chợ Thom, xã An Thạnh). Khu trù mật Thành Thới, chi khu Đôn Nhơn (Ba Vát) và nhiều đồn bót khác không chịu nổi sức tấn công của quân dân ta, phải rút chạy.

Tháng 7-1964, quân dân Bến Tre lại mở tiếp đợt tấn công mới nhằm phá đứt điểm những ấp chiến lược còn lại. Tiểu đoàn 516 bộ đội tỉnh cùng dân quân du kích tiến công tiêu diệt đồn Cây Điệp (Giồng Trôm) và đồn Phú Túc (Châu Thành). Địch đưa tiểu đoàn 32 biệt động quân cùng lực lượng bảo an ninh tỉnh đến giải tỏa, bị LLVT ta phục kích tại Lộ Thơ, xã Thành Triệu, tiêu diệt gần hết. Ta thu trên 200 súng. Thừa thắng, quân dân ta tiếp tục bức rút nhiều đồn, phá dứt điểm các ấp chiến lược ở các xã Tường Đa, Thành Triệu, An Khánh, Tam Phước, Phú An Hòa (Châu Thành).

   Tính đến đầu năm 1965, quân dân Bến Tre đã giải phóng 72 xã, với 550.000 dân, vùng giải phóng chiếm 3/4 đất đai và đã hình thành thế liên hoàn giữa các huyện. Những chiến thắng của quân dân ta trên chiến trường Bến Tre cũng như trên chiến trường toàn miền Nam đã bẻ gãy chiến lược "chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Chú thích:

(1) Đoàn gồm 5 đồng chí: đồng chí Sáu Giao, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre và 5 thủy thủ (Năm Kiện, Tư Đen, Bê, Đức, Nhung) (Xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục)

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tân AnTân An
&nbsp;

Huyện từ một đơn vị hành chính cấp tổng được thăng lên vào năm Gia Long thứ 7 (1808), gồm 2 tổng Tân Minh (cù lao Minh) và An Bảo (cù lao Bảo), thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

Tân An

Tổng thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, gồm cù lao Minh và cù lao Bảo, được thành lập năm 1757, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1947 - 1954 )Thế kỷ 20 ( 1947 - 1954 )

1947

Tháng 2, Toàn đoàn lính nguỵ UMDC do Léon Leroy chỉ huy càn quét các xã Phong Nẫm, Hữu Ðịnh, Cầu Hòa và đã gây ra vụ thảm sát Cầu Hòa, giết 286 người, phần lớn là trẻ em và phụ nữ.

19 tháng 5 , Thành lập trung đoàn 99 do Ðồng Văn Cống chỉ huy.

2 tháng 9, Tại căn cứ kháng chiến ở Ðồng Tháp Mười, hoạ sĩ Diệp Minh Châu đã rạch tay mình, chấm máu vẽ bức hoạ Bác Hồ và ba cháu Bắc - Trung - Nam quây quần quanh Bác.

1 tháng 12, Ðài tiếng nói Nam Bộ kháng chiến đặt tại chiến khu Ðồng Tháp Mười, phát sóng buổi đầu tiên.

12 tháng 12, Ban Quân sự Nam Bộ được thành lập do Nguyễn Thanh Sơn làm Trưởng ban. Ðến tháng 6-1948, ban Quân sự Nam Bộ do Trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh.

1948

15 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các sắc lệnh 132/SL và 133/SL, cử các ông: Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch UBKCHC Nam Bộ; Phạm Ngọc Thuần và Nguyễn Bình làm Phó Chủ tịch; Kha Vạn Cân và Ung Văn Khiêm làm ủy viên, Cao Triều Phát và Nguyễn Bá Sang làm Cố vấn.

8 tháng 3, Khánh thành con kênh mang tên "Phụ nữ" ở cù lao Minh bắt đầu từ kênh Cầu Mống - Vàm Ðồn ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày xuyên qua các xã Phú Khánh, Ðại Ðiền, Quới Ðiền nối với sông Băng Cung ở huyện Thạnh Phú.

Ðể hoàn thành con kênh, UBKCHC tỉnh đã giao cho Ðoàn Phụ nữ cứu quốc hai huyện Mỏ Cày và Thạnh Phú thực hiện. Chị em đã bỏ ra hàng ngàn ngày công, làm việc ròng rã trong 3 tháng trời, bất chấp nắng mưa, đêm làm ngày nghỉ để tránh máy bay địch.

Tháng 7, Cuối tháng 7, giữa chiến khu Ðồng Tháp Mười, Ðại hội đại biểu Ðảng bộ ÐCS Nam Bộ được triệu tập, gồm đại biểu từ cấp tỉnh, cấp trung đoàn trở lên.

Ðại hội đã kiểm điểm, đánh giá tình hình, đồng thời vạch ra những nội dung cơ bản trong kháng chiến ở Nam Bộ. Ðại hội đã bầu Lê Duẫn làm Bí thư XUNB, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Ðức Thuận làm Phó bí thư.

Tỉnh Ðồ Chiểu được đổi lại tên cũ Bến Tre.

Ðội quân UMDC của Léon Leroy gây ra các vụ thảm sát ở Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Ðông, Cồn Thùng, Phước Thạnh.

1949

21 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 18/SL, 19/SL và 20/SL cử Trung tướng Nguyễn Bình giữ chức Tư lệnh, ông Trần Văn Trà làm Phó tư lệnh, ông Phạm Ngọc Thuần làm Chính trị viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

20 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 120/SL thành lập một Ban cố vấn bên cạnh UBKCHC Nam Bộ, gồm các ông: Cao Triều Phát, Nguyễn Văn Hưởng, Phan Văn Chương và Lê Duẫn.

1950

5 tháng 1, Căn cứ vào chỉ thị của Trung ương, sau khi tham khảo ý kiến của Hội nghị đại biểu nông dân 4 tỉnh miền Tây Nam Bộ, do UBKCHC Nam Bộ triệu tập, XUNB ra Chỉ thị số 113-CTX phát động chủ trương tạm cấp ruộng đất cho nông dân trong toàn Nam Bộ.

9 tháng 1, Biểu tỉnh của 2.000 học sinh và phụ huynh trước dinh Thủ hiến, đòi gặp mặt Thủ hiến Nam phần Trần Văn Hữu để chất vấn về việc đóng cửa một trường học và trả tự do số học sinh bị bắt. Cảnh sát đàn áp cuộc biểu tình. Học sinh Trần Văn Ơn bị trúng đạn, hy sinh.

Từ đây, ngày 9-1 trở thành Ngày học sinh, sinh viên toàn quốc.

12 tháng 1, Hơn nửa triệu người xuống đường tham gia đám tang Trần Văn Ơn. Toàn thành phố Sài Gòn bãi thị. Ðám tang trò Ơn đã biến thành cuộc biểu dương lực lượng chính trị của quần chúng lớn nhất từ sau lễ Quốc khánh 2-9-1945.

19 tháng 3, 300.000 đồng bào Sài Gòn xuống đường biểu tình qua các đường phố chính, hô vang các khẩu hiệu: "Ðả đảo Mỹ và bọn bù nhìn tay sai", "Mỹ cút đi!”. Hoảng sợ, đêm 19-3, hai chiến hạm Mỹ lặng lẽ nhổ neo chuồn mất. Từ đó, ngày 19-3 trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ.

1951

Tháng 1, Thành lập Ðài tiếng nói Sài Gòn tự do do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát phụ trách, đặt tại rừng Bàu Cá Trê (chiến khu Ð). Ban đầu mỗi tuần phát 3 buổi, về sau phát hàng ngày vào buổi chiều.

Tháng 6, Chia Nam Bộ thành 2 phân liên khu. Phân liên khu miền Ðông gồm 5 tỉnh: Gia Ðịnh Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Phân liên khu miền Tây gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà.

1954

13 tháng 3, Tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ gồm 49 đồn bót, tổ chức thành 8 cụm với hệ thống hỏa lực nhiều tầng, với số quân lúc cao nhất là 17 tiểu đoàn. Trong 5 ngày đầu chiến dịch, quân ta đã tấn công tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Ðộc Lập và làm chủ toàn bộ phân khu Bắc.

Tháng 4, Trong chiến dịch Ðông Xuân, phối hợp với chiến trường chính, quân và dân tỉnh Bến Tre đã diệt 53 đồn, 144 tên địch, bắt sống 234 tên, thu 200 súng các loại.

7 tháng 5, Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng gian khổ và anh dũng, lúc 17 giờ 30 phút, quân ta chiếm được sở chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ. Tướng De Castries và toàn bộ bộ tham mưu đầu hàng. 16.200 quân địch bị bắt sống và đầu hàng, 62 máy bay bị bắn rơi và phá hủy. Ta thu toàn bộ súng đạn, quân dụng. Chiến dịch Ðiện Biên Phủ toàn thắng.

8 tháng 5, Hội nghị Genève (Thụy Sĩ) về Ðông Dương khai mạc. Phái đoàn VNDCCH do Thủ tướng kim Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Ðồng làm trưởng đoàn. Có 9 phái đoàn đại diện các chính phủ tham dự: VNDCCH, Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Quốc gia Việt Nam, Lào, Campuchia.

Tháng 5, 352 nhà trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn ra "Bản tuyên ngôn hòa bình" đòi chính phủ Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh ở Ðông Dương.

8 tháng 6, Mỹ đưa Ngô Ðình Diệm về Sài Gòn, chuẩn bị con chủ bài trong âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

16 tháng 6, Dưới sức ép của Mỹ, Pháp và Bảo Ðại phải chấp nhận việc đưa Ngô Ðình Diệm về làm Thủ tướng.

6 tháng 7, Thành lập Chính phủ Ngô Ðình Diệm. Bảo Ðại vẫn giữ vai trò Quốc trưởng. Ngô Ðình Diệm làm Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Quốc phòng.

20 tháng 7, Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam" gồm 6 chương, 47 điều được ký kết.

Các nước tham gia Hội nghị thông qua Bản tuyên bố chung thừa nhận: tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, Campuchia và Lào, quy định quân đội Pháp phải rút khỏi Ðông Dương, và 2 miền Nam, Bắc Việt Nam sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước vào tháng 7-1956.

22 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ.

Tháng 7, Dân số tỉnh Bến tre có 600.000 người.

9 tháng 8, Trong "Tuyên cáo của Chính phủ quốc gia Việt Nam", Ngô Ðình Diệm nói rõ: "Về bất cứ phương diện nào, Chính phủ không tự coi mình bị ràng buộc bởi hiệp định Genève mà Chính phủ không ký".

19 tháng 8, Cuộc biểu tình của 15.000 đồng bào huyện Bình Ðại, đòi thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản của hiệp định Genève.

Tháng 8, Theo chỉ định của TƯC, Tỉnh ủy mới của Bến Tre được thành lập gồm 9 ủy viên, do Nguyễn Văn Khước làm Bí thư.

13 tháng 9, Hơn 10.000 người biểu tình ở Mỏ Cày, đòi thi hành hiệp định Genève, bị chính quyền Ngô Ðình Diệm đàn áp đẫm máu. Ðây là cuộc thảm sát đầu tiên ở Bến Tre làm chấn động dư luận cả nước.

2 tháng 12, Trước sức ép của Mỹ, Pháp phải ký hiệp ước về việc rút quân Pháp khỏi miền Nam Việt Nam để đế quốc Mỹ thay thế cho thực dân Pháp.

Tháng 12, Hội nghị TƯCMN tại An Biên (Cà Mau) quyết định giải thể TƯC, thành lập XUNB do Lê Duẫn làm Bí thư. Hội nghị đã nghiên cứu cụ thể tình hình cách mạng miền Nam và đề ra sách lược, công tác tư tưởng và tổ chức trong tình hình mới.

Đã ban hành
Cây cauCây cau
Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.
Image

Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.

Những con số thống kê qua Địa bạ Minh Mạng (1836), cho biết Bến Tre có diện tích đất trồng cau khá lớn. Cau ở Giồng Trôm, Châu Thành từng nổi tiếng – "Xẻo Sâu cau tốt ai bì" (ca dao). Xẻo Sâu nay thuộc xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm.

Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, mức tiêu thụ cau (cả khô và tươi) trên thị trường giảm đi gần như tuyệt đối, do đó phần lớn những vườn cau của Bến Tre được thay bằng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Dáng cây cau thon, thẳng, đẹp, hoa cau có mùi thơm thoang thoảng vừa dân dã vừa thanh cao, đã tạo nên nét đặc trưng riêng của quê hương.

Đã ban hành
Cát bùn và diễn biến các dòng sôngCát bùn và diễn biến các dòng sông
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.

Kích thước các con sông và sự diễn biến lòng sông

Xem xét kích thước con sông người ta có thể xác định điều kiện ổn định động lực của nó, có thể giải thích các nguyên nhân phá vỡ cân bằng động lực, có thể dự đoán sự phát triển tương lai của dòng sông.

Các sông tỉnh Bến Tre, nhìn chung phân bố theo hình nan quạt và tương đối phẳng, có độ rộng tăng dần và độ sâu giảm dần về phía biển và có hiện tượng bồi lắng tăng dần từ nội địa ra biển.

Diễn biến – xâm thực các vùng cửa sông

Sự diễn biến lòng sông diễn ra khá phức tạp. Tình trạng xói lở bờ cũ, hình thành bờ mới, tách ra, nhập vào của các cồn bãi trên sông diễn ra thường xuyên, liên tục. Qua khảo sát thực tế năm 1996, vùng cửa sông Cửa Đại có độ sâu thay đổi từ 5 – 9 m. Đáy sông thuộc phía Bến Tre thường là nông, độ sâu trung bình từ 5 – 6 m; trong khi phí Tiền Giang, độ sâu từ 8 – 9 m. Một dải bồi tụ giữa sông nối tiếp cồn Bà Nở kéo dài tới 4 km và lệch về phía Bến Tre, làm lệch dòng chảy và gây xâm thực bờ sông phía Bến Đình. Đoạn từ Bình Thới đến Thừa Mỹ bị xâm thực mạnh. Bến Đình (1,75 km), tây bắc rạch Bà Khoai (0,5 km), tây bắc rạch Thừa Mỹ (1,5 km), vách xâm thực cao trung bình từ 1 – 1,5 m. Về phía biển, quá trình bồi tụ diễn ra rất mạnh. Một dải bồi tụ kéo dài từ rạch Thừa Mỹ đến cồn Tàu.

Cửa Hàm Luông có đáy sông nông hơn cửa Đại, trung bình từ 6 – 7 m, theo kiểu lòng máng cong đều, rãnh sâu lệch về phía bờ nam (8 – 10 m). Từ giồng Gò Chùa đến cửa rạch Đùng (cồn Hố) dài 6 – 7 km, bị xâm thực mạnh tại các điểm Bà Hiền (1,8 km), khém Bắc Kỳ (0,5 km), tây rạch Đùng (1,75 km). Các vị trí còn lại là bờ bồi tụ.

Cửa Cổ Chiên có địa hình đáy sông sâu 7 – 8 m. Nhìn chung phần giữa sông mặt đáy khá bằng phẳng, bờ sông bị xâm thực mạnh ở khu vực từ cửa Cái Bai đến Eo Lói (2,25 km), nam rạch Eo Lói (0,7 km), đông rạch Khém Thuyền (0,3 km), nam rạch Khâu Băng (0,7 km). Một cồn cát tích tụ kéo dài từ cù lao Long Hòa (Trà Vinh) về phía đông nam tới 5 km.

Cửa Ba Lai có trắc diện hình chữ U hơi lõm, độ sâu phổ biến từ 5 – 7 m. Khu vực cửa Ba Lai đang trong quá trình bồi tụ, mạnh nhất là bờ bên phải, từ cửa ấp Thạnh Phước đến Bảo Thuận (3 km) và khu vực từ rạch Vũng Luông đến xóm Trên (1 km). Địa hình các dãy tích tụ này phân bổ ở độ sâu trung bình 6 m khi triều cường và phần lớn lộ ra khi triều kém, nước ròng, tạo thành những bãi cát ngầm rộng tới 500 m. Vùng này hiện là các sân nghêu lớn của địa phương. Sự xâm thực chỉ xuất hiện trên đoạn bờ trái dài khoảng 500 – 800 m, bắt đầu từ chỗ rạch Thị Diễm đến cửa rạch Vũng Luông. Tại đây, đáy sông có lạch sâu từ 12 – 14 m.

Nhìn chung địa hình đáy sông vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Phiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá tại Bình Thắng (huyện Bình Đại), An Thủy (huyện Ba Tri), An Nhơn (huyện Thạnh Phú). Ở các cửa sông của Bến Tre, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, đặc biệt là khu vực sông cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực các cửa sông diễn ra với qui mô nhỏ, liên quan chủ yếu đến hoạt động thủy triều, sóng và do tích tụ ở giữa sông, từ đó làm lệch dòng chảy.

Bồi tụ xâm thực ven biển

Biến động ven biển mạnh mẽ với quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Tài liệu qua ảnh chụp từ vệ tinh nghiên cứu trong 21 năm (1968 – 1989) cho thấy tổng diện tích bồi tụ là 61,170 km2 (trong đó huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989 km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2). Như vậy trong 21 năm, tỉnh Bến Tre lấn ra biển 68,9 km2, tốc độ bình quân mỗi năm là 2,33 km2.

Đất bồi tụ hình thành dải hẹp ở phía bắc và phía nam cửa Đại. Vùng bồi tụ mạnh nhất là cửa Ba Lai, phía nam cửa Hàm Luông đến phía bắc cửa Cổ Chiên, diễn ra liên tục, tạo thành sân nghêu lớn ở phía đông cồn Lớn, trải dài trên diện tích từ Vàm Hồ đến cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực chỉ thấy ở diện tích nhỏ nằm phía tây cồn Lớn thuộc cửa Cổ Chiên và rải rác ở phía bắc và phía nam của sông này. Cửa Cổ Chiên thường có độ sâu 5 đến 6 m và ít bãi cạn, nên giao thông tương đối thuận lợi. Cửa Cung Hầu nông hơn cửa Cổ Chiên, có một bãi nông trên mực nước triều trung bình án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Nhìn chung, vùng hạ lưu và vùng cửa sông có nhiều cồn bãi nổi và ngầm. Vì vậy, việc ra vào, đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn, trừ cửa Cổ Chiên có khá hơn chút ít.

Đã ban hành
Võ Văn KhánhVõ Văn Khánh
&nbsp;

Image
Võ Văn Khánh
    Sinh năm 1915 trong một gia đình nhà nho, tại xã Tân Xuân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thời học sinh tiểu học ở trường tỉnh lỵ, năm 1929, tham gia phong trào "học sinh phản đế".

   Ngày 21-4-1930, gia nhập ĐCSĐD thuộc chi bộ An Hội (nay là thị xã) do Nguyễn Văn Thả làm Bí thư, được phân công phụ trách Hội học sinh. Đêm 31-1-1931, trong một cuộc diễn thuyết, có treo cờ búa liềm ở sân trường tỉnh, ông bị mật thám Pháp bắt, kết án 3 năm tù, đày đi sở Ông Yệm (tỉnh Thủ Dầu Một). Năm 1936, mãn tù, về lại Bến Tre, tiếp tục hoạt động.

   Những năm 1936 – 1939, hoạt động công khai phong trào Đông Dương đại hội tại tỉnh Bến Tre trong “nhóm công khai” do đồng chí Nguyễn Văn Bích, Tỉnh ủy viên, lãnh đạo, đồng thời làm phóng viên cho báo Dân chúng (cơ quan Trung ương của ĐCS xuất bản công khai tại Sài Gòn) thường trú tại Bến Tre, có chân trong chi cục Đông phương thư xã ở tỉnh lỵ

   Tháng 9-1939, bị địch bắt đày đi Côn Đảo. Sau ngày cách mạng thành công (8-1945) cùng với nhiều tù nhân khác, được chính quyền cách mạng đưa tàu rước về đất liền, đồng chí Võ Văn Khánh được phân công về Bến Tre làm Trưởng ban chính trị Quốc gia tự vệ cuộc của tỉnh (tức Ty Công an tỉnh).

   Tháng 4-1947, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đến tháng 5-1949, được XUNB điều sang làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).

   Đầu năm 1950, được cử làm ủy viên thường vụ Khu ủy khu 7 (miền Đông Nam Bộ), về sau đổi thành phân liên khu miền Đông.

   Năm 1951, được cử về làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ty Công an tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn (gọi tắt là tỉnh Bà-Chợ) cho đến ngày đình chiến theo hiệp định Genève (7-1954 ).

   Từ năm 1954, là Xứ ủy viên XUNB, Bí thư Liên tỉnh ủy miền Đông. Về sau, Liên tỉnh ủy miền Đông đổi thành Khu ủy miền Đông, thì đồng chí Phan Đức làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Khánh làm Phó bí thư.

  Năm 1959 – 1960, là Trưởng ban Mặt trận của XUNB cho đến khi thành lập TƯCMN. Từ năm 1960 – 1963, làm Phó bí thư Ban cán sự Đảng bộ Việt kiều tại Phnom Penh (Campuchia), phụ trách tuần báo Trung lập, cơ quan tuyên truyền, vận động của Hội Việt kiều yêu nước ở Campuchia.

   Năm 1963 – 1967, Bí thư Đảng ủy Trường Nguyễn Ái Quốc trực thuộc TƯCMN. Đến tháng 8-1967, trên đường đi công tác ở Bến Cát (tỉnh Bình Dương), bị thương vì bom napalm, được đưa ra Bắc điều trị. Sau thời gian chữa bệnh, làm Phó ban kinh tế miền Nam, do đồng chí Nguyễn Văn Sô, ủy viên TƯĐCS là trưởng ban, trực thuộc BCHTƯĐCS (về sau ban này giải thể).

   Ngày 6-4-1973, về lại miền Nam làm Phó ban Mặt trận thuộc TƯCMN cho đến ngày 30-4-1975. Sau ngày giải phóng, làm Bí thư Đảng ủy khối chính quyền ở miền Nam thời kỳ quân quản. Đến tháng 10-1978, nghỉ hưu.

   Được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, huy hiệu 70 tuổi Đảng và nhiều huân chương cao quý khác.

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) và khu mộ (Di tích Quốc gia)Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) và khu mộ (Di tích Quốc gia)
Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ rất độc đáo, hiện nội thất còn bảo tồn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà tọa lạc tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng cách nay hơn 100 năm do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) làm nên. Ông là người miền Trung (theo lời truyền miệng từ đời trước) vào miền Nam lập nghiệp, từ lúc còn trắng tay cho đến khi lập nên sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ.

Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ rất độc đáo, hiện nội thất còn bảo tồn gần như nguyên vẹn. Ngôi nhà tọa lạc tại xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng cách nay hơn 100 năm do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) làm nên. Ông là người miền Trung (theo lời truyền miệng từ đời trước) vào miền Nam lập nghiệp, từ lúc còn trắng tay cho đến khi lập nên sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ.

Ngôi nhà có diện tích trên 500m2 (rộng khoảng 17m, dài 25m, cao 5,70m) được cất theo kiểu nhà xuyên trính, hình chữ nhất, ba gian hai chái và hai liễm đôi theo kiểu chái bắt vần với liễm, nhà có 48 cây cột bằng gỗ lim, đường kính của cột từ 0,40 - 0,50m (kể cả cột chái và cột liễm) và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư) thay cho cột gỗ bị hư hỏng vào những năm 1945 - 1954. Kèo là những thanh gỗ to đẽo cong chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn, đầu kèo chạm hình rồng. Nền xây tam cấp, lót gạch tàu, mái lợp ngói âm dương.

Nội thất chia thành 2 phần: từ cột nhứt của mặt hậu trở vào sử dụng sinh hoạt gia đình, từ cột nhứt của mặt hậu trở ra cột hàng nhì của mặt tiền sử dụng vào việc thờ tự. Liễm và chái mặt tiền sử dụng chủ yếu vào việc phục vụ lễ tân. Mỗi căn bố trí một khánh thờ xếp thành 2 lớp, chạm trổ công phu, sơn son thếp vàng tất cả đều được đặt trên ghế thờ. Phía tả thờ Cửu Huyền Thất Tổ, giữa thờ Phật Bà Quan Âm, phía hữu thờ ông, bà Huỳnh Ngọc Khiêm.

Khánh thờ Phật Bà Quan Âm chạm trổ long, lân, phụng theo lối long phụng tranh châu, nền đế là 2 kỳ lân đối diện, cùng nhe nanh, mặt hướng ra ngoài, chân trụ chạm rồng 3 móng, mặt hướng lên trên (theo truyền tụng rồng 3 móng thường dành cho dân thượng lưu, rồng 4 móng dành cho quan lại, rồng 5 móng dành cho vua). Hai khánh thờ còn lại chạm hình hoa trái, công phụng gặp bầy. Nền đế chạm nhiều loại trái cây, thân trụ chạm chim, hoa, cây, trái,.. Phía trên chạm hoa, cây, trái cùng hướng vào vầng thái dương. Tất cả các bức hoành phi, bài vị, biển đề,…đều viết bằng chữ Hán khắc vào gỗ, chạm trổ hoa văn rất công phu, được sơn son thiếp vàng hoặc cẩn xà cừ, có tuổi đời tương đương với tuổi thọ ngôi nhà.

nha-co-huynh-phu.png 

Nhà cổ Huỳnh phủ (Hương Liêm)

Thợ làm nhà là những người thợ có thể từ miền Trung hoặc miền Bắc vào, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. Tài hoa của thợ thủ công có kỹ - nghệ thuật khắc gỗ, chạm lộng điêu luyện phải kể đến các bức vách trước các gian giữa với diện tích gần 100m2. Đó là bức tranh mô tả cảnh vật thiên nhiên rất sinh động của vùng đồng bằng sông nước, của vùng đất cù lao bốn mùa cây xanh, trái ngọt. Với cảnh vật thanh bình, chim muôn ca hát cùng các loại sinh vật khác được chạm trổ rất công phu. Theo truyền tụng, thời gian hoàn thành vách phênh tương đương với thời gian từ dở gỗ đến gát đòn dông (khoảng trên 10 năm). Tiền công thù lao cho người thợ không tính bằng ngày công mà tính bằng khối lượng dăm bào sau một ngày lao động. Mỗi chén dăm bào được trả 5 cắc bạc, riêng thợ cái được trả 2 đồng một ngày, cơm nước chủ nhà đài thọ (thời gian này một giạ lúa bằng 1,8 cắc bạc).

Không ai biết ngôi nhà được xây dựng vào năm nào, chỉ biết mất một thời gian rất dài mới hoàn thành với những chuyện kể gần như là giai thoại. Chuyện kể lại rằng: các người thợ lúc kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà. Rồi hột bưởi nẩy mầm thành cây, lớn lên cho trái chín mà ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải 6 - 7 năm mới cho trái). Khi người thợ cả mất, ông Khiêm rước vợ con ông ấy vào và lo đám tang chu toàn. Các thợ làm nhà khi còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con mà ngôi nhà vẫn chưa hoàn thành.

Nhưng nếu căn cứ vào bức hoành phi mừng tân gia họ Huỳnh của Tri huyện Bảo An - Thái Hữu Võ tặng vào năm Giáp Thìn (huyện Bảo An thuộc cù lao Bảo, tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ) thì ta biết rằng: ngôi nhà được hoàn thành trước năm Giáp Thìn (1904) vì năm 1904 là năm tổ chức ăn tân gia. Vì thế có thể ngôi nhà được xây dựng vào khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX. Nhìn các công trình chạm khắc gỗ dầy đặc và tỉ mỉ ở nội thất ngôi nhà, chúng ta thấy thời gian xây dựng kéo dài là hoàn toàn hợp lý khi mà ở thời điểm đó toàn bộ các công việc từ cưa, xẻ gỗ đến tiện, đục, bào, chạm đều được làm bằng thủ công.

Đây là một ngôi nhà cổ có kiến trúc đẹp thuộc dạng hiếm hoi của tỉnh Bến Tre. Nội thất ngôi nhà trang trí các bức hoành phi sơn son thiếp vàng, liễn áp cột cẩn ốc xà cừ, các hoa văn chạm khắc gỗ thể hiện các đề tài như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu, Nhị Thập Tứ Hiếu,… Công trình ngoài nội dung trang trí còn mang ý nghĩa cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

Khu mộ cách ngôi nhà cổ 3km thuộc xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, diện tích 966m2 (34,5m x 28m) được ông Khiêm tạo lập vào năm Tân Hợi (1911) để chuẩn bị cho hậu sự của mình. Vật liệu xây dựng là đá xanh từ hàng rào bên ngoài cho đến phần lăng mộ bên trong. Rào cao khoảng 1,5m gồm 2 phần: trên là những thanh đá được cắt hình chữ nhật hoặc hình tam giác, phần dưới là những phiến đá nguyên. Mái cổng làm 2 tầng, tạc hình ngói ống tre, nóc mái trên trang trí hình con dơi, giữa 2 tầng mái là hoa văn dây leo, phần dưới cùng là hoa văn dây leo và quả lựu.

Bên trong khu mộ được chia làm 2 phần: bên trong là nền ciment được kè đá xanh chung quanh, nơi mộ của ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm, bên ngoài là nền đất có 4 ngôi mộ gồm mộ ông Hội đồng Huỳnh Ngọc Cứ (con ông Huỳnh Ngọc Khiêm) và vợ là bà Ngô Thị Châu, cùng với mộ của bà Huỳnh Thị Điểu và ông Huỳnh Ngọc Hổ (là anh em của ông Huỳnh Ngọc Cứ).

Hai ngôi mộ của ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm làm giống nhau theo kiểu lăng mộ với tường đá cao bao bọc xung quanh. Chân mộ là tấm bia cao 1,5m, rộng 1,2m có mái che với hoa văn trên nóc và chân bia. Mặt trước bia khắc chữ Hán với nội dung là ngày tháng năm tạo lập khu mộ, tên tuổi, ngày sinh, ngày mất của người chết và tên người lập phần mộ. Mộ bà cũng được làm và trang trí giống như mộ ông nhưng hoa văn trang trí và nội dung các câu chữ Hán thì khác nhau. Công trình thể hiện nét tài hoa của người thợ điêu khắc đá với nhiều hoa văn tinh xảo: dơi, dây leo, quả lựu, mãng cầu,… cùng với các con vật như tùng, lộc, lân, nghê,… và cột, trụ đá khắc chữ Hán.

Nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ thuộc xã Đại Điền, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia bằng Quyết định số 1251/QĐ-BVHTTDL ngày 14 tháng 4 năm 2011.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Nguyễn Văn BaNguyễn Văn Ba


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại
tá nghỉ hưu.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm
1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm
1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung
gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh
máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế,
Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ
bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính
xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của
không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn
Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành
xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc
Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển
ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân
bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm
1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là
giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến
năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995,
Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá nghỉ hưu.

Năm 1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm 1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế, Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc.

Nguyễn Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.

Đồng chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Hát bộiHát bội

&nbsp;<br />

 

Image
Những người nay ngoài 70 tuổi, đã từng hoạt động sân khấu ở Bến Tre, đều cho rằng hát bội có mặt ở Bến Tre, cũng như ớ Nam Bộ cùng thời với việc xây dựng những ngôi đình làng, hoặc muộn lắm thì cũng khoảng tương đương với giai đoạn thiết lập các đơn vị hành chính cấp phủ, huyện, tổng ở vùng này. 

Tổng hợp các nguồn điều tra, khảo sát các gia phả, các dòng họ và nguồn gốc dân cư cũng như về vốn văn hóa dân gian lại, chúng ta có thể xác định được rằng hát bội được phổ biến rộng ở Bến Tre vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Như vậy, có nghĩa rằng trước đó cũng đã có hát bội như một sinh hoạt văn nghệ dân gian trong thôn xóm, chưa có tổ chức qui mô.

Như chúng ta biết, trước đây khi ông cha ta đến định cư một nơi nào trên vùng đất mới, thì một trong những công trình đầu tiên là xây dựng ngôi đình làng. Mà thường là hễ có đình thì có hát bội, vì mỗi năm “đáo lệ Kỳ yên", sau lễ hội thì làng tổ chức hát, hát vừa để "cúng thần", nhưng chủ yếu là để giải trí cho dân làng. Thời ấy, trong số những lưu dân đến định cư ở đây chắc chắn có nhiều người biết nhạc lễ và hát bội. Họ sống trong thôn xóm (lúc ấy dân cư còn khá thưa thớt) với nghề ruộng rẫy là chính, có thể cả nghề đánh cá nữa.

Trong những ngày lễ Tết, hoặc sau ngày mùa, học tụ tập nhau lại thành nhóm từ 10 đến 15 người có đàn, trống, kèn, sáo... Rồi tập dượt và biểu diễn một pho tuồng nào đó, coi như một nhu cầu sinh hoạt theo kiểu "cây nhà lá vườn", sau đó thì giải thể, trở về với công việc đồng áng. Hình thức hợp rồi tan của những đoàn hát bội còn diễn ra cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX.

Đoàn hát bội chuyên nghiệp của Bến Tre ra đời vào những năm đầu thập kỷ XX với tên Kiến Lương Ban do ông Trần Văn Huệ làm bầu. Ông Huệ gốc gác làng Song Phước, hồi ấy thuộc quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, nhưng sống một thời gian dài ở tỉnh lỵ Bến Tre. Ông Huệ làm bầu gánh hát được hơn 10 năm thì qua đời, trao đoàn hát lại cho con trai và con dâu vốn là hai diễn viên chủ chốt của đoàn. Đoàn vẫn giữ tên Kiến Lương Ban như từ nay là của bầu Quảng – tên của con trai ông. Bầu Quảng chết quá sớm, mới trên 40 tuổi, để đoàn hát lại cho vợ. Bà Quảng tiếp tục làm bầu, dẫn đoàn đi lưu diễn trong tỉnh, song hoạt đồng dài ngày nhất là ở Bình Đại, cho đến kháng chiến chống Pháp, do gặp nhiều khó khăn, nên đã giải thể.

Bà Quảng còn nhớ rất rõ lời cha chồng là ông Trần Văn Huệ (nếu còn sống, nay khoảng 100 tuổi) kể lại rằng ông biết hát bội lúc tuổi còn thiếu niên. Điều này chứng tỏ trước ông Huệ cả trăm năm, đã có những người biết hát bội và họ truyền nghề cho nhau. Bà Quảng kể lại: Đoàn Kiến Lương Ban thời ông Huệ (và sau này khi được giao cho con là bầu Quảng) có hát những tuồng Tàu như Tống tửu Đơn Hùng Tín, Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, Thần nữ dâng ngũ linh kỳ, Tam Tạng thỉnh kinh, v.v... Trong những tuồng Việt Nam, vở San Hậu được hoan nghênh nhất. Hát tuồng truyện thì mỗi đêm hát một hồi, đến khi nào hết truyện (ví dụ Thuyết Đường) mới sang truyện khác (Tam quốc chẳng hạn). Khi cải lương thịnh hành ở Bến Tre (khoảng 1925-1926) thì đoàn hát bội Kiến Lương Ban ngày càng vắng khách. Ông bầu và bà bầu Quảng phải chạy theo thị hiếu để kiếm sống, nên bắt đầu đưa vài màn ca cải lương và hề diễn vào tuồng hát bội. Thấy làm ăn khá, bà Quảng sắm thêm "panô" sơn thủy, máy nổ chạy thắp sáng, bổ sung dàn nhạc cổ cho hát bội và cải lương. Đến thời kỳ này thí Kiến Lương Ban thực tế đã trở thành một đoàn hát bội pha cải lương rồi. Tuy nhiên, vì cái gốc của đoàn là hát bội, nên thỉnh thoảng đoàn vẫn diễn những tuồng hát bội. Có lúc, đoàn được mời đi “hát chầu” cúng đình.

Hát cúng đình thì chỉ được phép diễn tuồng hát bội, dứt khoát không được diễn cải lương. Ngoài "hát chầu" là :hát giàn" tức đoàn tự tổ chức hát, bán vé, thu tiền. Những đêm hát như vậy, đoàn tự do pha hát bội với cải lương. Kiến Lương Ban đi hát chủ yếu quanh quẩn trong tỉnh, rồi trở về nơi quen, chốn cũ là đình An Hội (làng trung tâm của tỉnh lỵ). Làng nào muốn mời đoàn về "hát chầu" thì đến đó thương lượng. Nếu “hát chầu” thì được ban hội tề thù lao 80 đồng, làng nào khá hơn cho 100 đồng (bạc Đông Dương) nếu “giàn hát” chỉ “góp” mỗi đêm năm, sáu chục đồng.

Khi Kiến Lương Ban trở thành một gánh hát bội pha cải lương thì khán giả có đông hơn. Đoàn cũng đã diễn ra ở giữa Sài Gòn và Chợ Lớn xưa như ở đình tân Kiểng, đình Bình tiên (Chợ Lớn) hoặc đình Minh Phụng (Chợ Lớn) là những nơi dành cho những đoàn hát bội, hoặc hát bội pha cải lương có tiếng.

Trong nghề hát bội, “hát chầu” cúng đình là khó nhắt. Không khí ở đây rất nghiêm trang, nhang đèn sáng rực từ chính điện đến võ ca. Ngoài sân, người ta còn che thêm rạp, xếp bàn ghế có trật tự. những vị chức sắc mặc áo lễ, bịt khăn đóng chỉnh tề. Một số người xem được mời bằng thiếp. Cho nên gánh hát bội nào được mời về "hát chầu" thì xem đó là một vinh dự lớn.

Hát cúng đình thường kéo dài đến ba, bốn giờ sáng. Vở diễn phải nhiều dũng, ít bi. Không được đưa hề ra đùa cợt. Kết thúc vở phải có hậu. Diễn viên ngại nhất là người cầm chầu. Hễ diễn viên hát đúng thì người cầm chầu - thường là ông Cả trong làng – đánh một tiếng "thùng". Hát giỏi thì được thưởng ba, bốn tiếng "thùng". Hát sai, hoặc đùa cợt xúc phạm thì người cầm chầu khắc một tiếng "cắc" rất mạnh vào thành trống khiến diễn viên lúng túng, thậm chí hoang mang. Sau buổi diễn, ồng bầu và ông nhưn (thầy tuồng, ngày nay gọi là đạo diễn) phải đến nhận lỗi với ông Cả. Ở An Hóa, ngày xưa có ông Cả Chiến nổi tiếng sành nghệ thuật hát bội và rất nghiêm khắc.

Nói đến đây, chúng ta nhớ đến Đào Tấn(1) bậc thầy của sân khấu hát bội. Ông hết lòng với nghệ thuật tuồng và không tha thứ bất cứ một thái độ hời hợt nào trong diễn xuất. Câu liễn Đào Tấn viết, dán trên bàn thờ Tổ nghề hát bội đến nay và có lẽ mãi về sau vẫn còn giá trị:

Tùy xứ khôi hài Mạn Thiến tiên bản sắc
Phùng trường tác hí Hoan hỉ Phật tiền thân

Câu liễn mang ý nghĩa là trên sân khấu chớ nên khôi hài bừa bãi mà phải diễn xuất cho đúng cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật, vì sân khấu chính là cuộc đời.

Học làm diễn viên hát bội ngày xưa rất "trần ai", không kém học chữ Nho, đó là lời của bà bầu Quảng (76 tuổi), mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên. Gia đình cho bà theo học nghề lúc mới 12 tuổi. Thầy dạy vỡ lòng là bác Sáu Mới, người tỉnh Vĩnh Long. Thầy luyện nghề là ông Ba Lớn, người Bến Tre, giỏi chữ Nho và hát bội cổ điển. Mỗi ngày học hai buổi. Sáng, sau khi cúng tổ học từ 5 đến 7 giờ. Tối nào cũng học, nhưng lâu hay mau, tùy giờ rỗi của thầy. Khi đoàn diễn, học trò phải thức xem để học hỏi. Lúc trả bài, miệng hát tay giữ nhịp. Nhịp sai, bắt trật, thầy bắt xòe hai tay, đánh rất mạnh bằng cây thước dẹp. Tay sưng đỏ, rát rạt, nước mắt trào ra mà không dám khóc. Thầy chú ý đến cả lối sống của trò, nghiêm khắc đến nỗi trò ít khi dám đi ngang qua mặt thầy. Ảnh hưởng tâm lý đó sâu đậm đến mức sau này, khi trò đã trở thành diễn viên giỏi, vẫn sợ thầy, mặc dù thầy không còn làm nhưn, hoặc không dạy nghề nữa. Thỉnh thoảng thầy vẫn chống gậy đến ngồi xem tuồng ở hàng ghế đầu với khán giả. Cuộc đời của một kép hát bội giỏi ngày xưa thường kết thúc bằng làm ông nhưn (thầy tuồng, đạo diễn), rồi mới chịu rời sân khấu. Chính đó cũng là một cách truyền nghề cho thế hệ trẻ, khi xã hội cũ không có trường đạo tạo diễn viên.

Ngoài Kiến Lương Ban, ở Bến Tre còn có các đoàn khác như đoàn hát bội của bầu Tiền ở Giồng Miễu (Thạnh Phú), đoàn của bầu Đẩu ở Hòa Lộc (Mỏ Cày). Các ông bầu Luông, bầu Vàng, bầu Hùng tuy thành lập đoàn hát ở các tỉnh lân cận, song vẫn lưu diễn hàng năm ở Bến Tre.

Chú thích

(1) Đào Tấn sinh năm1845 tại Bình Định, là nhà soạn tuồng xuất sắc của ta, vào thế kỷ XIX ( thời Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái). Ông sáng tạo và nhuận sắc hàng mấy mươi vở tuồng hát bội. 

Đã ban hành
Chắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triểnChắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triển
“Bến Tre biển cá sông tôm, Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

“Bến Tre biển cá sông tôm,

 Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

Nếu ai đã một lần về thăm mảnh đất Ba Tri vùng đất biển với biết bao sản vật địa phương, hải sản biển, nơi nức danh với danh tửu “rượu Phú Lễ”, bánh phồng Phú Ngãi mang đậm hương vị quê nhà, nhiều sản phẩm thủ công tinh xảo của làng nghề đan đát Phú Lễ và Phước Tuy thì sẽ nhớ mãi cái tình người, tình đất và tình quê hương xứ sở ở một vùng đất biển cuối nguồn dòng Ba Lai.

Ba Tri quê tôi, miền đất thuộc cù lao Bảo của tỉnh Bến Tre, được thiên thiên ưu đãi, nguồn lợi kinh tế biển dồi dào, có lịch sử khai phá hình thành và phát triển khá lâu đời, cư dân sống chủ yếu bằng kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là chính. Trải qua ngần ấy thời gian, mảnh đất này đã mang theo trong mình những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, với những danh nhân đã làm nên những trang sử hào hùng cho đất nước như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Tán Kế, Phan Ngọc Tòng,... Với một hệ thống các di tích văn hóa- lịch sử phong phú như: Khu tưởng niệm nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (An Đức - Ba Tri), Mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản (Bảo Thạnh - Ba Tri), di tích cây Da Đôi (Tân Xuân - Ba Tri), di tích đình Phú Lễ (Phú Lễ - Ba Tri), di tích miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế) ở Mỹ Thạnh - Ba Tri, di tích khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng ở An Hiệp - Ba Tri, là điều kiện thuận lợi để Ba Tri phát triển loại hình du lịch về nguồn.

Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công truyền thống cũng được người dân địa phương giữ gìn và lưu truyền từ đời này sang đời khác như: Làng nghề cá khô An Thủy, làng nghề sản xuất muối Bảo Thạnh, làng nghề đan đát và nấu rượu Phú Lễ, làng nghề bánh phồng Phú Ngãi,... đang ngày càng phát triển bền vững và vươn xa giữa nhịp sống hiện đại. Duy trì và gắn bó với nghề không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế gia đình mà còn là giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề để cho các làng nghề không bị mai một theo thời gian. Đây cũng là một tiềm năng lớn để Ba Tri phát triển loại hình du lịch làng nghề.

Vùng đất biển Ba Tri không có những vườn cây ăn trái trĩu quả như huyện Chợ Lách, không có “lung linh sông nước” như du lịch huyện Châu Thành, nhưng Ba Tri luôn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc của vùng đất biển, cái chân chất, thật thà của những con người đôn hậu, nghĩa tình. Với môi trường sinh thái biển trong lành, sự đa dạng sinh học cao, nhiều rừng đước, mắm, bần,…nơi quy tụ nhiều loại sinh vật biển, chim cò, các loại cá tôm, bò sát,… nên Ba Tri có nhiều điều kiện thuận lợi trong công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng dương để phòng chống lũ lụt, xói mòn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Ba Tri còn có trên 20km đường bờ biển với nhiều bãi biển đẹp như: Bãi Ngao, cồn Tròn, cồn Hố, cồn Nhàn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển trong tương lai.

Bến Tre đang phát triển nhiều loại hình du lịch thu hút du khách: Du lịch sông nước miệt vườn, du lịch homestay, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa - lịch sử và du lịch biển. Vì vậy, các công ty du lịch tại Bến Tre cũng đã tập trung khai thác các chương trình tham quan tại huyện Ba Tri như: Đưa du khách đi tham quan các di tích văn hóa-lịch sử, khám phá vườn chim Vàm Hồ, tham quan công trình kiến trúc nghệ thuật đình Phú Lễ, các bãi biển đẹp: Bãi Ngao, cồn Nhàn, cồn Hố, và thưởng thức hải sản biển tươi sống. Mặc khác, các doanh nghiệp này cũng đưa khách khám phá các làng nghề truyền thống của huyện để gắn kết giữa du lịch về nguồn với du lịch biển và du lịch làng nghề tạo nên sự đa dạng sản phẩm trong tour du lịch về Ba Tri.

Nói đến Ba Tri là nói đến vùng đất biển với những hào sản mà thiên nhiên đã ban tặng. Đến đây, du khách có thể tham gia vào lễ hội nghinh Ông Nam Hải được tổ chức vào trung tuần tháng 6 Âm lịch hằng năm tại xã An Thủy, hòa cùng không khí sôi nổi háo hức của lễ hội, đây là một lễ hội mang đậm nét truyền thống văn hóa của cư dân miệt biển, cầu cho mưa thuận gió hòa, đánh bắt cá có một mùa bội thu, và trở thành một tín ngưỡng dân gian in sâu vào tâm linh của những người dân xứ biển này.

Cảm giác của biển luôn làm lay động lòng người viễn xứ, về Ba Tri mà du khách chưa đến Tiệm Tôm xem như là chưa đến Ba Tri. Cái địa danh này không biết có từ khi nào, nhưng nghe tên thì du khách cũng cảm nhận được nơi đây rất giàu tôm, cá. Về đây, du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống làng quê của cư dân miền biển tại làng chài Tiệm Tôm thuộc xã An Thủy huyện Ba Tri, tham quan làng nghề cá khô An Thủy - Ba Tri, tham quan cảng cá Tiệm Tôm, ngắm nhìn cảnh biển, chợ sáng trên cảng với không khí nhộn nhịp. Hay đi dọc theo những con đường quê, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh từng phên cá được phơi khô với đủ các loại cá ngon như: Cá trích, cá ngừ, cá bạc má, mực, tôm, … Đúng là một vùng quê xứ biển, cái mùi thơm thoang thoảng của các loại cá khô như muốn níu chân du khách.

Đến cảng cá Tiệm Tôm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những đoàn tàu ra khơi lúc bình minh, vươn ra đại dương mênh mông để trở về với những khoang thuyền đầy ắp cá, tôm. Lắng lòng giữa biển cả mênh mông, để cảm nhận những làn gió biển vi vu suốt ngày đêm, như những tiếng đàn, tiếng lòng của quê hương xứ biển, dừng chân tại một nhà hàng ven biển với không gian thoáng mát, du khách sẽ thưởng thức hải sản tươi sống với nhiều món đặc sản hấp dẫn như: tôm hấp nước dừa, mực nướng, sò huyết, nghêu hấp lá quế, cá đối nướng, cá ngát nấu canh chua bần,… Đặc biệt, du khách sẽ được thưởng thức món mắm còng Ba Tri nổi tiếng thơm ngon.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 tổ chức tại huyện Ba Tri đang là một trong những sản phẩm để phát triển du lịch

Cứ hẹn lại lên, từ ngày 01-03/7 hằng năm là Ba Tri sẽ nhộn nhịp vào mùa lễ hội. Trong thời gian này, du khách về thăm khu di tích nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sẽ được hòa mình vào không khí tưng bừng, rộn ràng của các hoạt động văn hóa, văn nghệ thuật của lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 như: Liên hoan “Đờn ca tài tử” và hóa trang các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, lễ dâng hương, hội thi mâm cơm ngày giỗ, mâm xôi ngày hội, và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao khác,… Đây là dịp để người dân vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, văn nghệ, ngâm thơ Lục Vân Tiên, tham gia vào nhiều hoạt động đa dạng, hấp dẫn. Đồng thời để giáo dục truyền thống văn hóa cho các thế hệ mai sau.

Ngược về xã Phú Lễ, du khách sẽ tham quan đình Phú Lễ với công trình kiến trúc độc đáo còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Hoành phi, liễn đối, bao lam,… được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Hằng năm, Đình là nơi tổ chức lễ cúng kỳ yên lớn và tiêu biểu của tỉnh. Ngoài ra, du khách không thể bỏ qua việc tìm hiểu về làng nghề nấu rượu và đan đát để chiêm ngưỡng các sản phẩm thủ công đẹp mắt, mà những nghệ nhân của làng nghề tạo ra như: Bung, giỏ, thúng, rổ,… Du khách cũng có thể tự tay làm nên một sản phẩm thủ công mà mình thích, để trải nghiệm cùng người nghệ nhân.

 

Đình Phú Lễ - Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về vùng đất biển Ba Tri

Cách Thị trấn Ba Tri khoảng chừng 15km, du khách sẽ đến với vườn chim Vàm Hồ, đây là một vườn chim tự nhiên với hàng ngàn cá thể cò, vạc. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, nước ròng; tiếng chim vịt kêu chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…. Hiện tại, vườn chim Vàm Hồ đã có dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, phát triển du lịch do công ty TNHH xuất nhập khẩu Hải Vân làm chủ đầu tư. Hy vọng, dự án hoàn thành và đưa vào khai thác thì sẽ thu hút du khách về đây nhiều hơn, tạo nguồn thu cho huyện, góp phần giải quyết việc làm và tạo sự bức phá trong lĩnh vực du lịch huyện nhà.

 

Du khách tham quan vườn chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Ba Tri còn đó rất nhiều điều thú vị mà du khách là người khám phá, quê tôi vùng đất biển chỉ có nắng gió, nhưng những hào sản mà thiên nhiên ban tặng thật sự là những món quà đầy ý nghĩa mà đất và con người Ba Tri dâng tặng cho du khách thập phương. Ba Tri không ồn ào, tấp nập nhưng nó có sức hấp dẫn kỳ lạ như “người con gái ngủ say” đang chờ du khách đánh thức; đang chờ các nhà đầu tư du lịch về đầu tư kinh doanh tại vùng đất đầy tiềm năng của Ba Tri.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trang phụcTrang phục
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

Đề cập đến việc ăn mặc của đại đa số dân chúng, trước hết cần nói đến bộ đồ bà ba. Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói rõ bộ bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Có ý kiến cho rằng áo bà ba là kiểu áo du nhập từ đảoPinăng của người Bà Ba (người Mã Lai gốc Hoa). Lại có ý kiến cho rằng áo bà ba có những nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn (cổ kiềng) và cửa ống tay hẹp", mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng có điều chắc chắn là bộ bà ba không thể xuất hiện sớm hơn lúc sách Gia Định thành thông chí ra đời, nghĩa là vào khoảng thế kỷ XIX. Tác giả Trịnh Hoài Đức đã ghi lại y phục của người Gia Định lúc bấy giờ như sau: "Gia Định là cõi phía nam nước Việt, khi mới khai thác thì có lưu dân nước ta cùng Đường nhân (chỉ người Hoa kiều - BS). Duy có người Việt noi theo tục cũ Giao Chỉ. Hạng sĩ tử và hạng thứ dân thì búi tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay, bận thẳng, may kín hai nách..."(1).

Quan sát kỹ chiếc áo bà ba mà nay người Hoa ở Chợ Lớn còn hay mặc, ta thấy có mấy đặc điểm sau đây: Cổ tay áo đứng cao 3cm, ở cổ có 3 hàng nút, thân áo xẻ giữa có 5 đến 6 nút, khuy cài nằm ngang, có 3 túi, tay áo rộng, thường được may bằng vải kẻ sọc. Còn chiếc áo bà ba mà đồng bào ta thường mặc hiện nay, chỉ có 5 hoặc 6 nút, có hai túi ở phần dưới hai vạt trước. Ngày trước, người ta thường dùng nút đồng, hay nút xương tròn nên đơm khuy dài. Về sau, người ta dùng nút bằng sứ trắng, hoặc màu, hay nút nhựa thì có khuy xẻ. Thuở chưa có vải khổ rộng nhập cảng của người Anh từ Ấn Độ đưa sang, mà nhân dân ta thường gọi bằng cái tên chung là "vải Tây", thì vật liệu may mặc lúc bấy giờ chủ yếu là vải, lụa đũi bằng tơ tằm nội địa sản xuất từ Ba Tri, Tân Châu hay từ miền Trung đưa vào.

Về màu sắc, phổ biến nhất trước đây là màu đen. Thời chưa có thuốc nhuộm hóa học, người ta thường dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, vỏ dà, vỏ sú vẹt, trái mặc nưa... nhuộm rồi phủ bùn để chống thôi màu. Khi có vải nhập cảng, thì lại dùng vải ú, vải sơn đầm, vải chéo go đen, bởi vì màu này phù hợp với điều kiện lao động, đi lại nơi sông rạch, bùn lầy, dễ giặt và chóng khô.

Bộ bà ba hiện nay đã từng trải qua nhiều lần sửa đổi, cách tân để phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của thời đại. Ngày nay, bộ bà ba đã trở thành thứ y phục thông dụng trong cả nước, nhưng bộ bà ba đen thì ở Nam Bộ phổ biến hơn cả. Chiếc áo bà ba cắt khéo làm tôn thêm vẻ đẹp của cô gái ViệtNam có thân hình nở nang, cân đối. Chiếc áo bà ba đã đi vào thơ ca bằng hình tượng khá đẹp. Trong những năm chống Mỹ sôi sục, hình ảnh đội quân tóc dài với áo bà ba và chiếc khăn rằn Nam Bộ đã chiếm nhiều chỗ trang trọng nhất trên các trang báo ngoại quốc với những lời ca ngợi nồng nhiệt đầy chất huyền thoại.

Bộ quần áo bà ba có thể mặc đi lao động ngoài đồng, chèo ghe, mặc ở trong nhà, cả ở nơi đông người. Một số bà con nông dân, nhất là những người đứng tuổi, các cụ già thường mặc bộ bà ba trắng trong những ngày Tết, ngày lễ, trong khi tiếp khách và có xu hướng dùng nó để thay thế chiếc áo dài đen cùng khăn đóng đang trở thành cổ lỗ và phiền phức.

Phụ nữ, thì ngoài màu đen còn dùng nhiều màu sắc sặc sỡ khác, xanh, đỏ, tím, vàng hay in hoa. Thường, phụ nữ nông thôn mặc quần đen là chủ yếu. Lớp thanh niên ngày nay đang có xu hướng mặc sơ mi và chiếc quần Âu bằng vải dày, có nếp, nhiều màu (thay cho màu đen đơn điệu) vừa gọn, vừa trông khỏe, phù hợp với nếp sống công nghiệp đang dần dần hình thành. Và chiếc mũ mềm trên mái tóc cắt ngắn, hoặc uốn của nữ giới, đang thay thế chiếc nón lá cồng kềnh, nhất là không phù hợp với lúc ngồi trên xe đạp, xe máy đi ngược gió, hay ở trên tàu xe.

Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế tiện lợi, lịch sử, đẹp, một xu hướng mặc theo kiểu Âu, áo sơ mi ngắn hoặc dài tay bằng vải kẻ, hoặc vải carô, quần vải dày màu sẫm đang phát triển không chỉ ở lớp thanh niên, mà cả ở người lớn tuổi, không chỉ ở nữ giới, mà cả nam giới.

Chú thích

(1)Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.6.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Tống Viết DươngTống Viết Dương


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá,
trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ
thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> bộ và
Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường
huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên
địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971,
Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của
anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá
hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ
súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ
binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá
hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ
biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có
nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp
kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến
dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận
trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978,
Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.

Từ thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam bộ và Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971, Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Ngôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê DuẩnNgôi nhà của Nguyễn Văn Trác, nơi ở, làm việc của đồng chí Lê Duẩn
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   

Image
Mô hình ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác
Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác (thường gọi là Mười Trác) ở xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm, là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11-1955 đến tháng 3-1956, để chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình và dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm.

   Đồng chí Lê Duẩn sống và làm việc ở đây gần 5 tháng, khi nhận thấy có dấu hiệu nghi ngờ bọn mật vụ có thể đánh hơi biết được, nên đã chuyển sang một cơ sở khác bí mật ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, sau đó chuyển tiếp sang một số gia đình cơ sở khác ở xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày. Ngày 5-7-1956, đồng chí Lê Duẩn rời Bến Tre lên thành phố Sài Gòn.

   Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), đồng chí Lê Duẩn có về thăm lại ngôi nhà xưa, cùng những đồng bào, đồng chí cơ sở đã nuôi dưỡng, cưu mang và bảo vệ mình trong những ngày cách mạng miền Nam bị địch đánh phá khốc liệt. Ngôi nhà ngày xưa đã bị chiến tranh tàn phá, chỉ còn lại chiếc tủ đứng bẳng gỗ làm hầm bí mật, hiện đang được trưng bày ở nhà bảo tàng tỉnh Bến Tre. Đồng chí Lê Duẩn đã chỉ thị cho chính quyền tỉnh giúp đỡ gia đình ông Mười Trác xây dựng lại ngôi nhà, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ.

  Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH công nhận là di tích lịch sử cách mạng quốc gia ngày 7-5-1997.

Đã ban hành
Phạm Văn DũngPhạm Văn Dũng


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Phạm Văn Dũng sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Điền, huyện Thạnh
Phú, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội
phó xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Phạm
Văn Dũng tham gia du kích từ năm 1962, tuy bị thương nặng, sức khỏe giảm sút,
đồng chí vẫn kiên trì bám đất, bám dân, xây dựng và chỉ huy đội du kích tích
cực đánh địch. Riêng đồng chí diệt 80 tên, thu 13 súng, chỉ huy đội du kích
diệt và bức rút 14 đồn, bốt địch. Tháng 4-1974, Phạm Văn Dũng chỉ huy đội du
kích bao vây đồn Bờ Ngang và Giồng Võ. Địch phản ứng quyết liệt, đồng chí bình
tĩnh, dũng cảm dẫn đầu đơn vị vào sát đồn ném lựu đạn và chỉ huy anh em liên
tục bẻ gãy các cánh quân tiếp viện, buộc địch phải đưa 3 tiểu đoàn đến yểm trợ
cho lính trong đồn rút chạy. Kết quả diệt trên 100 tên địch, bức rút 2 đồn
địch, giải phóng 2 ấp chiến lược. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Tháng
4-1975, đồng chí chỉ huy đội du kích diệt và bức rút 10 đồn bốt ven đường giao
thông, làm chủ đoạn đường dài 6km, bắt 2 đại đội bảo an đầu hàng vào ngày
30-4-1975, thu trên 200 súng. Phạm Văn Dũng sống gương mẫu, giản dị, khiêm tốn,
sẵn sàng nhận phần khó về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được nhân dân và
đồng đội yêu mến. Đồng chí đã góp nhiều thành tích xây dựng đội du kích xã trở
thành đơn vị anh hùng. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân
chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng
ba, 5 bằng và giấy khen. Ngày 6-11-1978, Phạm Văn Dũng được Nhà nước phong tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Phạm Văn Dũng sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phạm Văn Dũng

Phạm Văn Dũng tham gia du kích từ năm 1962, tuy bị thương nặng, sức khỏe giảm sút, đồng chí vẫn kiên trì bám đất, bám dân, xây dựng và chỉ huy đội du kích tích cực đánh địch. Riêng đồng chí diệt 80 tên, thu 13 súng, chỉ huy đội du kích diệt và bức rút 14 đồn, bốt địch. Tháng 4-1974, Phạm Văn Dũng chỉ huy đội du kích bao vây đồn Bờ Ngang và Giồng Võ. Địch phản ứng quyết liệt, đồng chí bình tĩnh, dũng cảm dẫn đầu đơn vị vào sát đồn ném lựu đạn và chỉ huy anh em liên tục bẻ gãy các cánh quân tiếp viện, buộc địch phải đưa 3 tiểu đoàn đến yểm trợ cho lính trong đồn rút chạy. Kết quả diệt trên 100 tên địch, bức rút 2 đồn địch, giải phóng 2 ấp chiến lược.

Tháng 4-1975, đồng chí chỉ huy đội du kích diệt và bức rút 10 đồn bốt ven đường giao thông, làm chủ đoạn đường dài 6km, bắt 2 đại đội bảo an đầu hàng vào ngày 30-4-1975, thu trên 200 súng. Phạm Văn Dũng sống gương mẫu, giản dị, khiêm tốn, sẵn sàng nhận phần khó về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được nhân dân và đồng đội yêu mến. Đồng chí đã góp nhiều thành tích xây dựng đội du kích xã trở thành đơn vị anh hùng.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 bằng và giấy khen. Ngày 6-11-1978, Phạm Văn Dũng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer