Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Thông tin giới thiệu

Thông tin giới thiệu
Thứ 7, Ngày 08/11/2014, 00:00
Buổi đầu khai phá - xây dựng
08/11/2014
Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm".

Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm" (1). Trên đất Bến Tre, việc khai khẩn ruộng vườn của cư dân tại chỗ – người Khmer – chỉ tập trung chủ yếu trên các giồng đất cao như Sóc Sãi, giồng Ông Giang, giồng Nâu, ở cù lao Bảo, giồng Văn, giồng Võ, Đa Phước, An Thạnh, Ba Vát ở Cù Lao Minh.

Những vùng đất thấp khác hầu như đều là rừng rậm hoang vu, như tác giả Gia Định thành thông chí đã mô tả: “Phía Nam trấn (Định Tường) một dặm, trước kia là rừng hoang làm hang cho hùm beo ở" (2). Cho đến những năm cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, theo Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho, vùng cù lao An Hóa vẫn còn cọp và dọc theo sông lớn có nhiều khỉ (3). Nhưng cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ nói chung, kể từ thế kỷ XVII trở đi, bộ mặt vùng đất Bến Tre bắt đầu biến đổi mạnh khi có sự xuất hiện một lớp dân cư mới – lưu dân người Việt và lưu dân người Hoa.

Vùng đất Bến Tre được xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII, nhưng lưu dân người Việt đã đến đây ở từ trước đó khá lâu. Có thể coi đó là một đặc điểm chung ở nhiều vùng đất khác ở Nam bộ, Jules Sien đã nhận xét rất đúng rằng: “Trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam, người Việt đã lập ở đó những tổ chức. Những nhóm người di cư đã xây dựng làng xóm, hay tới ở chung với người Cao Miên" (4).

Những lưu dân người Việt đến vùng Bến Tre trong những năm cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII hầu hết là những người từ các tỉnh miền Trung. Họ gồm nhiều thành phần khác nhau, nhưng đông đảo nhất vẫn là những nông dân nghèo khổ lại phải gánh chịu nạn chiến tranh phong kiến liên miên giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong. Họ buộc phải rời bỏ quê hương đi tìm đất sống. Thành phần đông đảo thứ hai là những người trốn lính và lính trốn, những tù nhân bị lưu đày viễn xứ. Ngoài những thành phần đông đảo kể trên, còn có một số người có tiềm lực kinh tế, có kinh nghiệm sản xuất, những người có óc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Thuận Quảng – những người mà Lê Quý Đôn gọi là "dân có vật lực" – theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn, họ muốn thử thời vận, làm giàu, vào đây để mở rộng việc kinh doanh tạo nên sản nghiệp mới.

Trong những lưu dân người Việt từ các tỉnh miền Trung đến đất Bến Tre, có một số lớn đi thẳng từ quê hương của họ đến đây theo đường biển bằng phương tiện ghe bầu. Trong các thế kỷ XVII, XVIII, đường bộ từ miền Thuận Quảng vào đất Nam Kỳ còn rất khó khăn, nguy hiểm. Một số khác đã vào vùng Biên Hòa, Bến Nghé, Vũng Gù trước đó, nhưng vì chưa tìm được những điều kiện thuận lợi để bám trụ, nên phải tiếp tục đi tới và hội tụ về đất Bến Tre. Số người này có thể đã tới đây bằng cả hai cách, hoặc di chuyển theo đường bộ, hoặc theo đường thủy.

Cũng như các vùng đất khác trên đất Đồng Nai – Gia Định, những lưu dân người Việt đến Bến Tre theo cách thức: hoặc lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình, hoặc họp lại thành nhóm gồm những người bà con thân thuộc hay làng xóm láng giềng, hoặc một số người đi trước tìm chỗ cư trú, làm ăn rồi quay về đưa gia đình, bà con thân thuộc, hàng xóm láng giềng vào tiếp. Nếu như các cuộc di chuyển bằng đường thủy có thể đi một mạch, thì những cuộc di chuyển bằng đường bộ thường diễn ra từng chặng.

{mospagebreak}Những người đến bằng đường biển đã theo cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông vào định cư trước tiên ở những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn.

Ngoài các dải đất ven sông, những người mới đến cũng đã chọn các khu đất giồng để định cư và khai phá như Ba Vát, Thom, Giồng Luông, Đa Phước (ở cù lao Minh), Tiên Long, Tiên Thủy, An Hội, Mỹ Lồng, Cái Bông (ở cù lao Bảo), vì môi trường tự nhiên ở đây tương đối thuận lợi so với nơi khác, đất tốt, không bị lầy lội.

{mospagebreak}Cùng với lưu dân người Việt, vào cuối thể kỷ XVII, trên đất Bến Tre, ít nhất là cù lao An Hóa, còn có số lưu dân người Hoa thuộc nhóm Dương Ngạn Địch cư trú. Nhóm này cùng với nhóm Trần Thượng Xuyên (khoảng 3.000 người) là bộ phận quân nhà Minh ở vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, bất phục triều đình Mãn Thanh chạy sang Việt xin tỵ nạn, được chúa Nguyễn an sáp vào đất Đồng Nai - Gia định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, còn nhóm Dương Ngạn Địch thì đến định cư ở Mỹ Tho. Trong nhóm thứ hai này, chắc chắn đã có một số sang cư trú ở cù lao An Hóa, nhất là vùng đối diện với Mỹ Tho, ở các ấp ven sông Ba Lai thuộc xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành ngày nay. Họ không lập xóm ấp riêng, mà ở chung với người Việt, về sau trở thành người Minh Hương, rồi trải qua nhiều đời thành dân bản địa (trích Lịch sử xã Phước Thạnh).

Với nhiều đợt chuyển cư liên tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII và đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Bến Tre đã có đông người đến ở. Chính vì vậy, năm 1759, chính quyền họ Nguyễn (chúa Nguyễn) bắt đầu ban bố lệnh lập làng ở đây. Đến năm 1779, khi Nguyễn Ánh chia lại địa giới hành chính và tổ chức lại việc cai trị phủ Gia Định – tức Nam Kỳ nói chung – vùng Bến Tre được đặt thành một tổng – tổng Tân An thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Tuy gọi là tổng nhưng diện tích của nó rất rộng, gồm cả cù lao Bảo và cù lao Minh.

Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các thôn xã đã phát triển rộng khắp từ vùng ven biển đến phía thượng nguồn của hai cù lao.

Đến vùng đất mới, những lưu dân phải bắt tay vào việc mưu tìm cách sống. Nhưng ngoài sức lao động của đôi bàn tay, họ thiếu thốn mọi thứ: phương tiện, vốn liếng, giống má, trâu bò... Cho nên ban đầu, họ chỉ có khả năng khai phá, trồng trọt trên những diện tích nhỏ bé, hoặc đi khai thác những nguồn lợi thiên nhiên sẵn có, như vào rừng lấy gỗ, mây, dầu rái, mật và sáp ong, than củi, săn bắt thú để lấy thịt, sừng, da, đánh bắt tôm cá ở sông rạch... nhằm giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Tất nhiên cũng không loại trừ việc cày thuê cuốc mướn cho những gia đình khá giả. Nhưng dù sao ở nơi đất mới – như Trịnh Hoài Đức nhận xét: “Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo đói rét" (5) – cuộc sống của họ chắc chắn có nhiều phần dễ dàng hơn nơi đất hẹp người đông, người khôn của khó ở quê hương cũ. Việc khai phá trong buổi đầu này thường diễn ra dưới hình thức tập thể, từng nhóm, từng cụm, có thể gồm những gia đình có họ hàng thân thuộc, hoặc đồng hương đồng xứ, hoặc cùng chung tín ngưỡng, cùng trong họ đạo. Vùng đất mới lúc này còn rất hoang vu, xa lạ, đầy thú dữ, rắn rết, đến nỗi "con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh" như người ta thường nhắc, cho nên chỉ có dựa vào nhau, cố kết lại với nhau, thì mới tạo được một sức mạnh để đối phó với những nguy hiểm, những biến cố bất kỳ có thể xảy ra.

Trong khi đó, “những dân có vật lực” bao gồm địa chủ, phú nông, nhà nông, những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, số này chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng họ sẵn vốn liếng, phương tiện, có kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích, đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp.

Với bàn tay, khối óc và sự lao động cần mẫn, sáng tạo của những lớp lưu dân, bản đồ khai phá trên đất Bến Tre được mở rộng dần trong các thế kỷ XVII, XVIII. Vùng Ba Tri là một trong số nơi được khai khẩn sớm nhất, vì nơi này là điểm dừng chân đầu tiên của các lưu dân từ miền Trung đi vào theo đường biển. Ba Tri có nhiều giồng đất cao hình cánh cung, xen kẽ những cánh đồng trũng. Ở chân giồng, việc canh tác lúa vào mùa mưa khá thuận lợi, còn trên mặt đất giồng thì có thể trồng các thứ hoa màu như sắn, khoai, đậu, bắp, dưa, bí và một số loại cây cần thiết cho các ngành thủ công nghiệp như bông, vải, gai, dâu tằm... Đến đầu thế kỷ XVIII, các làng, các trại vùng này được thiết lập. Những nơi đủ dân thì lập làng, ấp, nơi nào ít dân thì họp thành trại. Một số tên trại còn lưu truyền đến ngày nay như Ba Tri cá trại, Cái Da trại... Trong số những lưu dân người Việt đến khai phá đất đai đầu tiên trong vùng, có cả nhóm tín đồ Thiên chúa giáo. Họ đã đến định cư trên giồng Cái Bông và về sau càng đông thêm. Năm 1730, họ đạo này lập ra nhà thờ Cái Bông.

Một vùng khác được khai phá cùng thời với Ba Tri là khu vực Cái Mơn, Cái Nhum nằm ở ven sông Hàm Luông, dọc theo các con rạch Cái Mơn, Cái Nhum. Số lưu dân này phần lớn theo đạo Thiên Chúa. Năm 1731, một họ đạo khác ra đời ở cù lao Minh, đó là họ đạo Cái Nhum.

Ngoài ra, trên cù lao An Hóa, vùng đối diện với Mỹ Tho có thể đã được khai phá từ khi nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch đến định cư trong vùng và lập nên phố chợ Mỹ Tho từ năm 1679.

Trong thế kỷ XVIII, vùng được khai phá mạnh là vùng Ba Vát (sách Gia Định thành thông chí gọi là Ba Việt) trên cù lao Minh trải rộng từ Ba Vát đến Mỏ Cày, An Định và một số giồng dọc sông Cổ Chiên như giồng Phú Hựu, giồng Nâu, giồng Buồm, giồng Ao. Vùng Ba Vát đã là vùng trù phú vào bậc nhất của Bến Tre lúc ấy. Đến năm 1777, khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh thì vùng này mới bị suy tàn dần.

Trên cù lao Minh vùng dọc theo sông Hàm Luông như Vĩnh Thành (Cái Mơn) thuộc huyện Chợ Lách cũng được khai phá trong thời kỳ này. Ở đây, từ rất sớm đã có nhiều vườn cây ăn trái khá sầm uất.

Được khai phá vào thế kỷ XVIII, còn có vùng ven rạch Sóc Sải, ven rạch Mỹ Lung (sông Bến Tre) trên cù lao Bảo. Sang đầu thế kỷ XIX, nơi đây đã mọc lên những khu vườn cây ăn trái khá sung túc. Hồi này, vùng Xẻo Sâu, Mỹ Lồng đã nổi tiếng là vùng trồng nhiều cau nhất ở vùng Nam Kỳ Lục tỉnh, được nhắc đến trong ca dao.

{mospagebreak}Trong thế kỷ XVIII, việc khai phá trên cù lao An Hóa lại được mở rộng tới các khu đất ven sông Mỹ Tho và sông Ba Lai, cũng như vùng ven rạch Bình Đại. Như vậy là trong thế kỷ này, vùng đất mà ngày nay gọi là Bến Tre diện tích được khai phá đã khá rộng.

Bước sang thế kỷ XIX, công cuộc khai hoang, sản xuất ở Bến Tre càng được mở rộng hơn, vì đi đôi với việc tự khai phá của nhân dân, chính quyền nhà Nguyễn cũng đứng ra tổ chức việc khai hoang, trồng trọt dưới hình thức đồn điền hoặc khai hoang, lập ấp.

Thực ra, từ cuối thế kỷ XVIII (1790), Nguyễn Ánh đã cho thi hành chính sách dùng một bộ phận binh lính và chiêu mộ dân nghèo, tiến hành khai hoang lập đồn điền, nhưng vì chiến tranh còn tiếp diễn nên chủ trương này chưa được mở rộng. Đến khi dành được chính quyền trên toàn quốc (1802), Nguyễn Ánh cho đẩy mạnh việc thành lập các đồn điền – lúc đó gọi là “trại đồn điền” – trên khắp bốn phủ thuộc Gia Định thành (tức toàn Nam Kỳ): Tân Bình, Phước Long, Kiến An, Định Viễn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn, số trại đồn điền đã được lập ra đều khắp. Năm 1814, theo thống kê riêng, số dân trong các trại đồn điền – chưa kể số binh lính - đã lên đến 9.876 người. Năm 1822, con số này là 9.703 người. Riêng tại phủ Định Viễn (trong đó có huyện Tân An, tức Bến Tre ngày nay) có tất cả 14 hiệu, gồm 142 trại đồn điền với 6.174 người. Rất có thể một phần trong số 142 trại này đã được lập nên trên vùng đất Bến Tre.

Năm 1853, triều đình nhà Nguyễn lại giao cho Nguyễn Tri Phương nhiệm vụ mộ dân lập đồn điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ dưới hình thức cơ, đội. Một năm sau (1854), theo báo cáo của Nguyễn Tri Phương, có 21 cơ đã lập xong và 4 cơ đang hình thành (6). Riêng tỉnh Vĩnh Long, có 7 cơ. Đất Bến Tre lúc bấy giờ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh Long gồm 4 huyện Bảo Hựu, Bảo An, (cù lao Bảo) Tân Minh, Duy Minh (cù lao Minh). Ở các huyện này, số dân và số diện tích khai phá được như sau (7) :

Bảo Hựu

346 người, khai phá được

1.478 mẫu

Bảo An

26 người, "

122 mẫu

Tân Minh

371 người "

1.390 mẫu

Duy Minh

110 người, "

651 mẫu

 

 

Như vậy, thời gian này đã có từ 2 đến 3 trong số 7 cơ đồn điền của tỉnh Vĩnh Long được lập ra trên đất Bến Tre, với 853 người dân và diện tích khai phá được là 3.640 mẫu.

{mospagebreak}Điều đáng tiếc là không có tài liệu nào ghi rõ địa điểm của các cơ được lập ra trên đất Bến Tre. Chỉ biết rằng, tại Hương Điểm (huyện Giồng Trôm nay) còn một số địa danh như Đội Ba, Đội Năm, Đội Bảy, các nơi này có thể là địa bàn của các đội đồn điền trước kia. (8)

Bên trên là việc lập đồn điền. Còn việc mộ dân khai hoang lập ấp thì triều đình nhà Nguyễn vừa giao trách nhiệm cho quan lại địa phương, vừa khuyến khích những người có khả năng, có vốn liếng, phương tiện thực hiện. Chủ trương này được triển khai khá mạnh trên toàn Nam Kỳ lục tỉnh, trong đó có tỉnh Vĩnh Long bao gồm Bến Tre. Trong số 124 ấp được lập ở 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1854 có 60 ấp nằm ở tỉnh Vĩnh Long. Các ấp này thường được thành lập ở những nơi mà việc khai hoang không mấy khó khăn và không nằm quá xa các làng mạc có trước. Vì thế, tuy ta không biết được trong số 60 ấp đó, có bao nhiêu ấp nằm trên đất Bến Tre và ở những vị trí cụ thể nào, nhưng có thể tin chắc là có nhiều ấp được lập ra ở đây.

Đến năm 1856, quan tỉnh Vĩnh Long lại mộ được 690 người, lập thêm 41 ấp nữa, nhưng tài liệu này cũng không nói rõ số ấp được lập trên hai cù lao Bảo và Minh là bao nhiêu. Chính vì việc khai phá được mở rộng dẫn đến việc hình thành thêm nhiều thôn ấp, cho nên vào năm 1808, tổng Tân An (tức Bến Tre ngày nay) được nâng lên thành huyện, gồm hai tổng: tổng An Bảo nằm trên cù lao Bảo có 63 thôn và tổng Tân Minh nằm trên cù lao Minh có 72 thôn. Đến đời Minh Mạng (năm 1823), huyện Tân An lại được nâng lên thành phủ, mang tên phủ Hoằng An. Các tổng Tân Minh, An Bảo được nâng lên thành huyện Tân Minh và huyện Bảo An.

Sự mở rộng công cuộc khai phá luôn luôn gắn liền với việc dân số gia tăng, dân số càng đông tất yếu dẫn đến qui mô khai phá càng được mở rộng. Theo những số liệu thống kê vào đầu thời Pháp thuộc, thì vào năm 1859, Bến Tre đã có khoảng 110.000 dân (9). Đến năm 1869, khi vùng đất Bến Tre đã lọt vào tay quân Pháp, thì dân số vùng này đã lên tới 156.704 người (9).

Như vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Bến Tre đã là một trong những nơi được khai phá nhiều nhất trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ XIX, trước khi Bến Tre lọt vào tay quân Pháp, diện tích đất trồng trọt trên hai cù lao Bảo và Minh đã lên đến 88.522 mẫu, tức khoảng 44.200 ha.

Tư liệu lịch sử cho biết, trên những đất đai đã khai phá được, người nông dân - lưu dân Bến Tre đã trồng nhiều loại cây khác nhau tùy theo điều kiện đất đai mỗi nơi, trong đó cây lúa là loại cây trồng chính. Thoạt tiên, họ làm ruộng lúa ở chân các giồng nơi cư trú, rồi về sau theo đà gia tăng dân số, họ mở rộng diện tích canh tác lúa đến cả những cánh đồng thấp trũng, sình lầy. Ruộng ở nơi cao như ven các giồng thường được gọi là "sơn điền" (ruộng núi), còn ruộng ở nơi trũng thấp, ngập nước vào mùa mưa thì được gọi là "thảo điền" (ruộng cỏ). Trên hai loại chủ yếu đó người nông dân - lưu dân Bến Tre, cũng giống như lưu dân ở nhiều vùng khác thuộc Đồng Nai – Gia Định, đã áp dụng những kỹ thuật canh tác khác nhau.

Cau Mỹ Lồng khá nổi tiếng, được Trịnh Hoài Đức nhắc đến: “Có những vườn cau đứng rậm như rừng, quả lớn lại sai" (10). Trong khi đó, vùng Cái Mơn lại tập trung nhiều vườn cây ăn quả. Các nhà truyền giáo đã đưa vào đây nhiều giống cây ăn trái mới lạ, gốc ở một số nước Đông Nam Á như chà là, dừa lùn, sabôchê, chôm chôm...

Cùng với việc khai phá đất đai lập thành ruộng vườn, lưu dân ở Bến Tre cũng phát triển nhiều nghề thủ công như đan lát, dệt chiếu, đóng ghe thuyền, đan lưới, làm muối nhằm đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Trong số các ngành nghề thủ công ở đây, ngành dệt vải, dệt lụa, dệt chiếu, chế biến thực phẩm phát triển nhất. Từ đầu thế kỷ XIX, Ba Tri đã là nơi nổi tiếng về nghề dệt lụa. Một số địa phương khác như Mỹ Lồng, Sơn Đốc, Châu Bình thì nổi danh với nghề chế biến thực phẩm: "Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, mắm còng Châu Bình...".

Sự phát triển mạnh mẽ việc khai hoang sản xuất nông nghiệp và một số ngành nghề thủ công đã đưa tới sự ra đời một mạng lưới chợ búa khá sầm uất làm nơi trao đổi lương thực, thực phẩm, các mặt hàng thủ công, hàng tiêu dùng giữa các cư dân trong vùng. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, đến giữa thế kỷ XIX, ở Bến Tre đã có 10 chợ lớn, khá sầm uất, phân bố như sau:

- Huyện Tân Minh có chợ Ba Vát.
- Huyện Duy Minh có chợ Hội An.
- Huyện Bảo Hựu có các chợ Sóc Sãi, An Đức, Mỹ Lồng, Lương Điền.
- Huyện Bảo An có các chợ Bình Hòa, Hưng Thạnh, Hưng Nhượng, An Bình Đông, Vĩnh Đức(11).

Vậy là từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, trong khoảng hai thế kỷ rưỡi - một thời gian lịch sử không dài lắm - mà bộ mặt vùng đất Bến Tre đã thay đổi hẳn: từ một vùng đất hoang vu, xứ sở của rừng rậm, sình lầy, thú dữ, rắn rết, cá sấu... đã trở thành một vùng ruộng vườn tươi tốt. Đó là kết quả của bao mồ hôi, công sức, cả máu và nước mắt của những lưu dân buổi đầu và các thế hệ con cháu tiếp sau của họ. Cho nên chính họ mới là người chủ thực sự đã kiến tạo nên vùng đất trù phú này.

{mospagebreak}Tuy nhiên, một điều nghịch lý đã xảy ra là không phải những người khai phá được tận hưởng toàn bộ thành quả lao động ấy. Ngay những mảnh đất nhỏ nhoi mà họ khai phá được bằng sức đôi bàn tay của mình cũng không phải vĩnh viễn thuộc về họ. Bởi vì như trên đã nói, để mở rộng nhanh chóng công cuộc khẩn hoang ở vùng đất mới, nhằm tạo ra tiềm lực kinh tế vững mạnh đủ sức đối chọi với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã khuyến khích những người "dân có vật lực" miền Thuận Quảng vào Nam mở mang công việc làm ăn. Những người "dân có vật lực" này sẵn vốn liếng và kinh nghiệm tổ chức, đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, lập thành lực lượng lao động lớn.

Không những thế, theo Lê Quý Đôn, họ còn "thu cả con trai, con gái người Mọi (Thượng) ở các đầu nguồn, đem về làm nô tì, người đen tóc quăn là người Mọi thực giá tiền 20 quan, hơi trắng giá chỉ 10 quan, cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người cày ruộng, làm nghề nghiệp" (12). Nhờ lực lượng đông đảo ấy, những người “dân có vật lực" đã nhanh chóng khai phá được những diện tích đất đai rộng lớn, trở thành những điền chủ nhiều thế lực. Trong sách Phủ biên tạp lục , Lê Quý Đôn cho biết: "Người giàu ở các địa phương (chỉ vùng Đồng Nai - Gia Định - BS) hoặc 40, 50 nhà, hoặc 20, 30 nhà, mỗi nhà điền nô hoặc đến 50, 60 người, trâu bò hoặc đến 300, 400 con, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 11, tháng 12, thường giã thành gạo, bán lầy tiền để ăn tết chạp... Bình thường chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa tĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp” (13). Số điền chủ giàu có này trở thành chỗ dựa xã hội của chế độ phong kiến họ Nguyễn. Họ không chỉ giữ vai trò quan trọng về kinh tế, mà còn nắm giữ cả quyền lực chính trị ở địa phương. Chính sách của nhà Nguyễn lại tạo thêm những thuận lợi cho tầng lớp điền chủ nói trên cùng với bọn chức việc làng, xã, tổng, huyện kiêm tính ruộng đất công và ruộng đất của nông dân nghèo, mở rộng điền sản, phát triển thêm một bước chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ.

Thiệu Trị khi lên làm vua, đã ban hành chỉ dụ cho phép số phú hào mộ dân khẩn đất và được quyền ưu tiên chiếm giữ những ruộng đất tốt nhất, lại còn ban thưởng tiền bạc, chức tước: "Ai mộ được 5 xuất đinh, khẩn được 50 mẫu trở lên được thưởng 20 quan, mộ được 10 suất đinh, khẩn được 100 mẫu, được thưởng 40 quan... Ngoài ra còn được thưởng hàm tòng cửu phẩm và cho làm lý trưởng. Tùy vào số ruộng và số đinh, việc tặng thưởng có thể nâng lên đến hàm chánh bát phẩm và bổ thụ chánh tổng" (14).

Được sự khuyến khích nâng đỡ của chính quyền họ Nguyễn, tầng lớp điền chủ ở Đồng Nai – Gia Định nói chung, Bến Tre nói riêng, tha hồ cấu kết với bọn quan lại địa phương, đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng vườn của những người nông dân nghèo khổ, cô thế. Nhận xét của Trương Đăng Quế khi ông được Minh Mạng biệt phái vào Nam tiến hành việc đo đạc ruộng đất để lập địa bạ (năm 1836) đã nói lên mức độ nghiêm trọng của tình hình này: "Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không đất cắm dùi. Có kẻ ở xã này chiếm ruộng đất ở xã khác, mà người xã sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy".

Thủ đoạn kiêm tính của điền chủ và cường hào ở đây không chỉ đụng tới những mảnh đất nhỏ bé của nông dân nghèo, mà còn bao chiếm cả ruộng công làng xã - loại ruộng đất dùng để tạm cấp cho dân làng theo chính sách "quân điền" dù rằng ở Đồng Nai – Gia Định kể cả Bến Tre, số lượng đất này chiếm tỉ lệ ít ỏi. Báo cáo của tỉnh thành Gia Định gửi về triều năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ghi rõ: "Trong hạt không có ruộng công, các nhà giàu bao chiếm ruộng đất từ hàng trăm năm, hàng ngàn mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy" (15).

Ở hai huyện Bảo An và Tân Minh (tức cù lao Bảo và cù lao Minh), vào những thập kỷ đầu thế kỷ XIX, đã có 21 điền chủ có số ruộng đất trên 100 mẫu, trong khi đó số có từ 30 mẫu trở lên có 705 người.

Còn về phía người nông dân nghèo, thì ngoài việc bị bọn điền chủ cướp đoạt ruộng đất, sau đó với thân phận tá điền (16), họ cày thuê cuốc mướn để kiếm sống, lại còn bị Nhà nước phong kiến bòn rút thông qua thuế khóa hà khắc. Chính quyền phong kiến đặt ra hàng loạt thứ thuế khác nhau: thuế ruộng, thuế đinh, thuế tàu thuyền, thuế sản vật... Chỉ riêng thuế sản vật, người dân Đồng Nai - Gia Định trong đó có Bến Tre, thường phải nộp từ thuế vườn dừa, vườn cau đến thuế các loại lâm sản khai thác được như gỗ, sáp ong, trầm hương... Riêng khoản đóng góp này đã khá nặng như Lê Quý Đôn nhận xét: “Hết thảy các sản vật đều lấy ở xã, thôn, phường, khi thì nộp thuế, khi thì trưng mua. Những phiền phí về sự đốc thúc, lao động, vận tải làm cho dân địa phương không thể nào kham nổi" (17). Thêm vào đó, người nông dân còn bị bọn quan lại các cấp nhũng nhiễu đủ cách, nào là phụ thu lạm bổ, nào là đòi hối lộ hoặc bắt phục dịch việc riêng. Ngoài thuế khóa hà khắc, chính quyền phong kiến họ Nguyễn đôi khi còn cướp đoạt trắng trợn ruộng đất của dân – trước hết là của nông dân nghèo, những người không chút thế lực - để ban cấp cho những kẻ có công trạng trong việc khôi phục và củng cố quyền thống trị của họ.

Chính sách áp bức, bóc lột của chính quyền phong kiến và tầng lớp điền chủ đã làm cho cuộc sống của người nông dân lao động ở Đồng Nai – Gia Định, trong đó có Bến Tre, nhanh chóng bị bần cùng hóa, bị phá sản, khiến ở một nơi nổi tiếng màu mỡ và trù phú, số "cùng dân" lại ngày càng tăng lên. Tình hình nghiêm trọng đến nỗi năm Gia Long thứ 18 (1819), đám quan lại ở Gia Định đã phải đề nghị lên triều đình khi lập "Sổ cùng dân" (tức là sổ thống kê số dân nghèo khổ nhất), không nên theo lệ "thập đinh nhất cùng" – tức là tính bình quân cứ 10 người dân có một người cùng khổ – mà phải cho kê khai cụ thể thì mới nắm được số liệu chính xác. Kết quả là trong vòng 1 năm trên toàn vùng Đồng Nai – Gia Định (gồm cả Bến Tre) đã bổ sung thêm được 16.155 người. Nếu so sánh với con số "cùng dân" này với tổng số dân đinh ở Gia Định vào thời điểm đó (khoảng 80.000 người) ta sẽ thấy rõ tình trạng phân hóa giai cấp ở đây diễn ra nghiêm trọng đến mức nào.

{mospagebreak}Bị phá sản, phải lâm vào cảnh bần cùng, một bộ phận nông dân nghèo khó lại phải bỏ làng, bỏ quê một lần nữa để đi tìm con đường sống ở một địa phương khác, có khi là để trốn nợ. Thế là tình trạng nông dân "tái lưu tán" lại diễn ra, và mỗi ngày một trầm trọng đến mức năm 1789, sau khi lấy lại Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các nơi chiêu dụ dân lưu tán trở về đất cũ làm ăn.

Như vậy, mâu thuẫn giữa một bên là tập đoàn thống trị phong kiến cùng bọn điền chủ và một bên là nông dân nghèo trở thành mâu thuẫn cơ bản gay gắt nhất của xã hội vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung, đất Bến Tre nói riêng, nó chỉ chờ có cơ hội thuận tiện là bùng nổ. Và cơ hội đó đã đến với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn.

Mùa xuân năm 1776, sau 5 năm đánh bại phong kiến họ Nguyễn ở vùng Thuận Quảng, nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục kéo quân vào tận Gia Định, thừa thắng đánh chiếm luôn cả 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Lần đầu tiên, lá cờ chiến thắng của những người nông dân khởi nghĩa cắm trên đất Gia Định. Cuộc tiến quân thắng lợi của nghĩa quân Tây Sơn vào đất Gia Định lần này chắc chắn không thể thiếu được một yếu tố rất quan trọng là sự ủng hộ và hưởng ứng nồng nhiệt của người nông nghèo Gia Định, trong đó có người nông dân Bến Tre, những người đã từ lâu nung nấu niềm bất mãn đối với chính quyền phong kiến họ Nguyễn.

Tiếp sau lần tiến quân đầu tiên năm 1776, nghĩa quân Tây Sơn còn liên tiếp 4 lần tiến quân vào Gia Định (tính đến năm 1784), và lần nào cũng được nông dân ở đây hưởng ứng và tích cực giúp đỡ hoặc trực tiếp tham gia.

Sự hưởng ứng và ủng hộ của nông dân Gia Định, đối với nghĩa quân Tây Sơn được thể hiện rõ nét nhất trong trận tiêu diệt quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút, năm 1785. Trong trận này, các xã Tân Lợi, Phú Long, Phú Túc, Phú Đức nằm ven bờ nam sông Tiền (nay thuộc huyện Châu Thành) đã được nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ chọn làm một trong những địa bàn ém quân cho đòn đánh vu hồi hiểm hóc của trận quyết chiến chiến lược, nhận chìm toàn bộ chiến thuyền với gần 4 vạn quân Xiêm và hàng ngàn quân của Nguyễn Ánh. Ngoài ra, nhân dân vùng ven sông Ba Lai còn ủng hộ, giúp đỡ quân của Trương Văn Đa chống quân Xiêm và quân Nguyễn có hiệu quả.

Chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, trong đó có sự đóng góp của người dân Bến Tre, có ý nghĩa hết sức to lớn, đến nỗi chính sử của nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận rằng sau trận đánh này "người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Cùng với nhân dân Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, nhân dân Bến Tre đã góp phần vinh dự của mình trong chiến thắng lịch sử này, làm thất bại hoàn toàn âm mưu xâm lược nham hiểm của phong kiến Xiêm núp dưới chiêu bài giúp Nguyễn Ánh.

Ngoài việc hưởng ứng và giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn, nông dân Bến Tre cũng như nông dân toàn vùng Đồng Nai – Gia Định, còn bộc lộ sự bất mãn của mình đối với chính quyền họ Nguyễn qua việc tham gia tích cực vào cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi vào năm 1833. Bất bình về thái độ đối xử của triều đình nhà Nguyễn mà tiêu biểu là Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt cùng tay chân bộ hạ của họ Lê sau khi ông này qua đời, Lê Văn Khôi – con nuôi của Lê Văn Duyệt - đã đứng ra tập hợp những người bất mãn mà phần lớn là binh lính trong các đơn vị quân đội gọi là "hồi lương" và "bắc thuận" nổi dậy chiếm thành Phiên An, chống lại triều đình. Như vậy, cuộc nổi dậy này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ của tập đoàn phong kiến, nhưng vì nó chĩa mũi nhọn vào chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cho nên lập tức nó được sự hưởng ứng rộng rãi và nhiệt tình của đa số nông dân nghèo vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung và Bến Tre nói riêng, những người mà từ lâu ôm ấp trong lòng khát vọng mong muốn có sự đổi thay xã hội để cuộc sống được dễ thở hơn. Tình hình đó khiến cho chỉ trong vòng 1 tháng, lực lượng nổi dậy do Lê Văn Khôi cầm đầu đã làm chủ được cả sáu tỉnh Nam Kỳ, làm lung lay trong một thời gian các cơ đồ thống trị vốn đã mục nát của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn.

Sự hưởng ứng mạnh mẽ và tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nghĩa quân Tây Sơn chống quân xâm lược Xiêm và bè lũ bán nước Nguyễn Ánh và cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn đã nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân Bến Tre, mà trước hết là nông dân. Tinh thần chống áp bức bóc lột, chống ngoại xâm bảo vệ quyền sống, bảo vệ quê hương đất nước diễn ra khá mạnh mẽ ngay trong quá trình chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn khai phá đất đai, sản xuất để tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới.

Chú thích:

(1) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 243.
(2) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản chữ Hán, tờ 31b.
(3) Monographie de la province de Mỹ Tho, Sđd.
(4) J.Sien, Géographie universele, Dẫn theo Ngọc Dương, Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, S, 1960, tr.45.
(5) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.4
(6) QSQTN, Đại nam thực lục, tập 28, Nxb Khoa học, H., tr.47
(7) Lê Thọ Xuân, Xin cung hiến một ít tài liệu về cụ Nguyễn Trung Trực, tập san Sử địa, số 12 (1968), tr. 58
(8) Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr. 35
(9) Renseidnements sur l’organisation de la province de Vĩnh Long d’après Les cahiers des villages et les documents trouvés dans les archives, 1867, Tlđd.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.78
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tr. 134-140
(12) Lê Quý Đôn, Sđd, tr. 135
(13) Lê Quý Đôn, Sđd, tr.345
(14) QSQTN, Đại Nam thực lục, Sđd, tập 23, tr. 288
(15) Mức tô mà tá điền phải đóng cho điền chủ thường là từ 60-70% sản lượng thu hoạch
(16) Lê Quý Đôn, Sđd, tr 216-217
(17) QSQTN, Minh Mệnh chính yếu, tập 3, Sđd, tr 90 

Lượt người xem:   1535
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer