Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Thắng cảnh - Du lịch
Du lịch Xứ Dừa (11/10/2016)
 
Trước tiên mời du khách đến thăm cây Bạch mai 316 tuổi hay còn gọi là "thần mai", "Cổ thụ mai" đang trồng ở đình Phú Tự, ấp Phú Tự, phường Phú Hưng, thành phố Bến Tre. 
 
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông. 
 
Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km. 
 
Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú nằm trên vùng đất cù lao Minh của tỉnh Bến Tre. Trước năm 2010 đến cù lao Minh phải qua phà, từ tháng 4/2010 đã khánh thành cầu Hàm Luông nối liền đôi bờ cù lao Bảo (thành phố Bến Tre) với cù lao Minh. 
 
Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú. 
 
Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km. 
 
Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, so với các huyện khác trong tỉnh Bình Đại nằm lẻ loi trên một dãy cù lao và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến như các huyện khác của Bến Tre. 
 
Từ Thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km 
 
Bến Tre là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, mưa thuận gió hòa, có hệ thống sông nước, kênh rạch chằng chịt giống như các tỉnh trong khu vực; nhưng do trước đây Bến Tre là tỉnh lẻ, đến Bến Tre phải qua phà ngang cách trở, không thu hút được các nhà đầu tư đến khai thác về nông nghiệp cũng như công nghiệp; từ yếu tố đó giúp cho Bến Tre còn giữ được nét nguyên sơ so với các tỉnh đồng bằng trong khu vực.  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh 885 đến ngã tư Giồng Tre (huyện Ba Tri, 31km), rẽ trái theo đường liên xã An Ngãi Trung - An Phú Trung đến ngã ba (2km), rẽ phải khoảng 4,5 km là đến, di tích nằm bên phải.

Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, Lê Quang Quan (Tán Kế) cùng với một số binh sĩ khác bất mãn, bỏ ngũ trốn về quê. Trở về Mỹ Chánh, ông vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà.

Tháng 6/1867, giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế, địa hình hiểm trở (lúc bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp).

Cuộc khởi nghĩa của ông đã gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 21/02/1869). Trong dân gian ở vùng này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.

Cảm phục về cái chết của người anh hùng vùng đất Ba Châu, nhân dân đã lập miếu thờ ông ở những nơi mà ông và nghĩa quân thường qua lại hoạt động. Hiện nay, một miếu thờ Tán Kế được xây dựng ngay tại quê ông (xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri; mộ cũng được chôn cất ở đây) để tưởng nhớ đến người anh hùng và một miếu thờ khác cũng được xây dựng tại nơi ông hy sinh, ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Họp mặt các nhà báo lão thànhHọp mặt các nhà báo lão thành

<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial;">Vừa qua, hơn 100 nhà báo các thời kỳ
đã về dự buổi họp mặt lần thứ 2 tại nhà đồng chí Lê Chí Nhân, nhà báo cách mạng
lão thành (báo Chiến Thắng trước đây).</span>
</div>
Image
Quang cảnh buổi họp mặt
Vừa qua, hơn 100 nhà báo các thời kỳ đã về dự buổi họp mặt lần thứ 2 tại nhà đồng chí Lê Chí Nhân, nhà báo cách mạng lão thành (báo Chiến Thắng trước đây). Ngoài đồng chí Nhân, buổi họp mặt có sự hiện diện của nhiều nhà báo tên tuổi như đồng chí Huỳnh Công Hải (Năm Thông), nguyên Tổng Biên tập báo Đồng Khởi; đồng chí Nguyễn Hồ; đồng chí Trương Văn Đông, Quyền Tổng Biên tập báo Đồng Khởi; và nhiều đồng chí hiện đang sống và làm việc ở các tỉnh và TP Hồ Chí Minh đã từng tham gia viết báo tại Bến Tre.

Tại buổi họp mặt các đồng chí đã ôn lại truyền thống làm báo trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, và trong thời bình. Nhiều bài viết nổi tiếng còn lưu lại cho đến bây giờ đã được đồng chí Năm Thông nêu lên nhằm nhắc lại một thời viết báo gian khổ trong lòng địch, đồng thời cũng để nhắc nhở các nhà báo trẻ hiện nay nhớ đến thế hệ đi trước.

Cũng nhân dịp này, quyết định về việc thực hiện quyển sách lịch sử báo chí Bến Tre cũng đã được công bố. Nội dung quyển sách sẽ bao gồm các sự kiện báo chí Bến Tre trước ngày 30-4-1975, thể hiện sinh động những điểm nổi bật, những ấn phẩm báo chí gây dấu ấn từng giai đoạn lịch sử, những kỷ niệm sâu sắc về tác nghiệp. Các tác phẩm được chọn lọc thể hiện một phần trong thời kỳ kháng chiến chống pháp, 6 năm đấu tranh chính trị, và tập trung nhiều nhất ở giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Quyển sách dự kiến sẽ ra mắt bạn đọc vào tháng 6-2008.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Buổi đầu khai phá - xây dựngBuổi đầu khai phá - xây dựng
Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm".

Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm" (1). Trên đất Bến Tre, việc khai khẩn ruộng vườn của cư dân tại chỗ – người Khmer – chỉ tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao như Sóc Sãi, giồng Ông Giang, giồng Nâu, ở cù lao Bảo, giồng Văn, giồng Võ, Đa Phước, An Thạnh, Ba Vát ở Cù Lao Minh.

Những vùng đất thấp khác hầu như đều là rừng rậm hoang vu, như tác giả Gia Định thành thông chí đã mô tả: “Phía Nam trấn (Định Tường) một dặm, trước kia là rừng hoang làm hang cho hùm beo ở" (2). Cho đến những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho, vùng cù lao An Hóa vẫn còn cọp và dọc theo sông lớn có nhiều khỉ (3). Nhưng cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ nói chung, kể từ thế kỷ XVII trở đi, bộ mặt vùng đất Bến Tre bắt đầu biến đổi mạnh khi có sự xuất hiện một lớp dân cư mới – lưu dân người Việt và lưu dân người Hoa.

Vùng đất Bến Tre được xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII, nhưng lưu dân người Việt đã đến đây ở từ trước đó khá lâu. Có thể coi đó là một đặc điểm chung ở nhiều vùng đất khác ở Nam bộ, Jules Sien đã nhận xét rất đúng rằng: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên" (4).

Những lưu dân người Việt đến vùng Bến Tre trong những năm cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng đông đảo nhất vẫn là những nông dân nghèo khổ lại phải gánh chịu nạn chiến tranh phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Họ buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống. Thành phần đông đảo thứ hai là những người trốn lính và lính trốn, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Ngoài những thành phần đông đảo kể trên, còn có một số người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất, những người có óc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là "dân có vật lực" – theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận, làm giàu, vào đây để mở rộng việc kinh doanh tạo nên sản nghiệp mới.

Trong những lưu dân người Việt từ các tỉnh miền Trung đến đất Bến Tre, có một số lớn đi thẳng từ quê hương của họ đến đây theo đường biển bằng phương tiện ghe bầu. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, đường bộ từ miền Thuận Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số khác đã vào vùng Biên Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được những điều kiện thuận lợi để bám trụ, nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới đây bằng cả hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.

Cũng như các vùng đất khác trên đất Đồng Nai – Gia Định, những lưu dân người Việt đến Bến Tre theo cách thức: hoặc lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình, hoặc họp lại thành nhóm gồm những người bà con thân thuộc hay làng xóm láng giềng, hoặc một số người đi trước tìm chỗ cư trú, làm ăn rồi quay về đưa gia đình, bà con thân thuộc, hàng xóm láng giềng vào tiếp. Nếu như các cuộc di chuyển bằng đường thủy có thể đi một mạch, thì những cuộc di chuyển bằng đường bộ thường diễn ra từng chặng.

{mospagebreak}Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông vào định cư trước tiên ở những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn.

Ngoài các dải đất ven sông, những người mới đến cũng đã chọn các khu đất giồng để định cư và khai phá như Ba Vát, Thom, Giồng Luông, Đa Phước (ở cù lao Minh), Tiên Long, Tiên Thủy, An Hội, Mỹ Lồng, Cái Bông (ở cù lao Bảo), vì môi trường tự nhiên ở đây tương đối thuận lợi so với nơi khác, đất tốt, không bị lầy lội.

{mospagebreak}Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thể kỷ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là cù lao An Hóa, còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch cư trú. Nhóm này cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên (khoảng 3.000 người) là bộ phận quân nhà Minh ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, bất phục triều đình Mãn Thanh chạy sang Việt xin tỵ nạn, được chúa Nguyễn an sáp vào đất Đồng Nai - Gia định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, còn nhóm Dương Ngạn Địch thì đến định cư ở Mỹ Tho. Trong nhóm thứ hai này, chắc chắn đã có một số sang cư trú ở cù lao An Hóa, nhất là vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay. Họ không lập xóm ấp riêng, mà ở chung với người Việt, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa (trích Lịch sử xã Phước Thạnh).

Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Tre đã có đông người đến ở. Chính vì vậy, năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây. Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tuy gọi là tổng nhưng diện tích của nó rất rộng, gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh.

Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các thôn xã đã phát triển rộng khắp từ vùng ven biển đến phía thượng nguồn của hai cù lao.

Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò... Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, dầu rái, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở sông rạch... nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Nhưng dù sao ở nơi đất mới – như Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo đói rét" (5) – cuộc sống của họ chắc chắn có nhiều phần dễ dàng hơn nơi đất hẹp người đông, người khôn của khó ở quê hương cũ. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ, hoặc cùng chung tín ngưỡng, cùng trong họ đạo. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi "con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh" như người ta thường nhắc, cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.

Trong khi đó, “những dân có vật lực” bao gồm địa chủ, phú nông, nhà nông, những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, số này chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng họ sẵn vốn liếng, phương tiện, có kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích, đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp.

Với bàn tay, khối óc và sự lao động cần mẫn, sáng tạo của những lớp lưu dân, bản đồ khai phá trên đất Bến Tre được mở rộng dần trong các thế kỷ XVII, XVIII. Vùng Ba Tri là một trong số nơi được khai khẩn sớm nhất, vì nơi này là điểm dừng chân đầu tiên của các lưu dân từ miền Trung đi vào theo đường biển. Ba Tri có nhiều giồng đất cao hình cánh cung, xen kẽ những cánh đồng trũng. Ở chân giồng, việc canh tác lúa vào mùa mưa khá thuận lợi, còn trên mặt đất giồng thì có thể trồng các thứ hoa màu như sắn, khoai, đậu, bắp, dưa, bí và một số loại cây cần thiết cho các ngành thủ công nghiệp như bông, vải, gai, dâu tằm... Đến đầu thế kỷ XVIII, các làng, các trại vùng này được thiết lập. Những nơi đủ dân thì lập làng, ấp, nơi nào ít dân thì họp thành trại. Một số tên trại còn lưu truyền đến ngày nay như Ba Tri cá trại, Cái Da trại... Trong số những lưu dân người Việt đến khai phá đất đai đầu tiên trong vùng, có cả nhóm tín đồ Thiên chúa giáo. Họ đã đến định cư trên giồng Cái Bông và về sau càng đông thêm. Năm 1730, họ đạo này lập ra nhà thờ Cái Bông.

Một vùng khác được khai phá cùng thời với Ba Tri là khu vực Cái Mơn, Cái Nhum nằm ở ven sông Hàm Luông, dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum. Số lưu dân này phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Năm 1731, một họ đạo khác ra đời ở cù lao Minh, đó là họ đạo Cái Nhum.

Ngoài ra, trên cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho có thể đã được khai phá từ khi nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch đến định cư trong vùng và lập nên phố chợ Mỹ Tho từ năm 1679.

Trong thế kỷ XVIII, vùng được khai phá mạnh là vùng Ba Vát (sách Gia Định thành thông chí gọi là Ba Việt) trên cù lao Minh trải rộng từ Ba Vát đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao. Vùng Ba Vát đã là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì vùng này mới bị suy tàn dần.

Trên cù lao Minh vùng dọc theo sông Hàm Luông như Vĩnh Thành (Cái Mơn) thuộc huyện Chợ Lách cũng được khai phá trong thời kỳ này. Ở đây, từ rất sớm đã có nhiều vườn cây ăn trái khá sầm uất.

Được khai phá vào thế kỷ XVIII, còn có vùng ven rạch Sóc Sải, ven rạch Mỹ Lung (sông Bến Tre) trên cù lao Bảo. Sang đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã mọc lên những khu vườn cây ăn trái khá sung túc. Hồi này, vùng Xẻo Sâu, Mỹ Lồng đã nổi tiếng là vùng trồng nhiều cau nhất ở vùng Nam Kỳ Lục tỉnh, được nhắc đến trong ca dao.

{mospagebreak}Trong thế kỷ XVIII, việc khai phá trên cù lao An Hóa lại được mở rộng tới các khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại. Như vậy là trong thế kỷ này, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre diện tích được khai phá đã khá rộng.

Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang, sản xuất ở Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của nhân dân, chính quyền nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang, lập ấp.

Thực ra, từ cuối thế kỷ XVIII (1790), Nguyễn Ánh đã cho thi hành chính sách dùng một bộ phận binh lính và chiêu mộ dân nghèo, tiến hành khai hoang lập đồn điền, nhưng vì chiến tranh còn tiếp diễn nên chủ trương này chưa được mở rộng. Đến khi dành được chính quyền trên toàn quốc (1802), Nguyễn Ánh cho đẩy mạnh việc thành lập các đồn điền – lúc đó gọi là “trại đồn điền” – trên khắp bốn phủ thuộc Gia Định thành (tức toàn Nam Kỳ): Tân Bình, Phước Long, Kiến An, Định Viễn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp. Năm 1814, theo thống kê riêng, số dân trong các trại đồn điền – chưa kể số binh lính - đã lên đến 9.876 người. Năm 1822, con số này là 9.703 người. Riêng tại phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An, tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền với 6.174 người. Rất có thể một phần trong số 142 trại này đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre.

Năm 1853, triều đình nhà Nguyễn lại giao cho Nguyễn Tri Phương nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ dưới hình thức cơ, đội. Một năm sau (1854), theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương, có 21 cơ đã lập xong và 4 cơ đang hình thành (6). Riêng tỉnh Vĩnh Long, có 7 cơ. Đất Bến Tre lúc bấy giờ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, (cù lao Bảo) Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh). Ở các huyện này, số dân và số diện tích khai phá được như sau (7) :

Bảo Hựu

346 người, khai phá được

1.478 mẫu

Bảo An

26 người, "

122 mẫu

Tân Minh

371 người "

1.390 mẫu

Duy Minh

110 người, "

651 mẫu

 

 

Như vậy, thời gian này đã có từ 2 đến 3 trong số 7 cơ đồn điền của tỉnh Vĩnh Long được lập ra trên đất Bến Tre, với 853 người dân và diện tích khai phá được là 3.640 mẫu.

{mospagebreak}Điều đáng tiếc là không có tài liệu nào ghi rõ địa điểm của các cơ được lập ra trên đất Bến Tre. Chỉ biết rằng, tại Hương Điểm (huyện Giồng Trôm nay) còn một số địa danh như Đội Ba, Đội Năm, Đội Bảy, các nơi này có thể là địa bàn của các đội đồn điền trước kia. (8)

Bên trên là việc lập đồn điền. Còn việc mộ dân khai hoang lập ấp thì triều đình nhà Nguyễn vừa giao trách nhiệm cho quan lại địa phương, vừa khuyến khích những người có khả năng, có vốn liếng, phương tiện thực hiện. Chủ trương này được triển khai khá mạnh trên toàn Nam Kỳ lục tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Long bao gồm Bến Tre. Trong số 124 ấp được lập ở 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1854 có 60 ấp nằm ở tỉnh Vĩnh Long. Các ấp này thường được thành lập ở những nơi mà việc khai hoang không mấy khó khăn và không nằm quá xa các làng mạc có trước. Vì thế, tuy ta không biết được trong số 60 ấp đó, có bao nhiêu ấp nằm trên đất Bến Tre và ở những vị trí cụ thể nào, nhưng có thể tin chắc là có nhiều ấp được lập ra ở đây.

Đến năm 1856, quan tỉnh Vĩnh Long lại mộ được 690 người, lập thêm 41 ấp nữa, nhưng tài liệu này cũng không nói rõ số ấp được lập trên hai cù lao Bảo và Minh là bao nhiêu. Chính vì việc khai phá được mở rộng dẫn đến việc hình thành thêm nhiều thôn ấp, cho nên vào năm 1808, tổng Tân An (tức Bến Tre ngày nay) được nâng lên thành huyện, gồm hai tổng: tổng An Bảo nằm trên cù lao Bảo có 63 thôn và tổng Tân Minh nằm trên cù lao Minh có 72 thôn. Đến đời Minh Mạng (năm 1823), huyện Tân An lại được nâng lên thành phủ, mang tên phủ Hoằng An. Các tổng Tân Minh, An Bảo được nâng lên thành huyện Tân Minh và huyện Bảo An.

Sự mở rộng công cuộc khai phá luôn luôn gắn liền với việc dân số gia tăng, dân số càng đông tất yếu dẫn đến qui mô khai phá càng được mở rộng. Theo những số liệu thống kê vào đầu thời Pháp thuộc, thì vào năm 1859, Bến Tre đã có khoảng 110.000 dân (9). Đến năm 1869, khi vùng đất Bến Tre đã lọt vào tay quân Pháp, thì dân số vùng này đã lên tới 156.704 người (9).

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Bến Tre đã là một trong những nơi được khai phá nhiều nhất trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XIX, trước khi Bến Tre lọt vào tay quân Pháp, diện tích đất trồng trọt trên hai cù lao Bảo và Minh đã lên đến 88.522 mẫu, tức khoảng 44.200 ha.

Tư liệu lịch sử cho biết, trên những đất đai đã khai phá được, người nông dân - lưu dân Bến Tre đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai mỗi nơi, trong đó cây lúa là loại cây trồng chính. Thoạt tiên, họ làm ruộng lúa ở chân các giồng nơi cư trú, rồi về sau theo đà gia tăng dân số, họ mở rộng diện tích canh tác lúa đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là "sơn điền" (ruộng núi), còn ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là "thảo điền" (ruộng cỏ). Trên hai loại chủ yếu đó người nông dân - lưu dân Bến Tre, cũng giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định, đã áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.

Cau Mỹ Lồng khá nổi tiếng, được Trịnh Hoài Đức nhắc đến: “Có những vườn cau đứng rậm như rừng, quả lớn lại sai" (10). Trong khi đó, vùng Cái Mơn lại tập trung nhiều vườn cây ăn quả. Các nhà truyền giáo đã đưa vào đây nhiều giống cây ăn trái mới lạ, gốc ở một số nước Đông Nam Á như chà là, dừa lùn, sabôchê, chôm chôm...

Cùng với việc khai phá đất đai lập thành ruộng vườn, lưu dân ở Bến Tre cũng phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối nhằm đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Trong số các ngành nghề thủ công ở đây, ngành dệt vải, dệt lụa, dệt chiếu, chế biến thực phẩm phát triển nhất. Từ đầu thế kỷ XIX, Ba Tri đã là nơi nổi tiếng về nghề dệt lụa. Một số địa phương khác như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, Châu Bình thì nổi danh với nghề chế biến thực phẩm: "Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình...".

Sự phát triển mạnh mẽ việc khai hoang sản xuất nông nghiệp và một số ngành nghề thủ công đã đưa tới sự ra đời một mạng lưới chợ búa khá sầm uất làm nơi trao đổi lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công, hàng tiêu dùng giữa các cư dân trong vùng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bến Tre đã có 10 chợ lớn, khá sầm uất, phân bố như sau:

- Huyện Tân Minh có chợ Ba Vát.
- Huyện Duy Minh có chợ Hội An.
- Huyện Bảo Hựu có các chợ Sóc Sãi, An Đức, Mỹ Lồng, Lương Điền.
- Huyện Bảo An có các chợ Bình Hòa, Hưng Thạnh, Hưng Nhượng, An Bình Đông, Vĩnh Đức(11).

Vậy là từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, trong khoảng hai thế kỷ rưỡi - một thời gian lịch sử không dài lắm - mà bộ mặt vùng đất Bến Tre đã thay đổi hẳn: từ một vùng đất hoang vu, xứ sở của rừng rậm, sình lầy, thú dữ, rắn rết, cá sấu... đã trở thành một vùng ruộng vườn tươi tốt. Đó là kết quả của bao mồ hôi, công sức, cả máu và nước mắt của những lưu dân buổi đầu và các thế hệ con cháu tiếp sau của họ. Cho nên chính họ mới là người chủ thực sự đã kiến tạo nên vùng đất trù phú này.

{mospagebreak}Tuy nhiên, một điều nghịch lý đã xảy ra là không phải những người khai phá được tận hưởng toàn bộ thành quả lao động ấy. Ngay những mảnh đất nhỏ nhoi mà họ khai phá được bằng sức đôi bàn tay của mình cũng không phải vĩnh viễn thuộc về họ. Bởi vì như trên đã nói, để mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang ở vùng đất mới, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khuyến khích những người "dân có vật lực" miền Thuận Quảng vào Nam mở mang công việc làm ăn. Những người "dân có vật lực" này sẵn vốn liếng và kinh nghiệm tổ chức, đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, lập thành lực lượng lao động lớn.

Không những thế, theo Lê Quý Đôn, họ còn "thu cả con trai, con gái người Mọi (Thượng) ở các đầu nguồn, đem về làm nô tì, người đen tóc quăn là người Mọi thực giá tiền 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan, cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người cày ruộng, làm nghề nghiệp" (12). Nhờ lực lượng đông đảo ấy, những người “dân có vật lực" đã nhanh chóng khai phá được những diện tích đất đai rộng lớn, trở thành những điền chủ nhiều thế lực. Trong sách Phủ biên tạp lục , Lê Quý Đôn cho biết: "Người giàu ở các địa phương (chỉ vùng Đồng Nai - Gia Định - BS) hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lầy tiền để ăn tết chạp... Bình thường chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa tĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp” (13). Số điền chủ giàu có này trở thành chỗ dựa xã hội của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng về kinh tế, mà còn nắm giữ cả quyền lực chính trị ở địa phương. Chính sách của nhà Nguyễn lại tạo thêm những thuận lợi cho tầng lớp điền chủ nói trên cùng với bọn chức việc làng, xã, tổng, huyện kiêm tính ruộng đất công và ruộng đất của nông dân nghèo, mở rộng điền sản, phát triển thêm một bước chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị khi lên làm vua, đã ban hành chỉ dụ cho phép số phú hào mộ dân khẩn đất và được quyền ưu tiên chiếm giữ những ruộng đất tốt nhất, lại còn ban thưởng tiền bạc, chức tước: "Ai mộ được 5 xuất đinh, khẩn được 50 mẫu trở lên được thưởng 20 quan, mộ được 10 suất đinh, khẩn được 100 mẫu, được thưởng 40 quan... Ngoài ra còn được thưởng hàm tòng cửu phẩm và cho làm lý trưởng. Tùy vào số ruộng và số đinh, việc tặng thưởng có thể nâng lên đến hàm chánh bát phẩm và bổ thụ chánh tổng" (14).

Được sự khuyến khích nâng đỡ của chính quyền họ Nguyễn, tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, tha hồ cấu kết với bọn quan lại địa phương, đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng vườn của những người nông dân nghèo khổ, cô thế. Nhận xét của Trương Đăng Quế khi ông được Minh Mạng biệt phái vào Nam tiến hành việc đo đạc ruộng đất để lập địa bạ (năm 1836) đã nói lên mức độ nghiêm trọng của tình hình này: "Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ ở xã này chiếm ruộng đất ở xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy".

Thủ đoạn kiêm tính của điền chủ và cường hào ở đây không chỉ đụng tới những mảnh đất nhỏ bé của nông dân nghèo, mà còn bao chiếm cả ruộng công làng xã - loại ruộng đất dùng để tạm cấp cho dân làng theo chính sách "quân điền" dù rằng ở Đồng Nai – Gia Định kể cả Bến Tre, số lượng đất này chiếm tỉ lệ ít ỏi. Báo cáo của tỉnh thành Gia Định gửi về triều năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ghi rõ: "Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng đất từ hàng trăm năm, hàng ngàn mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy" (15).

Ở hai huyện Bảo An và Tân Minh (tức cù lao Bảo và cù lao Minh), vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, đã có 21 điền chủ có số ruộng đất trên 100 mẫu, trong khi đó số có từ 30 mẫu trở lên có 705 người.

Còn về phía người nông dân nghèo, thì ngoài việc bị bọn điền chủ cướp đoạt ruộng đất, sau đó với thân phận tá điền (16), họ cày thuê cuốc mướn để kiếm sống, lại còn bị Nhà nước phong kiến bòn rút thông qua thuế khóa hà khắc. Chính quyền phong kiến đặt ra hàng loạt thứ thuế khác nhau: thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế sản vật... Chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai - Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương... Riêng khoản đóng góp này đã khá nặng như Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi" (17). Thêm vào đó, người nông dân còn bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách, nào là phụ thu lạm bổ, nào là đòi hối lộ hoặc bắt phục dịch việc riêng. Ngoài thuế khóa hà khắc, chính quyền phong kiến họ Nguyễn đôi khi còn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân – trước hết là của nông dân nghèo, những người không chút thế lực - để ban cấp cho những kẻ có công trạng trong việc khôi phục và củng cố quyền thống trị của họ.

Chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền phong kiến và tầng lớp điền chủ đã làm cho cuộc sống của người nông dân lao động ở Đồng Nai – Gia Định, trong đó có Bến Tre, nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, khiến ở một nơi nổi tiếng màu mỡ và trù phú, số "cùng dân" lại ngày càng tăng lên. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm Gia Long thứ 18 (1819), đám quan lại ở Gia Định đã phải đề nghị lên triều đình khi lập "Sổ cùng dân" (tức là sổ thống kê số dân nghèo khổ nhất), không nên theo lệ "thập đinh nhất cùng" – tức là tính bình quân cứ 10 người dân có một người cùng khổ – mà phải cho kê khai cụ thể thì mới nắm được số liệu chính xác. Kết quả là trong vòng 1 năm trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (gồm cả Bến Tre) đã bổ sung thêm được 16.155 người. Nếu so sánh với con số "cùng dân" này với tổng số dân đinh ở Gia Định vào thời điểm đó (khoảng 80.000 người) ta sẽ thấy rõ tình trạng phân hóa giai cấp ở đây diễn ra nghiêm trọng đến mức nào.

{mospagebreak}Bị phá sản, phải lâm vào cảnh bần cùng, một bộ phận nông dân nghèo khó lại phải bỏ làng, bỏ quê một lần nữa để đi tìm con đường sống ở một địa phương khác, có khi là để trốn nợ. Thế là tình trạng nông dân "tái lưu tán" lại diễn ra, và mỗi ngày một trầm trọng đến mức năm 1789, sau khi lấy lại Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các nơi chiêu dụ dân lưu tán trở về đất cũ làm ăn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là tập đoàn thống trị phong kiến cùng bọn điền chủ và một bên là nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản gay gắt nhất của xã hội vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, đất Bến Tre nói riêng, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng nổ. Và cơ hội đó đã đến với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.

Mùa xuân năm 1776, sau 5 năm đánh bại phong kiến họ Nguyễn ở vùng Thuận Quảng, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục kéo quân vào tận Gia Định, thừa thắng đánh chiếm luôn cả 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Lần đầu tiên, lá cờ chiến thắng của những người nông dân khởi nghĩa cắm trên đất Gia Định. Cuộc tiến quân thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn vào đất Gia Định lần này chắc chắn không thể thiếu được một yếu tố rất quan trọng là sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân Bến Tre, những người đã từ lâu nung nấu niềm bất mãn đối với chính quyền phong kiến họ Nguyễn.

Tiếp sau lần tiến quân đầu tiên năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn còn liên tiếp 4 lần tiến quân vào Gia Định (tính đến năm 1784), và lần nào cũng được nông dân ở đây hưởng ứng và tích cực giúp đỡ hoặc trực tiếp tham gia.

Sự hưởng ứng và ủng hộ của nông dân Gia Định, đối với nghĩa quân Tây Sơn được thể hiện rõ nét nhất trong trận tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm 1785. Trong trận này, các xã Tân Lợi, Phú Long, Phú Túc, Phú Đức nằm ven bờ nam sông Tiền (nay thuộc huyện Châu Thành) đã được nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chọn làm một trong những địa bàn ém quân cho đòn đánh vu hồi hiểm hóc của trận quyết chiến chiến lược, nhận chìm toàn bộ chiến thuyền với gần 4 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân của Nguyễn Ánh. Ngoài ra, nhân dân vùng ven sông Ba Lai còn ủng hộ, giúp đỡ quân của Trương Văn Đa chống quân Xiêm và quân Nguyễn có hiệu quả.

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, trong đó có sự đóng góp của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi chính sử của nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận rằng sau trận đánh này "người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Cùng với nhân dân Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, nhân dân Bến Tre đã góp phần vinh dự của mình trong chiến thắng lịch sử này, làm thất bại hoàn toàn âm mưu xâm lược nham hiểm của phong kiến Xiêm núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh.

Ngoài việc hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn, nông dân Bến Tre cũng như nông dân toàn vùng Đồng Nai – Gia Định, còn bộc lộ sự bất mãn của mình đối với chính quyền họ Nguyễn qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Bất bình về thái độ đối xử của triều đình nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt cùng tay chân bộ hạ của họ Lê sau khi ông này qua đời, Lê Văn Khôi – con nuôi của Lê Văn Duyệt - đã đứng ra tập hợp những người bất mãn mà phần lớn là binh lính trong các đơn vị quân đội gọi là "hồi lương" và "bắc thuận" nổi dậy chiếm thành Phiên An, chống lại triều đình. Như vậy, cuộc nổi dậy này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn phong kiến, nhưng vì nó chĩa mũi nhọn vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cho nên lập tức nó được sự hưởng ứng rộng rãi và nhiệt tình của đa số nông dân nghèo vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung và Bến Tre nói riêng, những người mà từ lâu ôm ấp trong lòng khát vọng mong muốn có sự đổi thay xã hội để cuộc sống được dễ thở hơn. Tình hình đó khiến cho chỉ trong vòng 1 tháng, lực lượng nổi dậy do Lê Văn Khôi cầm đầu đã làm chủ được cả sáu tỉnh Nam Kỳ, làm lung lay trong một thời gian các cơ đồ thống trị vốn đã mục nát của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn.

Sự hưởng ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm và bè lũ bán nước Nguyễn Ánh và cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Bến Tre, mà trước hết là nông dân. Tinh thần chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm bảo vệ quyền sống, bảo vệ quê hương đất nước diễn ra khá mạnh mẽ ngay trong quá trình chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn khai phá đất đai, sản xuất để tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới.

Chú thích:

(1) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 243.
(2) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản chữ Hán, tờ 31b.
(3) Monographie de la province de Mỹ Tho, Sđd.
(4) J.Sien, Géographie universele, Dẫn theo Ngọc Dương, Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, S, 1960, tr.45.
(5) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.4
(6) QSQTN, Đại nam thực lục, tập 28, Nxb Khoa học, H., tr.47
(7) Lê Thọ Xuân, Xin cung hiến một ít tài liệu về cụ Nguyễn Trung Trực, tập san Sử địa, số 12 (1968), tr. 58
(8) Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 35
(9) Renseidnements sur l’organisation de la province de Vĩnh Long d’après Les cahiers des villages et les documents trouvés dans les archives, 1867, Tlđd.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.78
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 134-140
(12) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 135
(13) Lê Quý Đôn, Sđd, tr.345
(14) QSQTN, Đại Nam thực lục, Sđd, tập 23, tr. 288
(15) Mức tô mà tá điền phải đóng cho điền chủ thường là từ 60-70% sản lượng thu hoạch
(16) Lê Quý Đôn, Sđd, tr 216-217
(17) QSQTN, Minh Mệnh chính yếu, tập 3, Sđd, tr 90 

Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
&nbsp;

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Các loại cây trồngCác loại cây trồng
Trong vòng ba thế kỷ, kể từ khi những lưu dân người Việt đầu tiên đến định cư, đặt những nhát cuốc khai phá đầu tiên vùng đất hoang vu của phía nam Tổ quốc cho đến ngày hôm nay đã có những biến đổi kỳ diệu. Trong phạm vi tỉnh Bến Tre mà xét, nếu đem đối chiếu với những điều đã được miêu tả về thiên nhiên nơi đây cách nay vài ba thế kỷ trong các thư tịch cổ, thì rõ ràng là cảnh quan đã có những đổi thay rất to lớn
Image

 Trong vòng ba thế kỷ, kể từ khi những lưu dân người Việt đầu tiên đến định cư, đặt những nhát cuốc khai phá đầu tiên vùng đất hoang vu của phía nam Tổ quốc cho đến ngày hôm nay đã có những biến đổi kỳ diệu. Trong phạm vi tỉnh Bến Tre mà xét, nếu đem đối chiếu với những điều đã được miêu tả về thiên nhiên nơi đây cách nay vài ba thế kỷ trong các thư tịch cổ, thì rõ ràng là cảnh quan đã có những đổi thay rất to lớn. Sức lao động, trí tuệ của con người và khả năng thích nghi với môi trường mới đã biến rừng hoang, đầm lầy, vùng nê địa thành ruộng vườn trù phú, thành làng mạc, phố xá đông đúc, văn minh.

Những lưu dân đầu tiên đặt chân đến đây, dù bằng đường bộ hay đường thủy, trước hết họ phải nghĩ đến cái ăn, nghĩa là phải sản xuất ra lương thực để nuôi mình. Có thể lúc đầu, con người bắt buộc phải chú ý đến một vài thứ hoa màu ngắn ngày để giải quyết những nhu cầu trước mắt nhằm "lấy ngắn nuôi dài", như cây lúa nước – cây lương thực truyền thống, chủ lực của cư dân Việt Nam - vẫn được chú ý hàng đầu. Đất mới phương Nam cùng khí hậu thuận hoà với hai mùa mưa nắng đã trở thành mảnh đất lý tưởng cho sự tăng trưởng của loại cây lương thực chủ lực này.

Đã ban hành
Địa hìnhĐịa hình
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m. Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5 m, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn bề đều có sông nước bao bọc. Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: An Hóa, Bảo và Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ. Hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sông lớn, không chỉ thuận cho giao thông thủy, mà còn tạo nên nguồn tài nguyên nước dồi dào quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Đôn NhơnĐôn Nhơn
&nbsp;
Quận thành lập theo Nghị định số 209-NV của Tổng thống VNCH ngày 7-3-1963, thuộc tỉnh Kiến Hòa, gồm có 3 tổng (Minh Lý, Minh Thiện, Minh Thuận) và 9 xã. Quận lỵ đặt tại Ba Vát.
Đã ban hành
Đồng Văn CốngĐồng Văn Cống
&nbsp;

Image
Đồng Văn Cống
    Sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân, tham gia phong trào cách mạng từ năm 1936, vào ĐCSĐD năm 1939. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương.

   Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay.

   Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp.

   Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ.

   Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ.

   Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958).

   Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam.

   Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9. Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam. Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8. Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

   Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, làm Tư lệnh phó quân khu 7. Năm 1981, làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng.

  Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, đồng chí Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Đồng chí không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng LLVT trong KKCP và KCCM. Đồng chí đã được tặng thưởng 18 huân chương các loại, trong đó có phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh.

Đã ban hành
Đạo Tin LànhĐạo Tin Lành
&nbsp;

Đạo Tin Lành nhập vào Bến Tre năm 1925 do Nguyễn Châu Thông, mục sư của nhà thờ Tin lành tại thị xã Mỹ Tho truyền đến. Lúc đầu, Nguyễn Châu Thông mướn hai căn nhà của tư nhân tại đường Phan Ngọc Tòng ở thị xã Bến Tre làm nơi giảng đạo, cho đến năm 1957 mới xây dựng nhà giảng kiên cố tại phường I, thị xã Bến Tre.

Cũng trong thời gian này (1925-1957), một số chi hội khác được lập ở Tiên Thủy, Tân Thạch (huyện Châu Thành) và thị trấn Mỏ Cày. Từ năm 1957, chi hội tin lành Bến Tre tách khỏi chi hội Mỹ Tho và trực thuộc tổng Liên hội Miền Tây. Từ lúc truyền vào Bến Tre đến năm 1995, đạo tin lành chỉ có một phái là "Phúc âm liên hiệp" tức "Hội liên hiệp cơ đốc và truyền giáo Bắc Mỹ" (The Christian and Missionnary Alliance) gọi tắt là CMA, là tổ chức Tổng hội Tin lành Việt Nam. Đạo Tin Lành ở Bến Tre không có hệ thống tổ chức từ tỉnh xuống các xã như các tôn giáo khác. Nhà thờ Tin lành thường được gọi là "nhà giảng", tín đồ đến nghe mục sư giảng và hát thánh ca là chủ yếu, sau đó ra về.

Toàn tỉnh có 12 nhà giảng. Từ năm 1925 đến nay có 14 mục sư (hiện nay có 1 mục sư) và 12 thầy phụ giảng với khoảng 451 tín đồ. So với đạo Thiên Chúa, thì số lượng tín đồ của đạo Tin Lành trong tỉnh chỉ bằng 1/16 lần. Đại bộ phận tín đồ là công chức, binh lính của chế độ cũ, tiểu chủ, tiểu thương, một số ít thuộc tầng lớp phú nông, số còn lại thuộc thành phần lao động. Đội ngũ mục sư truyền đạo đa số thuộc loại trẻ, khoảng tuổi 40 trở lui, có trình độ học vấn khá, được đào tạo công phu ở các trường của giáo hội. Cũng có mục sư tốt nghiệp cử nhân Anh văn và cử nhân Thần học.

Đạo Tin Lành ở Bến Tre phát triển mạnh dưới thời thực dân mới, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý, việc đi lại khó khăn và do phong trào cách mạng ở đây cao, cho nên đạo Tin Lành không có điều kiện phát triển sâu trong nông thôn được.

Sau ngày giải phóng, một số tín đồ tỏ ra nhạt đạo, giảm nhịp độ cầu kinh, đi nhà giảng, như trường hợp ở Mỏ Cày. Trước 1979, số tín đồ ở thị trấn này có 300 người, nay giảm xuống còn 33. Cùng với việc tuyên truyền về đạo lý, củng cố đức tin cho tín đồ, các mục sư Tin lành cũng rất quan tâm đến những hoạt động xã hội, công tác từ thiện, phát triển các đoàn văn nghệ để tập hợp lực lượng thanh thiếu nhi. Từ năm 1976 về sau, ở một số huyện và thị xã Bến Tre bắt đầu có các phái Tin lành "Cơ đốc phục lâm","Phúc âm ngũ tuần" Jéhovah’s, bằng nhiều hình thức truyền đạo trái phép vào đồng bào ở một vài vùng sâu của tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)
&nbsp;

 Trần Văn Kiết sinh năm 1911 trong một gia đình giàu có ở thị xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Cha ông tên là Trần Phương Danh - thường gọi là hương chủ Danh - một điền chủ có hàng trăm mẫu ruộng (2), nhưng là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Chính gia đình ông Danh là cơ sở đi về, hội họp, móc nối cán bộ, gây dựng phong trào cách mạng ở địa phương trong thời kỳ bí mật vào những năm 1930 – 1931. Đặng Văn Quang, một người bạn thân với Trần Văn Kiết, sau này có lúc làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, đã kể lại rằng trong thời kỳ bí mật, ông đã về tá túc tại ngay nhà ông hương chủ Danh để gây dựng phong trào ở huyện Chợ Lách.

   Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường thị xã Vĩnh Long, Trần Văn Kiết được cha gửi lên Sài Gòn học tiếp ở Trường Chasseloup Laubat, cùng một lớp với Trần Văn Giàu. Sau đó, ông sang Pháp tiếp tục học lên cấp III, rồi thi vào đại học tại Toulouse.

   Vốn thông minh lại hiếu học, nên từ cấp I đến cấp III, cũng như ở đại học, ông luôn luôn tỏ ra là một học sinh xuất sắc. Điều kiện và hoàn cảnh cộng với tư chất thông minh sẵn có, ông có thể dễ dàng đạt được một cuộc sống tương lai hạnh phúc không mấy khó khăn; hoặc học hành đỗ đạt rồi tìm một việc làm ở Pháp, sống đời ung dung của một công chức trí thức, hoặc trở về nước làm quan tay sai cho thực dân với nhiều bổng lộc. Thế nhưng, Trần Văn Kiết đã chọn một hướng đi khác. Cuộc sống lầm than của đồng bào quê hương mà ông đã từng chứng kiến, đã gợi lên trong ông nhiều điều suy nghĩ về dân tộc, về đất nước. Khi còn là học sinh ở quê nhà, ông cũng đã từng tham gia phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh tại Sài Gòn. Sống ở Pháp, ông càng thấm thía nỗi nhục của người dân nô lệ.

   Năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đã đàn áp một cách dã man. Lúc ấy, Trần Văn Kiết đang học ở Toulouse. Cùng với bà con Việt kiều ở đây, ông tham gia biểu tình, nêu yêu sách đòi nhà cầm quyền Pháp phải ngưng ngay cuộc đàn áp. Cùng năm ấy, ông gia nhập ĐCS Pháp tại đảng bộ Toulouse. Sống trên đất Pháp, tham gia hoạt động trong ĐCS, có điều kiện tiếp xúc với những nhân vật chính trị cấp tiến, những học giả có uy tín, cùng những sách báo của chủ nghĩa Mác, Trần Văn Kiết dần dần nhận thức được rằng muốn giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô lệ, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Ông thấy cần phải sang Liên Xô để tìm hiểu và học tập thêm, sau đó mới trở về giúp nước có hiệu quả. Được sự giúp đỡ của ĐCS Pháp, ông đã đến quê hương của Cách mạng tháng Mười, vào học tại Trường Đại học Phương Đông tại Matxcơva, nơi các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong đã từng học.

   Sau khi tốt nghiệp, năm 1938, từ Matxcơva ông theo đường bí mật, về thẳng Sài Gòn. Tại đây, ông bắt liên lạc với Trung ương Đảng, lúc bấy giờ đóng tại Hóc Môn, và được giới thiệu bổ sung vào ban biên tập báo Dân chúng, tờ báo công khai, hợp pháp của Đảng lúc bấy giờ. Khi Dương Bạch Mai bị bắt, thì ông được trên chỉ thị thay ông Mai phụ trách cả hai tờ Le Peuple Dân chúng (3). Mặc dù sức khỏe kém, nhưng ông đã làm việc không biết mệt mỏi, vừa giải quyết công việc hàng ngày của hai tờ báo, vừa đối phó với nhà cầm quyền, vừa tổ chức những lớp huấn luyện để trang bị kiến thức về chủ nghĩa cộng sản cho anh chị em cán bộ.

   Ngày 7-3-1939, bọn mật thám Pháp ập vào khám xét tòa soạn. Mặc dù không tìm ra chứng cứ phạm pháp nào, chúng cũng bắt ông cùng với Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Trấn…

   Trong phiên tòa của thực dân lần ấy, đồng bào Sài Gòn đã có dịp chứng kiến thái độ đường hoàng, hiên ngang của một số bị cáo là những đảng viên Cộng sản, đặc biệt người ta tập trung chú ý đến một thanh niên đẹp trai hơi gầy, đứng trước vành móng ngựa nói tiếng Pháp rất sõi theo giọng Paris, bằng lập luận đanh thép, dõng dạc bác bỏ từng lời buộc tội trong bản cáo trạng của tên biện lý người Pháp. Có thể nói công chúng dự phiên tòa hôm ấy đã bị con người ấy chinh phục. Người thanh niên đứng trước vành móng ngựa đó chính là Trần Văn Kiết. Tên chánh án tòa án đã phải nhiều lần rung chuông, cắt đứt những lời tự bào chữa của ông, và cuối cùng chúng kết án bừa Trần Văn Kiết một năm tù giam.

   Trong khi bị giam trong Khám Lớn Sài Gòn, thì chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra, bọn thực dân Pháp chuyển số chính trị phạm đi an trí ở “căng” Tà Lài, trong số đó có Trần Văn Kiết. Tại đây, ông được các đồng chí tín nhiệm bầu vào ban lãnh đạo của trại cùng với Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông…

   Năm 1941, do biến chuyển của tình hình bên ngoài thôi thúc, ban lãnh đạo trại chủ trương tổ chức cho một số đồng chí vượt ngục ra hoạt động bên ngoài, Trần Văn Kiết vượt ngục về Sài Gòn, móc nối lại được cơ sở cũ, hoạt động một thời gian, thì đầu năm 1943 lại bị địch bắt tại Chợ Lớn.

   Theo lời kể lại của một số đồng chí cũ, Thanh tra mật thám Bazin, khi nghe tin ông bị bắt trở lại, đã không giấu được nỗi vui mừng khoái trá. Sau những thủ đoạn mua chuộc và dụ dỗ cùng những đòn tra tấn dã man, kẻ địch không moi được ở ông một lời khai nào có giá trị. Biết không thể lay chuyển được ý chí của người trí thức thuộc tầng lớp trên đã giác ngộ lý tưởng cộng sản, chúng đã đưa ông đi thủ tiêu một cách hèn hạ. Lúc ấy ông mới 32 tuổi và cũng chưa lập gia đình riêng.

  Trần Văn Kiết đã hy sinh cả hạnh phúc cá nhân để cống hiến trọn vẹn đời mình cho cách mạng. Ông là một tấm gương sáng của một trí thức yêu nước, một người cộng sản chân chính. Trong tập hồi ký Chúng tôi làm báo (Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1985), Nguyễn Văn Trấn, một đồng chí đã từng hoạt động với ông trong những ngày làm báo Dân chúng, đã nhắc đến Trần Văn Kiết với tất cả tấm lòng trân trọng: “Viết đến đây, tôi xin mặc niệm một đồng chí, một người thầy quý mến của chúng tôi”.

(1) Viết theo tài liệu của đồng chí Nguyễn Trí Ảnh, lưu trữ ở Ban NCLSĐ tỉnh Bến Tre.
(2)
Một mẫu ruộng ở chợ Lách, giá trị bằng ba, bốn mẫu ruộng ở vùng đất chua mặn.
(3)
Hai tờ báo Dân chúng (tiếng Việt) và Le Peuple (tiếng Pháp) có cùng một nội dung, cùng xuất bản một lúc. "Le Peuple" dịch ra tiếng Việt có nghĩa là "Dân chúng".

Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Văn họcVăn học
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...
Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...

Tỉnh đã có chủ trương nhanh chóng chuyển những hoạt động văn học nghệ thuật từ thời chiến sang thời bình, phục vụ sát sườn những nhiệm vụ chính trị của thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Hoạt động của Phân hội Văn nghệ Đồ Chiểu trong vài năm đầu sau giải phóng còn gắn chặt với những hoạt động của ngành Văn hóa – Thông tin. Từ khi có quyết định thành lập Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu của UBND tỉnh, những hoạt động văn nghệ dần dần tách riêng ra thành hoạt động của một hội chuyên ngành độc lập.

Đại hội Văn nghệ của tỉnh lần thứ II (7-1989) đã khẳng định vị trí của văn học là bộ môn chủ chốt của hoạt động văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã tập trung sức để phát triển bộ môn văn học của tỉnh nhà.

Đến Đại hội Văn nghệ tỉnh lần thứ III (1999), số hội viên của Phân hội văn học từ 30 người (trong đại hội lần thứ II) đã tăng lên 90 người. Năm 1994, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu đã thành lập Hội Thơ Đường luật lấy tên là "Bạch Mai thi hội" gồm 150 hội viên và một câu lạc bộ riêng.

Cơ quan của Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu là tập san "Văn Nghệ Bến Tre", xuất bản định kỳ thay cho những tập Văn nghệ Bến Tre xuất bản theo từng chuyên đề ra đời trước đó. Tập san là tờ báo riêng của giới sáng tác phê bình văn học nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa, sân khấu, lý luận phê bình...) và những người yêu thích văn nghệ trong tỉnh, cùng một số cộng tác viên ngoài tỉnh. Bên cạnh thế hệ những cây bút thời chống Mỹ như: Đoàn Tứ, Chim Trắng, Trang Thế Hy, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Trung Điền, Nguyễn Hồ, Huỳnh Năm Thông, Phan Thảo, Kim Tinh, Lê Dân, Lê Hồng Phương, Trần Ký, Thu Nguyễn, Nguyễn Phước..., một thế hệ những cây bút trẻ sau 1975 xuất hiện ngày một đông đảo trên các tập san và các báo chí khác của địa phương. Trong số đó, nổi lên một số cây bút như: Lê Hoàng Dũng, Thanh Vũ, Kim Ba, Vũ Hồng, Hồ Trường, Nguyễn Chí Bền, Lê Xuân Đoàn, Nguyên Tùng, Phạm Thị Ngọc Diệp.

Nếu như đội ngũ cầm bút trưởng thành từ trong chiến tranh có vốn sống và sự từng trải, vững vàng về chính trị và có tay nghề nhất định, thì thế hệ những cây bút trẻ sau này, tuy có những hạn chế về kinh nghiệm và vốn sống, nhưng sự hiện diện của lực lượng đông đảo này đã làm cho bộ mặt văn học tỉnh mang những nét đa dạng, phong phú của đời sống với những ước mơ, suy tư giàu nhiệt tình, khỏe khoắn và trẻ trung, khát khao cái mới.

Ngoài tập san Văn Nghệ Bến Tre của Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, còn phải kể đến tập san "Văn hóa Văn nghệ" của Ty Văn hóa - Thông tin, về sau là Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), xuất bản không định kỳ và một số tập san của các cơ quan đoàn thể trong tỉnh như tờ Công an Bến Tre, Tuổi trẻ Bến Tre, Tư pháp, Sức khỏe, Ngân hàng, Dân số, Vì trẻ em... Các tờ báo ra không định kỳ này, ngoài phần dành cho chuyên ngành vẫn để một số trang riêng đăng tải các sáng tác văn nghệ mới nhất.

Công tác bồi dưỡng đội ngũ, đào tạo cán bộ cho ngành cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Ngoài việc phát hiện những tài năng mới để gởi đi đào tạo ở các trường lớp chính quy theo chính sách, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã phối hợp cùng với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, một số tỉnh lân cận như Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Sở Văn hóa – Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch)​, tổ chức những trại bồi dưỡng, những cuộc thi sáng tác, những lớp tập huấn về chính trị và nghiệp vụ để nâng cao tay nghề cùng quan điểm, lập trường của người cầm bút. Nhờ vậy, đội ngũ làm công tác văn học nghệ thuật Bến Tre, từ điểm xuất phát ban đầu vừa mỏng vừa yếu, đến nay đã có một lực lượng tương đối đông đảo. Nhiều hội chuyên ngành như Hội Âm nhạc, Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Mỹ thuật, lần lượt ra đời. Nhiều cây bút trưởng thành nhanh, đặc biệt sự hình thành một lực lượng viết trẻ giàu nhiệt tình, xông xáo, có kiến thức văn hóa, có trình độ lý luận nhất định về nghề nghiệp.

Cũng cần phải kể đến một số tác phẩm đã xuất bản trong cùng thời gian này của những cây bút quê Bến Tre hoạt động văn nghệ ở ngoài tỉnh như Chim Trắng, Bùi Ngọc Trung, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Hồ, Nguyễn Trọng Tín, Nguyễn Trọng Nghĩa, Nguyễn Bá, Trầm Hương.. Đó là các tập thơ Những ngả đường và Dấu vết nhỏ nhoi của Chim Trắng. Anh tham gia kháng chiến tại quê hương và bắt đầu làm thơ từ những năm chống Mỹ. Thơ Chim Trắng từ lâu đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trong tỉnh. Tập Những ngả đường của anh đã được giải thưởng văn thơ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là Tập truyệnMưa ấm và Vết thương thứ 13 của Trang Thế Hy, ông hoạt động văn học từ trong kháng chiến chống Pháp đến sau 1954, có một thời gian hoạt động văn nghệ, báo chí ở nội thành Sài Gòn, Trang Thế Hy là một cây bút chuyên về truyện ngắn. ngoài những tác phẩm kể trên, anh còn có các tập truyện Nắng đẹp miền quê ngoại, Người yêu và mùa thu, tập truyện Anh Thơm râu rồng, Tiếng khóc và tiếng hát...

 Đó là Giữa lòng thành phố (truyện ký), Vùng tranh chấp (tiểu thuyết),Bông súng đỏ (tập truyện), Cô biệt động (tập truyện), Dòng sông nước mắt (tiểu thuyết) của Thanh Giang.

Đó là Lá cờ Ấp Bắc (ký), Trên vành đai Bình Đức (ký), Khi người con gáiNam Bộ cầm súng  (truyện) của Võ Trần Nhã.

Ngoài ra, còn có những tập truyện như Chuyện tình ngày xưa  (của Đoàn Tứ), Làng nhỏ bên Hàm Luông (của Lê Tâm), Tiếng chuông trôi trên sông (của Vũ Hồng), Thập khúc (của Nguyên Tùng); tập thơ Trăng hoàng hôn (của Kim Ba), Hạt muối nhỏ (thơ thiếu nhi của nhiều tác giả), Tuyển tập thơ Bến Tre 1945-2000, Tuyển tập văn 1945-2000...

Về kịch bản sân khấu có Quê hương và mẹ (của Vĩnh Xuân), Hào quang và bóng tối (của Lê Huỳnh, Hoàng Dũng và Huy Lam), Ánh đuốc êm xuân  (của Ngô Mạn), Rừng ông Gốc (của Huỳnh Thị Đằng), Cay đắng tình đời, Quê hương và ánh lửa (của Vĩnh Xuân và Huỳnh Thị Đằng)...

Nhìn chung, qua chặng đường phát triển của văn nghệ Bến Tre trong những năm qua, hai đề tài chủ yếu vẫn là: đề tài về chiến tranh, hay nói rộng ra là đề tài truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân trong tỉnh nổi bật lên đề tài về Đồng Khởi của những năm đầu thập kỷ 60 và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, đọc những trang viết về thời kỳ này từ hồi ký, truyện ngắn, thơ, kịch bản như Không có con đường nào khác, Ngọn lửa thần kỳ, Những ngày Đồng khởi, Từ trong gian khổ đứng lên, Đội quân tóc dài, Bên bờ Hàm Luông, Mặt trời đêm, Tiếng hát trái tim...  độc giả mới cảm nhận được vẻ đẹp của những con người bình dị, giàu lòng yêu quê hương đất nước, không chịu sống quỳ, sống nhục, dám đứng lên thay đổi vận mệnh của mình.

Những sáng tác về đề tài chiến tranh từ sau ngày giải phóng của các cây bút ở Bến Tre đã có một bước tiến khá rõ so với những truyện ký, những tập sách “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ" xuất bản trong thời kỳ chống Mỹ về cả hai phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.

Về đề tài Đồng khởi, có lẽ đáng chú ý nhất là quyển Dòng sông nước mắt  của Thanh Giang (NXB Tác phẩm mới,1989). Cho đến nay, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về phong trào Đồng khởi ở Bến Tre và cũng cả ở miền Nam. Chủ đề chính toát lên từ gần 300 trang sách của Dòng sông nước mắt  không nhằm tô đậm tội ác dã man của kẻ thù qua chính sách tố cộng, diệt cộng đẫm máu của một vùng quê, mà nhằm chứng minh một chân lý: "Dân là gốc". Thông qua số phận của hàng loạt nhân vật với những tình huống nghiệt ngã, đau thương tột cùng, tác giả muốn nói với người đọc rằng: "Không có dân, thì không thể có Đồng khởi được”. Về phương diện này, có thể nói tác giả đã đạt được thành công nhất định.

Đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã được nhiều cây bút chú ý. Có thể kể tới "Những giọt nước mắt" của Võ Trần Nhã, “Ở tập đoàn chợ Xép"của Nguyên Tùng viết về các điển hình trong nông nghiệp“Người tập đoàn trưởng" của Đoàn Tứ, “Đất nhà" của Lê Hồng Phương, "Nước chảy qua cây dừa quý"  của Trường Thanh tập trung biểu dương những hạt nhân tiêu biểu của làng xóm Bến Tre đang chuyển mình theo cung cách làm ăn mới.

Công tác lý luận, phê bình, sưu tầm nghiên cứu vốn văn học cổ đã được những người lãnh đạo văn nghệ ở Bến Tre quan tâm khá sớm. Hầu như những sáng tác của các cây bút trong tỉnh đều được giới thiệu, phê bình đều đặn trên các báo chí của địa phương, nhất là trên tờ Văn nghệ Bến Tre.

Công tác sưu tầm, nghiên cứu vốn văn học cổ của tỉnh được xúc tiến mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngành Văn hóa – Thông tin, Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu và Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy cùng phối hợp với Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre tổ chức những cuộc điều tra, khảo sát tìm hiểu ảnh hưởng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong nhân dân, kết hợp với việc sưu tầm vốn văn học Hán Nôm, văn học dân gian trên nhiều địa bàn trong tỉnh. Những kết quả thu được từ nơi quê hương thứ hai của Cụ Đồ đã góp phần có ý nghĩa cho việc xuất bản cuốn "Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời" (Ty VHTT Bến Tre,1983 ).

Năm 1982, tỉnh đã tổ chức hội nghị khoa học có tính chất cả nước về Nguyễn Đình Chiểu với sự phối hợp với hai tỉnh bạn Đồng Nai, Long An và Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ. Tham dự hội nghị có các đơn vị: Viện Văn học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tổng hợp và Sư phạm Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị được đánh dấu bằng tập Kỷ yếu khoa học với tựa đề "Nguyễn Đình Chiểu" gồm 91 bài viết chọn lọc trong số 106 tham luận từ các nơi gởi về. Có thể nói đó là một cuộc hội nghị khoa học về nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX lớn nhất từ trước đến nay.

Cùng với việc nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, việc điều tra xác minh về nguồn gốc quê quán, gia phả cùng những sáng tác của nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị cũng là một việc làm có ý nghĩa. Việc làm này đã góp phần đính chính những điều sai sót từng bị lặp đi lặp lại về nhà thơ (người sau trích dẫn cái sai của người đi trước và cứ thế...) trên nhiều công trình xuất bản trước đây như "Lược sử tác gia Việt Nam", "Từ điển văn học" và cả trên nhiều cuốn sách giáo khoa đã xuất bản từ 1989 về trước. Ngoài những số đặc san kỷ niệm về Phan Văn Trị, Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre còn cho xuất bản cuốn "Phan Văn Trị - quê hương, con người và tác phẩm" của Nguyễn Văn Châu.

Về việc sưu tầm và nghiên cứu vốn văn nghệ dân gian của tỉnh trước hết phải kể đến cuốn "Dân ca Bến Tre" ( Sở VHTT Bến Tre, 1989 ) của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang, và cuốn "Văn học dân gian Bến Tre"( NXB KHXH, 1988) do Nguyễn Phương Thảo và Hoàng Thị Bích Liên sưu tập và giới thiệu. Ở tập thứ nhất, các tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ các thể loại dân ca Bến Tre, hình thức và môi trường diễn xướng, cùng cấu trúc nghệ thuật của từng làn điệu. Đây là một trong những công trình biên soạn về dân ca của một địa phương thuộc loại sớm ở Nam Bộ, mở đầu cho việc xuất bản một loạt tập dân ca của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong những năm sau đó. Cuốn thứ hai, "Văn học dân gian Bến Tre", là một công trình được tiến hành trong gần 10 năm trời, bao gồm việc sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp lại một cách hệ thống, kèm theo phần phân tích, đánh giá của các tác giả nói trên. Có thể nói hai tập sách trên đã bổ sung cho nhau, tạo nên những đường nét cơ bản về diện mạo văn nghệ dân gian vốn rất phong phú của vùng đất ba dải cù lao này.

Nói đến thành tựu của chặng đường phát triển văn học của tỉnh từ sau ngày giải phóng đến nay, không thể không đề cập đến việc tạo nên một công chúng văn học mới. Đương nhiên, ngay từ trong kháng chiến gian khổ, một công chúng văn nghệ mới cũng đã dần dần hình thành song song với sự nghiệp xây dựng nền văn nghệ cách mạng buổi đầu. Quần chúng không chỉ đóng vai trò của người thưởng thức mà còn tham gia sáng tác văn nghệ. Nhưng phải nói rằng, chỉ từ sau ngày giải phóng, chúng ta mới có đầy đủ điều kiện để tạo nên một công chúng văn học mới nói riêng và văn nghệ nói chung.​

Đã ban hành
Du Lịch Xuồng Chèo Bến TreDu Lịch Xuồng Chèo Bến Tre
Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Về với vùng đất có nhiều sông rạch chằng chịt, du khách sẽ được đi xuồng chèo trong rạch nhỏ mà hai bên bờ là những rặng dừa nước, còn bên trên vô vàn vườn cây ăn trái. Phương tiện nầy đã có từ lâu nhưng mới được đưa vào du lịch trong thời gian gần đây, đã tạo được ấn tượng trong lòng du khách khi về với miền Tây sông nước. Cách thức vận chuyển rất đơn giản với phương tiện thô sơ nhưng lại mang nhiều cảm xúc mới lạ; một xuồng có bốn khách cùng với người chèo. Đặc điểm của xuồng chèo là  người chèo cũng là người giữ lái để cho xuồng đi đúng hướng; người đứng chèo đòi hỏi phải có kỹ năng và sức khỏe dẽo dai để duy trì xuồng đi đều mà không kiệt sức; xuồng lướt nhẹ theo nhịp chèo, đưa chúng ta ngắm nhìn cảnh vật từ từ hiện ra. Chính cảm giác chầm chậm đó giúp du khách có giây phút lắng đọng, thả hồn theo sóng nước ti tách làm cho ta quên đi những gì cực nhọc hay buồn phiền trong cuộc sống hối hả ngày nay.

Chúng ta có cảm giác thư thái với bầu không khí trong lành yên tĩnh ở một vùng quê an bình. Đôi khi bắt gặp những điệu hò quen thuộc phát từ chiếc radio, làm gợi nhớ đến những ký ức tuổi thơ, ngày nào được bà ru trên võng hay một chuyến nghỉ hè về vùng quê ngoại được nô đùa tắm sông cùng các bạn. Tiếng mái chèo khua nhẹ trong làn nước mát, một câu hò bất chợt của cô gái chèo xuồng trong bộ bà ba mộc mạc tạo ấn tượng khó quên trong lòng du khách. Thật vậy, người Bến Tre hiền hòa, hiếu khách bao đời cùng với cái mộc mạc quê mùa đã tạo nên nhiều vẽ đẹp tiềm ẩn đã làm cho biết bao người vương vấn mà ít nơi nào có được.

Điều thú vị nữa là du khách có thể học bơi xuồng theo sự hướng dẫn nhiệt tình của cô chèo đò; một công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng thật sự không giản đơn để chèo chiếc xuồng đi đúng hướng. Những câu chuyện trò ngắn ngủi với cô gái chèo đò cũng làm tăng thêm hương vị miền Tây quê tôi, để lại nhiều cảm nhận sâu sắc trong lòng du khách. Ngoài ra, chúng ta còn chụp được những bức ảnh tuyệt đẹp giữa rừng dừa nước xanh bạt ngàn; được thả hồn thư giản theo tiếng rì rào của gió qua những chiếc lá dừa, tiếng tí tách của nước hay hương thơm của bông bần ven bờ.

Dịch vụ xuồng chèo không mới nhưng lại mang nét đặc trưng của sông nước miền Tây; đây là phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân địa phương đã góp phần cho du lịch Bến Tre phong phú trong tour du lịch sinh thái nơi đây khi đã trải nghiệm qua các dịch vụ khác như xe ngựa trên đường quê, uống mật ong, ăn trái cây, nghe đờn ca tài tử Nam bộ và tham quan  các cơ sở làm kẹo dừa, bánh tráng, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa,…. Ôi! thật là thú vị làm sao!.

 

Chèo xuồng trong rạch nhỏ

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
&nbsp;

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1945 - 1946 )Thế kỷ 20 ( 1945 - 1946 )

1945

9 tháng 3, Phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp trên toàn cõi Ðông Dương. Tại Sài Gòn vào lúc 21g20, quân Nhật nổ súng tấn công các đơn vị quân Pháp và hầu như không gặp sự chống cự nào đáng kể. Toàn quyền Ðông Dương và các quan chức thực dân đều bị bắt giam.

17 tháng 4, Nội các Trần Trọng Kim thành lập theo Dụ số 5 của Bảo Ðại. Trước sự có mặt của Cố vấn tối cao Nhật Yokohama, Bảo Ðại ký Dụ số 5, chuẩn y nội các gồm 12 bộ, do Trần Trọng Kim làm Thủ tướng.

Tháng 5, Phong trào Thanh niên tiền phong ra đời đầu tiên tại Sài Gòn, do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm Tổng thư ký, với sự trợ lý của Ngô Tấn Nhơn, Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Văn Thủ... sau đó phát triển nhanh ra các tỉnh ở Nam Kỳ. Trong 3 tháng đầu, số đoàn viên 21 tỉnh ở Nam Kỳ lên đến 1.200.000.

Tháng 7, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại ngã tư Giồng Dầu ra quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa tỉnh do Nguyễn Tẩu phụ trách.

8 Tháng 8, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, tiến quân vào Mãn Châu và Triều Tiên, tiêu diệt đội quân Quan Ðông của Nhật gần 1 triệu người.

14 tháng 8, Bộ chỉ huy quân đội Nhật tại Ðông Dương tuyên bố trao trả Nam Kỳ cho chính phủ Trần Trọng Kim.

15 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Ðồng minh không điều kiện. Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc.

16 tháng 8, Ðại hội Quốc dân được triệu tập ở Tân Trào (Tuyên Quang). Có hơn 60 đại biểu Bắc, Trung, Nam, đại biểu các đảng phái chính trị, các đoàn thể, các dân tộc và các tôn giáo, kiều bào ở nước ngoài tham dự.

Ðại hội tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa và thông quan 10 chính sách lớn của Việt Minh. Ðại hội cũng quy định quốc kỳ, quốc ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

17 tháng 8, XUNK họp hội nghị mở rộng ở Chợ Ðệm. Hội nghị quyết định đưa ÐCS và Mặt trận Việt Minh ra công khai ở Sài Gòn. Từ chiều 18 đến 20, bắt đầu những hình thức ra công khai của ÐCS và Việt Minh.

25 tháng 8, Khởi nghĩa giành chính quyền tại Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Khởi nghĩa kết thúc bằng cuộc biểu tình khổng lồ của 1 triệu quần chúng chào mừng Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ ra mắt.

25 tháng 8, Lúc 17 giờ, lực lượng khởi nghĩa tỉnh đã nhanh chóng chiếm các công sở, tòa án, bưu điện, kho bạc, nhà máy điện, bót cảnh sát...

Tỉnh trưởng Phan Văn Chỉ buộc phải đầu hàng và xin giao toàn bộ chính quyền cho cách mạng.

26 tháng 8, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh ra mắt đồng bào trong một cuộc mít tinh quần chúng lớn tại thị xã.

2 tháng 9, Chính phủ lâm thời VNDCCH làm lễ ra mắt tại quảng trường Ba Ðình, Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Ðộc lập. Tại Sài Gòn hơn 1 triệu đồng bào họp mít tinh tại quảng trường Norodom (nay là đường Lê Duẫn) mừng ngày độc lập.

10 tháng 9 ,Theo quyết định của Chính phủ Trung ương, UBND Nam Bộ được thành lập (gồm 9 thành viên, do Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch, Trần Văn Giàu làm Phó Chủ tịch) để thay thế cho Ủy ban hành chánh lâm thời Nam Bộ.

19 tháng 9, UBHC Nam Bộ ra lời kêu gọi toàn thể đồng bào Nam Bộ bình tĩnh chờ lệnh của chính phủ, đồng thời chuẩn bị đối phó lại âm mưu gây chiến của quân Pháp.

23 tháng 9, Lúc 0 giờ, các toán quân Pháp trong trang phục quân đội Hoàng gia Anh, bất ngờ nổ súng đánh chiếm các công sở trong thành phố.

Buổi sáng, cuộc họp khẩn cấp liên tịch giữa XUNB và UBHC Nam Bộ tại số nhà 269 đường Cây Mai, có sự tham dự của phái viên Trung ương Ðảng và Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt, đã quyết định: Ðiện báo gấp cho Trung ương xin ý kiến, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến.

UBKC Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch và UBKC Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập để chỉ đạo cuộc KCCP.

25 tháng 9 ,Hưởng ứng lới kêu gọi của UBKC Nam Bộ, những cuộc bãi công, bãi thị, bãi khóa diễn ra trong toàn thành phố. Ðồng bào tản cư ra vùng ngoại ô. Sài Gòn không có điện, nước, lương thực.

26 tháng 9 ,Qua đài phát thanh, Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào Nam Bộ anh dũng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

29 tháng 9 ,Phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến được phát động ở thủ đô Hà Nội và ở các tỉnh thành Bắc Bộ và Trung Bộ, sau khi được tin thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Hầu hết các tỉnh đều lập "Phòng Nam Bộ" để ghi tên các chiến sĩ xung phong vào Nam giết giặc.

4 tháng 10 ,Những đội quân tình nguyện Nam tiến từ các địa phương nô nức lên đường vào Nam Bộ chiến đấu.

25 tháng 10 ,Hội nghị toàn cứ của Ðảng bộ Nam Bộ tại Thiên Hộ (huyện Cái Bè, Mỹ Tho) có đại biểu Ban Thường vụ TƯÐCS Hoàng Quốc Việt tham dự. Hội nghị quyết định:

Tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho Sài Gòn và các tỉnh, phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Ông Tôn Ðức Thắng được phụ trách UBKC và chỉ đạo lực lượng vũ trang Nam Bộ.

Giải thể 2 Xứ ủy Tiền phong và Xứ ủy Giải phóng cũ, thành lập một XUNB thống nhất gồm 11 ủy viên.

29 tháng 10 ,Hồ Chủ tịch kêu gọi đồng bào Nam Bộ kháng chiến lần thứ 2 qua đài Tiếng nói Việt Nam và báo Cứu quốc.

5 tháng 11 ,Ðể biểu thị sự ủng hộ đối với cuộc chiến đấu của đồng bào Nam Bộ, "Ngày Nam Bộ kháng chiến" đã được phát động trong cả nước.

25 tháng 11 ,Chính phủ ra quyết định đổi tên Giải phóng quân Việt Nam thành Vệ quốc đoàn (một đoàn thể bảo vệ quốc gia). Trường Quân chính Việt Nam đổi tên thành Trường Cán bộ Việt Nam.

25 tháng 12 ,Nhân dân tỉnh Bến Tre bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên.

1946

Tháng 1, Báo Hy sinh, cơ quan tuyên truyền kháng chiến của tỉnh Bến Tre ra số đầu tiên.

4 tháng 2, Cao ủy Pháp ở Ðông Dương D’Argenlieu lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ, do ủy viên Cộng hòa Pháp ở Ðông Dương làm chủ tịch. Hội đồng tư vấn Nam Kỳ thành lập nhằm phục vụ chủ trương tách Nam Kỳ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, biến thành một "nước cộng hòa tự trị".

6 tháng 2, Tỉnh Bến Tre đổi tên là tỉnh Ðồ Chiểu.

8 tháng 2, Quân Pháp huy động bộ binh, tàu chiến có máy bay yểm trợ đánh chiếm Bến Tre, tỉnh cuối cùng của Nam Bộ.

17 tháng 2, Dương Văn Dương, chỉ huy trưởng chi đội 2 và 3, hy sinh trong trận oanh kích của máy bay địch ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông được chính phủ truy phong hàm Thiếu tướng.

10 tháng 3, Hồ Chủ tịch gửi thư cho đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, giải thích ý nghĩa của hiệp định sơ bộ 6-3-1946, kêu gọi nhân dân đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ.

Tháng 3, Tỉnh ủy Bến Tre cử một đoàn cán bộ quân dân chính đảng dùng thuyền đánh cá, từ Thạnh Phú vượt biển ra gặp TƯÐCS và Bác Hồ để báo cáo về tình hình kháng chiến của tỉnh và xin chi viện cho miền Nam.

18 tháng 4, Từ 18-4, phái đoàn Chính phủ VNDCCH (do Nguyễn Tường Tam dẫn đầu) và phái đoàn Pháp (do Max André dẫn đầu) họp trù bị ở Ðà Lạt để chuẩn bị cho cuộc đàm phán chính thức. Hội nghị kéo dài gần một tháng, rồi đi đến bế tắc.

7 tháng 6, Cuộc đàm phán Việt - Pháp khai mạc tại lâu đài Fontaine - bleau ở ngoại ô Paris. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam do Phạm Văn Ðồng làm trưởng đoàn. Phái đoàn Pháp do Max André làm trưởng đoàn. Dưới sức ép của các thế lực phản động và hiếu chiến, Chính phủ Pháp vẫn giữ nguyên quan điểm từ hội nghị trù bị Ðà Lạt về những vấn đề cơ bản (chế độ chính trị, quan hệ ngoại giao, nước Việt Nam thống nhất...) trong quan hệ Việt - Pháp. Cuộc đàm phán bị bế tắc. Ngày 13-9-1946, phái đoàn Chính phủ Việt Nam lên đường về nước.

14 tháng 9 ,Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Marius Moutet bản "Tạm ước".

23 tháng 10, Hồ Chủ tịch gửi thư cho chiến sĩ và đồng bào miền Nam sau khi Người ở Pháp về nước, trong đó có đoạn: “Một ngày mà tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên".

Tháng 10, Ðơn vị Vệ quốc đoàn đầu tiên của Bến Tre ra đời trên cơ sở thống nhất các LLVT trong tỉnh, lấy tên là chi đội 19.

9 tháng 11, Quốc hội biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước VNDCCH với 204 phiếu tán thành trên tổng số 242 đại biểu.

10 tháng 11, Thủ tướng chính phủ “Nam Kỳ tự trị” Nguyễn Văn Thinh cảm thấy bế tắc, đã treo cổ tự tử bằng sợi dây đồng.

Tháng 11, Cả nước chia thành 12 khu hành chính quân sự. Nam Bộ chia làm 3 khu

Khu 7: Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Gia Ðịnh, Chợ Lớn.

Khu 8: Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Ðéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

Khu 9: Châu Ðốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau.

19 tháng 12 , Toàn quốc bước vào cuộc KCCP xâm lược. Lúc 20 giờ, Ðài tiếng nói Việt Nam truyền đi mệnh lệnh chiến đấu của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp:

Tổ quốc lâm nguy!

Giờ chiến đấu đã đến!

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung Nam Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trân, giết giặc cứu nước.

20 tháng 12, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Đã ban hành
Nhà cổ Đại ĐiềnNhà cổ Đại Điền
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại rằng: Các người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, khi hột bưởi nẩy mầm thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 - 7 năm mới cho trái). Các thợ làm nhà từ lúc còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con, nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể, phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

 

Nằm trên khoảng đất rộng, cao ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết). Nền nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong lót gạch tàu xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió, bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt, đoạn kèo cuối (từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư) được làm rất công phu theo hình long giáng, thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các gian thờ, các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau. Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần bên ngoài dùng để tiếp khách và các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 161007_82.jpg

Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là nơi thờ tự tôn nghiêm - nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc trám đứng và chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới. Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc. Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên chữ, hoa lá, cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng, ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen, hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…).

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp. Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu "văn hóa lá" ( thân, dây các loại cây trái, con vật có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

 161007_83.jpg

Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp với hoa văn cẩn ốc theo các kiểu: hoa văn và chữ, hoa văn trong chữ, chữ trong hoa văn và còn có cả thi - họa (liễn đối là thơ và tranh Nhị Thập Tứ Hiếu).

Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

Nhà ông Hương Liêm không còn được cái dáng vẻ "tươm tất" do thiếu sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên nội thất còn gần như nguyên vẹn, là cả một công trình nghệ thuật của nghề chạm khắc gỗ, không thua kém những ngôi nhà cổ đẹp hiện còn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn 100 năm đã trôi qua, thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ cũ kỹ rêu phong, đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và cần được bảo tồn cho hậu thế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịchCồn Ốc hấp dẫn với khách du lịch và nhà đầu tư du lịch
Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Cồn Ốc thuộc xã Hưng Phong - huyện Giồng Trôm cách thành phố Bến Tre khoảng 12 km đường bộ, là một cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, với diện tích tự nhiên là 647ha, cồn Ốc hấp dẫn bởi những vườn cây ăn trái, khung cảnh thiên nhiên sông nước hữu tình, có một rừng dừa xanh thẳm với một bộ sưu tập các loại dừa phong phú, có nhiều làng nghề truyền thống như: sản xuất thủ công mỹ nghệ dừa, đan giỏ cọng dừa. Cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, là điểm tham quan hấp dẫn du khách thập phương.

Đến cồn Ốc - Hưng Phong, du khách như được tìm về với sự ngọt ngào của đất, của tình người tha thiết như người con xa quê nay được trở về với quê hương yêu mến. Xứ đảo với biết bao vẻ đẹp dịu dàng, như tấm thảm xanh trải dài xuôi theo dòng sông Hàm Luông thơ mộng. Vì vậy, cồn Ốc là một trong những địa danh khơi dậy nguồn cảm hứng dạt dào của các văn nghệ sĩ, hình ảnh của những vườn cây xanh trĩu quả với nhiều chủng loại trái cây ngon: Cam, bưởi, xoài,… những dòng sông, hàng dừa, bến phà và những con đom đóm lập lòe trên những nhánh cây bần trong đêm hay đêm trăng trên sông,… cũng đủ làm nên những tác phẩm lãng mạn, đậm nét văn hóa miệt vườn của vùng đồng bằng Nam Bộ. Từng con đường làng nhỏ, những hàng dừa nước đung đưa trong gió, những con rạch nhỏ ngoằn ngèo với hai bên là hàng dừa nước, dòng nước chảy êm đềm như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Hưng Phong thật sự là một điểm du lịch làng quê sông nước đặc trưng hấp dẫn như có sức hấp dẫn kỳ lạ, níu chân biết bao du khách mọi miền đất nước khi về Bến Tre xứ dừa. Tôi đến cồn Ốc - Hưng Phong đã nhiều lần, nhưng vẫn bị cuốn hút bởi nét đẹp dân dã của một vùng sông nước và những vườn cây ăn trái sai trĩu quả. Mỗi khi có dịp về Bến Tre, tôi lại về thăm cồn Ốc như một nỗi nhớ quê hương da diết đến khó tả. Phải chăng, đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu, người làm công tác du lịch chọn nơi đây làm điểm du lịch xanh, là nơi trải nghiệm cuộc sống nông thôn bình dị và yên bình, các lữ hành du lịch nên khảo sát để tạo sản phẩm dịch vụ du lịch riêng cho mình, các nhà đầu tư du lịch sinh thái nên chọn cồn Ốc để đầu tư du lịch sinh thái sông nước miệt vườn trên vùng đất cù lao.

 

Một góc Cồn Ốc

Xứ đảo là nơi giàu truyền thống cách mạng trong kháng chiến, là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã làm lay động hàng triệu con tim của những người con quê hương Đồng Khởi trong những năm kháng chiến. Hình ảnh người phụ nữ tên Trần Thị Kế đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của quân và dân Bến Tre với câu nói bất hủ: “Chồng con tao ở trong tim tao, bọn bây cứ mổ ra mà lấy”. Tác giả Công Tương (Nguyễn Tấn) đã đem câu chuyện mẹ Trần Thị Kế sáng tác thành nhạc phẩm mang tên “Uất hận dâng trào”. Bài hát được lưu truyền trong vùng giải phóng suốt thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ tạo nên một khúc nhạc hào hùng về tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Mẹ Kế tiêu biểu cho ý chí chiến đấu, kiên cường của quân và dân Bến Tre, đã để lại trong lòng người dân cồn Ốc - Hưng Phong và Bến Tranh - Phước Long sự cảm mến và tình yêu thương bất tận, bởi nơi đây là nơi mẹ sống và lớn lên cùng bà con Hưng Phong.

Đến Hưng Phong, du khách sẽ đến tham quan và giao lưu với Ông Đỗ Thành Thưởng thuộc ấp 2 - xã Hưng Phong, người đầu tiên trong tỉnh ra công sưu tầm và lưu giữ trên 20 giống dừa xiêm, dừa ta các loại như: Dừa dứa, dừa xiêm xanh, dừa tam quan, dừa ẻo, dừa bung, dừa dâu,…góp phần tạo nên sự đa dạng cho các giống dừa ở Việt Nam. Đến đây, du khách sẽ được tham quan vườn dừa đặc chủng, thưởng thức nước dừa tươi mát tại vườn, được “Vua dừa” chia sẽ những kinh nghiệm trồng dừa và thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê, mà lòng người mến khách xứ đảo thiết đãi cho du khách. Chắc chắn rằng, sau khi rời khỏi nơi đây du khách sẽ mãi lưu luyến với nhiều kỉ niệm khó quên trong chuyến tham quan xứ cồn Ốc này.

Hiện nay xã có trên 700 hộ chuyên sản xuất các mặt hàng giỏ cọng dừa, sản phẩm làm ra rất đẹp mắt dùng để cắm hoa, làm giỏ quà tặng, sản phẩm được thương lái ký hợp đồng tiêu thụ ở trong và ngoài nước. Hằng năm, làng nghề cung cấp cho các tỉnh, thành lên đến hàng chục triệu sản phẩm giỏ cọng dừa và gần hàng trăm mặt hàng mỹ nghệ được sử dụng nguyên liệu từ cây, trái dừa. Hệ thống giao thông trong xã đã được đầu tư nâng cấp tạo nhiều điều kiện thuận lợi để du khách đến với Hưng Phong. Năm 2011, xã được chương trình nguồn vốn biến đổi khí hậu tỉnh đầu tư hơn 70 tỷ đồng để xây dựng tuyến đê bao Hàm Luông, giúp ngăn mặn và làm lộ giao thông. Những con đường đã tạo nên một vòng xoay quanh cồn để du khách có thể ngắm cảnh đẹp miệt vườn. Trong chương trình tour tham quan trên sông MeKong, cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của khách du lịch trong hành trình khám phá du lịch Bến Tre.

 

Nghề đan giỏ cọng dừa

Cồn Ốc với nhiều điều kiện để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, với dự án xây dựng khu du lịch sinh thái được quy hoạch thành các khu vực như: Khu ẩm thực, nghỉ dưỡng, sản xuất thủ công mỹ nghệ và sinh hoạt văn hóa - giải trí. Chắc chắn trong một tương lai không xa thì du lịch cồn Ốc - Hưng Phong sẽ là điểm đến lý tưởng cho du khách khám phá du lịch sông nước miệt vườn Bến Tre, với những nét đẹp văn hóa truyền thống và cảnh đẹp thiên nhiên đủ để “níu chân” những ai đến đây.

Cồn Ốc - Hưng Phong với vẻ đẹp giản dị, luôn mang trong mình nhiều nét đẹp quyến rũ của một vùng quê sông nước miệt vườn. Đến với cồn Ốc du khách sẽ trải nghiệm du lịch sinh thái miệt vườn với biết bao điều thú vị.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Trần Văn TưAnh hùng liệt sĩ Trần Văn Tư


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trần Văn Tư (bí
danh Việt) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú,
tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, đội phó Đội trinh sát vũ
trang Ban An ninh huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1969, Trần Văn Tư
gia nhập lực lượng an ninh huyện Thạnh Phú, chiến đấu trong đơn vị trinh sát vũ
trang. Là trinh sát, đồng chí luôn bám dân, nắm chắc địa bàn, mưu trí, dũng cảm
trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trần Văn Tư đã trực
tiếp chiến đấu 27 trận, diệt và làm bị thương 118 tên địch, trong đó có 27 tên
cảnh sát bình định ác ôn và một số lính Mỹ. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><b><i><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Một số trận điển hình: </span></i></b><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1969, địch mở rộng
chiến dịch bình định nông thôn. Yêu cầu của cấp trên là phải đánh địch để hạn
chế chiến dịch bình định của chúng. Trần Văn Tư đã gan dạ chiến đấu diệt 6 tên
địch, làm cho địch phải co cụm phòng thủ. Ngày 10-2-1972, đồng chí cải trang
vào tận nhà riêng diệt tên Triều, một tên ác ôn khét tiếng, làm cho bọn tề ngụy
hoang mang. Ngày 3-1-1973, nắm chắc địa bàn, Trần Văn Tư đã đến tận nhà riêng
diệt tên Nuôi, phó cuộc cảnh sát ác ôn và rút lui an toàn. Tháng 12-1974, Trần
Văn Tư được lệnh đánh vào thị trấn Thạnh Phú. Đồng chí điều tra nắm chắc địa
bàn, xây dựng cơ sở và chỉ đạo đội hành động cải trang để tiếp cận các mục tiêu
rồi nổ súng và dùng lựu đạn tiêu diệt địch. Kết quả diệt được 12 tên, trong đó
có 1 tiểu đoàn phó và nhiều tên cảnh sát, bảo an của địch. Tháng 4-1975, trong
một trận chiến đấu ác liệt, đồng chí đã anh dũng hy sinh.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trần Văn Tư được tặng
thưởng bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, đồng chí được Nhà nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Tư (bí danh Việt) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, đội phó Đội trinh sát vũ trang Ban An ninh huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Năm 1969, Trần Văn Tư gia nhập lực lượng an ninh huyện Thạnh Phú, chiến đấu trong đơn vị trinh sát vũ trang. Là trinh sát, đồng chí luôn bám dân, nắm chắc địa bàn, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trần Văn Tư đã trực tiếp chiến đấu 27 trận, diệt và làm bị thương 118 tên địch, trong đó có 27 tên cảnh sát bình định ác ôn và một số lính Mỹ.

Một số trận điển hình: Năm 1969, địch mở rộng chiến dịch bình định nông thôn. Yêu cầu của cấp trên là phải đánh địch để hạn chế chiến dịch bình định của chúng. Trần Văn Tư đã gan dạ chiến đấu diệt 6 tên địch, làm cho địch phải co cụm phòng thủ. Ngày 10-2-1972, đồng chí cải trang vào tận nhà riêng diệt tên Triều, một tên ác ôn khét tiếng, làm cho bọn tề ngụy hoang mang. Ngày 3-1-1973, nắm chắc địa bàn, Trần Văn Tư đã đến tận nhà riêng diệt tên Nuôi, phó cuộc cảnh sát ác ôn và rút lui an toàn. Tháng 12-1974, Trần Văn Tư được lệnh đánh vào thị trấn Thạnh Phú. Đồng chí điều tra nắm chắc địa bàn, xây dựng cơ sở và chỉ đạo đội hành động cải trang để tiếp cận các mục tiêu rồi nổ súng và dùng lựu đạn tiêu diệt địch. Kết quả diệt được 12 tên, trong đó có 1 tiểu đoàn phó và nhiều tên cảnh sát, bảo an của địch. Tháng 4-1975, trong một trận chiến đấu ác liệt, đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Trần Văn Tư được tặng thưởng bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tân XuânTân Xuân
&nbsp;

Xã thuộc huyện Ba Tri, từ 2 làng Đông Xuân và Tân Trang sáp nhập lại. Nơi đây, năm 1927, tổ chức VNTNCMĐCH của tỉnh Bến Tre được thành lập tại đây. Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1930) một cuộc biểu tình đòi dân sinh dân chủ tại đây, trong khi đó lá cờ đỏ búa liềm lần đầu tiên tung bay trên ngọn cây da đôi của xã.

Đã ban hành
Nguyễn Thị TốtNguyễn Thị Tốt


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Nguyễn Thị Tốt,
sinh năm 1907, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến
Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, bà là đảng viên, chiến sĩ dân quân xã Phước
Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ năm 1954 đến tháng
4-1975, tuy sức khỏe ngày càng yếu, nhưng bà Nguyễn Thị Tốt vẫn luôn nêu cao
tinh thần hăng hái hoạt động cách mạng, nhiệm vụ nào bà cũng hoàn thành xuất
sắc. Trong nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, Nguyễn Thị Tốt kiên trì bám đất, kiên
quyết không vào trại tập trung, nhờ đó ngôi nhà của bà vẫn là nơi liên lạc, trú
chân của du kích và cán bộ cơ sở. Ngoài ra, bà còn nuôi giấu được 3 thương binh
và bộ đội. Trong nhiệm vụ đấu tranh chính trị, Nguyễn Thị Tốt luôn tích cực vận
động nhân dân đấu tranh trực diện với địch. Bà đã vận động và tổ chức hơn 50
cuộc đấu tranh đòi chồng con, chống bắt lính, chống bắn phá bừa bãi và bắt địch
phải bồi thường sau những lần chúng càn vào xã. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn Thị Tốt còn là
người giỏi làm công tác binh vận. Ngày 25-12-1959, Nguyễn Thị Tốt đã vận động,
giác ngộ một số binh lính địch đóng đồn trong xã. 4 ngày sau số anh em này đã
phối hợp chặt chẽ với du kích diệt gọn đồn, bắt 7 tên ác ôn. Trận đánh thắng mở
đầu cho phong trào đồng khởi ở trong huyện. Từ đó đến tháng 4-1975, Nguyễn Thị
Tốt thường xuyên làm công tác tuyên truyền giác ngộ các gia đình binh lính ngụy
vận động chồng, con trở về với nhân dân.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Bà đã được tặng thưởng
Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất. Ngày 6-11-1978, Nguyễn Thị Tốt
được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Thị Tốt, sinh năm 1907, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, bà là đảng viên, chiến sĩ dân quân xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Image
Chân dung Anh hùng Nguyễn Thị Tốt

Từ năm 1954 đến tháng 4-1975, tuy sức khỏe ngày càng yếu, nhưng bà Nguyễn Thị Tốt vẫn luôn nêu cao tinh thần hăng hái hoạt động cách mạng, nhiệm vụ nào bà cũng hoàn thành xuất sắc. Trong nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, Nguyễn Thị Tốt kiên trì bám đất, kiên quyết không vào trại tập trung, nhờ đó ngôi nhà của bà vẫn là nơi liên lạc, trú chân của du kích và cán bộ cơ sở. Ngoài ra, bà còn nuôi giấu được 3 thương binh và bộ đội. Trong nhiệm vụ đấu tranh chính trị, Nguyễn Thị Tốt luôn tích cực vận động nhân dân đấu tranh trực diện với địch. Bà đã vận động và tổ chức hơn 50 cuộc đấu tranh đòi chồng con, chống bắt lính, chống bắn phá bừa bãi và bắt địch phải bồi thường sau những lần chúng càn vào xã.

Nguyễn Thị Tốt còn là người giỏi làm công tác binh vận. Ngày 25-12-1959, Nguyễn Thị Tốt đã vận động, giác ngộ một số binh lính địch đóng đồn trong xã. 4 ngày sau số anh em này đã phối hợp chặt chẽ với du kích diệt gọn đồn, bắt 7 tên ác ôn. Trận đánh thắng mở đầu cho phong trào đồng khởi ở trong huyện. Từ đó đến tháng 4-1975, Nguyễn Thị Tốt thường xuyên làm công tác tuyên truyền giác ngộ các gia đình binh lính ngụy vận động chồng, con trở về với nhân dân.

Bà đã được tặng thưởng Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất. Ngày 6-11-1978, Nguyễn Thị Tốt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Sông Ba LaiSông Ba Lai
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi đến xã Thành Thiệu (dài 17 km) dòng sông cạn và hẹp. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Nước từ sông Mỹ Tho qua kênh An Hóa, chảy mạnh vào sông Ba Lai làm hạn chế quá trình lắng đọng phù sa của đoạn sông này. Lúc kênh mới đào, chiều rộng chưa đầy 30 m, nhưng do dòng nước chảy xiết nên sông bị xói mòn nhanh và rộng dần ra cả trăm mét. Do nước chảy mạnh, dưới đáy sông lại có những cồn ngầm, cho nên vào mùa gió chướng thổi mạnh, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, gây nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng.Vào giữa năm 2000, một kế hoạch thủy lợi lớn nhất tỉnh, xây dựng cống đập Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre đã bắt đầu được khởi công.

Hệ thống sông Ba Lai

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

R. Bà Tam

Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H. Châu Thành)

5,0 km

R. Phú Hữu

Ranh giới giữa xã Phước Thạnh và Hữu Định (H. Châu Thành)

8,0 km

R. Khai Luông

Xã Phước Thạnh (H. Châu Thành)

6,0 km

K. Chẹt Sậy

Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm 1878 – 1902

5,0 km

R. Ba Tri Rơm

Xã Châu Hòa (H. Giồng Trôm)

5,0 km

R. Cái Muồng

Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H. Bình Đại)

10,0 km

R. Vàm Hồ

Ranh giới giữa xã Châu Bình (H. Giồng Trôm) và xã Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,5 km

K. Số 1

Từ xã Bình Thới đến xã Thạnh Trị (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Mỹ Nhiên

Ranh giới giữa xã Mỹ Chánh, Tân Xuân và Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,0 km

R. Xẻo Tượng

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Chim

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Khiêm

Xã Thạnh Phước (H. Bình Đại) thông với K. Ông Cai

5,5 km

R. Ruộng Muối

Xã Bảo Thạnh (H. Ba Tri)

5,0 km

Chú thích :

(1)

Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H. 
Đã ban hành
Mộ nhà giáo Võ Trường ToảnMộ nhà giáo Võ Trường Toản
&nbsp;
Image

- Khu mộ tọa lạc tại huyện Ba Tri. Khu mộ của Ông bà và con gái được xây dựng theo dạng voi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong, hai tầng để thờ và làm nơi tưởng niệm của khách thập phương.

 - Di tích mộ nhà giáo Võ Trường Toản được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 24 tháng 01 năm 1998.
Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer