Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
 
Du lịch sinh thái hiện nay rất được du khách ưa chuộng. Ở nước ta, từ Bắc đến Nam có nhiều mô hình loại này, nhưng với Bến Tre quê tôi, được thiên nhiên ưu đãi, phù sa từ những con sông đã bồi đắp nên một vương quốc cây trái Cái Mơn – Chợ Lách rất nổi tiếng và đã hình thành một con đường hoa kiểng – cây giống mà gần đây rất nhiều du khách nội địa và quốc tế đến tham quan cũng như các Công ty Lữ hành trong, ngoài tỉnh đang khai thác rất hiệu quả.  
 
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.  
 
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.  
 
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.  
 
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.  
 
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…  
 
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.  
 
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.  
 
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
PHAN VĂN TRỊ (1830 - 1910)PHAN VĂN TRỊ (1830 - 1910)
 

Người đời thường gọi ông là Cử Trị, sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Thuận Phú Đông, huyện Giồng trôm, tỉnh Bến Tre, đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu (1849) tại trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông, nhưng nhỏ hơn ông này 3 tuổi, nhỏ hơn Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi. Phan không chỉ là bạn văn chương của hai người, mà còn là bạn chung lý tưởng chống bọn xâm lược và tay sai. Chán ghét triều đình nhà Nguyễn thối nát, ông không chịu ra làm quan, mà về dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An), sau dời về Phong Điền, tỉnh Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, làm thơ cho đến cuối đời.

Sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước khi Pháp xâm lược và sau khi Nam Kỳ rơi vào tay giặc. Giai đoạn đầu, phần lớn là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật như Cái cối xay, Con mèo, Con rận, Con cào cào, Con cóc, Hột lúa... nhằm gởi gắm tâm sự, tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi đất nước rơi vào vòng nô lệ, ông chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và đám tay sai.

Ông nổi tiếng trong cuộc bút chiến chống Tôn Thọ Tường (1825-1877), một tên tay sai của giặc Pháp, dù trước đây hai người là bạn thơ trong nhóm Bạch Mai thi xã. Bị dư luận lên án gay gắt, Tôn Thọ Tường làm bài thơ Từ Thứ quy Tào để ngụy biện, chống đỡ cho hành động phản dân hại nước của y. Phan Văn Trị công kích luận điệu của Tường bằng bài thơ Hát bội.

Cuộc bút chiến dưới hình thức họa thơ nổ ra từ đó. Tôn Thọ Tường làm 10 bài thơ liên hoàn tự thuật, tán dương sức mạnh vật chất của thực dân, cho rằng lực lượng kháng chiến non kém khó mà địch nổi, và trong thực tế cuộc kháng chiến đang lâm vào cảnh bi thảm. Cho nên người trí thức khôn ngoan là phải biết "tùy thời" mà ở.

Họa lại những bài thơ ấy, Phan Văn Trị đã mắng Tôn Thọ Tường là "đứa ngu", là kẻ "đáy giếng trông trời trơ mắt ếch", là "thằng hoang", là "đứa dại trót đời già cũng dại", là "loại tanh nhơ"... Bằng những lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, bằng những hình tượng độc đáo, rất đắt, với một thái độ đĩnh đạc, hiên ngang, ông giáng cho tên tay sai trơ trẽn này những cái tát đau điếng. Ông thách thức:

“Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay!"

Trong cuộc họa thơ này, Phan Văn Trị đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ vào cuộc như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt..., ông cảm hóa được những người lầm đường lạc lối như Lê Quang Chiểu trở về với chính nghĩa dân tộc, chống lại luận điệu bịp bợm của bọn bán nước.

Trong lịch sử văn chương yêu nước chống xâm lược trong gần một thế kỷ qua, cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị mang một giá trị đặc biệt. Thơ ông là lời phát ngôn của phong trào chống Pháp rộng lớn của sĩ phu và nhân dân Nam Kỳ ở cuối thế kỷ XIX. Đến nay, nhiều sáng tác của ông chưa sưu tầm hết, nhưng với trên dưới 50 bài thơ, mà chúng ta biết được, cho thấy rằng nhà thơ có một nhận thức sáng suốt, một lập trường kiên định, một tinh thần tự hào lạc quan, một khí phách hiếm thấy và một ý thức trách nhiệm công nhân đầy đủ đối với dân tộc và đất nước. Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ những nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng văn học yêu nước chống xâm lược thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích... Trong phạm vị của tỉnh Bến Tre, Phan Văn Trị là ngọn cờ tiêu biểu thứ hai của văn chương yêu nước sau Nguyễn Đình Chiểu.

Đã ban hành
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
 

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
 

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Đồng Văn Cống là người có công lớn xây dựng LLVT Bến Tre và chiến trường khu 8 thời kháng Pháp, đóng góp tích cực trong việc xây dựng “Thế trận đồng bằng Nam Bộ” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông là vị tướng chiến trường mà chiến tích không tách rời lịch sử chiến tranh nhân dân của Bến Tre và Nam Bộ “thành đồng Tổ quốc”. Nếu như đồng đội của ông – nữ tướng Nguyễn Thị Định có công khai mở con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng quân Đồng Văn Cống lại có công tổ chức, củng cố vững chắc và có hiệu quả con đường lịch sử đó mang mật danh 559B khi ông đảm nhiệm cương vị Cục phó Cục Tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu, bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phần I:

THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY

Đồng Văn Cống sinh năm 1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống). Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống đến với cách mạng.

Image
Đồng Văn Cống

Đồng Văn Cống vốn được trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.

Đồng Văn Cống sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự. Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.

Image
Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu

Vợ ông, bà Lê Thị Gấm, lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu – một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân nhân cách mạng.

Đội du kích Tân Hào của Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu 8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ, ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là chánh vì tướng”.

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
 

    Tên thật là Đinh Khắc Chung, sinh ngày 9-10-1947 tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre trong một gia đình có truyền thống yêu nước.

   Cha làm Phó bí thư Huyện ủy Châu Thành, năm 1962 bị giặc bắt trên đường đi công tác, giết chết quăng xác xuống dòng sông Tiền, mấy ngày sau bà con mới vớt được xác đem chôn. Cả 3 người anh lớn đều thoát ly làm công tác cách mạng, còn Trung là con út ở nhà với mẹ, tham gia du kích xã.

   Năm 1965, Trung được Ban binh vận T2 (khu 8) đưa lên Sài Gòn tiếp tục học hết bậc phổ thông, rồi vào học ở Trường Đại học Khoa học (nay là Đại học Khoa học tự nhiên) với một bản lý lịch thay đổi bằng tên mới là Nguyễn Thành Trung.

  Năm 1969, sau khi được kết nạp vào ĐCS, Trung được Ban binh vận TƯCMN bố trí vào cơ sở nội tuyến trong lực lượng không quân Sài Gòn. Sau hơn một năm huấn luyện ở Nha Trang, anh được đưa đi đào tạo phi công ở Hoa Kỳ, đến năm 1971 thì về nước. Lúc đầu, lái máy bay ở Cần Thơ. Năm 1973, chuyển sang lái máy bay F.5 thuộc Sư đoàn 3 không quân tại Biên Hòa.

  Được sự chỉ đạo trực tiếp bí mật của cơ sở nội tuyến, Nguyễn Thành Trung có nhiệm vụ phải ẩn mình chờ lệnh vào giờ G, để hành động. Anh đã dũng cảm, mưu trí, tránh được mọi sự theo dõi của địch, giữ nghiêm kỷ luật, kiên định lập trường suốt thời gian hoạt động trong hàng ngũ không quân địch.

   Ngày 8-4-1975, trong đợt tổng tiến công mùa xuân năm 1975, các quân đoàn quân giải phóng đang áp sát quanh Sài Gòn, thì Nguyễn Thành Trung nhận được mệnh lệnh xuất kích từ sân bay địch, lái máy bay ném bom dinh Độc Lập, cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Lần đầu bom rơi không trúng mục tiêu, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần nữa trúng đích, lần thứ ba quay lại dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè, rồi lái máy bay đáp xuống an toàn trên đường băng dã chiến ở sân bay tỉnh Phước Long thuộc vùng giải phóng, nay là tỉnh Bình Phước.

  Ngày 22-4-1975, anh được điều ra sân bay Đà Nẵng (lúc này thành phố Đà Nẵng đã giải phóng) để hướng dẫn các phi công miền Bắc lái máy bay A.37 của Mỹ (vì phi công miền Bắc chỉ biết lái máy bay MIG do Liên Xô chế tạo), chuẩn bị cho trận tập kích mới.

  Chiều ngày 28-4-1975, theo lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Thành Trung dẫn đầu phi đội gồm 5 chiếc A.37 (chiến lợi phẩm chiếm được của địch) từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) cất cánh thẳng hướng Sài Gòn, ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, rồi cả phi đội hạ cánh an toàn xuống sân bay Lộc Ninh.

  Trận oanh kích này đã phá hủy 20 máy bay địch trên bãi đậu tại sân bay Tân Sơn Nhất.

  Hai vụ ném bom vào dinh Độc Lập và sân bay Tân Sơn Nhất đã góp phần quan trọng trong chiến dịch giải phóng thành phố, làm cho nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn hoang mang, dao động cực độ, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chế độ VNCH.

  Sau ngày giải phóng, Nguyễn Thành Trung đã cùng công nhân kỹ thuật sửa chữa, phục hồi số máy bay A.37 và F.5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng, tập luyện cho anh em phi công học lái loại máy bay mới. Anh có công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A.37 và trung đoàn F.5 của không quân Việt Nam.

   Hiện nay, Nguyễn Thành Trung là đại tá không quân Việt Nam, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND ngày 20-1-1994.

Đã ban hành
Di tích nghệ thuật Đình Phú LễDi tích nghệ thuật Đình Phú Lễ
Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình cho biết niên đại xây đình vào năm Minh Mạng thứ 7(1826) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5(1851). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá.

Image
Đình Phú Lễ
Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình cho biết niên đại xây đình vào năm Minh Mạng thứ 7(1826) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5(1851). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá.
     Do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, đồ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều. Tuy nhiên, những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, không bị bom đạn tàn phá, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên rằng đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng.
    Hàng năm, hội cúng đình – còn gọi là lễ kỳ yên tổ chức vào rằm tháng 3(âl). Vì là làng lớn, đông dân, nên trước đây mỗi năm trong kỳ tế xuân đều có rước đoàn hát bội về biểu diễn nhiều đêm liền. Lễ tế thu là lễ Cầu bông.
    Đình Phú Lễ được Bộ Văn hoá - Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
An ThớiAn Thới
 

Làng thuộc tổng Minh Huệ, phủ Hoằng An. Vào tháng 10-1870, khi giặc Pháp chiếm cù lao Minh, cả dân làng lớn, nhỏ, trẻ, già đều bỏ nhà cửa, ruộng vườn kéo nhau đi nơi khác, bất hợp tác với  giặc. Làng An Thới nay là xã An Thới huyện Mỏ Cày.

Đã ban hành
Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Bến Tre từ 1930 đến CMT8-1945
Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một).

Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một). Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh của nông dân chống cướp đất, đòi chia ruộng công, chống sưu cao thuế nặng cũng liên tiếp nổ ra tại một số tỉnh Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng với một số cuộc bãi khóa của học sinh và bãi chợ của tiểu thương.

   Trong thực tiễn của làn sóng dân tộc dân chủ đang cuồn cuộn dâng lên khắp đất nước, VNTNCMĐCH không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng nữa. Một xu thế cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thật sự của giai cấp công nhân. Đáp ứng yêu cầu bức thiết đó của cách mạng, 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời ở ba miền Trung, Nam, Bắc. Nhưng sự song song tồn tại của ba tổ chức cộng sản chỉ làm yếu sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và tổ chức, làm giảm sức mạnh của phong trào cách mạng Việt Nam.

   Để khắc phục tình trạng đó, ngày 3-2-1930, tại Cửu Long, bên cạnh Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản, đã chủ trì cuộc hội nghị đại biểu của 3 tổ chức cộng sản, quyết định thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước thành một ĐCS duy nhất, lấy tên là ĐCS Đông Dương.

   Sau khi ĐCS được thành lập, việc thống nhất các tổ chức Đảng ở các nơi trong nước lập tức được triển khai. Tại Nam Kỳ, ngay trong tháng 2-1930, Ban lâm thời chấp ủy (tức Xứ ủy) đã được cử ra, gồm 4 đồng chí, do đồng chí Bách (tức Ngô Gia Tự) làm Bí thư. Sau đó, Xứ ủy Nam Kỳ chỉ định các tỉnh ủy lâm thời để lãnh đạo phong trào và xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở.

   Tại Bến Tre, tháng 4-1930, thực hiện quyết định của XUNK về việc xây dựng cơ sở Đảng ở đây, Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho đã cử một Ban cán sự gồm 3 đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Văn Trí về hoạt động.

   Ban cán sự đã phân công đồng chí Nguyễn Văn Ân phụ trách cù lao Bảo, đồng chí Nguyễn Văn Trí phụ trách cù lao Minh, đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn phụ trách chung. Hai đồng chí Nguyễn Văn Trí, và Nguyễn Văn Ân chọn Tân Xuân (cù lao Bảo) và Bình Khánh, Phước Hiệp (cù lao Minh), là những nơi có nhiều hội viên để gầy dựng cơ sở Đảng trước, từ đó sẽ phát triển dần tổ chức ra tỉnh.

   Cuối tháng 4-1930, trên cơ sở những năm đảng viên được kết nạp cùng với số đảng viên được chuyển từ VNTNCMĐCH sang, đồng chí Nguyễn Văn Ân đã thay mặt Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho thành lập chi bộ đầu tiên của Bến Tre tại xã Tân Xuân (Ba Tri), gồm 11 đảng viên (1) do đồng chí Trần Văn An làm bí thư. Đây là hạt nhân lãnh đạo cách mạng đầu tiên của tỉnh.

   Sau ngày thành lập, chi bộ Tân Xuân đi ngay vào hoạt động, tổ chức các buổi diễn thuyết bí mật, rải truyền đơn, treo cờ Đảng, tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng, tổ chức các đoàn thể: nông hội, công hội, thanh niên...

   Ngày 1-5-1930, nhân ngày Quốc tế lao động, chi bộ tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng tại địa phương, thu hút trên 200 người tham dự. Cuộc biểu tình đầu tiên này đã tạo được khí thế cách mạng trong quần chúng.

   Tháng 6-1930, Liên tỉnh ủy Bến Tre - Mỹ Tho được thành lập, do đồng chí Nguyễn Thiệu làm Bí thư. Liên tỉnh ủy ra tờ báo Dân cày (2) làm cơ quan tuyên truyền, và cử đồng chí Nguyễn Thiệu sang Bến Tre hoạt động. Tại đây, sau cuộc biểu tình ngày 1-5, tuy địch bố ráp liên miên, nhưng nhờ nắm vững nguyên tắc hoạt động bí mật, nên tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng vẫn tồn tại và phát triển. Số xã có đảng viên ngày một tăng. Đến tháng 6-1930, Bến Tre đã có thêm chi bộ ghép ở Phú Lễ và Phú Ngãi.

   Được tổ chức và lãnh đạo, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố của quần chúng bắt đầu nổ ra nhiều nơi. Kỷ niệm ngày Công xã Paris (18-3), các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Châu Bình đều có tổ chức mít-tinh, biểu tình. Phong trào lan ra các xã Bảo Thạnh, Mỹ Chánh và đến cả thị xã.

   Ở cù lao Minh và An Hóa, ở các xã trước đây có hội viên VNTNCMĐCH hoạt động, phong trào cũng phát triển khá nhanh. Đến tháng 10-1930, toàn tỉnh Bến Tre đã có 7 chi bộ ở 2 cù lao Minh và Bảo và một số đảng viên hoạt động rải rác ở các xã.

   Giữa lúc phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ của nhân dân trong tỉnh đang phát triển, thì trên phạm vi cả nước thực dân Pháp cũng đang tập trung sức đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng, nhất là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Trước tình hình ấy, tháng 10-1930, Ban chấp hành TƯĐCS chủ trương phát động một phong trào đấu tranh chống khủng bố trắng, ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh.

   Thực hiện chủ trương trên, Đảng bộ Bến Tre liên tiếp tổ chức các cuộc mít-tinh, biểu tình trong những tháng cuối năm 1930 đầu năm 1931. Mở đầu là cuộc biểu tình của hơn 1.000 quần chúng ở vùng Ba Châu (Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới) do đồng chí Huỳnh Khắc Mẫn (Mười Mắn), Bí thư chi bộ Châu Bình và đồng chí Nguyễn Thiệu lãnh đạo nổ ra vào tháng 11-1930. Quần chúng với giáo, mác, gậy, gộc kéo đến trụ sở xã Châu Bình, hô vang các khẩu hiệu cách mạng, sau đó kéo vào đập phá nhà việc, đốt hết sổ sách của hội tề. Từ Châu Bình, quần chúng tiếp tục kéo đến phá trụ sở 2 làng Châu Phú, Châu Thới, tổ chức mít-tinh kêu gọi đấu tranh "giành chính quyền".

   Sau sự kiện này, bộ máy cai trị của địch ở ba xã bị lung lay. Chúng chưa hết hoang mang thì một cuộc biểu tình quy mô lớn diễn ra trên địa bàn hai huyện Ba Tri, Giồng Trôm, bao gồm các xã: Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Ba Mỹ, Phước Tuy, Bảo Thạnh, Châu Bình, Châu Phú, Châu Thới, Phong Nẫm, Phong Mỹ, do các đồng chí Nguyễn Thiệu, Huỳnh Khắc Mẫn, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Ân lãnh đạo.

   Lực lượng biểu tình gồm trên 1.000 người, có vũ trang giáo mác, gậy gộc, chia làm hai cánh: cánh thứ nhất tập trung tại xã Tân Xuân, cánh thứ hai tập trung ở Châu Bình; mỗi cánh đều có tổ chức đội tự vệ chặt cây ngăn lộ, phá đường, cản địch đến đàn áp. Họ kéo vào các nhà việc, đốt sổ sách. Bọn tề xã hoảng sợ bỏ trốn.

   Để đối phó, nhà cầm quyền thực dân tập trung lực lượng lính sen đầm từ Mỹ Tho, Lương Quới, Giồng Trôm, Ba Tri kéo đến đàn áp. Tại Ba Tri, đội tự vệ của ta đã chống cự kịch liệt với lính địch ở ngã ba lộ Quẹo (Tân Xuân). Địch dùng súng bắn xả vào đoàn biểu tình, làm chết và bị thương một số người, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Ngươn, đội trưởng đội tự vệ, và bắt đi một số người khác.

   Ở Giồng Trôm, địch phục kích bến đò Phong Nẫm, bắt được một số cán bộ lãnh đạo trong đó có đồng chí Nguyễn Thiệu, Bí thư Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Sự khủng bố của địch làm cho nhiều cơ sở cách mạng bị bể, bị tiêu hao, phong trào trong tỉnh giảm sút nghiêm trọng.

   Trước tình hình trên, Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre tập trung chỉ đạo các chi bộ ở các xã nhanh chóng củng cố tư tưởng của cán bộ đảng viên nhằm giữ vững phong trào. Đến tháng 1-1931, truyền đơn, biểu ngữ lại xuất hiện ở một số nơi trong tỉnh. Tiếp đến tháng 2-1931, hai cuộc biểu tình nổ ra ở Long Mỹ và Bình Thành (Ba Tri) với hơn 1.000 người tham gia.

   Từ tháng 3 đến tháng 5-1931, phong trào lên đến đỉnh cao với 16 cuộc biểu tình lớn nhỏ, nổ ra ở khắp các nơi trong tỉnh như Tân Thủy, Tân Hưng, Tân Xuân, Châu Bình, Long Mỹ, Bình Thành thuộc quận Ba Tri; Phú Nhuận, Phước Long thuộc quận Châu Thành; An Thạnh, An Qui thuộc quận Thạnh Phú; Lộc Thuận thuộc quận An Hóa.

   Tháng 5-1931, Tỉnh ủy Bến Tre chính thức được thành lập, do đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn làm Bí thư. Sau khi thành lập, Tỉnh ủy bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh lại tổ chức, củng cố các cơ sở Đảng ở địa phương, nhưng lại vấp phải một đợt khủng bố mới của địch. Chúng đánh phá phần lớn các cơ sở, bắt đi nhiều cán bộ, trong đó có các đồng chí Nguyễn Văn Nguyễn, Bí thư Tỉnh ủy (7-1931) và Nguyễn Văn Trước (5-1932). Tỉnh ủy bị tan rã. Hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Cuối năm 1932, phong trào trong tỉnh bị suy yếu và lắng dần.

   Tình hình này kéo dài cho đến năm 1935. Lúc này trên thế giới và trong nước xảy ra những sự kiện mới có ảnh hưởng đến phong trào cách mạng cả nước nói chung và phong trào cách mạng của Bến Tre nói riêng.

   Trên thế giới, bọn phát xít Đức, Ý, Nhật ráo riết chuẩn bị chiến tranh đe dọa hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ở Pháp, ĐCS liên minh với Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến thành lập Mặt trận Nhân dân Pháp (tháng 11-1935). Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 4-1936, Mặt trận Nhân dân Pháp đã giành được thắng lợi và lên cầm quyền, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp ban bố một số cải cách dân chủ đối với thuộc địa, trong đó chủ trương ân xá chính trị phạm và thành lập một phái đoàn Quốc hội Pháp đi điều tra tình hình ở các thuộc địa.

   Sự kiện đó đã tác động mạnh đến Đông Dương. Bọn cầm quyền Pháp ở Đông Dương, trước sức ép của Chính phủ Mặt trận Nhân dân và phong trào Dân chủ ở Pháp, đã phải miễn cưỡng thực hiện việc ân xá chính trị. Nhiều đảng viên, cán bộ của ta bị giam ở các nhà tù đế quốc được thả ra.

   Trong bối cảnh chung ấy, ở Bến Tre, đến năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi tù, trở về địa phương tương đối đông. Về tới địa phương, các đồng chí đã tìm bắt liên lạc với nhau để khôi phục lại các cấp lãnh đạo của Đảng ở trong tỉnh. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của các đồng chí, trong một thời gian ngắn, các chi bộ Đảng được khôi phục ở thị xã và các xã Tân Xuân, Mỹ Chánh Hòa, Vĩnh Hòa, Phú Ngãi thuộc quận Ba Tri; Phước Long, Bình Chánh thuộc quận Châu Thành; Định Thủy, Khánh Thạnh Tân, An Thạnh thuộc quận Mỏ Cày. Cuối năm 1936, Tỉnh ủy Bến Tre được củng cố lại, do đồng chí Nguyễn Văn Triều (tức Ba Chà) làm Bí thư. Đến năm 1937, hai Quận ủy Thạnh Phú và Mỏ Cày được thành lập.

   Tỉnh ủy chủ trương đưa một bộ phận đảng viên có uy tín ra hoạt động công khai và bán công khai trong các hội Ái hữu của thợ cưa, thợ cắt tóc, các hội thể dục thể thao, vạn cấy để hướng dẫn các tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng.

   Tỉnh ủy xuất bản tờ báo Cờ chiến đấu làm cơ quan tuyên truyền công khai, phổ biến các sách báo của Đảng và lưu hành rộng rãi tờ báo Dân chúng, tổ chức các buổi diễn thuyết nhằm phổ biến chủ trương của Đảng trong quần chúng lao động.

   Vào giữa năm 1936, nhân việc Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp dự định cử một phái đoàn sang Đông Dương điều tra tình hình, thu thập nguyện vọng quần chúng, TƯĐCS đã phát động một cuộc vận động đòi triệu tập Đông Dương Đại hội thông qua bản “thỉnh nguyện” chung.

   Hưởng ứng cuộc vận động, tại Bến Tre, tháng 7-1936, “Ủy ban hành động” của tỉnh được thành lập, để tập hợp quần chúng đưa kiến nghị và bầu đại biểu đi dự đại hội. Đến cuối năm 1936, các “Ủy ban hành động” được thành lập ở đều khắp các quận và ở nhiều xã. Trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ đã nổ ra liên tục trong tỉnh.

   Chủ trương sáng suốt và kịp thời này đã đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang cao trào mới, hết sức sôi sục. Những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương, các căn cứ địa cách mạng được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh được thành lập. Phong trào ở Nam Kỳ cũng phát triển mạnh sau cuộc đảo chính của Nhật. Ngày 25-6-1945, XUNK họp hội nghị tại một địa điểm ở Mỹ Tho, ra nghị quyết chỉ đạo các địa phương khẩn trương chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa.

   Chấp hành nghị quyết của XUNK, và xuất phát từ tình hình cụ thể của tỉnh, Tỉnh ủy Bến Tre đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh công tác tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, sẵn sàng đón thời cơ, giành chính quyền.

   Ngay từ tháng 4-1945, Tỉnh ủy đã chủ trương mở rộng tổ chức Việt Minh vào tầng lớp tiểu tư sản ở thị xã, lôi cuốn công chức, trí thức vào Mặt trận. Các tổ chức Cứu quốc phát triển tương đối nhanh, nhất là trong các tầng lớp công nhân, nông dân, đội quân chủ lực của cách mạng. Đến tháng 7-1945, các nghiệp đoàn có tới 900 người, nông hội thu hút được 7.000 hội viên, riêng quận Ba Tri có tới 3.000.

   Tỉnh ủy cũng chú trọng công tác vận động binh lính địch, cử nhiều cán bộ có uy tín và năng lực bí mật thâm nhập vào các tổ chức thân Nhật, tổ vận động lôi kéo một số người đứng về phía cách mạng.

   Trong các tổ chức quần chúng công khai, thì Đoàn Thanh niên tiền phong là tổ chức thu hút được đông đảo thanh niên trí thức, công chức, học sinh. Vì vậy, Tỉnh ủy quyết định nắm lấy tổ chức này để biến thanh niên thành lực lượng xung kích trong cuộc Tổng khởi nghĩa sắp tới, bằng cách đưa cán bộ cốt cán vào nắm các chức vụ thủ lãnh (3).

   Ở nông thôn, thanh niên tích cực luyện tập võ nghệ, rèn dao găm, mã tấu. Ở các thị trấn như Ba Tri, Mỏ Cày, Sóc Sãi, Thạnh Phú, hàng trăm cuộc mít-tinh, biểu tình có hàng ngàn người tham gia, đã diễn ra.

   Khoảng cuối tháng 7-1945, Tỉnh ủy triệu tập hội nghị mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu (ngã tư Phú Khương ngày nay). Sau khi kiểm điểm công tác chuẩn bị khởi nghĩa, hội quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa (4) do đồng chí Nguyễn Tẩu phụ trách.

   Với sự nỗ lực của Ủy ban khởi nghĩa, chỉ trong một thời gian ngắn vừa tổ chức vừa luyện tập, đến trước ngày Tổng khởi nghĩa, các đội Cứu quốc quân trong tỉnh đã có tới hàng ngàn đội viên. Như vậy, với thời gian trên 3 tháng chuẩn bị, lực lượng cách mạng trong tỉnh bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã sẵn sàng, chỉ cần có thời cơ là sẽ đứng lên giành chính quyền.

   Và thời cơ đó đã đến.

   Ngày 12-8, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ở Đông Dương, quân đội Nhật hoang mang, tê liệt. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim giải thể. Tin phát xít Nhật đầu hàng nhanh chóng truyền đi khắp nước cùng với mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa phát ra từ Đại hội Quốc dân Tân Trào làm nức lòng người.

   Ngày 19-8, cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi ở thủ đô Hà Nội. Ngày 23-8, cách mạng thành công ở Huế. Sự thành công nhanh chóng của các cuộc khởi nghĩa ở thủ đô Hà Nội, Huế đã cổ vũ và thôi thúc mạnh mẽ Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đứng lên hành động. Lúc này (ngày 23-8) ở Bến Tre, đại biểu của Tỉnh ủy đi dự hội nghị do XUNK triệu tập chưa về đến, nhưng căn cứ vào diễn biến của tình hình chung, Ủy ban khởi nghĩa đã ra lệnh cho các quận huy động lực lượng quần chúng kéo về áp sát thị xã, đồng thời ra lệnh cho các đoàn thanh niên tại thị xã phải túc trực ở trụ sở, chuẩn bị sẵn sàng hành động.

   Đêm 23-8, theo kế hoạch của Ủy ban khởi nghĩa, khắp nơi trong tỉnh trương biểu ngữ, phát truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy lật đổ chính quyền bù nhìn, thiết lập chính quyền cách mạng.

   Ngày 24-8, Mặt trận Việt Minh tỉnh ra công khai tại câu lạc bộ thị xã (5). Bọn cầm đầu ngụy quyền không dám có thái độ chống đối.

   Trưa ngày 25-8, nhân cơ hội tên cò Lắm - chỉ huy trưởng lực lượng bảo an ninh thị xã - đến trụ sở Việt Minh xin phép đi xuống địa phương thu gom vũ khí của bọn cai tổng và hội tề ở Mỏ Cày, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh cấp tốc khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nổ ra lúc16 giờ cùng ngày.

   Với sức mạnh quật khởi, lực lượng quần chúng khởi nghĩa đã nhất tề xông lên với giáo mác, tầm vông tràn tới chiếm trại Bảo an ninh, buộc chúng phải nộp vũ khí đầu hàng. Sau đó lực lượng khởi nghĩa đã nhanh chóng tiến chiếm các công sở, tòa án, bưu điện, kho bạc, nhà máy điện, bót cảnh sát... Trước khí thế của quần chúng khởi nghĩa, quân Nhật và bọn tay sai, không dám chống cự. Tỉnh trưởng bù nhìn Phan Văn Chỉ buộc phải đầu hàng và xin giao chính quyền cho cách mạng. Bộ máy ngụy quyền tay sai Nhật sụp đổ. Chính quyền về tay nhân dân lúc 17 giờ, sớm hơn thời gian dự định trong kế hoạch.

   Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thị xã có ảnh hưởng quyết định đến cuộc khởi nghĩa ở các huyện. Ngày 23-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Bình Đại (lúc này còn thuộc Mỹ Tho). Ngày 25-8, khởi nghĩa thắng lợi ở Mỏ Cày. Đêm 25 rạng 26-8, khởi nghĩa tiếp tục thắng lợi ở Sóc Sãi, Thạnh Phú, Châu Thành, Ba Tri.

   Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã thành công nhanh chóng trong toàn tỉnh. Ngày 26-8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh Bến Tre làm lễ ra mắt đồng bào trong một cuộc mít-tinh long trọng được tổ chức tại sân vận động thị xã.

    Cách mạng tháng Tám thành công là bước nhảy vọt vĩ đại, đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ to lớn, một cuộc đổi đời trong lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử nhân dân Bến Tre nói riêng. Từ chỗ là người nô lệ, nhân dân Bến Tre cũng như nhân dân cả nước đã trở thành người làm chủ đất nước đã trở thành người làm chủ đất nước, quê hương, làm chủ vận mệnh của mình. Vì vậy CMT8-1945 thực sự là ngày hội lớn của toàn thể nhân dân trong tỉnh. Và từ đây, nhân dân Bến Tre sẽ cùng nhân dân cả nước quyết đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để gìn giữ nền độc lập vừa mới giành được.

Chú thích

(1) Theo Hồi ký của các đồng chí Nguyễn Văn Trước (tức Năm Thành), 11 đảng viên trong đó có Trần Văn An, Nguyễn Văn Cung, Nguyễn Văn Trước, Nguyễn Văn Sau, Trần Văn Biên, Trần Văn Biện, Nguyễn Thị Tâm (tức Thâu), Phan Văn tạo, Nguyễn Văn Ngươn.
(2) Báo Dân cày do đồng chí Phạm Hùng làm chủ bút, được phân phát cho các Tỉnh ủy Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, Cần Thơ...
(3)  Đồng chí Nguyễn Văn Cái làm Tổng thư ký Thanh niên tiền phong tỉnh, Huỳnh Kỳ Thanh làm thủ lĩnh Thanh niên tiền phong thị xã, Đỗ Phát Quang vào Trường Huấn luyện thanh niên ở Hưng Khánh Trung, Nguyễn Văn Tất vào Bảo an binh.
(4)  Ủy ban khởi nghĩa gồm 5 đồng chí: Nguyễn Tẩu, Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Văn Cái, Lê Lợi, Võ Tấn Nhứt
(5)  Nay là trường phổ thông cơ sở Bến Tre

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Sông Ba LaiSông Ba Lai
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi đến xã Thành Thiệu (dài 17 km) dòng sông cạn và hẹp. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Nước từ sông Mỹ Tho qua kênh An Hóa, chảy mạnh vào sông Ba Lai làm hạn chế quá trình lắng đọng phù sa của đoạn sông này. Lúc kênh mới đào, chiều rộng chưa đầy 30 m, nhưng do dòng nước chảy xiết nên sông bị xói mòn nhanh và rộng dần ra cả trăm mét. Do nước chảy mạnh, dưới đáy sông lại có những cồn ngầm, cho nên vào mùa gió chướng thổi mạnh, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, gây nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng.Vào giữa năm 2000, một kế hoạch thủy lợi lớn nhất tỉnh, xây dựng cống đập Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre đã bắt đầu được khởi công.

Hệ thống sông Ba Lai

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

R. Bà Tam

Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H. Châu Thành)

5,0 km

R. Phú Hữu

Ranh giới giữa xã Phước Thạnh và Hữu Định (H. Châu Thành)

8,0 km

R. Khai Luông

Xã Phước Thạnh (H. Châu Thành)

6,0 km

K. Chẹt Sậy

Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm 1878 – 1902

5,0 km

R. Ba Tri Rơm

Xã Châu Hòa (H. Giồng Trôm)

5,0 km

R. Cái Muồng

Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H. Bình Đại)

10,0 km

R. Vàm Hồ

Ranh giới giữa xã Châu Bình (H. Giồng Trôm) và xã Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,5 km

K. Số 1

Từ xã Bình Thới đến xã Thạnh Trị (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Mỹ Nhiên

Ranh giới giữa xã Mỹ Chánh, Tân Xuân và Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,0 km

R. Xẻo Tượng

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Chim

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Khiêm

Xã Thạnh Phước (H. Bình Đại) thông với K. Ông Cai

5,5 km

R. Ruộng Muối

Xã Bảo Thạnh (H. Ba Tri)

5,0 km

Chú thích :

(1)

Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H. 
Đã ban hành
Các sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến TreCác sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến Tre
Đồng Văn Cống
Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.
Lê Dũng
Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.
Nguyễn Xuân Ôn
Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày

Trung Tướng

Đồng Văn Cống

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Lê Dũng

Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Xuân Ôn

Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày.

Võ Viết Thanh

Xã Lương Phú, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Thạnh

Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại

Thiếu Tướng

Nguyễn Thị Định

Xã Lương Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Tạ Văn Khâm

Xã An Thạnh, Huyện Mỏ Cày.

Huỳnh Xuân Quang

Xã Mỹ Hoà, Huyện Ba Tri.

Trần Nhiên

Xã Châu Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Sĩ

Phường IV, Thị xã Bến Tre.

Vũ Khắc Sương

Xã Long Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Lê Phú Tươi

Xã An Thới, Huyện Mỏ Cày.

Trần Minh Tích

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Hữu Vị

Xã Châu Bình, Huyện Giồng Trôm.


Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành
Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.

Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy. Ngày 8-4-1975, từ căn cứ không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích. Khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè. Ngày 16-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc máy bay A37 lấy được của địch, tập huấn cho phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng lực lượng không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A37, máy bay F5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng; đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A37 và trung đoàn tiêm kích F5 - trung đoàn duy nhất của không quân Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

Ngày 20-12-1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khấu Trung GươngKhấu Trung Gương
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Khấu Trung Gương

Từ năm 1965 đến tháng 4-1975, Khấu Trung Gương đã đánh trên 80 trận, diệt và làm bị thương 290 tên, thu 28 súng. Tháng 9 năm 1969, Khấu Trung Gương phụ trách tiểu đội thông tin xây dựng căn cứ ở xã Long Trung, địch càn quét, đóng đồn trong xã, Gương đã tổ chức anh em bao vây, ban ngày bắn tỉa, gài lựu đạn chặn đánh quân địch đi càn; ban đêm bò vào sát đồn ném lựu đạn và cắm chông, gài mìn chặn các đường đi, liên tục trong nửa tháng, diệt và làm bị thương trên 70 tên, buộc địch bỏ đồn, rút chạy. Trong trận đánh ngày 10 tháng 4 năm 1971, diệt 2 đại đội ngụy ở xã Thuận Điền, sau khi kết thúc, anh được giao phụ trách 1 tổ quay lại trận địa tìm 1 thương binh còn sót lại. Khấu Trung Gương bất chấp nguy hiểm đã vào tìm được thương binh và đưa về phía sau an toàn. Ngày 13-3-1975, Khấu Trung Gương chỉ huy đơn vị phục kích tiểu đoàn bảo an số 454 ở xã Tân Xuân, tuy địch dùng bom đạn ngăn chặn, nhưng đồng chí đã dẫn đầu đơn vị táo bạo thọc sâu chia cắt đội hình địch dùng B40 diệt các hoả điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển. Thấy địch tháo chạy, Khấu Trung Gương dẫn đầu đơn vị truy kích, cùng đơn vị bạn tiêu diệt nốt số địch này.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen. Ngày 6-11-1978, Khấu Trung Gương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đoàn Thị EĐoàn Thị E
Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị
E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm.

Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là Đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Image
Chân dung anh hùng Đoàn Thị E

Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm. Chị luôn đi sát các đơn vị chiến đấu, có thương binh là cứu chữa ngay. Có lần bị địch phục kích bắt được, tra tấn dã man nhưng chị không khai báo gì, buộc địch phải thả về. Trong 5 năm (1969 - 1973), Đoàn Thị E phụ trách trạm thu dung thương binh, trạm có 3 người, chị là y tá và 2 hộ lý thường xuyên phục vụ trên 20 thương binh (có lúc trên 30 thương binh). Với tinh thần tận tụy, chị luôn cùng đồng đội chăm sóc thương binh chu đáo. Nhiều lần máy bay địch đánh phá, chị đã bình tĩnh dìu, cõng thương binh xuống hầm. Nhiều lần địch càn, tổ đã chuyển kịp thời tất cả thương binh đến nơi an toàn.

Đoàn Thị E còn tận dụng những dược liệu sẵn có ở địa phương, pha chế một số thuốc đông y phục vụ người bệnh, tiết kiệm cho công quỹ. Khắc phục khó khăn về thực phẩm chị đã đi bắt cua, cá, hái rau… để cải thiện bữa ăn hằng ngày. Ở địa phương nào, Đoàn Thị E cũng đều giúp đỡ nhân dân, chữa bệnh cho người ốm, vận động nhân dân góp người, góp của cho cách mạng; vận động được 25 gia đình binh sĩ ngụy gọi chồng con bỏ hàng ngũ địch trở về nhà làm ăn.

Chị E được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Ngày 20-12-1973, Đoàn Thị E được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

Image
Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

CMT8-1945 bùng nổ, ông tham gia công tác ở Sài Gòn, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội, hoạt động ở miền Tây Nam Bộ, đến kết thúc kháng chiến chống Pháp (7-1954) là cán bộ cấp trung đoàn.

Sau hiệp định Genève, ông được tổ chức bố trí ở lại, hoạt động bí mật với cái vỏ bọc bên ngoài, làm nghề dạy học ở các trường tư Sài Gòn. Bị bọn mật vụ theo dõi, mấy lần vây bắt hụt, phải lánh về Vĩnh Long để nhờ sự bảo lãnh của Giám mục Ngô Đình Thục, vốn đã quen thân từ trước với gia đình ông.

Nhờ sự giới thiệu của giám mục với Ngô Đình Diệm, ông mới đưa được vợ con lên sống ở Sài Gòn. Năm 1956, làm việc ở Ngân hàng quốc gia Sài Gòn, sau chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc “Đại úy đồng hóa” trong quân lực VNCH, lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đoàn trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, Chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Sau khi học trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas) tại Hoa Kỳ, về nước được thăng thiếu tá, làm việc ở phủ Tổng thống (cạnh Ngô Đình Nhu). Được Ngô Đình Diệm tin cậy, nên ông được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) với cấp bậc trung tá.

Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), Phạm Ngọc Thảo được nhóm sĩ quan cầm đầu cuộc đảo chính thăng đại tá, làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân cách mạng", rồi làm tùy viên văn hóa của Sứ quán VNCH tại Hoa Kỳ.

Đầu năm 1965, bị gọi về nước, vì chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đã phát hiện ông hoạt động cho đối phương. Biết đã bị lộ, ông không chấp hành lệnh, tìm cách trốn tránh và liên hệ móc nối với các lực lượng đối lập khác như tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để lật đổ chế độ hiện thời. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19-2-1965 ở Sài Gòn, nhưng chỉ làm làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt, ông đào thoát vào một tu viện Công giáo ở Thủ Đức.

Ngày 16-7-1965, ông bị một toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào đầu, nhưng không chết, sau đó được một linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở Biên Hòa. Bị lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại đưa về Sài Gòn, tra tấn đến chết vào đêm 17-7-1965.

Sau ngày giải phóng (30-4-1975), ông được Nhà nước ta truy nhận liệt sĩ với hàm đại tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động của ông đã được nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý xây dựng thành bộ tiểu thuyết nhiều tập Ván bài lật ngửa, và sau đó được dựng thành phim cùng tên với nhân vật chính mang tên Nguyễn Thành Luân.

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968Đặc công thuỷ, bộ trong cuộc tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công...
Tổng tiến công và nổi dậy theo phương châm “hai chân, ba mũi” trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao đòi hỏi Đảng bộ, quân và dân Bến Tre phải nỗ lực lớn, sử dụng mọi khả năng cho đòn tiến công tổng lực, trong đó lực lượng Đặc công là quả đấm quân sự quan trọng.

Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công. Phần lớn cán bộ, chiến sĩ Đặc công ở các huyện, thị xã được điều động cùng các phân đội Đặc công của tỉnh, đại đội Đặc công của Tiểu đoàn 516 và phân đội đánh phá giao thông bộ… hợp thành biên chế 2 đại đội Đặc công A và B.

Hai đại đội Đặc công gấp rút học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật nghiệp vụ. Sau đó được bổ sung thêm lực lượng Đặc công của các huyện để hình thành 4 bộ phận Đặc công không mang phiên hiệu, sẵn sàng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành của các hướng các mũi đồng loạt tiến công vào thị xã Bến Tre xuân Mậu Thân 1968.

HoangLam.jpg

Anh hùng LLVT Phan Bình Trung (Hoàng Lam)
hy sinh trong tổng tiến công xuân Mậu Thân 1968.

Các bộ phận Đặc công được phân công làm mũi nhọn dẫn đầu bộ binh đánh địch. Mặc dù lực lượng Đặc công được phân công không đúng chức năng nghiệp vụ kỹ thuật tác chiến, nhưng với bản chất tiến công của binh chủng “đặc biệt tinh nhuệ” đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh chiến đấu trên tinh thần “quân lệnh như sơn”. Đội hình bộ đội Đặc công khi bước vào chiến dịch tiến công thị xã được bố trí cụ thể:

- Bộ phận 1 ở phía tả ngạn sông Bến Tre có 1 trung đội bảo vệ Ban chỉ huy thống nhất, 1 trung đội làm lực lượng dự bị và 1 trung đội được phân công tiến công sân bay Tân Thành.

- Bộ phận 2 theo cánh 2 tiến công vào nội ô từ hướng Bình Phú, Bình Nguyên.

- Bộ phận 3 theo cánh 3 từ hướng Hữu Định tiến công địch đóng dã ngoại ở khu Vườn Ươm, trận đại pháo sân bóng đá thị xã và hậu cứ Trung đoàn 10 ngụy.

- Bộ phận 4 vượt sông Bến Tre tiến công theo hướng cầu Cá Lóc và đường Nguyễn Huệ.

Riêng Đặc công thủy chia làm 2 bộ phận “ém quân” sẵn bên bờ hữu ngạn sông Bến Tre để yểm trợ và làm đầu cầu cho Tiểu đoàn 516 vượt sông tiến công làm chủ các mục tiêu quan trọng về quân sự, hành chánh, thương mại, trong đó dinh Tỉnh trưởng là mục tiêu chủ yếu.

Khi kết thúc giai đoạn “Pháo hỏa chuẩn bị” thì các bộ phận Đặc công thủy, Đặc công bộ đồng loạt tiến công vào các mục tiêu quân sự và là những mũi nhọn mở đường cho lực lượng bộ binh các hướng các mũi tiến công địch ở thị xã.

Đêm 31-1-1968, tất cả các lực lượng trong đó có Đặc công từ điểm tập kết trên các hướng xuất phát hành quân, lặng lẽ bí mật tiếp cận thị xã, triển khai lực lượng chiếm lĩnh tuyến xuất phát tiến công. Trong khi đó, các tỉnh miền Trung, thành phố Huế và Sài Gòn – Gia Định tiến công trước nên địch kịp thời hủy lệnh “hưu chiến”. Ngụy quân, ngụy quyền Kiến Hòa có ý thức chủ động đối phó, cảnh giác bắn pháo sáng dọc theo sông Bến Tre, pháo binh của chúng bắn vào những nơi nghi ngờ ở vùng ven thị xã nhằm ngăn chặn hướng tiến quân của “đối phương”.

Đêm 1 rạng 2-2-1968 (tức đêm mùng 2 rạng mùng 3 Tết Mậu Thân) khi kết thúc pháo lệnh thì Đặc công thủy nhanh chóng lên bờ tiêu diệt các mục tiêu nhỏ lẻ bên hữu ngạn sông Bến Tre, chiếm giữ 2 đầu cầu của đoạn đường Hùng Vương để yểm trợ cho Tiểu đoàn 516 vượt sông. Cùng thời gian ấy bộ đội Đặc công trên các hướng các mũi thực hành tiến công mở đường cùng bộ binh đánh vào các mục tiêu quân sự của địch ở cầu Cá Lóc, Vườn Ươm, trận địa pháo sân bóng đá thị xã, hậu cứ Trung đoàn 10, sân bay Tân Thành… . Ở mũi thứ yếu của hướng tiến công chủ yếu, bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam tiến công đánh chiếm bãi Quân xa (trại Đinh Tiên Hoàng), phá hủy 6 xe bọc thép bánh hơi, kềm chân địch để mũi chủ yếu và thứ yếu của Tiểu đoàn 516 phát triển đánh vào các mục tiêu quy định. Tiểu đoàn 41 Biệt động quân của ngụy bảo vệ dinh Tỉnh trưởng đã triển khai đội hình chống trả quyết liệt các mũi tiến công của ta. Đồng chí Hoàng Lam và Mười Thanh chỉ huy đơn vị kiên quyết xung phong đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực phòng thủ của chúng ở các dãy nhà dọc theo lộ Hùng Vương. Tiểu đoàn BB2 của ta từ hướng Bình Phú hành tiến vào nội ô, nhưng đánh chệch mục tiêu và không bắt tay được với mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516. Từ đó bộ phận Đặc công thủy của Hoàng Lam và đại đội bộ binh thuộc mũi tiến công thứ yếu của Tiểu đoàn 516 quần nhau với lực lượng địch phòng thủ ở dinh Tỉnh trưởng và chiến đấu ngăn chặn Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 10 ngụy phản kích từ hướng Mỹ Hóa vào cứu nguy đồng bọn trong nội ô. Tương quan lực lượng lúc này có lợi cho địch nên đặc công và bộ binh của mũi thứ yếu bị thiệt hại nặng. Mặc dù mất sức chiến đấu, nhưng lực lượng còn lại của Đặc công thủy quyết chiến với địch, gây cho địch thiệt hại đáng kể. Số cán bộ chiến sĩ Đặc công thủy bị thương được dân công hỏa tuyến đưa về tuyến sau. Hoàng Lam – người con ưu tú của đất thép Giồng Trôm, một cán bộ trẻ gan dạ, thông minh và dũng cảm của binh chủng Đặc công đã anh dũng hy sinh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Các mũi Đặc công bộ tiến công mở đường cùng bộ binh tiến đánh vào các mục tiêu quân sự trong nội ô thị xã và sân bay Tân Thành. Phân đội Đặc công ở hướng Tây-Bắc thị xã có nhiệm vụ tiến công sân bay do Chủ nhiệm binh chủng Hoàng Quốc Thanh trực tiếp chỉ huy kiên quyết nổ súng tiến công Tiểu đoàn 401 Bảo an, bọn chiến tranh tâm lý và Tiểu đoàn pháo binh ngụy, diệt 1 máy bay trinh sát L19, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm. Địch bị động lúng túng đối phó lúc đầu, nhưng chúng cũng kịp hoàn hồn và phản kích quyết liệt. Khi bộ binh và pháo binh của Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ can thiệp vào chiến trường Bến Tre thì phân đội Đặc công hướng Tây-Bắc cùng lực lượng vũ trang địa phương hoạt động tác chiến phục kích để tiêu hao sinh lực và làm chậm bước tiến của bộ binh Mỹ phản kích vào nội ô. Việc 1/3 quân số của Sư đoàn 9 Mỹ tham chiếm đã chứng tỏ mức độ chiến sự ở Bến Tre ác liệt chỉ đứng sau mặt trận Sài Gòn-Gia Định và Huế. Địch hình thành liên quân Việt – Mỹ phản kích vào nội ô thị xã Bến Tre từ 3 hướng Tân Thành, Mỹ Hóa, Phú Hưng. Ưu thế lúc này thuộc về lực lượng phản kích. Bom pháo của địch tăng cường hủy diệt các khu vực và mục tiêu ta đánh chiếm. Ban chỉ huy thống nhất ra lệnh đại bộ phận rút ra ngoại ô. Riêng các đơn vị Đặc công của tỉnh được củng cố gọn nhẹ cùng lực lượng Đặc công biệt động thị xã tích cực hoạt động đánh phá, ngăn chặn, kềm chân, làm giảm tốc độ phản kích của địch, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 516 và các đơn vị bạn hình thành trận địa phục kích đón đánh quân phản kích, làm thiệt hại nặng 2 Tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở phía nam cầu Cá Lóc và bắc cầu Gò Đàng. Một phân đội Đặc công thủy chiếm giữ cầu Cá Lóc theo mệnh lệnh của Tham mưu trưởng mặt trận, liên tục chiến đấu ngày đêm với địch, diệt nhiều tên và phá hủy 10 xe quân sự.

Đối với lực lượng Đặc công các huyện cũng có nỗ lực lớn trong xây dựng và tham gia chiến đấu. Sau khi được điều phần lớn cán bộ chiến sĩ đặc công về nhận nhiệm vụ ở tỉnh, còn lại số cốt cán từ 3 đến 5 đồng chí ở mỗi huyện đã phát triển được 1 đến 2 tiểu đội, khẩn trương huấn luyện nghiệp vụ, chuẩn bị mọi mặt tham gia tổng tiến công. Nổi bật là Đặc công huyện Mỏ Cày đã xây dựng được 1 trung đội và 1 tiểu đội; Châu Thành và Giồng Trôm mỗi huyện có 1 trung đội Đặc công.

Bước vào tổng tiến công, Đặc công Mỏ Cày tiêu diệt các đồn trụ xung quanh thị trấn như tua gác cầu Việt Hoa, công sở Đa Phước Hội. Sau đó cùng bộ binh đánh địch trong nội ô thị trấn, tiêu diệt các đồn trên tuyến giao thông 30 (đồn cống Cây Keo, đồn thằng Quang, đồn Bếp Lý). Khi địch đổ bộ bằng đường không để phản kích thì Đặc công Mỏ Cày thực hiện tập kích quân dã ngoại, diệt 2 tiểu đội địch, thu vũ khí, liên tục tiến công 5 đêm làm cho chúng hoảng sợ. Ở Giồng Trôm, lực lượng Đặc công cùng bộ binh của huyện tiến công đồn bót ven giao thông và quanh thị tứ Mỹ Lồng, đốt kho xăng. Sau đó cùng các đơn vị bạn tiến công địch trong nội ô thị trấn. Đặc công các huyện còn lại đã cùng lực lượng nổi dậy chiếm nhiều đồn bót và đánh quân phản kích, góp phần vào thành tích chung của địa phương.

Binh chủng Đặc công Bến Tre phát triển nhanh chóng và góp công khá xuất sắc trong đợt Tổng tiến công. Chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, hiệu suất chiến đấu cao. Các đơn vị Đặc công từ tỉnh đến huyện chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, đoàn kết một lòng, gắn bó với các đơn vị bạn, kiên quyết tiến công kẻ thù, lập công tập thể. Bộ đội Đặc công cùng với các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận, đoàn thể quần chúng… tham gia tổng tiến công và nổi dậy, chung sức tạo nên bản anh hùng ca xuân Mậu Thân 1968.

Đã ban hành
Thành tích khen thưởng của nhân dân tỉnh Bến Tre (1975-2000)Thành tích khen thưởng của nhân dân tỉnh Bến Tre (1975-2000)
Huân chương sao vàng
07 Huân chương Hồ Chí Minh
1.532 Huân chương Độc lập
69 Huân chương Thành Đồng
Huân chương giải phóng
...
  1. Huân chương sao vàng
  2. 07 Huân chương Hồ Chí Minh
  3. 1.532 Huân chương Độc lập
  4. 69 Huân chương Thành Đồng
  5. Huân chương giải phóng
  6. Huân chương Quyết thắng
  7. 38.630 Huân chương Kháng chiến
  8. 634 Huy chương giải phóng
  9. 425 Huy chương Quyết thắng
  10. 11.871 Huy chương Kháng chiến
  11. 29 Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công
  12. 810 Kỷ niệm chương cho cán bộ chiến sĩ bị địch bắt tù đày
  13. 7.725 Bằng khen Chính phủ
  14. 6.396 Bằng khen UBND tỉnh
  15. 2.267 Bằng vàng gia đình danh dự
  16. 10.463 Bảng gia đình vẻ vang.
  17. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bến Tre
  18. 5 Huyện được tuyên dương Anh hùng LLVTND
  19. 66 Xã được tuyên dương Anh hùng LLVTND
  20. 18 Đơn vị Anh hùng LLVTND
  21. 43 Anh hùng LLVTND
  22. 1.937 Bà mẹ Việt Nam anh hùng
  23. 2 Đơn vị Anh hùng Lao động
  24. 3 Cá nhân Anh hùng Lao động
  25. 122 Huân chương Lao động
  26. 3 Cờ thi đua Chính phủ
  27. 710 Cờ thi đua xuất sắc của UBND tỉnh
  28. 388 Bằng khen Chính phủ
  29. 41.537 Bằng khen UBND tỉnh
  30. 438 Tập thể lao động xã hội chủ nghĩa.
  31. 244 Tập thể lao động xuất sắc
  32. 4.060 Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh.
Đã ban hành
Anh hùng Khấu Trung Gương kể chuyện ăn Tết và đánh giặcAnh hùng Khấu Trung Gương kể chuyện ăn Tết và đánh giặc
Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày.

Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày đều được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng. Còn ông tiếp nối truyền thống gia đình, bỏ nhà theo cách mạng năm 1965. 10 năm chiến đấu ông đánh hơn 100 trận lớn nhỏ. Nhiều trận quan trọng do ông làm trinh sát, đánh địch tả tơi. Năm 1978, ông được nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Đầu xuân mới Đinh Hợi, tôi có dịp gặp ông, nghe ông kể chuyện “ăn Tết” trong chiến tranh và đánh giặc.
Ông Khấu Trung Gương theo cách mạng khi vừa tròn 16 tuổi. Chưa hiểu gì nhiều, nhưng thấy các Anh Ba, Anh Tư đi bộ đội, ông cũng xin gia đình cho đi. Ba ông thấy ông còn nhỏ tuổi quá nên khuyên: “Con ba đứa nào muốn đi đánh giặc ba cho đi hết và đi không được về, nhưng con chờ lớn thêm chút nữa rồi đi.” Thế nhưng, ham quá ông trốn nhà đi. Ông quảy đồ theo các anh bộ đội đang đóng quân ở xã Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) về gia nhập Tiểu đoàn 263 của Quân khu 8. Nhỏ tuổi, nhỏ người ở đơn vị đặt cho ông biệt danh Dũng Nhỏ và giao ông làm nhiệm vụ thông tin vô tuyến điện thoại. Từ chiến sĩ, ông được giao làm tiểu đội phó và tham gia chiến dịch nổi tiếng Ba Rài, huyện Cai Lậy, Mỹ Tho, năm 1967. Chiến dịch này quân Mỹ thua tan tát phải rút quân trong sự chua cay. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ công nhận đây là một trong những trận đau đầu nhất cả nước và là trận thứ hai ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trận thứ nhất là trận Ấp Bắc, ta đánh diệt chiến dịch Phượng hoàng bay, trận thứ hai ở Ba Rài ta đánh diệt chiến thuật Hạm đội nhỏ trên sông của địch. Theo báo chí Mỹ, trận Ba Rài ta đánh diệt trên 200 tên Mỹ, đánh chìm và cháy trên 20 tàu chiến. Sau chiến dịch Ba Rài, Mỹ rút quân và viết truyền đơn gửi lại với nội dung: 263 ở lại củng cố, Sư đoàn 9 đi một thời gian sẽ gặp lại 263. Sau trận đánh này, ông tham gia hoạt động ở địa bàn Mỹ Tho.

Trận đánh lớn thứ hai anh hùng Khấu Trung Gương được trực tiếp tham chiến chính là trận đánh Tết Mậu Thân 1968. Giờ vừa hưởng một cái Tết ấm cúng, an lành, vui vẻ bên gia đình, nhắc đến trận đánh Tết Mậu Thân diễn ra cách nay gần 40 năm, ông Gương vẫn không quên chút nào. Ông kể lại: “Chúng tôi nhận lệnh bất ngờ phải sẵn sàng chiến đấu với quyết tâm cao nhất. Vậy là cùng nhau hành quân mà trong đầu không còn chuyện Tết nhứt gì hết. Đó cũng là năm anh ba tôi, Khấu Văn Khiết, hy sinh.” Ví như không có trận đánh Mậu Thân năm ấy thì cái Tết trong chiến tranh vẫn diễn ra như thường niên là thiếu thốn đủ thứ, lấy tình đồng đội, anh em trong chiến đấu động viên ngày đầu năm là chính. Chiến tranh không có Tết, chỉ khác cái là mừng năm mới cấp trên cho tăng cường thêm bữa ăn nhiều hơn với ngày thường chứ không có gì đặc biệt. Chẳng hạn cấp trên cho mỗi đại đội một con heo vài chục kg làm thịt ăn bữa ăn một ngày đầu năm. Tết Mậu Thân năm 1968, Tiểu đoàn chuẩn bị một con trâu để mần ăn Tết. Cận Tết, tiểu đoàn được lệnh: Tình hình cấp tốc, chiến dịch có một không hai, theo tiến súng mà tiến công. Đơn vị ông hành quân ròng rã từ huyện Cái Bè về đến nội thành Mỹ Tho đúng Mùng Một Tết là nổ súng. Trên đường hành quân, người dân đã chuẩn bị sẵn dưa hấu, bánh tét biếu tặng bộ đội. Nhưng lệnh cấp trên không được nhận quà biếu của dân mà luôn trong tư thế tiến bước. Ông Gương kể tiếp: “Tư tưởng bộ đội chúng tôi lúc đó phơi phới tâm hồn không cần thiết ăn, không nghĩ gì mà quyết chiến giải phóng miền Nam. Anh em lên đường chỉ với bộ đồ đẹp, ba lô thì giấu lại, súng đạn mang đầy đủ. Vào Mỹ Tho, chúng tôi đánh khá suông sẻ vì địch bất ngờ. Khi đánh tiến được tới cầu quay, địch chống cự quyết liệt và tăng cường dàn pháo tại đồn bót xã Bình Đức gần đó đánh hủy diệt để ngăn cản bộ đội đánh chiếm dinh tỉnh trưởng. Sau này tôi mới biết ngay ngày trận đánh này diễn ra, tổng thống Thiệu đang có mặt tại dinh Tỉnh trưởng Mỹ Tho. Lúc đó Thiệu về thăm vợ bé ở khu vực bờ hồ Tiền Giang. Nếu bộ đội đánh nhanh hơn chút nữa bắt được tổng thống Thiệu thì có vấn đề xảy ra. Đánh tới đánh lui, cuối cùng không chiếm được Tiền Giang. Theo lệnh từ Bộ tư lệnh Miền, ta đánh phản kích liên tục cao điểm 1, 2, 3. Sau đó, giặc tăng cường thêm quân và đánh phản kích trở lại ta quá nhiều nên ta về vùng giải phóng. Địch thực hiện chiến dịch Da Beo, gắm thêm đồn bót đánh chiếm lại vùng giải phóng của ta. Chúng tôi đánh dai dẳng mãi đến năm 1969. Những năm sau, Tết đến luôn có hiệp định ngưng bắn, nhưng cũng luôn giữ vững trạng thái sẵn sàng chiến đấu”. Đến đầu năm 1970 Tiểu đoàn 263 được tăng cường về Bến Tre (với tên gọi D7) hoạt động ở tất cả các huyện thị trên quê hương Đồng khởi.

Năm 1972 anh hùng Khấu Trung Gương được giao nhiệm vụ làm đội trưởng trinh sát của tiểu đoàn. Chính ông là người chỉ huy anh em trinh sát, phục kích đánh tơi bời nhiều tiểu đoàn của địch ở xứ dừa. Bến Tre khét tiếng với tiểu đoàn 401 ác ôn. Tiểu đoàn 401 làm sơ đồ giống như ta đánh, bởi tên chỉ huy vốn là người của ta chiêu hồi ra huấn luyện. Tiểu đoàn này đánh nhiều cơ sở của ta tan hoang. Tiểu đoàn 263 được giao nhiệm vụ phục kích Tiểu đoàn 401, nhưng mấy lần không thành công vì địch đánh khôn khéo. Đội trưởng trinh sát Khấu Trung Gương nhận lệnh trực tiếp củng cố lực lượng giữa hông tiểu đoàn và hút lực lượng địch. Nơi ông chỉ huy cách đánh phục kích sau đó diệt được gần hai đại đội. Cũng trong năm 1972, tại trận đánh Giồng Keo (ở xã Tân Bình, Mỏ Cày), ông tiếp tục làm đội trưởng trinh sát và đánh địch ở đây. Cả một trung đội do ông chỉ huy với nhiệm vụ đánh chặn đầu địch ngay nhà thờ Giồng Keo, kéo địch lại để bộ đội chủ lực tấn công. Khoảng 5 giờ chiều địch kéo xuống từ hướng chợ Ba Vác. Hỏa lực của địch mạnh ghê gớm gồm M 79, M 72, cối thép, cuối cùng trung đội của ông cũng chặn được địch và tiêu diệt được khoảng hai đại đội. Số còn lại lợi dụng lúc trời tối, co cụm cố thủ. Trung đội trinh sát của ông được giao nhiệm vụ bám địch để đưa đơn vị vào. Hai chiến sĩ dưới quyền được ông giao đi và bị địch phát hiện tiêu diệt. Nhớ đến sự hy sinh của hai đồng đội sát cánh bên mình, ông Gương bùi ngùi nói: “Hồi đó, chính sách của ta là không bỏ tử sĩ ngoài mặt trận. Đích thân tôi tìm cách lấy xác hai liệt sĩ hy sinh về ngay trong đêm và đem hỏa lực vào diệt địch. Lần đó, nhiều đồng chí bên ngoài nói tôi sẽ hy sinh vì cũng bị địch phát hiện đang bò vào lấy xác đồng chí, nhưng may mắn tôi thoát được. Tôi đem được xác hai chiến sĩ ra bên ngoài lúc gần 3 giờ sáng.”

Trận gần ngày giải phóng nhất mà anh hùng Khấu Trung Gương tham gia là trận đánh diệt tư lệnh tiểu đoàn 454. Năm 1974 ông được giao giữ chức vụ Đại đội trưởng đại đội 3 – đại đội anh hùng và là đại đội chủ lực của Tiểu đoàn 263. Trận này có nhiều đơn vị của ta cùng tham chiến. Địch đi trật ý định của ta, đang tiến vào chạm ngay các đơn vị bạn. Đại đội 3 được giao nhiệm vụ nhanh chóng áp sát đồn Giao Hòa (huyện Châu Thành) để đánh chặn. Ông vừa triển khai xong lực lượng, địch kéo xuống. Lúc địch đi ngay sau lưng đại đội 1, ông lập tức chỉ đạo đánh chặn diệt địch giúp Đại đội 1 không bị thiệt hại. Sau đó, cả Trung đoàn Đồng khởi mở chiến dịch Đồng Gò (Giồng Trôm) chuẩn bị đánh về thị xã. Quân khu chỉ đạo Tiểu đoàn 263 mở trận phục kích ở Đồng Gò đánh chi khu Lương Qưới. Đại đội 3 được giao nhiệm vụ đánh diệt gọn địch trong đêm. Đêm 29 rạng 30-4, được lệnh của tiểu đoàn, với cách đánh mưu trí, táo bạo, Đại đội của anh hùng Khấu Trung Gương luồn sâu vào bên trong nắm tình hình, sau đó đưa bộ binh vào đánh vây lấn. Đến 9 giờ sáng 30-4-1975, Dương Văn Minh kêu gọi lực lượng địch đầu hàng. 

Gia đình anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương gồm ba, mẹ, và hai người anh, một người em hy sinh. Ông với bao chiến công hiển hách, ngày trở về trong mình còn hằn 6 vết thương. Ở chân, vai trái vẫn còn những mảnh đạn nằm sâu bên trong. Sau nhiều công tác khác nhau, hiện nay ông đã về hưu sống bên con cháu và tham gia sinh hoạt hội cựu chiến binh địa phương ở xã Hữu Định, huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer