Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Bến Tre có một hệ thống sông rạch chằng chịt mang nước ngọt từ trên thượng nguồn ra biển đồng thời lại chịu ảnh hưởng của thủy triều, nên các quần thể thực vật ven sông rạch thể hiện rõ nét ba vùng sinh thái tiêu biểu: vùng mặn, vùng lợ và vùng ngọt. 
 
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường: 
Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng. 
 
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá. 
 
Sông Cổ Chiên (18/01/2007)
Sông Cổ Chiên nằm ở phía nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc điểm tương tự như sông Mỹ Tho. Về tên Cổ Chiên cũng có thuyết cho rằng tên sông có liên quan đến một sự kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII 
 
Sông Hàm Luông (18/01/2007)
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen. 
 
Sông Ba Lai (18/01/2007)
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi... 
 
Sông Mỹ Tho (18/01/2007)
Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng.  
 
Vấn đề mặn (18/01/2007)
Trong thủy văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.Mặn biến đổi theo thời gianBến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Sông Hàm LuôngSông Hàm Luông
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen.

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh, dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 – 15 m, rộng trung bình từ 1.200 đến 1.500 m, đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3.000 m. Chính vì thế, sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh, góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện: Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như: cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Lá, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi v.v...

 Hệ thống sông Hàm Luông

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

K. Xáng

Ranh giới xã Sơn Định và thị trấn Chợ Lách, nối sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên

7,5 km

R. Lách

Từ thị trấn Chợ Lách đến xã Long Thới (H. Chợ Lách)

7,0 km

R. Sóc Sãi

Từ xã Tân Phú đến xã Tiên Thủy (H. Châu Thành)

10,0 km

R. Vĩnh Thành

Từ xã Vĩnh Thành qua xã Phú Sơn thông với rạch Cái Mơn (H. Chợ Lách)

10,0 km

R. Cái Mơn

Ranh giới giữa xã Vĩnh Thành và xã Tân Thiềng (H. Chợ Lách)

9,0 km

S. Cái Cấm

Ranh giới của 3 xã Thanh Tân, Thạnh Ngãi và Tân Thành Bình (H. Mỏ Cày)

11,0 km

S. Bến Tre

Từ xã Tân Hào (H. Giồng Trôm) qua xã Mỹ Thạnh An (thị xã Bến Tre nay là thành phố Bến Tre)

20,0 km

R. Mỏ Cày

Từ thị trấn Mỏ Cày đến xã Tân Thành Bình và xã Định Thủy

6,5 km

R. Cái Sơn

Từ xã Sơn Phú đến xã Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

7,5 km

R. Giồng Keo

Từ xã Thành An đến xã Hòa Lộc nối với R. Mỏ Cày

5,5 km

R. Thủ Cửu

Từ xã Long Mỹ đến xã Phước Long (H. Giồng Trôm)

6,0 km

K. Giồng Trôm

Từ thị trấn Giồng Trôm, đến xã Lương Hòa, nối với R. Ông Hương

8,0 km

R. Tài Phú

Ranh giới của 3 xã Thuận Điền, Lương Phú, Mỹ Thạnh (H. Giồng Trôm) đổ ra sông Bến Tre

6,0 km

R. Cái Mít

Từ xã Hưng Lễ đến xã Thạnh Phú Đông (H. Giồng Trôm), thông với K. Tắc

7,0 km

R. Tân Hương

Từ xã Hương Mỹ đến xã Minh Đức (H. Mỏ Cày)

5,0 km

K. Hương Điểm

Từ xã Tân Lợi Thạnh đến xã Hưng Nhượng (H. Giồng Trôm) đào năm 1885

5,0 km

R. Sơn Đốc

Từ xã Hưng Nhượng đến xã Hưng Lễ (H. Giồng Trôm), nối với K. Miễu Ông và K. Tắc

5,0 km

R. Giồng Luông

Từ xã Tân Phú đến xã Phú Khánh (H. Thạnh Phú)

6,0 km

R. Băng Cung

Từ xã Mỹ Hưng đến xã Giao Thạnh (H. Thạnh Phú) 2 đầu gặp sông Hàm Luông

21,0 km

R. Cái Bông

Từ xã Mỹ Chánh đến xã An Hiệp (H. Ba Tri)

13,0 km

R. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã An Đức, thông ra sông Hàm Luông

8,0 km

K. Ba Tri

Từ thị trấn Ba Tri đến xã Phú Ngãi, thông với K. Đồng Xuân

6,5 km

R. Bà Hiền

Từ xã Tân Thủy đến xã An Hòa Tây (H. Ba Tri)

8,0 km

Chú thích

(1)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

 
Đã ban hành
Ông GốcÔng Gốc
 

    Ông Gốc tên thật là Võ Hữu Vai, sinh năm 1815, là một nông dân miền Trung thuộc phủ Quy Nhơn (Bình Định), theo những đoàn người di dân bằng ghe bầu vào Nam dưới triều Tự Đức đến lập nghiệp ở vùng đất cạn sông Vàm Cỏ Đông (nay thuộc tỉnh Long An). Ông lấy vợ người địa phương họ Huỳnh, sau đó chuyển sang họ vợ thành Huỳnh Văn Vai. Năm 1862, khi phong trào chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ hy sinh, lực lượng kháng chiến dần dần tan rã, địch khủng bố, bắt bớ nhiều người, ông tìm cách chạy về miệt Bến Tre, Trà Vinh. Thuở ấy vùng đất An Hóa cũng như các cù lao Minh, cù lao Bảo, đất đai còn hoang vu, nhiều nơi là rừng rậm. Khi ghe ông đi qua trạm gác do quân Pháp đặt ở Giao Hòa, ông bị buộc phải trở lại vì không có giấy thông hành hợp pháp. Ông cãi lại chúng:

- Sông rạch của người Việt, thì người Việt có quyền tự do đi lại, sao các ông lại cấm?

Sau một hồi cãi vã, thấy chúng vẫn kiên quyết không thay đổi ý kiến, ông đành phải quay thuyền trở lại, vừa bực tức vừa căm giận. Bọn lính gác nghe ông chửi bèn dùng xuồng rượt theo, bắt ông lại để hỏi tội. Trên ghe chúng, chỉ có một thằng lính Tây và hai tên mã tà người Việt. Vốn là tay giỏi võ nghệ, ông chờ cho ghe chúng cặp sát ghe ông, bất ngờ ông đạp mạnh một cái, làm chiếc ghe chòng chành rồi bị lật úp. Mặc cho tên chủ và hai tên tớ ngoi ngóp dưới sông, ông dong buồm chạy thẳng về Mỹ Tho. Do giặc báo tin cho nhau, ông bị bọn chúng đón bắt và giam hơn một năm trời mới thả ra.

Lần thứ hai, ông quyết định trở lại vùng đất cù lao để tìm một chỗ định cư, lập nghiệp. Lần này, ông không đi theo ngã kênh Giao Hòa nữa mà chạy thuyền men bờ biển, đến cửa Ba Lai thì ngược dòng lên mãi. Đến chiều tối, ông dừng lại cơm nước và nghỉ qua đêm. Không ngờ đến gần sáng, nước thủy triều xuống, ghe ông bị một gốc cây đâm thủng và mắc ở đó. Ông nói với bà vợ cùng đi theo: "Chắc ông bà xui khiến như thế nào đây nên mới có chuyện này!"

Ông lên bờ đi quan sát cuộc đất chung quanh, thấy đất tốt, cây cối xanh tươi, địa thế cũng quang đãng, thuận tiện, nên quyết định dựng lều ở lại đây để khai phá, sinh sống. Sau một thời gian, thấy ông làm ăn khấm khá, nhà cửa, vườn tược khang trang, nhiều người kéo đến chặt cây, khẩn đất và làm ăn ngày một phát đạt, đông vui.

Trong những lúc quây quần bên đống lửa hay bên ấm nước chè ban đêm, câu chuyện về cái gốc cây đâm thủng ghe của người đến lập nghiệp đầu tiên thường được họ đem ra bàn luận, nhắc đi nhắc lại và thêu dệt thành một huyền thoại. Lâu ngày thành quen, bà con trong thôn xóm không còn gọi ông là Huỳnh Văn Vai nữa mà bằng cái tên dân dã "Ông Gốc", như để ghi nhớ một chuyện rủi ro mà trở thành may mắn, mở đầu cho một cuộc quy dân lập ấp.

Vùng đất này thuở ấy còn nhiều cọp và cá sấu. Ông Gốc vốn là một nông dân có sức khỏe, biết võ nghệ, đức tính gan dạ, cho nên trong thực tế ông trở thành một điểm tựa tinh thần của đồng bào khi phải đối phó với những bất trắc trong đời sống. Có lần, ông cùng bà con phát hiện một lối mòn dẫn sâu vào rừng. Ông lần theo và bắt gặp một con sấu đang đẻ. Ông đã dùng mác thong đâm chết con vật. Lối mòn do cá sấu đi lại, nước chảy lâu ngày thành con rạch, đồng bào ở đây gọi là rạch Sấu.

Cái tên "ông Gốc”, “rừng ông Gốc” ra đời trong hoàn cảnh như thế, và cho đến nay vẫn được truyền tụng như mẫu người thuộc thế hệ khai cơ lập nghiệp buổi ban đầu ở nơi đất cù lao này.

Đã ban hành
Đoàn Thúy BaĐoàn Thúy Ba

    Sinh năm 1930 trong một gia đình nông dân ở xã An Thới, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Năm 1947, thoát ly gia đình đi kháng chiến, lúc đầu công tác ở Huyện ủy Mỏ Cày, sau được cử đi học lớp y tá do Sở Y tế Nam Bộ mở, rồi về công tác ở quân y viện trung đoàn 99. Khi sinh đứa con đầu lòng được 2 tháng thì bà được tin sét đánh: người chồng, đại đội trưởng Vệ quốc đoàn, hy sinh trong một trận chống càn. Năm 1953, sau khi gởi con về thành phố, nhờ gia đình bên chồng nuôi, để có thể rảnh tay theo đơn vị chiến đấu rày đây mai đó, bà được cử đi học lớp đào tạo cán bộ y sĩ của Sở Y tế Nam Bộ do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp làm Hiệu trưởng.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), tập kết ra Bắc, được đi học ở Trường Cán bộ y tế Hà Nội. Ra trường, về công tác ở đoàn chuyên gia Liên Xô, điều tra về bệnh hoa liễu ở miền Bắc một thời gian, rồi chuyển về bệnh viện Việt - Tiệp ở Hải Phòng.

   Chuẩn bị về Nam công tác, bà được điều về làm việc ở bệnh viện hữu nghị Việt – Xô tại Hà Nội, để bồi dưỡng cấp tốc một số mặt chuyên môn cần thiết cho công tác y tế ở chiến trường, sau đó dự thi khóa bác sĩ đặc biệt. Nhận bằng bác sĩ ngày 2-9-1962, bà cùng một số đồng nghiệp vượt Trường Sơn về Nam Bộ.

   Tháng 4-1963, bà được cử làm Giám đốc bệnh viện Hoàng Lệ Kha ở cơ quan TƯCMN. Sau hiệp định Paris (1973), lại ra Bắc chữa bệnh, và được Bộ Y tế cử đi bổ túc chuyên môn ở bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

   Sau ngày miền Nam giải phóng, bà về thành phố Hồ Chí Minh, công tác ở bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) một thời gian, được Bộ Y tế cử đi tu nghiệp ở Hà Lan. Về nước, làm Phó giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy.

   Năm 1986, được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Bà đã cùng với Giám đốc y tế của Tổng cục Cao su, các chuyên gia của Viện chống sốt rét, Viện Pasteur ở thành phố Hồ Chí Minh, Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên tổ chức, chấn chỉnh lại hoạt động y tế ở các nông trường cao su, làm giảm tỷ lệ bệnh sốt rét và dịch tả trong công nhân. Bà cũng đã có mặt trong ngành dầu khí ngay từ buổi đầu, tổ chức hoàn chỉnh hệ thống sơ đồ cấp cứu kịp thời, nhanh chóng từ ngoài biển vào đất liền, phục vụ cho cán bộ và công nhân, khai thác trên thềm lục địa, nhờ đó đã hạn chế việc tử vong ở mức thấp nhất.

   Bà được Nhà nước phong danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân năm 1997, và danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2000.

Đã ban hành
Phan Thanh Giản (1796-1867)Phan Thanh Giản (1796-1867)
 

Image
Phan Thanh Giản (1796-1867)
Phan Thanh Giản tự là Đạm Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn (1796) tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

   Nhà nghèo, mẹ mất sớm, việc học tập của Phan Thanh Giản gặp nhiều khó khăn, nhưng vốn thông minh, hiếu học nên đến năm 30 tuổi, Phan thi Hương, đậu cử nhân tại trường thi Gia Định (1825). Sang năm sau (1826), thi Hội ở kinh đô Huế, Phan đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ và cũng là vị tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ. Từ đấy, Phan bắt đầu bước sang cuộc đời hoạn lộ, làm quan trải 3 triều, Minh Mạng, Triệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức Hàn lâm viện biên tu, rồi cải bổ Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia Nội các (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), Hàn lâm kiểm thảo Nội các hành tẩu, Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lượt trấn Tây (1835), Tuần vũ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ thị lang (1839).

   Nhìn vào chức tước, ta thấy rõ ràng Phan Thanh Giản được triều đình trọng dụng, nhưng cuộc đời làm quan của Phan cũng không ít long đong. Dưới triều Minh Mạng, Phan đã 3 lần bị giáng chức, có lần phải làm "lục phẩm thuộc viên" giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở công đường (1836).

  Minh Mạng chết, Phan được Thiệu Trị tiếp tục trọng dụng, làm Phó chủ khảo Trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847).

   Đến triều Tự Đức, Phan được giao phụ trách giảng dạy và điều khiển Trường Kinh Diên, rồi làm Tổng tài coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1848), được bổ chức Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, Phan được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với Nguyễn Tri Phương. Sau đó lại được phong làm Phó kinh lược sứ Nam Kỳ. Đầu năm 1862, sau khi đồn Kỳ Hòa thất thủ, các tỉnh Biên Hòa, Định Tường bị chiếm, Phan được Tự Đức cử làm Chánh sứ toàn quyền đại thần cùng với Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với yêu cầu tùy nghi chuộc lại các tỉnh đã mất. Nhưng đến ngày 5-6-1862, Phan ký với Bonard (Thiếu tướng hải quân Pháp) và Guttierez (đại tá, chỉ huy trưởng quân viễn chinh Tây Ban Nha ở Nam Kỳ) một hòa ước gồm 12 điều khoản, trong đó có việc cắt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp và bồi thường 4 triệu đô la tương đương với 2.880.000 lạng bạc, trả trong 10 năm. Việc làm này của Phan đã bị Tự Đức quở trách (có lẽ đây là cách tránh tội của nhà vua). Dù vậy, sang năm 1836, Phan lại được Tự Đức cử làm Chánh sứ cùng với Phó sứ Phạm Phú Thứ, Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, nhưng không thành.

   Tháng 1-1866, trước khi ý đồ lăm le chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây của Pháp, Tự Đức lại cử Phan vào làm Kinh lược sứ trấn giữ Vĩnh Long. Ngày 20-6-1867, Pháp chiếm tỉnh thành Vĩnh Long (lần thứ hai). Phan Thanh Giản đã tuyệt thực, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867.

   Triều đình Tự Đức ghép Phan vào tội "trảm quyết" (nhưng vì đã chết nên tạm miễn), "lột hết chức tước và đục tên trên bia khắc tên các tiến sĩ". Cho đến 19 năm sau (1886), đến đời vua Đồng Khánh ông mới được khôi phục hàm cũ Hiệp biện đại học sĩ.

Cho đến nay, việc đánh giá về nhân vật lịch sử này cũng còn những điểm chưa hoàn toàn nhất trí trong giới nghiên cứu, bởi đây là một nhân vật sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh phức tạp đầy biến động, thử thách của lịch sử. Đại thể có 3 loại ý kiến khác nhau về Phan Thanh Giản.

   1) Ý kiến cố sức đề cao Phan, cho rằng hành động thỏa hiệp của ông là "thức thời", là vì "thương dân, yêu nước", vì động cơ riêng. Phan có chịu một phần trách nhiệm về việc để mất 6 tỉnh Nam Kỳ, còn kẻ gánh chịu trách nhiệm chính là triều đình nhà Nguyễn.

   2) Ý kiến kết tội Phan về việc để mất đất, lại vừa hết lời ca ngợi lòng trung nghĩa của ông.

   3) Ý kiến kịch liệt lên án việc cắt đất, giao thành của Phan, coi đó là hành động "hàng giặc, bán nước", coi cái chết của Phan là "trốn trách nhiệm tránh dư luận" chứ không phải cái chết cao cả. Ngay cả đạo đức, tư cách của Phan cũng bị xổ toẹt.

   Trước hết, cần xem xét trách nhiệm và tội lỗi của Phan trong việc lần lượt để mất ba tỉnh, rồi sáu tỉnh Nam Kỳ vào tay thực dân Pháp. Tất nhiên, trách nhiệm để mất đất không chỉ có riêng ông mà còn là trách nhiệm của toàn bộ triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ.

   Cần nói thêm rằng Phan là một trong những người tích cực chủ hòa với Pháp. Ngay từ khi Pháp mới gây hấn ở miền Nam, ông cũng đã đối lập hẳn với phái chủ chiến trong triều đình. Sai lầm của Phan là kháng – nhưng về mặt ý thức chủ quan, Phan không phải là kẻ cố tình bán nước, ôm chân giặc. Cũng cần nhìn nhận một phương diện khác của con người này là trong suốt cuộc đời làm quan, Phan từng trải qua nhiều bước thăng trầm, cũng như đảm đương nhiều trọng trách, lúc nào ông cũng tâm niệm "vì dân, vì nước", "vì ơn vua, lộc nước", và trong thực tế ông cũng đã nhiều lần biểu lộ trách nhiệm đó một cách thành thực.

   Tấm lòng lo cho dân, cho nước của Phan không chỉ bộc lộ trong văn thơ, mà còn thể hiện trong hành động cụ thể khi làm quan ở Huế (1982), ở Quảng Nam (1836), khi trấn nhậm miền Tây (1850).

   Chung quanh cái chết của ông cũng có nhiều ý kiến khen, chê khác nhau. có người ca tụng đó là cái chết "nghĩa tiết", cái chết "sát thân thành nhân". Nhiều nhà nho yêu nước lúc bấy giờ tỏ ra rất cảm kích trước cái chết của Phan, cho ông không phải là người tham sống sợ chết. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến phê phán, cho rằng đó chỉ là "cái chết tuyệt vọng", "cái chết của kẻ lâm vào chỗ bế tắc", thậm chí có ý kiến cho rằng Phan tự tử là để "trốn trách nhiệm và tránh dư luận".

   Xét trong hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể lúc bấy giờ, việc Phan uống thuốc độc tự tử là cách chọn cái chết của một người biết mình đã lầm lỡ, biết mình có tội lỗi. Lời nhận xét của Phạm Phú Thứ, người đã cùng Phan Thanh Giản đi sứ Pháp, trong bài văn tế Phan cũng gợi cho chúng ta đôi điều suy nghĩ: “Bề tôi giữ bờ cõi phải chết với bờ cõi. Bỏ sống lấy nghĩa, giết mình nên nhân, ấy là điều mà ông vẫn tin theo".

   Tư liệu lịch sử cho thấy Phan Thanh Giản không phải đầu hàng nộp thành cho giặc như sự miêu tả của một số tư liệu của Pháp, nhưng việc để mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu quả của chủ trương sai lầm của Tự Đức và cả triều đình, trong đó có trách nhiệm của họ Phan. Việc ông tự xử bằng cái chết cũng là một cách "sám hối".

Đã ban hành
Di tích nghệ thuật Đình Bình HòaDi tích nghệ thuật Đình Bình Hòa
Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hoà, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường 885, cách thành phố Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

Image
Di tích Đình Bình Hòa
Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hoà, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường 885, cách thành phố Bến Tre 16km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

 Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ được đến nay cho biết đ ình đ ư ợc lập vào thập kỷ thứ 2, thế kỷ XIX, tính đến nay gần 200 năm. Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn tất phải mất trên 10 năm(1903-1913), kể cả công trình kiến trúc bên ngoài và trang trí nội điện, đặc biệt là phần điêu khắc gỗ. Đó là kết quả lao động công phu của những nhóm thợ rước từ miền trung vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852).

 Về mặt kiến trúc bên trong, chất liệu chính là gỗ tứ thiết và kết cấu bằng mộng, chốt, kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật điêu khắc, mà chủ yếu là những nét tạc bằng đục của nghệ nhân ngay trên gỗ của những vì kèo, xuyên, trính, hoành phi…ở các gian chánh đường và thính đường. Qua thử thách của thời gian với nắng mưa và khí hậu ẩm thấp, đặc biệt tác động phá hoại trực tiếp của bom đạn trong suốt 30 năm, ngôi đình vẫn đứng vững. Điều đó nói lên trình độ kỹ thuật và ý thức trách nhiệm của đội ngũ thợ xây dựng.

 Về trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông,sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v…

 Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời KCCP) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Nhiệm.


 Hiện còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai.

 Đình Bình Hòa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cái CốiCái Cối
 

Rạch nằm bên phía tả ngạn chảy ra sông Bến Tre, đối diện với chợ Bến Tre, nay thuộc xã Mỹ Thạnh An. Nhiều thợ làm nghề đóng cối xay lúa bằng tre tập trung bên bờ rạch và hình thành nên một xóm thợ làm nghề thủ công phục vụ cho việc xay giã lúa gạo. Từ đó, rạch này mang cái tên Cái Cối (trước đây khi chưa có máy xay xát cơ giới, việc xay giã lúa gạo đều làm theo lối thủ công).

Đã ban hành
Cơm dừa và tép rang dừa Bến TreCơm dừa và tép rang dừa Bến Tre
Bến Tre được thiên nhiên ban tặng cho cư dân nơi đây một vùng đất trù phú với những đồng ruộng, vườn cây trái sum suê, đặc biệt là những vườn dừa xanh tươi bát ngát. Cây dừa không chỉ đi vào thơ ca mà còn là nét văn hóa trong ẩm thực của người dân nơi đây với những món ngon nổi tiếng gần xa như tép rang dừa, cơm trong trái dừa (Cơm dừa Bến Tre).

​Bến Tre được thiên nhiên ban tặng cho cư dân nơi đây một vùng đất trù phú với những đồng ruộng, vườn cây trái sum suê, đặc biệt là những vườn dừa xanh tươi bát ngát. Cây dừa không chỉ đi vào thơ ca mà còn là nét văn hóa trong ẩm thực của người dân nơi đây với những món ngon nổi tiếng gần xa như tép rang dừa, cơm trong trái dừa (Cơm dừa Bến Tre).

Cơm dừa Bến Tre được nấu từ gạo dẻo thơm, vo nước sạch, để cho ráo rồi cho vào trái dừa tươi, nước dừa vừa đủ, đậy lại đem chưng cách thủy. Cơm dừa được nấu bằng trái dừa xiêm vừa tuổi nạo, tươi là ngon nhất.

19573_206201916295_2019620161428911_XL.jpg

Cơm dừa và tép rang dừa. (Ảnh do Trung tâm TTXTDL Bến Tre cung cấp)

Nấu cơm dừa cái khó nhất là phải canh nước dừa và gạo phải đều nhau, nếu nhiều nước, ít gạo hoặc ngược lại thì cơm dừa sẽ bị nhão hoặc cứng, hỏng mất mùi vị. Cơm dừa ăn nóng mới ngon, nếu để lâu, hạt cơm trắng ngần sẽ ngả sang màu vàng nhạt, ăn không ngon.

Khi dùng cơm dừa phải ăn cùng tép rang dừa. Loại tép được rang là tép bạc đất hay tôm lóng (tôm còn nhỏ) rửa sạch và ướp gia vị gồm đường, muối, bột ngọt để một lúc cho ngấm. Cách rang cũng đơn giản. Sau khi bỏ tép lên chảo rang người ta cho nước cốt dừa vào chảo rồi để lửa riu riu. Đến khi tép ngấm nước cốt dừa chuyển sang màu đỏ quạch là coi như đã xong món tép rang dừa. Lúc này thịt tép ngấm dừa sẽ dai, giòn, bóng và có vị béo đặc trưng của nó.

Du khách muốn trải nghiệm ẩm thực khi tới Bến Tre mà không ăn cơm dừa cùng tép rang dừa thì xem như việc khám phá xứ dừa chưa trọn vẹn. Đến với Bến Tre, du khách đừng quên làm một “quả” cơm dừa để làm phong phú thêm kho tàng ẩm thực của chính mình, cũng như có thêm ấn tượng về vùng đất được mệnh danh Xứ Dừa này.

Hạnh Chi

Đã ban hànhHạnh Chi
Ông già Ba TriÔng già Ba Tri
 

Image
Ông già Ba Tri
Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.

   Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi: một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên; hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường. Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.

   Câu chuyện trên đây đã lưu truyền trong dân gian và cũng đã được ghi lại trong một số sách như: Monographie de la province de Bến Tre (Chuyên khảo tỉnh Bến Tre) do một người Pháp soạn năm 1929, Kiến Hòa xưa và nay của Huỳnh Minh (1965), Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954) của Nguyễn Duy Oanh (1971). Cũng như các truyện kể lưu truyền trong dân gian, hoặc được người sau ghi lại trên giấy trắng mực đen, thường có nhiều dị bản khác nhau. Truyện kể về Ông già Ba Tri cũng không ra ngoài thông lệ đó. Nếu ở quyển Monographie de la province de Bến TreKiến Hòa xưa và nay chỉ nói đến một ông lão phiếm định, thì ở quyển Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1954), tác giả lại đưa ra một ông già cụ thể có tên, họ hẳn hoi, gắn liền với dòng dõi, con cháu hiện nay vẫn còn sống ở xã An Đức, huyện Ba Tri. Tuy nhiên, về tình tiết, diễn biến và kết cục của chuyện thì lại rất giống nhau. Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.

   Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Nguyễn Văn Đức

Phó Chủ tịch

Nguyễn Trúc Sơn

Đã ban hành
Tục thờ cá ÔngTục thờ cá Ông

<br />

Image
Tín ngưỡng phổ biến nhất là cư dân làm nghề biển của các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú là tục thờ cá voi, thường được gọi là cá Ông. Đây là một tín ngưỡng dân gian hình thành trong quá trình tiến biến văn hóa Việt Chăm diễn ra từ đèo Ngang trở vào. Ngư dân ở biển phía Bắc không có tục thờ cúng cá voi.

Nguyễn Duy Oanh trong quyển Tỉnh bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) viết về tục thờ cá ông ở ven biển nơi đây: ”Ở quận Ba Tri, dân chài lưới có lập một miếu thờ cá ông tại vùng Bãi Ngao (nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri). Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái. Nhiều lần họ được cá Ông giúp đỡ trong lúc biển động mạnh, ghe họ sắp chìm. Họ cầu cứu cá Ông, thì ít phút sau đó, cá Ông hiện đến. Cá Ông kề lưng đỡ thuyền họ lướt qua sóng gió hãi hùng" (1).

Trong chiều sâu tâm thức, người ngư dân đặt tin tưởng vào sinh vật khổng lồ vừa "hiền" vừa "thiêng" là loài cá voi, mà họ gọi một cách kính trọng là cá Ông, hoặc Ông, dù rằng sự cứu giúp đó mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực. Có rất nhiều danh từ để gọi cá voi với sự cung kính: Ông Nam Hải, Ông Lớn hay Ông Cậu để chỉ những cá voi to lớn, Ông Khơi để chỉ cá voi sống ngoài biển khơi, Ông Lộng để chỉ cá voi sống gần bờ. Ngoài ra còn có những cách gọi khác nhau như ông Thông, Ông Chuông, Ông Máng vừa ý nghĩa tôn kính.

Cá chết thị gọi là Ông "lụy". Khi phát giác có Ông lụy ngoài biển, người ta đưa thuyền ra dìu xác cá vào bờ rồi tổ chức lễ chôn cất rất long trọng.

Nơi thờ cá Ông được gọi là miếu Ông, nhưng thông dụng nhất là Lăng ông. Việc thờ cá Ông được quan niệm như là một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả của đạo Phật, coi cá Ông như là một thứ thần hộ mạng giữa biển khơi đầy sóng gió. Niềm xác tín ấy được phản ánh trong nội dung các bài tế văn tế bằng Hán Nôm, trong các bài hát bả trạo (còn gọi là hát đưa linh) và cả trong một số bài vè lưu hành trong cư dân ven biển. Nếu như trong các văn tế nghinh ông của các ngư dân miền Trung nghiêng về phần ngợi ca và gởi gắm niềm tin ở Ông về việc cứu người cứu thuyền trong cơn lâm nạn, thì nội dung văn tế trong nghinh ông từ Bà Rịa trở vào đến Cà Mau, Hà Tiên thường nhấn mạnh đến sự "phù hộ của ông" để cho được mùa đánh bắt, tôm cá đầy khoang, ghe thuyền ra khơi vào lộng an toàn.

Nếu như tín ngưỡng thờ Thành hoàng bổn cảnh và lễ hộ Kỳ Yên chỉ diễn ra trong khuôn viên của đình làng, thì tín ngưỡng thờ cá ông và lễ hội Nghinh ông lại vừa diễn ra ở lăng thờ cá Ông và cả trên mặt biển. Do đó, không khí của phần lễ cũng như của phần hội ở đây thường diễn ra sôi động và cuồng nhiệt hơn. Trong tâm linh của người ngư dân, lễ hội Nghinh ông không chỉ là dịp để họ bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với một sinh vật linh thiêng mà còn gởi gắm vào đó cả niềm tin và hy vọng ở một vị thần hộ mạng sẵn sàng cứu giúp họ trong cơn hoạn nạn, trong những lúc hiểm nghèo giữa nơi biển cả.

Trên địa bàn tỉnh Bến Tre, suốt dọc dài ven biển của 3 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú có tất cả 9 lăng thờ cá Ông. Lễ nghinh ông có thể chênh nhau về ngày tháng, quy mô tổ chức ở từng nơi có thể khác nhau, tùy theo làng cá, vạn cá đông hay ít, nhưng ý nghĩa và mục đích thì rất giống nhau. Có một ngoại lệ là tại huyện Bình Đại, có lăng thờ cá Ông ở xã vang Quới Tây, nằm cách xa bờ biển, tất cả các lăng thờ đều lưu trữ nhiều bộ cốt cá Ông, đặt ở nơi hậu tẩm. Người dân làm nghề biển coi những bộ cốt ấy là sự hiện diện cụ thể của đối tượng thiêng mà họ thờ cúng.

Nếu như lễ cúng đình (lễ Kỳ Yên) hàng năm ở làng quê là lễ hội to nhất của cư dân trồng lúa nước và làm vườn, thì lễ cúng cá Ông (lễ nghinh Ông) là lễ quan trọng bậc nhất của ngư dân ven biển Bến Tre. Thành hoàng hay những vị thần khác được thờ phụng ở đình chỉ nằm trong quan niệm về cõi siêu linh, qua tưởng tượng, trong khi đó cá Ông, theo ngư dân là sinh vật thiêng ở biển, được biểu hiện bằng những bộ xương cốt đặt nơi khám thờ, bằng những ngôi mộ nằm rải rác trong khuôn viên của dinh, hay lăng thờ và cả những con cá Ông đang bơi, lặn ở nơi biển khơi, mà họ tin rằng khi gặp tai họa, rủi ro, họ sẽ nhận được sự cứu giúp.

Lễ Nghinh Ông, hay còn gọi là lễ tế, lễ rước, lễ cúng cá Ông, tùy theo cách gọi của từng địa phương, ở nơi vạn chài, bến cảng thuộc các xã ven biển Bến Tre, về cơ bản không có gì khác biệt nhau lắm. Thời gian tổ chức lễ giữa nơi này và nơi khác có thể chênh nhau, nhưng thường diễn ra trước mùa đánh bắt ở biển.

Vì vậy, có nơi kết hợp lễ Nghinh Ông với lễ cầu ngư, mở đầu cho mùa cá mới của năm. Ở xã Thới Thuận (huyện Bình Đại) lễ Nghinh Ông được tổ chức vào ngày 20-6 (Âm lịch), ở xã Thừa Đức cùng huyện, lễ mở vào ngày 23-4 (Âm lịch), ở Bảo Thạnh, Tân Thủy (huyện Ba Tri) lễ mở vào ngày 15 và 16-6 (Âm lịch). Ở xã Bình Thắng (huyện Bình Đại) lễ cũng được tổ chức vào hai ngày 15 và 16-6 (Âm lịch).

Sự thờ cúng cá Ông tạo ra một lễ hội trong đời sống văn hóa các xã vùng biển. Lễ hội Nghinh Ông là dịp để người dân làm nghề biển thư giãn, lấy lại thăng bằng tâm linh sau những ngày lao động vất vả, đồng thời để tỏ lòng biết ơn đối với một sinh vật “thiêng" ở biển, mà trong tâm thức nhiều ngư dân vẫn chứa đựng một niềm tin về sự giúp đỡ của cá Ông khi gặp tai nạn. Có thể nói, ngày lễ hội Nghinh Ông là ngày tưng bừng đối với người dân vùng biển. Không khí náo nức, tràn trề hưng phấn bắt đầu khi chờ đợi “Ông lên vọi" ngoài khơi, khi thấy việc xin ông làm chứng đã hoàn tất qua động tác xin keo của ông chánh bái. Dọc đường đoàn ghe ra khơi nghinh ông trở về, hai bên bờ sông các ghe thuyền đều chăng kết hoa, bày lễ cúng và đốt pháo giòn giã. Ở tại nhà suốt ngày hôm ấy, các ngư dân mời mọc nhau, kể cả khách từ xa đến, cùng nhau ăn uống vui chơi, trò chuyện thân tình.

Chú thích :

1. Nguyễn Duy Oanh, Sđd, tr.355 

Đã ban hành
Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)Nguyễn Thanh Trà (1918 - 1952)
&nbsp;

Image
Nguyễn Thanh Trà (1918-1952)
Sinh năm 1918 trong một gia đình trung lưu ở Cái Nứa, xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Thanh Trà tham gia phong trào yêu nước ngay từ lúc còn là học sinh. Học hết trung học, Trà về quê, được các đồng chí hoạt động bí mật vùng Sóc Sãi tuyên truyền, giác ngộ và được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1935, sau đó được phân công làm Bí thư chi bộ xã Tiên Thủy.

   Khi Mặt trận Dân chủ Đông Dương thành lập, Nguyễn Thanh Trà tham gia rất tích cực phong trào công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội do Đảng phát động, vận động quần chúng ở địa phương đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Nhờ tài diễn thuyết lưu loát, hấp dẫn nên đến đâu, ông cũng thu hút được đông đảo quần chúng. Năm 1936, số đảng viên cốt cán ra khỏi nhà tù trở về Bến Tre ngày càng đông, đã nhanh chóng khôi phục lại phong trào ở địa phương. Khi Đảng bộ Bến Tre được củng cố lại, Nguyễn Thanh Trà được cử vào Tỉnh ủy (4-1936), phụ trách quận Sóc Sãi.

   Năm 1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ở Đông Dương, thực dân Pháp quay ra đàn áp, khủng bố gắt gao, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt, bị tù. Cuối năm này, trong một chuyến công tác, ông bị sa vào tay của bọn mật thám Pháp. Chúng đem về giam ở Sài Gòn một thời gian, rồi đưa đi an trí ở “căng” Tà Lài.

   Đầu năm 1944, cùng với một số đồng chí khác, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục Tà Lài, trở về Sóc Sãi, bắt liên lạc với cơ sở cách mạng cũ của địa phương, xây dựng lại phong trào. Tháng 3-1945, Nguyễn Thanh Trà được bầu vào Tỉnh ủy, thành viên của Ủy ban khởi nghĩa Bến Tre.

   Sau ngày CMT8-1945, đồng chí được cử giữ chức Phó trưởng Ty Công an tỉnh, phụ trách lực lượng cảnh sát, do đó đồng bào quen gọi là "Cò Trà". Khu UBKC tỉnh (về sau đổi thành UBKCHC) được thành lập, ông được cử làm ủy viên.

   Đầu năm 1948, tên Léon Leroy tung quân càn quét, đánh phá khốc liệt phong trào, tiến hành bình định hai cù lao Bảo và Minh. Nhiều cơ sở cách mạng bị đánh bật ra khỏi địa phương. Các cơ quan, đơn vị vũ trang phải rút về rừng Thạnh Phú và Bình Đại.

   Năm 1951, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre đưa cán bộ trở về bám đất bám dân, những chi bộ “ly xã" trở về bám lấy cơ sở, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó bí thư Thị ủy Bến Tre.

   Trong một trận càn, Nguyễn Thanh Trà bị bắt và do sự khai báo của một cán bộ đầu hàng, nên bị lộ. Biết ông là một cán bộ lãnh đạo ở địa phương, có học thức, lại thuộc thành phần khá giả, nên địch tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc, hứa hẹn dành cho một chỗ ngồi có bổng lộc cao sang, nhưng đồng chí một mực từ chối, không thừa nhận những điều mà tên phản bội đã nói.

   Không đạt được mục đích, bọn chỉ huy ra lệnh dùng mọi cực hình tra tấn ông rất dã man, cuối cùng vẫn không moi được một điều gì quan trọng như chúng muốn. Trong nhà giam, kiệt sức vì đòn roi và bị bỏ đói, đồng chí cảm thấy mình không thể kéo dài được sự sống bao nhiêu ngày nữa, đã dùng mảnh chai đựng nước cam, rạch bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam dòng chữ "Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” rồi móc ruột mà chết. Kẻ địch phát hiện kịp, đã gọi bọn lính đến băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu ở nhà thương. Nhưng ông đã bứt băng, lôi ruột mình ném vào mặt bọn gác ngục, rồi tắt thở. Hôm ấy là ngày 24 tháng giêng năm Tân Mão (1952), lúc vừa tròn 33 tuổi.

   Tấm gương hy sinh đầy tiết khí cách mạng trước uy lực kẻ thù của Nguyễn Thanh Trà có tác dụng động viên, giáo dục rất lớn đối với cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ. Và, cho đến nay, gần nửa thế kỷ trôi qua, tên tuổi và hành động anh hùng của đồng chí vẫn còn in sâu trong ký ức của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân Bến Tre. Năm 2000, ông được Nhà nước tuyên dương Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN MẾN
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng
1. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; kiểm soát thủ tục hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động chung của Ủy ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.
 2. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Nhiệm vụ và quyền hạn
1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện.
2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành:
a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;
b) Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;
c) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;
d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;
đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;
e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Phục vụ hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;
c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Tổ chức công tác tiếp công dân; phân loại, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, phản ánh theo quy định của pháp luật.
5. Tham mưu, giúp Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;
b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện;
c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;
d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;
đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.
6. Tiếp nhận, xử lý, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):
a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Ủy ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;
b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.
7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:
a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;
c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;
d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
8. Thực hiện chế độ thông tin:
a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Tổ chức quản lý, xuất bản Công báo điện tử tỉnh;
d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Ủy ban nhân dân tỉnh;
đ)  Cung cấp thông tin do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra và thông tin do Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tạo ra theo quy định của Luật tiếp cận thông tin năm 2016.
9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:
a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng:
Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.
11. Thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính
a) Tham gia ý kiến về nội dung quy định thủ tục hành chính tại đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Đôn đốc, kiểm soát chất lượng công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện công khai thủ tục hành chính tại trụ sở nơi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; tích hợp dữ liệu thủ tục hành chính để công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh theo quy định;
d) Nhập, đăng tải công khai, tích hợp, khai thác, quản lý dữ liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính;
đ) Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính; kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền các giải pháp, sáng kiến đơn giản hóa thủ tục hành chính;
e) Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh;
g) Tổ chức tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và vận hành, khai thác hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp;
h) Tham mưu, tổ chức kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương;
i) Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính tại các Sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã;
k) Thông tin, tuyên truyền; tổng hợp, báo cáo về tình hình, kết quả thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính.
12. Thực hiện nhiệm vụ một cửa, một cửa liên thông
Tổ chức hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
 13. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:
a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;
c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc uỷ quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;
đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh;
g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức
1. Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.
2. Các đơn vị chuyên môn trực thuộc:
a) Phòng Tổng hợp;
b) Phòng Kinh tế;
c) Phòng Tài chính - Đầu tư;
d) Phòng Khoa giáo - Văn xã;
đ) Phòng Nội chính;
e) Phòng Kiểm soát Thủ tục hành chính;
g) Phòng Hành chính - Tổ chức;
h) Phòng Quản trị - Tài vụ;
i) Phòng Ngoại vụ;
Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
k) Ban Tiếp công dân tỉnh.
Ban Tiếp công dân có Trưởng ban, Phó Trưởng ban và công chức làm công tác tiếp công dân. Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân;
Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3. Đơn vị hành chính đặc thù: Trung tâm Phục vụ hành chính công.
a) Trung tâm Phục vụ hành chính công có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và công chức, viên chức do các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh cử đến làm việc. Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh cử công chức, viên chức quản lý, vận hành trụ sở, trang thiết bị máy móc, hệ thống mạng của Trung tâm Phục vụ hành chính công;
b) Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định bổ nhiệm theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính;
c) Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:
a) Trung tâm Thông tin điện tử
Trung tâm Thông tin điện tử có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ.
b) Nhà Khách Hùng Vương
Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.
Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử; Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Biên chế, số lượng người làm việc
Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại các đơn vị thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao. Riêng số lượng người làm việc tại Nhà khách Hùng Vương do Chủ nhiệm Nhà khách xác định trong Đề án vị trí việc làm của Nhà khách, trên cơ sở bảo đảm việc làm ổn định và thu nhập cho số lượng người làm việc tại đơn vị theo quy định.

(Nguồn Quyết định 36/2019/QĐ-UBND)

Tập tin đính kèm: QD_36_2019.pdf


Đã ban hành
Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)Dương Văn Dương: vị thiếu tướng quân đội đầu tiên ở Nam bộ (tiếp theo)
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh Pháp. Tại Nhà Bè, được sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản, Ba Dương vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ, bắt đầu hoạt động bằng cách lập tiệm cơm, quán nhậu thu hút lính Pháp, lính Nhật để gạ mua hoặc dùng mưu và sức mạnh tước vũ khí trang bị cho mình, đột nhập vào nhà tay sai, ác bá trừng trị và tước súng.

Từ tháng 5-1945 đến tháng 8-1945, được sự chỉ dẫn của đảng viên, Ba Dương đã phối hợp với lực lượng “Thanh niên tiền phong” và các nhóm giang hồ khống chế, thủ tiêu hàng trăm mật thám, chỉ điểm, cảnh sát của địch ở địa phương. Đầu tháng 8-1945, nhóm vũ trang Ba Dương đã quy tụ được 70 anh em, trang bị 50 súng, có cả trọng liên 13,2 ly và đại bác nòng đôi 20 ly, trở thành nhóm vũ trang mạnh nhất ở vùng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nhận được chủ trương của Xứ Ủy về Tổng khởi nghĩa qua Chi bộ Đảng ở Nhà Bè, Ba Dương bí mật tập họp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động. Các nhóm trên đã hoàn thành việc chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công như Tòa án, Khám lớn Sài Gòn, Bót số 6, …giải thoát được các tù nhân bị Pháp, Nhật giam giữ.

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Ba Dương lập “Thanh niên cảm tử đoàn” toàn dân “anh chị" tại Tân Quy (Nhà Bè). Nhóm Ba Dương bỏ hãng đóng tàu Ni-chi-năn để về Tân Quy tiếp tục chiêu mộ binh mã. Với tư cách là đàn anh trong vùng, Ba Dương tiếp xúc với các nhóm vũ trang lân cận và nhanh chóng thống nhất lực lượng lại thành một khối. Anh em “giang hồ tứ chiếng” liên kết lại lập bộ đội Xóm Cỏ, thống nhất tôn Ba Dương làm thủ lĩnh. Ba Dương thấy tên Xóm Cỏ, Hố Bần nghe không được “oai” cho lắm, nên mới chọn tên ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng để đặt. Tên này nghe “oai” hơn, vì “Bình là dẹp bằng, Xuyên là ngang dọc”, phù hợp với tôn chỉ của hảo hán. Danh xưng “bộ đội Bình Xuyên” có từ ngày ấy. Xóm cầu Rạch Đỉa trở thành Tổng hành dinh bộ đội Bình Xuyên của Ba Dương. Bộ đội Ba Dương chủ động liên kết với bộ đội Thủ Thiêm của Mười Lực, liên quân với bộ đội Hai Vĩnh đánh nhiều trận gây thanh thế.

Qua một thời xưng hùng, xưng bá, gặp dòng xoáy cách mạng cuốn hút, lực lượng Bình Xuyên đã chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị Vệ quốc đoàn. Nhiều thủ lĩnh Bình Xuyên như Dương Văn Dương (Ba Dương), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh), Dương Văn Hà (Năm Hà, em ruột của Ba Dương)…là những người có uy tín, chân thành học hỏi các chiến sĩ cách mạng và quyết tâm phục vụ đất nước.

Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”, tước khí giới những nhóm giang hồ nào chưa chịu từ bỏ giang hồ, đặt hình phạt đối với những người rượu chè, bê tha, ức hiếp quần chúng…

Ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Toàn Nam bộ vùng lên kháng chiến. Phối hợp với hoạt động của các lực lượng vũ trang trong nội thành, xung quanh Sài Gòn hình thành 4 mặt trận bao vây quân địch. Cuối tháng 9-1945, mặt trận phía nam Sài Gòn-Chợ Lớn còn được gọi là mặt trận số 4 được thành lập do đảng viên kỳ cựu Nguyễn Văn Trân được cử làm Ủy trưởng quân sự. Ba Dương trực tiếp chỉ huy bộ đội Nhà Bè, Tân Thuận, Bình Đông kiêm trưởng ban do thám của mặt trận. Đến tháng 11-1945, Ba Dương được cử làm chỉ huy trưởng mặt trận số 4. Pháp tung hết lực lượng quyết chiếm Sài Gòn và vùng phụ cận. Sau khi mặt trận số 4 bị vỡ, lực lượng Bình Xuyên không chạy dài như Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn. Ba Dương lệnh các đơn vị rút về Phước An, Long Thành để chấn chỉnh lực lượng. Tại Ba Doi, Ba Dương thống nhất và củng cố các đơn vị bộ đội Thủ Thiêm, Tân Thuận, Nhà Bè, Phú Nhuận… và chọn Rừng Sác làm căn cứ kháng chiến.

Tình hình chiến sự ngày càng gay go, Pháp quyết tâm chiếm lại Nam bộ. Sài Gòn như chảo dầu sôi, quyết bảo vệ nền độc lập mới giành được. Từ chiến khu Đông Triều – Hải Phòng, Tư lệnh Nguyễn Bình vâng lệnh Bác Hồ vào Nam thống nhất các lực lượng vũ trang. Nguyễn Bình hối hả vượt đường thiên lý vào chiến trường Nam bộ. Trên đường đi, ông cố thu thập tin tức và rất mừng khi biết Bình Xuyên là một lực lượng đáng kể trong số các lực lượng ở miền Đông. Ông nghe tiếng Ba Dương từ trước và tính ngay tới việc liên kết với Ba Dương để có thế lực ngay từ đầu.

Trong khi đó, quân đội Anh-Ấn của tướng Gracey không thực hiện đúng chỉ thị của đồng minh giải giới quân Nhật, mà sử dụng quân Nhật kiềm hãm các hoạt động của dân quân, giúp bọn Pháp ngóc đầu dậy. Quân Nhật chiếm giữ các vị trí quan trọng ở ngoại thành như cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y, cầu Rạch Ong. Bộ đội của Ba Dương đóng ở hãng Ni-chi-năn phải cấp tốc dời về cầu Rạch Đỉa. Tại đây, Ba Dương vạch kế hoạch đánh chớp nhoáng vào nhiều vị trí quan trọng trong nội thành. Những trận đánh này cùng các trận quấy rối của các cánh quân khác đã làm cho các tướng lĩnh tự cao tự đại của Pháp thấy rõ dân Sài Gòn không bó tay để chúng ngang nhiên cướp nước lần thứ hai.

(còn tiếp)

Đã ban hànhNguyễn Hữu Vị
THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
&nbsp;

Văn học Bến Tre ở thời kỳ này phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nhiều năm. Văn học được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ ĐCS Bến Tre cả về tổ chức lẫn tư tưởng. Nhà văn là người chiến sĩ đánh giặc bằng vũ khí ngòi bút, lấy việc phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân làm mục đích hoạt động. 

Do tính chất của cuộc chiến tranh giải phóng và do tương quan lực lượng giữa ta và địch, trong thực tế đã hình thành hai vùng khác nhau: vùng kháng chiến và vùng địch chiếm (chủ yếu là thành phố, thị xã, thị trấn). Do đó, phương thức hoạt động văn nghệ ở hai vùng cũng không giống nhau.

Từ nhận thức “văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận", Tỉnh ủy và UBKCHC tỉnh Bến Tre đã có chủ trương tập hợp đội ngũ những văn nghệ sĩ, trí thức có khả năng viết văn, làm báo vào các cơ quan thông tin tuyên truyền, báo chí để động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ tham gia vào cuộc kháng chiến cứu nước. Trên tờ báo Hy sinh (cơ quan của Tỉnh ủy) và tờ báo Đoàn kết (Cơ quan của Mặt trận Việt Minh, sau này đổi thành Liên Việt), ngoài những bài xã luận, lời kêu gọi và tin tức, còn có những bài phóng sự ngắn, bài ca dao, thơ, hò, vè hô hào tòng quân giết giặc, động viên đồng bào sản xuất, nuôi quân, bố phòng, hoặc tố cáo tội ác của giặc... Về sau, đề tài càng được mở rộng phong phú hơn, như vấn đề đoàn kết quân dân, thi đua yêu nước, bình dân học vụ, địch ngụy vận, thực hành đời sống mới và những mẫu chuyện vui kháng chiến...

Đương nhiên những sáng tác nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu lúc này còn rất vụng về, thô sơ về nội dung lẫn hình thức, giá trị văn học không nhiều, nhưng hiệu quả của nó đối với phong trào là điều không thể phủ nhận được. Có thể nói rằng những bài thơ còn mang đậm hơi hướng ca dao, những câu hò, bài chập cải lương, bài vè, mẫu chuyện vui kháng chiến chân chất và hồn nhiên ấy là những đốm lửa ban đầu thắp sáng dòng văn học hiện đại của Bến Tre khai sinh từ CMT8-1945.

Đầu năm 1948, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập. Đây là tổ chức văn nghệ đầu tiên của tỉnh có nhiệm vụ tập hợp lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ trong tỉnh, tổ chức sáng tác, xuất bản, xây dựng và phát triển phong trào. Hoạt động của Đoàn dựa trên phương châm "dân tộc, khoa học và đại chúng", lấy việc phục vụ kháng chiến làm mục đích chính.

Thư ký Đoàn là đồng chí Lê Hoài Đôn, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, các ủy viên: Lê Hà (thơ), Võ Trọng Cảnh (văn), Truy Trọng (nhạc), Đoàn Chi Lăng (họa), Phong Đảo (kịch) và Nguyễn Tân Tấn phụ trách công tác tổ chức. Đoàn cũng đã tập hợp được một đội ngũ thuộc đủ các bộ môn nghệ thuật trong tỉnh. Về văn và thơ có Nguyễn Ngọc, Lê Tâm, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Văn Châu, Mạch Văn Tư. Về họa có Đạt Huỳnh, Đoàn Chi Lăng, Đinh Giang. Về nhạc có Nguyễn Việt Tân, Truy Trọng, Chu Tấn Hưng. Ngoài ra còn có sự tham gia của một số cán bộ lãnh đạo của các ngành quân, dân, chính có tinh thần yêu thích văn nghệ như Trần Trường Sinh (cố vấn của Đoàn), Bùi Ngọc Nghi, Lê Văn Lượng...

Nhờ có tổ chức chuyên trách, tình hình hoạt động văn hóa, văn nghệ của tỉnh có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận. Các tờ báo như Hy sinh, Đoàn kết, Thông tin Bến Tre, Tin tức (thuộc trung Đoàn 99) đều dành số trang nhất định của từng số báo để đăng những sáng tác của những cây bút trong tỉnh. Từ giữa năm 1949, tập san Văn hóa phổ thông - tờ báo chuyên ngành đầu tiên ở tỉnh - được xuất bản định kỳ 3 tháng một sứ với số lượng in cả ngàn bản. Ngoài các báo chí của tỉnh, lúc này đường dây liên lạc giữa khu 8 và Nam Bộ được củng cố thông suốt, do đó, tài liệu, báo chí của khu, của miền cũng được phát hành đến Bến Tre như các tờ như Tổ quốc (khu 8), Lá lúa (cơ quan của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ), Tiếng súng không kháng địch (khu 9). Sinh hoạt văn nghệ của tỉnh nhờ đó mà sôi động hẳn lên.

Từ năm 1948 đến năm 1950, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh cũng đã tiến hành hai lần đại hội tại vùng căn cứ của tỉnh ở Mỏ Cày. Đây là những dịp họp mặt đông đủ nhất của những người làm công tác văn hóa văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc bầu ban chấp hành mới, các đoàn viên đã cùng nhau đánh giá lại các công việc đã làm, trao đổi, thảo luận về đường lối, phương pháp sáng tác, trách nhiệm của người cầm bút trước yêu cầu của cách mạng và kháng chiến.. Đoàn đã tổ chức in và xuất bản một số tác phẩm, trong đó đáng chú ý nhất là các quyển sách sau đây: Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc của Hằng Ngôn, Con đường sáng của Lê Tâm, tập thơ La ngà của Lê Hà. Tác giả Hằng Ngôn tức bác sĩ Nguyễn Hữu Nghiệp, vốn là thành viên của đoàn cán bộ miền Nam, trong đó có Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định, vượt biển ra Trung ương xin chi viện (1946). Tập sách gồm 20 bài bút ký được tác giả ghi lại qua những điều mắt thấy tai nghe về tình cảm và lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân ta từ Nam chí Bắc. Đây cũng là quyển sách đầu tiên viết về Bác Hồ được xuất bản ở Nam Bộ.

Con đường sáng là tập tiểu thuyết của nữ tác giả Lê Tâm xuất bản đầu tiên ở tỉnh nhà, và là một trong ba cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp(1). Cốt truyện xoay quanh nhân vật chính tên Nhung – con gái một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu. Từ nhiệt tình yêu nước ban đầu, cô gái đã đến với cách mạng một cách hồn nhiên. Rồi kháng chiến bùng nổ, cô đã thoát ly gia đình, cùng bạn bè gia nhập vào đại cuộc của dân tộc. Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, nhưng không thiếu niềm vui và niềm tự hào, đã giúp cho Nhung ngày một trưởng thành và già dặn.

Cũng cần phải kể đến một số cây bút quê ở Bến Tre, nhưng hoạt động ở địa bàn khác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Hải Trừng hoạt động ở Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Anh sáng tác nhiều thơ, truyện ngắn, truyện thơ đăng trên các báo ở khu 9 và trên tạp chí văn nghệ Lá úa. Đáng chú ý nhất là truyện thơ Chú Hai Neo gồm gần 1.000 câu lục bát, được tặng thưởng giải 3 giải văn nghệ Cửu Long 1951-1953.

Lãng Sĩ (tức Nguyễn Duy Oanh) có Hận Cầu Hòa, tập ký sự về vụ thảm sát tập thể do tên Léon Leroy gây ra ở Bến Tre được giải khuyến khích Văn nghệ Cửu Long 1951-1953. Một số truyện ngắn khác của ông ca ngợi về cảnh đẹp và con người của quê hương được tập hợp lại in trong tập Sóng gợn hồn quê(2) với bút hiệu Nguyễn Duy.

Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, quê xã Nhơn Thạnh, thị xã Bến Tre, thuộc thế hệ cầm bút trước CMT8-1945. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh hoạt động ở Sài Gòn, đã chủ trương các tờ báo Văn hóa, Điện báo, Thế giới, Công lý và tham gia phong trào "Báo chí thống nhất", chống âm mưu chia cắt đất nước. Năm 1949, anh xuất bản tập truyện Một vũ trụ sụp đổ và tiểu thuyết Tranh đấu. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Nam Bộ về đề tài nông dân, phản ánh cuộc đầu tranh chống lại sự cấu kết của bọn cường hào phong kiến với bọn thực dân trong việc chiếm đoạt ruộng đất, nhũng nhiễu người dân lương thiện và đẩy họ vào vòng tù tội. Thời kỳ ở khu 9 (1950-1954) anh làm việc ở tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ, có sáng tác một số tuồng hát bội như Trương Phi thủ cổ thành, Hý Charton và Le Page.

Bùi Đức Tịnh, tên thật là Bùi Kiêm Bích, còn có bút hiệu khác: Thanh Ba, Ngao Châu, Bạch Mai Châu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Sài Gòn. Ngoài các bài đăng các báo công khai như Lẽ sống, Đại chúng, Thần chung, Tiếng chuông, Ngày mới, ông là thành viên ban biên tập báo Việt Minh (Thành bộ Việt Minh Sài Gòn), Liên Việt và Tổ quốc trên hết (Mặt trận Liên Việt Sài Gòn). Với bút hiệu Ngao Châu, ông có tập thơ Chiêu hồn (nhà xuất bản Dân tộc, 1949) và Đường lên cõi Bắc (phóng tác theo truyện của nhà văn da đen Richar Wringt, Nxb Đại chúng, 1949), Văn phạm Việt Nam (1952) và Lịch sử giải phóng Việt Nam (Bùi Đức Tịnh và Hùng Ngôn, 1948)...

Lê Thọ Xuân, một cây bút khảo cứu, đã có nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí trước CMT8-1945 như Đồng Nai, Mai, Tri tân, Đại Việt tạp chí, trong kỷ yếu Société des Études Indocchinoises. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Chủ tịch phong trào "Báo chí thống nhất" tại Sài Gòn, chống chủ trương Nam Kỳ tự trị "của Pháp và tay sai". Năm 1949, ông phụ trách Ban biên tập báo Thần chung (của Nam Đình) với sự cộng tác của Nguyễn Văn Hiếu, Phi Vân, Bùi Đức Tịnh, Thê Húc; phụ trách tuần báo Việt báo, tạp chí Sông Hương. Những bài nghiên cứu của ông về văn chương, lịch sử được viết trên lập trường dân tộc, yêu nước và tiến bộ.

Chú thích

(1) Hai tiểu thuyết khác: Vỡ đất của Hoàng Văn Bổn, viết về đề tài sản xuất và chiến đấu của bộ đội miền Đông Nam Bộ, giải nhất giải thưởng Văn nghệ Cửu Long 1951-1952 và tiểu thuyết 2707 của Trần Vạn An viết về đề tài hoạt động của quân báo ở nội thành.

(2) Nxb Hương quê, 1953. 

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Ba ChâuBa Châu
&nbsp;

Nơi  phát xuất cuộc khởi nghĩa chống Pháp do Lê Quang Quan (tức Tán Kế) khởi xướng năm 1868 gồm 3 làng: Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình, tổng Bảo An, phủ Hoằng Đạo, tỉnh Vĩnh Long nay thuộc huyện Giồng Trôm.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )Thế kỷ 20 ( 1970 -  1975 )

1970

26 tháng 3, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, ban hành "Luật người cày có ruộng" nhằm tạo ra một tầng lớp xã hội là tư sản ở nông thôn, làm chỗ dựa về kinh tế, chính trị, xã hội cho chế độ thực dân mới.

6 tháng 7, "Chuồng Cọp”, một chứng tích về thủ đoạn ngược đãi tù chính trị ở nhà lao Côn Ðảo, bị vạch trần và trở thành vấn đề quốc tế lớn.

1971

22 tháng 6, Thượng nghị viện Mỹ thông qua nghị án rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 9 tháng.

20 tháng 9, Ðại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua LLVT giải phóng Ðông Nam Bộ và Sài Gòn, họp trong 4 ngày (20 đến 23-9-1970). Quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN tuyên dương danh hiệu "Ðơn vị anh hùng" cho 21 đơn vị và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng cho 16 cá nhân.

1972

20 tháng 3, LLVT tỉnh Biến Tre tiêu diệt chi khu quân sự Trúc Giang.

Tháng 7, Thời kỳ "bình định” ác liệu của địch. Ðể đối phó kịp thời âm mưu địch, Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành Châu Thành Ðông và Châu Thành Tây; chia đôi huyện Mỏ Cày thành Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, lấy con sông Mỏ Cày làm ranh giới.

22 tháng 10, VNDCCH và Mỹ thừa nhận toàn văn bản thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và lấy ngày 31-10 làm ngày ký chính thức.

1973

27 tháng 1, Tại Paris, đại diện 4 bên: Chính phủ VNDCCH, Chính phủ CMLTCHMNVN, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ VNCH đã ký "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" và các nghị định thư kèm theo.

1 tháng 2, Phái đoàn quân sự của Chính phủ CMLTCHMNVN do tướng Trần Văn Trà dẫn đầu rời sân bay Lộc Ninh vào Sài Gòn, nhận nhiệm vụ mới tại Ủy ban Liên hiệp quân sự 4 bên đặt tại sân bay Tân Sơn Nhất.

29 tháng 3, Tổng thống Nixon tuyên bố kết thúc chiến tranh Việt Nam, hoàn thành việc triệt thoái quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, giải tán Bộ Tư lệnh quân Mỹ. Theo công bố, từ 1961 đến 28-1-1973, quân Mỹ chết 46.000 người trong chiến đấu, chết 10.000 người vì tai nạn, bị thương 300.000. Binh lực đã huy động 2,5 triệu lượt người.

Tại Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ tổ chức lễ “Cuốn cờ” đánh dấu chấm dứt sự có mặt của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Sau đó, tướng Weyand, Tổng tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đến nhập với toán lính Mỹ cuối cùng, lặng lẽ lên máy bay rời khỏi Sài Gòn.

20 tháng 7, G.Martin thay Bunker làm Ðại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

1974

29 tháng 9, Ủy ban vận động đòi cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam ra tuyên bố tố cáo Nguyễn Văn Thiệu dùng những thủ đoạn đen tối, đày ải hàng chục vạn tù chính trị và đòi trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ.

10 tháng 10, Chống lại chính sách bóp nghẹt do báo chí của chế độ Sài Gòn, 400 nhà báo đã xuống đường có mang theo bị, gậy, nón rách, dẫn đầu cuộc tuần hành của 5.000 người, đi từ Câu lạc bộ báo chí Sài Gòn đến chợ Bến Thành. Ngày nay được giới báo chí đặt tên là "Ngày các ký giả đi ăn mày" sau khi Thiệu ban hành Luật 007 về báo chí.

1975

6 tháng 1, Từ ngày 22-12-1974 đến ngày 6-1-1975, Quân giải phóng đã tiến công, bao vây các căn cứ Ðồng Xoài, Bố Ðức, Ðức Phong và thị xã Phước Long, tiêu diệt 3.000 quân địch, thu 3.000 súng các loại, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.

10 tháng 3, Quân giải phóng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột, tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở đây gồm Sư đoàn 23, trung đoàn 23, 1 chi đội thiết giáp, 1 tiểu đoàn bảo an, 57 trung đội dân vệ. Sau 2 ngày chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã, phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng thủ của địch trên chiến trường Tây Nguyên.

11 tháng 3, Thị xã Buôn Mê Thuột hoàn toàn được giải phóng.

8 tháng 4, Thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh gồm:

Phạm Hùng, Bí thư TƯC làm Chính ủy.

Ðại tướng Văn Tiến Dũng làm Tư lệnh chiến dịch.

Các tướng Trần Văn Trà, Lê Ðức Anh, Lê Trọng Tấn, Ðinh Ðức Thiện làm Phó tư lệnh.

Tướng Lê Quang Hòa làm Phó chính ủy.

Tướng Lê Ngọc Hiền quyền Tham mưu trưởng chiến dịch.

8 tháng 4, Nguyễn Thành Trung, một cơ sở nội tuyến của ta hoạt động trong lực lượng không quân Sài Gòn, lái chiếc máy bay F.5 do Mỹ chế tạo, ném bom trúng dinh Ðộc Lập và hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ chính quyền Sài Gòn, đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chúng.

13 tháng 4, Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh nhất trí gửi bức điện đề nghị BCT xin được đặt tên chiến dịch này là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

11 tháng 4, Ðúng 19 giờ, một bức điện của BCT từ Hà Nội gửi đến Bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.

Ðiện số 37/TK, 19 giờ ngày 14-4-1975. Ðồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là "Chiến dịch Hồ Chí Minh".

18 tháng 4, Trước sức tấn công thần tốc của Quân giải phóng, Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Dean Brown được cử phụ trách việc này cùng với lực lượng đặc nhiệm gồm không quân, hải quân với 35 tàu chiến (có 4 tàu sân bay) và hàng trăm máy bay thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

21 tháng 4, Theo sự đạo diễn của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống để Trần Văn Hương lên thay thế. Trong bài diễn văn đọc ở buổi lễ nhậm chức, Trần Văn Hương hứa “sẽ chiến đấu đến người lính cuối cùng". Thế nhưng, chỉ trong vòng một tuần lễ, Trần Văn Hương đã hoàn toàn bất lực, đành giao quyền lại cho Dương Văn Minh.

22 tháng 4, Tổng thống Mỹ G.Ford tuyên bố: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với Mỹ. Không thể giúp người Việt Nam (chính quyền tay sai Sài Gòn) được nữa. Họ phải đương đầu với bất cứ số phận nào đang đợi họ”.

23 tháng 4, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn và cả nội các của chính quyền Sài Gòn tuyên bố từ chức. Nhiều sứ quán phương Tây ở đây đóng cửa. Các công ty hàng không quốc tế ngưng hoạt động. Tổng thống Trần Văn Hương cử đại diện đến Tân Sơn Nhất, gặp Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN xin thương lượng.

28 tháng 4, Lúc 17 giờ, Tổng thống Trần Văn Hương sau khi nhậm chức được 7 ngày, đã tuyên bố từ chức, giao quyền cho Dương Văn Minh.

Khi vừa lên nhậm chức thay Trần Văn Hương, Dương Văn Minh đã cử người vào gặp phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN để thương lượng. Nhưng phái đoàn không chấp nhận đề nghị đó.

Tổng thống Mỹ G.Ford ra lệnh cho quân Mỹ và nhân viên Ðại sứ quán Mỹ rút khỏi Sài Gòn.

Lúc 17 giờ, phi đội máy bay A.37 (lấy của địch trước đó gồm 5 chiếc) mang tên Quyết thắng, xuất phát từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) do Nguyễn Thành Trung (phi đội trưởng), Từ Ðể, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On (phi công của quân đội Sài Gòn ở lại) ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, rồi hạ cánh an toàn ở sân bay Lộc Ninh. 20 máy bay địch bị phá hủy trong trận oanh kích này.

Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn Cao Văn Viên, nguyên Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cùng nhiều sĩ quan cao cấp khác lên máy bay trực thăng Mỹ, chuồn ra nước ngoài.

29 tháng 4, Ðại sứ Mỹ đóng cửa. Người Mỹ "tháo chạy tán loạn".

30 tháng 4, 3 giờ 30, Tổng thống G.Ford ra lệnh cho Ðại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn "chấm dứt di tản vào 3 giờ 30 phút (giờ địa phương) sáng ngày 30-4, nhưng lệnh không thi hành đựơc".

4 giờ 20, một máy bay CH-53 đổ xuống sân thượng tòa Ðại sứ để đưa Ðại sứ Martin di tản.

5 giờ 24, Moorefield, người mà Martin chọn làm quản lý tòa Ðại sứ cùng với 4 người Mỹ khác đã đi trong chuyến trực thăng cuối cùng rời Sài Gòn lúc 5 giờ 24 phút.

Chuẩn tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và tướng Nguyễn Hữu Có lên gặp Tổng thống Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự. Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đi đến quyết định đơn phương ngừng bắn, “chờ bàn giao trong vòng trật tự". Bản tuyên bố được phát trên Ðài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút.

Trận đánh cuối cùng ở cổng số 5, sân bay Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ. Ðợt xung phong đầu tiên của xe tăng và bộ binh của ta bị đối phương bẻ gãy. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt, hơn một giờ sau khi cờ Mặt trận đã bay trên dinh Ðộc Lập.

11 giờ 30, chiếc xe tăng mang biển số 843 dẫn đầu đội hình chiến đấu tiến đến hàng rào dinh Ðộc Lập, húc thẳng vào cổng phụ ngay bên cạnh cổng chính, nhưng do tác động mạnh đột ngột, chân ga thấp, nên chết máy, ngừng lại. Ngay sau đó, xe số 390 do Chính trị viên đại đội Vũ Ðăng Toàn điều khiển, đã vòng lên, húc đổ cổng chính. Trong khoảnh khắc đó, Ðại đội trưởng Bùi Quang Thận, từ chiếc xe 843, cầm cờ, lao lên trong sự yểm hộ của đồng đội, chạy thẳng đến ban công thượng của dinh Ðộc Lập, hạ lá cờ 3 que xuống, kéo lá cờ cách mạng lên, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền VNCH và sự toàn thắng của ta.

Ðại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ được chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn thẳng vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu (lúc 12 giờ). Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 và trung tá Nguyễn Tấn Tài, lữ đoàn trưởng cũng có mặt. Hai cán bộ tình báo của cách mạng, với tư cách là người của "lực lượng thứ ba" đã ở đây từ sáng, đến vận động Dương Văn Minh sớm đầu hàng là Vũ Ngọc Nhạ, Tô Văn Can.

Dương Văn Minh, đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông đến để bàn giao".

Bùi Văn Tùng tuyên bố: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao".

Dương Văn Minh trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phạm Xuân Thệ lúc 13 giờ rồi đến Ðài phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh ngay trên Ðài phát thanh.

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh phát lệnh, quần chúng Sài Gòn - Gia Ðịnh đã nổi dậy ở 107 khu vực, trong đó có 31 khu vực nội thành, 76 khu vực ngoại thành, 66 khu vực quần chúng đã làm chủ trước khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng và 41 khu vực sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, nhưng quân chủ lực chưa đến.

Trong tình thế tuyệt vọng, vào lúc 18 giờ, Phạm Chí Kim đại tá, tỉnh trưởng Bến Tre bỏ trốn (sau đó bị bắt). Ðến 20 giờ, thiếu tá Bửu và đại úy Chương, được sự móc nối trước của ta, đã nhân danh tỉnh trưởng triệu tập các sĩ quan còn lại của tiểu khu tuyên bố đầu hàng.

1 tháng 5, Giải phóng hoàn toàn thị xã Bến Tre và các huyện trong tỉnh.

2 tháng 5, Thành lập Ủy ban Quân quản tỉnh Bến Tre.

Lúc 14 giờ, Thượng tướng Trần Văn Trà dẫn đầu Phái đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN đến dinh Ðộc Lập, gặp những người đại diện của Chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng vào lúc 11 giờ 30 ngày 30-4, hiện đang bị quản thúc tại đây.

3 tháng 5, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh được thành lập theo quyết định của Chính phủ CMLTCHMNVN gồm 1 chủ tịch, 5 phó chủ tịch và 5 ủy viên. Tướng Trần Văn Trà được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân quản thành phố.

6 tháng 5, Bộ Chỉ huy các LLVT Giải phóng miền Nam ra thông cáo: "11 giờ 30 ngày 30-4-1975, quân giải phóng đã cắm cờ của Chính phủ CMLTCHMNVN lên phủ Tổng thống của ngụy quyền Sài Gòn.

Trong chiến dịch này, ta đã tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã hơn 40 vạn quân địch thuộc Quân đoàn 3 và 4, 10 sư đoàn chủ lực và tổng dự bị, 12 chiến đoàn thiết giáp, 5 sư đoàn không quân, 90 giang đoàn, hải đoàn, toàn bộ lực lượng cảnh sát và phòng vệ dân sự, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống chính quyền từ trung ương đến xã ấp, giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh và các tỉnh còn lại...".

5 tháng 6, Từ ngày 5-6 đến ngày 11-6, tại dinh Ðộc Lập, diễn ra Hội nghị liên tịch (mở rộng) gồm các đại diện MTDTGPMNVN, LMCLLDTDCVHB, Chính phủ CMLTCHMNVN, Hội đồng cố vấn Chính phủ CMLTCHMNVN, đại diện các đoàn thể, lực lượng trí thức thành phố bàn về Hiệp thương thống nhất Tổ quốc.

15 tháng 11, Từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa hai miền Nam - Bắc, bàn về thống nhất Tổ quốc đã diễn ra tại dinh Ðộc lập.

Đã ban hành
Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)Nguyễn Phi Hoanh (1904 - 2001)
&nbsp;

    Sinh ngày 18-10-1904 tại làng An Hội, huyện Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình có truyền thống hành nghề Đông y. Học tiểu học ở Bến Tre sau lên học trung học ở Trường Taberd (Sài Gòn). Từ nhỏ, ông đã say mê nghệ thuật, qua những bức tranh thủy mặc treo nơi bàn thờ tổ tiên. Ý tưởng muốn theo học ngành nghệ thuật ở nước ngoài đã thôi thúc ông tìm đường sang Pháp.

   Theo lời khuyên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Pháp, ông dự thi vào Trường Mỹ thuật Toulouse và đã đỗ sau kỳ thi sát hạch. Ba năm miệt mài học tập, ông đã đỗ bằng tốt nghiệp ngành sơn dầu với đề tài Người mẫu xem tranh khi họa sĩ vắng mặt. Tác phẩm này đoạt giải nhất Manry của thành phố Toulouse với huy chương bạc và 1.000 quan tiền thưởng. Ông đến Paris, học tiếp ở Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật, vừa phải chật vật kiếm sống để tiếp tục học tập, vừa tham gia phong trào sinh viên Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ ở Pháp.

   Năm 1934, ông về nước. Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Krautheimer tìm cách tranh thủ ông, đề nghị ông làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, nhưng ông từ chối, về tạm trú nơi quê vợ ở Mỹ Tho. Tại đây, nhà sư Minh Đường trụ trì ở chùa Vĩnh Tràng đã đặt ông làm tượng mình và vị sư tiền nhiệm. Tượng hai vị hòa thượng mặc áo cà sa, chắp tay niệm Phật còn được lưu giữ đến nay ở bên cổng chùa.

   Một thời gian sau, ông lên Sài Gòn sống bằng nghề vẽ tranh phong cảnh (Một số tranh tĩnh vật vẽ theo phong cách tân cổ điển, nay được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).

  Năm 1935, ông dạy vẽ ở Trường Donnai và Huỳnh Khương Ninh. Cũng trong thời gian này tập tiểu thuyết Vì đâu, chủ đề tố cáo chính sách cai trị của thực dân Pháp được đăng tải nhiều kỳ trên báo Dân quyền. Tháng 8-1945, ông tham gia giành chính quyền Sài Gòn, được bầu làm đại biểu Quốc hội tỉnh Mỹ Tho, khóa đầu tiên. Khi kháng chiến bùng nổ, ông là ủy viên tài chính UBKCHC Nam Bộ.

   Sau hiệp định Genève, tập kết ra Bắc, ông được điều về giảng dạy ở Trường Mỹ thuật Việt Nam toàn quốc tại Nhà hát lớn Hà Nội, bức tranh Hồi tưởng đất Bắc của ông đã đoạt giải nhì. Bức tranh được Đại sứ Tiệp Khắc tại Hà Nội mua ngay trong ngày khai mạc.

   Về đề tài lịch sử chống ngoại xâm, ông có những bức tranh Hai Bà Trưng xuất trận, Trận Bạch Đằng, Vua Quang Trung tiến vào Ngọc Hồi, Trương Định được nhân dân phong soái v.v… Những tranh này hiện đang được lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh. Cũng trong thời gian này, ông hoàn thành quyển Lược khảo mỹ thuật Việt Nam (Nxb KHXH, 1970). Sách được dịch sang tiếng Nga sau đó.

   Hòa bình lập lại, ông trở về TP. Hồ Chí Minh, giảng dạy lịch sử mỹ thuật ở Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Tác phẩm Một số nền mỹ thuật thế giới được Nxb Văn hóa in năm 1978. Quyển sách đã được ông bổ sung, hoàn chỉnh và ra mắt bạn đọc với tên mới Mỹ thuật và nghệ sĩ (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1993). Ký ức lão cuồng họa, tập hồi ký kể về cuộc đời mình từ lúc nhỏ nơi quê nhà, sang Pháp học hành, tham gia cách mạng và hoạt động nghệ thuật chưa kịp xuất bản, thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 9-1-2001.

   Cuộc đời ông là một tấm gương lao động nghệ thuật tận tụy và trong sáng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất. Viện Tiểu sử ABI (Mỹ) tặng ông Huy chương vàng năm 1997.

Đã ban hành
Cụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinhCụ Phan Thanh Giản được lịch sử tôn vinh
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. Ông là vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ, thi đỗ vào năm 1826, rồi làm quan dưới 3 triều nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Ông là một người tài giỏi, một nhà văn, nhà thơ, và là một vị quan thanh liêm, ngay thẳng nên con đường hoạn lộ của ông cũng lắm nỗi thăng trầm. Bi kịch cuối đời của ông gắn liền với giai đoạn các tỉnh Nam kỳ bị thực dân Pháp xâm chiếm, mà đỉnh điểm là sự kiện ba tỉnh miền Tây Nam kỳ gồm An Giang, Hà Tiên, và Vĩnh Long lọt vào tay quân xâm lược Pháp lúc ông đang được giao trọng trách Kinh lược sứ trấn giữ các tỉnh này. Thành mất, ông đã chọn cho mình cái chết như một vị tướng trung liệt, thành mất thì mất theo thành.

Image
Cụ Phan Thanh Giản

Hơn 140 năm qua, sau khi mất, ông vẫn còn mang theo nỗi đau vì bị kết tội là “bán nước”. Tuy nhiên, mới đây, một tin vui đã làm nhẹ lòng những ai từng ngậm ngùi thương tiếc khi nhắc đến cuộc đời cụ Phan Thanh Giản. Ngày 24-1-2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn cho phép tôn vinh nhân vật Phan Thanh Giản dựa trên những kết luận đánh giá của Viện Sử học. Cụ thể như sau: Kiểm kê các di tích liên quan đến nhân vật, trên cơ sở đó lập kế họach tu bổ, tôn tạo. Tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tham luận về cuộc đời nhân vật Phan Thanh Giản. Cho phép tạc tượng đồng nhân vật Phan Thanh Giản và đặt ở vị trí xứng đáng ở khu vực trung tâm thị xã Bến Tre.

Việc tôn vinh cụ Phan Thanh Giản làm xúc động lòng người dân Bến Tre. Lịch sử đã công bằng khi đánh giá những cống hiến của cụ Phan Thanh Giản, trân trọng nhân cách, lối sống của cụ – một nhân cách dù ở bất cứ giai đọan lịch sử nào cũng là tấm gương cho hậu thế noi theo.

Đã ban hànhThu Thủy (Bảo tàng Bến Tre)
Họa sĩ Đoàn Việt TiếnHọa sĩ Đoàn Việt Tiến
&nbsp;

Image
Đoàn Việt Tiến với tác phẩm chân dung Hồ Chí Minh vẽ ngược lên mặt sau của kính thủy tinh
Có lẽ thương binh Đoàn Việt Tiến là người đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Việt Nam vẽ tranh sơn dầu bằng 5 đầu ngón tay, mà lại vẽ ngược lên mặt sau của kính thuỷ tinh. Để thành công với cách vẽ sáng tạo độc đáo này, anh đã trải qua 10 năm khổ luyện cùng những nỗi đau xô chụp xuống cuộc đời, mà đỉnh điểm là hạnh phúc gia đình tan vỡ...

Thăng hoa từ niềm say mê...

Năm 2001, kỷ niệm 71 năm Ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3.2), Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM mở cửa triển lãm bộ sưu tập tranh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẽ trên kính thuỷ tinh. Đó là 30 bức tranh sơn dầu khổ 0,8 x 1m và 0,8 x 1,2m mà tác giả - họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến (quê ở Bến Tre) trao tặng sau suốt 100 ngày đêm miệt mài vẽ ngay tại TPHCM. Tiến không vẽ tranh bằng cọ hay bút. Với chất liệu sơn dầu, anh vẽ bằng 5 đầu ngón tay và vẽ ngược lên sau mặt kính. Điều đó đã gây ngạc nhiên, thích thú đối với nhiều người xem triển lãm. Cách vẽ độc đáo của Tiến đã tạo ra những bức tranh sống động, sắc sảo trông giống như ảnh chụp. Có thể nói, bộ tranh vẽ chân dung Bác Hồ qua các thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam là bước ngoặt đưa người thương binh tài hoa sống lặng lẽ ở vùng quê nghèo thuộc xã Phú Đức (huyện Châu Thành, Bến Tre) đến với công chúng yêu hội hoạ. Bảo tàng Bến Tre, ngay sau đó mời anh thực hiện bộ tranh chân dung Hồ Chủ tịch cho quê nhà. Sau đợt triển lãm, Tiến đã vẽ khoảng 200 bức tranh chân dung Hồ Chủ tịch tặng nhiều cơ quan trong nước. Rồi hàng loạt hợp đồng khác... níu lưng Tiến, đưa anh trải qua những ngày vẽ đến gần như kiệt sức. Bà Đoàn Thị Thành (mẹ Tiến) nhớ lại: "Một thời gian dài sau cuộc triển lãm ở TPHCM, thấy con lao vào vẽ ngày vẽ đêm, tôi lo nó không đủ sức khoẻ, mà Tiến ngã bệnh thật...".

Kỷ niệm 40 năm ngày đồng khởi, trong số nhiều vị khách quý về dự tại Bến Tre có ông Tổng Lãnh sự Cuba tại Việt Nam. Tiến vẽ chân dung lãnh tụ Fidel Castro với mục đích làm quà tặng. Nhà ngoại giao Cuba xúc động với bức chân dung vị lãnh tụ của đất nước mình được thể hiện sống động trên tấm kính thuỷ tinh. Ông càng cảm kích hơn khi biết rằng nó được vẽ bởi một cựu chiến binh - thương binh Việt Nam, sau đó ông đã mời Tiến đến thăm Tổng Lãnh sự quán Cuba tại TPHCM. Tại đây Tiến đã vẽ tặng bức chân dung Fidel thứ hai.

Cuối tháng 11.2002, tôi đến ấp Phú Xuân lần tìm nhà Tiến. Anh đang miệt mài vẽ để hoàn thành thêm một bộ tranh cho Bảo tàng Bến Tre và chuẩn bị đi Cần Thơ vẽ bộ sưu tập tranh hình ảnh người lính ĐBSCL theo hợp đồng với Bảo tàng Quân khu 9. "Do đâu anh có ý tưởng vẽ ngược lên kính bằng 10 đầu ngón tay và nảy sinh từ khi nào?" - tôi hỏi. Tiến kể: "Một hôm cách nay trên 10 năm, tình cờ nhìn thấy tấm kính phản chiếu ánh mặt trời trông thật lung linh, tôi nghĩ có lẽ vẽ lên kính tranh sẽ "sáng" lắm. Nhưng để giữ tranh được lâu phải vẽ ngược lên mặt kính. Và "linh cảm" của một người mê vẽ như mách bảo rằng vẽ bằng ngón tay thì tư duy sáng tạo của người vẽ sẽ truyền trực tiếp vào bức tranh, tác phẩm sẽ có hồn hơn.Vậy là tôi bắt tay vào... làm thử".

Cái rung cảm bất chợt của một chàng trai khi nhìn tấm kính lung linh dưới ánh mặt trời thật lãng mạn. Nhưng chỉ chừng ấy không thể sản sinh ra họa sĩ thương binh Đoàn Việt Tiến hôm nay. Tiến bộc lộ năng khiếu và mê vẽ từ nhỏ, đặc biệt là vẽ chân dung Bác Hồ. Anh kể với tôi như thuộc lòng: Sống ở quê ngoại, quê hương của đồng khởi - anh được nghe cô bác nói về Bác Hồ với niềm tôn kính, rồi cứ hình dung Bác như một ông tiên. Cho đến một hôm, cậu bé Tiến được mấy chú giải phóng quân cho xem ảnh Bác Hồ, anh thích quá cầm bút vẽ ngay. Được khen "cháu vẽ giống lắm", cậu bé vui sướng tới mức suốt những năm tháng sau đó say sưa tập vẽ theo ảnh Bác Hồ. Rồi năm 1979, cậu học sinh giỏi lớp 12 Trường THPT Châu Thành B tình nguyện đi bộ đội. 5 năm làm anh bộ đội trong đội hình Trung đoàn 4 (Sư đoàn 330), những ngày tham gia chiến đấu tại chiến trường K, anh vẫn say mê vẽ. Đó là những bức ký hoạ 32 trận đánh của đơn vị vẽ bằng bút bi, bằng than rừng trên giấy, trên vỏ và trên lá cây thốt nốt... Tiến nhớ lại: "Thời gian này, tôi vẫn say mê vẽ chân dung Bác Hồ...".

Vẽ từ nỗi đau đời

Bây giờ nghe Tiến kể, tưởng như cách vẽ ngược lên mặt kính bằng 10 ngón tay dễ như không. Thật ra, để có được thành công đầu tiên với bộ tranh tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TPHCM, Tiến đã phải trải qua 10 năm khổ luyện với cái giá khá nhiều cay đắng. Tiến bắt đầu luyện tập vẽ chân dung Bác Hồ ngược lên kính bằng ngón tay từ năm 1990. Trước khi bức vẽ đầu tiên thành công vào ngày 19.5.1999, Tiến đã vẽ hỏng hàng trăm bức. Thời gian 10 năm dài đằng đẵng ấy, anh thương binh Đoàn Việt Tiến còn phải lo chuyện mưu sinh. Ban ngày, anh rong ruổi khắp miền Tây vẽ (bằng bút) quảng cáo, kẻ chữ, chân dung... theo "đơn đặt hàng" kiếm sống để đêm đêm luyện vẽ ngược bằng 5 ngón tay trên kính. Lần mở các tập nhật ký, ngay cả Tiến dường như cũng không tin nổi anh đã phải trải qua trên 60 lần dời nhà bởi sự chuyển dịch vì cuộc mưu sinh! Bây giờ với những hợp đồng vẽ các bộ sưu tập tranh, cuộc sống của anh đã qua cơn bĩ cực. Nhưng nhớ lại những năm tháng khắc nghiệt của cuộc đời, giọng kể của Tiến vẫn bồi hồi...

Năm đầu tiên của thập kỷ 90, cha anh bệnh nặng khi Tiến vẫn đang còn túng bấn với "kiếp vẽ thuê" kiếm sống. Mẹ anh phải cầm cố mảnh vườn 4.000m2 lo chi phí chữa bệnh cho cha Tiến. Cha anh vẫn không qua khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Cuộc sống không ổn định nơi đất khách Tiền Giang, mẹ và anh dắt díu nhau về quê ở nhờ trên đất một người bà con. Trong căn chòi nhỏ không có cả điện thắp sáng ở cái xóm nghèo Phú Xuân, Tiến vẫn miệt mài luyện vẽ tranh ngược lên kính bằng ngón tay. Mẹ Tiến kể: "Nhiều đêm thấy con loay hoay vẽ tới khuya dưới ánh đèn dầu, những ngón tay bê bết sơn, lòng tui như đứt ruột...". Còn Tiến khi nhớ lại quãng thời gian lắm nhọc nhằn này, anh nghĩ và biết ơn người đã có tác động không nhỏ vào sự thành công sau này của anh. Đó là người bác ruột - nhà văn Đoàn Giỏi. Chính nhà văn đã khẳng định với Tiến rằng khổ luyện vẽ bằng ngón tay ngược lên mặt sau của kính, thì cũng phải khổ luyện thể hiện cho được cái "thần" trong đôi mắt của Bác mới có thể thành công với những bức vẽ chân dung Bác...

5 năm sau (1995), Tiến lập gia đình. Nhưng hạnh phúc lứa đôi chỉ kéo dài được 4 năm. Có lẽ không chịu đựng nổi cái khắc nghiệt của cuộc sống thiếu hụt vật chất đeo đẳng, vợ Tiến bế đứa con thân yêu của hai người đi biệt không hẹn ngày trở lại. Bất hạnh của đời thường khiến tâm hồn người thương binh 3/4 bị dằn vặt, giằng xé. Nhưng nỗi đam mê nghệ thuật là sức mạnh giúp Tiến đứng lên, vượt qua nỗi đau tinh thần. 5 ngón tay. Rồi cả 10 ngón tay. Anh lao vào luyện vẽ. Vẽ, vẽ và vẽ. 4 năm - quãng thời gian từ lúc vợ anh bế con rời xa cho đến khi bức vẽ ngược trên kính đầu tiên thành công (1999) - cuộc sống của Tiến gần như gói gọn trong từ "vẽ".

Ngồi với tôi trong xưởng vẽ giữa không gian yên ắng của vùng quê, nhớ lại cuộc chia tay đã lùi xa 4 năm, tôi không thấy Tiến bộc lộ một biểu hiện trách cứ nào. Trong câu chuyện lan man quẩn quanh về cuộc đời, về nghệ thuật, dù không ai nói ra, song anh và tôi hình như đồng ý với nhau rằng: Trong những khúc quanh, ngã rẽ của cuộc đời, lắm khi người ta phải có những quyết định lựa chọn đầy khó khăn. Như Tiến quyết tâm đeo đuổi niềm đam mê vẽ cháy bỏng trong máu thịt. Như vợ anh quyết định chọn một lối đi khác, mà có lẽ theo chị, phù hợp với cách sống của mình hơn. Nghĩ như thế, người ta sẽ không trách cứ nhau. Nghĩ như thế, dù nỗi buồn có đầy ắp, dù nỗi đau không dễ nguôi ngoai, người ta vẫn yêu cuộc đời này. Để sống. Để làm việc - những công việc mình yêu thích.

Bây giờ có thể nói Tiến đã thành đạt, đã thực hiện được ước mơ cháy bỏng của đời mình. Hợp đồng vẽ bộ sưu tập chân dung người lính ĐBSCL chỉ mới chuẩn bị thực hiện, Tiến đã nhận được nhiều lời mời ký hợp đồng tiếp tục vẽ các bộ sưu tập về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ, của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Bác... Như con ong làm mật cho đời, hoạ sĩ Đoàn Việt Tiến đã được công chúng yêu hội hoạ biết đến như một nghệ sĩ sáng tạo ra cách vẽ độc đáo. Còn tôi, tôi cứ muốn nghĩ về Tiến như một con người đã sống, đã yêu và làm việc hết mình cho cuộc sống này thêm đẹp...

Lê Như Giang
(Báo Lao
động 10.12.2002)

Đã ban hành
Di tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu HòaDi tích cuộc thảm sát 286 người của quân Pháp ở ấp cầu Hòa
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

  

Image
Di tích cuộc thảm sát
 Ấp Cầu Hòa thuộc xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, cách thành phố Bến Tre 9 km theo đường bộ. Vào lúc 5 giờ sáng ngày 10-1-1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất) , hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào.

   Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Một bia căm thù được dựng lên ở đây để nhắc nhở những thế hệ sau biết rõ tội ác tày trời của giặc.

  Di tích được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 04/QĐ-BVHTT, ngày 19-1-2001 công nhận là Di tích lịch sử quốc gia.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Trương Duy Hải
- Sinh ngày: 25/5/1959
- Quê quán: Xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường An Hội, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer