Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Văn hóa xã hội
Sân khấu (20/10/2014)
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...  
 
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. 
 
Tôn giáo (20/10/2014)
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. 
 
Trang phục (20/10/2014)
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải. 
 
Văn học (20/10/2014)
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới... 
 
Lễ hội (20/10/2014)
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. 
 
Mỹ thuật (20/10/2014)
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu. 
 
Nhà cửa (20/10/2014)
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. 
 
Ẩm thực (19/10/2014)
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Cồn PhụngCồn Phụng
 
Image
Khu du lịch Cồn Phụng

- Cồn Phụng nằm giữa sông Tiền, án ngữ ngay cửa ngõ đi vào Bến Tre qua phà Rạch Miễu, cách Thị xã Bến Tre khoảng 12km. Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, có diện tích gần 30ha.

  - Đây là một trong bốn cồn nằm trên đoạn sông Mỹ Tho (của dòng sông Tiền) được đặt tên theo quan niệm “tứ linh”: long, lân, qui, phụng. Cồn Rồng (long), cồn Thới Sơn (lân), cồn Qui (nằm bên phía sông Ba Lai) và cồn Phụng (cũng gọi là cù lao Đạo Dừa).
 
Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Đoàn Hoàng MinhĐoàn Hoàng Minh
Anh hùng Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Anh hùng Đoàn Hoàng Minh (tức Đoàn Văn Tới) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Cẩm Sơn, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng thông tin, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ.

Image
Anh hùng Đoàn Hoàng Minh

Cuối năm 1959, Đoàn Hoàng Minh vào du kích, đã đánh 22 trận, diệt ác ôn, trừ tề điệp, hỗ trợ tích cực cho nhân dân trong xã đồng khởi. Năm 1961, anh nhập ngũ, được đi học kỹ thuật thông tin chiến đấu, về đơn vị đã phục vụ 29 trận lớn nhỏ, luôn bảo đảm thông tin thông suốt. Đặc biệt, trong 2 trận liền từ ngày 10 đến 12-5-1965 ở Thuận Lợi, tổ thông tin vô tuyến điện có 2 người đã bí mật chiếm lĩnh 1 điểm cao, từ đây có thể quan sát rộng nhưng địa điểm hẹp rất dễ bị địch phát hiện. Đoàn Hoàng Minh cùng đồng đội đã tìm cách khắc phục đặt đài, ngụy trang và bám vững vị trí để bảo đảm thông tin. Khi địch đổ quân xuống, cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, Đoàn Hoàng Minh đã kịp thời báo cáo nhiều tin quan trọng về cho đơn vị, giúp cho tiểu đoàn kịp thời diệt gọn đại đội địch không đầy 10 phút. Ngày cuối cùng, tổ đài đã truyền lệnh kịp thời cho các đơn vị tiến công, bao vây, chặn đánh địch, bắn súng cối đúng mục tiêu, diệt gọn 1 tiểu đoàn địch đến ứng cứu. Có lần máy liên lạc bị hỏng, Đoàn Hoàng Minh lợi dụng đêm tối trở về đơn vị lấy máy khác lên vị trí tiếp tục nhiệm vụ. Sau trận đánh, anh bị cảm nắng, khắp mình tê dại, sốt cao nhưng Đoàn Hoàng Minh vẫn vui vẻ vì tổ thông tin đã phục vụ cho trận chiến đấu thắng lợi giòn giã.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. Ngày 17-9-1967, Đoàn Hoàng Minh được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Ông GốcÔng Gốc
 

    Ông Gốc tên thật là Võ Hữu Vai, sinh năm 1815, là một nông dân miền Trung thuộc phủ Quy Nhơn (Bình Định), theo những đoàn người di dân bằng ghe bầu vào Nam dưới triều Tự Đức đến lập nghiệp ở vùng đất cạn sông Vàm Cỏ Đông (nay thuộc tỉnh Long An). Ông lấy vợ người địa phương họ Huỳnh, sau đó chuyển sang họ vợ thành Huỳnh Văn Vai. Năm 1862, khi phong trào chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ hy sinh, lực lượng kháng chiến dần dần tan rã, địch khủng bố, bắt bớ nhiều người, ông tìm cách chạy về miệt Bến Tre, Trà Vinh. Thuở ấy vùng đất An Hóa cũng như các cù lao Minh, cù lao Bảo, đất đai còn hoang vu, nhiều nơi là rừng rậm. Khi ghe ông đi qua trạm gác do quân Pháp đặt ở Giao Hòa, ông bị buộc phải trở lại vì không có giấy thông hành hợp pháp. Ông cãi lại chúng:

- Sông rạch của người Việt, thì người Việt có quyền tự do đi lại, sao các ông lại cấm?

Sau một hồi cãi vã, thấy chúng vẫn kiên quyết không thay đổi ý kiến, ông đành phải quay thuyền trở lại, vừa bực tức vừa căm giận. Bọn lính gác nghe ông chửi bèn dùng xuồng rượt theo, bắt ông lại để hỏi tội. Trên ghe chúng, chỉ có một thằng lính Tây và hai tên mã tà người Việt. Vốn là tay giỏi võ nghệ, ông chờ cho ghe chúng cặp sát ghe ông, bất ngờ ông đạp mạnh một cái, làm chiếc ghe chòng chành rồi bị lật úp. Mặc cho tên chủ và hai tên tớ ngoi ngóp dưới sông, ông dong buồm chạy thẳng về Mỹ Tho. Do giặc báo tin cho nhau, ông bị bọn chúng đón bắt và giam hơn một năm trời mới thả ra.

Lần thứ hai, ông quyết định trở lại vùng đất cù lao để tìm một chỗ định cư, lập nghiệp. Lần này, ông không đi theo ngã kênh Giao Hòa nữa mà chạy thuyền men bờ biển, đến cửa Ba Lai thì ngược dòng lên mãi. Đến chiều tối, ông dừng lại cơm nước và nghỉ qua đêm. Không ngờ đến gần sáng, nước thủy triều xuống, ghe ông bị một gốc cây đâm thủng và mắc ở đó. Ông nói với bà vợ cùng đi theo: "Chắc ông bà xui khiến như thế nào đây nên mới có chuyện này!"

Ông lên bờ đi quan sát cuộc đất chung quanh, thấy đất tốt, cây cối xanh tươi, địa thế cũng quang đãng, thuận tiện, nên quyết định dựng lều ở lại đây để khai phá, sinh sống. Sau một thời gian, thấy ông làm ăn khấm khá, nhà cửa, vườn tược khang trang, nhiều người kéo đến chặt cây, khẩn đất và làm ăn ngày một phát đạt, đông vui.

Trong những lúc quây quần bên đống lửa hay bên ấm nước chè ban đêm, câu chuyện về cái gốc cây đâm thủng ghe của người đến lập nghiệp đầu tiên thường được họ đem ra bàn luận, nhắc đi nhắc lại và thêu dệt thành một huyền thoại. Lâu ngày thành quen, bà con trong thôn xóm không còn gọi ông là Huỳnh Văn Vai nữa mà bằng cái tên dân dã "Ông Gốc", như để ghi nhớ một chuyện rủi ro mà trở thành may mắn, mở đầu cho một cuộc quy dân lập ấp.

Vùng đất này thuở ấy còn nhiều cọp và cá sấu. Ông Gốc vốn là một nông dân có sức khỏe, biết võ nghệ, đức tính gan dạ, cho nên trong thực tế ông trở thành một điểm tựa tinh thần của đồng bào khi phải đối phó với những bất trắc trong đời sống. Có lần, ông cùng bà con phát hiện một lối mòn dẫn sâu vào rừng. Ông lần theo và bắt gặp một con sấu đang đẻ. Ông đã dùng mác thong đâm chết con vật. Lối mòn do cá sấu đi lại, nước chảy lâu ngày thành con rạch, đồng bào ở đây gọi là rạch Sấu.

Cái tên "ông Gốc”, “rừng ông Gốc” ra đời trong hoàn cảnh như thế, và cho đến nay vẫn được truyền tụng như mẫu người thuộc thế hệ khai cơ lập nghiệp buổi ban đầu ở nơi đất cù lao này.

Đã ban hành
Lê Hoằng Mưu  (1879 – 1942)Lê Hoằng Mưu  (1879 – 1942)

    Ông sinh tại Cái Cối, nay là xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre. Ngoài tên thật, ông còn có bút hiệu Mộng Huê Lầu. Về trình độ học vấn, khi bước vào đời, ông chưa hết bậc trung học Pháp - Việt lúc bấy giờ.

   Năm 1921, khi tờ Nam Trung nhật báo sáp nhập vào tờ Lục tỉnh tân văn, ông là chủ bút tờ báo này cho đến 1930. Cùng năm này, ông cùng Võ Thành Út sáng lập tờ Long Giang độc lập (xuất bản mỗi tuần 3 số) do Lưu Công Châu làm chủ bút. Đến năm 1931, tờ báo bị đình bản một thời gian, sau được tục bản cho đến ngày 11-5-1934 thì bị chính quyền thực dân đình bản vĩnh viễn..

   Đánh giá về vai trò của ông trong làng báo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, Lãng Tử với tựa đề Con voi già trong mục “Nợ văn” trên tờ tuần báo Mai xuất bản tại Sài Gòn đã viết như sau: “Đó là một nhà viết báo kỳ cựu trong gần ba mươi năm nay hằng mục kích những cái vinh, cái nhục của nghề và bao nhiêu chế độ đổi thay (…). Buổi ấy, Lê quân là người có "tài sắc" nên tiếng tăm nổi dậy như cồn. Lời văn cũng lý luận đã lôi cuốn, hấp dẫn, chinh phục cả xứ Nam Kỳ và cả thế hệ thanh niên hồi đó (…) Tài bút chiến của ông làm khuất phục cả các bạn cùng nghề thuở nọ. Nói rằng khét tiếng một độ rất lâu trong báo giới xứ này, thì cái danh dự ấy chỉ riêng ông có". (2)

  Lê Hoằng Mưu cũng là một trong số các cây bút tiểu thuyết thuộc giai đoạn phôi thai ở Nam Kỳ trong những năm 20 của thế kỷ này. Ông là tác giả của các tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt (1918), Oán hồng quần, tức Phùng Kim Huê ngoại sử (1920), Tô Huệ Nhi (1920), Oan kia theo mãi, tức Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật (1922). Quyển tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt sau khi ra đời, đã gây nên một cuộc bút chiến sôi nổi, và cuối cùng nhà cầm quyền thuộc địa đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm. Cũng theo tác giả bài viết trên, thì Lê Hoằng Mưu là cây bút tiểu thuyết có xu hướng "cách tân" lúc bấy giờ, do vậy ông được lớp người trẻ chào đón nồng nhiệt. Tác giả viết: “Lúc ảnh hưởng của Tống Nho đang còn khắc nghiệt vô cùng, mà Lê quân cũng đã dám có những ý nghĩ táo tợn, dạn dĩ mà viết Hà Hương phong nguyệt. Sách truyện hồi đó ông viết ra thật nhiều và đều bán chạy như tôm tươi giữa chợ buổi sớm. Ông nổi danh quá lắm (…) ông vẫn là người được nghề chiều đãi một hồi rất mực. Lương chủ bút đã từng ai ăn cao hơn Lê quân? Và lúc báo giới mới phôi thai, làng báo còn đang thưa thớt, ai đã từng được kính mến, thán phục bằng ông”. (3)

Chú thích:

(1) Về năm sinh và năm mất của tác giả, ông Bùi Đức Tịnh ghi theo trí nhớ của bạn bè của ông Lê Hoằng Mưu. Xem Bùi Đức Tịnh, Phần đóng góp của văn học miền Nam: Những bước đầu của báo chí tiểu thuyết và thơ mới, Nxb Lửa Thiêng, S., 1975
(2)
Tuần báo Mai số 68, ngày 6-1-1939, dẫn theo Bùi Đức Tịnh, Sđd.
(3)
Tuần báo Mai

Đã ban hành
Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”
Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Về Chợ Lách, du khách sẽ thỏa sức đắm mình vào không gian sông nước hữu tình, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại cây trái ngon như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi, bòn bon,... , thưởng thức ngay tại vườn sẽ là những trải nghiệm đáng nhớ cho một chuyến khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách.

Về với xứ sở “cây lành trái ngọt”

Bến Tre có 63.000ha dừa, chiếm trên 1/3 diện tích dừa cả nước và trên 33.000ha cây ăn trái, tập trung nhiều nhất là huyện Chợ Lách. Chợ Lách được biết đến như là “vương quốc trái cây, cây giống và hoa kiểng”, ngành du lịch của huyện đã không ngừng phát triển, hàng năm đón trên 200 ngàn lượt khách tham quan, đặc biệt trong Ngày hội Cây-trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp tỉnh Bến Tre được tổ chức tại huyện Chợ Lách (mùng 5/5 Âm lịch) đón trên hàng chục ngàn lượt khách tham quan, thưởng thức và mua sắm. Chính vì vậy, phát triển du lịch của huyện Chợ Lách được xem là một khâu đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Trong đó, chú trọng phát triển loại hình du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch cộng đồng và du lịch homestay,…; các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong tỉnh không ngừng đẩy mạnh phát triển điểm đến, xây dựng tour, tuyến du lịch về Chợ Lách với các sản phẩm du lịch đa dạng nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của du khách.

Đến huyện Chợ Lách, du khách sẽ đi từ hai hướng: Một là đi từ Vĩnh Long, qua phà Đình Khao đi 13km sẽ đến thị trấn Chợ Lách; hướng thứ hai là từ thành phố Bến Tre, xuôi theo Quốc lộ 57 khởi hành đi Chợ Lách, du khách sẽ ghé các điểm vườn kiểng, cây giống của làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” tham quan mô hình kiểng thú và kiểng lá với nhiều sản phẩm đa dạng, độc đáo thể hiện nét tài hoa của người nông dân vùng đất này. Ở đây, có rất nhiều sản phẩm kiểng hình như: bộ 12 con giáp, nhà cây xanh, lục bình, ấm trà, … .Mỗi năm, làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” cung cấp cho cả nước hàng trăm loại cây giống hoa kiểng và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản...

 

Nghề cây giống và hoa kiểng là một sản phẩm du lịch độc đáo đối với du khách khi về du lịch miệt vườn Chợ Lách

Theo con đường hoa kiểng Nam Kinh-Vĩnh Bắc, du khách sẽ được ngắm nhìn dọc theo hai bên đường là những vườn cây giống và hoa kiểng rất đẹp, từng hàng kiểng, liếp hoa đua nhau khoe sắc đẹp lung linh dưới ánh nắng vàng buổi sáng bình minh. Dừng chân tại các điểm vườn sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, … du khách sẽ tham quan vườn cây đua nhau cho trái với mùa nào trái ấy, du khách có thể ăn trưa ở các điểm dừng chân nơi đây với nhiều món ăn dân dã miệt vườn hấp dẫn như: cháo gà ta thả vườn, cá tai tượng chiên xù, bánh xèo hến, canh chua cá bông lao,…

Đến đây, du khách sẽ bị cuốn hút trước những vườn sầu riêng trĩu quả, chôm chôm chín đỏ, vườn dâu xanh ngắt, vườn măng cụt, bòn bon, cam, quýt, bưởi, nhãn che khuất cả lối đi. Du khách có thể vào tận vườn tự hái và thưởng thức những trái chín thơm ngon, nghe chủ vườn giới thiệu và hướng dẫn cách chăm sóc từng loại cây để có được những vụ mùa trái cây đạt năng suất, chất lượng cao cung cấp cho thị trường cả nước.

 

Một vườn sầu riêng cơm vàng hạt lép ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre

Dừng chân ở xã Vĩnh Thành, du khách còn có dịp tham quan nhà thờ Cái Mơn - một trong những nhà thờ cổ xây dựng năm 1872 lớn nhất Nam Bộ, nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân Cái Mơn. Đối diện nhà thờ Cái Mơn là nhà bia tưởng niệm nhà bác học Trương Vĩnh Ký, một trong những nhà bác học nổi tiếng thế giới vào thế kỷ 19, thông thạo 26 ngoại ngữ và có 118 tác phẩm được xuất bản.

Đến Thị trấn Chợ Lách, du khách được du thuyền trên sông Cổ Chiên với khung cảnh sông nước hữu tình, hai bên là những vườn trái cây, du khách sẽ tham quan khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa, tản bộ trên con đường quê, tham quan cơ sở nuôi ong mật, thưởng thức tách trà mật ong và mua đặc sản mật ong về làm quà.

Trải nghiệm thưởng thức đặc sản địa phương

Về Chợ Lách, ngoài việc được thưởng thức trái cây miệt vườn, tham quan các cơ sở cây giống và hoa kiểng thì du khách còn được thưởng thức các đặc sản địa phương độc đáo. Mỗi năm, xứ này đón khách đổ về vui chơi miệt vườn, thưởng thức tài nghệ của nông dân có bàn tay vàng trong các món ăn đặc sản như bánh xèo hến, ốc gạo cồn Phú Đa và nghe đờn ca tài tử Nam bộ nơi vùng sông nước miệt vườn.

 

Đặc sản bánh xèo hến luôn hấp dẫn du khách

Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư xây dựng hoàn thiện, khách du lịch về với huyện Chợ Lách ngày một đông hơn, mỗi khi đến mùa ốc gạo thì khách đến cồn Phú Đa đông hơn rất nhiều, họ đến đây để tham quan cồn, thưởng thức đặc sản ốc gạo Phú Đa. Ngoài ra, du khách cũng có thể thuê xe đạp khám phá du lịch vườn, đạp xe trên những con đường làng rợp bóng cây, tìm hiểu về cuộc sống của người dân xứ vườn, nét văn hóa cũng như phong tục tập quán của cư dân xứ cù lao. Đến huyện Chợ Lách, du khách cũng có thể tham gia loại hình du lịch homestay, tìm hiểu về những nét văn hóa địa phương xứ sở cây trái và hoa kiểng.

Hằng năm, huyện Chợ Lách đón trên 200.000 lượt khách đến tham quan, thưởng thức trái cây miệt vườn và mua các sản phẩm hoa kiểng các loại. Hiện tại, toàn huyện Chợ Lách có khoảng 30 cơ sở lưu trú, 17 cơ sở phục vụ ăn uống du lịch. Ngoài các điểm du lịch đã được hình thành trước đây như: Việt Hải, Năm Công, Ba Ngói, Tám Lộc, Ba Phúc, vườn xoài Thanh Sơn,… thì một số điểm mới hình thành và phát triển trong thời gian gần đây như: Đại Lộc, Bảy Thảo, Năm Vũ, Năm Hiền,... với các loại hình tham quan vườn cây ăn trái, làng nghề hoa kiểng Cái Mơn, du lịch homestay, thưởng thức mật ong, du lịch trên sông, trải nghiệm khám phá cồn Phú Đa, thưởng thức các món ăn đặc sản của miền Tây,… đều thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

Chợ Lách với ưu thế vườn cây ăn trái, hoa kiểng phong phú, cùng cảnh quan sinh thái miệt vườn hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng vùng sông nước Cửu Long. Chợ Lách đang dần khẳng định vị trí và thương hiệu không chỉ trên bản đồ du lịch của Bến Tre mà còn của vùng Nam Bộ và cả nước. Với những điều kiện như vậy huyện Chợ Lách sẽ phát triển du lịch bền vững cho Chợ Lách nói riêng và du lịch Bến Tre nói chung sẽ là điểm đến hấp dẫn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hàm LuôngHàm Luông
 

Sông lớn tách từ sông Tiền, chảy ra biển, nằm trọn vẹn trên đất Bến Tre, dài 70km, rộng trung bình từ 1000 -1500m, làm ranh giới tự nhiên giữa cù lao Minh và cù lao Bảo. Nguyên tên gốc là Hàm Long, vì kiêng húy dưới thời nhà Nguyễn phải gọi chệch Long thành Luông. Với lưu lượng nước dồi dào nhất trong các con sông của tỉnh Bến Tre, sông Hàm Luông đã và đang góp phần tạo nên sự trù phú của các xã, huyện nằm trên đôi bờ.

Dòng Hàm Luông đã nhận chìm hàng trăm tàu chiến lớn nhỏ của giặc Mỹ, trong đó có tàu sửa chữa cơ khí thuộc Hạm đội 7 của Mỹ bị bộ đội đặc công thủy do Anh hùng LLVTND Hoàng Lam đánh chìm.

+ Sông Hàm Luông

Cửa đổ ra biển của sông Hàm Luông, một trong 9 cửa sông của 9 nhánh Cửu Long, rộng trên 2km. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837), có đặt một đồn biên phòng tại đây. Đến năm Tự Đức thứ nhất (1847) thì bãi bỏ (Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Vĩnh Long).

             Nước Cửu Long sóng dồn cuồn cuộn

            Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi.

                                                                            (Ca dao)

+ Phà Hàm Luông

Bến phà qua sông Hàm Luông, cách thị xã Bến Tre 3km, nối liền đường liên tỉnh Mỹ Tho – Trà Vinh qua thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày. Đây là bến phà lớn thứ hai của tỉnh Bến Tre.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Khám phá đất biển Bình ĐạiVề xứ dừa - Khám phá đất biển Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Bình Đại là một trong ba huyện biển của Bến Tre, nằm trên cù lao An Hoá và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đi bằng ô tô đến trung tâm huyện Bình Đại khoảng 51 km.

Vì là huyện vùng biển, người dân Bình Đại sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và nuôi trồng thủy sản. Gắn liền với nghề này ở Bình Đại có nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Hay một nghề không thể không kể đến và có truyền thống lâu đời, có những nét độc đáo riêng như: nghề đánh cá mòi, câu kiều, lưới sỉ, lưới cào. Một nghề có tính chất riêng biệt của vùng biển Bình Đại nữa là nghề đáy sông cầu, nghề này ở Bình Đại có rất sớm và phát triển mạnh, rồi lan sang cửa biển ở Ba Tri và Trà Vinh. Đáy sông cầu được cắm thành hàng ngang giữa dòng nước chảy xiết nhưng không có những hàng rào chắn ngược dòng như đáy rạo.

Ngoài nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản, người dân Bình Đại còn nghề làm vườn, làm ruộng, làm muối, chế biến những sản phẩm của biển, nghề trồng giồng. Bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận là những đặc sản có tiếng trong vùng…. Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là đặc sản “dưa hấu Cửa Đại”, từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này và được ca ngợi:

“Tư bề Thừa Đức nội thôn

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”.

 

Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến, nhưng trên đường đến biển Thừa Đức, du khách ghé thăm di tích lịch sử cấp tỉnh Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát, tọa lạc tại xã Châu Hưng. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 03 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thếp vàng.

Năm 1905, nhân dân làng Tân Hưng thống nhất đóng góp sức người, sức của xây dựng ngôi đình làng này và phong ông Huỳnh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh của làng, đưa vào thờ trong đình. Vì vào khoảng đầu thế kỷ 19, vùng Bình Đại đã có cư dân đông đúc, làng mạc đã rải rác nhiều nơi, nhưng một số nơi vẫn là vùng đất hoang vu đầy thú dữ, ông Huỳnh Văn Thiệu đã đứng ra tập hợp cư dân ngoài thân tộc để khai phá đất đai và chống thú dữ, ông được người dân mến mộ, theo ông rất nhiều. Ông từ chối ra làm việc làng, mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định nổi lên chống Pháp.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 – 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng, nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Cạnh Đình Tân Hưng là đền thờ của cụ Huỳnh Tấn Phát, là cháu cố của Ông Huỳnh Văn Thiệu. Người ta biết đến kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát như một trí thức yêu nước lớn, một nhà hoạt động chính trị suốt đời theo đuổi lý tưởng cách mạng, gắn liền hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Năm 1933, ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Đông Dương, để có tiền ăn học ông tham gia giảng dạy ở Trường Thăng Long - Hà Nội, viết báo La Lutte (Tranh Đấu), báo Le Travail (Lao Động) ở Bắc Kỳ. Ông cũng là điển hình của thế hệ “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” vào tháng 8/1945.

Nhiều sáng tác và thiết kế dự án của ông như: Đồ án thiết kế Nhà văn hoá dự kiến xây dựng ở Khám Lớn - Sài Gòn đoạt giải nhì (không có giải nhất). Những năm kháng chiến chống Mỹ, với cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, ông đã thiết kế và chỉ đạo xây dựng nhiều phòng họp, hội trường, nơi ăn chốn ở phục vụ cho các đại biểu về dự các hội nghị tại vùng căn cứ cách mạng. Đặc biệt, là hội trường cho Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, hội trường đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam lần thứ nhất ở R (Lò Gò) đều bằng tre gỗ nứa lá, nhưng đã khéo xử lý rừng cây tán lá rậm rạp để có hội trường rộng rãi khang trang đẹp đẽ.

Sau ngày Miền Nam được giải phóng, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam, ông đã trực tiếp góp ý đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội và các công trình như: Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Trung ương, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh…. Ông còn tham gia các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh, Lạng Sơn,… và là đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Thành Thế trong sơ phác tìm ý cho Nhà hát Hoà Bình - Quận 10 - Tp Hồ Chí Minh.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được bầu vào Đại biểu Quốc hội các khoá 1, 2, 3, 6, 7, 8. Nhà nước đã thưởng ông nhiều Huân, huy chương. Năm 1996, cố kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vinh dự được Chủ tịch nước trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I). Ông mất vào cuối tháng 10/1995.

 

Vùng đất huyện Bình Đại còn có công trình cống đập Ba Lai tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới. Cống đập Ba Lai là một hạng mục trong hệ thống thuỷ lợi, có các công trình lớn đồng bộ, khép kín các công trình đê - cống ven sông Cửa Đại, sông Hàm Luông. Công trình với mục đích tưới tiêu, giữ ngọt, ngăn mặn cho khoảng 90.000ha đất nông nghiệp, hệ thống này sẽ phân rõ vùng mặn, vùng ngọt và sẽ thuận lợi bố trí sản xuất ở vùng mặn (nuôi thuỷ sản), vùng ngọt sẽ đưa sản xuất lúa từ 2 vụ lên 3 vụ, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế vườn. Cũng tại địa điểm này có thể tham quan trại nuôi cá sấu, heo rừng và mô hình nuôi cá lóc bông ven sông Ba Lai.

Lễ hội nghinh Ông là lễ hội phổ biến của các làng ven biển của Việt Nam, trong đó có Bình Đại - Bến Tre. Trong ngày hội tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung neo đậu để tế lễ, vui chơi và ăn uống. Lễ hội Nghinh Ông lớn nhất hàng năm tổ chức ở lăng Ông xã Bình Thắng huyện Bình Đại được tổ chức vào ngày 16/6 âm lịch. Lễ gồm ba phần: túc yết, nghinh ông, tế tiền hiền và hậu hiền, lễ chánh tế và xây chầu đại bội. Vào lễ, các thuyền đánh cá đều chăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi thuyền, chủ nhân bày mâm cúng gồm trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo cùng với hương hoa Lễ hội nghinh ông ở xã Bình Thắng tuy ra đời muộn màng hơn so với các địa phương khác trong tỉnh, nhưng lễ hội không chỉ thể hiện đầy đủ tính vốn có của lễ hội dân gian, mà còn phản ánh sinh động cả nội dung và hình thức của nghề hạ bạc trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

 

Nhưng có lẽ đến Bình Đại, khám phá bãi biển phù sa Thừa Đức là thích thú nhất. Bởi bãi biển nơi đây còn hoang sơ, với bãi cát mịn trải dài ra biển, cặp theo bãi biển là những hàng dương xanh, tạo ra phong cảnh khá đẹp, cùng với không khí thoải mái, thoáng mát. Dọc theo bãi biển là các dãy nhà lá được cất nối dài, người ta mắc những chiếc võng để du khách nằm nghỉ ngơi đong đưa, thư giãn, hít thở gió biển, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào hòa vào cùng tiếng vi vu của những rặng phi lao, tạo nên một thanh âm đặc sắc, bay bổng, nhẹ nhàng, thoải mái vô cùng. Tại bãi biển phù sa Thừa Đức, sau khi tắm biển phù sa, du khách có thể thỏa thích chọn lựa thưởng thức các món đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo nhất là món bánh xèo xứ biển. Chiếc bánh xèo ở đây được chiên lớn, giòn, mùi thơm béo ngậy. Ngồi bên mâm bánh xèo phong phú các loại rau ăn kèm, với nước chấm tỏi ớt chua, ngọt có pha những sợi rối trắng, đỏ được chế biến từ củ cải trắng, đỏ hấp dẫn vô cùng. Hay mùi thơm tỏa ra từ những chiếc bánh xèo đang chiên, chưa ăn mà cảm thấy ngon hết sẩy. Những năm gần đây, bánh xèo tại bãi biển Thừa Đức gần như đã trở thành “thương hiệu” và hầu như ai đến nơi đây ít, nhiều cũng một lần thưởng thức món bánh xèo xứ biển.

Thưởng thức xong món bánh xèo hay các món đặc sản biển, du khách có thể tiếp tục ngã lưng trên những cánh võng được mắc trong các dãy nhà nối dài. Hay du khách tự mắc võng dưới hàng dương xanh mát, để tận hưởng không khí trong lành của biển phù sa trên đất xứ dừa. Tuy là bãi biển phù sa, nhưng nơi dây vào các dịp lễ hàng ngàn du khách từ các nơi đổ về để vui chơi, tắm biển đông nghẹt. Bãi biển đã được xây dựng bờ kè bê tông, tương lai nơi đây sẽ tạo ra không gian sinh thái xứ biển lý tưởng, thích hợp nghỉ ngơi, an dưỡng, nhất là cho người cao tuổi.

Đường đến Bình Đại hai bên đường du khách ngắm nhìn cảnh thiên nhiên, sẽ mãn nhãn với những cánh đồng lúa xanh mơn mởn hay chín vàng, xen lẫn với những hàng dừa xanh thẳng lối và những liếp, những mô dừa xanh đang vươn mình bên đồng ruộng lúa. Du khách sẽ bắt gặp mô hình nuôi tôm công nghiệp tại các xã ven hai bên đường…. Ngoài các sản phẩm về biển thông thường như: cá, tôm, cua, mực, nghêu…; vùng này còn có rừng ngập mặn, có nhiều cây chà là mọc, nên cũng có lắm đuông chà là. Đây là sản vật thiên nhiên rất độc đáo, người dân nơi đây đã khai thác, chế biến làm nhiều món nhâm nhi trong các quán. Hay ở đây, còn có đặc sản con rươi dùng để làm nước nắm rất đặc biệt.

Bình Đại chưa có nhiều điểm đến du lịch, nhưng trung tâm thị trấn Bình Đại lại có nhiều cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi hơn so với các huyện khác của tỉnh Bến Tre. Có thể nói cơ sở lưu trú ở đây không thua gì các khách sạn tại thành phố Bến Tre. Vì thế, du khách có thể chọn nghỉ qua đêm tại vùng đất biển yên ả này, thưởng thức đặc sản biển thỏa thích, cũng như mua sắm quà lưu niệm nhân chuyến hành trình khám phá đất biển trên ba dãy cù lao xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 19 ( 1802 - 1836 )Thế kỷ 19 ( 1802 - 1836 )

1802

Tháng 5 (âl), Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Cử đoàn sứ thần đầu tiên sang nhà Thanh gồm Trịnh Hoài Ðức (Chánh sứ), Ngô Nhân Tịnh và Hoàng Ngọc Uẩn (Phó sứ)...

Tháng 7 (âl), Gia Long tiến hành một loạt biện pháp để ổn định tình hình. Chia nước ra là 23 trấn, 4 doanh. Bỏ kinh Gia Ðịnh, cải phủ Gia Ðịnh (từ 1698-1802) thành trấn Gia Ðịnh. Ðứng đầu trấn Gia Ðịnh là quan lưu trấn, thống lĩnh các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thành, Ðịnh Tường, Hà Tiên.

1803

Tháng 3 (âl), Gia Long ban hành quy định tô thuế ruộng đất trong cả nước và quy định chế độ trợ cấp tiền, gạo cho dân khai khẩn đất hoang ở Gia Ðịnh.

1804

Tháng 2 (âl), Gia Long đặt quốc hiệu: Việt Nam.

Tháng 4 (âl), Ðịnh thể lệ cấp công điền, công thổ, cứ 3 năm tổ chức cấp lại một lần.

Tháng 8 (âl), Ðịnh lệ trạm mục và trạm phu trên các tuyến đường có đặt trạm giao liên.

1806

Tháng 11 (âl), Bộ sách Nhất thống địa dư chí gồm 10 quyển - bộ dư địa chí đầu tiên của triều Nguyễn - do Lê Quang Ðịnh soạn thảo đã hoàn thành. Sách miêu tả đầy đủ các mục sơn xuyên, sản vật, đình miếu, phong tục từ Lạng Sơn đến Hà Tiên.

1808

Gia Long đổi trấn Gia Ðịnh làm Gia Ðịnh thành, đặt 1 tổng trấn, 1 hiệp trấn và 1 phó tổng trấn, thống lĩnh 5 trấn: Phiên An, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và kiêm lãnh trấn Bình Thuận ở xa. Nguyễn Văn Nhơn được cử làm Tổng trấn, Trịnh Hoài Ðức là Hiệp tổng trấn đầu tiên.

Tổng Tân An thuộc dinh Long Hồ được thăng thành huyện Tân An, gốm 2 tổng: An Bảo (cù lao Bảo) có 66 thôn và Tân Minh (cù lao Minh) có 75 thôn.

1810

Triều đình ban bố thước đo ruộng đất trong cả nước. Trên thước một mặt khắc 7 chữ "Gia Long cửu niên thu bát nguyệt", mặt phía bên kia khắc 10 chữ "Ban hành đạc điền xích, công bố đường kính tạo”.

1812

Lê Văn Duyệt được cử làm Tổng trấn thành Gia Ðịnh, Ngô Nhơn Tịnh làm Hiệp tổng trấn, Trương Tấn Bửu làm Phó tổng quản, quản giữ 5 trấn.

1813

Tháng 6 (âl), Bắt đầu mở khoa thi hương từ Quảng Bình trở vào Nam. Trong khoa thi này, lấy đỗ hương cống 17 người.

1815

Tháng 5 (âl), Ban hành bộ Luật Gia Long, tuy nói là soạn theo Luật Hồng Ðức, có tham chước luật nhà Thanh, nhưng thực tế là chép theo luật nhà Thanh, chỉ thay đổi ít nhiều. Bộ luật gồm 22 quyển, có 398 điều.

1819

28 tháng 12 (âl), Gia Long mất, thọ 58 tuổi, ở ngôi 18 năm. Ngày 28 tháng chạp năm Kỷ Mão, thái tử Ðảm nhận di chiếu, lấy ngày 1 tháng giêng năm Canh Thìn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Minh Mạng.

Theo thống kê của 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Trấn, Vĩnh Thanh) thuộc Gia Ðịnh thành, có 97.100 suất đinh (khoảng 700.000 dân).

1820

Tháng 5 (âl), Trịnh Hoài Ðức dâng sách Gia Ðịnh thành thông chí đã được biên soạn xong. Ðây là quyển địa chí đầu tiên về Nam Kỳ sáng giá nhất.

1822

1 tháng 7 (âl), Nguyễn Ðình Chiểu sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình.

Tháng 11 (âl), Minh Mạng lên ngôi phát phối một số đông tù đồ vào Gia Ðịnh để khẩn hoang ruộng đất.

1823

Huyện Tân An đổi thành phủ Hoằng An, thuộc trấn Vĩnh Thanh. Phủ Hoằng An có 2 huyện: Bảo An và Tân Minh.

1826

Tháng 7 (âl), Nhiều nơi trong nước xảy ra nạn dịch. Riêng ở Gia Ðịnh trong đó có Bến Tre đã có hơn 18.000 người chết. Nhà nước phải miễn thuế thân cho các trấn ở Gia Ðịnh.

Phan Thanh Giản đỗ tiến sĩ khoa Bính Tuất, vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ.

1830

Phan Văn Trị chào đời tại làng Hưng THạnh, huyện Bảo An, nay là xã Thạnh Phú Ðông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

1832

25 tháng 8 (âl), Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất. Chẳng bao lâu sau, Tổng đốc Gia Ðịnh là Nguyễn Văn Quế và Bố chánh Bạch Xuân Nguyên dựng lên "vụ án Lê Văn Duyệt". Chức Tổng trấn Gia Ðịnh thành bị bãi bỏ. Tiếp đó cơ cấu hành chính cũng thay đổi: bỏ cấp Gia Ðịnh thành. Năm trấn cũ chia lại làm 6 tỉnh mới, gọi chung là Nam Kỳ, bao gồm: Gia Ðịnh, Biên Hòa, Ðịnh Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Ðặt các chức tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát và lãnh binh.

1833

18 tháng 5 (âl), Lê Văn Khôi - con nuôi Lê Văn Duyệt - cùng với 27 lính hồi lương xông vào dinh giết Bố chánh Bạch Xuân Nguyên và Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, rồi khởi binh chiếm thành Phiên An. Sau một tháng, quân của Khôi chiếm cả 6 tỉnh, nhưng rồi bị thu hẹp về Sài Gòn và bị quân triều đình bao vây trong thành Bát Quái.

1834

Minh Mạng đặt tên mới cho các vùng lãnh thổ thành Kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Nam Kỳ lúc bấy giờ gồm 6 tỉnh, nên thường được gọi là Nam Kỳ lục tỉnh. Không có cấp hành chính chung cho cả Nam Kỳ, mà mỗi tỉnh trực thuộc triều đình. Danh xưng và cơ cấu hành chính này tồn tại tới khi Pháp xâm lược.

1835

Quân triều đình hạ thành Phiên An, tháng 7 năm ất Tỵ, bắt hơn 1.831 quân và những người theo Lê Văn Khôi ở trong thành đem đi chém, rồi chôn chung vào một mộ, gọi là "mả biền tru" hay "mã nguỵ". Còn 6 "thủ phạm" trong đó có con của Khôi (Lê Văn Cư), 1 người Hoa là Mạch Tấn Giai, 1 giáo sư Pháp là Cố Du (Marchand) bị đóng cũi, giải ra Huế, sau đó bị xử lăng trì.

1836

Năm Minh Mạng thứ XVII (1836), Binh bộ Thượng thư Trương Ðăng Quế và Lại bộ Thương thư Nguyễn Kim Bảng mang cờ và bài hiệu, dẫn theo các viên dịch, tùy biện vào Nam theo đường thủy, tổ chức việc đo đạc ruộng đất và lập địa bạ ở 6 tỉnh Nam Kỳ. Ðây là cuộc tổng điều tra ruộng đất đầu tiên ở Nam Kỳ có quy mô lớn nhất. Kết quả đã lập được gần 2.000 quyển địa bạ ghi rõ từng sở điền thổ, tên làng thôn, địa phận, địa giới còn được bảo quản đến ngày nay.

Minh Mạng ra lệnh san bằng thành Phiên An, dời qua góc đông bắc thành cũ (thôn Nghĩa Hòa, Bình Dương), chu vi 427 trượng, cao 10 trượng 3 tấc, hào rộng 11 trượng, sâu 7 thước, có 4 cửa.

Lập tỉnh Gia Ðịnh (1 trong 6 tỉnh ở Nam Kỳ) phạm vi kéo dài từ biên giới Campuchia đến biển Ðông.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trúc GiangTrúc Giang
 

Quận của tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 gồm 16 xã: An Hội (quận lỵ), Phú Hưng, Hữu Định, Phú Nhuận, Phước Long, Song Phước, Tam Phước, Thạnh Phú Đông, An Khánh, An Phước, Giao Hòa, Giao Long, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Quới Sơn, Tân Thạch.

Trúc Giang

Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa, lập ngày 22-10-1956 theo sắc lệnh 143/NV của Tổng thống VNCH.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )

1970

26 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, ban hành "Luật người cày có ruộng" nhằm tạo ra một tầng lớp xã hội là tư sản ở nông thôn, làm chỗ dựa về kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thực dân mới.

6 tháng 7, "Chuồng Cọp”, một chứng tích về thủ đoạn ngược đãi tù chính trị ở nhà lao Côn Ðảo, bị vạch trần và trở thành vấn đề quốc tế lớn.

1971

22 tháng 6, Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 9 tháng.

20 tháng 9, Ðại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua LLVT giải phóng Ðông Nam Bộ và Sài Gòn, họp trong 4 ngày (20 đến 23-9-1970). Quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN tuyên dương danh hiệu "Ðơn vị anh hùng" cho 21 đơn vị và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng cho 16 cá nhân.

1972

20 tháng 3, LLVT tỉnh Biến Tre tiêu diệt chi khu quân sự Trúc Giang.

Tháng 7, Thời kỳ "bình định” ác liệu của địch. Ðể đối phó kịp thời âm mưu địch, Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành Châu Thành Ðông và Châu Thành Tây; chia đôi huyện Mỏ Cày thành Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, lấy con sông Mỏ Cày làm ranh giới.

22 tháng 10, VNDCCH và Mỹ thừa nhận toàn văn bản thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và lấy ngày 31-10 làm ngày ký chính thức.

1973

27 tháng 1, Tại Paris, đại diện 4 bên: Chính phủ VNDCCH, Chính phủ CMLTCHMNVN, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ VNCH đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" và các nghị định thư kèm theo.

1 tháng 2, Phái đoàn quân sự của Chính phủ CMLTCHMNVN do tướng Trần Văn Trà dẫn đầu rời sân bay Lộc Ninh vào Sài Gòn, nhận nhiệm vụ mới tại Ủy ban Liên hiệp quân sự 4 bên đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất.

29 tháng 3, Tổng thống Nixon tuyên bố kết thúc chiến tranh Việt Nam, hoàn thành việc triệt thoái quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, giải tán Bộ Tư lệnh quân Mỹ. Theo công bố, từ 1961 đến 28-1-1973, quân Mỹ chết 46.000 người trong chiến đấu, chết 10.000 người vì tai nạn, bị thương 300.000. Binh lực đã huy động 2,5 triệu lượt người.

Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tổ chức lễ “Cuốn cờ” đánh dấu chấm dứt sự có mặt của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau đó, tướng Weyand, Tổng tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đến nhập với toán lính Mỹ cuối cùng, lặng lẽ lên máy bay rời khỏi Sài Gòn.

20 tháng 7, G.Martin thay Bunker làm Ðại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

1974

29 tháng 9, Ủy ban vận động đòi cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam ra tuyên bố tố cáo Nguyễn Văn Thiệu dùng những thủ đoạn đen tối, đày ải hàng chục vạn tù chính trị và đòi trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ.

10 tháng 10, Chống lại chính sách bóp nghẹt do báo chí của chế độ Sài Gòn, 400 nhà báo đã xuống đường có mang theo bị, gậy, nón rách, dẫn đầu cuộc tuần hành của 5.000 người, đi từ Câu lạc bộ báo chí Sài Gòn đến chợ Bến Thành. Ngày nay được giới báo chí đặt tên là "Ngày các ký giả đi ăn mày" sau khi Thiệu ban hành Luật 007 về báo chí.

1975

6 tháng 1, Từ ngày 22-12-1974 đến ngày 6-1-1975, Quân giải phóng đã tiến công, bao vây các căn cứ Ðồng Xoài, Bố Ðức, Ðức Phong và thị xã Phước Long, tiêu diệt 3.000 quân địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.

10 tháng 3, Quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đây gồm Sư đoàn 23, trung đoàn 23, 1 chi đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn bảo an, 57 trung đội dân vệ. Sau 2 ngày chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

11 tháng 3, Thị xã Buôn Mê Thuột hoàn toàn được giải phóng.

8 tháng 4, Thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh gồm:

Phạm Hùng, Bí thư TƯC làm Chính ủy.

Ðại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh chiến dịch.

Các tướng Trần Văn Trà, Lê Ðức Anh, Lê Trọng Tấn, Ðinh Ðức Thiện làm Phó tư lệnh.

Tướng Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.

Tướng Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng chiến dịch.

8 tháng 4, Nguyễn Thành Trung, một cơ sở nội tuyến của ta hoạt động trong lực lượng không quân Sài Gòn, lái chiếc máy bay F.5 do Mỹ chế tạo, ném bom trúng dinh Ðộc Lập và hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ chính quyền Sài Gòn, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chúng.

13 tháng 4, Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh nhất trí gửi bức điện đề nghị BCT xin được đặt tên chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

11 tháng 4, Ðúng 19 giờ, một bức điện của BCT từ Hà Nội gửi đến Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.

Ðiện số 37/TK, 19 giờ ngày 14-4-1975. Ðồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

18 tháng 4, Trước sức tấn công thần tốc của Quân giải phóng, Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Dean Brown được cử phụ trách việc này cùng với lực lượng đặc nhiệm gồm không quân, hải quân với 35 tàu chiến (có 4 tàu sân bay) và hàng trăm máy bay thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

21 tháng 4, Theo sự đạo diễn của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống để Trần Văn Hương lên thay thế. Trong bài diễn văn đọc ở buổi lễ nhậm chức, Trần Văn Hương hứa “sẽ chiến đấu đến người lính cuối cùng". Thế nhưng, chỉ trong vòng một tuần lễ, Trần Văn Hương đã hoàn toàn bất lực, đành giao quyền lại cho Dương Văn Minh.

22 tháng 4, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với Mỹ. Không thể giúp người Việt Nam (chính quyền tay sai Sài Gòn) được nữa. Họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”.

23 tháng 4, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cả nội các của chính quyền Sài Gòn tuyên bố từ chức. Nhiều sứ quán phương Tây ở đây đóng cửa. Các công ty hàng không quốc tế ngưng hoạt động. Tổng thống Trần Văn Hương cử đại diện đến Tân Sơn Nhất, gặp Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN xin thương lượng.

28 tháng 4, Lúc 17 giờ, Tổng thống Trần Văn Hương sau khi nhậm chức được 7 ngày, đã tuyên bố từ chức, giao quyền cho Dương Văn Minh.

Khi vừa lên nhậm chức thay Trần Văn Hương, Dương Văn Minh đã cử người vào gặp phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN để thương lượng. Nhưng phái đoàn không chấp nhận đề nghị đó.

Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh cho quân Mỹ và nhân viên Ðại sứ quán Mỹ rút khỏi Sài Gòn.

Lúc 17 giờ, phi đội máy bay A.37 (lấy của địch trước đó gồm 5 chiếc) mang tên Quyết thắng, xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung (phi đội trưởng), Từ Ðể, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On (phi công của quân đội Sài Gòn ở lại) ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, rồi hạ cánh an toàn ở sân bay Lộc Ninh. 20 máy bay địch bị phá hủy trong trận oanh kích này.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên, nguyên Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác lên máy bay trực thăng Mỹ, chuồn ra nước ngoài.

29 tháng 4, Ðại sứ Mỹ đóng cửa. Người Mỹ "tháo chạy tán loạn".

30 tháng 4, 3 giờ 30, Tổng thống G.Ford ra lệnh cho Ðại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn "chấm dứt di tản vào 3 giờ 30 phút (giờ địa phương) sáng ngày 30-4, nhưng lệnh không thi hành đựơc".

4 giờ 20, một máy bay CH-53 đổ xuống sân thượng tòa Ðại sứ để đưa Ðại sứ Martin di tản.

5 giờ 24, Moorefield, người mà Martin chọn làm quản lý tòa Ðại sứ cùng với 4 người Mỹ khác đã đi trong chuyến trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút.

Chuẩn tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và tướng Nguyễn Hữu Có lên gặp Tổng thống Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự. Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, “chờ bàn giao trong vòng trật tự". Bản tuyên bố được phát trên Ðài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút.

Trận đánh cuối cùng ở cổng số 5, sân bay Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ. Ðợt xung phong đầu tiên của xe tăng và bộ binh của ta bị đối phương bẻ gãy. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt, hơn một giờ sau khi cờ Mặt trận đã bay trên dinh Ðộc Lập.

11 giờ 30, chiếc xe tăng mang biển số 843 dẫn đầu đội hình chiến đấu tiến đến hàng rào dinh Ðộc Lập, húc thẳng vào cổng phụ ngay bên cạnh cổng chính, nhưng do tác động mạnh đột ngột, chân ga thấp, nên chết máy, ngừng lại. Ngay sau đó, xe số 390 do Chính trị viên đại đội Vũ Ðăng Toàn điều khiển, đã vòng lên, húc đổ cổng chính. Trong khoảnh khắc đó, Ðại đội trưởng Bùi Quang Thận, từ chiếc xe 843, cầm cờ, lao lên trong sự yểm hộ của đồng đội, chạy thẳng đến ban công thượng của dinh Ðộc Lập, hạ lá cờ 3 que xuống, kéo lá cờ cách mạng lên, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền VNCH và sự toàn thắng của ta.

Ðại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ được chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (lúc 12 giờ). Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 và trung tá Nguyễn Tấn Tài, lữ đoàn trưởng cũng có mặt. Hai cán bộ tình báo của cách mạng, với tư cách là người của "lực lượng thứ ba" đã ở đây từ sáng, đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng là Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can.

Dương Văn Minh, đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông đến để bàn giao".

Bùi Văn Tùng tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao".

Dương Văn Minh trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phạm Xuân Thệ lúc 13 giờ rồi đến Ðài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh ngay trên Ðài phát thanh.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh phát lệnh, quần chúng Sài Gòn - Gia Ðịnh đã nổi dậy ở 107 khu vực, trong đó có 31 khu vực nội thành, 76 khu vực ngoại thành, 66 khu vực quần chúng đã làm chủ trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và 41 khu vực sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng quân chủ lực chưa đến.

Trong tình thế tuyệt vọng, vào lúc 18 giờ, Phạm Chí Kim đại tá, tỉnh trưởng Bến Tre bỏ trốn (sau đó bị bắt). Ðến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương, được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu tuyên bố đầu hàng.

1 tháng 5, Giải phóng hoàn toàn thị xã Bến Tre và các huyện trong tỉnh.

2 tháng 5, Thành lập Ủy ban Quân quản tỉnh Bến Tre.

Lúc 14 giờ, Thượng tướng Trần Văn Trà dẫn đầu Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN đến dinh Ðộc Lập, gặp những người đại diện của Chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng vào lúc 11 giờ 30 ngày 30-4, hiện đang bị quản thúc tại đây.

3 tháng 5, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh được thành lập theo quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN gồm 1 chủ tịch, 5 phó chủ tịch và 5 ủy viên. Tướng Trần Văn Trà được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố.

6 tháng 5, Bộ Chỉ huy các LLVT Giải phóng miền Nam ra thông cáo: "11 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân giải phóng đã cắm cờ của Chính phủ CMLTCHMNVN lên phủ Tổng thống của ngụy quyền Sài Gòn.

Trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 40 vạn quân địch thuộc Quân đoàn 3 và 4, 10 sư đoàn chủ lực và tổng dự bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân, 90 giang đoàn, hải đoàn, toàn bộ lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền từ trung ương đến xã ấp, giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh và các tỉnh còn lại...".

5 tháng 6, Từ ngày 5-6 đến ngày 11-6, tại dinh Ðộc Lập, diễn ra Hội nghị liên tịch (mở rộng) gồm các đại diện MTDTGPMNVN, LMCLLDTDCVHB, Chính phủ CMLTCHMNVN, Hội đồng cố vấn Chính phủ CMLTCHMNVN, đại diện các đoàn thể, lực lượng trí thức thành phố bàn về Hiệp thương thống nhất Tổ quốc.

15 tháng 11, Từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa hai miền Nam - Bắc, bàn về thống nhất Tổ quốc đã diễn ra tại dinh Ðộc lập.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hát bộiHát bội

&nbsp;<br />

 

Image
Những người nay ngoài 70 tuổi, đã từng hoạt động sân khấu ở Bến Tre, đều cho rằng hát bội có mặt ở Bến Tre, cũng như ớ Nam Bộ cùng thời với việc xây dựng những ngôi đình làng, hoặc muộn lắm thì cũng khoảng tương đương với giai đoạn thiết lập các đơn vị hành chính cấp phủ, huyện, tổng ở vùng này. 

Tổng hợp các nguồn điều tra, khảo sát các gia phả, các dòng họ và nguồn gốc dân cư cũng như về vốn văn hóa dân gian lại, chúng ta có thể xác định được rằng hát bội được phổ biến rộng ở Bến Tre vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Như vậy, có nghĩa rằng trước đó cũng đã có hát bội như một sinh hoạt văn nghệ dân gian trong thôn xóm, chưa có tổ chức qui mô.

Như chúng ta biết, trước đây khi ông cha ta đến định cư một nơi nào trên vùng đất mới, thì một trong những công trình đầu tiên là xây dựng ngôi đình làng. Mà thường là hễ có đình thì có hát bội, vì mỗi năm “đáo lệ Kỳ yên", sau lễ hội thì làng tổ chức hát, hát vừa để "cúng thần", nhưng chủ yếu là để giải trí cho dân làng. Thời ấy, trong số những lưu dân đến định cư ở đây chắc chắn có nhiều người biết nhạc lễ và hát bội. Họ sống trong thôn xóm (lúc ấy dân cư còn khá thưa thớt) với nghề ruộng rẫy là chính, có thể cả nghề đánh cá nữa.

Trong những ngày lễ Tết, hoặc sau ngày mùa, học tụ tập nhau lại thành nhóm từ 10 đến 15 người có đàn, trống, kèn, sáo... Rồi tập dượt và biểu diễn một pho tuồng nào đó, coi như một nhu cầu sinh hoạt theo kiểu "cây nhà lá vườn", sau đó thì giải thể, trở về với công việc đồng áng. Hình thức hợp rồi tan của những đoàn hát bội còn diễn ra cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX.

Đoàn hát bội chuyên nghiệp của Bến Tre ra đời vào những năm đầu thập kỷ XX với tên Kiến Lương Ban do ông Trần Văn Huệ làm bầu. Ông Huệ gốc gác làng Song Phước, hồi ấy thuộc quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, nhưng sống một thời gian dài ở tỉnh lỵ Bến Tre. Ông Huệ làm bầu gánh hát được hơn 10 năm thì qua đời, trao đoàn hát lại cho con trai và con dâu vốn là hai diễn viên chủ chốt của đoàn. Đoàn vẫn giữ tên Kiến Lương Ban như từ nay là của bầu Quảng – tên của con trai ông. Bầu Quảng chết quá sớm, mới trên 40 tuổi, để đoàn hát lại cho vợ. Bà Quảng tiếp tục làm bầu, dẫn đoàn đi lưu diễn trong tỉnh, song hoạt đồng dài ngày nhất là ở Bình Đại, cho đến kháng chiến chống Pháp, do gặp nhiều khó khăn, nên đã giải thể.

Bà Quảng còn nhớ rất rõ lời cha chồng là ông Trần Văn Huệ (nếu còn sống, nay khoảng 100 tuổi) kể lại rằng ông biết hát bội lúc tuổi còn thiếu niên. Điều này chứng tỏ trước ông Huệ cả trăm năm, đã có những người biết hát bội và họ truyền nghề cho nhau. Bà Quảng kể lại: Đoàn Kiến Lương Ban thời ông Huệ (và sau này khi được giao cho con là bầu Quảng) có hát những tuồng Tàu như Tống tửu Đơn Hùng Tín, Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, Thần nữ dâng ngũ linh kỳ, Tam Tạng thỉnh kinh, v.v... Trong những tuồng Việt Nam, vở San Hậu được hoan nghênh nhất. Hát tuồng truyện thì mỗi đêm hát một hồi, đến khi nào hết truyện (ví dụ Thuyết Đường) mới sang truyện khác (Tam quốc chẳng hạn). Khi cải lương thịnh hành ở Bến Tre (khoảng 1925-1926) thì đoàn hát bội Kiến Lương Ban ngày càng vắng khách. Ông bầu và bà bầu Quảng phải chạy theo thị hiếu để kiếm sống, nên bắt đầu đưa vài màn ca cải lương và hề diễn vào tuồng hát bội. Thấy làm ăn khá, bà Quảng sắm thêm "panô" sơn thủy, máy nổ chạy thắp sáng, bổ sung dàn nhạc cổ cho hát bội và cải lương. Đến thời kỳ này thí Kiến Lương Ban thực tế đã trở thành một đoàn hát bội pha cải lương rồi. Tuy nhiên, vì cái gốc của đoàn là hát bội, nên thỉnh thoảng đoàn vẫn diễn những tuồng hát bội. Có lúc, đoàn được mời đi “hát chầu” cúng đình.

Hát cúng đình thì chỉ được phép diễn tuồng hát bội, dứt khoát không được diễn cải lương. Ngoài "hát chầu" là :hát giàn" tức đoàn tự tổ chức hát, bán vé, thu tiền. Những đêm hát như vậy, đoàn tự do pha hát bội với cải lương. Kiến Lương Ban đi hát chủ yếu quanh quẩn trong tỉnh, rồi trở về nơi quen, chốn cũ là đình An Hội (làng trung tâm của tỉnh lỵ). Làng nào muốn mời đoàn về "hát chầu" thì đến đó thương lượng. Nếu “hát chầu” thì được ban hội tề thù lao 80 đồng, làng nào khá hơn cho 100 đồng (bạc Đông Dương) nếu “giàn hát” chỉ “góp” mỗi đêm năm, sáu chục đồng.

Khi Kiến Lương Ban trở thành một gánh hát bội pha cải lương thì khán giả có đông hơn. Đoàn cũng đã diễn ra ở giữa Sài Gòn và Chợ Lớn xưa như ở đình tân Kiểng, đình Bình tiên (Chợ Lớn) hoặc đình Minh Phụng (Chợ Lớn) là những nơi dành cho những đoàn hát bội, hoặc hát bội pha cải lương có tiếng.

Trong nghề hát bội, “hát chầu” cúng đình là khó nhắt. Không khí ở đây rất nghiêm trang, nhang đèn sáng rực từ chính điện đến võ ca. Ngoài sân, người ta còn che thêm rạp, xếp bàn ghế có trật tự. những vị chức sắc mặc áo lễ, bịt khăn đóng chỉnh tề. Một số người xem được mời bằng thiếp. Cho nên gánh hát bội nào được mời về "hát chầu" thì xem đó là một vinh dự lớn.

Hát cúng đình thường kéo dài đến ba, bốn giờ sáng. Vở diễn phải nhiều dũng, ít bi. Không được đưa hề ra đùa cợt. Kết thúc vở phải có hậu. Diễn viên ngại nhất là người cầm chầu. Hễ diễn viên hát đúng thì người cầm chầu - thường là ông Cả trong làng – đánh một tiếng "thùng". Hát giỏi thì được thưởng ba, bốn tiếng "thùng". Hát sai, hoặc đùa cợt xúc phạm thì người cầm chầu khắc một tiếng "cắc" rất mạnh vào thành trống khiến diễn viên lúng túng, thậm chí hoang mang. Sau buổi diễn, ồng bầu và ông nhưn (thầy tuồng, ngày nay gọi là đạo diễn) phải đến nhận lỗi với ông Cả. Ở An Hóa, ngày xưa có ông Cả Chiến nổi tiếng sành nghệ thuật hát bội và rất nghiêm khắc.

Nói đến đây, chúng ta nhớ đến Đào Tấn(1) bậc thầy của sân khấu hát bội. Ông hết lòng với nghệ thuật tuồng và không tha thứ bất cứ một thái độ hời hợt nào trong diễn xuất. Câu liễn Đào Tấn viết, dán trên bàn thờ Tổ nghề hát bội đến nay và có lẽ mãi về sau vẫn còn giá trị:

Tùy xứ khôi hài Mạn Thiến tiên bản sắc
Phùng trường tác hí Hoan hỉ Phật tiền thân

Câu liễn mang ý nghĩa là trên sân khấu chớ nên khôi hài bừa bãi mà phải diễn xuất cho đúng cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật, vì sân khấu chính là cuộc đời.

Học làm diễn viên hát bội ngày xưa rất "trần ai", không kém học chữ Nho, đó là lời của bà bầu Quảng (76 tuổi), mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên. Gia đình cho bà theo học nghề lúc mới 12 tuổi. Thầy dạy vỡ lòng là bác Sáu Mới, người tỉnh Vĩnh Long. Thầy luyện nghề là ông Ba Lớn, người Bến Tre, giỏi chữ Nho và hát bội cổ điển. Mỗi ngày học hai buổi. Sáng, sau khi cúng tổ học từ 5 đến 7 giờ. Tối nào cũng học, nhưng lâu hay mau, tùy giờ rỗi của thầy. Khi đoàn diễn, học trò phải thức xem để học hỏi. Lúc trả bài, miệng hát tay giữ nhịp. Nhịp sai, bắt trật, thầy bắt xòe hai tay, đánh rất mạnh bằng cây thước dẹp. Tay sưng đỏ, rát rạt, nước mắt trào ra mà không dám khóc. Thầy chú ý đến cả lối sống của trò, nghiêm khắc đến nỗi trò ít khi dám đi ngang qua mặt thầy. Ảnh hưởng tâm lý đó sâu đậm đến mức sau này, khi trò đã trở thành diễn viên giỏi, vẫn sợ thầy, mặc dù thầy không còn làm nhưn, hoặc không dạy nghề nữa. Thỉnh thoảng thầy vẫn chống gậy đến ngồi xem tuồng ở hàng ghế đầu với khán giả. Cuộc đời của một kép hát bội giỏi ngày xưa thường kết thúc bằng làm ông nhưn (thầy tuồng, đạo diễn), rồi mới chịu rời sân khấu. Chính đó cũng là một cách truyền nghề cho thế hệ trẻ, khi xã hội cũ không có trường đạo tạo diễn viên.

Ngoài Kiến Lương Ban, ở Bến Tre còn có các đoàn khác như đoàn hát bội của bầu Tiền ở Giồng Miễu (Thạnh Phú), đoàn của bầu Đẩu ở Hòa Lộc (Mỏ Cày). Các ông bầu Luông, bầu Vàng, bầu Hùng tuy thành lập đoàn hát ở các tỉnh lân cận, song vẫn lưu diễn hàng năm ở Bến Tre.

Chú thích

(1) Đào Tấn sinh năm1845 tại Bình Định, là nhà soạn tuồng xuất sắc của ta, vào thế kỷ XIX ( thời Thiệu Trị, Tự Đức, Thành Thái). Ông sáng tạo và nhuận sắc hàng mấy mươi vở tuồng hát bội. 

Đã ban hành
Thực dân Pháp gây hấn (23-9-1945), đồng bào Nam bộ đứng lên kháng chiếnThực dân Pháp gây hấn (23-9-1945), đồng bào Nam bộ đứng lên kháng chiến

Nước VNDCCH vừa ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đã cướp đi hai triệu người, tiếp đến là nạn lụt lớn ở Bắc Bộ. Sức dân kiệt quệ, kho tàng Nhà nước trống rỗng, sản xuất đình đốn, các nhu yếu phẩm đều khan hiếm nghiêm trọng.

   Giữa lúc đó, ở phía Bắc, hai mươi vạn quân của Tưởng Giới Thạch, với danh nghĩa quân “Đồng minh”, kéo vào để tước khí giới quân đội Nhật. Đội quân ô hợp và đói rách này không những chỉ tạo thêm cho nhân dân ta gánh nặng khó khăn về kinh tế và xã hội, mà còn gây bao nhiêu rối rắm về chính trị. Chúng dung dưỡng, tiếp sức cho các đảng phái phản động hoạt động gây rối, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng.

   Ở phía Nam, quân đội Anh nhân danh Đồng minh, kéo vào để tước vũ khí quân Nhật, nhưng kỳ thực là đã thỏa thuận với bọn tướng lĩnh Nhật, thả hàng vạn tên tù binh Pháp (do chúng giam giữ trước), lén lút trang bị vũ khí cho bọn này để âm mưu cướp lại nước ta.

   Như vậy, rõ ràng chính quyền non trẻ cách mạng phải đương đầu một lúc bốn tên giặc ngoài (Anh, Tưởng, Nhật, Pháp) đông gần nửa triệu tên, chưa kể những loại kẻ thù bên trong đang tìm mọi cách ngóc đầu dậy. Vận mệnh của đất nước và dân tộc ta đang đứng trước những thử thách vô cùng nghiêm trọng. Nền độc lập vừa mới giành được bằng bao nhiêu máu xương, giờ đây đang có nguy cơ tiêu diệt.

   Do chính sách vơ vét của Pháp, Nhật để dốc vào cuộc chiến tranh, tình hình Nam Bộ nói chung, cũng như Bến Tre nói riêng đang gặp phải vô vàn khó khăn. Nông nghiệp lụn bại, thương nghiệp, thủ công nghiệp đình đốn, đời sống nhân dân thiếu thốn, cơ cực mọi bề. Đảng bộ từ trong bí mật bước ra, mới được khôi phục và củng cố lại về tổ chức. Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, cán bộ vừa thiếu lại chưa có kinh nghiệm quản lý xã hội, còn nhiều bỡ ngỡ trước bao nhiêu vấn đề của cuộc sống đặt ra. LLVT mới xây dựng, nhiệt tình và lòng dũng cảm không thiếu, nhưng trang bị kém, chưa được rèn luyện, chưa qua thực tế chiến đấu.

   Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp dựa vào sự che chở của quân Anh và yểm trợ của tàn quân Nhật, bắt đầu nổ súng đánh chiếm các công sở ở Sài Gòn.

   Trước tình hình đó, XUNB và UBKC Nam Bộ đã họp phiên khẩn cấp tại một địa điểm ở đường Cây Mai (Chợ Lớn) quyết định một số đối sách khẩn trương chống lại âm mưu của giặc. Lệnh kháng chiến được ban hành. Cả Sài Gòn - Chợ Lớn nhất tề đứng lên chống giặc, các tầng lớp nhân dân triệt để bãi công, bãi chợ, bãi trường. Mọi sinh hoạt trong thành phố đều ngưng trệ. Các đơn vị thanh niên tiền phong, công đoàn xung phong, tự vệ đã nhanh chóng phối hợp cùng với những đơn vị cộng hòa vệ binh triển khai lực lượng, dựng chướng ngại vật và công sự chiến đấu trên các đường phố nhằm cản bước tiến của giặc. Nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và Pháp đã diễn ra ở cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội, cầu Chữ Y...

   Ngày 26-9-1945 – ba ngày sau khi cuộc kháng chiến bùng nổ - Bác Hồ thay mặt Chính phủ gửi bức thư đầu tiên vào Nam:

Hỡi đồng bào Nam Bộ,

   Nước ta vừa tranh quyền độc lập thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật, thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng hoặc chạy trốn, nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật, hoặc công khai lại mò đến. Trong 4 năm, họ đã bán nước ta 2 lần, nay họ lại muốn thống trị dân ta một lần nữa.

   Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời oanh liệt của một nhà đại cách mạng Pháp: "Thà chết tự do còn hơn sống nô lệ".

   Tôi chắc và đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và đồng bào toàn quốc hết sức ủng hộ những chiến sĩ và nhân dân đang hy sinh đấu tranh để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

   Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng, tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

   Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa...

Việt Nam độc lập muôn năm!
Đồng bào Nam Bộ muôn năm!

            Ngày 26 tháng 9 năm 1945

                HỒ CHÍ MINH

   Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và UBKC Nam Bộ, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn – Gia Định đã chiến đấu vô cùng anh dũng.

   Ngày 23 và 24-10-1945, sau khi có viện binh từ châu Âu và châu Phi đưa sang, giặc Pháp mở đợt tấn công ra phía bắc, đánh chiếm Thủ Dầu Một, rồi Biên Hòa. Ở phía nam, chúng đánh chiếm Tân An, Gò Công, Mỹ Tho và các tỉnh miền Tây.

   Ngày 25-10-1945, XUNB triệu tập một cuộc hội nghị khẩn cấp tại Thiên Hộ (Mỹ Tho), để kiểm điểm rút kinh nghiệm, uốn nắn những thiếu sót về tổ chức chiến đấu chống giặc sau hơn một tháng trời. Cuộc họp đã đi đến quyết định đường lối kháng chiến và lấy du kích chiến làm chính, đặt LLVT của từng tỉnh dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng địa phương.

   Ngày 23-10-1945, Bác Hồ lại gửi cho đồng bào Nam Bộ một lá thư thứ hai, trong đó có đoạn:

"Quân Pháp nấp dưới bóng quân đội Anh đang tàn sát đồng bào ta trong xứ. Ở Mỹ Tho, ở Tân An, ở Biên Hòa, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy tinh thần hy sinh chiến đấu... Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ rõ tinh thần vững chắc, hùng dũng. Ngày nay, trước tình hình khó khăn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo dõi cuộc chiến đấu ở Nam Bộ..."

   Vào cuối tháng 11-1945, cuộc họp hội nghị XUNB mở rộng tại một xã bên bờ sông Vàm Cỏ Đông đi đến một số quyết định quan trọng:

  • Giải thể UBKC Nam Bộ và thành lập UBKCHC Nam Bộ.
  • Chia Nam Bộ thành 3 quân khu (7, 8 và 9) và chỉ định khu bộ trưởng, khu bộ phó, thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ dưới sự chỉ huy của các quân khu (tỉnh Bến Tre, nằm trong quân khu 8).
  • Phát động chiến tranh du kích rộng khắp, củng cố LLVT, tiến hành diệt tề, trừ gian nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở Đảng, chính quyền và đoàn thể cách mạng bí mật phía sau lưng địch.
Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)
&nbsp;

Image
Quản Trọng Hoàng (1904-1942)
Sinh năm 1907 trong một gia đình nông dân ở làng An Định, quận Mỏ Cày, nay là xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học ở trường tiểu học tỉnh, rồi sang học trung học ở Collège Mỹ Tho. Sớm tiếp nhận các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, như phong trào để tang chí sĩ Phan Châu Trinh (4-4-1926); phong trào đòi thả tự do cho nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (4-1926). Năm 1927, thoát ly hoạt động cách mạng. Năm 1929, Quản Trọng Hoàng tham gia vào VNTNCMĐCH, rồi gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, đến đầu năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD, hoạt động ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (9-1930), thực dân Pháp tiến hành những cuộc khủng bố trắng, nhiều đảng viên ĐCS bị bắt, bị đày đi Lao Bảo, Côn Lôn. Trước tình hình đó ở Nam Kỳ, một số đảng viên tìm về vùng U Minh nương náu để tránh bị sự khủng bố của địch. Quản Trọng Hoàng cùng nằm trong số đó. Lúc đầu, ông về vùng Giá Rai (tỉnh Bạc Liêu) nhen nhóm, xây dựng cơ sở tại đây, nhưng rồi có nguy cơ bị lộ, nên phải chuyển về hoạt động ở làng Vĩnh Thuận, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Giữa năm 1932, ông cùng với Quản Trọng Linh, Trần Mão, Hà Thị Lan thành lập chi bộ đầu tiên ở vùng này, rồi mở rộng mối quan hệ với tổ chức ĐCS ở các địa phương khác.

   Năm 1938, khi Liên tỉnh ủy miền Tây thành lập, Quản Trọng Hoàng được cử làm Phó bí thư, đến năm 1937, được cử làm Bí thư Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

   Tháng 7-1940, trong cuộc họp của đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ tại một địa điểm của tỉnh Mỹ Tho, Quản Trọng Hoàng được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa ở tỉnh Cần Thơ.

   Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, khắp các tỉnh thành ở trong xứ, nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi, kẻ thù đã nắm được kế hoạch khởi nghĩa, nên các cuộc nổi dậy của quần chúng bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cùng nhiều đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có Quản Trọng Hoàng. Trải qua nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn giữ tròn khí tiết của người cộng sản kiên cường. Trong những ngày bị giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn, trong một bức thư gửi cho người yêu, cũng là một nữ đồng chí, Quản Trọng Hoàng khẳng định rõ lý tưởng của mình:

…Thù quân đế quốc – thù vô tận

Giận lũ tham tàn bất nhân

Nhắn bạn chung tình nên gắng sức

Bền gan rửa sạch nợ non sông.

   Đầu tháng 1-1942, tòa án thực dân Pháp ở Sài Gòn xử án các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa, Quản Trọng Hoàng bị kết án tử hình, số tù 105GAM. Trong khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn chờ ngày hành quyết, ông cũng đã cùng một số tù nhân khác tổ chức vượt ngục nhưng không thành. Ngày 22-7-1942, ông bị xử bắn ở Hóc Môn cùng với 9 đồng chí khác.

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Các dạng nhà chínhCác dạng nhà chính
&nbsp;
 Nhà chữ Đinh

  Đây là loại nhà rất phổ biến trong tỉnh, vùng này cũng có được cấu tạo gồm một nhà trên và nhà dưới, nhưng khác nhà sắp đọi ở chỗ nhà dưới nằm ngang hàng với nhà trên xoay đầu hồi ra phía sân trước, có cửa vào riêng cùng hướng với nhà trên. Nhà trên và nhà dưới cùng một mặt phẳng nên tiện cho việc bố trí bàn ghế khi có tiệc tùng, cưới xin, đám giỗ v.v… Bộ cửa nhà trên gồm nhiều cánh ghép liền với nhau, chứ không phải chỉ có hai cánh như kiểu nhà Châu Âu. Nhà chữ đinh thường có dãy hàng ba phía trước, nên nắng không bị chói, mưa không bị tạt vào bên trong. Có một tập quán lâu đời là nếu xây nhà chữ đinh thì cổng không mở ngay vào cửa chính của nhà trên, mà lại mở vào phía đi vào nhà dọc (của chữ đinh). Tùy sân trước rộng hay hẹp mà chủ nhà đặt ở đó nhiều hay ít chậu kiểng. Cũng có người không chơi kiểng mà áp dụng công thức: sân vườn - nhà - vườn sau. Ở đây có ao cá, chuồng gia súc, gia cầm, nếu vườn rộng thì có thêm cây ăn quả.

Bên cạnh loại nhà chữ đinh thông thường trên đây, một số nơi cải tiến thành loại nhà chữ đinh có sân trong. Theo cấu trúc này, nhà dưới được tách ra khỏi đầu hồi nhà trên, tạo một sân nhỏ phía sau để lấy ánh sáng cho nhà dưới. Đây cũng là nơi đặt thêm hồ nước hay lu chứa nước mưa.

Cách bố cục bên trong nhà chữ đinh nói chung gần giống nhau. Ở nhà chính, bàn thờ được đặt ở gian giữa và các gian hai bên. Trước bàn thờ, bên phải và bên trái là nơi đặt đi văng chân quỳ thay cho phản gỗ ngày xưa. Trước bàn thờ gian giữa là nơi bố trí bộ salông hoặc chiếc bàn chữ U với 6 ghế dựa. Nhà khá giả có thêm một tủ búp phê đựng ly tách, chén, bát đắt tiền và vài chai rượu. Các bàn thờ chạm trổ cầu kỳ ngày xưa, nay được thay bằng chiếc tủ thờ kiểu Gò Công, dùng để đặt bàn thờ bên trên, vừa để đựng những đồ đạc quý giá bên trong.

Nhà sắp đọi

Đây là loại nhà tương đối phổ biến ở nông thôn Bến Tre, gồm một nhà trên (hay nhà trước ba gian và một nhà dưới (hay nhà sau) sắp liền kề cùng chiều dài với nhà trên. Giữa hai nhà có chiếc máng xối chạy suốt từ đầu này đến đầu kia để hứng nước mưa. Nhà sắp đọi thường là nhà lá, cột bằng gỗ mù u, sầu đâu, so đũa, gỗ mít kê trên đá táng. Dãy cột hàng ba phía trước thường làm bằng tre gốc. Ở nơi ven biển thì dùng cây mắm, cây đước hay chà là.

Trên cơ sở nhà sắp đọi, người ta còn cải tiến thành một số kiểu nhà khác, như nhà sắp đọi nối dài (phần nối dài có cửa trông thẳng ra sân trước), hay nhà sắp đọi có sân trong (phần mái nhà dưới được tách cách nhà trên độ hai, ba mét, có lối đi với mái che nối liền hai nhà). Sân trong vừa để lấy ánh sáng cho nhà dưới, vừa là chỗ để dãy lu chứa nước mưa.

Nhà có chái

Thông thường ở nông thôn Bến Tre, nhà ở nông thôn Bến Tre, cũng như Nam Bộ nói chung, gồm có một nhà chính và một nhà phụ. Ngôi nhà chính thường là ba gian, hai mái, hoặc ba gian một chái (khác với miền Bắc là nhà thường không chái). Số gian thường là số lẻ (1-3-5) ít ai chọn số chẵn. Nếu diện tích của hai kiểu nhà bằng nhau, thì nhà ba gian, hai chái nhìn vẫn thoáng hơn, dễ coi hơn nhà ba gian hai chái nhìn vẫn thoáng hơn, dễ coi hơn nhà ba gian một mái chái do tính cân đối của nó. Ba gian giữa được coi như khu vực chính, còn hai chái hai bên thường được làm buồng chứa đồ đạc và làm buồng ngủ cho phụ nữ trong gia đình.

Nhà không chái

Tuy không phổ biến, nhưng loại nhà này thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp ở nông thôn. Những gia đình nghèo, ít người hay chọn kiểu nhà này, vì cấu trúc đơn giản, dễ làm. Chỉ cần một số cây gỗ, tre để làm sườn còn mái che và hai bên vách đứng thì làm bằng lá dừa nước hay ván gỗ. Cũng có một số nhà tường xây theo kiểu này và lợp ngói, tôn, hoặc phi-brô ximăng. Trong trường hợp này, vách hai bên phải bằng gạch. Trong những năm chiến tranh và cả về sau này, ở nông thôn, nhất là dọc theo những đường cái, người ta xuất hiện loại nhà không chái, và chỉ một chái. Phía mặt tiền được làm cao hơn, mái đổ xuôi, về phía sau.

Nhà chữ công

Một số nhà xưa còn lại hay xây theo kiểu này. Ngày nay, loại nhà này ít được phổ biến. Về cấu trúc loại nhà này gồm có nhà trên và nhà dưới như kiểu nhà sắp đọi, nhưng thay vì nhà sắp đọi được bố trí hai mái đâu vào nhau, giữa có máng xối để hứng nước mưa, thì ở đây giữa nhà trên và nhà dưới cách nhau một khoảng sân rộng và được nối bởi một nhà cầu dài từ mái sau nhà trên đến mái trước nhà dưới. Cách cấu trúc này tăng thêm ánh sáng cho cả nhà trước và cả nhà sau.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer