Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Sông Cổ ChiênSông Cổ Chiên
 

Sông dài 82km chảy dọc theo địa giới phía nam của tỉnh, làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và tỉnh Trà Vinh, đổ nước ra cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre năm 1882 ghi là Branche du sông Cỏ Chiên.

Cửa chính của sông Cổ Chiên đổ ra biển, có độ sâu từ 5m đến 6m, ít bãi bồi, nên tàu bè ra vào tương đối thuận tiện. Trong khi đó cửa Cung Hầu (cửa phụ) do một bãi nông trên mực nước triều án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Đã ban hành
Chẹt SậyChẹt Sậy
 

 Kênh Chẹt Sậy

Kênh nối từ xã Phong Nẫm (huyện Giồng Trôm) qua xã Phú Hưng (thị xã Bến Tre), dài 5km, đào năm 1878, sau đó được khơi thông và mở rộng năm 1902.

Chẹt là chổ hẹp (chẹt đá). Áo chẹt là áo bó sát người, quần ống chẹt là quần có ống bó sát người. Kênh Chẹt Sậy là con đường nước xuyên qua rừng sậy um tùm, bị che khuất.

Cầu Chẹt Sậy

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua kinh Chẹt Sậy trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri.

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
 
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
 

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cù lao BảoCù lao Bảo
 

Một trong 3 cù lao lớn của tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Minh và Bảo. Cho đến năm 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách khỏi tỉnh Mỹ Tho, nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Bảo gồm một phần huyện Châu Thành, huyện Giồng Trôm, huyện Ba Tri và thị xã Bến Tre.

Đã ban hành
Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)Phan Ngọc Tòng (1818 - 1868) (1)
 

    Cho đến nay, gia phả về họ Phan vẫn chưa tìm được. Nhưng căn cứ vào các nguồn tư liệu lịch sử thành văn và tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri, ta có thể xác định được như sau: Phan Ngọc Tòng quê ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri, sau đó là xã An Đức, nay thuộc thị trấn Ba Tri. Phan sinh năm nào, chưa có tài liệu nào ghi rõ, nhưng căn cứ vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc binh Phan Công trận vong của Nguyễn Đình Chiểu, thì ta có thể đoán được ông sinh năm 1818 và hy sinh đêm 6 rạng 7 tháng giêng, Mậu Thìn, tức ngày 30 tháng 1 năm 1868 (Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy, Quan bảy, tám ngày sướng ích chi).

   Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Vốn là một ông giáo làng, Phan Tòng đứng ra tập hợp dân chúng, tổ chức chống Pháp và được cử làm Đốc binh. Vừa mới nhận chức có 7, 8 ngày (Son đóng chưa khô ấn đốc binh) thì giặc Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Đêm đến, chúng cụm lại, đóng quân trên một gò cát có tên là Giồng Gạch (còn gọi là Gò Trụi).

   Phan Ngọc Tòng đã chỉ huy nghĩa quân tấn công vào cứ điểm của giặc, với khẩu lệnh khi xung phong thì hô tiếng "Hè" để uy hiếp tinh thần địch. Vì vậy, nhân dân địa phương còn gọi trận đánh này là "trận giặc Hè". Trong trận đánh giáp lá cà này, Phan Ngọc Tòng đã hy sinh cùng với một số nghĩa quân. Về sau, hàng năm vào ngày này, dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh.

   Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, xúc động trước tấm gương anh dũng bất khuất, đã viết một mạch 10 bài thơ điếu người chỉ huy nghĩa quân đầu tiên của Bến Tre, đồng thời cũng là người bạn tâm giao, đã ngã xuống một cách oanh liệt, vì sự nghiệp chống xâm lược, trong đó có câu:

Tinh thần hai chữ phau sương tuyết

hí phách ngàn thu rỡ núi non.

   Phần mộ của Phan Ngọc Tòng hiện nằm ở sau đình làng An Bình Đông, huyện Ba Tri.

Chú thích:

(1) Lâu nay, có nhiều sách chép Phan Tòng, hay Phan Công Tòng hoặc Phan Ngọc Tòng. Căn cứ vào tư liệu điều tra điền dã ở Ba Tri (Ông Bùi Văn Tranh ở ấp An Hiệp gọi Phan bằng cố nuôi, ông Huỳnh Văn Miêu ở ấp An Thạnh là chắt ngoại), chúng tôi lấy tên Phan Ngọc Tòng (xem thêm Nguyễn Đình Chiểu, Thơ văn yêu nước chống Pháp, Ty Văn hoá – Thông tin Bến Tre xb, 1982).

Phan Ngọc Tòng - Người anh hùng chống Pháp

Đã ban hành
Ba VátBa Vát
 

Ba Vát (còn gọi Ba Việt)

Địa danh gốc Khmer (Pears Watt là chùa phật). Vào thế kỷ XVIII, nơi đây là huyện lỵ của huyện Tân An - một trung tâm kinh tế khá phồn thịnh thời bấy giờ. Năm 1777, đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt tại đây…

Ca dao xưa:

        Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát,

        Đường Ba Vát gió mát tận xương.

Câu ca dao phản ánh ít nhiều vị trí của thị tứ này thời ấy.

Thời KCCM, Ba Vát là quận lỵ của quận Đôn Nhơn (3-1963). Nằm trên đường Mỏ Cày đi Chợ Lách, Ba Vát là một thị tứ đang phát triển, có chợ có bến thuyền, kho hàng, trường học và nhiều cửa hàng, cơ sở dịch vụ.

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Duy MinhDuy Minh
 

Huyện tách ra từ huyện Tân Minh (gồm huyện Duy Minh và Tân Minh) vào năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thuộc phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Đạo Thiên ChúaĐạo Thiên Chúa
 

Image
Nhà thờ Cái Mơn
 Đạo Thiên Chúa (1) có mặt ở Bến Tre vào giữa thế kỷ XVIII. Có hai ý kiến khác nhau về thời gian và địa điểm hình thành họ đạo Thiên Chúa đầu tiên trong tỉnh. Ý kiến thứ nhất cho rằng Giồng Giá là nơi họ đạo Thiên Chúa ra đời sớm nhất. Ý kiến thứ hai khẳng định Giồng Tre (nhà thờ Cái Bông) là nơi có họ đạo Thiên Chúa trước tiên. Cả hai nơi này đều thuộc huyện Ba Tri, một huyện ven biển của Bến Tre.

Ý kiến thứ nhất, căn cứ vào các gia phả và ký ức của những tín đồ Thiên Chúa cao tuổi nhất trong vùng còn sống ở Giồng Giá, nói rằng năm 1740. Có một số tín đồ từ miền ngoài đi thuyền đến Ba Tri. Đa số cháu chắt của những người này, nay sống ở Giồng Giá đều mang họ Nguyễn.

Giồng Giá là nơi có nhiều cây giá mọc xen lẫn với cây bần và cây mắm. Thời ấy, nơi đây còn nhiều thú dữ, kể cả cọp và cá sấu. Đồng bào thường tập trung sống trên những con giồng. Giồng Giá có một bến mang tên là Bến Vựa nằm bên bờ rạch Ba Tri. Gọi Bến Vựa vì ở đây, thời ấy có những kho, vựa tôm, cá khô, do người Hoa làm chủ để buôn bán trao đổi với các nơi. Từ Bến Vựa ra Biển đông khoảng 10 km, qua rạch Ba Tri đổ ra sông Hàm Luông. “Đất lành, chim đậu”, số đồng bào này đã dừng chân tại đây, rồi phá rừng, vỡ đất, khai hoang, lập ấp. Họ xây dựng nhà ở và một nhà nguyện (2) bằng gỗ, lá đơn sơ. Đến năm 1890, theo lời nhiều ông lão còn sống, nhà nguyện được làm lại bằng ngói, vách gỗ. Năm 1829, lại thay vách gỗ bằng tường gạch. Họ đạo Giồng Giá là một họ đạo nghèo. Đất nhà chung khoảng dưới 20 ha. Linh mục đầu tiên đến họ đạo này là một người Pháp mang tên là Marchand Du cũng thường gọi là cố Du. Lúc mới thâm nhập vào Việt Nam, các giáo sĩ nước ngoài thường lấy tên theo lối cấu trúc như trên (3).

Lúc bấy giờ vì lý do an ninh, Marchand Du không cư ngụ hẳn ở Giồng Giá mà thỉnh thoảng lui tới làm lễ tại các gia đình tín đồ.

Ý kiến thứ hai cho rằng Giồng Tre (Cái Bông) là họ đạo Thiên Chúa đầu tiên của tỉnh. Sách Chuyên khảo tỉnh Bến Tre biên soạn năm 1930, dưới thời tỉnh trưởng Fedinand Caire có đoạn: “Họ đạo đầu tiên của tỉnh bến Tre mãi đến năm 1860 mới thành lập, lúc đó bao gồm một số rất ít tín đồ cư ngụ chung quanh một nhà nguyện nhỏ dựng lên ở Cái Bông do một linh mục (prêtre) bàn xứ cai quản".

Ý kiến này có hai chỗ không phù hợp với lịch sử. Một là, như đã trình bày ở trên, các gia phả và tông chi cũng như theo lời kể lại của những người cao tuổi, kể cả linh mục hiện còn sống, thì họ đạo Giồng Giá có trước họ đạo Cái Bông khá lâu. Hai là, vào năm 1869, quyền cai quản một họ đạo không bao giờ được người Pháp trao đổi cho người Việt Nam. Muốn trở thành linh mục phải được đào tạo 5,  6 năm đối với một người có trình độ học thức nhất định (giảng đạo bằng tiếng La tinh). Vào thời điểm ấy, các giáo sĩ Pháp tới các nơi có tín đồ, vừa giảng đạo tại gia đình, vừa đào tạo người cai quản là chủ yếu. Việc họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) đã có sự cai quản của một “linh mục bản xứ” từ năm 1869 là thiếu cơ sở thực tế. Ngay ở Giồng Giá, mãi đến năm 1930, mới có một linh mục người Việt thường trú đầu tiên có tên là Thiện.

Một tư liệu khác cho biết vào năm 1770 (39 năm sau khi đã có họ đạo Giồng Giá), trong một lần quân của Nguyễn Ánh chạy thoát ra biển Đông theo dòng Hàm Luông do bị quân Tây Sơn truy đuổi, trong đoàn tùy tùng có 3 gia đình ngoan đạo: Võ Vách Trưng, Trương Văn Chức và Trương Văn Thoại (4). Ba gia đình này rắp tâm từ bỏ Nguyễn Ánh, nên khi đoàn thuyền đến gần rạch Cái Bông thì trời đã về khuya, họ cố tình đi sau cùng. Đến Vàm Rạch, họ ngoặt vào ngõ khác, chèo suốt đêm. Đến sáng, họ thấy một vùng đất cao ráo, có người khmer ở. Họ dừng thuyền, lên bờ xem xét và quyết định ở lại đây. Vùng này gọi là Giồng Tre, vì hồi đó nơi đây có rất nhiều tre. Họ dựng nhà ở và một nhà nguyện vào nơi cao ráo nhất. Thời gian không lâu sau đó, có các linh mục người Pháp tới rồi đi như Phêrô Lựu, Phêrô Thiền, Phaolô Tuyết (cả 3 đều là người Pháp lấy tên Việt) đến giảng đạo.

Sau này, con cháu họ Võ và họ Trương cưới hỏi nhau, sinh con đẻ cái ngày một nhiều. Đất đai Giồng Tre phì nhiêu hơn Giồng Giá, vì ở xa biển nên không bị ảnh hưởng nặng nề của nước mặn. Ngoài ruộng tốt, đất rộng người thưa, ba gia đình họ Võ và Trương tự do khai khẩn. Làm ăn khấm khá, con cháu của họ "dâng” một phần đất chi nhà chung (5). Cần nhắc thêm rằng ngay từ lúc đó, tín đồ ở đây đã phát triển, và có một linh mục người Pháp. Một người Pháp tên là Pillet đã đến đây chiếm đất, mở một đồn điền để khai thác sức lao động của nông dân địa phương. Cũng ở đây, trước thời Pháp thuộc, đã hình thành một số địa chủ của người Việt, với qui mô chiếm hữu ruộng không lớn lắm.

Sau ngày giải phóng, đất nhà chung của họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) có đến 160ha, trong khi đó họ đạo Giồng Giá chỉ có không đầy 20ha. Nếu họ đạo Giồng Giá hầu như không thoát khỏi địa phương, dù là hình thành sớm nhất trong Bến Tre, thì ngược lại họ đạo Giồng Tre phát triển khá mạnh sang vùng Cái Mơn, Cái Nhum (cù lao Minh) và cả huyện Tiểu Cần, huyện Cầu Ngang thuộc tỉnh Trà Vinh.

Nhà thờ cái Bông hiện nay được xây dựng vào năm 1923. Nếu tính từ những linh mục người Pháp lưu động đầu tiên đến Giồng Tre cho đến ngày nay, thì nhà thờ Cái Bông đã qua 15 linh mục cai quản. Linh mục thường trú người Pháp cuối cùng ở Cái Bông tên là Sidot (1879-1889). Linh mục người Việt đầu tiên được điều về đây tên là Sâm, thay cho linh mục Sidot vào năm 1889. Linh mục hiện nay là Nguyễn Văn Quang mà quyển Tông chi ba họ sáng lập họ đạo Cái Bông cho biết là cháu ngoại 6 đời của Võ Vách Trưng, người đến định cư đầu tiên ở đây.

Tài liệu về hoạt động của đạo Thiên Chúa ở Nam bộ cho biết năm 1930, Bến Tre có hai hạt đạo; cù lao Minh và cù lao Bảo. Năm 1964, hai hạt đạo này nhập lại thành một với tên gọi là hạt Trúc Giang. Trước ngày 30-4-1975, lại chia ra làm 4 hạt: Ba Tri, thị xã Bến Tre, Cái Mơn và Bình Đại. Năm 1938, địa phận giáo hội Vĩnh Long được thành lập, cai quản các họ đạo thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, đến nay cộng thêm một nửa của tỉnh Đồng Tháp.

Ở Bến Tre ngoài Giồng Giá và Giồng Tre, còn phải kể đến họ đạo Cái Mơn. Đây cũng là một họ đạo tương đối lâu đời, do một linh mục người Pháp tên là Gernot thành lập tháng 2 năm 1872. Viên chủ pháp ở Bến Tre đã từng hết lời ca ngợi họ đạo này như sau: " Họ đạo Cái Mơn có một nhà thờ lớn dáng dấp rất đẹp. Họ đạo này thu được một kết quả lạ thường là đã công giáo hóa toàn bộ dân sống trên một cù lao nhỏ chỉ có một con rạch bao quanh. Thật vậy, trong vùng này chỉ có người Trung Quốc chuyên nghề buôn bán là không theo đạo Công giáo. Cần nêu lên một sự kiện độc đáo là trong công sở ở Cái Mơn (tức trụ sở ban hội tề xã, thời Pháp thuộc) chiếc bàn thờ cổ truyền kiểu Phật giáo hoặc khổng Giáo dựng lên để tưởng nhớ các vị trong ban hội tề quá cố, nay được thay thế bằng một chiếc bàn thờ Chúa. Đây là một kết quả thực hiện được ở địa phương này" (6).

Họ đạo Cái Mơn, ngoài một nhà thờ lớn, còn có một nhà nguyện riêng của nữ tu sĩ, trường học, nhà dưỡng lão, nhà trẻ mồ côi và ruộng, vườn thuộc nhà Chung.

Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách là thị tứ sầm uất, nơi buôn bán, giao lưu khá tấp nập. Đây còn là một nơi sản xuất các loại cây giống và cây cảnh, có nhiều người có kỹ thuật ươm cây, ghép cây ăn quả nổi tiếng. Cạnh họ đạo Cái Mơn, có họ đạo Cái Nhum nay thuộc xã Long Thới, huyện Chợ Lách. Họ đạo cái Nhum cũng là một họ đạo lớn, xấp xỉ với họ đạo Cái Mơn.

Trong KCCP (1945-1954), bọn thực dân Pháp với chính sách lợi dụng tôn giáo trong âm mưu xâm lược, đã ra sức nắm nhà thờ và giáo dân, biến họ thành công cụ chống lại cách mạng. Ở Bến Tre điển hình nhất là sự kiện Léon Leroy.

Vốn là một con lai - Cha là một lính lê dương Pháp, mẹ Việt Nam – sinh ra từ đất Bình Đại, Léon Leroy đã được bàn tay của bọn thực dân thống trị biến thành một tên ác ôn nguy hiểm. Hắn đã từng được Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp phong làm đại tá kiêm tỉnh trưởng Bến Tre. Năm 1949, hắn đã thành lập một lực lượng vũ trang riêng, lấy tên là UMDC (Unité Mobile de Défense des Chrétientés) - với danh nghĩa là đội quân bảo vệ đạo - gồm những tay chân cuồng tín nhất để chống phá cách mạng. Cùng với đội quân này, Léon Leroy đã gây nên vô vàn tội ác, không những chỉ nhân dân trong tỉnh mà còn gieo bao nhiêu tang tóc, đau thương cho cả một vùng dân cư rộng lớn từ Gò Công, Mỹ Tho đến Vĩnh Long, Trà Vinh. Hàng ngàn người dân vô tội đã bị tra tấn, bị giết chết một cách dã man, hàng trăm làng mạc, xóm thôn bị càn quét, đốt phá. Những địa danh như Vàm Bình Đại, cầu tàu Phú Thuận, cầu tàu An Hóa, cầu Ba Lai, ngã tư An Hồ, Cầu Hòa đã từng ghi lại những vụ thảm sát tập thể, những hành động thủ tiêu cán bộ và đồng bào yêu nước của tên Một On (tức Léon Leroy) và đội quân này (7).

Năm 1999, Bến Tre có hai hạt: hạt thứ nhất gồm họ đạo các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành, Bình Đại và thị xã Bến Tre. Hạt thứ hai gồm họ đạo các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách. Cũng theo thống kê năm 1999, đạo Thiên Chúa ở Bến Tre có: 85 nhà thờ, 34 linh mục, 200 nữ tu, 60.000 tín đồ.

Chú thích :

(1) Thường gọi là công Giáo
(2) Nhà Nguyện là một loại nhà thờ nhỏ (Chapelle).
(3) Linh mục Marchand Du quê quán ở Thành phố Besancon (Pháp), tham gia cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, bị bắt trong thành Gia Định khi thành này bị quân triều đình tấn công chiếm trở lại. Marchand Du bị xử tử năm 1835 tại Huế thời Minh Mạng.
(4) Ông Trương Văn Oai, năm nay 80 tuổi, người cao tuổi nhất hiện nay của họ đạo Giồng Tre, là cháu 6 đời của Trương Văn Chức, kể lại những điều đã nghe ông bà, cha mẹ nói lại rằng Võ Vách Trưng làm quan trong quân cơ của Nguyễn Ánh.
(5) Dưới ách cai trị của Pháp, một số nông dân nghèo không đủ tiền đóng thuế đành phải “dâng” đất cho nhà thờ.
(6) Monographie de la province de Bến Tre, Sđd , tr.36
(7) Xem chương Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai ở phần Lịch sử.

Đã ban hành
Trúc GiangTrúc Giang
 

Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long, Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn, Tân Thạch.

Trúc Giang

Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Lê Anh Xuân (1940 – 1968)Lê Anh Xuân (1940 – 1968)
 

Image
Lê Anh Xuân (1940-1968)
    Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5-6-1940 tại thị xã Bến Tre. Quê nội anh là Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thân sinh là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học có uy tín. Lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước có truyền thống văn học, Lê Anh Xuân sớm tiếp xúc với văn thơ từ nhỏ. Năm 12 tuổi, Lê Anh Xuân đi theo kháng chiến, vừa học văn hóa, vừa tập việc ở nhà in Trịnh Đình Trọng, thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ trong chiến khu.

   Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc, học ở các trường học sinh miền Nam, Trường phổ thông trung học Nguyễn Trãi (Hà Nội), rồi vào học khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

   Những năm tháng học tập ở miền Bắc, tâm hồn và kiến thức của anh ngày càng được bồi đắp phong phú thêm. Bài thơ đầu tiên ra mắt bạn đọc Nhớ mưa quê hương của Lê Anh Xuân, viết trong dòng cảm xúc thương nhớ da diết miền Nam, đã chiếm được cảm tình độc giả và được giải nhì trong cuộc thi thơ năm 1960 của tạp chí Văn Nghệ.

   Tốt nghiệp Đại học, Lê Anh Xuân được giữ lại làm cán bộ giảng dạy ở khoa Sử và được cử đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng anh đã từ chối, chọn lựa con đường trở về quê hương chiến đấu. Cuối năm 1964, cùng với bạn bè đồng chí, Lê Anh Xuân đã vượt Trường Sơn về Nam, khi cuộc chiến đấu đang ở giai đoạn gay go quyết liệt nhất. Anh công tác ở Tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn TƯCMN, sau đó công tác ở Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam.

   Trong suốt thời gian này, Lê Anh Xuân đã sống và làm việc như một người chiến sĩ – nghệ sĩ chân chính. Anh tham gia viết ký về các anh hùng trong Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam lần thứ I, tình nguyện đi đến những nơi ác liệt nhất. Khi về công tác ở Bến Tre, anh tham gia tất cả những công việc gian khó như một cán bộ ở địa phương: làm công tác tuyên truyền, phá đường, sáng tác thơ, cùng bộ đội, du kích chống càn ở Mỏ Cày v.v…

   Từ cuộc sống gian khổ mà hào hùng ấy, anh đã gởi đến bạn đọc nhiều bài thơ mới với bút danh Lê Anh Xuân: Không đâu như ở miền Nam, Dừa ơi, Về Bến Tre, Trở về quê nội…

   Bên cạnh lòng yêu văn chương, Lê Anh Xuân còn làm việc với một ý thức công dân tích cực. Ngoài việc làm thơ, viết trường ca, anh còn viết cả văn xuôi. Truyện ký về anh hùng Nguyễn Văn Tư của anh đã được đăng trên báo Văn Nghệ năm 1965 với cái tên Giữ đất. Trường ca Nguyễn Văn Trỗi gần 1.500 câu thơ lục bát là một đóng góp kịp thời của anh.

   Tiếng gà gáy, tập thơ đầu tay, tập hợp những bài viết của Lê Anh Xuân trong 10 năm sống ở miền Bắc, ra đời năm 1965, khẳng định vị trí của anh Lê Anh Xuân trong đội ngũ sáng tác trẻ thời chống Mỹ. Hoa dừa là tập thơ thứ hai của anh gồm những bài thơ sáng tác trong những năm ở chiến trường miền Nam cho đến khi hy sinh. Năm 1966, anh được vinh dự đứng vào hàng ngũ ĐCSVN.

   Những chiến thắng và khí thế tiến công của chiến dịch xuân Mậu Thân (1968) đã dội vào thơ anh những âm hưởng hùng tráng: Mùa xuân Sài Gòn, mùa xuân chiến thắng. Dựng lại hình ảnh của những anh hùng, Lê Anh Xuân thường có ý thức phát hiện và khái quát những phẩm chất cao đẹp của dân tộc. Bài thơ Dáng đứng Việt Nam được viết trong cảm hứng ấy và cũng là tác phẩm cuối cùng mà anh đã để lại cho chúng ta.

   Lê Anh Xuân tham gia đợt 2 Tổng công kích Mậu Thân cùng một số văn nghệ sĩ khác. Trên đường tiến vào Sài Gòn, ngày 21-5-1968, đến ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, anh hy sinh trong một trận càn của giặc Mỹ.

   Từ Tiếng gà gáy đến Hoa dừa, từ truyện ký Giữ đất đến Trường ca Nguyễn Văn Trỗi, cảm hứng chủ đạo của Lê Anh Xuân vẫn là tình yêu quê hương đất nước quyện chặt với tình yêu nhân dân và lý tưởng cách mạng. Đặc biệt, hình ảnh quê hương Bến Tre đã chiếm một vị trí quan trọng trong thơ anh và có sức lay động sâu xa trong lòng người đọc.

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Lê Văn KhaiAnh hùng liệt sĩ Lê Văn Khai


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Lê Văn Khai
(tức Ba Nghĩa) sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre. Khi h</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">y</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> sinh, đồng chí là đảng
viên, Trưởng ban An ninh xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong thời gian làm
Trưởng ban công an xã, Lê Văn Khai đã phát hiện 8 tên mật báo viên, tiêu diệt
23 tên địch, làm bị thương 18 tên khác, thu nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng
của địch. Tiêu biểu như năm 1965 Lê Văn Khai đã hoá trang đột nhập vào nhà tên
Lầu (một tên tình báo viên có nhiều thủ đoạn tàn bạo chống phá cách mạng) để
thi hành bản án tử hình với y. Tháng 8</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1965 đồng chí đã cải
trang là lính bảo an đến một quán cà phê cách đồn địch 50 mét, bắn chết tại chỗ
tên Phượng (nguyên trưởng phòng thẩm vấn quận Trúc Giang mới được đưa về xã Tam
Phước), bắn bị thương 3 tên lính bảo an khác. Tháng 2</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1967, địch huy
động 2 tiểu đoàn lính chủ lực và 2 đại đội lính bảo an, có sự hỗ trợ của máy
bay, pháo binh tấn công vào vùng giải phóng. Địch đã phát hiện được hầm bí mật,
nơi Lê Văn Khai cùng người vợ (có mang 7 tháng) đang trú ẩn. Trước tình thế vô
cùng hiểm nghèo, đồng chí đã bất ngờ tung nắp hầm ném lựu đạn và dùng súng bắn
sối sả vào đội hình địch, tiêu diệt 2 tên</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">,</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> bị thương 4 tên và đồng
chí đã anh dũng hy sinh. Địch đã bắt, tra tấn dã man người vợ đồng chí, nhưng
chị đã cắn răng chịu đựng những đòn thù thâm hiểm. Biết không khai thác được
gì, chúng đã đưa chị đến cạnh xác chồng để giết hại.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 3</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">8</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1995, Lê Văn
Khai được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Lê Văn Khai (tức Ba Nghĩa) sinh năm 1937, dân tộc Kinh, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, Trưởng ban An ninh xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Trong thời gian làm Trưởng ban công an xã, Lê Văn Khai đã phát hiện 8 tên mật báo viên, tiêu diệt 23 tên địch, làm bị thương 18 tên khác, thu nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng của địch. Tiêu biểu như năm 1965 Lê Văn Khai đã hoá trang đột nhập vào nhà tên Lầu (một tên tình báo viên có nhiều thủ đoạn tàn bạo chống phá cách mạng) để thi hành bản án tử hình với y. Tháng 8-1965 đồng chí đã cải trang là lính bảo an đến một quán cà phê cách đồn địch 50 mét, bắn chết tại chỗ tên Phượng (nguyên trưởng phòng thẩm vấn quận Trúc Giang mới được đưa về xã Tam Phước), bắn bị thương 3 tên lính bảo an khác. Tháng 2-1967, địch huy động 2 tiểu đoàn lính chủ lực và 2 đại đội lính bảo an, có sự hỗ trợ của máy bay, pháo binh tấn công vào vùng giải phóng. Địch đã phát hiện được hầm bí mật, nơi Lê Văn Khai cùng người vợ (có mang 7 tháng) đang trú ẩn. Trước tình thế vô cùng hiểm nghèo, đồng chí đã bất ngờ tung nắp hầm ném lựu đạn và dùng súng bắn sối sả vào đội hình địch, tiêu diệt 2 tên, bị thương 4 tên và đồng chí đã anh dũng hy sinh. Địch đã bắt, tra tấn dã man người vợ đồng chí, nhưng chị đã cắn răng chịu đựng những đòn thù thâm hiểm. Biết không khai thác được gì, chúng đã đưa chị đến cạnh xác chồng để giết hại.

Ngày 3-8-1995, Lê Văn Khai được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triểnChắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triển
“Bến Tre biển cá sông tôm, Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

“Bến Tre biển cá sông tôm,

 Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

Nếu ai đã một lần về thăm mảnh đất Ba Tri vùng đất biển với biết bao sản vật địa phương, hải sản biển, nơi nức danh với danh tửu “rượu Phú Lễ”, bánh phồng Phú Ngãi mang đậm hương vị quê nhà, nhiều sản phẩm thủ công tinh xảo của làng nghề đan đát Phú Lễ và Phước Tuy thì sẽ nhớ mãi cái tình người, tình đất và tình quê hương xứ sở ở một vùng đất biển cuối nguồn dòng Ba Lai.

Ba Tri quê tôi, miền đất thuộc cù lao Bảo của tỉnh Bến Tre, được thiên thiên ưu đãi, nguồn lợi kinh tế biển dồi dào, có lịch sử khai phá hình thành và phát triển khá lâu đời, cư dân sống chủ yếu bằng kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là chính. Trải qua ngần ấy thời gian, mảnh đất này đã mang theo trong mình những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, với những danh nhân đã làm nên những trang sử hào hùng cho đất nước như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Tán Kế, Phan Ngọc Tòng,... Với một hệ thống các di tích văn hóa- lịch sử phong phú như: Khu tưởng niệm nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (An Đức - Ba Tri), Mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản (Bảo Thạnh - Ba Tri), di tích cây Da Đôi (Tân Xuân - Ba Tri), di tích đình Phú Lễ (Phú Lễ - Ba Tri), di tích miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế) ở Mỹ Thạnh - Ba Tri, di tích khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng ở An Hiệp - Ba Tri, là điều kiện thuận lợi để Ba Tri phát triển loại hình du lịch về nguồn.

Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công truyền thống cũng được người dân địa phương giữ gìn và lưu truyền từ đời này sang đời khác như: Làng nghề cá khô An Thủy, làng nghề sản xuất muối Bảo Thạnh, làng nghề đan đát và nấu rượu Phú Lễ, làng nghề bánh phồng Phú Ngãi,... đang ngày càng phát triển bền vững và vươn xa giữa nhịp sống hiện đại. Duy trì và gắn bó với nghề không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế gia đình mà còn là giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề để cho các làng nghề không bị mai một theo thời gian. Đây cũng là một tiềm năng lớn để Ba Tri phát triển loại hình du lịch làng nghề.

Vùng đất biển Ba Tri không có những vườn cây ăn trái trĩu quả như huyện Chợ Lách, không có “lung linh sông nước” như du lịch huyện Châu Thành, nhưng Ba Tri luôn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc của vùng đất biển, cái chân chất, thật thà của những con người đôn hậu, nghĩa tình. Với môi trường sinh thái biển trong lành, sự đa dạng sinh học cao, nhiều rừng đước, mắm, bần,…nơi quy tụ nhiều loại sinh vật biển, chim cò, các loại cá tôm, bò sát,… nên Ba Tri có nhiều điều kiện thuận lợi trong công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng dương để phòng chống lũ lụt, xói mòn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Ba Tri còn có trên 20km đường bờ biển với nhiều bãi biển đẹp như: Bãi Ngao, cồn Tròn, cồn Hố, cồn Nhàn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển trong tương lai.

Bến Tre đang phát triển nhiều loại hình du lịch thu hút du khách: Du lịch sông nước miệt vườn, du lịch homestay, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa - lịch sử và du lịch biển. Vì vậy, các công ty du lịch tại Bến Tre cũng đã tập trung khai thác các chương trình tham quan tại huyện Ba Tri như: Đưa du khách đi tham quan các di tích văn hóa-lịch sử, khám phá vườn chim Vàm Hồ, tham quan công trình kiến trúc nghệ thuật đình Phú Lễ, các bãi biển đẹp: Bãi Ngao, cồn Nhàn, cồn Hố, và thưởng thức hải sản biển tươi sống. Mặc khác, các doanh nghiệp này cũng đưa khách khám phá các làng nghề truyền thống của huyện để gắn kết giữa du lịch về nguồn với du lịch biển và du lịch làng nghề tạo nên sự đa dạng sản phẩm trong tour du lịch về Ba Tri.

Nói đến Ba Tri là nói đến vùng đất biển với những hào sản mà thiên nhiên đã ban tặng. Đến đây, du khách có thể tham gia vào lễ hội nghinh Ông Nam Hải được tổ chức vào trung tuần tháng 6 Âm lịch hằng năm tại xã An Thủy, hòa cùng không khí sôi nổi háo hức của lễ hội, đây là một lễ hội mang đậm nét truyền thống văn hóa của cư dân miệt biển, cầu cho mưa thuận gió hòa, đánh bắt cá có một mùa bội thu, và trở thành một tín ngưỡng dân gian in sâu vào tâm linh của những người dân xứ biển này.

Cảm giác của biển luôn làm lay động lòng người viễn xứ, về Ba Tri mà du khách chưa đến Tiệm Tôm xem như là chưa đến Ba Tri. Cái địa danh này không biết có từ khi nào, nhưng nghe tên thì du khách cũng cảm nhận được nơi đây rất giàu tôm, cá. Về đây, du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống làng quê của cư dân miền biển tại làng chài Tiệm Tôm thuộc xã An Thủy huyện Ba Tri, tham quan làng nghề cá khô An Thủy - Ba Tri, tham quan cảng cá Tiệm Tôm, ngắm nhìn cảnh biển, chợ sáng trên cảng với không khí nhộn nhịp. Hay đi dọc theo những con đường quê, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh từng phên cá được phơi khô với đủ các loại cá ngon như: Cá trích, cá ngừ, cá bạc má, mực, tôm, … Đúng là một vùng quê xứ biển, cái mùi thơm thoang thoảng của các loại cá khô như muốn níu chân du khách.

Đến cảng cá Tiệm Tôm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những đoàn tàu ra khơi lúc bình minh, vươn ra đại dương mênh mông để trở về với những khoang thuyền đầy ắp cá, tôm. Lắng lòng giữa biển cả mênh mông, để cảm nhận những làn gió biển vi vu suốt ngày đêm, như những tiếng đàn, tiếng lòng của quê hương xứ biển, dừng chân tại một nhà hàng ven biển với không gian thoáng mát, du khách sẽ thưởng thức hải sản tươi sống với nhiều món đặc sản hấp dẫn như: tôm hấp nước dừa, mực nướng, sò huyết, nghêu hấp lá quế, cá đối nướng, cá ngát nấu canh chua bần,… Đặc biệt, du khách sẽ được thưởng thức món mắm còng Ba Tri nổi tiếng thơm ngon.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 tổ chức tại huyện Ba Tri đang là một trong những sản phẩm để phát triển du lịch

Cứ hẹn lại lên, từ ngày 01-03/7 hằng năm là Ba Tri sẽ nhộn nhịp vào mùa lễ hội. Trong thời gian này, du khách về thăm khu di tích nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sẽ được hòa mình vào không khí tưng bừng, rộn ràng của các hoạt động văn hóa, văn nghệ thuật của lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 như: Liên hoan “Đờn ca tài tử” và hóa trang các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, lễ dâng hương, hội thi mâm cơm ngày giỗ, mâm xôi ngày hội, và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao khác,… Đây là dịp để người dân vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, văn nghệ, ngâm thơ Lục Vân Tiên, tham gia vào nhiều hoạt động đa dạng, hấp dẫn. Đồng thời để giáo dục truyền thống văn hóa cho các thế hệ mai sau.

Ngược về xã Phú Lễ, du khách sẽ tham quan đình Phú Lễ với công trình kiến trúc độc đáo còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Hoành phi, liễn đối, bao lam,… được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Hằng năm, Đình là nơi tổ chức lễ cúng kỳ yên lớn và tiêu biểu của tỉnh. Ngoài ra, du khách không thể bỏ qua việc tìm hiểu về làng nghề nấu rượu và đan đát để chiêm ngưỡng các sản phẩm thủ công đẹp mắt, mà những nghệ nhân của làng nghề tạo ra như: Bung, giỏ, thúng, rổ,… Du khách cũng có thể tự tay làm nên một sản phẩm thủ công mà mình thích, để trải nghiệm cùng người nghệ nhân.

 

Đình Phú Lễ - Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về vùng đất biển Ba Tri

Cách Thị trấn Ba Tri khoảng chừng 15km, du khách sẽ đến với vườn chim Vàm Hồ, đây là một vườn chim tự nhiên với hàng ngàn cá thể cò, vạc. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, nước ròng; tiếng chim vịt kêu chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…. Hiện tại, vườn chim Vàm Hồ đã có dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, phát triển du lịch do công ty TNHH xuất nhập khẩu Hải Vân làm chủ đầu tư. Hy vọng, dự án hoàn thành và đưa vào khai thác thì sẽ thu hút du khách về đây nhiều hơn, tạo nguồn thu cho huyện, góp phần giải quyết việc làm và tạo sự bức phá trong lĩnh vực du lịch huyện nhà.

 

Du khách tham quan vườn chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Ba Tri còn đó rất nhiều điều thú vị mà du khách là người khám phá, quê tôi vùng đất biển chỉ có nắng gió, nhưng những hào sản mà thiên nhiên ban tặng thật sự là những món quà đầy ý nghĩa mà đất và con người Ba Tri dâng tặng cho du khách thập phương. Ba Tri không ồn ào, tấp nập nhưng nó có sức hấp dẫn kỳ lạ như “người con gái ngủ say” đang chờ du khách đánh thức; đang chờ các nhà đầu tư du lịch về đầu tư kinh doanh tại vùng đất đầy tiềm năng của Ba Tri.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Đình Bình HòaĐình Bình Hòa
&nbsp;
- Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hòa, nay thuộc Thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường tỉnh 885, cách Thị xã Bến Tre khoảng 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

  - Đình Bình Hòa được xếp hạng trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở Cù lao Bảo.

 - Đình Bình Hòa được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07 tháng 01 năm 1993.
Đã ban hành
Âm nhạc cổÂm nhạc cổ
&nbsp;

Từ những năm cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, âm nhạc cổ (1) ở Nam Bộ phát triển mạnh ở miền Đông và cả miền Tây. Ở Bến Tre, nhạc (cổ) tài tử phát triển sôi nổi vào cuối thập niên thứ hai của thế kỷ này. Hồi ấy, những ai am hiểu nhạc cổ đều xem nhạc lễ như cái nền của nhạc truyền thống. Cũng như các loại hình văn nghệ dân gian khác, nhạc lễ của Bến Tre có gốc gác từ vốn âm nhạc do cha ông ta mang theo từ vùng đất cũ, và rất có thể cùng thời với loại hình sân khấu hát bội. Dần dần các loại nhạc này được các thế hệ sau phát triển qua quá trình lao động mang nhịp sống sôi nổi nơi vùng đất mới, nhưng cho đến nay, vẫn giữ nguyên cốt lõi của nền âm nhạc cổ truyền.

Tiếp xúc với khá nhiều thầy dạy nhạc cổ của Bến Tre nay tuổi đời khoảng 70 trở lên, chúng tôi được biệt ở đây không hề có phân biệt giữa “nhã nhạc" với "tục nhạc", mà vua chúa ngày xưa có một thời cố gán cho nền âm nhạc dân tộc, hòng vạch một ranh giới giữa nhạc dành cho cung đình với nhạc phổ cập rộng rãi trong quần chúng. Khi âm nhạc cổ truyền vào Bến Tre cũng như bất cứ nơi nào khác ở phần đất phía Nam của Tổ quốc, thì nền âm nhạc đó đã đi thẳng vào nhân dân, không phân biệt ai là giàu sang hay là "bàn dân thiên hạ". Xin dẫn ra vài bằng chứng. Trước đây, mỗi lần sang làng An Hội cúng đình (đình lớn nhất của tỉnh thời xưa về mặt hoạt động lễ hội) thì từ “quan tỉnh trưởng” đến người nông dân ngoại thành đều có quyền đến dự và thưởng thức nhạc lễ như nhau. Hơn nữa, đại đa số nhạc công có tiếng trong tỉnh đều thuộc giai tầng lao động, chứ không có ai là phú nông hay địa chủ. Và mỗi lần dàn nhạc lễ có dịp phục vụ một đám tang – nhà giàu cũng như nhà nghèo – cách diễn tấu nhạc lễ vẫn hoàn toàn giống nhau.

Theo nhận xét của các thầy dạy nhạc ở Bến Tre, giữa nhạc cổ đang thịnh hành ở Nam Bộ (kể cả nhạc tài tử) với loại nhạc này đang phổ biến ở Huế, có một số bài bản giống nhau, nhưng âm sắc không hoàn toàn giống nhau. Những ai đã học nhạc cổ một cách căn cơ đều thuộc câu thiệu: Nhất lý, nhì ngâm, tam nam, tứ oán, ngũ điểm, lục xuất, thất chính, bát ngự, cửu nhĩ, thập thủ liên hoàn (2). Cách xếp đặt theo thứ tự đó rõ ràng đề cao hò, lý. Phải chăng vì điệu lý, giọng hò mang chất nhạc dân gian sâu đậm?

Nếu đặc điểm của hò là dựa trên cấu trúc thơ lục bát, hoặc lục bát biến thể, người ta xây dựng một nội dung trữ tình, thì những bài lý luôn đi gần cuộc sống của đại đa số quần chúng nông dân. Lý qua cầu, lý Bông trang, lý Bình vôi, lý Đất giồng, lý Cái Mơn... rõ ràng mang những cái tên giản dị với nội dung dân gian dễ hiểu, song vẫn giàu chất nhạc. Ông Bảy Đơ (Bảy Kiệu, người xã Phú Hưng - thị xã Bến Tre), một người hiểu biết âm nhạc cổ ở Bến Tre cho rằng nếu hò do quần chúng lao động sáng tác lời và điệu, thì lý còn mang rõ nét ảnh hưởng các điệu lý miền Trung được nông dân Nam Bộ phát triển sau này. Vì thế mà chúng ta có một kho tàng to lớn về hò, lý.

Trong giới nhạc ở Bến Tre, tới nay người ta còn nhắc:

Bến Tre có bốn đồng đen
Sa kèn, hậu trống, Độ cò, mõ Công 
(3)

Bốn nhạc công đầu tài nghệ này được giới nhạc cổ trong tỉnh tôn làm bậc thầy. Từ nhạc lễ chính thống đẻ ra nhạc lễ tài tử, và từ nhạc lễ tài tử sinh ra nhạc (cổ) tài tử. Càng về sau, phong trào nhạc tài tử phát triển càng mạnh không những ở tỉnh lỵ, quận lỵ, mà còn ở nhiều làng xóm. Vào thời kỳ này, người ta thường thấy ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong các hiệu cắt tóc, thường treo vài cây đàn, nhất là đàn kìm, để khách trong khi chờ đợi đến lượt mình, có thể dạo vài bản nhạc nếu muốn.

Ngày nay, nhạc cổ tài tử đã tách rời cái gốc gác xưa của nó. Ở đây có một vấn đề cần nói rõ. Không ít người ngộ nhận nhạc cổ là nhạc cải lương, hoặc nhạc tài tử là nhạc cải lương. Nhạc dân tộc ta, nói chung loại nhạc nào cũng đều bắt nguồn từ nhạc cổ. Khi phong trào nhạc tài tử ra đời thì có hai loại: nhạc lễ tài tử và nhạc tài tử (tiền thân của nhạc cải lương). Nhạc lễ tài tử chuyên phục vụ các đám tang với những đàn tranh, kìm, cò, gáo, sếnh và tiêu. Còn nhạc tài tử thì ngoài những nhạc khí vừa kể còn có tỳ bà, tam, đoản, bầu (độc huyền), sáo... Mãi đến đầu những năm 40, trong số nhạc khí dân tộc có thêm cây ghi-ta phím lõm, rồi ghi-ta Hawène và cây violon. Ba cây đàn này đều được Việt Nam hóa từ cách so dây cho đến kỹ thuật diễn tấu.

Các dàn nhạc tài tử không đàn cho đám tang, trừ trường hợp hết sức đặc biệt, mà chỉ phục vụ những đám vui như ăn tân gia, khao nhân dịp thăng quan, tiến chức, đám cưới nhà giàu, hoặc đám giỗ to. Ban đầu, nhạc tài tử chơi trong nhà, trong phòng với một hai nhạc sĩ hòa tấu hoặc một người đàn cho một người ca. Do đó khi nhạc tài tử phát triển mạnh trong giới có học thức và công chức, thì được gọi là nhạc thính phòng, mặc dù về sau, nơi diễn tấu có thể là ngoài sân, nhất là ở nông thôn trong những đêm trăng sáng.

Những bài bản mà dàn nhạc tài tử chơi luôn luôn theo một nguyên tắc: bắt đầu bằng một bài Bắc, thường là Lưu Thủy – Phú Lục, Tây Thi - Cổ bản rồi mới chuyển sang bài Nam và vài bài "lớn". Bài bản nhạc tài tử thì rất nhiều, nói gọn lại, có ba Nam, bốn Oán, sáu Bắc, bảy bài "lớn" cùng nhiều bài "nhỏ".

Nhạc tài tử đáp ứng thị hiếu của quần chúng nên phát triển rất nhanh, lôi cuốn cả công chức và thợ thủ công. Những người cao tuổi còn nhớ Sài Gòn đầu những năm 20 có vài hiệu ăn lớn (lúc đó gọi là "nhà hàng") như Bồng Lai Cảnh (đường Bonerd, Lê Lợi bây giờ), Đức Thành Hưng (ngang chợ Bà Chiểu), Ban Liên Hiệp (gần cầu Băng Ky, đường đến Thủ Đức) có thuê dàn nhạc tài tử phục vụ. Đêm nào có nhạc, thì đêm đó đông khách. Bến Tre không có “nhà hàng" lớn, song dàn nhạc tài tử được mời đến giúp vui những bữa tiệc, xem như một cái “mốt” sang trọng lúc bấy giờ.

Cách học nhạc ở Bến Tre ngày xưa cũng giống như học chữ Nho. Gia đình rước thầy về nhà dạy. Người học ít nhất phải mất 3 năm ròng mới vững nhịp các bài bản. Các gia đình rước thầy ở tỉnh khác về dạy con mình. Ông Lê Văn Tâm, quê ở Cần Đước (Long An) cùng người con trai là Lê Văn Thêm, đã từng dạy nhạc ở Bến Tre. Trong số học trò của ông Tâm có ông Lưu Hữu Nhiêu (như đã nói ở trên), là người giỏi nhất về đàn cò và đàn kìm.

Về phần thính giả (kể cả khán giả xem tuồng), nếu như phong tục phương Tây có thói quen ném tiền từ trên cửa số xuống tặng những người hát rong, thì ở Việt Nam, đồng bào ta có thói quen khi thưởng thức tiết mục biểu diễn đặc sắc thường rời ghế, bước lại gần sân khấu, thưởng tiền cho những diễn viên đã làm mình xúc động. Nhiều bà, nhiều chị thưởng diễn viên một hoặc hai cắc bạc, các biệt co người thưởng đến 5 cắc (4). Mỗi đêm đàn ca như thế, có khi số tiền thưởng nhiều hơn tiền thù lao của chủ rạp cho diễn viên. Về bài bản, đại đa số thính giả thuở ấy hâm mộ điệu lý ba giọng, gồm ba bài: Lý ngựa ô theo điệu Bắc, Lý con sáo theo điệu Nam và lý Chuồn chuồn. Chi tiết đó một lần nữa chứng tỏ đồng bào rất biết thưởng thức hò và lý trong kho tàng âm nhạc cổ dân tộc. Bến Tre lại là một trong những vùng đất giàu lý và hò.

Những người viết lời ca giỏi của Bến Tre, xưa có các ông Giáo Thành, Sáu Đỏ (Đoàn Văn Đỏ), sau này có Thanh Sử, Trần Nam Dân là những người có hiểu biết căn bản về nhạc cổ truyền và sáng tác bài ca cổ. Những người dạy nhạc tài tử ở Bến Tre đều ngưỡng mộ ông Lê Văn Tiến và ông trần Phong Sắc, quê Tân An (Long An ngày nay) mà họ tôn làm bậc thầy của thầy. Quyển Cầm ca tận điệu gồm phần nhạc do ông Lê Văn Tiếng soạn (in một bên) phần lời do ông Trần Phong Sắc soạn (in một bên). Nhiều thầy nhạc 70, 80 tuổi ở tỉnh Bến Tre cho rằng đây là quyển sách đầy đủ bài bản nhạc tài tử nhất hồi ấy. Hơn thế, Cầm ca tân điệu là một quyển sách hướng dẫn nâng cao nhạc tài tử mẫu mực nhất, mặc dù hai soạn giả không có tham vọng đó.

*
* *

Khi bài ca vọng cổ ra đời (5) vào khoảng đầu thập kỷ 30, phong trào đàn ca tài tử càng phát triển sâu rộng ở nông thôn Bến Tre, và cũng trong thời kỳ này xuất hiện nhiều người đàn hay, hát giỏi. Nhiều người mộ điệu, không biết đàn ca, nhưng lại sốt sắng tổ chức. Đêm trăng sáng, anh chủ nhà trải vài chiếc đệm trên sân. Những người chơi nhạc đầu trên, xóm dưới lần lượt mang đàn đến. Người đàn ca thì ít, người thưởng thức thì nhiều gấp ba, bốn lần. Họ chơi đến một, hai giờ khuya, ăn cháo gà rồi giải tán.

Cảnh đàn ca này cũng diễn ra ở nhiều nơi trong khắp Lục tỉnh, sau những ngày mùa vụ xong xuôi, trời ráo nắng, trăng thanh, gió mát. Tỉnh nhà có cô Ba Bến Tre nổi tiếng qua các đĩa hát nhạc cổ tài tử và trên làn sóng Đài phát thanh Sài Gòn (Radio Sài Gòn). Cô Ba Bến Tre đã dành ngót 50 năm cuộc đời mình cho nhạc tài tử. Khi Pháp chiếm Nam Bộ lần thứ hai, cô bỏ nghề, trở về quê cũ, sống bằng nghề làm vườn. Phần mộ cô Ba Bến Tre hiện ở quê nhà, xã Phú Nhuận (nay là ngoại ô thị xã). Em Cô Ba Bến Tre là Tư Phú Nhuận cũng là một nữ ca nhạc tài tử. Trong những người ca có tiếng ở Bến Tre còn có cô Ba Điểu, vợ ông Văn Cảnh, người lập gánh cải lương đầu tiên ở Bến Tre, ông tư Ngưu, cô Bảy Nhiều, cô Sáu Mão, quê xã Mỹ Thạnh, Giồng trôm, cô Ba Huỳnh Mai, người Ba Tri.

Những người đàn giỏi ở thị xã có ông Ký Huê (đàn kìm), ông Giáo Sanh (đàn cò), ở huyện Thạnh Phú, tại Giồng Luông có Hai Thông (đàn cò), ở Giồng Trôm có Văn Lư (đàn kìm và cò), Ba Sâm (đàn kìm), Ba Ký và Sáu Lộc (hai anh em đều đàn kìm) , ở Mỏ Cày có hương chánh Trêm (đàn tranh), ở huyện Chợ Lách có Ba Sô (đàn tranh). Riêng cò Chấp quê Bến Miễu, Giồng trôm, nổi tiếng khắp Nam Kỳ với cây cò gáo điêu luyện trong bộ đĩa cải lương San Hậu. Những nhạc sĩ kế tục sự nghiệp các bậc đàn anh trong tỉnh có các ông Út Giỏi (tranh), Sáu Phan (kìm, cò), Ba Điểu (tức ông Ba Móng) (độc huyền, tranh, kìm), Tư Nhung (cò, violon), Ba Hoa (kìm, cò), Ba Kim (đàn cò)...

Mặt hạn chế của phong trào nhạc (cổ) tài tử Bến Tre nằm ở khâu đào tạo thiếu hệ thống cơ bản về lý luận và thực hành. Hạn chế này chỉ có thể khắc phục được, nếu ngành văn hóa tỉnh nghĩ được phương cách đưa phong trào nhạc cổ, kể cả nhạc tài tử và nhạc cải lương trong tỉnh vào đúng vị trí của nó một cách có nề nếp. Trong thực tế, ở khắp thôn xóm Bến Tre, người chơi nhạc và biết thưởng thức nhạc nói chung tương đối nhiều, tuy không rầm rộ, sôi nổi như phong trào nhạc mới. 

Chú thích

(1 Để viết phần Âm nhạc chúng tôi có tổ chức tọa đàm, trao đổi ý kiến các thầy dạy nhạc cổ như: Lưu Hữu Nhiêu, sinh năm 1905, Phan Văn Hiếu (sáu Phan), sinh năm 1913, Phan Văn Nhung (Tư Nhung), sinh năm 1915, Phan Văn Sính, sinh năm 1917. Bốn ông vừa kể tên, đặc biệt ông Lưu Hữu Nhiêu là một cây đàn cò và đàn kìm xuất sắc. Chúng tôi cũng có dịp tham khảo ý kiến của ông Lê Long Vân tức Ba Vân, nghệ sĩ Nhân dân, sinh năm 1908, ở xã An Đức, huyện Ba Tri.
(2)
 Tên của các giai điệu và âm điệu được xem như cổ điển của nhạc dân tộc. Trong số này có nhiều bài gốc ở miền Trung.
(3)
Đồng bào Nam Bộ xem đồng đen như một vật quý. Ông Sa (quê xã Lương Hoà, Giồng Trôm), ông Hậu (quê phường 1, thị xã Bến Tre), ông Độ ( quê xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre, thân sinh của nhạc sĩ Bảy Đơ và nhạc sĩ Văn Luyện), ông Công (quê xã Lương Hoà, Giồng Trôm).
(4)
Giá lúa lúc bấy giờ 5 cắc một giạ, lụa Hà Đông 8 cắc một mét, lụa nhập của Trung Quốc một đồng một mét.
(5)
Của ông Cao Văn Lầu (Bạc Liêu) với tên đầu tiên Dạ cổ Hoài Lang.
 

Đã ban hành
Các sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến TreCác sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến Tre
Đồng Văn Cống
Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.
Lê Dũng
Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.
Nguyễn Xuân Ôn
Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày

Trung Tướng

Đồng Văn Cống

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Lê Dũng

Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Xuân Ôn

Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày.

Võ Viết Thanh

Xã Lương Phú, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Thạnh

Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại

Thiếu Tướng

Nguyễn Thị Định

Xã Lương Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Tạ Văn Khâm

Xã An Thạnh, Huyện Mỏ Cày.

Huỳnh Xuân Quang

Xã Mỹ Hoà, Huyện Ba Tri.

Trần Nhiên

Xã Châu Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Sĩ

Phường IV, Thị xã Bến Tre.

Vũ Khắc Sương

Xã Long Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Lê Phú Tươi

Xã An Thới, Huyện Mỏ Cày.

Trần Minh Tích

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Hữu Vị

Xã Châu Bình, Huyện Giồng Trôm.


Đã ban hành
Ẩm thựcẨm thực
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần. 
Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.         

Nhìn chung, các món ăn ngày thường và ngày lễ của người Bến Tre cũng gíống như đồng bào các tỉnh trong vùng châu thổ sông Cửu Long, nghĩa là cũng vẫn cách ăn và chế biến món ăn theo khẩu vị và kinh nghiệm của người Việt từ miền ngoài vào định cư trên đất mới với hai mùa mưa, nắng. Họ biết kết hợp việc vận dụng những kiến thức về dinh dưỡng, về y học và sinh học với việc khai thác những ưu thế mà thiên nhiên vùng đất đai, sông nước trù phú đã dành cho con người, để tạo ra những món ăn vừa ngon, vừa bổ, hợp với khí hậu và thổ nghi, đảm bảo sự cân bằng âm dương trong cơ thể, đủ sức duy trì tốt sự sống. Ở Bến Tre là xứ sở của dừa, nên việc sử dụng chất béo của cơm dừa, chất ngọt tự nhiên của nước dừa, vào bữa ăn hàng ngày rất phổ biến.

Ăn theo mùa

Ở Bến Tre, một số món ăn chỉ có theo mùa trong một thời gian nhất định và ngon nhất khi đúng mùa. Ví dụ: cá rô kho tộ, cũng như cá trê, cá bống kèo kho tộ là một món ăn "dân dã" được nhiều người ưa thích, song cá rô ngon nhất là vào tháng 9, tháng 10, lúc ấy cá có trứng và béo nhờ ăn nhiều mồi. Cua gạch và cua lột ngon nhất từ tháng 7 đến tháng 9.

Ếch nhiều và ngon vào tháng trời bắt đầu sau mưa. Lúc này, ếch sắp bắt cặp, nên rất mập và mềm xương. "Ếch tháng ba, gà tháng bảy", câu tục ngữ được tổng kết từ thực tế. Ếch xào xả ớt, nấu càri, xào với bún tàu và mấm hương, nấm mèo, hoặc tẩm bột rán vàng là những món ăn được đánh giá cao…

Bến Tre còn có nhiều loại cá ngon như cá lóc, cá bông lau, cá duồng v v… Riêng con cá cháy, một đặc sản rất hiếm chỉ xuất hiện vào mùa gió chướng ở phần cuối sông Cổ Chiên. Cá cháy ngon nhất là món kho hầm (kho mềm cả xương và vảy), hoặc nướng lửa than hay chiên tươi. Con đuôn chà là cũng là một món ăn quý, nhất là đối với khách làng nhậu. Thời nhà Nguyễn, đuôn chà và là đặc sản để “tiến” vua chúa.

Không nhiều chim như Bạc Liêu, Cà Mau, nhưng sân chim Vàm Hồ có các loài chim thịt ngon như: chàng nghịch, gà nước, cút, óc cao, cúm núm, chim sẻ, chim lá rụng, cò, diệc, quốc. Những người sành thịt chim phân biệt rất rõ loài chim ăn hạt và côn trùng với loài chim ăn cá, ốc, cua v v… Họ biết mùa nào thì thịt chim rô ti rồi ăn với gạo đặc sản vừa mới gặt, sẽ cho ta hương vị đồng quê, thơm ngon dẻo, tinh khiết, đậm đà, chỉ cần ăn một lần nhớ mãi không quên.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Cụm duyên hải phía Đông ĐBSCL theo đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) định hình, có diện tích khoảng 8.618 km2, được bao bọc bởi các nhánh sông (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu) thuộc hệ thống sông Cửu Long; các tỉnh cụm phía Đông nầy cũng là cửa ngỏ khi du khách từ các nơi trên cả nước về với miền Tây Nam bộ; đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến.

Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi; du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ TP.HCM -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm; quý khách đến đây sẽ bắt gặp trên 30 lữ hành của các tỉnh đang chào đón tại bến tàu du lịch Tiền Giang để đưa khách thập phương đi tham quan các tuyến điểm du lịch tại Bến Tre, Vĩnh Long hay cả miền Tây Nam bộ; bến tàu du lịch nầy có từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay do hệ thống giao thông về các tỉnh trong khu vực thời điểm nầy còn phải ngăn sông, lụy phà.

Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre, dọc theo sông Tiền có gần 40 điểm dừng chân tham quan du lịch sông nước miệt vườn với nhiều mô hình làng nghề xen lẫn, du khách sẽ được các lữ hành đưa đi lênh đênh trên những chiếc tàu du lịch để ngắm nhìn quần thể Long, Lân, Qui, Phụng, đây là bốn cồn nằm trên sông Tiền, trong đó điểm du lịch cồn Phụng được chọn một trong những điểm tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long, du khách sẽ được chèo thuyền trong rạch nhỏ, tảng bộ trong đường làng để thưởng thức những trái cây ngon và uống ngụm trà mật ong, nghe đàn ca tài tử tại đây hay được đi trên những chiếc xe ngựa trên đường nông thôn hoặc tham gia tát mương bắt cá rồi thưởng thức tại chỗ cùng người dân sở tại.

 

Điểm dừng chân thưởng thức trà mật ong tại Châu Thành - Bến Tre

Rời khỏi Châu Thành, đi thêm 12km là đến TP.Bến Tre, du khách mua sản phẩm lưu niệm đặc sản có thể ghé các điểm trên đoạn đường nầy như: Kẹo Dừa Yến Hương, Thanh Long 1, Thanh Long 2, Thanh Long 3, kẹo dừa Bến Tre hoặc nhiều điểm khác trên các tuyến đường sẽ có đầy đủ những sản phẩm của quê hương như trái cây, hàng lưu niệm, kẹo dừa, bánh phồng, bánh tráng, .v.v. Thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, khang trang, sạch đẹp; một quê hương được mệnh danh là quê hương xứ dừa (với 63ha dừa, hơn 1/3 diện tích dừa cả nước hiện nay) cũng là nơi vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống đã cung cấp trong cả nước và các nước lân cận; quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ, phù hợp cho du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, kết hợp nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử; nhiều làng nghề truyền thống có hàng trăm năm tuổi; đặc biệt là nhiều món ẩm thực từ dừa như: Cơm nấu trong trái dừa, tép bạt đất rang nước cốt dừa, gỏi tủ hủ dừa, bánh xèo hến với tủ hủ dừa và nhiều món bánh ăn khác với nước cốt dừa,…; sẽ tạo nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi có một chuyến thưởng ngoạn tại quê hương xứ dừa…

 

Điểm dừng chân du lịch bên Cầu Rạch Miểu (Nhà hàng thủy sản Mê Kông)

Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo quốc lộ 60 khoảng 30km qua phà Cổ Chiên (Cầu đang thi công) sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, một thành phố đẹp có nhiều cây cổ thụ quí giá nhất của vùng; một quê hương đa dạng nét văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Khơme, Hoa, nơi có nhiều lễ hội của các dân tộc như: Đua ghe ngo, lễ hội Ok – Om – Bok,…; đặt biệt Trà Vinh có khu đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng từ thập niên 60 ở thế kỷ XX và được trùng tu khang trang trở thành điểm tham quan du lịch; trong khu có tái dựng nhà sàn Bác Hồ và những sản vật bảo tồn, bảo tàng làm phong phú cho sản phẩm du lịch; kế đó là khu Ao Bà Om thơ mộng bên cạnh chùa Ân thanh tịnh, với hàng trăm cây cổ thụ được trồng xung quanh đã làm nên một quần thể tham quan tuyệt đẹp trong lòng thành phố. Đặc biệt ở Trà Vinh du khách sẽ được chiêm ngưỡng và tham gia du lịch tâm linh trên 140 ngôi chùa Khơme như: Chùa Ân, Chùa Hang,…với nét kiến trúc màu sắc độc đáo của người Khơme.

Xuôi về  tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã phát triển tốt, đặc biệt là du lịch homestay đã đi vào hoạt động phục vụ khách quốc tế từ những năm 2004, sau đó mới phát triển qua Bến Tre. Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây ĐBSCL đến mũi Cà Mau.

Bốn địa phương của 4 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang,Vĩnh Long và Trà Vinh; có cùng bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ, cùng chia sẻ một lịch sử chung, có cùng cội nguồn, đời sống sinh hoạt cũng có nét tương đồng, giống nhau về sông nước miệt vườn có tiềm năng du lịch đa dạng, nhưng có nhiều sản phẩm đặc thù khác nhau đem lại cho du khách một điểm đến hấp dẫn; đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch homestays, du lịch nông thôn. Dự báo đến năm 2020 cụm sẽ đón 29% lượng khách nội địa và 56% lượng khách quốc tế của toàn vùng ĐBSCL. Đến cụm phía Đông duyên hải ĐBSCL, du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc sản từ dừa, ăn bưởi da xanh thì đến Bến Tre; ăn bưởi năm roi thì ghé Vĩnh Long, không thể ghé Vĩnh Long mà ăn bưởi da xanh và đến Bến Tre mà ăn bưởi năm roi sẽ không ngon; muốn ăn dừa dứa, dừa xiêm thì đến Bến Tre, ăn dừa sáp thì qua Trà Vinh, muốn tham quan chợ nổi thì về Cái Bè (Tiền Giang), muốn đi du lịch biển, thưởng thức hải sản tươi sống thì xuống huyện Thạnh Phú, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre hay Ba Động của tỉnh Trà Vinh… Do vậy mà mỗi tỉnh sẽ có những sản phẩm đặc thù của từng địa phương trong những nét chung của đồng bằng tạo thành một sản phẩm chung của cụm, tạo nên một điểm đến hấp dẩn với nhu cầu du lịch của một chuyến hành trình trên bốn địa phương.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Võ Trường Toản (?-1792)Võ Trường Toản (?-1792)
&nbsp;
Image
Đền thờ Võ Trường Toản
   Võ Trường Toản người huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (không rõ năm sinh, cũng như không rõ gốc gác, chỉ biết ông là người học rộng, tài cao, thông đạt kim cổ...).

   Trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê, mở trường dạy học, từ chối mọi điều ban phát, không tham gia vào chính sự. Trong hàng trăm học trò do ông đào tạo, có những người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm... Những nho sĩ tiết tháo thuộc thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị cũng chịu ảnh hưởng về đạo đức, học phong, sĩ khí của nhà giáo họ Võ.

   Võ Trường Toản mất ngày mồng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý, tức 27-7- 1792. Để tưởng nhớ công đức của thầy, học trò cũ mà ông đã tặng đôi liễn:

"Sinh tiên giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử
Một hậu thịnh danh tại thế, tuy vong giả bất vong"

(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có. Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất).

   Khi ba tỉnh miền Đông rơi vào tay giặc Pháp, một số sĩ phu ở Gia Định (trong đó có Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phạm Hữu Chánh, Trương Gia Hội) không muốn cụ Võ Trường Toản nằm lại trong vùng bị tạm chiếm, đã chủ trương dời phần mộ về làng Bảo Thạnh (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri) ngày 15-12-1965 (1). Văn bia dựng tại ngôi mộ do Phan Thanh Giản soạn. Sau đó, Nguyễn Thông, lúc bấy giờ là Đốc học tỉnh Vĩnh Long, đã viết lời tường thuật cuộc cải táng được khắc ở mặt sau bia.

   Những trước tác của cụ Võ Trường Toản hầu như bị thất lạc... đến nay chỉ còn lưu truyền một bài phú duy nhất, bài Hoài cổ dài 24 câu. Với bút pháp cổ điển - những điển tích, hình ảnh đều lấy từ sử sách của Trung Hoa – tác giả bài phú muốn ký thác vào đó tâm sự cùng quan niệm về đời, về người cùng những gì mà ông đã chứng kiến trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Võ Trường Toản với sự nghiệp giáo dục

Chú thích:

(1) Lúc này, 3 tỉnh miền Tây còn là vùng đất tự do, Ba Tri lúc ấy thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn SứAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Sứ


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Nguyễn Văn Sứ,
sinh năm 1956, dân tộc Kinh, quê xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, thượng sĩ, đại đội phó đại đội 1 bộ binh,
tiểu đoàn 263, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, mặt trận 979 quân khu 9.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Tháng 12</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1978, Nguyễn Văn
Sứ được bổ nhiệm chức vụ đại đội phó, anh đã góp phần chỉ huy đơn vị chiến đấu
bảo vệ biên giới Tây Nam. Đơn vị Nguyễn Văn Sứ đã diệt và làm bị thương 135 tên
địch, bắn cháy 2 xe tăng, thu 1 số vũ khí. Riêng anh diệt, làm bị thương 30
tên, phá huỷ 2 súng (12,8 ly và đại liên), bắn cháy 2 xe tăng. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Ngày 22</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1979, tại ngã ba
Rô Ninh thuộc tỉnh Takeo (Campuchia), địch dùng lực lượng bộ binh đông có 9 xe
và 1 đại đội pháo binh yểm trợ bao vây và tấn công đơn vị của ta. Nguyễn Văn Sứ
chỉ huy 1 mũi đánh bật 6 đợt tấn công của địch. Riêng anh dùng B40 bắn cháy 1
xe tăng. Ngày 31</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">3</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1979, Nguyễn Văn Sứ chỉ
huy đơn vị chốt giữ tại ngã ba chữ K, 1 tiểu đoàn bộ binh địch có 6 xe tăng yểm
trợ mở nhiều đợt tấn công trận địa chốt của đơn vị. Nguyễn Văn Sứ chỉ huy bộ
đội chiến đấu đánh bật quân địch. Địch lại cho 4 xe tăng và bộ binh mở đợt tấn
công đánh vào trận địa của đơn vị. Nguyễn Văn Sứ vừa chỉ huy vừa dùng B40 và AK
diệt 2 hỏa điểm súng máy và bắn cháy 1 xe tăng của địch. Trận đánh gần kết thúc
</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">thì </span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn Văn </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Sứ đã anh </span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">dũng hy sinh.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công. Ngày 25</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1983, Nguyễn Văn
Sứ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Sứ, sinh năm 1956, dân tộc Kinh, quê xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, thượng sĩ, đại đội phó đại đội 1 bộ binh, tiểu đoàn 263, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, mặt trận 979 quân khu 9.

Tháng 12-1978, Nguyễn Văn Sứ được bổ nhiệm chức vụ đại đội phó, anh đã góp phần chỉ huy đơn vị chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Đơn vị Nguyễn Văn Sứ đã diệt và làm bị thương 135 tên địch, bắn cháy 2 xe tăng, thu 1 số vũ khí. Riêng anh diệt, làm bị thương 30 tên, phá huỷ 2 súng (12,8 ly và đại liên), bắn cháy 2 xe tăng.

Ngày 22-1-1979, tại ngã ba Rô Ninh thuộc tỉnh Takeo (Campuchia), địch dùng lực lượng bộ binh đông có 9 xe và 1 đại đội pháo binh yểm trợ bao vây và tấn công đơn vị của ta. Nguyễn Văn Sứ chỉ huy 1 mũi đánh bật 6 đợt tấn công của địch. Riêng anh dùng B40 bắn cháy 1 xe tăng. Ngày 31-3-1979, Nguyễn Văn Sứ chỉ huy đơn vị chốt giữ tại ngã ba chữ K, 1 tiểu đoàn bộ binh địch có 6 xe tăng yểm trợ mở nhiều đợt tấn công trận địa chốt của đơn vị. Nguyễn Văn Sứ chỉ huy bộ đội chiến đấu đánh bật quân địch. Địch lại cho 4 xe tăng và bộ binh mở đợt tấn công đánh vào trận địa của đơn vị. Nguyễn Văn Sứ vừa chỉ huy vừa dùng B40 và AK diệt 2 hỏa điểm súng máy và bắn cháy 1 xe tăng của địch. Trận đánh gần kết thúc thì Nguyễn Văn Sứ đã anh dũng hy sinh.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công. Ngày 25-1-1983, Nguyễn Văn Sứ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer