Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Văn hóa xã hội
Sân khấu (20/10/2014)
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...  
 
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. 
 
Tôn giáo (20/10/2014)
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. 
 
Trang phục (20/10/2014)
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải. 
 
Văn học (20/10/2014)
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới... 
 
Lễ hội (20/10/2014)
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. 
 
Mỹ thuật (20/10/2014)
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu. 
 
Nhà cửa (20/10/2014)
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. 
 
Ẩm thực (19/10/2014)
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Sân khấuSân khấu
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...

​Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa... Căn cứ vào nội dung và giá trị nghệ thuật, ở đây chỉ giới thiệu 4 thể loại dân ca tiêu biểu của tỉnh

  •  
  • nói thơ Vân Tiên
  • hát sắc bùa..

Phát triển trên vùng đất 3 cù lao nằm giữa các nhành sông Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, hò Bến Tre hình thành theo hai hệ thống: hò trên sông nước và hò trên cạn. Cũng như vôn văn nghệ dân gian nói chung, hò Bến Tre có cội nguồn từ miền đất cũ do những thế hệ lưu dân người Việt mang theo cùng với hành trang khác của mình trên đường di chuyển để tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn về phương Nam.

Hò trên sống nước gồm có:

  • Hò chèo thuyền (chèo ghe)
  • Hò mái đoản (mái cụt)
  • Hò mái trường (mái dài)

Hò trên cạn gồm có

  • Hò cúng chùa
  • Hò bản đờn
  • Hò lờ
  • Hò cấy lúa
  • Hò đối đáp.

Dù hò trên sông hay hò trên cạn, tiếng hò Bến Tre, do những điều kiện làm ăn sinh sống và do khung cảnh thiên nhiên qui định, nên có phần thanh nhàn và ung dung hơn so với hò miền Trung hay miền Bắc với tiết tấu khỏe, gấp rút, vội vàng. Là một loại hình nghệ thuật dân gian, hò Bến Tre cũng có lề lối diễn xướng riêng. Hò trong lao động, hò giải trí trong lúc nghỉ ngơi, hò trong lễ hội, hò để đua tài cao thấp, hò trong môi trường vui chơi mỗi độ xuân về.

Hò cấy thường diễn ra ngay trên đồng ruộng, có thể kéo dài từ sáng cho đến chiều tối. Các nhóm hò, có kẻ xướng người xô, vừa lao động, vừa trổ tài đối đáp. Xưa kia, mỗi vạn cấy thường tập trung từ 20 đến 30 người, đứng đầu là một anh "trùm vạn" - người làm trung gian giữa chủ ruộng và thợ cấy. Những thợ cấy hò giỏi, hò hay thường được mọi người trọng vọng, công xá bao giờ cũng được nhận phần cao hơn so với các người khác trong vạn.

Hò cấy được phân bố hầu như khắp địa bàn trong tỉnh, nhưng phổ biến nhất là ở miệt ruộng của huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại.

Ở Thạnh Phú cũng thịnh hành hò chèo thuyền, Bình Đại có hò lờ, hò cúng chùa, hò bản đờn. Dọc theo sông Hàm Luông, ven vàm Tân Hương lại rất phổ biến hò mái đoản, hò mái trường, hò chèo ghe (chèo thuyền).

Trong dân gian, thuật ngữ hò rơi dùng để chỉ trường hợp hò lẻ một mình, chẳng có ai bắt, ai luận, ai gài, ai gỡ, dù có một hoặc nhiều người hò cũng vậy. Trong khi đó, hò kết lại có người bỏ, người bắt, người luận, người gài, người bẻ, tức là có đối có đáp.

Hò mép (hoặc hò bắt quàng) là loại hò ngẫu hứng, đòi hỏi nghệ nhân phải có trình độ nhạy cảm và có năng lực đối đáp ngay lúc biểu diễn trước cảnh và tình xung quanh.

Hò văn, hò thơ, hò truyện đòi hỏi người hò phải am hiểu chữ nghĩa, sử dụng thành thạo các thành ngữ, tục ngữ, nhất là những thành ngữ Hán Việt, phải thuộc nhiều thơ Nôm, thơ lục bát, nhất là các truyện thơ (Lục Vân Tiên, Truyện Kiều, Phạm Công – Cúc Hoa), biết nhiều điển tích trong các truyện Tàu như Tam quốc, Tây du, Đông Chu liệt quốc, Thủy hử.

Hò quốc sự ra đời muộn màng hơn so với các loại hò trên, cùng lúc với các phong trào đấu tranh chống xâm lược, giải phóng đất nước.

Hò đối đáp vốn là một loại hình dân ca phổ biến khắp ba miền đất nước, có lề lối sinh hoạt nghệ thuật giống nhau, đồng thời ở mỗi vùng lại có những tục lệ riêng. Hò đối đáp Bến Tre trải qua 3 giai đoạn diễn xướng. Mở đầu là hò rao, hò mời, hò hỏi thăm. Lời hò ở giai đoạn này chủ yếu là để tìm hiểu đối phương, cho nên thường khiêm nhường, từ tốn, lịch sự. Giai đoạn hai - phần chính của cuộc hò – là lúc thi tài cao thấp, phân định thắng bại, cho nên sôi nổi, căng thẳng, hồi hộp, gay cấn, nhưng cũng là giai đoạn lý thú và hào hứng nhất. Giai đoạn thứ ba mang tính chất kết thúc với những lời hò giã từ, tiễn đưa, hò hẹn, tạm biệt, có khi là sự luyến tiếc, vương vấn, buồn thương, cảm phục...

Chú thích
(1) Những tài liệu trong phần Dân ca này chủ yếu dựa vào công trình nghiên cứu Dân ca Bến Tre của Lư Nhất Vũ và Lư Giang, Ty Văn Hoá - Thông tin Bến Tre, 1981 và một số bản tham luận khoa học đã được đăng trên báo chí của tỉnh.

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)Trương Vĩnh Ký (1837 - 1898)
 

Image
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Trương Vĩnh Ký, còn có tên J.B. Trương Chánh Ký, hoặc Pétrus Ký, sinh ngày 6-12-1837 tại làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, Ký bắt đầu học chữ Hán. Đến chín tuổi cha mất. Lúc này, có một nhà truyền giáo người Pháp, thường gọi là cha Long, thấy cậu bé Ký có trí thông minh nên đem về trường dòng ở Cái Nhum dạy học chữ La-tinh. Năm 12 tuổi, Trương theo cha Hòe (tức linh mục Belleveaux) sang học tại Trường Pinhalu ở Phnom Penh.

   Năm 1851, Trương được trường này cấp học bổng sang học tại Chủng viện Pinang ở Indonesia - một trung tâm đào tạo linh mục cho các nước Đông Nam Á. Tại Tổng chủng viện Pinang, Trương Vĩnh Ký trong quá trình học tập đã tỏ ra "có khả năng thu nhận khác thường" hệ thống tư tưởng và các tri thức khoa học tự nhiên cũng như xã hội đương thời, đến nỗi ngay các nhân vật có tiếng tăm lúc ấy cũng phải ngạc nhiên và khen ngợi trí thông minh và trình độ "học vấn uyên vấn uyên bác" của ông… Ông cũng tỏ ra là một người có năng khiếu về ngôn ngữ học. Ngoài các sinh ngữ Pháp, Anh, La-tinh, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật, ông còn thông thạo cả tiếng Y Pha Nho, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến.Trương Vĩnh Ký hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực văn hóa, ngoại trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp.

Tháng 2-1859, quân Pháp đánh chiếm Gia Định, ông được giám mục người Pháp Lefèbre chỉ định làm thông ngôn cho bộ chỉ huy "Đoàn quân chiếm đóng" ở Nam Kỳ. Tháng 6-1863, thực dân Pháp cử ông làm phiên dịch cho phái bộ "chuộc đất” của triều đình do Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp. Trong chuyến đi này, ngoài nhiệm vụ thông ngôn được đảm nhận một cách xuất sắc, ông còn tiếp xúc với một số nhân vật cao cấp của chính quyền Pháp, gặp gỡ một số nhà văn nổi tiếng như Victor Hugo, Littré, Renan… đi thăm nhiều nơi ở Pháp và một số nước khác như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai Cập, Italia và được Giáo hoàng La Mã tiếp. Trong hành trình kéo dài 8 tháng, cả đi lẫn về, Trương Vĩnh Ký có dịp sống gần gũi với hai vị quan đại thần Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ; đó không chỉ là hai vị quan đại thần, mà còn là những nhân vật đáng kính về tài đức. Trương Vĩnh Ký cũng có cơ hội đề hiểu rõ hơn về nội tình đất nước và đồng bào của mình. Chính trong hồi ký sau chuyến đi này, Trương đã viết: "Tôi trở về với tâm hồn sung sướng vô cùng". Có thề nói chuyến đi này đã góp phần định hướng những suy tư và hoạt động của ông tìm về văn hóa dân tộc một cách tích cực hơn.

   Sau khi chiếm xong 6 tỉnh Nam Kỳ, các "Toàn quyền đô đốc” (Geuverneurs – Amiraux) đã sử dụng Trương Vĩnh Ký như một quan chức An Nam đầu tiên của chính quyền Pháp” đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như: giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866 – 1868 ), chủ bút tờ Gia Định báo (1868), Giám đốc trường Sư phạm kiêm thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở Trường Tham biện Hậu bổ (Collège des administrateurs stagiaires – 1874)… Tháng 2-1876, Trương được Toàn quyền Paul Bert cử làm giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Viện Cơ mật đến tháng 10-1876 thì trở về Sài Gòn.Sau cái chết đột ngột của Paul Bert (11-11-1886), Trương Vĩnh Ký không còn được trọng dụng như trước. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách, báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn.

Trong lĩnh vực văn hóa, Trương Vĩnh Ký đã chứng tỏ có kiến thức uyên bác về nhiều mặt, không chỉ trong khoa học xã hội mà cả trong khoa học tự nhiên. Đặc biệt về hoạt động sưu tầm, biên khảo, phiên âm, phiên dịch, ông đạt những thành tựu đáng kể. Ông dịch sách chữ Hán, phiên ra chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, Lục súc tranh công… biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài v.v…Ông có một năng lực làm việc phi thường. Trong khoảng thời gian 40 năm (1858 - 1898), Trương Vĩnh Ký đã để lại cho đời 118 tác phẩm, bao gồm sách nghiên cứu, sưu tầm, dịch, phiên âm trong đó có hàng chục quyển sách viết bằng Pháp văn. Ở buổi đầu giao tiếp giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương tại Việt Nam, một sự nghiệp đồ sộ như thế quả là hiếm có. Trương Vĩnh Ký có chân trong hàng chục hội khoa học châu Âu, ở cuối thế kỷ XIX J.Bouchot, một học giả Pháp, gọi ông là "một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cho chí ở nước Trung Hoa hiện đại nữa”.(1) Ở nước ta trước đây, một số nhà nghiên cứu đã đánh giá những cống hiến của ông khá cao. Nguyễn Văn Tố tóm tắt sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký trong 3 tiếng “Bác học, Tâm thuật, Khiêm tốn" (2) và, trong lời tựa cuốn Trương Vĩnh Ký của Lê Thanh, ông cho rằng họ Trương là "một nhà lập ngôn bất hủ… một tay cự phách trong văn học, đã nổi tiếng là một nhà sư phạm". Vũ Ngọc Phan, trong tập Nhà văn hiện đại, ông đã viết "Còn Trương Vĩnh Ký thì thiệt là một nhà bác học. Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật mà còn là một người giỏi về ngôn ngữ". Mặt khác, cũng có nhiều ý kiến phê phán, buộc tội họ Trương là đã cộng tác với thực dân, phản lại Tổ quốc, như Lê Thanh trong quyển Trương Vĩnh Ký, Trần Huy Liệu trong Lịch sử 80 năm chống Pháp, Phạm Long Điền và Nguyễn Sinh Duy trong quyển Cuốn sổ bình sanh của Trương Vĩnh Ký…

Những ý kiến trái ngược nhau tùy thuộc vào chỗ đứng, cách nhìn và đánh giá khác nhau của từng người đối với nhân vật lịch sử này. Cũng cần thấy thêm rằng do bản thân cuộc đời hoạt động của Trương Vĩnh Ký có nhiều điều phức tạp và rắc rối. Con người giàu tài năng và có sức làm việc to lớn như thế, đến cuối đời đã rơi vào hoàn cảnh nghèo nàn, túng bấn. Về mặt tinh thần, lúc sinh thời ông cũng đã bộc lộ nhiều băn khoăn, khắc khoải. Hai câu cuối của Bài thơ tuyệt mệnh như muốn gửi gấm tâm sự cho người đời sau, khi phẩm bình về sự nghiệp của ông:

Cuốn sổ bình sanh công với tội
Tìm nơi thẩm phán để thừa sai

 

Ông mất ngày 1-9-1898 tại Sài Gòn, hưởng thọ 62 tuổi. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Nhưng những hoạt động ở lĩnh vực thứ hai này lại không thể tách rời với tư tưởng chính trị khá nhất quán của ông là phục vụ trung thành nước Pháp, như ông đã hơn một lần thừa nhận. Tuy nhiên không vì vậy mà ta xếp ông vào hàng những tên tay sai bán nước như Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, từ đó đi đến phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa của dân tộc. Đáng chú ý nhất là những đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí, cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học v.v…Những năm gần đây, trong bầu không khí tinh thần cởi mở, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, một số công trinh nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký được đăng tải trên các tạp chí, hoặc in thành sách, thể hiện một quan điểm lịch sử khách quan và rộng rãi hơn, một cách nhìn bình tĩnh và khoa học hơn. Trong đó, đáng chú ý là cuốn Trương Vĩnh Ký – con người và sự thật của nhà biên khảo Nguyễn Văn Trấn do Ban Khoa học xã hội Thành ủy TP.Hồ Chí Minh xuất bản năm 1993 và quyển Sương mù trên tác phẩm Trương Vĩnh Ký của Bằng Giang, Nhà xuất bản Văn học, 1994.

Chú thích:

1. J. Bouchot, Péutrus Ký, un savant et un patriote Cochinchinois, S, 1927, p 10
2. Kỷ yếu hội Trí Tri Bắc kỳ, số 1-2 năm 1937

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Hồ Văn LỳHồ Văn Lỳ


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Hồ Văn Lỳ (tức
Thanh Dũng) sinh năm 1952, quê ở xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi
được tuyên dương </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">a</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">nh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội
trưởng trinh sát vũ trang tỉnh Bến Tre.</span></p><div style="text-align: center;"></div>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 16 tuổi, Hồ Văn Lỳ
làm liên lạc cho an ninh vũ trang của tỉnh. Năm 18 tuổi (1970), anh được giao
nhiệm vụ chỉ huy đội trinh sát vũ trang bảo vệ lãnh đạo tỉnh Bến Tre, giữ vững
vùng ven Mỹ Thạnh, tạo nên một đầu cầu đảm bảo cho cấp ủy chỉ đạo phong trào
cách mạng trong thị xã. Hồ Văn Lỳ đã cải trang để bám vùng ven, bám dân, tích
cực vận động quần chúng, xây dựng cơ sở. Thông qua cơ sở và trực tiếp điều tra,
chỉ trong một thời gian ngắn, anh cùng đơn vị nắm được quy luật hoạt động của
địch và xây dựng được nhiều phương án chiến đấu, bảo vệ cán bộ đi công tác qua
địa bàn phụ trách. Nhiều lần, Hồ Văn Lỳ xung phong đi trước dò, gỡ mìn, lựu đạn
do địch gài. Nhiều đêm, anh không ngủ, bám địch, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ
an toàn các đồng chí lãnh đạo của tỉnh qua lại công tác. Tổng cộng Hồ Văn Lỳ đã
chỉ huy đơn vị bảo vệ an toàn 250 chuyến với hơn 3.000 lượt cán bộ, cấp ủy qua
lại trên tuyến hành lang do anh phụ trách. Hồ Văn Lỳ đã chiến đấu 30 trận, anh
luôn chủ động tấn công địch, phản kích bọn biệt kích. Riêng anh đã diệt và làm
bị thương 79 tên địch, bắt sống 3 tên ác ôn, thu 7 súng, bắn rơi 1 máy bay. Năm
1973, trong một trận chiến đấu, anh bị thương. Trong một trận khác, Hồ Văn Lỳ
diệt được 3 tên biệt kích và anh bị thương nặng phải chuyển về hậu cứ điều trị.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí 2 lần là Dũng
sĩ cấp ưu tú, được tặng thưởng nhiều bằng khen. Ngày 6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1976, Hồ Văn Lỳ
được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và danh hiệu Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>


Anh hùng Hồ Văn Lỳ (tức Thanh Dũng) sinh năm 1952, quê ở xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung đội trưởng trinh sát vũ trang tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Hồ Văn Lỳ

Năm 16 tuổi, Hồ Văn Lỳ làm liên lạc cho an ninh vũ trang của tỉnh. Năm 18 tuổi (1970), anh được giao nhiệm vụ chỉ huy đội trinh sát vũ trang bảo vệ lãnh đạo tỉnh Bến Tre, giữ vững vùng ven Mỹ Thạnh, tạo nên một đầu cầu đảm bảo cho cấp ủy chỉ đạo phong trào cách mạng trong thị xã. Hồ Văn Lỳ đã cải trang để bám vùng ven, bám dân, tích cực vận động quần chúng, xây dựng cơ sở. Thông qua cơ sở và trực tiếp điều tra, chỉ trong một thời gian ngắn, anh cùng đơn vị nắm được quy luật hoạt động của địch và xây dựng được nhiều phương án chiến đấu, bảo vệ cán bộ đi công tác qua địa bàn phụ trách. Nhiều lần, Hồ Văn Lỳ xung phong đi trước dò, gỡ mìn, lựu đạn do địch gài. Nhiều đêm, anh không ngủ, bám địch, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo của tỉnh qua lại công tác. Tổng cộng Hồ Văn Lỳ đã chỉ huy đơn vị bảo vệ an toàn 250 chuyến với hơn 3.000 lượt cán bộ, cấp ủy qua lại trên tuyến hành lang do anh phụ trách. Hồ Văn Lỳ đã chiến đấu 30 trận, anh luôn chủ động tấn công địch, phản kích bọn biệt kích. Riêng anh đã diệt và làm bị thương 79 tên địch, bắt sống 3 tên ác ôn, thu 7 súng, bắn rơi 1 máy bay. Năm 1973, trong một trận chiến đấu, anh bị thương. Trong một trận khác, Hồ Văn Lỳ diệt được 3 tên biệt kích và anh bị thương nặng phải chuyển về hậu cứ điều trị.

Đồng chí 2 lần là Dũng sĩ cấp ưu tú, được tặng thưởng nhiều bằng khen. Ngày 6-6-1976, Hồ Văn Lỳ được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Ngọc Giải (1) (1904 – 1931)Trần Ngọc Giải (1) (1904 – 1931)

    Trần Ngọc Giải, bí danh Thuận Hòa, sinh năm 1904 tại làng Thới Thuận, tổng Hòa Thinh, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre) trong một gia đình nông dân, sống chủ yếu bằng nghề biển kiêm nghề rừng (đốn củi nơi vùng rừng ngập mặn ven biển).

  Năm 1926, Trần Ngọc Giải thoát ly gia đình lên Sài Gòn, hoạt động ở cơ quan Kỳ bộ VNTNCMĐCH do Tôn Đức Thắng phụ trách. Được sự tuyên truyền giác ngộ của ông, người em gái thứ tư tên là Trần Thị Cầm cũng đã thoát ly gia đình, đi làm liên lạc cho Kỳ bộ VNTNCMĐCH.

  Năm 1928, Trần Ngọc Giải được cử sang Trung Quốc cùng với Trần Văn Hòe và Lê Hoàng Chiếu dự lớp huấn luyện do Hồ Tùng Mậu tổ chức tại Quảng Châu. Sau 5 tháng học tập, Trần Ngọc Giải trở về nước. Khi Tỉnh bộ VNTNCMĐCH tỉnh Mỹ Tho thành lập, Trần Ngọc Giải được cử làm Bí thư, kiêm nhiệm phụ trách phong trào tỉnh Bến Tre.

   Cùng với Lê Hoàng Chiếu và Trần Văn Hòe, Trần Ngọc Giải đã góp phần xây dựng phong trào cách mạng ở vùng An Hóa, gây dựng cơ sở trong gánh hát Đồng Nữ Ban, đưa những vở tuồng tiến bộ vào chương trình lưu diễn để tuyên truyền cổ vũ tinh thần yêu nước trong đồng bào.

   Tháng 4-1931, trên đường công tác, Trần Ngọc Giải không may bị sa lưới của bọn mật thám Pháp. Trải qua những cực hình tra tấn dã man, chết đi sống lại nhiều lần, ông vẫn giữ vững khí tiết, không hề khai báo một điều gì có hại cho cách mạng. Sau hơn hai tháng bị giam cầm, bị hành hạ dã man, từ những trò "đi tàu bay", "tàu lặn" đến "lộn mề gà", các khớp xương bị trật, gãy, không còn cử động được nữa, ông được bọn chúng đưa vào điều trị tại bệnh viện Chợ Quán. Tại đây, bọn mật thám thay nhau canh giữ ngày đêm, không cho bất cứ một thân nhân, bạn bè nào đến thăm, kể cả việc nhắn tin về gia đình.

  Ngày 10-6-1931, Trần Ngọc Giải trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh tại nhà thương Chợ Quán. Chúng đem chôn ông tại nghĩa trang Tân Sơn Nhất. Vào cuối thập niên 60, vùng này đã bị đế quốc Mỹ cày ủi để mở rộng sân bay, do đó nhiều mồ mả của đồng bào, trong đó có mộ của ông bị san bằng, không còn tìm ra dấu vết.

   Cuộc đời của Trần Ngọc Giải là một tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, về ý chí bất khuất trước kẻ thù. Ông là một trong những cán bộ trung kiên, gầy dựng nên phong trào và cơ sở cách mạng ở Mỹ Tho và vùng Bình Đại trong những năm đầy thử thách gian lao của thời dựng Đảng.

Chú thích

(1) Viết theo tài liệu ghi chép của đồng chí Nguyễn Văn Ngự (bí danh Cộng) hoạt động cùng thời với Trần Ngọc Giải trong phong trào VNTNCMĐCH, nguyên Tỉnh ủy viên Mỹ Tho (1930 – 1931). Tài liệu lưu trữ tại Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Bến Tre.

Đã ban hành
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre - Họ và tên: Cao Văn Trọng
- Sinh ngày: 09/9/1961
- Quê quán: Xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Kinh tế Công nghiệp; Cử nhân Hành chính; Thạc sĩ Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cử nhân

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ba VátBa Vát
&nbsp;

Ba Vát (còn gọi Ba Việt)

Địa danh gốc Khmer (Pears Watt là chùa phật). Vào thế kỷ XVIII, nơi đây là huyện lỵ của huyện Tân An - một trung tâm kinh tế khá phồn thịnh thời bấy giờ. Năm 1777, đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt tại đây…

Ca dao xưa:

        Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát,

        Đường Ba Vát gió mát tận xương.

Câu ca dao phản ánh ít nhiều vị trí của thị tứ này thời ấy.

Thời KCCM, Ba Vát là quận lỵ của quận Đôn Nhơn (3-1963). Nằm trên đường Mỏ Cày đi Chợ Lách, Ba Vát là một thị tứ đang phát triển, có chợ có bến thuyền, kho hàng, trường học và nhiều cửa hàng, cơ sở dịch vụ.

Đã ban hành
Nhà bảo tàng Bến TreNhà bảo tàng Bến Tre
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474 m2. Mái lợp ngói, tường gạch, cùng nhiều cửa sổ cũng hình vòm trên chạm đầu rồng hoặc sư tử. Bốn hướng đều có cổng ra vào với 3 mặt giáp với 3 con đường lớn: Hùng Vương, Cách Mạng Tháng Tám, Lê Đại Hành.

Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, nằm ngay trung tâm thành phố với những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng tươi tốt, quý giá và hàng rào khang trang bao bọc làm cho ngôi nhà trở nên biệt lập và sang trọng.

Đây là một vị trí đẹp, thuận lợi về mọi mặt, là điểm hẹn của nhân dân trong tỉnh, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ Dừa.

Chính vì vị trí quan trọng như vậy nên khi xâm chiếm đất Bến Tre, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi nhà này để làm Dinh Tham biện.

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), đế quốc Mỹ nhảy vào dựng lên ở miềm Nam chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ngôi nhà này được Mỹ Ngụy chọn làm Dinh Tỉnh trưởng. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngôi nhà được Tỉnh ủy Bến Tre tiếp quản, sau đó giao lại cho Ty Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm phòng Bảo tồn Bảo tàng vào năm 1976.

Khi Bảo tàng Bến Tre được thành lập theo Quyết định số 1564 ngày 26/10/1981, tỉnh đã quyết định giao lại ngôi nhà cho Bảo tàng sử dụng để trưng bày những hình ảnh và hiện vật truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tại đây từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân, dân Bến Tre. Đây là cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu vào năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường; là nơi diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy vào tháng 10/1945; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá - Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960 - 1962.

Hiện nay, nội thất ngôi nhà đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày. Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn ba ngàn hiện vật, hình ảnh, tư liệu, gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, …

Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình,… Bảo tàng Bến Tre có thể giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một tòa nhà mới theo Quyết định số 2234/QĐ-UB ngày 20/6/2002 trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà khách Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tiên ThủyTiên Thủy
&nbsp;

Sông nằm ở phía tả ngạn, thông ra sông Hàm Luông, quanh năm nước ngọt. Có lẽ vì vậy nên gọi tên Tiên Thuỷ (có nghĩa là nước tiên). Sách Gia Định thành thông chí chép:” sông rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, chợ thôn trù mật, thuyền bè tụ họp, nước chia làm 2 nhánh, nhánh nam thì lặng trong, nhánh bắc thì đục ngầu…Ngoài cửa sông Cái (Hàm Luông) có nhiều cá sấu, cua lớn bằng cái thuyền, rất hung dữ…”. Tác giả cũng cho biết thêm ở nơi những bến sông, người ta phải dùng cọc bao quanh để đề phòng cá sấu.

Đó là chuyện cách nay 2 thế kỷ. Những nơi nổi tiếng một thời nhiều cá sấu như rạch Sấu, Cái Cấm, Tiên Thủy, nay đều vắng bóng loài vật này.

Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộDương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ
Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.
​Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ.

Từ thời kháng chiến chống Pháp, Dương Văn Dương thường được bộ hạ thân thuộc cũng như đồng bào quen gọi với cái tên thân thương là “anh Ba Dương”.

Ba Dương – thủ lĩnh hàng đầu trong các thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên, xưa kia là “giang hồ hảo hán”, nhưng khi đến với cách mạng trở thành người chỉ huy tài ba, mẫu mực và là phó tướng, cánh tay đắc lực của Trung tướng Nguyễn Bình.

Theo nhiều nguồn tài liệu được kiểm chứng, bước đầu xác định Dương Văn Dương là người gốc Bến Tre, xuất thân trong một gia đình nghèo ở cù lao Minh, con của ông Ngô Văn Mà và bà Dương Thị Biếu. Ông Ngô Văn Mà có tinh thần chống Tây, nên là đối tượng theo dõi của chính quyền Pháp thuộc. Mồ côi cha khi mới 3 tháng tuổi, Ba Dương mang họ mẹ và theo mẹ tha phương cầu thực. Mẹ đi bước nữa, người cha kế thương Ba Dương như con ruột và nuôi dưỡng, đùm bọc Dương Văn Dương thời niên thiếu ở cầu Rạch Đỉa, làng Tân Quy, huyện Nhà Bè (nay là quận 7, TP HCM).

Dương Văn Dương có tính tự lập cao và thích ngao du từ nhỏ. Hoàn cảnh nghèo nên ông nghỉ học sớm, xa gia đình khi vừa học xong cấp tiểu học nhưng vẫn lạc quan học ở trường đời và kiên trì trong cuộc sống lao động lương thiện, rày đây mai đó. Trong những năm sống lăn lộn ở khắp đồng ruộng Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Bến Tre… Ba Dương không hề ngán ngại gian khổ, luôn vui sống trong cảnh “điếm cỏ cầu sương”, hòa lòng với tiếng hò trên sông nước. Ngao du đây đó, nhưng mỗi khi nghe có ông thầy nào có miếng võ gia truyền “độc chiêu” là Ba Dương liền tới làm quen, xin làm đệ tử. Ba Dương có nhiều thầy nổi tiếng như thầy Ba Thi ở Chợ Lớn và thầy Sáu Lầu ở Bình Chánh rất giỏi quyền cước, thầy Bộ Dực ở Bình Khánh, Mỏ Cày, Bến Tre là bậc siêu đẳng về roi, … Nhờ vậy mà nghề võ của Ba Dương nổi trội hơn số anh chị ở Sài Gòn – Chợ Lớn.

Học được rồi thì truyền lại cho thanh niên quanh vùng. Dần dà dưới tay hảo hán Ba Dương có hàng trăm em út. Thời kỳ này, ở Nam bộ không chỉ có Ba Dương mà còn rất nhiều dân “anh chị” có “bệnh giang hồ” cũng muốn học làm hảo hán, theo gương những “anh hùng Lương Sơn Bạc”, như Hai Soái, Hai Vĩnh, Ba Bang, Ba Bay, Tư Ca Rê …

Năm 1936, khi người cha kế mất, Ba Dương trở về trụ lại ở cầu Rạch Đỉa làng Tân Quy, mở lò luyện võ và trở thành một võ hiệp giang hồ, dạy võ với tấm lòng giúp người dân lương thiện tự bảo vệ, không để ai ức hiếp. Tập hợp giới giang hồ mã thượng thực hiện tước đoạt của cải người giàu do bóc lột mà có để trang trải lại cho người nghèo. Riêng cuộc sống phong lưu của Ba Dương dựa vào mối khác: nghề “bảo hiểm bình dân” của giới anh chị là “bảo kê” cho dân thương hồ vận chuyển lương thực, hàng hóa từ lục tỉnh về Sài Gòn trên kinh Cây Khô.

Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tác động sâu sắc đến cuộc đời của Ba Dương. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Giặc Pháp đàn áp khốc liệt không những đối với cán bộ cách mạng mà cả với giới giang hồ. Năm 1941, Ba Dương bị Pháp bắt 2 lần và bị tra trấn dã man. Trong nhà tù của thực dân, Ba Dương mến phục tư cách các tù nhân chính trị nên chủ động làm quen và được tù chính trị cảm hóa. Ra tù, Ba Dương phải lánh mặt ở một vùng hẻo lánh thuộc biên giới Việt Nam – Campuchia. Năm 1943, Ba Dương lần mò trở lại Tân Quy. Một bước ngoặt đã mở ra trong đời Ba Dương khi ông được các đảng viên cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ. Ba Dương thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của hảng đóng tàu Ni-chi-năn (Nhật) làm chỗ dựa, tập hợp, cảm hóa các nhóm giang hồ và truy tầm vũ khí.

Dương Văn Dương có vóc người tầm thước, tính tình nghiêm nghị, ít nói, luôn có thái độ lễ phép, hòa nhã. Chính điều đó làm cho mọi người và số anh chị giang hồ phải kính nể. Thì ra, muốn làm anh chị không chỉ nhất thiết phải “hét ra khói, nói ra lửa” như những tay dao búa ở bến đò, bến xe. Điều căn bản là tài, đức phải đi đôi và Ba Dương hội đủ hai điều đó. Chẳng những thế, Ba Dương còn là người quân tử hiếm có.

Đang đứng giữ bến xe Tây Ninh – Nam Vang thì Tây ban hành tình trạng khẩn cấp, gom bắt hết các phần tử nguy hiểm như Cộng sản, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ và bắt luôn dân giang hồ, Dương Văn Dương phải chạy về Cần Giuộc “chém vè”. Không thoát khỏi bọn chỉ điểm, Ba Dương bị bắt giải về quận. Tên chủ quận độc ác buộc Ba Dương nuốt cả một chùm tóc mới thả. Tóc cắt nhỏ uống vào người sẽ phá nát bộ tiêu hóa, gây cái chết lần hồi. Nhưng không còn cách nào khác, Ba Dương đành phải thi hành bản án. May mắn thay, Ba Dương có học trò trung thành lãnh về chạy thuốc gia truyền, nhờ đó mà không chết.

Dương Văn Dương dạy võ cho Thanh niên tiền phong Cần Giộc tham gia cướp chính quyền. Khi bị mất chính quyền, bọn làng lính kéo nhau đi trình diện. Chợt thấy Ba Dương nay là Chỉ huy trưởng bộ đội Dương Văn Dương, tên chủ quận mặt xanh như tàu lá, quỳ lại Dương Văn Dương như tế sao. Nhưng Ba Dương xử sự đúng người quân tử: “Tội của ông lẽ ra tôi phải chặt 10 cái đầu mới hả dạ. Nhưng bây giờ đổi đời rồi. Ông mất hết chức hết quyền, trả thù là khi ông còn ngon lành kia, còn bây giờ tôi trả thù ông để làm gì?. Tôi tha chết cho ông đó…”. Thái độ quân tử của Ba Dương làm cho chủ quận thức tỉnh, không hợp tác với Pháp khi Pháp quay lại tái chiếm Nam bộ, ngược lại còn động viên nhiều con cháu tham gia cách mạng.

(còn tiếp)

Đã ban hành
Trần Văn An (1905 – 1971)Trần Văn An (1905 – 1971)
&nbsp;

Image
Trần Văn An (1905-1971)
Sinh trong một gia đình nhà nho ở làng Tân Xuân, huyện Ba Tri, Trần Văn An khi lớn lên vừa theo học chữ Hán, vừa học cả nghề thuốc của cha.

   Tư chất thông minh lại ham học, nên ngoài vốn liếng hiểu biết từ sách vở và từ kinh nghiệm của người cha truyền lại, Trần Văn An còn tìm cách mua thêm sách báo từ Sài Gòn về tự học, tự tra cứu. Đến tuổi trưởng thành, có dịp đi đây đi đó chữa bệnh cho nhiều người, ông lại có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúx với nhiều đối tượng xã hội khác, trao đổi với họ về tình nhình đất nước, về thời cuộc, chuyền tay nhau đọc những sách báo yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ.

   Năm 1927, ông cùng với một số bạn hữu gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH ở xã Tân Xuân. Tiệm thuốc bắc Chẩn Tế Đông đại dược phòng của cha ông được làm nơi hội họp, liên lạc.

   Đầu năm 1930, khi ĐCSĐD ra đời, đồng chí Nguyễn Văn Trí, trong ban cán sự Tỉnh uỷ Mỹ Tho đến Ba Tri, cùng bàn với Trần Văn An thành lập chi bộ Tân Xuân, do Trần Văn An làm Bí thư. Đây là chi bộ ĐCS đầu tiên của tỉnh Bến Tre.

   Ngày 1-5-1930, để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, các đồng chí ở chi bộ Tân Xuân đã treo cờ búa liềm trên ngọn cây đa đôi ở đầu xã và tổ chức một cuộc biểu tình gần 200 quần chúng tham gia. Trần Văn An đã đứng ra hô hào đồng bào đấu tranh chống lại bọn cường hào đòi giảm sưu, giảm thuế cho nông dân. Sau cuộc biểu tình này, bọn tay sai đánh hơi thấy có hoạt động của ĐCS ở địa phương, nên ra sức truy lùng. Trần Văn An phải tạm lánh qua vùng Châu Bình, Ba Mỹ để tiếp tục hoạt động.

   Tháng 6-1930, Trần Văn An được bầu vào Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Khi địch đánh phá, cơ sở Đảng ở Bến Tre tan rã, ông lên Sài Gòn, đến tháng 10-1932 thì bị địch bắt và bị giam ở Khám Lớn đến năm 1935. Ra từ, Trần Văn An trở về Bến Tre tiếp tục hoạt động, gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền, đã có chủ trương nới rộng một số chính sách cai trị ở các thuộc địa như ân xá tù chính trị, giải quyết một số quyền lợi cho người lao động. Lợi dụng tình hình chính trị thuận lợi, ĐCS chủ trương chuyển một số hoạt động bí mật sang hình thức công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội. Trần Văn An cùng một số đồng chí khác như Bùi Lương, Nguyễn Văn Bích thành lập chi cục Đông Phương thư xã tại thị xã Bến Tre và tại các tỉnh Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Năm 1939, thực dân Pháp mở đợt khủng bố mới, Trần Văn An bị sa lưới mật thám và bị kết án khổ sai 20 năm, đày ra Côn Đảo.

   Sau ngày CMT8-1945, cùng nhiều tù nhân khác ở Côn Đảo được rước về đất liền. Về lại Bến Tre, bắt tay ngay vào việc xây dựng phong trào và chuẩn bị thực lực để kháng chiến.

   Tháng 10-1947, được bầu làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, sang năm được bầu vào Tỉnh ủy, trực tiếp phụ trách báo Đoàn kết. Năm 1951, được điều về công tác ở miền Tây cho đến Hiệp định Genève (7-1954) mới trở lại Bến Tre.

   Trong thời kỳ địch mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng khốc liệt trên đất Bến Tre, Tỉnh uỷ chủ trương đưa số già yếu, bị lộ, không còn điều kiện hoạt động hợp pháp tạm thời đi “điều lắng” ở Sài Gòn. Đến tháng 11-1965, theo yêu cầu của Tỉnh Bến Tre, ông trở về tỉnh công tác. Năm 1965, vì tuổi già sức yếu, lại phát bệnh tim và bại liệt. Tỉnh ủy quyết định đưa ông về điều trị và điều dưỡng ở bệnh xá dân y của tỉnh. Trong những năm 1965 – 1967, cường độ chiến tranh ngày càng khốc liệt. Địch ra sức tiến hành "bình định cấp tốc" làm cho ta mất đất, mất dân nghiêm trọng. Các cơ quan dân, chính, Đảng, kể cả cơ sở hậu cần, bệnh viện phải chuyển về rừng ngập mặn ở Thạnh Phú. Trong một trận càn của địch vào xã Thạnh Phong, chúng đã bắn chết ông ngày 16-4-1971.

Đã ban hành
Giồng Đầu TrâuGiồng Đầu Trâu
&nbsp;

Giồng Đất nằm cạnh rạch Mây, xã Đại Hòa Lộc, huyện Bình Đại. Nơi đây vào buổi đầu khai phá, toàn là rừng rậm rạp có nhiều thú hoang: cọp, nai, heo rừng…Một lần , cọp vồ một con trâu, kéo vào rừng ăn thịt. Đến khi đi tìm, người ta chỉ gặp có chiếc đầu trâu do cọp ăn dở, bỏ lại bên chân giồng, cạnh bìa rừng. Từ đó, giồng đất này mang tên Đầu Trâu.

Đã ban hành
Cây cauCây cau
Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.
Image

Về sản vật của đất Gia Định, cách đây hai thế kỷ, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhắc đến trong Phủ biên tạp lục câu ngạn ngữ “Gia Định nhất thóc, nhì cau". Đúng là đã có một thời, cau ở đất Gia Định được xếp ở vị trí thứ hai sau lúa gạo, đó là thời ở nước ta tục ăn trầu còn rất phổ biến và thị trường một số nước vùng Đông Nam Á cũng tiêu thụ rất nhiều cau.

Những con số thống kê qua Địa bạ Minh Mạng (1836), cho biết Bến Tre có diện tích đất trồng cau khá lớn. Cau ở Giồng Trôm, Châu Thành từng nổi tiếng – "Xẻo Sâu cau tốt ai bì" (ca dao). Xẻo Sâu nay thuộc xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm.

Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, mức tiêu thụ cau (cả khô và tươi) trên thị trường giảm đi gần như tuyệt đối, do đó phần lớn những vườn cau của Bến Tre được thay bằng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn.

Dáng cây cau thon, thẳng, đẹp, hoa cau có mùi thơm thoang thoảng vừa dân dã vừa thanh cao, đã tạo nên nét đặc trưng riêng của quê hương.

Đã ban hành
Tân AnTân An
&nbsp;

Huyện từ một đơn vị hành chính cấp tổng được thăng lên vào năm Gia Long thứ 7 (1808), gồm 2 tổng Tân Minh (cù lao Minh) và An Bảo (cù lao Bảo), thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

Tân An

Tổng thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, gồm cù lao Minh và cù lao Bảo, được thành lập năm 1757, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

Đã ban hành
Tống Viết DươngTống Viết Dương


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá,
trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ
thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> bộ và
Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường
huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên
địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971,
Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của
anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá
hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ
súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ
binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá
hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ
biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có
nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp
kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến
dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận
trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978,
Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Tống Viết Dương sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 367 Đặc công, Quân khu 7.

Từ thánh 2-1962 đến mùa xuân 1975, Tống Viết Dương hoạt động tại địa bàn Đông Nam bộ và Campuchia. Đầu năm 1965, Tống Viết Dương chỉ huy đơn vị đánh sân bay và trường huấn luyện cảnh sát địch ở Rạch Dừa (Vũng Tàu), loại khỏi vòng chiến 500 tên địch, phá hủy 37 máy bay. Trận đánh sân bay Pô-chen-tông (Campuchia) ngày 22-1-1971, Dương trực tiếp đi nghiên cứu, điều tra, lập phương án tác chiến. Đơn vị của anh đã phá hủy nhiều máy bay diệt nhiều tên giặc lái và nhân viên kỹ thuật, phá hủy 1.000 tấn bom đạn. Trận đánh sân bay Bát-tam-băng tháng 4-1973, khi sắp nổ súng thì địch phát hiện được, nếu đánh theo chiến thuật đặc công kết hợp bộ binh thì khó thắng, Tống Viết Dương chuyển hướng đánh bằng pháo. Kết quả đã phá hủy 18 máy bay và hàng trăm tấn bom đạn. Ngày 26-6-1974, trong trận đánh căn cứ biệt kích Nước Trong ở Núi Đất, anh chỉ huy tiểu đoàn diệt 200 tên, trong đó có nhiều sĩ quan cấp tá. Đêm 22-8-1974, Tống Viết Dương đã chỉ huy tiểu đoàn tâp kích căn cứ 1 chiến đoàn ngụy diệt 500 tên, phá hủy nhiều xe tăng. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, anh đã chỉ huy đơn vị đặc công đánh vào Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 8-1976 đến tháng 11-1978, Tống Viết Dương là quận trưởng quân 5 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chiến Công giải phóng hạng nhì. Ngày 6-11-1978, Tống Viết Dương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Cái CốiCái Cối
&nbsp;

Rạch nằm bên phía tả ngạn chảy ra sông Bến Tre, đối diện với chợ Bến Tre, nay thuộc xã Mỹ Thạnh An. Nhiều thợ làm nghề đóng cối xay lúa bằng tre tập trung bên bờ rạch và hình thành nên một xóm thợ làm nghề thủ công phục vụ cho việc xay giã lúa gạo. Từ đó, rạch này mang cái tên Cái Cối (trước đây khi chưa có máy xay xát cơ giới, việc xay giã lúa gạo đều làm theo lối thủ công).

Đã ban hành
Giồng TrômGiồng Trôm
&nbsp;

Huyện được thành lập giữa năm 1959 trên cơ sở của huyện Tán Kế, hình thành từ sau CMT8-1945, gồm một số xã tách ra từ huyện Ba Tri và một số xã tách ra từ huyện Châu Thành. Huyện Giồng Trôm có diện tích tự nhiên 31.142ha, đứng hàng thứ hai trong 7 huyện, nằm khoảng giữa cù lao Bảo, bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai, đông giáp huyện Ba Tri, tây giáp thị xã Bến Tre và huyện Châu Thành, nam giáp huyện Mỏ Cày, có ranh giới chung sông Hàm Luông.

Sau ngày 30-4-1975, theo chủ trương chung về việc điều chỉnh lại một số địa giới hành chính, huyện Giồng Trôm gồm có 21 xã và 1 thị trấn. Huyện Giồng Trôm được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Thị trấn Giồng Trôm

Thị trấn, huyện lỵ Giồng Trôm, thành lập theo Quyết định số 141/CP ngày 3-4-1979 của Hội đồng Chính phủ. Thị trấn nằm trên tỉnh lộ 885, từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri với những hàng quán, chợ, cửa hàng dịch vụ, trường học… kéo dài cả kílômét.

Đã ban hành
Tiến công và nổi dậy Mậu Thân,"chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt NamTiến công và nổi dậy Mậu Thân,"chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam

Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” thất bại. Ngày 1-4-1965, Tổng thống Johnson và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ vội vàng quyết định đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam, kêu gọi các nước chư hầu (Úc, Tân Tây Lan, Nam Triều Tiên) gửi quân tham chiến, tiến hành "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và "chiến trang phá họoại ở miền Bắc (1). Quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ con số 23.300 tên (vào ngày 31-12-1964) đã tăng vọt lên 184.300 (vào ngày 31-12-1965).

   Mục tiêu chiến lược chủ yếu của quân viễn chinh Mỹ là "tìm diệt" chủ lực của quân giải phóng, hỗ trợ cho ngụy quân, ngụy quyền tiếp tục và đẩy mạnh chương trình bình định.

   Ở Nam Bộ, Mỹ, ngụy coi Bến Tre là chiến trường bình định trọng điểm. Chúng đưa tên Nguyễn Phát Đạt về thay cho Trần Ngọc Châu, làm tỉnh trưởng Bến Tre và thay đổi hàng loạt quận trưởng, các tên chỉ huy chủ chốt trong các ngành quân sự, công an, tình báo...

   Được sự yểm trợ của không quân Mỹ, địch liên tiếp mở những cuộc hành quân quy mô lớn vào vùng giải phóng, nhất là vùng căn cứ tiếp giáp thị xã, thị trấn, nhằm đánh bật lực lượng cách mạng ra khỏi vành đai thị xã, thị trấn. Trong 3 năm (1965-1967), địch mở 6.299 cuộc càn quét, trong đó có 26 cuộc càn quét qui mô cấp sư đoàn, 95 cuộc qui mô cấp trung đoàn, 4.086 cuộc qui mô nhỏ. Địch đã đưa về Ba Tri 7 tiểu đoàn bình định (có 1 đến 2 tiểu đoàn chủ lực hỗ trợ) mở liên tục các cuộc hành quân đánh phá, hy vọng cuối năm 1966 có thể hoàn thành kế hoạch bình định trọng điểm kiểu mẫu ở đây.

   Đi đôi với các cuộc hành quân càn quét, không quân của Mỹ, ngụy còn ném bom, bắn phá bừa bãi vào các khu dân cư, chùa chiền, thánh thất, trường học. Pháo của hạm đội 7 từ ngoài khơi bắn vào các xã Thạnh Phong, Giao Thạnh (Thạnh Phú), Thới Thuận, Thừa Đức (Bình Đại). Cụm pháo ở căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho) bắn vào các khu vực ven sông Tiền thuộc huyện Châu Thành.

   Chúng còn sử dụng máy bay rải chất độc hóa học hầu khắp các huyện, nhất là vùng ven biển Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri, các xã Châu Bình, Châu Hòa (huyện Giồng Trôm), Thành An, Tân Phú Tây (huyện Mỏ Cày) để hủy diệt môi sinh, gây nên những tác hại lớn lao cho cuộc sống của nhân dân vùng này.

   Để đối phó lại âm mưu và thủ đoạn leo thang chiến tranh của Mỹ, Hội nghị toàn thể BCHTƯĐCS lần thứ 7 (12-1965) xác định “chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc ta từ Nam chí Bắc" và kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta "kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, tiến tới thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà".

   Tại Bến Tre, tháng 4-1965, Tỉnh ủy đã họp và chủ trương "nhanh chóng xây dựng lực lượng, xây dựng vùng giải phóng, chuẩn bị mọi điều kiện cùng toàn miền xông lên tấn công địch, giành thắng lợi khi có thời cơ". Một phong trào "toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” được phát động. Kết quả là hàng ngàn thanh niên, có cả tín đồ các tôn giáo, tình nguyện đi thanh niên xung phong, gia nhập các LLVT.

   Ngày 20-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Dù đế quốc Mỹ có tăng 10 vạn, 20 vạn quân hay nhiều hơn nữa, dù phải chiến đấu 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, nhân dân Việt Nam cũng quyết đánh đến thắng lợi hoàn toàn".

   Tháng 1-1966, bộ đội tỉnh tấn công vào đồn Phú Sơn (huyện Mỏ Cày), bộ đội địa phương huyện Bình Đại tấn công bót Châu Hưng. Tháng 4-1966, bộ đội tỉnh lại đột kích vào trung tâm huấn luyện dân vệ ở thị xã, diệt 200 tên. Tiếp đó, tháng 7-1966, bộ đội tỉnh và bộ đội địa phương Mỏ Cày tổ chức phục kích trên lộ Hòa Lộc (huyện Mỏ Cày) diệt 200 tên. Tháng 10-1966, lực lượng vũ trang của ta lại chặn đánh địch đi càn vùng Bình Khánh, Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, diệt 130 tên.

   Quân Mỹ chọn Bến Tre làm nơi thí điểm chiến thuật “hạm đội nhỏ trên sông" để rút kinh nghiệm đối phó với chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Cửu Long. Chúng đưa đến đây “đoàn xung kích" 117 cùng 100 tàu chiến lớn nhỏ, trực thăng, pháo binh, tàu xưởng sửa chữa, tăng cường việc kiểm soát đi lại trên sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên.

   Tháng 1-1967, chúng mở lại cuộc hành quân lớn mang tên "Cửu Long 1" và "Sóng Thần 5" càn quét vùng căn cứ của ta ở Thạnh Phú. Với số lượng hơn 4.000 tên, cùng với sự chi viện của không quân và pháo hạm của Hạm đội 7, chúng đánh vào 5 xã An Qui, An Nhơn, An Thạnh, Giao Thạnh, Thạnh Phong.

   Tiểu đoàn bảo vệ căn cứ 518 cùng với dân quân du kích đã chặn đánh địch ở Hồ Cỏ, Cồn Lớn, Bần Mít, Cồn Tra, Cồn Điệp, gây cho địch nhiều thiệt hại. Phối hợp với mũi tiến công vũ trang, các lực lượng chính trị, quần chúng đã đấu tranh ngăn chặn các mũi càn quét của địch.

   Trước sức chống trả của quân dân Thạnh Phú, ngày 15-1-1967, quân Mỹ và quân ngụy buộc phải rút lui. Trong trận này, LLVT và nhân dân Thạnh Phú đã loại khỏi vòng chiến đấu 265 tên (trong đó có 178 tên Mỹ, chư hầu và 1 đại tá ngụy), bắn cháy 3 tàu, bắn rơi và bắn hỏng 14 máy bay, thu trên 10.000 viên đạn các loại và 400 súng, bảo vệ được đầu cầu hành lang và khu căn cứ. Đây là lần đầu tiên lực lượng quần chúng đấu tranh trực diện với quân Mỹ.

   Đầu năm 1967, đế quốc Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam, nâng tổng số quân viễn chinh Mỹ từ 31 vạn lên 44 vạn tên, mở những cuộc phản kích chiến lược vào mùa khô để xoay chuyển tình thế.

   Ở Bến Tre, song song với mặt trận đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, phong trào binh vận được giữ vững và tiếp tục phát triển.

   Tháng 12-1967, BCT họp và quyết định "chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định", và chủ trương "động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định".

   Sau khi tiếp nhận nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy đã triệu tập cuộc hội nghị mở rộng để bàn kế hoạch thực hiện.

   Một bộ chỉ huy thống nhất được thành lập (2). Hàng ngàn đảng viên, đoàn viên, thanh niên, tình nguyện đi dân công, vượt qua đồn bót địch, tải đạn dược, vũ khí ra mặt trận.

   Vào 1 giờ đêm 31-1-1968 (tức mồng một Tết Mậu Thân) cuộc tấn công vào thị xã của LLVT cách mạng bắt đầu. Cùng đêm, 1 trung đội đặc công đã tấn công vào sân bay Tân Thành, phá hủy 4 máy bay và 1 cụm pháo của địch. Đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy cũng tấn công vào Bãi quân xa ngụy (nay là Hội trường tỉnh).

   Bị tấn công bất ngờ, Mỹ, ngụy vội vã điều quân từ các nơi, tổ chức các cuộc hành quân nhằm giải tỏa cho thị xã. Nhiều trận đánh giằng co quyết liệt giữa ta và địch diễn ra ở khu vực chợ Ngã Năm.

   Phối hợp với thị xã, các huyện đều nổi dậy tấn công địch. Ở Chợ Lách, mặc dầu bộ đội địa phương huyện bị điều về thị xã, LLVT huyện chỉ còn 16 cán bộ, chiến sĩ, nhưng bằng ba mũi giáp công kết hợp với nghi binh, lực lượng cách mạng đã bức hàng và bức rút 40 đồn bót và công sở.

   Ở Mỏ Cày, LLVT huyện đột nhập vào thị trấn, diệt toàn bộ các tháp canh, bao vây, uy hiếp mạnh chi khu, giết chết tên quận trưởng và nhiều binh sĩ, sĩ quan. Cùng lúc, lực lượng du kích và quần chúng bức hàng 12 đồn bót.

   Ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, dân quân du kích tổ chức nhiều trận đánh trên đường giao thông thủy bộ, bức hàng hai bót trên lộ liên tỉnh số 6 và sáu bót trên lộ 26, để giải vây cho thị xã. Ngày 2-2-1968, địch vội vã đổ một tiểu đoàn lính Mỹ xuống sân bay Tân Thành và tiếp theo ngày 3-2-1968, lại cho đổ một tiểu đoàn lính Mỹ nữa xuống đồng Cây Da.

   Ngày 5-5-1968, quân ta mở đầu đợt tấn công thứ hai.

   Để đối phó với đợt tấn công lần này, Mỹ đã đưa nhiều tiểu đoàn lính Mỹ, cùng với hạm đội nhỏ trên sông đến Bến Tre, tấn công các vị trí đóng quân của ta. Chúng cho máy bay B.52 thả hàng nghìn quả bom xuống khu vực Hữu Định, Phước Thạnh (Châu Thành) và đưa quân đến đánh phá các khu vực ven thị xã.

   Ngày 25-5-1968, quân ta lập được một chiến công lớn, đánh chìm 28 tàu, diệt trên 700 tên địch tại sông Giồng Trôm. Đơn vị săn tàu trong trận đánh này được tuyên dương "Anh dũng kiên cường diệt nhiều giặc Mỹ".

   Đến cuối năm 1968, sau hơn một năm chiến đấu, quân và dân Bến Tre đã tiêu diệt và tiêu hao 28.257 tên địch, diệt 195 đồn, bắn rơi 97 máy bay, đánh chìm và bắn cháy 126 tàu, phá hủy 96 xe quân sự. Bộ đội đặc công thủy của Bến Tre với những chiến công vang dội, xứng đáng với danh hiệu “Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ".

   Với những chiến công trên, trong hội nghị Tổng kết du kích chiến tranh toàn miền Nam tháng 10-1968, Bến Tre đã được tuyên dương "Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy" và được công nhận là một trong ba ngọn cờ đầu của phong trào nhân dân du kích chiến tranh.

Chú thích:

(1) Để cứu vãn thất bại của chúng ở miền Nam, ngày 5-8-1964, Mỹ tạo ra "sự kiện vịnh Bắc Bộ", rồi lấy cớ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc Việt Nam nhằm làm suy yếu cơ sở hậu phương của cuộc KKCM cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam.
(2)  Gồm các đồng chí Nguyễn Văn Khước (Năm Chung) – Khu ủy viên; Nguyễn Văn Cánh (Bảy Đấu) – Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Trung – Phó bí thư Tỉnh ủy và các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy.

Đã ban hành
Đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dânĐánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dân

Thắng lợi trong cao trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam làm cho âm mưu áp đặt chế độ thực dân mới của Mỹ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ. Để cứu nguy, chúng chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm đánh bật LLVT và cơ sở cách mạng của ta ra khỏi nhân dân, giành lại nông thôn.

   Chiến lược này được tiến hành chủ yếu bằng quân đội tay sai tại chỗ với phương tiện vũ khí và sự yểm trợ của không quân, hải quân Mỹ. Mỹ có thể trực tiếp tham gia bằng "lực lượng đặc biệt", với binh khí kỹ thuật ở mức hạn chế.

   Cuối năm 1961, chúng đề ra kế hoạch Staley – Taylor với ba biện pháp chiến lược. Một là, tăng cường quân ngụy, dùng quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy và sử dụng nhiều máy bay trực thăng, xe thiết giáp để nhanh chóng tiêu diệt các LLVT cách mạng. Hai là, giữ vững thành thị, xây dựng ngụy quyền đủ sức ngăn chặn các cuộc đấu tranh chính trị ở thành thị, đồng thời dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn bằng "bình định" và "ấp chiến lược". Ba là, ra sức ngăn chặn ở vĩ tuyến 17, kiểm soát ven biển, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam. Đế quốc Mỹ hy vọng sẽ “bình định” xong miền Nam trong vòng 18 tháng. Ngày 18-10-1961, Ngô Đình Diệm ban bố "tình trạng khẩn cấp" trên toàn miền Nam. Ngày 8-2-1962, Mỹ thành lập tại Sài Gòn "Bộ chỉ huy quân sự đặc biệt” (MACV) do đại tướng Paul Harkins cầm đầu.

   Để đưa phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển lên một bước, ngay từ đầu năm 1961, BTC đã đề ra nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng miền Nam là phải "đấu tranh chính trị và quân sự, tiến lên làm chủ núi rừng, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ, Diệm, giải phóng miền Nam".

   Ở Bến Tre, sau cao trào Đồng khởi – 1960, ngụy quân ngụy quyền trong tỉnh lâm vào tình trạng suy sụp, bộ máy kìm kẹp ở xã ấp rệu rã, tinh thần binh sĩ ngụy hoang mang, sa sút.

   Tháng 1-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy họp rút kinh nghiệm, uốn nắn ngay lệch lạc chủ quan, nóng vội và đề ra phương châm đấu tranh là vừa đẩy mạnh tấn công địch, vừa củng cố phát triển thực lực cách mạng, bảo đảm chiến đấu lâu dài.

   Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, phong trào nhân dân du kích chiến tranh được hình thành và phát triển mạnh. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện gia nhập LLVT, vào các đội du kích. Năm 1961, LLVT tỉnh có 2 đại đội, mỗi huyện có một trung đội, mỗi xã có từ nửa tiểu đội đến một tiểu đội du kích. Một phong trào toàn quân, toàn dân đấu tranh chống địch càn quét, lấn chiếm, chống do thám, chống bắt lính đôn quân, vơ vét cướp bóc được phát động. Bộ đội tỉnh, huyện cùng nhân dân và du kích giữ vững thế chiến công, liên tục tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, làm đòn bẫy cho mũi đấu tranh chính trị phát triển.

   Từ trong thực tiễn đấu tranh với kẻ thù, đội quân chính trị của quần chúng, mà nòng cốt là "Đội quân tóc dài" hình thành từng bước, được tổ chức chặt chẽ, đấu tranh có bài bản, có chỉ huy trong từng trận chiến đấu cụ thể. Ở mỗi cấp (tỉnh, huyện, xã) đều có thành lập ban đấu tranh chính trị do một đồng chí trong cấp ủy phụ trách. Trong mỗi cuộc đấu tranh đều có tổ chức 4 lực lượng. Ban chỉ huy công khai, lực lượng đấu tranh trực diện với địch, lực lượng hậu cần và lực lượng trinh sát, liên lạc. Kế hoạch đấu tranh được chuẩn bị tỉ mỉ, có dự kiến những tình huống bất ngờ. Trước khi ra trận, quần chúng được bồi dưỡng lý lẽ đấu tranh và được tập dượt thuần thục.

   Ngày 31-1-1961 gần 10.000 quần chúng các xã kéo về thị trấn Giồng trôm, đưa kiến nghị đòi địch ngưng càn quét, bắn phá, cướp bóc. Địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình. Quần chúng kiêng xác nạn nhân lên quận, tố cáo tội ác giết người và đòi phải bồi thường nhân mạng. Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của quần chúng, địch phải chấp nhận yêu sách, chịu bồi thường 100.000 đồng và phương tiện chôn cất nạn nhân.

   Tháng 10-1961, hơn 20.000 chị em phụ nữ lại kéo vào thị xã đấu tranh, phản đối địch càn quét khủng bố, cào nhà, cướp đất, bắt lính. Địch dùng lựu đạn cay ném vào đoàn biểu tình, lấy sơn viết khẩu hiệu phản động lên áo, lên nón, cắt tóc chị em, nhưng không sao áp đảo được tinh thần đấu tranh của họ. Cuộc đấu tranh kéo dài 3 ngày, ngụy quyền tỉnh cuối cùng phải chấp nhận yêu sách của quần chúng.

   Giữa năm 1961, chấp hành sự chỉ đạo của TƯCMN, Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre đã cử một đoàn cán bộ của tỉnh, dùng thuyền đánh cá vượt biển ra miền Bắc (1) để báo cáo tình hình Đồng khởi với BCHTƯĐCS và Bác Hồ, để Trung ương có đủ cơ sở thực tiễn đúc kết kinh nghiệm, chỉ đạo phong trào Đồng khởi, nắm tình hình, chuẩn bị mở con đường vận tải trên biển, chi viện cho cách mạng miền Nam.

   Tháng 7-1961, đoàn xuất phát từ cồn Lợi, huyện Thạnh Phú, vượt biển ra Bắc. Nhờ kinh nghiệm của chuyến đi lần thứ nhất (3-1946), các đồng chí trong đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Qua 7 ngày đêm chống chọi với sóng to gió lớn, vượt qua màng lưới kiểm soát của địch, đoàn đã tới Hà Nội. Tại đây, đồng chí Đặng Bá Tiên thay mặt cho tỉnh ủy, đã báo cáo tình hình và kinh nghiệm của Bến Tre, được ban bí thư TƯĐCS đánh giá cao.

   Từ cuộc vượt biển mở đường lần thứ hai này của Bến Tre, Trung ương đã quyết định mở con đường tiếp tế Bắc – Nam trên biển. Hàng ngàn tấn hàng hóa, vũ khí của miền Bắc chi viện được gởi tới căn cứ Thạnh Phong, Giao Thạnh (Thạnh Phú) và một số căn cứ thuộc tỉnh bạn như Trà Vinh, Cà Mau, phục vụ cho cuộc chiến đấu ở miền Nam. Sự chi viện này đã góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần cho phong trào cách mạng của nhân dân Bến Tre và nhân dân miền Nam nói chung.

   Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh, Mỹ, ngụy vội vàng đối phó bằng cách đưa nhiều cố vấn, phương tiện chiến tranh và đưa nhiều tiểu đoàn chủ lực đến Bến Tre, phối hợp với quân ở địa phương, triển khai kế hoạch phản kích lại. Chiến trường Nam Bộ được chia thành 3 vùng chiến thuật và 9 khu chiến thuật. Bến Tre nằm trong khu chiến thuật Tiền Giang (khu 32). Chúng lập thêm quận Hương Mỹ ở cù lao Minh, xây dựng các yếu khu, chi khu, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót, tăng cường bắt lính, đôn quân, phát triển các sắc lính bảo an, dân vệ.

   Từ năm 1962, chúng triển khai các cuộc càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót. Đầu tiên chúng chọn xã Bình Nguyên) ở thị xã và xã Đại Điền (ở huyện Thạnh Phú) làm thí điểm. Sau đó, chúng chọn mỗi huyện một xã, mỗi xã một ấp làm thí điểm, rút kinh nghiệm và tiến hành rộng khắp trong tỉnh. Chúng dùng những thủ đoạn tàn bạo, dã man, bắt ép quần chúng phải rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, vào ở trong các khu gom dân. Ở Thạnh Phú, địch đưa các tiểu đoàn bảo an đến càn quét, khủng bố, bắt dân dỡ nhà, dời vào các khu đồn. Chúng đốt phá, cào sập hàng trăm ngôi nhà trên một tuyến dài dọc sông Hàm Luông từ Trảng Cát tới giồng Bà Thiệm, buộc họ phải vào sống trong ấp chiến lược.

Ở Bình Đại, lính bảo an chi khu đốt phá, khủng bố, cưỡng bức 356 gia đình ở các kênh số 1, ven rừng Rạch Mây, ven sông Ba Lai vào các khu gom dân. Sự phản kích quyết liệt của địch diễn ra giữa lúc LLVT cách mạng, nhất là bộ đội tập trung, còn non yếu, nên chúng đã lấn chiếm được nhiều nơi. Trong năm 1962, địch đóng thêm 70 đồn, lập thêm 194 ấp chiến lược trong toàn tỉnh.

Tháng 12-1962, đồng chí Võ Chí Công, Phó bí thư Trung ương Cục, khi về kiểm tra tình hình tỉnh Bến Tre đã xác định: Trong cuộc chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện của ta, lực lượng chính trị quần chúng và LLVT nhân dân đều là lực lượng cơ bản quyết định, nhưng khi đã đi vào chiến tranh thì LLVT có vai trò trực tiếp quyết định.

   Đầu năm 1963, Tỉnh ủy họp, xác định công tác chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ trung tâm, hàng đầu của toàn Đảng, quân dân Bến Tre.

   Giữa lúc phong trào chiến tranh du kích Bến Tre đang diễn ra trong thế giằng co, thì ngày 22-1-1963, quân dân Mỹ Tho giành thắng lợi lớn trong trận Ấp Bắc. Thắng lợi này cung cấp những kinh nghiệm có giá trị về cách đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, của Mỹ, ngụy. Một phong trào "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" lan rộng khắp miền Nam.

   Tại Bến Tre, Tỉnh ủy kịp thời phát động phong trào thi đua học tập Ấp Bắc, đồng thời triển khai nghị quyết xây dựng LLVT. Cuối năm 1963, mỗi huyện có từ 3 đến 5 trung đội, tỉnh có 3 đại đội. Các đội du kích được củng cố và phát triển mạnh, toàn tỉnh có 17.241 đội viên. Quân và dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.786 tên địch, diệt 50 đồn bót, giải phóng hoàn toàn 27 xã. Quần chúng đấu tranh quyết liệt không cho địch dỡ nhà, cào nhà, dồn quân với khẩu hiệu "một tấc không đi, một li không rời”. Trong các ấp chiến lược, nhân dân đấu tranh đòi trở về ruộng vườn, chống mọi hình thức kìm kẹp của địch. Gần 100 trong số 194 ấp chiến lược đã bị quần chúng phá đi, phá lại nhiều lần.

   Tháng 1-1963, hơn 30.000 người từ các huyện đã kéo về thị xã đấu tranh đòi địch chấm dứt rải chất độc hóa học, đòi bồi thường cho những nạn nhân bị nhiễm độc. Đây là cuộc đấu tranh có qui mô lớn nhất và có ảnh hưởng rộng trong nhân dân vùng địch kiểm soát và cả trong hàng ngũ địch.

   Có thể nói phong trào đấu tranh chống địch rải chất độc hóa học đã kích thích mạnh mẽ tinh thần dân tộc của nhiều tầng lớp trí thức, nhân sĩ, nhà tu hành, binh lính, sĩ quan ngụy quyền. Có cuộc, hàng trăm ghe xuồng tập trung biểu tình trên sông Bến Tre, kéo dài cả cây số với băng cờ khẩu hiệu phản đối.

   Trước những thắng lợi dồn dập của quân và dân miền Nam trên mặt trận quân sự và chống phá ấp chiến lược, kế hoạch Staley – Taylor của Mỹ lâm vào thế nguy cơ phá sản. Phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố lại dâng lên mạnh mẽ, mà nổi bật là phong trào đấu tranh của giới Phật giáo. Ngày 1-11-1963, đế quốc Mỹ buộc phải bật đèn xanh cho một số tướng lĩnh làm đảo chính, lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa Dương Văn Minh lên thay, nhằm xoa dịu làn sóng đấu tranh của nhân dân, đồng thời trấn an bọn tay chân. Thế nhưng, sau cuộc đảo chính, ngụy quyền tay sai càng khủng hoảng, các phe phái tranh chấp, xâu xé lẫn nhau.

Nắm vững thời cơ có lợi, nhân dân Bến Tre cùng với quân và dân toàn miền Nam đẩy mạnh tiến công bằng ba mũi giáp công, tiêu diệt lực lượng chiếm đóng, phá từng mảng ấp chiến lược của địch.

Để cứu vãn tình hình nguy ngập của chúng, tháng 3-1964, Mỹ bèn đưa ra kế hoạch mới, kế hoạch Johnson-Mc Namara, nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965). Chúng lập ra Bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mỹ. Cùng một lúc, chúng tăng thêm 6.000 cố vấn và lính chiến đấu Mỹ, đưa số quân Mỹ ở miền Nam lên trên hai vạn rưỡi tên vào cuối năm 1964.

   Tại Bến Tre, chúng chọn huyện Thạnh Phú, một huyện thuộc vùng biển, làm trọng điểm bình định. Đầu năm 1964, chúng mở cuộc hành quân "Phượng hoàng TG.1", tập trung 6.000 quân, có không quân yểm trợ, đánh vào 2 xã Thạnh Phong và Giao Thạnh nhằm phá hủy căn cứ tiếp vận, cắt đứt sự chi viện Bắc – Nam.

   Quân và dân Thạnh Phú đã chặn đánh địch nhiều trận ở Hồ Cỏ, Cái Cát, Khâu Băng... diệt và làm bị thương 1.240 tên, trong đó, có tên Lye, đại tá không quân Hoàng gia Anh ở Viễn Đông, bắn rơi và bắn hỏng 47 máy bay, thu trên 200 súng. Căn cứ Thạnh Phú được giữ vững, âm mưu triệt phá đầu cầu tiếp vận của Mỹ, ngụy bị bẻ gãy.

   Ở Thạnh Phong, chị em phụ nữ đấu tranh trực diện với cố vấn Mỹ, phản đối việc bắn pháo vào rừng và khu dân cư, đòi chạy chữa những người bị thương. Cuộc đấu tranh thắng lợi đã góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng đồng bào và chiến sĩ ở vùng căn cứ.

   Tháng 2-1964, Tỉnh ủy họp, chủ trương “đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh đều khắp 3 vùng trong tỉnh", chống càn quét, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, gỡ đồn bót, phá dứt điểm ấp chiến lược, làm thất bại âm mưu bình định của địch.

   Mở đầu chiến dịch, ta diệt gọn một loạt đồn ở Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Tân Xuân (Ba Tri). Các đồn bót còn lại ở các xã Bảo Thạnh, Tân Thủy, Phú Ngãi, Phú Lễ, Phước Tuy được gom về đồn Xã Diệu ở An Hòa Tây. Nhờ nội ứng, ta tiêu diệt luôn đồn này, thu trên 150 súng. Những đồn còn lại cuốn chạy về thị trấn.

   Địch điều sư đoàn 7 chủ lực đến Ba Tri. Một cuộc biểu tình lớn phản đối cuộc càn quét, đánh phá của địch đông trên 25.000 người (trong đó có 2.000 người nhà binh sĩ) kéo vào thị xã, làm cho tên tỉnh trưởng bất ngờ, lúng túng phải ra lệnh rút quân chủ lực về để bảo vệ thị xã, chỉ để lại một tiểu đoàn “Ó đỏ”.

Trong lúc ta tấn công mạnh ở Ba Tri, quân và dân Bình Đại nổi lên tiêu diệt, bức hàng và bức rút cả chục đồn bót. Sau thắng lợi ở Ba Tri, Bình Đại, chiến dịch phát triển sang cù lao Minh. LLVT của ta đánh thiệt hại nặng đồn Cây Điệp (chợ Thom, xã An Thạnh). Khu trù mật Thành Thới, chi khu Đôn Nhơn (Ba Vát) và nhiều đồn bót khác không chịu nổi sức tấn công của quân dân ta, phải rút chạy.

Tháng 7-1964, quân dân Bến Tre lại mở tiếp đợt tấn công mới nhằm phá đứt điểm những ấp chiến lược còn lại. Tiểu đoàn 516 bộ đội tỉnh cùng dân quân du kích tiến công tiêu diệt đồn Cây Điệp (Giồng Trôm) và đồn Phú Túc (Châu Thành). Địch đưa tiểu đoàn 32 biệt động quân cùng lực lượng bảo an ninh tỉnh đến giải tỏa, bị LLVT ta phục kích tại Lộ Thơ, xã Thành Triệu, tiêu diệt gần hết. Ta thu trên 200 súng. Thừa thắng, quân dân ta tiếp tục bức rút nhiều đồn, phá dứt điểm các ấp chiến lược ở các xã Tường Đa, Thành Triệu, An Khánh, Tam Phước, Phú An Hòa (Châu Thành).

   Tính đến đầu năm 1965, quân dân Bến Tre đã giải phóng 72 xã, với 550.000 dân, vùng giải phóng chiếm 3/4 đất đai và đã hình thành thế liên hoàn giữa các huyện. Những chiến thắng của quân dân ta trên chiến trường Bến Tre cũng như trên chiến trường toàn miền Nam đã bẻ gãy chiến lược "chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Chú thích:

(1) Đoàn gồm 5 đồng chí: đồng chí Sáu Giao, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre và 5 thủy thủ (Năm Kiện, Tư Đen, Bê, Đức, Nhung) (Xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục)

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer