Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Trang tư liệu
 
Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày. 
Đồng Văn Cống Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm. Lê Dũng Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm. Nguyễn Xuân Ôn Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày 
 
 
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công... 
Huân chương sao vàng 07 Huân chương Hồ Chí Minh 1.532 Huân chương Độc lập 69 Huân chương Thành Đồng Huân chương giải phóng ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nhà cổ Đại ĐiềnNhà cổ Đại Điền
Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Nhà cổ Đại Điền hay còn gọi là nhà cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là một kiến trúc nhà cổ đẹp thuộc dạng hiếm hoi hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 - 1927) là một trong những người giàu vào bậc nhất, nổi tiếng ở vùng cù lao Minh và tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Hương Liêm là cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại rằng: Các người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, khi hột bưởi nẩy mầm thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong (một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 - 7 năm mới cho trái). Các thợ làm nhà từ lúc còn bé cho đến khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con, nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể, phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

 

Nằm trên khoảng đất rộng, cao ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết). Nền nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong lót gạch tàu xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió, bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt, đoạn kèo cuối (từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư) được làm rất công phu theo hình long giáng, thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các gian thờ, các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau. Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần bên ngoài dùng để tiếp khách và các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 161007_82.jpg

Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là nơi thờ tự tôn nghiêm - nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc trám đứng và chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới. Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc. Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên chữ, hoa lá, cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng, ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen, hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…).

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp. Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu "văn hóa lá" ( thân, dây các loại cây trái, con vật có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ.

 161007_83.jpg

Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp với hoa văn cẩn ốc theo các kiểu: hoa văn và chữ, hoa văn trong chữ, chữ trong hoa văn và còn có cả thi - họa (liễn đối là thơ và tranh Nhị Thập Tứ Hiếu).

Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

Nhà ông Hương Liêm không còn được cái dáng vẻ "tươm tất" do thiếu sự đầu tư chăm sóc. Tuy nhiên nội thất còn gần như nguyên vẹn, là cả một công trình nghệ thuật của nghề chạm khắc gỗ, không thua kém những ngôi nhà cổ đẹp hiện còn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Hơn 100 năm đã trôi qua, thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ cũ kỹ rêu phong, đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và cần được bảo tồn cho hậu thế.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Nguyễn Hữu Phước
- Sinh ngày: 13/5/1959
- Quê quán: Xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh     
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam             
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cử nhân


Đã ban hành
Khâu BăngKhâu Băng
 

Cửa sông đổ ra biển, thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú. Nơi đây vào đầu tháng 3-1963 đã đón chuyến tàu chi viện vũ khí đầu tiên, sau đó trở thành đầu cầu tiếp nhận vũ khí và hàng hóa chi viện từ miền Bắc vào theo tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển của Đoàn vận tải A100 hậu cần miền Nam. Cửa Khâu Băng đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia theo Quyết định ngày 23-12-1995.

Đã ban hành
Địa chấtĐịa chất
Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.

Phần đất cao hơn hết đi từ Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía bắc và tây bắc của thành phố Bến Tre. Đây là khu vực của cồn sông cổ bị lũ hằng năm đem phù sa phủ lấp lên. Cao độ tuyệt đối có nơi đạt trên 5 m, nhưng đa số từ 3 đến 3,5 m.

Một phần đất cao nữa nằm theo các bờ biển cổ, với những gờ bờ biển, gọi là giồng, với độ cao tuyệt đối từ 2 đến 5 m. Đa số địa danh cao đều mang thêm từ giồng ở phía trước, như Giồng Trôm, Giồng Tre, Giồng Mù U, v.v...

Phần đất thấp gồm có 2 loại. Trước hết là các lòng máng của những dòng sông cổ và mới, đã bị lấp toàn phần hoặc từng phần bởi trầm tích lũ hiện nay. Ví dụ như Phước An, Phước Tú ở huyện Châu Thành, hoặc Phong Phú, Phú Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại thứ hai là những vũng mặn cổ, nay cũng đã được lấp đầy từng phần như xóm Chợ Cũ của huyện Ba Tri; Bình Quới, Mỹ Hòa ở huyện Giồng Trôm. Loại này chỉ có độ cao từ 1 đến 1,5 m và đa số bị ảnh hưởng triều rất mạnh. Ví dụ: Ở xóm Rạch Vọp, ảnh hưởng triều xảy ra mỗi ngày, tạo nên một loại trầm tích keo hóa gọi là trầm tích đồng thủy triều.

Cuối cùng là đất trũng thật thấp, luôn luôn ngập nước mực triều trung bình, gồm có đất đầm mặn và bãi thủy triều. Loại này khó vượt quá cao độ 0,5 m. Diện tích chung có tính giới hạn, nằm cạnh ven biển. Đất đầm mặn phát triển nhiều ở huyện Bình Đại nhưng trở nên ít đi ở huyện Ba Tri, và kém phát triển ở huyện Thạnh Phú.

Ngược dòng lịch sử, đất Bến Tre chỉ xuất hiện lên bên trên mặt biển từ 4.500 năm trở lại đây, tức là sau khi đã có đất Cai Lậy và Tân Hiệp, mà tuổi tuyệt đối nằm vào khoảng 5.000 năm. Trước hết là một cồn cửa sông to lớn kiểu cù lao Dung hiện nay xuất hiện bên dưới Chợ Lách, rồi một số giồng phát sinh tại nơi đầu cù lao, mà dấu vết ngày nay còn nằm ở Vũng Liêm (Trà Vinh) và Nam Chợ Lách (Bến Tre).

Một cù lao lớn thứ hai xuất hiện sau đó ở Châu Thành, với các lòng sông to lớn tạo nên một cửa sông mới, cửa sông Mỹ Tho, với giồng cát biển phát sinh tại thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre và Chợ Gạo (Tiền Giang). Sông Ba Lai sinh ra từ đó và góp phần bồi tích cho đến ngày nay, cùng lúc với sông Hàm Luông ở phía tây và sông Tiền ở phía đông.

Ba con sông này lấn biển và bồi đất rất nhanh chóng, tạo nên các giồng cát nằm san sát nhau. Dạng bờ biển trước kia cũng hao hao giống dạng bờ biển ngày nay, bên trong là đầm mặn mới bồi sau. Ví dụ: Ngày nay ở Bình Đại, Giồng Củ, Giồng Cà xuất hiện, tạo ra bên trong một ao biển kín, nay biến thành đất rừng ngập mặn gọi là đầm mặn. Tại Giồng Trôm, trước kia cũng có trường hợp như vậy. Giồng Trôm xuất hiện trước, bọc bên cánh tây một vũng mặn, về sau mới lấp đầy. Cho nên con sông Bến Tre mới bắt nguồn từ Giồng Trôm (vùng đất cao), chảy ngược dòng với sông Ba Lai và sông Hàm Luông (cặp song song với nó) và xuôi về hướng tây bắc. Mũi khoan kiểm tra cho thấy có đất vũng mặn ở độ sâu 9 m tại đó.

Bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở phía đầu trên, lượng nước yếu đi không tống nổi phù sa của sông Cửa Đại đang bít nghẽn dòng chảy ra biển. Do vậy, nó sẽ "chết", lòng cổ của nó bị lấp dần, xóa hẳn ở huyện Châu Thành, gần xóa ở huyện Giồng Trôm và sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại. Trong quá khứ ở huyện Mỏ Cày cũng có những con sông bị xóa như vậy, mà ảnh máy bay cho thấy khá rõ rệt.

Lịch sử hình thành tỉnh Bến Tre là phần đúc kết tất cả các quy luật địa chất của địa phương. Các quy luật đó giúp ta đi vào tìm hiểu bản chất của sự vật cụ thể, là những loại phù sa khác nhau, để áp dụng vào nông nghiệp, thủy lợi, nước ngầm, khoáng sản đủ loại kể cả an ninh quốc phòng. Điều tra chi tiết hơn, sẽ cho thấy các chi tiết của những quy luật ấy, giúp phần vận dụng có chiếu cố về ngoại lệ của quy luật, và tránh được những lãng phí do thiếu sót về quy luật, tức là thiếu sót về cơ bản khoa học, trong đó có cơ bản trầm tích học là cơ bản của mọi cơ bản.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Việt HùngTrần Việt Hùng


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trần Việt Hùng
sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi
được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, Chủ nhiệm thông
tin phòng tham mưu, tỉnh đội Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ năm 1948 đến tháng 4</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1965, Trần Việt
Hùng là cán bộ thông tin của tỉnh ủy Bến Tre. Từ tháng 5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1965 đến tháng 4</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1975, Hùng phụ
trách chủ nhiệm thông tin tỉnh đội</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> Trần Việt Hùng đã xây dựng,
tổ chức mạng thông tin vô tuyến điện của 6 huyện, 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn
trực thuộc tỉnh. Ngoài ra, anh còn góp phần bảo đảm thông tin liên lạc từ tỉnh
lên Bộ tư lệnh Quân khu, Bộ tư lệnh Miền và tuyến vận tải vũ khí từ biên giới
xuống đồng bằng. <br /></span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"></span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trần Việt Hùng luôn bám
sát các đơn vị chiến đấu, giải quyết nhiều tình huống khó khăn, bảo đảm mạng
lưới thông tin thông suốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong 2 năm 1970 - 1971,
địch &quot;bình định&quot; ác liệt, Trần Việt Hùng được giao tổ chức hệ thống
thông tin vô tuyến điện bằng máy PRC - 25 thu được của địch. Tuy đang rất yếu,
nhưng Trần Việt Hùng vẫn cố gắng chỉ huy anh em vận chuyển phương tiện đến các
địa điểm, hướng dẫn nghiệp vụ, bảo đảm thông tin thông suốt. Xuân 1975, Hùng đã
chuẩn bị và củng cố tốt hệ thống thông tin trong tỉnh. Đến ngày 15</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">5</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1975 mạng lưới
thông tin mới thu được đã ổn định đi vào khai thác sử dụng, tiết kiệm nhiều
triệu đống cho công quỹ.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công
giải phóng hạng ba, 20 bằng khen và giấy khen, 4 lần là Chiến sĩ thi đua, 4 lần
đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">11</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1978, Trần Việt
Hùng được Nhà nước tặng dnah hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Việt Hùng sinh năm 1932, dân tộc Kinh, quê ở xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, Chủ nhiệm thông tin phòng tham mưu, tỉnh đội Bến Tre.

Từ năm 1948 đến tháng 4-1965, Trần Việt Hùng là cán bộ thông tin của tỉnh ủy Bến Tre. Từ tháng 5-1965 đến tháng 4-1975, Hùng phụ trách chủ nhiệm thông tin tỉnh đội. Trần Việt Hùng đã xây dựng, tổ chức mạng thông tin vô tuyến điện của 6 huyện, 2 tiểu đoàn và 1 trung đoàn trực thuộc tỉnh. Ngoài ra, anh còn góp phần bảo đảm thông tin liên lạc từ tỉnh lên Bộ tư lệnh Quân khu, Bộ tư lệnh Miền và tuyến vận tải vũ khí từ biên giới xuống đồng bằng.

Image
Anh hùng Trần Việt Hùng

Trần Việt Hùng luôn bám sát các đơn vị chiến đấu, giải quyết nhiều tình huống khó khăn, bảo đảm mạng lưới thông tin thông suốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong 2 năm 1970 - 1971, địch "bình định" ác liệt, Trần Việt Hùng được giao tổ chức hệ thống thông tin vô tuyến điện bằng máy PRC - 25 thu được của địch. Tuy đang rất yếu, nhưng Trần Việt Hùng vẫn cố gắng chỉ huy anh em vận chuyển phương tiện đến các địa điểm, hướng dẫn nghiệp vụ, bảo đảm thông tin thông suốt. Xuân 1975, Hùng đã chuẩn bị và củng cố tốt hệ thống thông tin trong tỉnh. Đến ngày 15-5-1975 mạng lưới thông tin mới thu được đã ổn định đi vào khai thác sử dụng, tiết kiệm nhiều triệu đống cho công quỹ.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 20 bằng khen và giấy khen, 4 lần là Chiến sĩ thi đua, 4 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978, Trần Việt Hùng được Nhà nước tặng dnah hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)Trần Văn Kiết (1) (1911 – 1943)
&nbsp;

 Trần Văn Kiết sinh năm 1911 trong một gia đình giàu có ở thị xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Cha ông tên là Trần Phương Danh - thường gọi là hương chủ Danh - một điền chủ có hàng trăm mẫu ruộng (2), nhưng là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Chính gia đình ông Danh là cơ sở đi về, hội họp, móc nối cán bộ, gây dựng phong trào cách mạng ở địa phương trong thời kỳ bí mật vào những năm 1930 – 1931. Đặng Văn Quang, một người bạn thân với Trần Văn Kiết, sau này có lúc làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, đã kể lại rằng trong thời kỳ bí mật, ông đã về tá túc tại ngay nhà ông hương chủ Danh để gây dựng phong trào ở huyện Chợ Lách.

   Sau khi học xong bậc tiểu học ở trường thị xã Vĩnh Long, Trần Văn Kiết được cha gửi lên Sài Gòn học tiếp ở Trường Chasseloup Laubat, cùng một lớp với Trần Văn Giàu. Sau đó, ông sang Pháp tiếp tục học lên cấp III, rồi thi vào đại học tại Toulouse.

   Vốn thông minh lại hiếu học, nên từ cấp I đến cấp III, cũng như ở đại học, ông luôn luôn tỏ ra là một học sinh xuất sắc. Điều kiện và hoàn cảnh cộng với tư chất thông minh sẵn có, ông có thể dễ dàng đạt được một cuộc sống tương lai hạnh phúc không mấy khó khăn; hoặc học hành đỗ đạt rồi tìm một việc làm ở Pháp, sống đời ung dung của một công chức trí thức, hoặc trở về nước làm quan tay sai cho thực dân với nhiều bổng lộc. Thế nhưng, Trần Văn Kiết đã chọn một hướng đi khác. Cuộc sống lầm than của đồng bào quê hương mà ông đã từng chứng kiến, đã gợi lên trong ông nhiều điều suy nghĩ về dân tộc, về đất nước. Khi còn là học sinh ở quê nhà, ông cũng đã từng tham gia phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh tại Sài Gòn. Sống ở Pháp, ông càng thấm thía nỗi nhục của người dân nô lệ.

   Năm 1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái nổ ra, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương đã đàn áp một cách dã man. Lúc ấy, Trần Văn Kiết đang học ở Toulouse. Cùng với bà con Việt kiều ở đây, ông tham gia biểu tình, nêu yêu sách đòi nhà cầm quyền Pháp phải ngưng ngay cuộc đàn áp. Cùng năm ấy, ông gia nhập ĐCS Pháp tại đảng bộ Toulouse. Sống trên đất Pháp, tham gia hoạt động trong ĐCS, có điều kiện tiếp xúc với những nhân vật chính trị cấp tiến, những học giả có uy tín, cùng những sách báo của chủ nghĩa Mác, Trần Văn Kiết dần dần nhận thức được rằng muốn giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức, nô lệ, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Ông thấy cần phải sang Liên Xô để tìm hiểu và học tập thêm, sau đó mới trở về giúp nước có hiệu quả. Được sự giúp đỡ của ĐCS Pháp, ông đã đến quê hương của Cách mạng tháng Mười, vào học tại Trường Đại học Phương Đông tại Matxcơva, nơi các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng như Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong đã từng học.

   Sau khi tốt nghiệp, năm 1938, từ Matxcơva ông theo đường bí mật, về thẳng Sài Gòn. Tại đây, ông bắt liên lạc với Trung ương Đảng, lúc bấy giờ đóng tại Hóc Môn, và được giới thiệu bổ sung vào ban biên tập báo Dân chúng, tờ báo công khai, hợp pháp của Đảng lúc bấy giờ. Khi Dương Bạch Mai bị bắt, thì ông được trên chỉ thị thay ông Mai phụ trách cả hai tờ Le Peuple Dân chúng (3). Mặc dù sức khỏe kém, nhưng ông đã làm việc không biết mệt mỏi, vừa giải quyết công việc hàng ngày của hai tờ báo, vừa đối phó với nhà cầm quyền, vừa tổ chức những lớp huấn luyện để trang bị kiến thức về chủ nghĩa cộng sản cho anh chị em cán bộ.

   Ngày 7-3-1939, bọn mật thám Pháp ập vào khám xét tòa soạn. Mặc dù không tìm ra chứng cứ phạm pháp nào, chúng cũng bắt ông cùng với Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Trấn…

   Trong phiên tòa của thực dân lần ấy, đồng bào Sài Gòn đã có dịp chứng kiến thái độ đường hoàng, hiên ngang của một số bị cáo là những đảng viên Cộng sản, đặc biệt người ta tập trung chú ý đến một thanh niên đẹp trai hơi gầy, đứng trước vành móng ngựa nói tiếng Pháp rất sõi theo giọng Paris, bằng lập luận đanh thép, dõng dạc bác bỏ từng lời buộc tội trong bản cáo trạng của tên biện lý người Pháp. Có thể nói công chúng dự phiên tòa hôm ấy đã bị con người ấy chinh phục. Người thanh niên đứng trước vành móng ngựa đó chính là Trần Văn Kiết. Tên chánh án tòa án đã phải nhiều lần rung chuông, cắt đứt những lời tự bào chữa của ông, và cuối cùng chúng kết án bừa Trần Văn Kiết một năm tù giam.

   Trong khi bị giam trong Khám Lớn Sài Gòn, thì chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Để đề phòng những bất trắc có thể xảy ra, bọn thực dân Pháp chuyển số chính trị phạm đi an trí ở “căng” Tà Lài, trong số đó có Trần Văn Kiết. Tại đây, ông được các đồng chí tín nhiệm bầu vào ban lãnh đạo của trại cùng với Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông…

   Năm 1941, do biến chuyển của tình hình bên ngoài thôi thúc, ban lãnh đạo trại chủ trương tổ chức cho một số đồng chí vượt ngục ra hoạt động bên ngoài, Trần Văn Kiết vượt ngục về Sài Gòn, móc nối lại được cơ sở cũ, hoạt động một thời gian, thì đầu năm 1943 lại bị địch bắt tại Chợ Lớn.

   Theo lời kể lại của một số đồng chí cũ, Thanh tra mật thám Bazin, khi nghe tin ông bị bắt trở lại, đã không giấu được nỗi vui mừng khoái trá. Sau những thủ đoạn mua chuộc và dụ dỗ cùng những đòn tra tấn dã man, kẻ địch không moi được ở ông một lời khai nào có giá trị. Biết không thể lay chuyển được ý chí của người trí thức thuộc tầng lớp trên đã giác ngộ lý tưởng cộng sản, chúng đã đưa ông đi thủ tiêu một cách hèn hạ. Lúc ấy ông mới 32 tuổi và cũng chưa lập gia đình riêng.

  Trần Văn Kiết đã hy sinh cả hạnh phúc cá nhân để cống hiến trọn vẹn đời mình cho cách mạng. Ông là một tấm gương sáng của một trí thức yêu nước, một người cộng sản chân chính. Trong tập hồi ký Chúng tôi làm báo (Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1985), Nguyễn Văn Trấn, một đồng chí đã từng hoạt động với ông trong những ngày làm báo Dân chúng, đã nhắc đến Trần Văn Kiết với tất cả tấm lòng trân trọng: “Viết đến đây, tôi xin mặc niệm một đồng chí, một người thầy quý mến của chúng tôi”.

(1) Viết theo tài liệu của đồng chí Nguyễn Trí Ảnh, lưu trữ ở Ban NCLSĐ tỉnh Bến Tre.
(2)
Một mẫu ruộng ở chợ Lách, giá trị bằng ba, bốn mẫu ruộng ở vùng đất chua mặn.
(3)
Hai tờ báo Dân chúng (tiếng Việt) và Le Peuple (tiếng Pháp) có cùng một nội dung, cùng xuất bản một lúc. "Le Peuple" dịch ra tiếng Việt có nghĩa là "Dân chúng".

Đã ban hành
Bùi Sĩ HùngBùi Sĩ Hùng
&nbsp;

Image
Bùi Sĩ Hùng
Sinh ngày 25-2-1919 trong một gia đình trung lưu ở quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Bùi Sĩ Hùng thuở nhỏ học ở trường tiểu học rồi Trung học Mỹ Tho. Năm 1937, tiếp tục theo học ở Trường trung học Thăng Long (Hà Nội), sau chuyển về Trường Pétrus Ký (Sài Gòn). Từ năm 1941 đến năm 1945, là sinh viên Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông cùng một số bạn bè đi xe đạp về Nam, rồi tham gia phong trào Thanh niên tiền phong ở quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (tức quận Bình Đại ngày nay), tham gia cướp chính quyền tại đây và được cử làm Phó Chủ tịch UBND lâm thời kiêm Ủy viên quân sự quận An Hóa.

   Sau khi giặc Pháp chiếm Bến Tre, ông gia nhập Vệ quốc đoàn thuộc chi đội 20, tuần tự kinh qua các chức vụ từ trung đội trưởng đến trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng trung đoàn 99, rồi trung đoàn chủ lực Cửu Long, làm Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Trà Vinh, Trưởng ban tác chiến phòng tham mưu, Bộ tư lệnh miền Tây Nam Bộ cho đến ngày hiệp định Genève được ký kết.

   Tháng 1-1955, tập kết ra miền Bắc. Đầu năm 1956, chuyển ngành, đi học lớp bổ túc y sĩ cao cấp ở Trường Cán bộ y tế tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại Bệnh viện hữu nghị Việt - Tiệp ở Hải Phòng, rồi chuyển về làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại bệnh viện Vinh (Nghệ An). Do những thành tích xuất sắc trong chuyên môn, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.

   Tháng 1-1963, ông được cử đi tu nghiệp tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc. Sau khi về nước, làm Phó giám đốc Trường Bổ túc bác sĩ cho chiến trường B, trực thuộc Bộ Y tế.

   Tháng 10-1963, về miền Nam, được cử làm Trưởng ban Dân y khu 8 Nam Bộ. Tháng 4-1972, ra miền Bắc, phụ trách công tác chi viện về y tế cho chiến trường B2. Tháng 11-1973, được bộ Y tế chọn đi tu nghiệp ở Pháp.

  Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), ông ở trong Đoàn tiếp quản Sài Gòn và được cử làm Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, sau đổi thành Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh thành phố Hồ Chí Minh… Trong 14 năm làm giám đốc, Bùi Sĩ Hùng bằng vốn kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý của mình, đã xây dựng nơi đây từ một “nhà thương thí" trước ngày giải phóng thành một bệnh viện sản phụ lớn nhất nước và cả Đông Nam Á với 750 giường, một cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ chuyên ngành quan trọng ở phía Nam của ngành y. Bản thân có nhiều cống hiến trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành sản khoa, có nhiều sáng kiến cải tiến có giá trị trong việc thực hiện kế hoạch dân số, do đó ông được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc của ngành y và được Liên hiệp Công đoàn trung ương tặng bằng sáng chế. Năm 1988, ông được Nhà nước ta phong hàm Phó giáo sư và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân.

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đạo Thiên ChúaĐạo Thiên Chúa
&nbsp;

Image
Nhà thờ Cái Mơn
 Đạo Thiên Chúa (1) có mặt ở Bến Tre vào giữa thế kỷ XVIII. Có hai ý kiến khác nhau về thời gian và địa điểm hình thành họ đạo Thiên Chúa đầu tiên trong tỉnh. Ý kiến thứ nhất cho rằng Giồng Giá là nơi họ đạo Thiên Chúa ra đời sớm nhất. Ý kiến thứ hai khẳng định Giồng Tre (nhà thờ Cái Bông) là nơi có họ đạo Thiên Chúa trước tiên. Cả hai nơi này đều thuộc huyện Ba Tri, một huyện ven biển của Bến Tre.

Ý kiến thứ nhất, căn cứ vào các gia phả và ký ức của những tín đồ Thiên Chúa cao tuổi nhất trong vùng còn sống ở Giồng Giá, nói rằng năm 1740. Có một số tín đồ từ miền ngoài đi thuyền đến Ba Tri. Đa số cháu chắt của những người này, nay sống ở Giồng Giá đều mang họ Nguyễn.

Giồng Giá là nơi có nhiều cây giá mọc xen lẫn với cây bần và cây mắm. Thời ấy, nơi đây còn nhiều thú dữ, kể cả cọp và cá sấu. Đồng bào thường tập trung sống trên những con giồng. Giồng Giá có một bến mang tên là Bến Vựa nằm bên bờ rạch Ba Tri. Gọi Bến Vựa vì ở đây, thời ấy có những kho, vựa tôm, cá khô, do người Hoa làm chủ để buôn bán trao đổi với các nơi. Từ Bến Vựa ra Biển đông khoảng 10 km, qua rạch Ba Tri đổ ra sông Hàm Luông. “Đất lành, chim đậu”, số đồng bào này đã dừng chân tại đây, rồi phá rừng, vỡ đất, khai hoang, lập ấp. Họ xây dựng nhà ở và một nhà nguyện (2) bằng gỗ, lá đơn sơ. Đến năm 1890, theo lời nhiều ông lão còn sống, nhà nguyện được làm lại bằng ngói, vách gỗ. Năm 1829, lại thay vách gỗ bằng tường gạch. Họ đạo Giồng Giá là một họ đạo nghèo. Đất nhà chung khoảng dưới 20 ha. Linh mục đầu tiên đến họ đạo này là một người Pháp mang tên là Marchand Du cũng thường gọi là cố Du. Lúc mới thâm nhập vào Việt Nam, các giáo sĩ nước ngoài thường lấy tên theo lối cấu trúc như trên (3).

Lúc bấy giờ vì lý do an ninh, Marchand Du không cư ngụ hẳn ở Giồng Giá mà thỉnh thoảng lui tới làm lễ tại các gia đình tín đồ.

Ý kiến thứ hai cho rằng Giồng Tre (Cái Bông) là họ đạo Thiên Chúa đầu tiên của tỉnh. Sách Chuyên khảo tỉnh Bến Tre biên soạn năm 1930, dưới thời tỉnh trưởng Fedinand Caire có đoạn: “Họ đạo đầu tiên của tỉnh bến Tre mãi đến năm 1860 mới thành lập, lúc đó bao gồm một số rất ít tín đồ cư ngụ chung quanh một nhà nguyện nhỏ dựng lên ở Cái Bông do một linh mục (prêtre) bàn xứ cai quản".

Ý kiến này có hai chỗ không phù hợp với lịch sử. Một là, như đã trình bày ở trên, các gia phả và tông chi cũng như theo lời kể lại của những người cao tuổi, kể cả linh mục hiện còn sống, thì họ đạo Giồng Giá có trước họ đạo Cái Bông khá lâu. Hai là, vào năm 1869, quyền cai quản một họ đạo không bao giờ được người Pháp trao đổi cho người Việt Nam. Muốn trở thành linh mục phải được đào tạo 5,  6 năm đối với một người có trình độ học thức nhất định (giảng đạo bằng tiếng La tinh). Vào thời điểm ấy, các giáo sĩ Pháp tới các nơi có tín đồ, vừa giảng đạo tại gia đình, vừa đào tạo người cai quản là chủ yếu. Việc họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) đã có sự cai quản của một “linh mục bản xứ” từ năm 1869 là thiếu cơ sở thực tế. Ngay ở Giồng Giá, mãi đến năm 1930, mới có một linh mục người Việt thường trú đầu tiên có tên là Thiện.

Một tư liệu khác cho biết vào năm 1770 (39 năm sau khi đã có họ đạo Giồng Giá), trong một lần quân của Nguyễn Ánh chạy thoát ra biển Đông theo dòng Hàm Luông do bị quân Tây Sơn truy đuổi, trong đoàn tùy tùng có 3 gia đình ngoan đạo: Võ Vách Trưng, Trương Văn Chức và Trương Văn Thoại (4). Ba gia đình này rắp tâm từ bỏ Nguyễn Ánh, nên khi đoàn thuyền đến gần rạch Cái Bông thì trời đã về khuya, họ cố tình đi sau cùng. Đến Vàm Rạch, họ ngoặt vào ngõ khác, chèo suốt đêm. Đến sáng, họ thấy một vùng đất cao ráo, có người khmer ở. Họ dừng thuyền, lên bờ xem xét và quyết định ở lại đây. Vùng này gọi là Giồng Tre, vì hồi đó nơi đây có rất nhiều tre. Họ dựng nhà ở và một nhà nguyện vào nơi cao ráo nhất. Thời gian không lâu sau đó, có các linh mục người Pháp tới rồi đi như Phêrô Lựu, Phêrô Thiền, Phaolô Tuyết (cả 3 đều là người Pháp lấy tên Việt) đến giảng đạo.

Sau này, con cháu họ Võ và họ Trương cưới hỏi nhau, sinh con đẻ cái ngày một nhiều. Đất đai Giồng Tre phì nhiêu hơn Giồng Giá, vì ở xa biển nên không bị ảnh hưởng nặng nề của nước mặn. Ngoài ruộng tốt, đất rộng người thưa, ba gia đình họ Võ và Trương tự do khai khẩn. Làm ăn khấm khá, con cháu của họ "dâng” một phần đất chi nhà chung (5). Cần nhắc thêm rằng ngay từ lúc đó, tín đồ ở đây đã phát triển, và có một linh mục người Pháp. Một người Pháp tên là Pillet đã đến đây chiếm đất, mở một đồn điền để khai thác sức lao động của nông dân địa phương. Cũng ở đây, trước thời Pháp thuộc, đã hình thành một số địa chủ của người Việt, với qui mô chiếm hữu ruộng không lớn lắm.

Sau ngày giải phóng, đất nhà chung của họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) có đến 160ha, trong khi đó họ đạo Giồng Giá chỉ có không đầy 20ha. Nếu họ đạo Giồng Giá hầu như không thoát khỏi địa phương, dù là hình thành sớm nhất trong Bến Tre, thì ngược lại họ đạo Giồng Tre phát triển khá mạnh sang vùng Cái Mơn, Cái Nhum (cù lao Minh) và cả huyện Tiểu Cần, huyện Cầu Ngang thuộc tỉnh Trà Vinh.

Nhà thờ cái Bông hiện nay được xây dựng vào năm 1923. Nếu tính từ những linh mục người Pháp lưu động đầu tiên đến Giồng Tre cho đến ngày nay, thì nhà thờ Cái Bông đã qua 15 linh mục cai quản. Linh mục thường trú người Pháp cuối cùng ở Cái Bông tên là Sidot (1879-1889). Linh mục người Việt đầu tiên được điều về đây tên là Sâm, thay cho linh mục Sidot vào năm 1889. Linh mục hiện nay là Nguyễn Văn Quang mà quyển Tông chi ba họ sáng lập họ đạo Cái Bông cho biết là cháu ngoại 6 đời của Võ Vách Trưng, người đến định cư đầu tiên ở đây.

Tài liệu về hoạt động của đạo Thiên Chúa ở Nam bộ cho biết năm 1930, Bến Tre có hai hạt đạo; cù lao Minh và cù lao Bảo. Năm 1964, hai hạt đạo này nhập lại thành một với tên gọi là hạt Trúc Giang. Trước ngày 30-4-1975, lại chia ra làm 4 hạt: Ba Tri, thị xã Bến Tre, Cái Mơn và Bình Đại. Năm 1938, địa phận giáo hội Vĩnh Long được thành lập, cai quản các họ đạo thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, đến nay cộng thêm một nửa của tỉnh Đồng Tháp.

Ở Bến Tre ngoài Giồng Giá và Giồng Tre, còn phải kể đến họ đạo Cái Mơn. Đây cũng là một họ đạo tương đối lâu đời, do một linh mục người Pháp tên là Gernot thành lập tháng 2 năm 1872. Viên chủ pháp ở Bến Tre đã từng hết lời ca ngợi họ đạo này như sau: " Họ đạo Cái Mơn có một nhà thờ lớn dáng dấp rất đẹp. Họ đạo này thu được một kết quả lạ thường là đã công giáo hóa toàn bộ dân sống trên một cù lao nhỏ chỉ có một con rạch bao quanh. Thật vậy, trong vùng này chỉ có người Trung Quốc chuyên nghề buôn bán là không theo đạo Công giáo. Cần nêu lên một sự kiện độc đáo là trong công sở ở Cái Mơn (tức trụ sở ban hội tề xã, thời Pháp thuộc) chiếc bàn thờ cổ truyền kiểu Phật giáo hoặc khổng Giáo dựng lên để tưởng nhớ các vị trong ban hội tề quá cố, nay được thay thế bằng một chiếc bàn thờ Chúa. Đây là một kết quả thực hiện được ở địa phương này" (6).

Họ đạo Cái Mơn, ngoài một nhà thờ lớn, còn có một nhà nguyện riêng của nữ tu sĩ, trường học, nhà dưỡng lão, nhà trẻ mồ côi và ruộng, vườn thuộc nhà Chung.

Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách là thị tứ sầm uất, nơi buôn bán, giao lưu khá tấp nập. Đây còn là một nơi sản xuất các loại cây giống và cây cảnh, có nhiều người có kỹ thuật ươm cây, ghép cây ăn quả nổi tiếng. Cạnh họ đạo Cái Mơn, có họ đạo Cái Nhum nay thuộc xã Long Thới, huyện Chợ Lách. Họ đạo cái Nhum cũng là một họ đạo lớn, xấp xỉ với họ đạo Cái Mơn.

Trong KCCP (1945-1954), bọn thực dân Pháp với chính sách lợi dụng tôn giáo trong âm mưu xâm lược, đã ra sức nắm nhà thờ và giáo dân, biến họ thành công cụ chống lại cách mạng. Ở Bến Tre điển hình nhất là sự kiện Léon Leroy.

Vốn là một con lai - Cha là một lính lê dương Pháp, mẹ Việt Nam – sinh ra từ đất Bình Đại, Léon Leroy đã được bàn tay của bọn thực dân thống trị biến thành một tên ác ôn nguy hiểm. Hắn đã từng được Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp phong làm đại tá kiêm tỉnh trưởng Bến Tre. Năm 1949, hắn đã thành lập một lực lượng vũ trang riêng, lấy tên là UMDC (Unité Mobile de Défense des Chrétientés) - với danh nghĩa là đội quân bảo vệ đạo - gồm những tay chân cuồng tín nhất để chống phá cách mạng. Cùng với đội quân này, Léon Leroy đã gây nên vô vàn tội ác, không những chỉ nhân dân trong tỉnh mà còn gieo bao nhiêu tang tóc, đau thương cho cả một vùng dân cư rộng lớn từ Gò Công, Mỹ Tho đến Vĩnh Long, Trà Vinh. Hàng ngàn người dân vô tội đã bị tra tấn, bị giết chết một cách dã man, hàng trăm làng mạc, xóm thôn bị càn quét, đốt phá. Những địa danh như Vàm Bình Đại, cầu tàu Phú Thuận, cầu tàu An Hóa, cầu Ba Lai, ngã tư An Hồ, Cầu Hòa đã từng ghi lại những vụ thảm sát tập thể, những hành động thủ tiêu cán bộ và đồng bào yêu nước của tên Một On (tức Léon Leroy) và đội quân này (7).

Năm 1999, Bến Tre có hai hạt: hạt thứ nhất gồm họ đạo các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành, Bình Đại và thị xã Bến Tre. Hạt thứ hai gồm họ đạo các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách. Cũng theo thống kê năm 1999, đạo Thiên Chúa ở Bến Tre có: 85 nhà thờ, 34 linh mục, 200 nữ tu, 60.000 tín đồ.

Chú thích :

(1) Thường gọi là công Giáo
(2) Nhà Nguyện là một loại nhà thờ nhỏ (Chapelle).
(3) Linh mục Marchand Du quê quán ở Thành phố Besancon (Pháp), tham gia cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, bị bắt trong thành Gia Định khi thành này bị quân triều đình tấn công chiếm trở lại. Marchand Du bị xử tử năm 1835 tại Huế thời Minh Mạng.
(4) Ông Trương Văn Oai, năm nay 80 tuổi, người cao tuổi nhất hiện nay của họ đạo Giồng Tre, là cháu 6 đời của Trương Văn Chức, kể lại những điều đã nghe ông bà, cha mẹ nói lại rằng Võ Vách Trưng làm quan trong quân cơ của Nguyễn Ánh.
(5) Dưới ách cai trị của Pháp, một số nông dân nghèo không đủ tiền đóng thuế đành phải “dâng” đất cho nhà thờ.
(6) Monographie de la province de Bến Tre, Sđd , tr.36
(7) Xem chương Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai ở phần Lịch sử.

Đã ban hành
Đặng Văn ThânĐặng Văn Thân

    Sinh năm 1932 ở xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân. Thuở nhỏ, học Trường tiểu học Bến Tre. Năm 1950, gia nhập quân đội, làm báo vụ viên trong một đơn vị thông tin ở Quân khu 9.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), tập kết ra Bắc, chuyển ngành về công tác ở trạm bưu điện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, tiếp tục làm công tác báo vụ viên ở nơi rừng thiêng nước độc này. Vài năm sau, do bị sốt rét nặng, được chuyển về Hà Nội. Cũng từ đấy, anh lao vào học tập, từ lớp 5 đến lớp 10. Năm 1961, được cử đi học đại học ở thành phố Kharkov, thuộc Liên Xô cũ. Năm 1966, tốt nghiệp khoa vô tuyến điện, về nước công tác ở Viện Khoa học Kỹ thuật thuộc Tổng cục Bưu điện.

   Ngày 28-4-1975, ở trong đoàn cán bộ ngành bưu điện, ông vào tiếp quản toàn bộ hệ thống bưu chính viễn thông Sài Gòn, làm Phó giám đốc Trung tâm viễn thông 3, rồi Giám đốc. Cùng với đồng nghiệp, ông miệt mài nghiên cứu, đánh giá, phân loại hệ thống trang thiết bị bưu chính viễn thông của đất nước hiện có, bao gồm thiết bị của các nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Công việc đổi mới đòi hỏi phải giỏi ngoại ngữ, ngoài tiếng Nga, ông phải tranh thủ học thêm tiếng Pháp và tiếng Anh.

   Năm 1986, được điều ra Hà Nội, làm Quyền Cục trưởng, rồi Tổng Cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Đó cũng là những năm tháng bắt đầu công cuộc đổi mới. Biết bao thử thách gay go đặt ra cho ngành với trang thiết bị lạc hậu, chắp vá. Phương thức kinh doanh, trình độ quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên yếu kém và bất cập. Năm 1985, mật độ điện thoại nước ta chỉ đạt 0,2 máy/100 dân, thấp hơn 7 lần so với châu Phi. Mật độ điện báo chỉ đạt 10,24 bức điện/100 dân thấp hơn 18 lần so với Cuba. Mật độ bưu kiện đạt 2 bưu kiện/100 dân, thấp hơn 34 lần so với Ba Lan. Thêm nữa, thói quen bao cấp và tư tưởng trông chờ, ỷ lại Nhà nước đã trở thành sức ỳ ghê gớm.

   Qua các cuộc tham quan, khảo sát nghiên cứu ở một số nước phát triển, qua những thông tin cập nhật về tiến bộ khoa học kỹ thuật, ông nhận ra rằng cuộc cách mạng khoa học công nghệ viễn thông của thế giới đã phát triển đến tốc độ chóng mặt, trong khi ngành bưu điện ở nước ta đang đi những bước ì ạch và tụt hậu khá xa. Với tư cách người lãnh đạo cao nhất, ông đã bàn bạc thống nhất với các đồng chí lãnh đạo trong ngành, chọn con đường táo bạo, bứt khỏi cơ chế cũ với phương châm “bỏ qua công nghệ trung gian, đi thẳng vào công nghệ hiện đại, theo hướng số hóa, tự động hóa, đa dạng hóa dịch vụ” lấy phát triển viễn thông quốc tế làm khâu đột phá, tạo vốn, tạo nguồn lực và tạo cơ sở vật chất, tách dần ra ngoài vòng cấm vận của Mỹ, để tìm kiếm công nghệ mới từ các nước như Pháp, Ý, Hàn Quốc, thúc đẩy sự tăng tốc của ngành.

   Những thành tựu to lớn đã đạt trong 15 năm đổi mới và tăng tốc của bưu điện đã khẳng định chủ trương đúng đắn và chính xác của người lãnh đạo cao nhất trong ngành. Năm 1992, ông được cấp bằng lao động sáng tạo.

   Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VII, Ủy viên Ban chấp hành TƯĐCS Việt Nam khóa VI. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.

   Năm 1997, nghỉ hưu, nhưng vốn gắn bó với đồng bào vùng căn cứ cách mạng, vùng sâu, vùng xa, ông Đặng Văn Thân đã vận động các đối tác nước ngoài đang hợp tác với ngành Bưu điện Việt Nam ủng hộ kinh phí, cùng với ngành xây dựng được 15 trường học ở các tỉnh đang còn gặp nhiều khó khăn.

   Ngày 9-8-2000, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Sông TiềnSông Tiền
&nbsp;

Còn gọi  sông Mỹ  Tho

Đoạn sông nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, giáp biển Đông, dài 83km, chảy ra cửa Tiểu, cửa Đại, làm thành ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Nước ngọt của các dòng sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước từ sông Tiền.

Do sự biến động của dòng chảy và sự tác động của thủy triều mặn thâm nhập sâu vào trong đất liền, trên dòng sông xuất hiện nhiều cồn bãi nổi và ngầm, làm cho việc đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn.

Đã ban hành
Khấu Trung GươngKhấu Trung Gương
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Khấu Trung Gương

Từ năm 1965 đến tháng 4-1975, Khấu Trung Gương đã đánh trên 80 trận, diệt và làm bị thương 290 tên, thu 28 súng. Tháng 9 năm 1969, Khấu Trung Gương phụ trách tiểu đội thông tin xây dựng căn cứ ở xã Long Trung, địch càn quét, đóng đồn trong xã, Gương đã tổ chức anh em bao vây, ban ngày bắn tỉa, gài lựu đạn chặn đánh quân địch đi càn; ban đêm bò vào sát đồn ném lựu đạn và cắm chông, gài mìn chặn các đường đi, liên tục trong nửa tháng, diệt và làm bị thương trên 70 tên, buộc địch bỏ đồn, rút chạy. Trong trận đánh ngày 10 tháng 4 năm 1971, diệt 2 đại đội ngụy ở xã Thuận Điền, sau khi kết thúc, anh được giao phụ trách 1 tổ quay lại trận địa tìm 1 thương binh còn sót lại. Khấu Trung Gương bất chấp nguy hiểm đã vào tìm được thương binh và đưa về phía sau an toàn. Ngày 13-3-1975, Khấu Trung Gương chỉ huy đơn vị phục kích tiểu đoàn bảo an số 454 ở xã Tân Xuân, tuy địch dùng bom đạn ngăn chặn, nhưng đồng chí đã dẫn đầu đơn vị táo bạo thọc sâu chia cắt đội hình địch dùng B40 diệt các hoả điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển. Thấy địch tháo chạy, Khấu Trung Gương dẫn đầu đơn vị truy kích, cùng đơn vị bạn tiêu diệt nốt số địch này.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen. Ngày 6-11-1978, Khấu Trung Gương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành
Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.

Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy. Ngày 8-4-1975, từ căn cứ không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích. Khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè. Ngày 16-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc máy bay A37 lấy được của địch, tập huấn cho phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng lực lượng không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A37, máy bay F5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng; đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A37 và trung đoàn tiêm kích F5 - trung đoàn duy nhất của không quân Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

Ngày 20-12-1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đoàn Thị EĐoàn Thị E
Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị
E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm.

Anh hùng Đoàn Thị E (tức Dân Đoàn), sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là Đảng viên, y tá, bộ đội địa phương quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Image
Chân dung anh hùng Đoàn Thị E

Từ năm 1964 đến tháng 8-1966, Đoàn Thị E tham gia dân quân, làm quân báo. Chị thường ra vào các quận Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thị xã Bến Tre để nắm tình hình địch. Từ cuối năm 1966 đến năm 1968, Đoàn Thị E làm y tá ở quận Giồng Trôm. Chị luôn đi sát các đơn vị chiến đấu, có thương binh là cứu chữa ngay. Có lần bị địch phục kích bắt được, tra tấn dã man nhưng chị không khai báo gì, buộc địch phải thả về. Trong 5 năm (1969 - 1973), Đoàn Thị E phụ trách trạm thu dung thương binh, trạm có 3 người, chị là y tá và 2 hộ lý thường xuyên phục vụ trên 20 thương binh (có lúc trên 30 thương binh). Với tinh thần tận tụy, chị luôn cùng đồng đội chăm sóc thương binh chu đáo. Nhiều lần máy bay địch đánh phá, chị đã bình tĩnh dìu, cõng thương binh xuống hầm. Nhiều lần địch càn, tổ đã chuyển kịp thời tất cả thương binh đến nơi an toàn.

Đoàn Thị E còn tận dụng những dược liệu sẵn có ở địa phương, pha chế một số thuốc đông y phục vụ người bệnh, tiết kiệm cho công quỹ. Khắc phục khó khăn về thực phẩm chị đã đi bắt cua, cá, hái rau… để cải thiện bữa ăn hằng ngày. Ở địa phương nào, Đoàn Thị E cũng đều giúp đỡ nhân dân, chữa bệnh cho người ốm, vận động nhân dân góp người, góp của cho cách mạng; vận động được 25 gia đình binh sĩ ngụy gọi chồng con bỏ hàng ngũ địch trở về nhà làm ăn.

Chị E được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba. Ngày 20-12-1973, Đoàn Thị E được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc ThăngĐền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
&nbsp;
Image

- Đền thờ tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh, nằm bên cạnh đường tỉnh 885, cách Thị xã Bến Tre khoảng 6,5km.

 - Di tích được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07 tháng 5 năm 1997.
 
Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thạnh PhongThạnh Phong
&nbsp;

Xã ven biển của huyện Thạnh Phú, đã 2 lần được chọn làm nơi xuất phát những chuyến vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho cách mạng miền Nam. Lần thứ nhất vào cuối tháng 3-1946. Lần thứ hai vào tháng 7-1961. Trong KCCP, rừng ngập mặn xã Thạnh Phong là căn cứ địa của huyện Thạnh Phú và của tỉnh Bến Tre. Trong KCCM, Thạnh Phong là một trong những đầu cầu quan trọng tiếp nhận vũ khí và hàng chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc.

Xã Thạnh Phong đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Bãi NgaoBãi Ngao
&nbsp;

Bãi biển thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, có nhiều nghêu nên được gọi là Bãi Ngao. Sách Gia Định thành thông chí gọi là Ngao Châu. Đây là quê hương của Phan Thanh Giản.

Trong bài thơ điếu Phan Thanh Giản của Nguyễn Đình Chiểu có câu: “Dàu dàu mây bạc cõi Ngao Châu”. Ngao Châu tục danh là Bãi Ngao.

Đã ban hành
Mỹ LồngMỹ Lồng
&nbsp;

Còn gọi Mỹ Luông

Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.

 Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.

  Bến Tre nhiều gái chưa chồng
  Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem.
 
                                                    (Ca dao)
Đã ban hành
Mỏ CàyMỏ Cày
&nbsp;

 Sông Mỏ Cày

Sông chảy qua thị trấn Mỏ Cày ra xã Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo đổ ra sông Hàm Luông tạo nên một doi đất giống hình mỏ cày. Ở đầu kia, nối với rạch Thom (đào năm 1905) đổ ra sông Cổ Chiên.

Kênh Mỏ Cày – Thom (cù lao Minh) cùng với kênh Chẹt Sậy - An Hóa (cù lao Bảo và An Hóa) tạo thành con đường thuỷ quan trọng, nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cày, Trà Vinh.

Cầu Mỏ Cày

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua sông Mỏ Cày, dài hơn 100m, trên đường liên tỉnh từ thị xã Bến Tre qua phà Hàm Luông đến bến phà Cổ Chiên sang Trà Vinh.

 Huyện Mỏ Cày

Huyện lớn nhất và đông dân nhất của tỉnh Bến Tre, trong lịch sử tồn tại đã có nhiều lần chia, tách, nhập rất phức tạp.

Huyện Mỏ Cày có diện tích tự nhiên 35.196ha, bắc giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, ngăn cách bởi sông Hàm Luông, tây và tây nam giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung con sông Cổ Chiên, tây giáp huyện Chợ Lách, đông và nam giáp huyện Thạnh Phú.

Sau này 30-4-1975, theo chủ trương điều chỉnh lại địa giới các huyện, thị Mỏ Cày có 28 xã và 1 thị trấn.

Mỏ Cày

Sở tham biện, lập ngày 4-12-1867, gồm vùng đất cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long.

 Thị trấn Mỏ Cày

Thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Một nhánh của sông Hàm Luông chảy đến làng Đa Phước Hội thì chia làm 3 ngã: một nhánh nối với kinh Thom, một nhánh là rạch Cầu Ông Bồng, một nhánh là rạch Mỏ Cày. Nơi giáp 3 ngã sông rạch này tạo nên một doi đất hình mỏ cày (mỏm cày). Năm 1867, Mỏ Cày là lỵ sở của sở tham biện Mỏ Cày (gồm toàn bộ cù lao Minh), sau tháng 8-1945 đến 1975 là quận lỵ Mỏ Cày, sau ngày giải phóng (30-4-1975) là thị trấn, huyện lỵ Mỏ Cày. Đây là trung tâm kinh tế lớn nhất của cù lao Minh và cũng là huyện lỵ đông dân nhất tỉnh.

Đã ban hành
Cù lao MinhCù lao Minh
&nbsp;

Một trong 3 cù lao lớn hợp thành tỉnh Bến Tre (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Cuối thế kỷ XIX, cù lao Bảo và cù lao Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1900, tỉnh Bến Tre được thành lập gồm 2 cù lao Bảo và cù lao Minh. Đến 1948, theo quyết định của UBKCHC Nam Bộ, cù lao An Hóa mới tách ra khỏi tỉnh Mỹ Tho nhập về tỉnh Bến Tre.

Hiện nay, cù lao Minh gồm: huyện Chợ Lách, huyện Mỏ Cày và huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Cồn LợiCồn Lợi
&nbsp;

Cồn thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, nằm ở phía nam cửa Hàm Luông, 30 năm về trước còn cách bờ khoảng 3km, nay được bãi bồi nối liền với đất liền trở thành bán đảo. Cuối tháng 3-1946, một đoàn cán bộ của tỉnh Bến Tre xuất phát từ Cồn Lợi đã vượt biển ra Hà Nội để báo cáo tình hình với Trung ương và xin chi viện cho chiến trường khu 8, Nam Bộ.

Chuyến vượt biển lần thứ hai với yêu cầu tương tự như lần trước cũng xuất phát từ Cồn Lợi vào đầu tháng 7-1961 và cũng đã thành công.

Cồn Lợi cũng là một “mỏ nghêu” nổi tiếng của Bến Tre.

            “Sầu riêng, măng cục Cái Mơn,

            Nghêu sò Cồn Lợi, thuốc ngon Mỏ Cày”.

                                                                   (Ca dao)

Đã ban hành
Liệt địaLiệt địa
&nbsp;

Thường gọi đầm Lạc Địa

Vùng lòng chảo rộng trên 100ha nằm giữa các xã Phú Lễ, Phú Ngãi, An Nhơn và An Bình Tây của huyện Ba Tri. Đến đầu thế kỷ XX, nơi đây còn hoang vu, chỉ có loài thảo mộc hoang dại mọc um tùm, cá nhiều vô kể, cả rắn, trăn nước và cá sấu. Mùa cạn, dân quanh vùng vào đây tát đìa bắt cá.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer