Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Trang tư liệu
 
Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày. 
Đồng Văn Cống Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm. Lê Dũng Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm. Nguyễn Xuân Ôn Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày 
 
 
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công... 
Huân chương sao vàng 07 Huân chương Hồ Chí Minh 1.532 Huân chương Độc lập 69 Huân chương Thành Đồng Huân chương giải phóng ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Quới ĐiềnQuới Điền
 

Làng thuộc tổng Minh Phú, phủ Hoằng An. Tên làng Quới Điền xuất phát từ tên người chiếm hữu phần lớn ruộng đất ở đây (hơn 2000 mẫu) là Nguyễn Tấn Quới, thường gọi là Hương chủ Quới. Quới Điền có nghĩa là ruộng của điền chủ Quới (tên của người chiếm hữu chứ không phải người khai phá).

Năm 1869, khi giặc Pháp chiếm đóng vùng này, nhân dân làng Quới Điền, cả già trẻ, lớn nhỏ đều bỏ nhà cửa ruộng vườn ra đi. Hiện nay, xã Quới Điền thuộc huyện Thạnh Phú.

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Ba VátBa Vát
 

Ba Vát (còn gọi Ba Việt)

Địa danh gốc Khmer (Pears Watt là chùa phật). Vào thế kỷ XVIII, nơi đây là huyện lỵ của huyện Tân An - một trung tâm kinh tế khá phồn thịnh thời bấy giờ. Năm 1777, đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt tại đây…

Ca dao xưa:

        Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát,

        Đường Ba Vát gió mát tận xương.

Câu ca dao phản ánh ít nhiều vị trí của thị tứ này thời ấy.

Thời KCCM, Ba Vát là quận lỵ của quận Đôn Nhơn (3-1963). Nằm trên đường Mỏ Cày đi Chợ Lách, Ba Vát là một thị tứ đang phát triển, có chợ có bến thuyền, kho hàng, trường học và nhiều cửa hàng, cơ sở dịch vụ.

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đấu tranh chính trị kết hợp diệt ác, trừ gian và phát triển lực lượngĐấu tranh chính trị kết hợp diệt ác, trừ gian và phát triển lực lượng

Từ đầu năm 1957, với bộ máy đàn áp đồ sộ (1), Mỹ, Diệm phát động cuộc chiến tranh một phía, mở ra thời kỳ khủng bố công khai những người cộng sản và nhân dân yêu nước trên toàn miền Nam, nhằm mục đích tiêu diệt phong trào cách mạng, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

   Ở Bến Tre, để thực hiện âm mưu này, chúng lập ra 4 khu trù mật: Thành Thới (Mỏ Cày), An Hiệp (Châu Thành), An Hiệp (Ba Tri), Thới Thuận (Bình Đại), gom dân vào để kìm kẹp khống chế, tách dân ra khỏi cách mạng. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm thí điểm cho cả khu Trung Nam Bộ. Trong các khu tập trung, chúng tiến hành phân loại dân chúng, bắt làm căn cước, làm bản kê khai danh sách gia đình có dán ảnh, tổ chức "ngũ gia liên bảo" với âm mưu dùng gia đình này giám sát gia đình khác. Chúng kiểm soát và hạn chế sự đi lại của nhân dân, bắt mỗi nhà ban đêm phải treo đèn trước cửa, phải tham gia canh gác, báo động, bắt người lạ mặt vào xóm ấp.

   Thủ đoạn vô cùng thâm độc của Mỹ, Diệm trong âm mưu tiêu diệt lực lượng cách mạng là bắt ép nhân dân "tố cộng", hòng làm rạn nứt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng. Trong quá trình thực hiện "tố cộng, diệt cộng", bọn tay sai phản động đã sử dụng mọi biện pháp từ dụ dỗ mua chuộc đến đàn áp dã man. Thâm độc hơn, chúng còn dùng chước "dĩ cộng diệt cộng", khai thác và dùng bọn đầu hàng phản bội để chỉ điểm, truy lùng, bắt bớ cán bộ và quần chúng cơ sở cách mạng. Thực hiện phương châm "tiêu diệt cộng sản không thương tiếc", địch đã thẳng tay đàn áp, giết chóc hàng ngàn đảng viên, cán bộ, quần chúng cách mạng. Trường học, thánh thất, nhà thờ, đình chùa... trở thành nơi tra tấn, giam cầm. Khám Bến Tre không còn đủ chỗ để giam người, tù nhân phải nằm la liệt ngoài sân. Nhiều người bị giết chết không cần xét xử, mỗi ngày có hàng chục người bị thủ tiêu, xác ném xuống sông. Phong trào cách mạng Bến Tre đứng trước những thử thách vô cùng hiểm nghèo.

   Quán triệt nghị quyết BCT, tháng 6-1956 (2), “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn (3) và Nghị quyết của XUNB tháng 12-1956 (4). Tỉnh ủy Bến Tre đã kiểm điểm, đánh giá tình hình và đề ra một số chủ trương khẩn cấp trước mắt để giữ gìn lực lượng, đấu tranh chống địch, bảo vệ cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Thực hiện chủ trương trên, Đảng bộ Bến Tre vừa tích cực xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang mật, vừa lãnh đạo phong trào toàn dân đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Quần chúng đã biến các cuộc "tố cộng" của Mỹ, Diệm thành trò hề đả kích lại chế độ đó, đã tiến hành đấu tranh với nhiều hình thức phong phú. Nhiều cuộc đấu tranh đã mang lại kết quả, như bà con đã mời được Hội Luật sư từ Sài Gòn xuống Sóc Sãi điều tra tình hình và buộc phải đổi tên quận trưởng gian ác ở đây đi nơi khác. Ở Khánh Thạnh Tân (Mỏ Cày), quần chúng đấu tranh buộc địch phải bắt giam tên đại diện Nhơn ác ôn.

   Trong buổi lễ khánh thành khu trù mật Thành Thới cuối năm 1958 có Ngô Đình Diệm về dự, nhân dân đã cử người đưa thư tố cáo những hành động quấy nhiễu, ức hiếp quần chúng của bọn tay sai ở địa phương, gây nên quang cảnh lộn xộn, khiến buổi lễ phải kết thúc sớm.

Tháng 12-1958, hưởng ứng phong trào đấu tranh của cả nước lên án Mỹ, Diệm đầu độc giết hại 1.000 tù nhân ở trại giam Phú Lợi, hơn 500 đồng bào Bến Tre đã kéo lên Sài Gòn biểu tình.

   Sau khi được tin nhiều người trong cuộc biểu tình bị bắt giam (khoảng 100 người), hàng vạn quần chúng trong tỉnh đã kéo về thị xã, các thị trấn biểu tình và tổ chức lễ cầu siêu ở chùa, thánh thất, nhà thờ để tố cáo bọn giết người.

   Có biết bao tấm gương anh dũng hy sinh để bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ xuất hiện trong những năm 1957-1959. Mẹ Kế ở Giồng Trôm có chồng, con đi hoạt động cách mạng. Địch đã bắt mẹ tra tấn dã man, buộc phải chỉ chỗ ở của chồng con, nhưng mẹ vẫn một mực không khai. Trước khi chết, mẹ đã chỉ vào ngực mình và thét lớn: "Chồng, con tao ở trong tim tao, bay muốn kiếm thì moi tim tao mà lấy"!.

   Em Nguyễn Thị Chi, 15 tuổi ở Giồng Trôm, cha mẹ đi vắng, địch kéo đến bắt em đánh đập dã man, tra hỏi hầm bí mật, em vẫn cố chịu đựng, kiên quyết không chỉ, do đó bảo vệ được một đồng chí lãnh đạo ở dưới hầm.

   Khi có những cán bộ không may bị địch giết chết, bà con tổ chức làm đám tang, làm lễ cầu siêu để biểu thị sự phản đối của tập thể quần chúng đối với tội ác của địch. Trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, nhiều đảng viên vẫn trung thành với Đảng, với cách mạng, giữ vững khí tiết của người cộng sản. Anh Nguyễn Văn Duy, Huyện ủy viên Giồng Trôm bị địch bắn trọng thương, rồi bị đánh đập, tra tấn, bị cột vào xe kéo lê trên đường cho đến chết, vẫn không khai báo cơ sở cách mạng. Chị Trần Thị Tiết (thường gọi là chị Út Hạnh), một cán bộ của huyện Thạnh Phú bị bắt, bị đánh đập tra tấn, đến khi sắp chết bị chúng đem bỏ ở nhà xác. Nhờ cơ sở đưa ra ngoài và cứu sống, chị lại trở về với đội ngũ. Anh Đoàn Văn Tranh, Huyện ủy viên Mỏ Cày đang chuẩn bị kế hoạch “Đồng khởi”, không may bị địch bắt, bị tra tấn dã man. Thà chết cũng không khai một lời, bảo đảm kế hoạch Đồng khởi nổ ra đúng dự định, thắng lợi. Đồng chí Lộ ở Hiệp Hưng, đồng chí Lê Tặng ở Ba Tri, đồng chí Trung ở Thạnh Phú, đồng chí Hoàng Vũ ở Bình Đại v.v... cũng đã nêu những tấm gương hy sinh bất khuất như vậy.

   Tinh thần đấu tranh kiên trung, bất khuất của cán bộ và nhân dân đã làm thất bại âm mưu đánh phá, tiêu diệt phong trào cách mạng của địch. Nhờ đó, tổ chức Đảng vẫn tồn tại và bám chắc vào quần chúng, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống địch.

   Trong những năm 1957-1958, trước sự tàn bạo của địch, nhiều trường hợp, nhân dân đã dùng võ trang tự vệ để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị. Những tên cảnh sát, công an, do thám, chỉ điểm, bị trừng trị ngày càng nhiều. Tình hình đó làm cho bọn ác ôn bắt đầu chùn tay. Nhiều cơ sở nội tuyến đã góp phần diệt ác ôn bằng thủ pháp riêng của mình.

   Cho đến cuối năm 1958 đầu 1959, phong trào đấu tranh chính trị có kết hợp bí mật, diệt ác trừ gian đã phát triển đến đỉnh cao. Số đảng viên còn lại được tôi luyện đã tỏ ra già dặn trong lãnh đạo đấu tranh. Quần chúng cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm và có quyết tâm chiến đấu cao. Các tổ chức thanh niên vũ trang mật được tổ chức ở hầu hết các xã, có biện pháp khôn khéo trong hoạt động võ trang tuyên truyền, diệt ác, trừ gian. Tất cả những nhân tố trên đã góp phần tạo nên tiền đề cho một cuộc nổi dậy giành quyền làm chủ về tay nhân dân.

   Đầu năm 1959, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, BCHTƯĐCS họp Hội nghị lần thứ 15. Hội nghị xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là "Giải phóng miền Nam tránh khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người có cày ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam". Về phương pháp cách mạng, Hội nghị nhấn mạnh: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều, hoặc ít để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân".

   Nghị quyết 15 ra đời, mở đường cho cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế tiến công.

   Tiếp nhận được Nghị quyết 15, tháng 11-1959, XUNB họp hội nghị lần thứ 4, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho Đảng bộ Nam Bộ.

   Sau khi có nghị quyết Trung ương và nghị quyết của XUNB, tháng 12-1959, Khu ủy khu 8 họp hội nghị có đại biểu các tỉnh ủy về tham dự (5).

   Hội nghị quyết định phát động quần chúng nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ nông thôn, các tỉnh phải khẩn trương tổ chức xây dựng lực lượng chính trị đồng thời với LLVT, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy ở xã, ấp vào tháng 1-1960. Phương châm nổi dậy là phải rộng khắp, để địch không tập trung đánh phá được, phải đưa đông đảo quần chúng nhân dân vùng lên đấu tranh, nhưng phải giữ thế hợp pháp cho quần chúng, tránh đấu tranh vũ trang đơn thuần; hoạt động vũ trang cần khéo léo, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, tránh phô trương nhằm gây tiếng tăm.

   Tiếp thu nghị quyết của Khu ủy, Tỉnh ủy Bến Tre triển khai ngay các hoạt động chuẩn bị cho khởi nghĩa. Tỉnh ủy chỉ đạo các huyện ủy, các chi bộ xã nỗ lực đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, móc nối và củng cố cơ sở binh vận, bổ sung lực lượng, để thành lập 3 đội võ trang tuyên truyền của tỉnh (6).

   Số cán bộ điều lắng các nơi được gọi về địa phương nhận nhiệm vụ mới, để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Tỉnh ủy quyết định đánh đồn Lộc Thuận (Bình Đại) ngày 19-12-1959 để thăm dò phản ứng của địch. Trong trận này ta thu được 7 súng, địch không có phản ứng gì đáng kể.

   Để triển khai thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương và nghị quyết của Khu ủy, ngày 1-1-1960, hội nghị cán bộ phía cù lao Minh (7) được triệu tập dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Thị Định. Sau khi phân tích đánh giá so sánh lực lượng, hội nghị đi đến quyết định phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong toàn tỉnh, vào trung tuần tháng 1-1960, lấy ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày) làm điểm đột phá, đồng thời làm điểm chỉ đạo riêng của tỉnh ủy để rút kinh nghiệm. Hội nghị nêu yêu cầu của cuộc khởi nghĩa cần đánh vào chỗ yếu nhất của địch là bộ máy kìm kẹp ở xã ấp và lưu ý trong khi tiến hành trừ gian diệt ác, tránh chém giết tràn lan trả thù cá nhân. Việc sử dụng đấu tranh võ trang phải nhằm phục vụ và phục tùng đấu tranh chính trị, đồng thời xác định tư tưởng chỉ đạo cuộc khởi nghĩa là “tiến công địch liên tục, phát triển lực lượng cách mạng hết khả năng, không hạn chế...” Hội nghị cũng nhấn mạnh đến yêu cầu khẩn trương, nhưng phải đảm bảo tuyệt đối bí mật, cần tận dụng yếu tố bất ngờ để kẻ địch không kịp đối phó, quyết giành thắng lợi cao nhất từ trận khởi đầu.

   Đêm 16 rạng ngày 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy, cuộc khởi nghĩa đã nổ ra theo đúng kế hoạch dự định và đã giành thắng lợi nhanh, gọn ở Định Thủy. Tại đây, lực lượng quần chúng nổi dậy kết hợp với binh vận có võ trang hỗ trợ đã tiêu diệt tổng đoàn dân vệ do tên đội Tý cầm đầu và chiếm đồn Vàm Nước Trong, giải tán tề xã, phá hết các hình thức kìm kẹp của địch.

   Tại xã Phước Hiệp, "tổ hành động" cùng nhân dân bao vây đồn dân vệ, lùng bắt tề, điệp, giải tán chính quyền xã. Sáng 18-1-1960, 3 đò máy chở lính bảo an theo rạch Ông Bồng vào xã Phước Hiệp bị đội vũ trang của ta bắn chìm một chiếc, diệt tên trung úy, buộc chúng phải tháo chạy về thị trấn. Bọn dân vệ trong đồn Phước Hiệp xé rào, bỏ chạy. Xã Phước Hiệp được giải phóng.

   Ở xã Bình Khánh, sáng ngày 20-1-1960, sau khi lập kế diệt gọn bọn công an Ngô Quyền và công an tỉnh đóng tại xã, nhân dân nhất tề xông ra lùng bắt bọn tề điệp, bao vây và gọi hàng đồn dân vệ, bắt sống tất cả tù binh. Tại đây, trung đội vũ trang của tỉnh mang phiên hiệu 264 đã ra đời.

   Ngày 21-1-1960, một đại đội thủy quân lục chiến từ thị xã Bến Tre đến cứu viện Phước Hiệp bị đội vũ trang bắn chìm một ghe máy, diệt bọn địch đi trên ghe, buộc số còn lại phải rút lui.

   Một đại đội thủy quân lục chiến khác đến xã Bình Khánh cũng bị du kích đánh lui.

   Thắng lợi cuộc khởi nghĩa ở vùng điểm đột phá mở màn đã cổ vũ cho phong trào khởi nghĩa chung trong toàn tỉnh. Ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, nhân dân đã đồng loạt nổi dậy. Kết quả có 22 xã hoàn thành việc đập tan bộ máy kìm kẹp, 25 xã diệt được ác, bao vây đồn bót, giải phóng được nhiều ấp. Ở nhiều huyện, xã, các tổ, đội vũ trang được thành lập, nhân dân họp mít-tinh, lập tòa án xét xử bọn tề ngụy phản động.

   Việc tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian tạm cấp cho nông dân được tiến hành ngay. Riêng ở Mỏ Cày, trong tuần lễ nổi dậy, sáu trăm công ruộng đã được đem chia cho nông dân, bảy trăm năm mươi dạ lúa tô của địa chủ bị buộc phải trả lại cho đồng bào, nhân dân phấn khởi tích cực đóng góp lương thực, tài chính cho cách mạng.

  Đầu tháng 2-1960, Tỉnh ủy họp hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm tuần lễ nổi dậy, chủ trương phát triển tiếp lực lượng, giữ thế cho phong trào, chống địch phản kích, chuẩn bị cho đợt cao điểm sau.

   Đầu tháng 3, Ngô Đình Diệm đến Mỏ Cày thị sát tình hình, coi đây là cái "ung nhọt Kiến Hòa" cần dập tắt, không để lây lan.

   Để phản công lại cách mạng, ngày 25-3-1960, Diệm huy động 10.000 quân, gồm thủy quân lục chiến, biệt động, lính dù cùng với quân địa phương, có 70 xe quân sự, 17 tàu chiến, 15 khẩu pháo 105 ly, tiến hành bao vây càn quét quy mô 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh.

   LLVT của ta chỉ với 1 trung đội mới thành lập, trang bị còn thô sơ, đã dựa vào địa hình thuận lợi, đánh thắng địch ngay trận đầu, diệt hơn 50 tên địch, thu nhiều vũ khí. Phối hợp với hoạt động vũ trang chống phản kích. Tỉnh ủy đã phát động quần chúng ở 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh và các xã lân cận dùng ghe xuồng chở người lên thị trấn Mỏ Cày, đến dinh quận trưởng tố cáo lính chủ lực đàn áp, giết chết đồng bào, xem thường cả chính quyền địa phương. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm và đã giành được thắng lợi. Đại diện của ngụy quyền Sài Gòn phải tới Mỏ Cày hứa rút quân và đến ngày 20-4 thì cuộc càn chấm dứt. Thế là chiến dịch "Bình trị Kiến Hòa" của một vạn quân hỗn hợp của ngụy quyền Sài Gòn đã thất bại. Tỉnh trưởng Lê Ba bị cách chức, Nguyễn Huỳnh được cử đến thay thế.

   Cuối tháng 4-1960, Tỉnh ủy họp hội nghị mở rộng ở xã Châu Bình (Giồng Trôm) tổng kết cuộc Đồng khởi mùa xuân năm 1960. Tại hội nghị này, đã đi đến một số kết luận quan trọng. Hiện nay phong trào cách mạng đang ở thế chủ động tiến công, khí thế sôi nổi. Quan điểm quân sự đơn thuần được uốn nắn, khắc phục. Phương châm đánh địch bằng “hai chân, ba mũi” (miền núi và đồng bằng, chính trị kết hợp với võ trang và binh vận) đã duy trì được thế hợp pháp của quần chúng trong đấu tranh. Cũng từ hội nghị này hai chữ “Đồng khởi” bắt đầu ra đời, mang nội dung: “đồng loạt, đồng tình, đồng lòng nổi dậy, quật khởi chống lại địch”.

   Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ. Chấp hành chỉ thị trên, Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre quyết định mở cuộc “Đồng khởi” đợt 2, thời gian từ 15-20 ngày, hướng chính là huyện Giồng Trôm, hướng phụ là huyện Mỏ Cày, điểm chỉ đạo riêng của tỉnh là năm xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Phú, Châu Hòa, Châu Bình thuộc huyện Giồng Trôm. Đồng thời tỉnh ủy cũng chủ trương đẩy mạnh hoạt động ở thị xã, nhằm buộc chân LLVT địch ở nơi đây, tạo điều kiện thuận lợi cho các trọng điểm giành thắng lợi.

   Thực hiện chủ trương này, ngày 21, 22-9-1960, hàng vạn quần chúng đổ xô về thị xã mua lương thực, thực phẩm hàng hóa dự trữ, tung tin sắp có đánh lớn. Trưa 23-9, đại đội 261 phục kích diệt gọn một trung đội bảo an ngụy trên đường Tân Thạch - thị xã. Cùng ngày, một trung đội vũ trang của Giồng Trôm cũng diệt gọn một trung đội bảo an ngụy trên đường Giồng Trôm - thị xã. Đến đêm 23-9, tự vệ thị xã diệt đồn dân vệ ở cầu Nhà Thương, tước vũ khí của dân vệ đồn cầu Cái Cối. Sáng 24-9, địch phải cấp tốc điều hai tiểu đoàn bảo an từ Giồng Trôm về phòng thủ thị xã, khiến cho lực lượng quân sự của chúng ở đây mỏng đi. Để ngăn chặn địch từ thị xã kéo đến đàn áp, nhân dân huyện Giồng Trôm đã phá sập cầu Bình Chánh bằng hàng trăm cây dừa kết thành bè, cắt đứt đường giao thông tiếp tế từ thị xã đi Giồng Trôm.

   Từ chiều ngày 24-9-1960, trong tiếng trống mõ vang động, Bến Tre bước vào "Đồng khởi” đợt 2. Tại đồn Châu Phú, hồi 15 giờ ngày 24-9, một đại đội trưởng đại đội nghĩa binh Công giáo đã làm nội ứng phối hợp với tiểu đội vũ trang của đại đội 261 giả làm lính bảo an, kéo thẳng vào đồn tước súng, bức hàng toàn bộ.

   Từ đồn Châu Phú, LLVT cùng cơ sở nội tuyến dùng xe lam tiến đánh bót nhà thờ Châu Phú. Bọn lính ở đây trở tay không kịp, đã nhanh chóng đầu hàng. Tiếp đó, các cơ sở nội tuyến dẫn đầu các gia đình binh sĩ tiếp tục kéo sang Châu Thới, phá bung cửa đồn, cho quân ta tràn vào và kêu gọi địch đầu hàng. Cùng lúc, nhân dân các xã Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Bình, Châu Hòa cùng các tiểu đội vũ trang của xã kết hợp với nội tuyến kéo đi san bằng hệ thống đồn bót địch dọc sông Ba Lai, bắt 100 tù binh, thu được nhiều súng, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn.

   Đêm 24-9, nhân dân 5 xã họp mít-tinh mừng chiến thắng, đồng thời chuẩn bị kế hoạch chống địch càn quét, phản kích. Hàng chục vạn quần chúng trong tỉnh đã bao vây đồn bót, nổi trống mõ, đốt đuốc, xuống đường biểu tình thị uy, phát loa kêu gọi. Trước khí thế sôi sục của quần chúng, 20 đồn bót ở Giồng Trôm đã nộp súng qui hàng, hàng chục đồn ở Châu Thành, Bình Đại, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Ba Tri bị diệt, hàng chục xã được giải phóng.

   Cuộc Đồng khởi 2 mở ra với qui mô toàn tỉnh, khí thế tiến công của phong trào mãnh liệt chưa từng thấy. Đến cuối năm 1960, toàn tỉnh đã có 51 xã trong số 115 xã hoàn toàn giải phóng, 21 xã giải phóng 1 phần, nhân dân đã làm đủ 300 ấp trong tổng số 500 ấp. Ở nhiều nơi, địch tung lực lượng phản kích, nhưng phần lớn đều bị các cuộc đấu tranh trực diện của quần chúng chặn đứng, hoặc tạo điều kiện cho LLVT ta tiêu hao, tiêu diệt.

   Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Tại Bến Tre, ngày 28-12-1960, ở ấp Bến Bàu (Ba Tri), Đại hội nhân dân tỉnh khai mạc với sự tham dự của 400 đại biểu các huyện, bầu ra Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng. Đông đảo đồng bào trong tỉnh vô cùng phấn khởi. Nhiều cuộc mít-tinh chào mừng sự ra đời của Mặt trận được tổ chức ở khắp nơi. Thắng lợi to lớn của cao trào Đồng khởi đã tạo ra thế và lực mới, đưa phong trào cách mạng trong toàn tỉnh tiếp tục đi lên.

Chú thích:

(1) Năm 1957, ngụy quyền Sài Gòn đã tăng cường cho Bến Tre 4 tiểu đoàn "Công an Ngô Quyền", "Công an Duyên Hải" của Nha cảnh sát đô thành Sài Gòn, với số lượng trên 3.000 tên.
(2)  Nghị quyết vạch rõ: "Chế độ miền Nam là một chế độ độc tài, phát xít của bọn tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ phản động nhất..., miền Nam đang trở thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ, nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là phản đế và phản phong kiến". Về hình thức đấu tranh, Nghị quyết viết: "Tuy hình thức đấu tranh của ta trong hoàn cảnh hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang, nhưng như thế không có nghĩa là không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định" (Xem Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd, tr 33).
(3) Bản đề cương được soạn thảo xong tháng 8-1956
(4) Nghị quyết XUNB nói rõ phương châm, phương pháp đấu tranh và vạch ra "con đường tiến lên của cách mạng miền Nam là dùng bạo lực khởi nghĩa giành chính quyền", Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Sđd, tr. 33)
(5) Đại biểu của Tỉnh ủy Bến Tre là đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy.
(6) Đội 1 ở cù lao Bảo do đồng chí Tư Chi phụ trách; đội 2 ở cù lao Minh do đồng chí Ba Đào phụ trách; đội 3 ở huyện Giồng Trôm do đồng chí Sáu Chung phụ trách.
(7) Do điều kiện giao thông liên lạc lúc bấy giờ rất khó khăn, không thể triệu tập một lúc các cán bộ lãnh đạo ở các vùng trong một cuộc hội nghị. Đồng chí Võ Văn Phẩm, Bí thư Tỉnh ủy, tranh thủ truyền đạt chủ trương mới cho một số tỉnh ủy viên phụ trách các huyện.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trung tâm Điều dưỡng Người có công thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến TreTrung tâm Điều dưỡng Người có công thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre
Khu nghỉ dưỡng Mỹ An – Trung tâm Điều dưỡng Người có công thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre là khu nghỉ dưỡng có quy mô thiết kế 70 phòng và đã đưa vào sử dụng giai đoạn 1 ngày 01/7/2013 với 36 phòng được thiết kế kiểu bungalow gồm 3 khối nhà.

Khu nghỉ dưỡng Mỹ An – Trung tâm Điều dưỡng Người có công thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre là khu nghỉ dưỡng có quy mô thiết kế 70 phòng và đã đưa vào sử dụng giai đoạn 1 ngày 01/7/2013 với 36 phòng được thiết kế kiểu bungalow gồm 3 khối nhà.

 

Cổng ngoài khu nghỉ dưỡng Mỹ An, xã Mỹ Thạnh An, Tp. Bến Tre

Bên cạnh phòng ngủ được trang bị đầy đủ tiện nghi như tivi, tủ lạnh, wifi,.... Khu nghỉ dưỡng Mỹ An có nhà hàng máy lạnh với sức chứa 400 chỗ được thiết kế theo hình tròn hiện đại và nhà hàng sân vườn thoáng mát là nơi lý tưởng để tổ chức tiệc cưới, sinh nhật,....

Ngoài ra khu nghỉ dưỡng Mỹ An còn có hội trường với sức chứa 150 khách với đầy đủ thiết bị âm thanh, ánh sáng phục vụ cho hội nghị, hội thảo. Khuôn viên khu nghỉ dưỡng Mỹ An rộng 02 hecta với khuôn viên rộng, có chỗ để xe rộng rãi nằm dọc bờ sông Hàm Luông ở phía Tp. Bến Tre – thuộc xã Mỹ Thạnh An cách trung tâm Tp. Bến Tre 02 km nên việc giao thông rất thuận tiện.

 

Toàn cảnh khu nghỉ dưỡng Mỹ An - Ảnh: Khu nghỉ dưỡng Mỹ An

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Văn BaNguyễn Văn Ba


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại
tá nghỉ hưu.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm
1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm
1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung
gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh
máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế,
Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ
bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính
xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của
không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn
Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành
xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc
Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển
ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân
bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm
1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là
giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến
năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995,
Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá nghỉ hưu.

Năm 1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm 1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế, Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc.

Nguyễn Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.

Đồng chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Các sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến TreCác sĩ quan được phong quân hàm cấp tướng của tỉnh Bến Tre
Đồng Văn Cống
Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.
Lê Dũng
Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.
Nguyễn Xuân Ôn
Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày

Trung Tướng

Đồng Văn Cống

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Lê Dũng

Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Xuân Ôn

Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày.

Võ Viết Thanh

Xã Lương Phú, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Thạnh

Xã Thạnh Trị, Huyện Bình Đại

Thiếu Tướng

Nguyễn Thị Định

Xã Lương Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Tạ Văn Khâm

Xã An Thạnh, Huyện Mỏ Cày.

Huỳnh Xuân Quang

Xã Mỹ Hoà, Huyện Ba Tri.

Trần Nhiên

Xã Châu Hoà, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Văn Sĩ

Phường IV, Thị xã Bến Tre.

Vũ Khắc Sương

Xã Long Mỹ, Huyện Giồng Trôm.

Lê Phú Tươi

Xã An Thới, Huyện Mỏ Cày.

Trần Minh Tích

Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm.

Nguyễn Hữu Vị

Xã Châu Bình, Huyện Giồng Trôm.


Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Tôi đến Bến Tre thời “qua sông còn phải lụy phà”, khi ấy đi mất nhiều thời gian, ngán lắm. Bây giờ thì từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre rất nhanh (chỉ mất khoảng 1 giờ 45). Bởi chiếc cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ hai tỉnh Bến Tre - Tiền Giang, Bến Tre đã hoàn toàn phá bỏ thế cách trở của vùng đất cù lao. Và thời ấy đến Bến Tre cũng không có nhiều khách sạn, nhà nghỉ để mà lựa chọn như bây giờ.

 

Qua sự giới thiệu của bè bạn, lần này đến Bến Tre với gia đình tôi chọn điểm nghỉ ở Khách sạn Sao Mai, số 106C - ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Cơ sở lưu trú này cũng dễ tìm và nằm ở vị trí khá thuận lợi, cạnh khu vực chợ phường 7 và gần với khu dân cư cao cấp Sao Mai.

Quan sát chung, tôi thấy toàn khu vực khách sạn lấy ý tưởng cảnh sân vườn là chủ yếu, nên không gian rất thoáng mát, kết hợp trang trí bên ngoài cùng màu xanh của cây cảnh rất hấp dẫn. Các vật dụng bàn, ghế đều làm bằng gỗ cao cấp, được bố trí ở những gian nhà ngoài để du khách có thể ngồi ngắm cảnh, thư giãn, trao đổi công việc…. Khung cảnh nơi đây đã thật sự tạo cho du khách sự thích thú khác lạ. Những ngày nghỉ tại đây, tôi gặp một số nhạc sĩ khá nổi tiếng của thành phố Hồ Chí Minh đang ở đây đi thực tế sáng tác. Tôi nghĩ với không gian cảnh quan thoáng mát, xanh – sạch - đẹp, yên ả thế này, thì rất lý tưởng cho giới văn nghệ sĩ cảm hứng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật hay phục vụ cho đời.

Với tôi, đây là điểm nghỉ ngơi lý tưởng, thích nhất là bữa ăn trưa, ăn chiều rất hợp khẩu vị, ngon miệng, giá bình dân, do khách sạn phục vụ theo yêu cầu của khách. Qua tìm hiểu, Khách sạn Sao Mai hiện có 36 phòng, được trang bị đầy đủ tiện nghi và chia thành nhiều loại phòng để khách có thể lựa chọn. Mỗi phòng nghỉ phía trước hoặc phía sau đều có bố trí bàn uống trà và ghế bố để du khách thư giãn….  Ngoài ra, trong khu khách sạn còn có sân tennis, sân cầu lông để khách rèn luyện sức khỏe hay giao lưu thể thao cùng bạn bè thân hữu mỗi khi đến công tác hay nghỉ dưỡng tại đây. Và khoảng sân vườn trống có bố trí lối đi, du khách đi tản bộ xung quanh. Tại khu khách sạn này có bố trí bãi để xe và xe 50 chỗ thoải mái vào đến nơi.

Thời điểm tôi và gia đình nghỉ tại đây cũng là lúc Khách sạn Sao Mai vừa mới được nâng cấp và đang làm thủ tục đề nghị ngành chức năng công nhận 1 sao, bây giờ chắc đã được công nhận rồi. Và tôi nghĩ rằng với sự phát triển hiện nay của  Bến Tre sẽ còn nhiều cơ sở lưu trú lý tưởng hơn hoặc cỡ như Khách sạn Sao Mai.

 

Trong khuôn viên khách sạn có hội trường mini khoảng 100 chỗ ngồi, thích hợp để tổ chức những cuộc hội nghị vừa, nhỏ, những cuộc gặp gỡ, giao lưu…, tất cả bàn, ghế và một số trang trí khác trong hội trường chủ yếu làm bằng gỗ cao cấp nhìn rất sang trọng và cổ kính. Khu nhà hàng thiết kế theo dạng nhà sàn, vật liệu chính cũng là gỗ, được xây dựng bên hồ nước, giúp điều hòa không khí đảm bảo thực khách khi dùng bữa ở nhà hàng luôn luôn thoải mái…. Các món ăn đặc sản của vùng sông nước ĐBSCL cũng được khách sạn đưa vào thực đơn phục vụ khách như: Cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, mắm chưng, mắm kho, canh chua cá bông lau, cá ngát, cá hú, … và còn nhiều món hấp dẫn khác sẽ phục vụ khách.

Nghỉ tại Khách sạn Sao Mai, đêm xuống du khách có thể tản bộ theo hướng vòng xoay Hàm Luông (trên đường tránh QL 60), đây là con đường rộng, khá sang trọng, có nhiều lối kiến trúc xây dựng nhà ở hay các công trình khác rất đẹp, hai bên đường tránh có nhiều quán ăn, uống, các điểm sinh hoạt giải trí…, tạm gọi là “làng ẩm thực – giải trí”. Ở đây, có đủ các món đặc sản để du khách mặc tình khám phá và thưởng thức. Nếu du khách thả bộ theo hướng về vòng xoay Bình Phú, đến cầu Bến Tre 2, tản bộ ngắm cảnh sông Bến Tre về đêm và con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông. Con đường này cũng được nhiều du khách chấm là con đường đẹp không thua gì các con đường ở Tp Hồ Chí Minh. Thích thú nhất là được tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát, yên ả của vùng sông nước xứ dừa và những nụ cười thân thiện mến khách, tận tình hướng dẫn của người dân nơi đây.

 

Sau vài ngày nghỉ ngơi thoải mái, từ giã xứ dừa Bến Tre, trả phòng và chia tay Khách sạn Sao Mai, cũng là lúc khách sạn đang tiếp nhận đoàn khách học sinh (gồm 02 xe 50 chỗ ngồi) là con của các chuyên gia nước ngoài đến làm việc tại Tp Hồ Chí Minh đến tham quan tại Bến Tre. Bắt gặp được điều đó, cũng có thể khẳng định sự tin cậy, an toàn, lý tưởng của điểm nghỉ kết hợp với sân vườn ở đây. Hy vọng Khách sạn “Sân vườn Sao Mai” tại thành phố Bến Tre sẽ ngày càng thu hút nhiều khách và phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Đình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng TrômĐình Bình Hòa, Điểm du lịch Giồng Trôm
Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Du lịch Bến Tre với nhiều tuyến đến các huyện trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó du lịch sinh thái là đặc thù vùng sông nước xứ dừa Bến Tre, bên cạnh đó kết hợp các làng nghề truyền thống cùng hệ thống di tích lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phong phú thêm tính đặc sắc cho du khách đến Bến Tre; Đình Bình Hòa là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vừa được trùng tu và tổ chức khánh thành đưa vào sử dụng ngày 22/11/2013, đã góp thêm sản phẩm du lịch cho loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu và tâm linh.

Tuyến du lịch TP. Bến Tre - Giồng Trôm - Ba Tri là tuyến có nhiều làng nghề như Bánh tráng Mỹ Lồng - bánh phồng Sơn Đốc, làng nghề rượu Phú Lễ tại xã Phú Lễ, làng nghề đan đát tại Phước Tuy; bên cạnh đó có nhiều danh lam thắng cảnh và những di tích cấp quốc gia cùng các công trình nghệ thuật như: Di tích Lãnh binh (Nguyễn Ngọc Thăng), di tích nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, di tích Võ Trường Toản, Nhà lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định, đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống, ngoài ra còn nhiều khu mộ của các bật danh nhân như cụ Phan Thanh Giản, cụ Phan Văn Trị và nhiều di tích cấp quốc gia khác; đặc biệt đình Bình Hòa là di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc cũng nằm trên tuyến tham quan nầy.

 

Nghệ thuật chạm trỗ của Đình Bình Hòa

Ngày 30/7/2012 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Giồng Trôm tổ chức lễ khởi công công trình trùng tu, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa; sau 01 năm thi công, đến nay đã hoàn tất, đảm bảo chất lượng, tiến độ và cơ bản giữ được đường nét kiến trúc xưa, bảo tồn tối đa yếu tố gốc của di tích. Đây là di tích lịch sử, văn hóa, được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 07/01/1993. Di tích đình nằm cạnh đường tỉnh 885, địa phận thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Từ Tp. Bến Tre, du khách đi đến địa phận Giồng Trôm 05 km (cầu Chẹt Sậy) là đến làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng, đi tiếp theo 02 km là đến đền thờ tưởng niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định, rời khu tưởng niệm cách 07 km theo hướng đi Ba Tri là đến đình Bình Hòa; đình có qui mô toàn khu là 9.000m2 (trong đó diện tích xây dựng là 1.760m2), bao gồm các hạng mục: nhà võ ca, nhà hương, nhà chính, nhà tiền sảnh, hành lang, hậu đường, miếu Quan Thánh, tường rào và sân đường nội bộ tổng mức đầu tư là 20,1 tỷ đồng; trong đó chi phí xây dựng tôn tạo các hạng mục là: 14,09 tỷ đồng.

Đình Bình Hòa có tuổi thọ đến nay đã trên 100 năm, nguyên thủy được xây dựng vào năm 1831 bằng nguyên vật liệu xây dựng đơn sơ như: cây, lá. Đến năm 1903 ngôi đình được các cụ trong ban khánh tiết đứng ra tổ chức, vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của để xây dựng lại theo kiểu cách qui mô, đồ sộ hơn, lúc này Đình được dời sang vị trí hiện nay. Các bô lão trong làng kể lại rằng ngôi đình từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn thành phải mất trên 10 năm (1903 - 1913). Đó là kết quả lao động rất công phu, cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân bậc thầy từ miền ngoài vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao đã làm ròng rã suốt một thập niên.

 

Quang cảnh chung của Đình Bình Hòa

Đến nay công trình trùng tu, tôn tạo di tích Kiến trúc Nghệ thuật đình Bình Hòa đã hoàn thành, qua đó đã lưu giữ những công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của dân tộc, của các thế hệ ông cha để lại, những kiến trúc nghệ thuật ấy thể hiện trên những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo, tinh xảo, hoa mỹ, đậm đà sắc thái truyền thống dân tộc của những người thợ thủ công tài hoa. Nổi bật là ở nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian cổ truyền rất công phu, có nhiều điểm hết sức lý thú, hấp dẫn. Càng nhìn về giá trị nghệ thuật chạm trổ, chúng ta càng quý trọng sự lao động cần cù, sáng tạo của các nghệ nhân trước đây. Toàn bộ tác phẩm điêu khắc, chạm trổ mỹ thuật ở đình Bình Hòa là một di sản văn hóa quí báu, góp phần to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm du lịch cho du khách thập phương đến chiêm ngưỡng.

Đây là một di sản văn hóa và cũng là sản phẩm du lịch góp phần cho du lịch huyện Giồng Trôm nói riêng và cho du lịch tỉnh Bến Tre nói chung sẽ phát triển được loại hình du lịch sinh thái, kết hợp du lịch làng nghề, du lịch về nguồn và du lịch tâm linh,… hy vọng trong thời gian tới, huyện Giồng Trôm sẽ tập trung từ huyện đến xã, từ chính quyền đến tận người dân với quyết tâm cao, tạo nhiều sản phẩm du lịch, nhiều dịch vụ phục vụ khách du lịch nhằm đưa ngành du lịch huyện nhà phát triển ngang tầm xu thế phát triển chung của tỉnh để góp phần trong việc phát triển kinh tế địa phương mà ngành du lịch là ngành công nghiệp không khói sẽ trở thành mũi nhọn đến năm 2020.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sông TiềnSông Tiền
&nbsp;

Còn gọi  sông Mỹ  Tho

Đoạn sông nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, giáp biển Đông, dài 83km, chảy ra cửa Tiểu, cửa Đại, làm thành ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Nước ngọt của các dòng sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước từ sông Tiền.

Do sự biến động của dòng chảy và sự tác động của thủy triều mặn thâm nhập sâu vào trong đất liền, trên dòng sông xuất hiện nhiều cồn bãi nổi và ngầm, làm cho việc đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn.

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Du Lịch Xuồng Chèo Bến TreDu Lịch Xuồng Chèo Bến Tre
Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Về với vùng đất có nhiều sông rạch chằng chịt, du khách sẽ được đi xuồng chèo trong rạch nhỏ mà hai bên bờ là những rặng dừa nước, còn bên trên vô vàn vườn cây ăn trái. Phương tiện nầy đã có từ lâu nhưng mới được đưa vào du lịch trong thời gian gần đây, đã tạo được ấn tượng trong lòng du khách khi về với miền Tây sông nước. Cách thức vận chuyển rất đơn giản với phương tiện thô sơ nhưng lại mang nhiều cảm xúc mới lạ; một xuồng có bốn khách cùng với người chèo. Đặc điểm của xuồng chèo là  người chèo cũng là người giữ lái để cho xuồng đi đúng hướng; người đứng chèo đòi hỏi phải có kỹ năng và sức khỏe dẽo dai để duy trì xuồng đi đều mà không kiệt sức; xuồng lướt nhẹ theo nhịp chèo, đưa chúng ta ngắm nhìn cảnh vật từ từ hiện ra. Chính cảm giác chầm chậm đó giúp du khách có giây phút lắng đọng, thả hồn theo sóng nước ti tách làm cho ta quên đi những gì cực nhọc hay buồn phiền trong cuộc sống hối hả ngày nay.

Chúng ta có cảm giác thư thái với bầu không khí trong lành yên tĩnh ở một vùng quê an bình. Đôi khi bắt gặp những điệu hò quen thuộc phát từ chiếc radio, làm gợi nhớ đến những ký ức tuổi thơ, ngày nào được bà ru trên võng hay một chuyến nghỉ hè về vùng quê ngoại được nô đùa tắm sông cùng các bạn. Tiếng mái chèo khua nhẹ trong làn nước mát, một câu hò bất chợt của cô gái chèo xuồng trong bộ bà ba mộc mạc tạo ấn tượng khó quên trong lòng du khách. Thật vậy, người Bến Tre hiền hòa, hiếu khách bao đời cùng với cái mộc mạc quê mùa đã tạo nên nhiều vẽ đẹp tiềm ẩn đã làm cho biết bao người vương vấn mà ít nơi nào có được.

Điều thú vị nữa là du khách có thể học bơi xuồng theo sự hướng dẫn nhiệt tình của cô chèo đò; một công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng thật sự không giản đơn để chèo chiếc xuồng đi đúng hướng. Những câu chuyện trò ngắn ngủi với cô gái chèo đò cũng làm tăng thêm hương vị miền Tây quê tôi, để lại nhiều cảm nhận sâu sắc trong lòng du khách. Ngoài ra, chúng ta còn chụp được những bức ảnh tuyệt đẹp giữa rừng dừa nước xanh bạt ngàn; được thả hồn thư giản theo tiếng rì rào của gió qua những chiếc lá dừa, tiếng tí tách của nước hay hương thơm của bông bần ven bờ.

Dịch vụ xuồng chèo không mới nhưng lại mang nét đặc trưng của sông nước miền Tây; đây là phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân địa phương đã góp phần cho du lịch Bến Tre phong phú trong tour du lịch sinh thái nơi đây khi đã trải nghiệm qua các dịch vụ khác như xe ngựa trên đường quê, uống mật ong, ăn trái cây, nghe đờn ca tài tử Nam bộ và tham quan  các cơ sở làm kẹo dừa, bánh tráng, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa,…. Ôi! thật là thú vị làm sao!.

 

Chèo xuồng trong rạch nhỏ

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Thế kỷ 17 ( 1623 - 1699 )Thế kỷ 17 ( 1623 - 1699 )

1623

Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai sứ sang kinh đô Chân Lạp yêu cầu được lập sở thuế thương chính tại Prey Nokor (Sài Gòn). Ðược vua Chey Chetta chấp thuận, chúa Nguyễn đã cho lập tại đây một sở thu thuế. Từ đấy, người Việt di cư đến làm ăn, buôn bán, khai phá đất đai ngày càng đông.

1627

Chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh (ở Ðàng Ngoài) và Nguyễn (ở Ðàng Trong) bùng nổ. Cuộc chiến tranh kéo dài đến 46 năm (1627 - 1673).

1632

Ở Ðàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu cho lập sổ bộ, định chế độ thuế.

1634

Nguyễn Phúc Nguyên ban lệnh cấm truyền bá đạo Thiên Chúa.

1641

Ðàng Trong bị đại hạn, nhân dân chết đói nhiều.

1658

Lấy cớ vua Chân Lạp "vi phạm biên cảnh", chúa Nguyễn Phúc Chu sai phó tướng dinh Phú Yên là Nguyễn Phước Yến đem 3.000 quân đến Mô Xoài (còn gọi là Mỗi Xuy) đánh bắt được Nặc Ông Chân, đưa về giam ở Quảng Bình.

 1673

Hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn chấm dứt chiến tranh, lấy sông Gianh làm giới hạn giữa Ðàng Trong và Ðàng Ngoài.  

1679

Không chịu thuần phục nhà Mãn Thanh, mùa xuân Kỷ Mùi (1679) hai tướng nhà Minh là Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên đem 3.000 quân cùng gia quyến đi trên 50 chiến thuyền, đậu từ cửa Eo đến cửa Ðà Nẵng xin cư trú. Sau khi bàn bạc lợi hại cùng triều thần, chúa Nguyễn chấp thuận chủ trương đưa họ vào khai phá vùng đất phía Nam. Gần 2.000 người do Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào cửa Cần Giờ, đến định cư ở Bàn Lân, xứ Ðồng Nai tức vùng Biên Hòa ngày nay. Hơn 1.000 người khác do Dương Ngạn Ðịch cầm đầu vào khai thác vùng Mỹ Tho.

 1686

Bệnh dịch dữ dội cả Ðàng Trong và Ðàng Ngoài, làm chết hàng ngàn người.

 1688

Phó tướng của Dương Ngạn Ðịch là Hoàng Tấn làm phản, giết chủ tướng và mưu đồ bá chiếm, cát cứ.

 1698

Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Kính (cũng đọc là Nguyễn Hữu Cảnh) làm kinh lược, "lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Ðịnh, đặt xứ Ðồng Nam làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đều đặt chức lưu thủ, cai bạ, ký lục để cai trị”. Lại chiêu mộ những lưu dân từ Quảng Bình trở vào để khai phá ruộng đất, lập thành thôn, xã. Lúc bấy giờ, số người Việt đến định cư ở nơi đây đã hơn 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với 200.000 dân.

 1699

Vua nước Chân Lạp là Nặc Ong Thu đem quân quấy phá phủ Gia Ðịnh. Chúa Nguyễn sai quan Thống suất Nguyễn Hữu Kính đưa quân đánh trả, sang đến thành Nam Vang. Nặc Ong Thu phải xin hàng và theo lệnh triều cống như cũ.

Thắng trận, Nguyễn Hữu Kính kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (nay là cù lao Ông Chưởng, thuộc tỉnh An Giang).

 

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Địa hìnhĐịa hình
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m. Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5 m, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn bề đều có sông nước bao bọc. Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: An Hóa, Bảo và Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ. Hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sông lớn, không chỉ thuận cho giao thông thủy, mà còn tạo nên nguồn tài nguyên nước dồi dào quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Hoằng TrịHoằng Trị
&nbsp;

Phủ đổi tên từ phủ Hoằng Đạo năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), gồm 2 huyện Bảo An và Bảo Hựu đều nằm trên cù lao Minh. Năm Tự Đức thứ 4 (1851), hai phủ Hoằng Trị và Hoằng An hợp nhất lại, chia thành 4 huyện: Tân Minh, Duy Minh, Bảo An và Bảo Hựu.

Đã ban hành
Lê Thị Mẫn (1786 - 1866)Lê Thị Mẫn (1786 - 1866)
&nbsp;
{mosimage}Bà Lê Thị Mẫn quê làng Thuộc Nhiêu, tỉnh Định Tường, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, là vợ của ông Bùi Văn Liệu ở làng Đa Hoà, nay là Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, vốn là một môn sinh của nhà giáo nổi tiếng đất Gia Định Võ Trường Toản. Goá chồng từ lúc 33 tuổi, bà ở vậy nuôi con, cho con ăn học đến nơi đến chốn, nhằm kế tục nền nếp, gia phong. Cả 3 người con đều đỗ cử nhân: người em út là Bùi Minh Thành thông minh nhất nhà, đỗ cử nhân năm 22 tuổi, trước 2 anh, được bổ Tri huyện Phước Tuy, rồi Đốc học Biên Hoà, cuối cùng làm tri huyện Long Thành.Người anh cả Bùi Quang Huy, sau khi đỗ cử nhân không chịu ra làm quan, lấy cớ ở nhà phụng dưỡng mẹ già, lo việc nông trang, khai phá đất đai, trở nên giàu có. Người em kế Bùi Văn Phong, đỗ cử nhân, được bổ làm Án sát Nam Định, về sau làm Quyền án sát Thương biện tỉnh Vĩnh Long.Vào đầu thế kỷ XIX, ở đất Nam Kỳ, nhất là ở xứ cù lao cách bức như Bến Tre, mà có ba người trong một gia đình đỗ cử nhân là chuyện rầt hiếm. Đó cũng là lý do để các chức việc làng Đa Hoà xin đổi tên thành Đa Phước (nghĩa là nhiều phước đức). Về sau khá lâu, làng này nhập với Hội Yên và Tân Phước, mang tên mới là Đa Phước Hội.Bà Lê Thị Mẫn nổi tiếng là người dạy con rất nghiêm. Chuyện kể rằng, một lần ông Bùi Văn Phong đang làm Án sát Nam Định, nhân dịp Tết Nguyên đán, nhờ người mang về biếu mẹ vài hộp trà ướp sen và mấy vóc lụa Hà Đông. Bà Mẫn nhận quà của con, mở ra thấy vậy, bèn đem đốt lụa thành tro, rồi gói lại, trao cho người đưa quà cùng với phong thư trong đó đại ý cho rằng, làm quan mà nhận quà biếu, lâu ngày sẽ thành thói quen khơi dậy lòng tham, khó mà giữ được thanh liêm. Hành động của bà chẳng có ý gì khác ngoài việc nhắc con giữ tròn sự liêm khiết, để rạng mặt tổ tiên, không uổng công nuôi dưỡng của bà.Được thư hồi âm, Án sát Bùi Văn Phong không khỏi ngỡ ngàng, tư lự. Ông đựng tro vào một chiếc lọ thuỷ tinh, để ngay trước mặt nơi bàn làm việc hằng ngày ở nơi công đường.Một lần khác, khi ông Phong về trấn nhậm ở Vĩnh Long (lúc ấy Bến Tre thuộc tỉnh Vĩnh Long) có ghé thăm quê. Ông được Tri huyện Mỏ Cày tiếp đón rất linh đình, cờ xí, chiêng trống rộn rịp. Bà con rất không bằng lòng về việc này. Khi ông Phong về nhà, chào mẹ, bà từ tốn bảo con: "Mẹ nay đã có tuổi, mà tuổi già thường sợ những gì ồn ào, gây kinh động"… (là người mẹ đang đối diện với một quan Án sát, đường đường là một "phụ mẫu chi dân", bà không thể nói toạt hết ý bất bình của mình).Bà Lê Thị Mẫn còn là một phụ nữ giàu lòng nhân ái và đức độ. Gia phả họ Bùi có ghi: “Một năm trời làm nắng hạn, mất mùa, nhiều người bị đói. Bà đã xuất lúa trong kho và cúng cho chính quyền sở tại cả ngàn quan tiền để cứu trợ dân gặp khó khăn”.Năm Tự Đức thứ 13 (1860) nhân lễ “Ngũ từ của thái hậu Từ Dũ” bà Mẫn được vua phong bức biển có 4 chữ vàng: "HẢO NGHĨA KHẢ PHONG", trong bản sắc phong của vua Tự Đức có đoạn “Ta nghĩ rằng người đã có danh tiếng tốt như vậy, không lẽ nào ta không ban ơn biểu dương đức tính của người. Vậy nay, ta ban ơn riêng cho người "Chánh lục phẩm An nhơn" chiếu theo tờ cáo mạng này".Bà mất vào năm 1866, thọ 80 tuổi. Được tin này, cụ Phan Thanh Giản đang làm Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây, đóng ở Vĩnh Long, có sai con là Phan Liêm đến tận Mỏ Cày phúng điếu để tỏ lòng thành kính một bức hiền phụ.
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer