Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu - Văn hóa xã hội
Sân khấu (20/10/2014)
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã nhất trí đánh giá Bến Tre là một trong những cái nôi dân ca Nam Bộ mang đậm dấu ấn vùng sông nước và đồng bằng sông Cửu Long. Ở Bến Tre có nhiều làn điệu dân ca như: hát ru, hò, lý, nói thơ, nói vè, đồng dao, hát huê tình, hát đối đáp, hát sắc bùa...  
 
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. 
 
Tôn giáo (20/10/2014)
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. 
 
Trang phục (20/10/2014)
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải. 
 
Văn học (20/10/2014)
​Bằng sự nỗ lực của mình, văn học nghệ thuật Bến Tre dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh từ sau ngày giải phóng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới... 
 
Lễ hội (20/10/2014)
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. 
 
Mỹ thuật (20/10/2014)
​Trước CMT8-1945, ở Bến Tre đã có nhiều người được đào tạo ở Trường C​ao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), mà tiêu biểu nhất là nhà lý luận phê bình mỹ thuật Nguyễn Phi Hoanh, họa sĩ Lê Văn Đệ và nhà điêu khắc Diệp Minh Châu. 
 
Nhà cửa (20/10/2014)
​Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. 
 
Ẩm thực (19/10/2014)
​Món ăn thông dụng và phổ biến nói ở đây bao gồm những món ăn, được bà con nông dân lao động và cả những đồng bào ở nơi thị tứ ưa thích. Kinh tế càng phát triển, sự giao lưu được mở rộng, khoảng cách giữa đời sống đô thị và nông thôn được rút ngắn và mờ nhạt dần.  
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Du lịch lễ hội xứ dừaDu lịch lễ hội xứ dừa
“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.

Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông… Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Hội đình Phú Lễ

Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

 

Món ăn đạt giải trong "Liên hoan ẩm thực"

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )

1970

26 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, ban hành "Luật người cày có ruộng" nhằm tạo ra một tầng lớp xã hội là tư sản ở nông thôn, làm chỗ dựa về kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thực dân mới.

6 tháng 7, "Chuồng Cọp”, một chứng tích về thủ đoạn ngược đãi tù chính trị ở nhà lao Côn Ðảo, bị vạch trần và trở thành vấn đề quốc tế lớn.

1971

22 tháng 6, Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 9 tháng.

20 tháng 9, Ðại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua LLVT giải phóng Ðông Nam Bộ và Sài Gòn, họp trong 4 ngày (20 đến 23-9-1970). Quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN tuyên dương danh hiệu "Ðơn vị anh hùng" cho 21 đơn vị và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng cho 16 cá nhân.

1972

20 tháng 3, LLVT tỉnh Biến Tre tiêu diệt chi khu quân sự Trúc Giang.

Tháng 7, Thời kỳ "bình định” ác liệu của địch. Ðể đối phó kịp thời âm mưu địch, Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành Châu Thành Ðông và Châu Thành Tây; chia đôi huyện Mỏ Cày thành Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, lấy con sông Mỏ Cày làm ranh giới.

22 tháng 10, VNDCCH và Mỹ thừa nhận toàn văn bản thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và lấy ngày 31-10 làm ngày ký chính thức.

1973

27 tháng 1, Tại Paris, đại diện 4 bên: Chính phủ VNDCCH, Chính phủ CMLTCHMNVN, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ VNCH đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" và các nghị định thư kèm theo.

1 tháng 2, Phái đoàn quân sự của Chính phủ CMLTCHMNVN do tướng Trần Văn Trà dẫn đầu rời sân bay Lộc Ninh vào Sài Gòn, nhận nhiệm vụ mới tại Ủy ban Liên hiệp quân sự 4 bên đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất.

29 tháng 3, Tổng thống Nixon tuyên bố kết thúc chiến tranh Việt Nam, hoàn thành việc triệt thoái quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, giải tán Bộ Tư lệnh quân Mỹ. Theo công bố, từ 1961 đến 28-1-1973, quân Mỹ chết 46.000 người trong chiến đấu, chết 10.000 người vì tai nạn, bị thương 300.000. Binh lực đã huy động 2,5 triệu lượt người.

Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tổ chức lễ “Cuốn cờ” đánh dấu chấm dứt sự có mặt của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau đó, tướng Weyand, Tổng tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đến nhập với toán lính Mỹ cuối cùng, lặng lẽ lên máy bay rời khỏi Sài Gòn.

20 tháng 7, G.Martin thay Bunker làm Ðại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

1974

29 tháng 9, Ủy ban vận động đòi cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam ra tuyên bố tố cáo Nguyễn Văn Thiệu dùng những thủ đoạn đen tối, đày ải hàng chục vạn tù chính trị và đòi trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ.

10 tháng 10, Chống lại chính sách bóp nghẹt do báo chí của chế độ Sài Gòn, 400 nhà báo đã xuống đường có mang theo bị, gậy, nón rách, dẫn đầu cuộc tuần hành của 5.000 người, đi từ Câu lạc bộ báo chí Sài Gòn đến chợ Bến Thành. Ngày nay được giới báo chí đặt tên là "Ngày các ký giả đi ăn mày" sau khi Thiệu ban hành Luật 007 về báo chí.

1975

6 tháng 1, Từ ngày 22-12-1974 đến ngày 6-1-1975, Quân giải phóng đã tiến công, bao vây các căn cứ Ðồng Xoài, Bố Ðức, Ðức Phong và thị xã Phước Long, tiêu diệt 3.000 quân địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.

10 tháng 3, Quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đây gồm Sư đoàn 23, trung đoàn 23, 1 chi đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn bảo an, 57 trung đội dân vệ. Sau 2 ngày chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

11 tháng 3, Thị xã Buôn Mê Thuột hoàn toàn được giải phóng.

8 tháng 4, Thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh gồm:

Phạm Hùng, Bí thư TƯC làm Chính ủy.

Ðại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh chiến dịch.

Các tướng Trần Văn Trà, Lê Ðức Anh, Lê Trọng Tấn, Ðinh Ðức Thiện làm Phó tư lệnh.

Tướng Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.

Tướng Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng chiến dịch.

8 tháng 4, Nguyễn Thành Trung, một cơ sở nội tuyến của ta hoạt động trong lực lượng không quân Sài Gòn, lái chiếc máy bay F.5 do Mỹ chế tạo, ném bom trúng dinh Ðộc Lập và hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ chính quyền Sài Gòn, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chúng.

13 tháng 4, Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh nhất trí gửi bức điện đề nghị BCT xin được đặt tên chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

11 tháng 4, Ðúng 19 giờ, một bức điện của BCT từ Hà Nội gửi đến Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.

Ðiện số 37/TK, 19 giờ ngày 14-4-1975. Ðồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

18 tháng 4, Trước sức tấn công thần tốc của Quân giải phóng, Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Dean Brown được cử phụ trách việc này cùng với lực lượng đặc nhiệm gồm không quân, hải quân với 35 tàu chiến (có 4 tàu sân bay) và hàng trăm máy bay thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

21 tháng 4, Theo sự đạo diễn của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống để Trần Văn Hương lên thay thế. Trong bài diễn văn đọc ở buổi lễ nhậm chức, Trần Văn Hương hứa “sẽ chiến đấu đến người lính cuối cùng". Thế nhưng, chỉ trong vòng một tuần lễ, Trần Văn Hương đã hoàn toàn bất lực, đành giao quyền lại cho Dương Văn Minh.

22 tháng 4, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với Mỹ. Không thể giúp người Việt Nam (chính quyền tay sai Sài Gòn) được nữa. Họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”.

23 tháng 4, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cả nội các của chính quyền Sài Gòn tuyên bố từ chức. Nhiều sứ quán phương Tây ở đây đóng cửa. Các công ty hàng không quốc tế ngưng hoạt động. Tổng thống Trần Văn Hương cử đại diện đến Tân Sơn Nhất, gặp Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN xin thương lượng.

28 tháng 4, Lúc 17 giờ, Tổng thống Trần Văn Hương sau khi nhậm chức được 7 ngày, đã tuyên bố từ chức, giao quyền cho Dương Văn Minh.

Khi vừa lên nhậm chức thay Trần Văn Hương, Dương Văn Minh đã cử người vào gặp phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN để thương lượng. Nhưng phái đoàn không chấp nhận đề nghị đó.

Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh cho quân Mỹ và nhân viên Ðại sứ quán Mỹ rút khỏi Sài Gòn.

Lúc 17 giờ, phi đội máy bay A.37 (lấy của địch trước đó gồm 5 chiếc) mang tên Quyết thắng, xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung (phi đội trưởng), Từ Ðể, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On (phi công của quân đội Sài Gòn ở lại) ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, rồi hạ cánh an toàn ở sân bay Lộc Ninh. 20 máy bay địch bị phá hủy trong trận oanh kích này.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên, nguyên Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác lên máy bay trực thăng Mỹ, chuồn ra nước ngoài.

29 tháng 4, Ðại sứ Mỹ đóng cửa. Người Mỹ "tháo chạy tán loạn".

30 tháng 4, 3 giờ 30, Tổng thống G.Ford ra lệnh cho Ðại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn "chấm dứt di tản vào 3 giờ 30 phút (giờ địa phương) sáng ngày 30-4, nhưng lệnh không thi hành đựơc".

4 giờ 20, một máy bay CH-53 đổ xuống sân thượng tòa Ðại sứ để đưa Ðại sứ Martin di tản.

5 giờ 24, Moorefield, người mà Martin chọn làm quản lý tòa Ðại sứ cùng với 4 người Mỹ khác đã đi trong chuyến trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút.

Chuẩn tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và tướng Nguyễn Hữu Có lên gặp Tổng thống Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự. Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, “chờ bàn giao trong vòng trật tự". Bản tuyên bố được phát trên Ðài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút.

Trận đánh cuối cùng ở cổng số 5, sân bay Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ. Ðợt xung phong đầu tiên của xe tăng và bộ binh của ta bị đối phương bẻ gãy. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt, hơn một giờ sau khi cờ Mặt trận đã bay trên dinh Ðộc Lập.

11 giờ 30, chiếc xe tăng mang biển số 843 dẫn đầu đội hình chiến đấu tiến đến hàng rào dinh Ðộc Lập, húc thẳng vào cổng phụ ngay bên cạnh cổng chính, nhưng do tác động mạnh đột ngột, chân ga thấp, nên chết máy, ngừng lại. Ngay sau đó, xe số 390 do Chính trị viên đại đội Vũ Ðăng Toàn điều khiển, đã vòng lên, húc đổ cổng chính. Trong khoảnh khắc đó, Ðại đội trưởng Bùi Quang Thận, từ chiếc xe 843, cầm cờ, lao lên trong sự yểm hộ của đồng đội, chạy thẳng đến ban công thượng của dinh Ðộc Lập, hạ lá cờ 3 que xuống, kéo lá cờ cách mạng lên, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền VNCH và sự toàn thắng của ta.

Ðại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ được chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (lúc 12 giờ). Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 và trung tá Nguyễn Tấn Tài, lữ đoàn trưởng cũng có mặt. Hai cán bộ tình báo của cách mạng, với tư cách là người của "lực lượng thứ ba" đã ở đây từ sáng, đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng là Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can.

Dương Văn Minh, đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông đến để bàn giao".

Bùi Văn Tùng tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao".

Dương Văn Minh trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phạm Xuân Thệ lúc 13 giờ rồi đến Ðài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh ngay trên Ðài phát thanh.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh phát lệnh, quần chúng Sài Gòn - Gia Ðịnh đã nổi dậy ở 107 khu vực, trong đó có 31 khu vực nội thành, 76 khu vực ngoại thành, 66 khu vực quần chúng đã làm chủ trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và 41 khu vực sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng quân chủ lực chưa đến.

Trong tình thế tuyệt vọng, vào lúc 18 giờ, Phạm Chí Kim đại tá, tỉnh trưởng Bến Tre bỏ trốn (sau đó bị bắt). Ðến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương, được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu tuyên bố đầu hàng.

1 tháng 5, Giải phóng hoàn toàn thị xã Bến Tre và các huyện trong tỉnh.

2 tháng 5, Thành lập Ủy ban Quân quản tỉnh Bến Tre.

Lúc 14 giờ, Thượng tướng Trần Văn Trà dẫn đầu Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN đến dinh Ðộc Lập, gặp những người đại diện của Chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng vào lúc 11 giờ 30 ngày 30-4, hiện đang bị quản thúc tại đây.

3 tháng 5, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh được thành lập theo quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN gồm 1 chủ tịch, 5 phó chủ tịch và 5 ủy viên. Tướng Trần Văn Trà được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố.

6 tháng 5, Bộ Chỉ huy các LLVT Giải phóng miền Nam ra thông cáo: "11 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân giải phóng đã cắm cờ của Chính phủ CMLTCHMNVN lên phủ Tổng thống của ngụy quyền Sài Gòn.

Trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 40 vạn quân địch thuộc Quân đoàn 3 và 4, 10 sư đoàn chủ lực và tổng dự bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân, 90 giang đoàn, hải đoàn, toàn bộ lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền từ trung ương đến xã ấp, giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh và các tỉnh còn lại...".

5 tháng 6, Từ ngày 5-6 đến ngày 11-6, tại dinh Ðộc Lập, diễn ra Hội nghị liên tịch (mở rộng) gồm các đại diện MTDTGPMNVN, LMCLLDTDCVHB, Chính phủ CMLTCHMNVN, Hội đồng cố vấn Chính phủ CMLTCHMNVN, đại diện các đoàn thể, lực lượng trí thức thành phố bàn về Hiệp thương thống nhất Tổ quốc.

15 tháng 11, Từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa hai miền Nam - Bắc, bàn về thống nhất Tổ quốc đã diễn ra tại dinh Ðộc lập.

Đã ban hành
Du Lịch Xuồng Chèo Bến TreDu Lịch Xuồng Chèo Bến Tre
Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Bến Tre là một trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, cũng là vùng đất sông nước miệt vườn thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái, với nét hoang sơ mang đậm chất làng quê. Đến xứ dừa quê tôi du khách sẽ bắt gặp những vườn cây xum xuê, trĩu quả; để khám phá có nhiều phương tiện nhưng ấn tượng nhất là phương tiện xuồng chèo, đã làm cho du khách nhớ mãi khi ngồi trên những chiếc xuồng chèo bé nhỏ len lỏi trong những con rạch dài ngoằn ngoèo thật là thơ mộng.

Về với vùng đất có nhiều sông rạch chằng chịt, du khách sẽ được đi xuồng chèo trong rạch nhỏ mà hai bên bờ là những rặng dừa nước, còn bên trên vô vàn vườn cây ăn trái. Phương tiện nầy đã có từ lâu nhưng mới được đưa vào du lịch trong thời gian gần đây, đã tạo được ấn tượng trong lòng du khách khi về với miền Tây sông nước. Cách thức vận chuyển rất đơn giản với phương tiện thô sơ nhưng lại mang nhiều cảm xúc mới lạ; một xuồng có bốn khách cùng với người chèo. Đặc điểm của xuồng chèo là  người chèo cũng là người giữ lái để cho xuồng đi đúng hướng; người đứng chèo đòi hỏi phải có kỹ năng và sức khỏe dẽo dai để duy trì xuồng đi đều mà không kiệt sức; xuồng lướt nhẹ theo nhịp chèo, đưa chúng ta ngắm nhìn cảnh vật từ từ hiện ra. Chính cảm giác chầm chậm đó giúp du khách có giây phút lắng đọng, thả hồn theo sóng nước ti tách làm cho ta quên đi những gì cực nhọc hay buồn phiền trong cuộc sống hối hả ngày nay.

Chúng ta có cảm giác thư thái với bầu không khí trong lành yên tĩnh ở một vùng quê an bình. Đôi khi bắt gặp những điệu hò quen thuộc phát từ chiếc radio, làm gợi nhớ đến những ký ức tuổi thơ, ngày nào được bà ru trên võng hay một chuyến nghỉ hè về vùng quê ngoại được nô đùa tắm sông cùng các bạn. Tiếng mái chèo khua nhẹ trong làn nước mát, một câu hò bất chợt của cô gái chèo xuồng trong bộ bà ba mộc mạc tạo ấn tượng khó quên trong lòng du khách. Thật vậy, người Bến Tre hiền hòa, hiếu khách bao đời cùng với cái mộc mạc quê mùa đã tạo nên nhiều vẽ đẹp tiềm ẩn đã làm cho biết bao người vương vấn mà ít nơi nào có được.

Điều thú vị nữa là du khách có thể học bơi xuồng theo sự hướng dẫn nhiệt tình của cô chèo đò; một công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng thật sự không giản đơn để chèo chiếc xuồng đi đúng hướng. Những câu chuyện trò ngắn ngủi với cô gái chèo đò cũng làm tăng thêm hương vị miền Tây quê tôi, để lại nhiều cảm nhận sâu sắc trong lòng du khách. Ngoài ra, chúng ta còn chụp được những bức ảnh tuyệt đẹp giữa rừng dừa nước xanh bạt ngàn; được thả hồn thư giản theo tiếng rì rào của gió qua những chiếc lá dừa, tiếng tí tách của nước hay hương thơm của bông bần ven bờ.

Dịch vụ xuồng chèo không mới nhưng lại mang nét đặc trưng của sông nước miền Tây; đây là phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân địa phương đã góp phần cho du lịch Bến Tre phong phú trong tour du lịch sinh thái nơi đây khi đã trải nghiệm qua các dịch vụ khác như xe ngựa trên đường quê, uống mật ong, ăn trái cây, nghe đờn ca tài tử Nam bộ và tham quan  các cơ sở làm kẹo dừa, bánh tráng, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa,…. Ôi! thật là thú vị làm sao!.

 

Chèo xuồng trong rạch nhỏ

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreChủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre - Họ và tên: Cao Văn Trọng
- Sinh ngày: 09/9/1961
- Quê quán: Xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Kinh tế Công nghiệp; Cử nhân Hành chính; Thạc sĩ Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cử nhân

Đã ban hành
Thờ phụng tổ tiênThờ phụng tổ tiên
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong ả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả.
Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên có thể nói hầu như diễn ra đều khắp, từ nơi thị tứ đến chốn làng quê hẻo lánh, từ miệt biển đến miệt đồng bưng hay miệt vườn. Nhìn chung cách cúng thờ ông bà, tổ tiên của đồng bào nơi đây không có gì khác biệt so với các vùng khác trong cả nước, bởi lẽ đều cùng một cội nguồn mà ra cả. Đó là đạo thờ ông bà của người Việt đã tồn tại qua thời gian hàng chục thế kỷ.

Qua khảo sát nhiều nơi trong tỉnh, ta thấy mỗi gia đình đều có bàn thờ gia tiên.Có khác nhau chăng ở cách bố trí nơi thờ tự ở trong nhà và việc bày biện các đồ thờ trên bàn thờ giữa những gia đình giàu có, trong những ngôi nhà xưa hay trong những ngôi nhà xây cất hiện đại ngày nay, giữa những nhà khá giả và những nhà bình dân.

Qua điều tra khảo sát ở Bến Tre cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ, rất ít thấy nhà thờ tộc (họ) như ở miền Trung và miền Bắc. Tuy nhiên, ở những gia đình, dòng họ lớn, con cháu chung nhau làm nhà thờ, hoặc duy trì ngôi nhà xưa của ông bà để lại làm nơi thờ cúng, gọi là từ đường. Nhiều gia đình vẫn còn giữ được những bản gia phả, hoặc bằng chữ Hán, hoặc phiên thành chữ quốc ngữ ghi chép lại nguồn gốc, quá trình di chuyển từ nơi nay sang nơi khác, chức tước, công trạng, nghề nghiệp của người xưa v.v... Chính nhờ những nguồn tài liệu quý giá này, mà ngày nay chúng ta hiểu rõ được con đường, cách thức di chuyển, những nơi dừng chân, địa bàn cư trú của những lớp lưu dân ở vùng đất này. Cũng không hiếm trường hợp thay đổi tên họ do những biến động về chính trị, hay để tránh những cuộc truy bức, khủng bố của bên này hay bên kia, kể cả thực dân đế quốc.

Ở nông thôn, nhà dù nghèo khó đến đâu, không sắm được chiếc bàn bằng gỗ, thì cũng đóng một chiếc chõng tre, hay bằng tầm vông, cao ngang ngực, trên mặt đan vỉ hay ken tre, trên cùng trải chiếc chiếu con, người bình dân quen gọi là giường thờ. Trên giường thờ cũng đặt bánh hương, chân đèn bằng sành, để đĩa đựng dầu thắp, lọ cắm hoa v.v...

Đối với người giàu cũng như người nghèo, ngày giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ là "ngày tang trong suốt đời” (chung thân chi tang) để con cháu và người thân tưởng nhớ đến người đã khuất. Vì vậy, người dân có tập quán dành những món ngon nhất, tốt nhất, từ vật nuôi đến trái cây theo mùa vụ, cân nếp, cân đậu (dùng để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân. Nếu phải đi mua từ ngoài chợ, thì cũng phải chọn miếng thịt tươi, con cá ngon, con gà béo tốt để về làm thức dâng cúng. Vì mỗi năm chỉ cúng giỗ một lần, cho nên mọi người đều cho lễ giỗ là trọng, từ bà con xa gần đến cả đồng hương, đồng xóm, cũng như bạn bè thân thích. Dù làm việc ở nơi đâu, gần hay xa (dĩ nhiên trừ những hoàn cảnh cách bức quá lớn) con cháu trong gia đình phải nhớ ngày mà về.

Những gia đình khá giả thường làm lễ cúng tiên thường với lễ vật đơn sơ, gọn nhẹ từ nhiều hôm trước (như hàm ý mời gọi người thân đã quá cố hãy vui vẻ mà về với con cháu). Ngày hôm sau mới là ngày giỗ chính. Thường thì giỗ cha, giỗ mẹ, con cái làm lễ to, rồi trở lên mỗi đời xa hơn thì lễ giỗ tổ chức đơn giản hơn, không mời mọc nhiều người. Bà con, bạn bè đến ăn giỗ thường mang theo hương hoa, trái cây, rượu, bánh, trà để dâng cúng và lễ lạy trước bàn thờ người đã khuất, sau đó mới ngồi vào dự tiệc.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Đạo Cao ĐàiĐạo Cao Đài

<br />

Image
Tòa thánh cao đài
Đạo Cao Đài ở Bến Tre gồm có 4 chi phái: Ban Chỉnh, Tây Ninh, Tiên Thiên và Minh Chơn Lý. Phái Cao Đài Ban Chỉnh do ông Nguyễn Ngọc Tương thành lập tại Bến Tre năm 1934. Tuy cùng một cội nguồn với Đạo Tam kỳ phổ độ được sáng lập ở Tây Ninh năm 1926, nhưng chi phái Ban Chỉnh có những đặc điểm riêng của nó.

Cao Đài Ban Chỉnh ngay khi thành lập đã có 85 họ đạo trong 18 tỉnh, hiện nay có 249 họ đạo trong 24 tỉnh, thành phố. Hội thánh trung ương đặt tại thị trấn Bến Tre có 59 thánh thất với khoảng 20.000 tín đồ (1).

Phái Cao Đài Tây Ninh ở đây có tới 36 thánh thất với 16 điện thờ Phật mẫu với khoảng 10.000 tín đồ. Sau vụ án chính trị, một số tên đội lốt tôn giáo âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng bị bắt (1982), một số họ đạo thuộc phái Tây Ninh tự giải tán, nhiều tín đồ bỏ đạo, một số khác vẫn là những nông dân lao động chuyển sang “tu tại gia”.

Chi phái thứ ba là Cao Đài Tiên Thiên, được thành lập năm 1927. Toàn phái có 127 thánh tịnh trong 14 tỉnh, thành phố, có 45.000 tín đồ, hiện có 29 thánh tịnh với khoảng 78.800 tín đồ. Hội thánh trung ương của phái này đặt tại Tiên Thủy, huyện Châu Thành.

Chi phái thứ tư là Cao đài Minh Lý đổi tên là Minh Chơn Lý, chỉ có một thánh thất gọi là Trường Quy, xã Bình Thới, huyện Bình Đại với khoảng trên 145 tín đồ.

Trong số 4 chi phái Cao Đài ở Bến Tre, thì phái Ban Chỉnh không những có số lượng tín đồ đông đảo nhất, mà là phái tiến bộ, có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước vừa qua. Điều này, do chịu ảnh hưởng một phần rất quan trọng tư tưởng của người nắm giềng mối, đồng thời cũng là người sáng lập ra chi phái là giáo tông Nguyễn Ngọc Tương. Tuy nhiên từ 1967 trở đi, hội thánh Ban Chỉnh bị cơ quan tình báo CIA của Mỹ lũng đoạn, một nhóm chức sắc cơ hội dựa vào thế lực của chính quyền Sài Gòn, lừa gạt và gây chia rẽ hàng ngũ tín đồ, chống lại đường lối yêu nước tiến bộ của giáo hội, mà ông Nguyễn Ngọc Tương và một số tu sĩ tích cực dày công xây dựng trước đó.

Do thành phần đại đa số tín đồ vốn là nông dân lao động đã từng gắn bó với vùng đất có truyền thống yêu nước lâu đời, cho nên phần lớn tín đồ vẫn theo đường lối tu hành của cố giáo tông Nguyễn Ngọc Tương.

Để ghi nhận công lao đóng góp của Cao Đài Ban Chỉnh vào sự nghiệp cách mạng, Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì cho Hội Thánh Bến Tre. Trong Huân chương của Chính phủ trao tặng năm 1956 có ghi rõ thành tích "Đã giữ vững thái độ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vận động được đông đảo tín đồ tham gia kháng chiến cứu nước".

Chú thích :

(1) Theo số liệu của mặt trận Tổ quốc tỉnh Bến Tre, 1985.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
&nbsp;

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Các sinh vật trên cạnCác sinh vật trên cạn
 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

Đất vườn trù phú cũng là nơi sinh sống của các loài chim. Nhưng nổi bật nhất ở Bến Tre là các nhóm chim sống ven bờ nước, tiêu biểu cho rừng ngập mặn. Với những diện tích bãi triều rộng, đặc biệt vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng của các loài chim ăn các sinh vật ven bờ nước, kể cả các đàn chim di cư bay từ phương bắc đến. Những rừng đước trồng mới ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri đang trải rộng màu xanh ven biển, hứa hẹn một sự hội tụ ngày một đông đảo các dòng họ chim từ các nơi khác đến. Nhóm chim dùng thức ăn tôm cá và sinh vật ở bãi triều đóng vai trò nhất định trong việc bón phân cho thủy vực, tham gia vào quá trình chu chuyển vật chất nói chung, có tác dụng tích cực đối với các loài sinh vật sống dưới rừng ngập mặn.

Nhóm chim sống gần người như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo... có thể gặp ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây. Chúng săn bắt côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng, rau xanh, ăn những loại hạt cỏ dại...

Ngày nay, những nơi như Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn (Ba Tri) đang dần dần lấy lại sự trù phú, đông đảo của cảnh sân chim một thời đã mất. Người ta ước tính có khoảng ba mươi loại chim đang quy tụ về đây, trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế. Vào mùa sinh sản, nhìn lên những rặng bần, mắm, ta thấy chim đậu dày đặc. Có những cây trĩu nặng hàng chục tổ cò, tổ diệc, cồng cộc, sáo, le le... Chiều về, các loài chim đi ăn từ mọi nơi hạ cánh để tìm chỗ đậu, hay để mớm thức ăn cho con, cho chim mái ấp trứng v.v... ồn ào, náo nhiệt như họp chợ. Ở cồn Đất trước đây còn có rất nhiều dơi quạ.

Chim ưa môi trường trong sạch và yên tĩnh. Sự có mặt cùng những hoạt động đa dạng của chúng là những dấu hiệu tốt lành của môi trường sống, ngược lại sự vắng bóng của chúng là chỉ báo cho sự xấu đi, là tình trạng đáng báo động của điều kiện sống ở nơi đó. Môi trường bị ô nhiễm, trước hết phải kể đến nước, kế đến là không khí, sau cùng là đất. Cần phải tạo mọi điều kiện tốt cho chim chóc về sinh sống ngày một nhiều - cảnh quan, đất đai Bến Tre vốn có đủ các điều kiện đó - vỉ xét trên nhiều phương diện, nguồn lợi về chim không nhỏ.

Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng và phong phú nhất là côn trùng. Ở Bến Tre, số lượng của chúng chắc phải đến hàng ngàn loại. Loại có ích như ong. Ong không chỉ cho mật, mà còn góp phần thụ phấn cho hoa, nâng cao năng suất cây trồng. Kiến vàng, lớn con với bộ giò cao lêu nghêu, di chuyển nhanh, thường kéo hàng đàn, bò từ cây này sang cây khác, có mặt thường xuyên ở các vườn cây. Đội quân này giúp cho người làm vườn tiêu diệt được nhiều loại sâu bọ hại cây ăn quả. Bà con ta biết đưa chúng về các vườn cam, quýt... để làm "người bảo vệ" cho cây trái, nếu nơi ấy còn vắng bóng chúng.

Kiến vương thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng là kẻ thù đáng gờm của các nhà trồng dừa. Ấu trùng của kiến vương sống trong các đống rác, rơm mục rải rác khắp nơi. Khi trưởng thành, ấu trùng (con đuôn) đục thân cây dừa, chọn nơi ngọn (cổ hũ dừa) làm nơi sinh trưởng. Một đọt dừa bị đuôn đục thân có thể chặt ra, bắt hàng chục có khi cả trăm con đuôn lớn bằng ngón tay. Cây dừa bị đuôn đục ngọn coi như là bỏ đi (đuôn dừa, đặc biệt là đuôn chà là, tẩm bột rán vàng là một món ăn cao cấp, được dân nhậu ưa thích).

Bên cạnh một số loại côn trùng có ích giúp cho việc thụ phấn, đậu quả, có nhiều loại côn trùng gây hại đến rau màu, lúa, cây ăn quả, nhất là các loại sâu bọ, ong ký sinh và nhóm côn trùng ăn thịt khác. Có loại côn trùng, khi còn giai đoạn ấu trùng thì sống trong các ao hồ, là động vật ăn thịt, đến lúc trưởng thành mới sống trên cạn, như ấu trùng chuồn chuồn. Số lượng loại này có nhiều trong các thủy vực, là kẻ thù của tôm và cá con.

Đã ban hành
Động vật dưới nướcĐộng vật dưới nước
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.

Động vật nổi:

Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắt xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa, số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1 m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.

Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn - mắt xích thức ăn thức hai của thủy vực – và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Vào tháng 3, 1 m3 nước sông chứa 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1 m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm copepoda.

Động vật đáy:

Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.

Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.

Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 gam/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề nuôi trồng thủy sản vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất v.v...

Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài.

Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây:

a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát. Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.

b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa.

c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng.

d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.

e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3%o, lý tưởng nhất là 10%o. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 20o – 30oC, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, đìa, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông) và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.

Có hai vụ tôm giống trong năm: vụ chính vào tháng 4 âm lịch và vụ phụ vào tháng 7 âm lịch. Tôm thẻ rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột của môi trường (CO2, pH, nồng độ muối và các loại chất độc). Nếu gặp điều kiện bất lợi, chúng sẽ dễ dàng di cư đi nơi khác.

Đặc điểm sinh hoạt của tôm sú: tôm sú có chu kỳ sống tương tự như tôm thẻ, tự nhiên khả năng thích nghi với biên độ dao động, nồng độ muối (độ mặn) rộng. Tôm có thể phát triển ở độ mặn từ 5 – 35%o, thậm chí với nước ngọt trong một thời gian ngắn. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm sú phát triển là 15 – 20%o. Nếu độ mặn lớn hơn 3%o vỏ tôm trở nên cứng, khó lột xác, ở độ mặn nhỏ hơn 10%o, vỏ tôm mềm nên dễ nhiễm bệnh.

Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh bằng mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.

Đã ban hành
Nước ngầmNước ngầm
Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Kết quả thăm dò địa chất – thuỷ văn về nước ở giồng cát , nước ngầm tầng nông và nước ngầm tầng sâu cho thấy ở Bến Tre có các tầng nước như sau:

Nước ngầm ở giồng cát (phức hệ chứa nước Holocene)

Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Theo tính toán của cơ quan khảo sát về nước ngầm, thì nước ở giồng cát có tổng trữ lượng là 12 triệu m3, môđun khai thác khoảng 844 m3/ngày/km2. Chất lượng nước ở vùng giồng cát thay đổi theo mùa và tuỳ thuộc vào độ sâu của giếng. Nhiều nơi, nước giếng bị nhiễm mặn do khai thác quá mức cho phép. Có nơi nước bị nhiễm bẩn do làm muối, nuôi tôm, chăn nuôi súc vật, thải ra nhiều chất hữu cơ. Nhìn chung, về mặt lý hóa, nước ở giồng cát còn tạm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt ở nông thôn trong hoàn cảnh hiện nay, dĩ nhiên về mặt vi sinh còn nhiều vấn đề phải xử lý.

Nước ngầm ở tầng (< 100 m)

Đây là phức hệ chứa nước Pleistocene, gồm hai tầng: tầng thứ nhất ở độ sâu 30 – 50 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng chứa nước < 10 m. Nước có tính kiềm, độ pH từ 6,5 – 7, hàm lượng sắt cao từ 0,5 – 5 mg/l, độ mặn dao động từ 454 – 5.654 mg/l. Cũng có khu vực nước nhạt tập trung ở phía bắc huyện Chợ Lách, huyện Châu Thành, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri (An Thuỷ).

Tầng thứ hai ở độ sâu từ 60 – 90 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng nước > 10 m. Nước có độ pH từ 6 – 7,5, hàm lượng sắt cao từ 0,04 – 10 mg/l, độ mặn dao động lớn từ 454 – 15.071 mg/l, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng thứ hai có khu vực chứa nước nhạt phân bố ở phía bắc huyện Châu Thành, huyện Chợ Lách, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri.

Nước ngầm nhạt tầng nông đang được khai thác phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân trong chương trình cấp nước sạch ở nông thôn của tỉnh.

Nước ngầm ở tầng sâu (> 100 m)

Tầng này gồm 2 phức hệ chứa nước: phức hệ chứa nước Pléistocène và phức hệ chứa nước Miocène.

- Phức hệ chứa nước Pléistocène có nhiều lớp đan xen đến chiều sâu 395 m, trong đó quan trọng nhất là tầng sâu 290 – 350 m, phân bố rộng trong toàn tỉnh, trong đó nước tại Châu Thành có chất lượng tốt hơn cả. Diện tích phân bố tầng nước nhạt này khoảng 112 km2 từ thị xã Bến Tre về đến phía bắc phà Rạch Miễu với trữ lượng tiềm năng là 74.368 m3/ngày đêm, khả năng khai thác công nghiệp cho phép là 10.500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại là nước lợ, mặn.

- Phức hệ chứa nước Miocène tồn tại ở độ sâu 400 m trở xuống, gồm nhiều tầng nước, trong đó quan trọng nhất là tầng ở độ sâu 410 – 440 m, có bề dày trung bình tầng chứa nước là 18 m. Nước có chất lượng tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng chứa nước nhạt này phân bố từ thị xã Bến Tre lên phía bắc huyện Châu Thành, với diện tích rộng 150 km2. Trữ lượng khai thác công nghiệp cho phép là 300 – 500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại nhiễm mặn cao. Nước nhạt tầng sâu có khả năng khai thác để bổ sung cho nhà máy nước thị xã trong mùa khô đồng thời cung cấp cho các xí nghiệp chế biến của tỉnh.

Đã ban hành
Ông già Ba TriÔng già Ba Tri
&nbsp;

Image
Ông già Ba Tri
Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

   Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

   Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến TreKiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

   Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Di tích lịch sử Chùa Tuyên LinhDi tích lịch sử Chùa Tuyên Linh
Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

   

Image
Chùa Tuyên Linh

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tông cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do hòa thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa Thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

​Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp Đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ Cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết mình không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặt về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo pháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời KCCP, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương - Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh , vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

Chùa được Bộ Văn hóa - Thông tin ra quyết định số 921-QĐ/BTcông nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

Đã ban hành
Di tích đầu cầu tiếp nhận chi viện Bắc NamDi tích đầu cầu tiếp nhận chi viện Bắc Nam
&nbsp;
- Địa điểm khu di tích của xã Thạnh Phong (vàm Khâu Băng, cồn Bửng, cồn Lợi, cồn Lớn) nằm cách thị trấn Thạnh Phú khoảng 25km, cách Thị xã Bến Tre khoảng 70km. Có thể đi đến khu di tích bằng hai đường bộ và thủy, cả hai đều thuận tiện.
 
- Di tích đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam ở xã Thạnh Phong đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 23 tháng 12 năm 1995.
 
Đã ban hành
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Trương Duy Hải
- Sinh ngày: 25/5/1959
- Quê quán: Xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Những cột mốc của quá trình Đồng KhởiNhững cột mốc của quá trình Đồng Khởi
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1)

Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo Iực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" (2).

   Nghị quyết 15 của TƯĐCS đã đánh dấu một mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.

   Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kiềm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.

   Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

   - Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.

   - Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).

   Ngày 22-2-1960, Mỹ, Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang cách mạng, hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.

   - Ngày 27-2-1960, hàng ngàn dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, mùng mền "tản cư" vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

   - Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.

   Sau khi chỉ đạo cuộc Đồng Khởi thắng lợi ở Mỏ Cày, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.

Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn quét phải rút về vị trí cũ.
Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
Cao trào Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở địch.
Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi đợt II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác của tỉnh.
   Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc Đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20-12-1960.

(1)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1980.
(2)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd.
Đã ban hành
Thú vị khi khám phá sông nước - miệt vuờn vùng ven thành phố Bến TreThú vị khi khám phá sông nước - miệt vuờn vùng ven thành phố Bến Tre
Đã nhiều lần được đến vùng đất miền Tây, xứ sở sông nước - miệt vườn hình như đi đến tỉnh nào của miền Tây cũng gặp. Với Bến Tre, là vùng đất nổi tiếng với rừng dừa xanh bát ngát mà tôi đã có dăm ba lần đến. Nhưng chưa lần nào tôi có một chuyến đi đầy ý nghĩa, thoải mái và thích thú như lần này. Đâu đó trong tôi vẫn còn đọng lại hai câu ca dao:

Đã nhiều lần được đến vùng đất miền Tây, xứ sở sông nước - miệt vườn hình như đi đến tỉnh nào của miền Tây cũng gặp. Với Bến Tre, là vùng đất nổi tiếng với rừng dừa xanh bát ngát mà tôi đã có dăm ba lần đến. Nhưng chưa lần nào tôi có một chuyến đi đầy ý nghĩa, thoải mái và thích thú như lần này. Đâu đó trong tôi vẫn còn đọng lại hai câu ca dao:

“Bến Tre nước ngọt lắm dừa  
Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm….”

Bạn tôi tuy không phải là một hướng dẫn viên du lịch, nhưng tôi hiểu được sự yêu quê hương da diết của bạn ấy, nên bạn đã giới thiệu thao thao bất tuyệt về quê hương xứ dừa như là một hướng dẫn viên chuyên nghiệp. Nhờ vậy, mà tôi được biết thành phố Bến Tre nằm bên bờ sông cùng tên; từ thành phố Hồ Chí Minh theo đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương về đến Bến Tre chỉ mất khoảng 1 giờ 45 phút; đi theo QL 1A cũng chỉ mất gần 2 giờ đồng hồ.

Qua lời giới thiệu của bạn, tôi được biết thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, thơ mộng, yên bình…, đến thành phố Bến Tre sẽ tham quan khám phá và chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc văn hóa lịch sử như: “Tượng đài Đồng Khởi”; “Tượng đài Trần Văn Ơn”; Bảo tàng Bến Tre; “Tượng đài Chiến thắng trên sông” và còn gọi là tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”(hay công viên Hùng Vương, công viên “Hoàng Lam”); kiến trúc Đình An Hội, Đình Phú Tự và cây Bạch Mai cổ thụ, Chùa Viên Minh, chùa Viên Giác, Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương, Nhà thờ Bến Tre; ngắm cảnh hồ Trúc Giang, đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre… Đặc biệt, thú vị nhất là khám phá trải nghiệm với sông nước, miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre ở các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận…. Đây mới chỉ là những điểm đến tại trung tâm thành phố Bến Tre. Nếu khám phá của cả tỉnh thì nhiều lắm, nhất là truyền thống văn hóa – lịch sử hay du lịch sinh thái ở các huyện khác…

Những người bạn Bến Tre giới thiệu cho chúng tôi đi tour do Công ty TNHH Du Lịch Nam Bộ tổ chức tham quan sông nước – miệt vườn vùng ven thành phố xứ dừa. Tour này giới lữ hành đặt tên nghe rất tầm cở “tour liên hiệp quốc”, hỏi ra mới biết đây là tour ghép du khách từ các nước đến, trong đó có cả Việt Nam, do một đơn vị lữ hành ở thành phố Hồ Chí Minh bán tour lẻ. Tên tour nghe thì rất tầm cở, nhưng giới hướng vẫn chuyên nghiệp cho đây là tour bình dân nhất, dễ chịu nhất.

Khởi hành từ bến tàu du lịch Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre (đối diện Khách sạn – nhà hàng Hùng Vương). Du thuyền bắt đầu rời bến di chuyển theo hướng cầu Bến Tre 1, cũng là lúc tôi bắt đầu ghi nhật ký kỷ niệm cho hành trình chuyến đi. Không hiểu sao du thuyền ra khoảng giữa sông, trong lòng tôi có cảm giác lâng lâng, thoải mái, phấn khởi và hấp dẫn một có cái gì đó mà mình chưa thể diễn tả được. Từ du thuyền lần lượt cả đoàn được ngắm cảnh đẹp sông nước Bến Tre. Nhìn về phía trái chúng tôi bắt gặp những phố xá và hoạt động nhộn nhịp của  người dân xứ dừa ven sông và những hình ảnh đó không thể quên được như: Bến du thuyền Hùng Vương, Bảo tàng Bến Tre, Chợ Bến Tre, Trung tâm Thương mại Bến Tre, Chợ đầu mối nông thủy sản Bến Tre, Một số cơ sở sản xuất và phong cảnh ven sông Bến Tre.

 

Bến du thuyền Hùng Vương

Phía bên phải là công viên bờ Nam thành phố Bến Tre, chạy dài song song cùng với công viên Hùng Vương, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đánh lưới bắt tôm, cá.... Trên sông Bến Tre tàu thuyền lớn, nhỏ vận chuyển dập dìu qua lại, tạo trên mặt sông liên hồi những đợt sóng to, nhỏ nhìn rất thú vị.

Du thuyền ghé vào tham quan lò gạch nằm ven sông Bến Tre, thuộc địa phận xã Phú Hưng, để cả đoàn cùng khám phá, tìm hiểu từ nguyên vật liệu đến từng công đoạn làm ra từng viên gạch ống, gạch thẻ dùng trong xây dựng. Du thuyền càng  xa dần địa phận thành phố Bến Tre và bắt gặp ven hai bên bờ sông bạt ngạt rừng cây dừa nước và những hàng bần xanh ngắt.

Qua vàm kênh chẹt sậy một đổi, du thuyền rẽ vào một nhánh sông nhỏ (có tên gọi là sông Cái Sơn lớn). Từ đầu vàm sông đến sâu vào bên trong, cảnh hai bên bờ con sông nhỏ này rất đẹp, toàn là cây dừa nước mọc dày đặc, thỉnh thoảng một vài cây bần chen mọc vào giữa đám dừa nước, như làm dáng khoe mình, điểm tô thêm một màu xanh khác. Trên bờ thì ngút ngàn những hàng dừa, bờ dừa, vườn dừa xanh biếc và những loại cây trái khác, tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành một không gian xanh yên ả, kết hợp hiện tại với môi trường sinh thái tự nhiên, thỏa sức mà tận hưởng khí trời trong lành mát dịu, dễ chịu vô cùng. Ta hãy thầm cảm ơn ai đó đã có công khám phá ra tuyến sông nhỏ đẹp này, để hướng dẫn và đưa du khách đến đây thư giãn, khám phá, trải nghiệm và tận hưởng những gì thiên nhiên đã ban tặng cho xứ sở này.

Điều lý thú của tuyến trình là bắt gặp được những hình ảnh người dân vùng sông nước: bắt tép, tôm, cá...., mà hình thức dân gian thường gọi: Đóng đáy, làm rập, đặt dớn, 12 cửa ngục, đăng lưới, ghe chày, câu cá, lặn bắt cá, tôm …. Bạn tôi bảo nếu du khách đi vào đợt những con nước rong (lối rằm hoặc nước 30), khi thủy triều xuống sẽ bắt gặp người dân len lỏi trong những hàng dừa nước ven sông, rạch, bắt cá bống dừa trú ẩn trong những bụp dừa nước cũng rất lý thú.

Du thuyền ghé vào tham quan cơ sở làm dừa, xem lột dừa, đập dừa lấy nước, cạy cơm dừa...; thưởng thức mứt dừa, kẹo chuối, kẹo dừa, rượu dừa.... Tiếp tục cuộc hành trình  du thuyền đến chợ Nhơn Thạnh, du khách lên bờ đi bộ, đi trên chiếc cầu dừa, tham quan làng nghề dệt chiếu.... Kỳ thú nhất là du khách sẽ tham gia hành trình với những chiếc xe đạp, hay đi trên những chiếc xe lôi máy ngắm cảnh đường làng dừa, vườn cây ăn trái, mô hình trồng lúa hay những khu vườn, ruộng lên liếp trồng rau màu và sinh hoạt đời thường của người dân nơi đây. Thú vị nhất là được đi xuồng chèo trên con rạch nhỏ, thư giãn nhìn dòng chảy của thủy triều, khoát tay xuống dòng nước mát đầy phù sa lòng cảm thấy mát rượi, dễ chịu vô cùng. Những cái vẫy tay chào du khách, những nụ cười thân thiện của người dân nơi đây thật đáng yêu vô cùng.

 

Du khách tham gia tour sông nước miệt vườn vùng ven thành phố xứ dừa 

Ngoài tham quan, khám phá, tận hưởng những gì thiên nhiên ban tặng, tại các điểm đến nơi đây du khách có thể tham gia làm kẹo dừa, kẹo chuối; chiêm ngưỡng, chọn lựa những món quà lưu niệm thủ công mỹ nghệ làm từ nguyên liệu dừa có ý nghĩa về làm quà cho người thân, bè bạn. Ấn tượng nhất là thưởng thức nước dừa xiêm thứ thiệt, nguyên chất, được hái tại vườn và những trái cây của miệt vườn Bến Tre (bưởi da xanh, nhãn, mận An Phước, chôm chôm nhãn, chuối cao...); uống trà mật ong; nghe hát và giao lưu đàn ca tài tử. Bữa ăn trưa du khách có thể tùy chọn những món ăn như: Cá tai tượng chiên xù ăn với bánh tráng cuốn rau sống; chả giò; cháo gà ta thả vườn với gỏi bắp chuối, cây chuối; tôm luộc nước dừa; cơm trắng ăn với canh chua cá ngát, cá bông lau; tép rang dừa, cá rô, cá lóc, cá kèo khô tộ; gỏi củ hũ dừa hay các món gỏi khác..... Ngoài ra, còn nhiều món ăn hấp dẫn khác theo yêu cầu của du khách .... Bạn tôi còn giới thiệu nếu du khách muốn trải lòng mình về với vùng quê yên ả, có thể nghỉ đêm tại Homestay Hai Hồ, Dừa Xanh (xã Phú Nhuận).

Kết thúc chuyến đi, chúng tôi về lại bến du thuyền Hùng Vương, thì cũng là lúc nắng ngã về chiều trên sông Bến Tre, đẹp quá! Cảm ơn đất và người Bến Tre, nhất là những người bạn trên đất xứ dừa, đã cho chúng tôi được thư giãn, thoải mái tận hưởng không khí mát mẻ trong lành và những cảnh đẹp thiên nhiên của vùng sông nước – miệt vườn này. Tuy chỉ có khoảng 6 giờ đồng hồ cho một tour du lịch bình dân, nhưng đã để lại trong tôi những hình ảnh đẹp, những tình cảm khó quên bởi sự niềm nở, mến khách, đôn hậu, hiền hòa, chất phác của người dân xứ dừa.

Hình như tôi vẫn còn cảm giác luyến tiếc một điều gì đó mà mình chưa khám phá được. Tự đáy lòng mình, tôi thầm xin mình được cùng với bạn mình làm người con của quê hương xứ dừa thân thương, vùng đất “địa linh nhân kiệt”, xứ sở có vùng sản xuất cây giống, hoa kiểng và vườn cây ăn trái nổi tiếng vùng ĐBSCL. Xin được mượn những câu hát trong bài hát nổi tiếng “Dáng đứng Bến Tre” tôi đã từng nghe, yêu thích và nó đã lắng đọng mãi trong tôi: “Mỗi lúc đi xa dừa ơi! ta nhớ lắm nghen. Vườn trái, trái  xum xuê, biển khơi tôm cá đầy ghe.... Nhớ con sông dài Hàm Luông Bến Tre quen ghé. Lại nhớ tóc ai dài còn mang dáng đứng Bến Tre”.

Chia tay các bạn, từ giã cảnh đẹp thiên nhiên sông nước – miệt vườn xứ dừa. Xin hẹn gặp lại và được khám phá những gì tuyệt vời hơn ở vùng đất bạt ngạt dừa xanh này ở lần sau. Và mong rằng du lịch Bến Tre sẽ ngày càng phát triển, có nhiều điểm đến tuyệt vời, không đơn điệu, trùng lấp và luôn phục vụ du khách tốt hơn với những nơi khác.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cự ly các điểm đến Chợ LáchCự ly các điểm đến Chợ Lách
Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh cùng với các huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Thạnh Phú.

- Từ thành phố Bến Tre đi bằng đường bộ đến các điểm của Chợ Lách:


Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký

Vườn kiểng Năm Công, xã Hưng Khánh Trung B 24 km, nằm sát QL 57.

  • "Làng nghề cây giống và hoa kiểng Cái Mơn"; vườn cây trái Cái Mơn; các điểm du lịch sinh thái tại Cái Mơn (xã Vĩnh Thành), xe 50 chỗ đến được trung tâm xã, rồi chọn phương tiện xe 02 bánh đến các làng nghề, vườn cây trái…; đi bằng đường bộ khoảng 30 km; đi bằng đường thủy từ thành phố Bến Tre đến Cái Mơn mất 3 giờ đồng hồ.

  • Nhà thờ Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, 30 km, nằm cặp Quốc lộ 57, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ thành phố Bến Tre qua (về phía bên trái).

  • Nhà bia học giả Trương Vĩnh Ký, xã Vĩnh Thành, 30 km, dưới chân cầu Cái Mơn lớn hướng từ Tp. Bến Tre qua, rẽ sang hướng phải, xe dưới 16 chỗ vào đến nơi; xe 30 -50 chỗ đậu ngoài lộ lớn và đi bộ vào khoảng 300m.

  • Điểm du lịch sinh thái Ba Ngói và Tám Lộc (cồn Phú Đa) xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ. Nếu đi đường sông từ thị trấn Chợ Lách theo kênh Lách một khoảng rẽ sang kênh Sụp (tàu lớn đi được), chạy một lúc sẽ gặp sông Cổ Chiên và theo hướng  phải một đổi sẽ gặp cồn Phú Đa. Cũng theo hướng này, nếu đi bằng thuyền nhỏ (đi tắt) theo hướng kênh Bốn Sồ là tới cồn Phú Đa.

  • Điểm vườn hoa, kiểng Hồng Nhị, xã Vĩnh Bình: 46 km đường bộ, nằm sát Quốc lộ 57.

  • Điểm du lịch Năm Vũ, xã Phú Phụng 50 km đường bộ, đi khoảng 4 km nữa là đến phà Đình Khao sang tỉnh Vĩnh Long.

  • Ngoài các điểm đến trên, trên đường đi đến trung tâm Chợ Lách, xuất phát điểm từ thành phố Bến Tre tính theo km đường bộ, có thể khám phá các vườn cây ăn trái và một số cơ sở sản xuất cây giống tại các xã như: Tân Thiềng 36 km, (qua cầu Cái Mơn lớn khoảng 1 km, quẹo theo hướng phải 05 km nữa là đến), xe dưới 30 chỗ đến được nơi đây. Tại Tân Thiềng có bến phà nhỏ sang huyện Mang Thít tỉnh Vĩnh Long. Hay đến xã Long Thới 34 km; xã Hòa Nghĩa 38 km (02 xã này nằm cặp trên QL 57), xe 30 – 50 chỗ đến được. Sau đó đến thị trấn Chợ Lách khoảng 40 km; lên xã Sơn Định 42 km. Hoặc từ thành phố Bến Tre đến xã Vĩnh Hòa, xã Phú Sơn khoảng 18 km lộ trình đi như sau: qua cầu Hàm Luông, đến ngã tư đèn đỏ đèn xanh, rẽ phải qua đường tỉnh 882, đến vòng xoay ngã ba lên trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc tại xã Phước Mỹ Trung (Ba Vát), rẽ sang hướng phải lên xã Vĩnh Hòa và Phú Sơn, 02 xã này đi xe dưới 16 chỗ thuận tiện nhất.


    Nếu đến Chợ Lách bằng đường thủy, nhìn trên bản đồ từ Tiền Giang qua thì theo sông Tiền, lên khúc uốn sông Hàm Luông, quẹo vào vàm kênh Lách là đến trung tâm huyện. Từ Vĩnh Long đi đường bộ hay đường thủy đến Chợ Lách là dễ dàng nhất.


    Tàu, thuyền xuôi ngược trên kênh Lách đi Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền Tây và ngược lại.

    161007_52.jpg


    Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer