Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá. 
 
Sông Cổ Chiên (18/01/2007)
Sông Cổ Chiên nằm ở phía nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc điểm tương tự như sông Mỹ Tho. Về tên Cổ Chiên cũng có thuyết cho rằng tên sông có liên quan đến một sự kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII 
 
Sông Hàm Luông (18/01/2007)
Sông có tên gốc là Hàm Long, nhưng dưới thời phong kiến nhà Nguyễn, do "kỵ húy" để tránh chữ Long (Long là rộng, tượng trưng cho nhà vua), người ta gọi chệch là Luông và lâu ngày thành quen. 
 
Sông Ba Lai (18/01/2007)
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi... 
 
Sông Mỹ Tho (18/01/2007)
Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng.  
 
Vấn đề mặn (18/01/2007)
Trong thủy văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.Mặn biến đổi theo thời gianBến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ
 Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Ra đời ở một chiến trường bốn bề mênh mông sông nước và kênh rạch chằng chịt, trong một hoàn cảnh đặc biệt - giặc Mỹ áp dụng "chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông” - binh chủng đặc biệt này đã biết vận dụng một cách sáng tạo phương châm “lấy ít đánh nhiều”, lấy ý chí dũng cảm, trí thông minh để đối chọi lại với phương tiện hiện đại và kỹ thuật tối tân của Mỹ và đã đạt được nhiều chiến công vang dội liên tiếp, làm đau đầu những tên chỉ huy sừng sỏ của cái gọi là "Lầu năm góc phương Đông” ở Sài Gòn.

   Được thành lập năm 1961, ban đầu chỉ vỏn vẹn một tổ ba người, cho đến lúc trưởng thành gồm cả một đại đội với quân số 72 người. Ngoài đại đa số chiến sĩ là nam giới, còn có một đơn vị đặc công nữ (từ chỉ huy đến chiến sĩ đều do chị em tự quản lấy) mà những thành tích không kém thua nam giới. Đơn vị đặc công thủy Bến Tre không chỉ hoạt động trên địa bàn tỉnh nhà, mà còn chi viện cho các tỉnh bạn. Một tổ đặc công thủy ở đây đã tham gia đánh sập cầu Bến Lức (Long An) nằm trên đoạn quốc lộ 1A Sài Gòn - Mỹ Tho.

   Hoạt động của họ thường là thầm lặng, không ồn ào, rầm rộ, nhưng chiến công của họ thì lẫy lừng, vang dội, có lúc vượt ra ngoài biên giới đất nước. Với số quân không đông, nhưng thành tích của đội đặc công thủy Bến Tre thật là to lớn. Hằng trăm tàu địch, trong đó có những hạm tàu sửa chữa lớn có trọng tải hàng ngàn tấn, và hàng ngàn tên giặc bị nhận chìm xuống đáy dòng sông quê hương cùng với các loại vũ khí tối tân: xe pháo, thiết giáp, đạn dược các loại.

   Ðể đạt được những chiến công lừng lẫy đó, góp phần cùng sự nghiệp đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng quê hương, nhiều chiến sĩ đặc công đã ngã xuống, trong đó có Anh hùng LLVTND Hoàng Lam - người chỉ huy xuất sắc - có Nguyễn Thị Thủy, Lê Thị Hồng, những chiến sĩ đặc công dũng cảm, thông minh.

Chiến công đầu tiên 

   Để cắt đứt con đường bộ nối liền thị xã Bến Tre qua thị trấn Giồng Trôm, thị trấn Ba Tri để ra tận biển, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quyết định đánh sập cầu Chẹt Sậy. Nhiệm vụ đó được giao cho đội đặc công thủy và cũng coi như là thử thách đầu tiên của đơn vị đặc biệt này. Tổ chiến đấu gồm có Kiên Trì (tổ trưởng), Lê Tự, Hoàng Lam và Việt Dũng.

   Là một chiếc cầu quan trọng nằm trên đường vận chuyển chiến lược của cù lao Bảo, do đó địch bố phòng khá nghiêm ngặt. Trên cầu có một trung đội thường trực canh giữ ngày đêm. Đặc biệt ban đêm, đèn điện các trụ và hai bên mô cầu sáng trưng như ban ngày. Cứ cách khoảng 15 phút, chúng ném lựu đạn xuống quanh các chân cầu một lần và bắn vào tất cả những dề lục bình khả nghi trôi về phía cầu để đề phòng sự đột nhập của bộ đội, du kích ta.

   Vào một đêm tháng 11-1962, các chiến sĩ bằng kỹ thuật thuần thục, đã áp sát chân cầu, gài mìn, nhưng vì trục trặc về kỹ thuật, mìn không nổ, lại phải rút ra. Đêm hôm sau, các chiến sĩ đột nhập trở lại. Khối thuốc nổ lớn làm rung chuyển cả hai bên bờ sông. Hai nhịp cầu sắt dài trên 50m gục đổ. Sáng ra, nhìn cây cầu sập, đồng bào vô cùng hồ hởi, khâm phục trong khi địch hoang mang không hiểu bộ đội ta đã đột nhập bằng con đường nào. Tiếp theo chiến công này là một loạt trận đánh diễn ra ở các cầu Lương Quới, Giồng Quéo, Bình Chánh, Cái Cấm, Ba Lai. Riêng cầu Chẹt Sậy đã bị lực lượng đặc công thủy đánh đi đánh lại đến 4 lần. Lần cuối cùng vào tháng 4-1975, cận kế ngày giải phóng, nhằm hạn chế sự vận động xe cơ giới của địch trên đường này nhằm chống lại cuộc tiến quân của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đánh chìm hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre

   Trong những năm chiến tranh ác liệt, nơi vàm sông Bến Tre ra sông Hàm Luông, tàu chiến Mỹ thường tập trung rất đông, vì mực nước ở đây sâu, lòng sông rộng, địa hình trống trải, từ đây tàu địch có thể cơ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra trên một khu vực rộng lớn.

  Tổ đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy nhận được lệnh đánh vào chiếc tàu dài 110m, rộng 25m - một cơ xưởng nổi sửa chữa tàu thuộc loại hiện đại từ Mỹ đưa sang - đang đậu tại đây. Để bảo vệ tàu, địch quy định một chế độ canh phòng rất cẩn mật. Giữa dòng chảy xiết của sông Hàm Luông, chúng bố trí đèn pha cực mạnh có thể soi sáng từ xa, phát hiện tất cả những vật di động lớn nhỏ trên mặt nước. Cứ năm phút, lính tuần tiễu ném xuống quanh tàu lựu đạn và mìn hơi. Chúng còn dùng dòng điện cực mạnh phóng liên tục xuống nước để đề phòng đặc công ta có thể đột nhập vào bên trong cụm tàu đang bỏ neo. Trên bờ sông còn có bót Giồng Xoài, do một đại đội bảo an phối hợp cùng bọn mật vụ rải dài canh gác khu vực này, nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của bộ đội ta từ phía bờ.

   Đêm 23-11-1967, tổ đặc công xuất kích, đã dũng cảm, mưu trí vượt qua các màng lưới bố phòng của địch, kể cả máy bay trực thăng rọi đèn từ trên cao và các tàu tuần tiễu quần đảo liên tục chung quanh, đưa khối thuốc nổ 200kg áp vào thành buồng máy của hạm tàu một cách an toàn. Đúng 2 giờ khuya, một tiếng nổ long trời dội vào tận thị xã và vùng phụ cận. Có người đã chứng kiến hôm ấy, một cột nước cao gần trăm mét phụt lên không trung. Lửa cháy lan ra kín cả một khúc sông. Tàu 883 cùng 10 chiếc tàu nhỏ đậu chung quanh để chờ sửa chữa đều bị nhận chìm xuống dòng nước Hàm Luông, kéo theo hàng trăm sĩ quan, kỹ sư, thợ máy, kỹ thuật viên Mỹ, Úc, Tân Tây Lan...

Trận tập kích căn cứ nổi trên Hàm Luông

  Trong khi địch chưa hoàn hồn về trận tiến công hàm tàu sửa chữa đêm 23-11-1967, thì vào đêm 29-12-1967, các chiến sĩ bộ đội đặc công lại đánh bồi tiếp một trận mới tại căn cứ nổi của Mỹ nơi vàm Băng Cung. Trong trận này, đơn vị đặc công thủy đã đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có một tàu hải quân mang số 821 dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M.113 trên tàu bị phá hủy.

   Chỉ trong vòng hơn một tháng trời, bằng lực lượng nhỏ tinh nhuệ, quân ta đã đánh hai trận xuất sắc vang dội cả nước, gây tổn thất to lớn cho “chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông" của giặc Mỹ ngay trên chiến trường Bến Tre.

Đội nữ đặc công thủy 

   “Đội quân tóc dài" ở miền Nam, mà nơi đầu tiên ra đời là đất Bến Tre, từng vang danh trong cả nước và tiếng tăm của nó cũng đã vượt ra ngoài biên giới Tổ quốc. Thế nhưng, còn có một kỳ tích nữa của phụ nữ Bến Tre mà người ta ít biết đến là những chiến công xuất sắc của đội nữ đặc công thủy ở đây trong những ngày đánh Mỹ. Xét về mặt thể lực, về tâm sinh lý cũng như đặc điểm giới tính, chị em không thể bơi lội ngâm mình, vật lộn với sóng nước cả ngày như những "con cá kình" nam giới. Nhưng rồi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh - đánh địch trên bộ được, thì chị em cũng có thể đánh địch được cả ở dưới nước. Và, một tổ đặc công thủy toàn nữ ra đời. Thực tế, chị em không khỏe và có sức chịu đựng dẻo dai như nam giới khi vật lộn với sóng nước, nhưng bù vào đó là tác phong tỉ mỉ, chu đáo, kiên trì - những đức tính rất cần thiết đối với người chiến sĩ đặc công - và chị em cũng có ưu thế hơn nam giới là khi cần có thể trà trộn vào ra nơi địch đóng quân để điều tra, trinh sát, hoặc đưa những phương tiện đặc biệt cần thiết vào sâu bên trong, chuẩn bị cho trận đánh thắng lợi.

   Đội nữ đặc công thủy Bến Tre gồm một đại đội, hoàn toàn do chị em tự điều khiển, từ đại đội trưởng đến chính trị viên, tổ trưởng v.v... Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp hoạt động với các tổ nam đặc công, đơn vị của các chị đã hoạt động trên khắp sông nước Bến Tre. Trong những thành tích mà bản tuyên dương công trạng anh hùng của đơn vị đặc công thủy Bến Tre đã nêu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ" có phần đóng góp không nhỏ của chị em. Tất nhiên, có chiến công nào, thắng lợi nào mà không phải đổi bằng những hy sinh mất mát, có khác chăng sự hy sinh ở đây thường diễn ra thầm lặng hơn. Trong danh sách những liệt sĩ của đơn vị đặc công thủy có Nguyễn Thị Thủy hy sinh ở cầu Chẹt Sậy, Lê Thị Hồng hy sinh ở Phước Hiệp... Họ đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng quê hương ở tuổi đôi mươi đầy hứa hẹn.
Đã ban hành
Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”Khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách (Bến Tre) nơi được mệnh danh là “Vương quốc cây giống và hoa kiểng”
Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Huyện Chợ Lách, vùng đất đầu nguồn nước ngọt của tỉnh Bến Tre, nơi giao thoa giữa hai dòng sông lớn Cổ Chiên và Hàm Luông, thiên nhiên đã tạo nên tất cả những gì thuận lợi nhất để Chợ Lách trở thành một trong những vùng chuyên canh cây ăn trái, cây giống và hoa kiểng lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Về Chợ Lách, du khách sẽ thỏa sức đắm mình vào không gian sông nước hữu tình, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại cây trái ngon như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bưởi, bòn bon,... , thưởng thức ngay tại vườn sẽ là những trải nghiệm đáng nhớ cho một chuyến khám phá du lịch miệt vườn Chợ Lách.

Về với xứ sở “cây lành trái ngọt”

Bến Tre có 63.000ha dừa, chiếm trên 1/3 diện tích dừa cả nước và trên 33.000ha cây ăn trái, tập trung nhiều nhất là huyện Chợ Lách. Chợ Lách được biết đến như là “vương quốc trái cây, cây giống và hoa kiểng”, ngành du lịch của huyện đã không ngừng phát triển, hàng năm đón trên 200 ngàn lượt khách tham quan, đặc biệt trong Ngày hội Cây-trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp tỉnh Bến Tre được tổ chức tại huyện Chợ Lách (mùng 5/5 Âm lịch) đón trên hàng chục ngàn lượt khách tham quan, thưởng thức và mua sắm. Chính vì vậy, phát triển du lịch của huyện Chợ Lách được xem là một khâu đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế-xã hội của huyện. Trong đó, chú trọng phát triển loại hình du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch cộng đồng và du lịch homestay,…; các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trong tỉnh không ngừng đẩy mạnh phát triển điểm đến, xây dựng tour, tuyến du lịch về Chợ Lách với các sản phẩm du lịch đa dạng nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của du khách.

Đến huyện Chợ Lách, du khách sẽ đi từ hai hướng: Một là đi từ Vĩnh Long, qua phà Đình Khao đi 13km sẽ đến thị trấn Chợ Lách; hướng thứ hai là từ thành phố Bến Tre, xuôi theo Quốc lộ 57 khởi hành đi Chợ Lách, du khách sẽ ghé các điểm vườn kiểng, cây giống của làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” tham quan mô hình kiểng thú và kiểng lá với nhiều sản phẩm đa dạng, độc đáo thể hiện nét tài hoa của người nông dân vùng đất này. Ở đây, có rất nhiều sản phẩm kiểng hình như: bộ 12 con giáp, nhà cây xanh, lục bình, ấm trà, … .Mỗi năm, làng nghề “Hoa kiểng cây giống Cái Mơn” cung cấp cho cả nước hàng trăm loại cây giống hoa kiểng và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản...

 

Nghề cây giống và hoa kiểng là một sản phẩm du lịch độc đáo đối với du khách khi về du lịch miệt vườn Chợ Lách

Theo con đường hoa kiểng Nam Kinh-Vĩnh Bắc, du khách sẽ được ngắm nhìn dọc theo hai bên đường là những vườn cây giống và hoa kiểng rất đẹp, từng hàng kiểng, liếp hoa đua nhau khoe sắc đẹp lung linh dưới ánh nắng vàng buổi sáng bình minh. Dừng chân tại các điểm vườn sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, … du khách sẽ tham quan vườn cây đua nhau cho trái với mùa nào trái ấy, du khách có thể ăn trưa ở các điểm dừng chân nơi đây với nhiều món ăn dân dã miệt vườn hấp dẫn như: cháo gà ta thả vườn, cá tai tượng chiên xù, bánh xèo hến, canh chua cá bông lao,…

Đến đây, du khách sẽ bị cuốn hút trước những vườn sầu riêng trĩu quả, chôm chôm chín đỏ, vườn dâu xanh ngắt, vườn măng cụt, bòn bon, cam, quýt, bưởi, nhãn che khuất cả lối đi. Du khách có thể vào tận vườn tự hái và thưởng thức những trái chín thơm ngon, nghe chủ vườn giới thiệu và hướng dẫn cách chăm sóc từng loại cây để có được những vụ mùa trái cây đạt năng suất, chất lượng cao cung cấp cho thị trường cả nước.

 

Một vườn sầu riêng cơm vàng hạt lép ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre

Dừng chân ở xã Vĩnh Thành, du khách còn có dịp tham quan nhà thờ Cái Mơn - một trong những nhà thờ cổ xây dựng năm 1872 lớn nhất Nam Bộ, nơi sinh hoạt tôn giáo của hơn 90% cư dân Cái Mơn. Đối diện nhà thờ Cái Mơn là nhà bia tưởng niệm nhà bác học Trương Vĩnh Ký, một trong những nhà bác học nổi tiếng thế giới vào thế kỷ 19, thông thạo 26 ngoại ngữ và có 118 tác phẩm được xuất bản.

Đến Thị trấn Chợ Lách, du khách được du thuyền trên sông Cổ Chiên với khung cảnh sông nước hữu tình, hai bên là những vườn trái cây, du khách sẽ tham quan khu bảo tồn ốc gạo Phú Đa, tản bộ trên con đường quê, tham quan cơ sở nuôi ong mật, thưởng thức tách trà mật ong và mua đặc sản mật ong về làm quà.

Trải nghiệm thưởng thức đặc sản địa phương

Về Chợ Lách, ngoài việc được thưởng thức trái cây miệt vườn, tham quan các cơ sở cây giống và hoa kiểng thì du khách còn được thưởng thức các đặc sản địa phương độc đáo. Mỗi năm, xứ này đón khách đổ về vui chơi miệt vườn, thưởng thức tài nghệ của nông dân có bàn tay vàng trong các món ăn đặc sản như bánh xèo hến, ốc gạo cồn Phú Đa và nghe đờn ca tài tử Nam bộ nơi vùng sông nước miệt vườn.

 

Đặc sản bánh xèo hến luôn hấp dẫn du khách

Trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư xây dựng hoàn thiện, khách du lịch về với huyện Chợ Lách ngày một đông hơn, mỗi khi đến mùa ốc gạo thì khách đến cồn Phú Đa đông hơn rất nhiều, họ đến đây để tham quan cồn, thưởng thức đặc sản ốc gạo Phú Đa. Ngoài ra, du khách cũng có thể thuê xe đạp khám phá du lịch vườn, đạp xe trên những con đường làng rợp bóng cây, tìm hiểu về cuộc sống của người dân xứ vườn, nét văn hóa cũng như phong tục tập quán của cư dân xứ cù lao. Đến huyện Chợ Lách, du khách cũng có thể tham gia loại hình du lịch homestay, tìm hiểu về những nét văn hóa địa phương xứ sở cây trái và hoa kiểng.

Hằng năm, huyện Chợ Lách đón trên 200.000 lượt khách đến tham quan, thưởng thức trái cây miệt vườn và mua các sản phẩm hoa kiểng các loại. Hiện tại, toàn huyện Chợ Lách có khoảng 30 cơ sở lưu trú, 17 cơ sở phục vụ ăn uống du lịch. Ngoài các điểm du lịch đã được hình thành trước đây như: Việt Hải, Năm Công, Ba Ngói, Tám Lộc, Ba Phúc, vườn xoài Thanh Sơn,… thì một số điểm mới hình thành và phát triển trong thời gian gần đây như: Đại Lộc, Bảy Thảo, Năm Vũ, Năm Hiền,... với các loại hình tham quan vườn cây ăn trái, làng nghề hoa kiểng Cái Mơn, du lịch homestay, thưởng thức mật ong, du lịch trên sông, trải nghiệm khám phá cồn Phú Đa, thưởng thức các món ăn đặc sản của miền Tây,… đều thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước.

Chợ Lách với ưu thế vườn cây ăn trái, hoa kiểng phong phú, cùng cảnh quan sinh thái miệt vườn hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng vùng sông nước Cửu Long. Chợ Lách đang dần khẳng định vị trí và thương hiệu không chỉ trên bản đồ du lịch của Bến Tre mà còn của vùng Nam Bộ và cả nước. Với những điều kiện như vậy huyện Chợ Lách sẽ phát triển du lịch bền vững cho Chợ Lách nói riêng và du lịch Bến Tre nói chung sẽ là điểm đến hấp dẫn trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)Tuyến du lịch cụm phía Đông duyên hải đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Cụm duyên hải phía Đông ĐBSCL theo đề án phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) định hình, có diện tích khoảng 8.618 km2, được bao bọc bởi các nhánh sông (sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu) thuộc hệ thống sông Cửu Long; các tỉnh cụm phía Đông nầy cũng là cửa ngỏ khi du khách từ các nơi trên cả nước về với miền Tây Nam bộ; đây là bốn địa phương gắn liền nhau chung một điểm đến.

Hành trình từ thành phố Hồ Chí Minh đến cụm liên kết bốn tỉnh rất dễ dàng khi hạ tầng giao thông vùng quê sông nước đã được đầu tư khang trang và thuận lợi; du khách đi ô tô theo đường cao tốc từ TP.HCM -Trung Lương chỉ mất khoảng 1 giờ, nếu đi theo quốc lộ 1A thì mất khoảng 1 giờ 20 phút là đến tỉnh Tiền Giang (68km) là tỉnh đầu tiên của cụm; quý khách đến đây sẽ bắt gặp trên 30 lữ hành của các tỉnh đang chào đón tại bến tàu du lịch Tiền Giang để đưa khách thập phương đi tham quan các tuyến điểm du lịch tại Bến Tre, Vĩnh Long hay cả miền Tây Nam bộ; bến tàu du lịch nầy có từ những thập niên cuối thế kỷ XX đến nay do hệ thống giao thông về các tỉnh trong khu vực thời điểm nầy còn phải ngăn sông, lụy phà.

Cầu Rạch Miễu xây dựng xong vào năm 2009, đi qua sông Tiền là đến huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre, dọc theo sông Tiền có gần 40 điểm dừng chân tham quan du lịch sông nước miệt vườn với nhiều mô hình làng nghề xen lẫn, du khách sẽ được các lữ hành đưa đi lênh đênh trên những chiếc tàu du lịch để ngắm nhìn quần thể Long, Lân, Qui, Phụng, đây là bốn cồn nằm trên sông Tiền, trong đó điểm du lịch cồn Phụng được chọn một trong những điểm tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long, du khách sẽ được chèo thuyền trong rạch nhỏ, tảng bộ trong đường làng để thưởng thức những trái cây ngon và uống ngụm trà mật ong, nghe đàn ca tài tử tại đây hay được đi trên những chiếc xe ngựa trên đường nông thôn hoặc tham gia tát mương bắt cá rồi thưởng thức tại chỗ cùng người dân sở tại.

 

Điểm dừng chân thưởng thức trà mật ong tại Châu Thành - Bến Tre

Rời khỏi Châu Thành, đi thêm 12km là đến TP.Bến Tre, du khách mua sản phẩm lưu niệm đặc sản có thể ghé các điểm trên đoạn đường nầy như: Kẹo Dừa Yến Hương, Thanh Long 1, Thanh Long 2, Thanh Long 3, kẹo dừa Bến Tre hoặc nhiều điểm khác trên các tuyến đường sẽ có đầy đủ những sản phẩm của quê hương như trái cây, hàng lưu niệm, kẹo dừa, bánh phồng, bánh tráng, .v.v. Thành phố Bến Tre là một thành phố trẻ, khang trang, sạch đẹp; một quê hương được mệnh danh là quê hương xứ dừa (với 63ha dừa, hơn 1/3 diện tích dừa cả nước hiện nay) cũng là nơi vương quốc cây trái, hoa kiểng, cây giống đã cung cấp trong cả nước và các nước lân cận; quê hương Bến tre còn giữ được nét hoang sơ đặt trưng của đồng bằng Nam bộ, phù hợp cho du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, kết hợp nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử; nhiều làng nghề truyền thống có hàng trăm năm tuổi; đặc biệt là nhiều món ẩm thực từ dừa như: Cơm nấu trong trái dừa, tép bạt đất rang nước cốt dừa, gỏi tủ hủ dừa, bánh xèo hến với tủ hủ dừa và nhiều món bánh ăn khác với nước cốt dừa,…; sẽ tạo nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách khi có một chuyến thưởng ngoạn tại quê hương xứ dừa…

 

Điểm dừng chân du lịch bên Cầu Rạch Miểu (Nhà hàng thủy sản Mê Kông)

Trên đường đi Trà Vinh, đến đỉnh cầu Hàm Luông, đây là cây cầu được bắt qua sông Hàm Luông, là một nhánh của dòng sông Mêkong hiền hòa, mọi người sẽ vô cùng thú vị và đầy ngạc nhiên khi mình đang ở trong giữa một rừng dừa bạt ngàn; tiếp theo quốc lộ 60 khoảng 30km qua phà Cổ Chiên (Cầu đang thi công) sẽ đến địa phận tỉnh Trà Vinh, một thành phố đẹp có nhiều cây cổ thụ quí giá nhất của vùng; một quê hương đa dạng nét văn hóa của nhiều dân tộc như: Kinh, Khơme, Hoa, nơi có nhiều lễ hội của các dân tộc như: Đua ghe ngo, lễ hội Ok – Om – Bok,…; đặt biệt Trà Vinh có khu đền thờ Bác Hồ đã được xây dựng từ thập niên 60 ở thế kỷ XX và được trùng tu khang trang trở thành điểm tham quan du lịch; trong khu có tái dựng nhà sàn Bác Hồ và những sản vật bảo tồn, bảo tàng làm phong phú cho sản phẩm du lịch; kế đó là khu Ao Bà Om thơ mộng bên cạnh chùa Ân thanh tịnh, với hàng trăm cây cổ thụ được trồng xung quanh đã làm nên một quần thể tham quan tuyệt đẹp trong lòng thành phố. Đặc biệt ở Trà Vinh du khách sẽ được chiêm ngưỡng và tham gia du lịch tâm linh trên 140 ngôi chùa Khơme như: Chùa Ân, Chùa Hang,…với nét kiến trúc màu sắc độc đáo của người Khơme.

Xuôi về  tỉnh Vĩnh Long, du khách chỉ mất một giờ đồng hồ là đến thành phố Vĩnh Long (60km) đây là một trong bốn tỉnh liên kết không có du lịch biển nhưng với du lịch sông nước miệt vườn đã phát triển tốt, đặc biệt là du lịch homestay đã đi vào hoạt động phục vụ khách quốc tế từ những năm 2004, sau đó mới phát triển qua Bến Tre. Đến đây du khách sẽ tiếp tục đi về các tỉnh của cụm phía Tây đồng bằng sông Cửu Long theo quốc lộ 1A như Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang hay Đồng Tháp. Từ đây du khách có thể đi đường thủy theo dòng Mêkông đi Châu Đốc và sang Nongpenh Campuchia hoặc sang sông hậu về các tỉnh cụm phía Tây ĐBSCL đến mũi Cà Mau.

Bốn địa phương của 4 tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang,Vĩnh Long và Trà Vinh; có cùng bản sắc văn hóa đồng bằng Nam Bộ, cùng chia sẻ một lịch sử chung, có cùng cội nguồn, đời sống sinh hoạt cũng có nét tương đồng, giống nhau về sông nước miệt vườn có tiềm năng du lịch đa dạng, nhưng có nhiều sản phẩm đặc thù khác nhau đem lại cho du khách một điểm đến hấp dẫn; đặc biệt là du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch homestays, du lịch nông thôn. Dự báo đến năm 2020 cụm sẽ đón 29% lượng khách nội địa và 56% lượng khách quốc tế của toàn vùng ĐBSCL. Đến cụm phía Đông duyên hải ĐBSCL, du khách muốn thưởng thức những món ăn đặc sản từ dừa, ăn bưởi da xanh thì đến Bến Tre; ăn bưởi năm roi thì ghé Vĩnh Long, không thể ghé Vĩnh Long mà ăn bưởi da xanh và đến Bến Tre mà ăn bưởi năm roi sẽ không ngon; muốn ăn dừa dứa, dừa xiêm thì đến Bến Tre, ăn dừa sáp thì qua Trà Vinh, muốn tham quan chợ nổi thì về Cái Bè (Tiền Giang), muốn đi du lịch biển, thưởng thức hải sản tươi sống thì xuống huyện Thạnh Phú, huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre hay Ba Động của tỉnh Trà Vinh… Do vậy mà mỗi tỉnh sẽ có những sản phẩm đặc thù của từng địa phương trong những nét chung của đồng bằng tạo thành một sản phẩm chung của cụm, tạo nên một điểm đến hấp dẩn với nhu cầu du lịch của một chuyến hành trình trên bốn địa phương.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)
 

Image
Quản Trọng Hoàng (1904-1942)
Sinh năm 1907 trong một gia đình nông dân ở làng An Định, quận Mỏ Cày, nay là xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học ở trường tiểu học tỉnh, rồi sang học trung học ở Collège Mỹ Tho. Sớm tiếp nhận các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, như phong trào để tang chí sĩ Phan Châu Trinh (4-4-1926); phong trào đòi thả tự do cho nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (4-1926). Năm 1927, thoát ly hoạt động cách mạng. Năm 1929, Quản Trọng Hoàng tham gia vào VNTNCMĐCH, rồi gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, đến đầu năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD, hoạt động ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (9-1930), thực dân Pháp tiến hành những cuộc khủng bố trắng, nhiều đảng viên ĐCS bị bắt, bị đày đi Lao Bảo, Côn Lôn. Trước tình hình đó ở Nam Kỳ, một số đảng viên tìm về vùng U Minh nương náu để tránh bị sự khủng bố của địch. Quản Trọng Hoàng cùng nằm trong số đó. Lúc đầu, ông về vùng Giá Rai (tỉnh Bạc Liêu) nhen nhóm, xây dựng cơ sở tại đây, nhưng rồi có nguy cơ bị lộ, nên phải chuyển về hoạt động ở làng Vĩnh Thuận, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Giữa năm 1932, ông cùng với Quản Trọng Linh, Trần Mão, Hà Thị Lan thành lập chi bộ đầu tiên ở vùng này, rồi mở rộng mối quan hệ với tổ chức ĐCS ở các địa phương khác.

   Năm 1938, khi Liên tỉnh ủy miền Tây thành lập, Quản Trọng Hoàng được cử làm Phó bí thư, đến năm 1937, được cử làm Bí thư Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

   Tháng 7-1940, trong cuộc họp của đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ tại một địa điểm của tỉnh Mỹ Tho, Quản Trọng Hoàng được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa ở tỉnh Cần Thơ.

   Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, khắp các tỉnh thành ở trong xứ, nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi, kẻ thù đã nắm được kế hoạch khởi nghĩa, nên các cuộc nổi dậy của quần chúng bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cùng nhiều đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có Quản Trọng Hoàng. Trải qua nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn giữ tròn khí tiết của người cộng sản kiên cường. Trong những ngày bị giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn, trong một bức thư gửi cho người yêu, cũng là một nữ đồng chí, Quản Trọng Hoàng khẳng định rõ lý tưởng của mình:

…Thù quân đế quốc – thù vô tận

Giận lũ tham tàn bất nhân

Nhắn bạn chung tình nên gắng sức

Bền gan rửa sạch nợ non sông.

   Đầu tháng 1-1942, tòa án thực dân Pháp ở Sài Gòn xử án các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa, Quản Trọng Hoàng bị kết án tử hình, số tù 105GAM. Trong khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn chờ ngày hành quyết, ông cũng đã cùng một số tù nhân khác tổ chức vượt ngục nhưng không thành. Ngày 22-7-1942, ông bị xử bắn ở Hóc Môn cùng với 9 đồng chí khác.

Đã ban hành
Nước ngầmNước ngầm
Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Kết quả thăm dò địa chất – thuỷ văn về nước ở giồng cát , nước ngầm tầng nông và nước ngầm tầng sâu cho thấy ở Bến Tre có các tầng nước như sau:

Nước ngầm ở giồng cát (phức hệ chứa nước Holocene)

Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt.

Theo tính toán của cơ quan khảo sát về nước ngầm, thì nước ở giồng cát có tổng trữ lượng là 12 triệu m3, môđun khai thác khoảng 844 m3/ngày/km2. Chất lượng nước ở vùng giồng cát thay đổi theo mùa và tuỳ thuộc vào độ sâu của giếng. Nhiều nơi, nước giếng bị nhiễm mặn do khai thác quá mức cho phép. Có nơi nước bị nhiễm bẩn do làm muối, nuôi tôm, chăn nuôi súc vật, thải ra nhiều chất hữu cơ. Nhìn chung, về mặt lý hóa, nước ở giồng cát còn tạm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt ở nông thôn trong hoàn cảnh hiện nay, dĩ nhiên về mặt vi sinh còn nhiều vấn đề phải xử lý.

Nước ngầm ở tầng (< 100 m)

Đây là phức hệ chứa nước Pleistocene, gồm hai tầng: tầng thứ nhất ở độ sâu 30 – 50 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng chứa nước < 10 m. Nước có tính kiềm, độ pH từ 6,5 – 7, hàm lượng sắt cao từ 0,5 – 5 mg/l, độ mặn dao động từ 454 – 5.654 mg/l. Cũng có khu vực nước nhạt tập trung ở phía bắc huyện Chợ Lách, huyện Châu Thành, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri (An Thuỷ).

Tầng thứ hai ở độ sâu từ 60 – 90 m, phân bố trải rộng khắp tỉnh với bề dày tầng nước > 10 m. Nước có độ pH từ 6 – 7,5, hàm lượng sắt cao từ 0,04 – 10 mg/l, độ mặn dao động lớn từ 454 – 15.071 mg/l, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng thứ hai có khu vực chứa nước nhạt phân bố ở phía bắc huyện Châu Thành, huyện Chợ Lách, một phần ở huyện Thạnh Phú và huyện Ba Tri.

Nước ngầm nhạt tầng nông đang được khai thác phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân trong chương trình cấp nước sạch ở nông thôn của tỉnh.

Nước ngầm ở tầng sâu (> 100 m)

Tầng này gồm 2 phức hệ chứa nước: phức hệ chứa nước Pléistocène và phức hệ chứa nước Miocène.

- Phức hệ chứa nước Pléistocène có nhiều lớp đan xen đến chiều sâu 395 m, trong đó quan trọng nhất là tầng sâu 290 – 350 m, phân bố rộng trong toàn tỉnh, trong đó nước tại Châu Thành có chất lượng tốt hơn cả. Diện tích phân bố tầng nước nhạt này khoảng 112 km2 từ thị xã Bến Tre về đến phía bắc phà Rạch Miễu với trữ lượng tiềm năng là 74.368 m3/ngày đêm, khả năng khai thác công nghiệp cho phép là 10.500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại là nước lợ, mặn.

- Phức hệ chứa nước Miocène tồn tại ở độ sâu 400 m trở xuống, gồm nhiều tầng nước, trong đó quan trọng nhất là tầng ở độ sâu 410 – 440 m, có bề dày trung bình tầng chứa nước là 18 m. Nước có chất lượng tương đối tốt, đạt tiêu chuẩn vi sinh. Tầng chứa nước nhạt này phân bố từ thị xã Bến Tre lên phía bắc huyện Châu Thành, với diện tích rộng 150 km2. Trữ lượng khai thác công nghiệp cho phép là 300 – 500 m3/ngày đêm. Các khu vực còn lại nhiễm mặn cao. Nước nhạt tầng sâu có khả năng khai thác để bổ sung cho nhà máy nước thị xã trong mùa khô đồng thời cung cấp cho các xí nghiệp chế biến của tỉnh.

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
&nbsp;

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình ChiểuDi tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

Image
Đền thờ Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu, sau khi bị mù hai mắt, mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh ở Bình Vi, Gia Định. Khi quân Pháp chiếm thành Gia Định, ông chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc, Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (1862). Tại đây, ông tiếp tục mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn chống Pháp cho đến cuối đời. Những tác phẩm có giá trị nhất của ông đều được viết từ nơi đây.

 Ngày 3-7-1888, ông trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 66 tuổi. Người ta kể rằng, hôm đưa đám tang ông, cánh đồng An Bình Đông, nay là xã An Đức, huyện Ba Tri, trắng xóa khăn tang – khăn tang của học trò, của các thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, của bạn bè và bà con xa gần mến mộ tài đức của ông. Khu mộ gồm có mộ nhà thơ, mộ bà Lê Thị Điền, người vợ đồng thời cũng là người trợ thủ đắc lực của ông trong sự nghiệp sáng tác thơ văn cũng như trong các họat động xã hội khác, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ, người nữ chủ bút báo Nữ giới chung.

 Hiện nay, khu mộ được mở rộng thành khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, có quy mô lớn hơn, gồm đền thờ, nhà lưu niệm tại xã An Đức, huyện Ba Tri, cách trung tâm thị trấn 2km về phía nam, nhằm tỏ lòng kính yêu một nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc ở nửa sau thế kỷ XIX, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ hôm nay. Di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27-4-1990.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
&nbsp;

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Nguyễn Thành TrungNguyễn Thành Trung
Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành. Năm 1969, Nguyễn Thành
Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy.

Anh hùng Nguyễn Thành Trung (tức Đinh Khắc Chung) sinh năm 1947, dân tộc Kinh, quê ở xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá quân đội nhân dân Việt Nam đã chuyển ngành.

Năm 1969, Nguyễn Thành Trung chuyển về công tác ở ban binh vận Trung ương Cục, được phân công làm cơ sở nội tuyến trong không quân Ngụy. Ngày 8-4-1975, từ căn cứ không quân địch, Nguyễn Thành Trung chủ động tìm cách xuất kích bằng máy bay F-5E ném bom bắn phá dinh Độc Lập. Lần đầu bom không trúng, anh kiên quyết bay trở lại cắt bom lần thứ hai, lần này trúng đích. Khi hết bom, Nguyễn Thành Trung dùng súng 20 ly bắn vào kho xăng Nhà Bè. Ngày 16-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ mới, cùng anh em gấp rút sửa chữa, phục hồi 5 chiếc máy bay A37 lấy được của địch, tập huấn cho phi công ta lái máy bay Mỹ. Nguyễn Thành Trung điều khiển phi đội A37 bay từ Phan Rang vào Sài Gòn ném bom bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất rồi bay về căn cứ an toàn.

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Thành Trung nhận nhiệm vụ xây dựng lực lượng không quân bằng những máy bay và vũ khí ta thu được của địch. Anh đã cùng cán bộ kỹ thuật ngày đêm sửa chữa, phục hồi số máy bay A37, máy bay F5, trực tiếp lái thử từng chiếc để xác định chất lượng; đồng thời tập luyện cho anh em phi công. Nguyễn Thành Trung đã có nhiều công lao đóng góp trong việc thành lập trung đoàn cường kích A37 và trung đoàn tiêm kích F5 - trung đoàn duy nhất của không quân Việt Nam sử dụng máy bay Mỹ.

Ngày 20-12-1994, Nguyễn Thành Trung được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Ba VátBa Vát
&nbsp;

Ba Vát (còn gọi Ba Việt)

Địa danh gốc Khmer (Pears Watt là chùa phật). Vào thế kỷ XVIII, nơi đây là huyện lỵ của huyện Tân An - một trung tâm kinh tế khá phồn thịnh thời bấy giờ. Năm 1777, đã diễn ra trận đánh ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Dương đã bị bắt tại đây…

Ca dao xưa:

        Sông Bến Tre nhiều hang cá ngát,

        Đường Ba Vát gió mát tận xương.

Câu ca dao phản ánh ít nhiều vị trí của thị tứ này thời ấy.

Thời KCCM, Ba Vát là quận lỵ của quận Đôn Nhơn (3-1963). Nằm trên đường Mỏ Cày đi Chợ Lách, Ba Vát là một thị tứ đang phát triển, có chợ có bến thuyền, kho hàng, trường học và nhiều cửa hàng, cơ sở dịch vụ.

Đã ban hành
Điểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị ĐịnhĐiểm đến Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định
Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

 

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định

Bến Tre được hình thành trên ba dãy đất cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa), thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Bến Tre có 04 con sông lớn bao bọc xung quanh: sông Hàm Luông, Cổ Chiên, Ba Lai và Sông Tiền đã mang nhiều phù sa màu mỡ bồi đắp cho vùng đất Bến Tre nguồn tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng. Vì vậy, mà Bến Tre là một trong những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước - miệt vườn đậm chất Nam Bộ rất được du khách ưa chuộng, đặc biệt là đối với du khách quốc tế. Ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên, thì Bến Tre còn là một trong những vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, vùng đất “Địa linh nhân kiệt” với hệ thống di tích khá lớn. Đây cũng là lợi thế để Bến Tre kết hợp khai thác du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch về nguồn…

Có thể nói rằng, vùng đất Bến Tre là một trong những nơi sinh ra nhiều vị tướng cách mạng, năm 2011 đã có 24 vị được phong hàm tướng, trong đó huyện Giồng Trôm có đến 11 vị tướng. Chính vì vậy, chúng tôi muốn đưa du khách đến dừng chân trên mãnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” gắn liền tên tuổi vị Nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Và chẳng biết tự bao giờ trong tiềm thức người dân xứ dừa Bến Tre luôn kính trọng, ngưỡng mộ tôn nghiêm nhớ đến Nữ tướng Nguyễn Thị Định và luôn gọi bằng “Cô Ba” với cả tấm lòng thân thương trìu mến.

 

Tưởng nhớ về Cô Ba, người dân Bến Tre hình như ai cũng hiểu về Cô: Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ thuở nhỏ trong mái ấm gia đình Cô đã sớm giác ngộ về lòng yêu nước, thương dân, căm thù thực dân Pháp xâm lược. Năm 1936, Cô tham gia cách mạng, lúc đó mới 16 tuổi. Năm 1938, Cô được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1946, Cô Ba Định là thành viên trong đoàn cán bộ của Khu 8 vượt biển ra Bắc gặp Đảng, gặp Bác Hồ để báo cáo tình hình cách mạng Miền Nam và xin chi viện vũ khí. Cô Ba Định tuy ít tuổi nhưng mưu trí, dũng cảm, nên được phân công làm thuyền trưởng trong chuyến tàu đầu tiên chở đầy vũ khí về đến nơi an toàn. Từ  đó, tên tuổi của Cô Ba Định gắn liền với huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ Cô Ba Định được phân công ở lại Miền Nam và được chỉ định vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy bí mật (tỉnh Bến Tre). Cô Ba đã cùng Tỉnh ủy Bến Tre lãnh đạo nhân dân  nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch tại ba xã: Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày nay là huyện Mỏ Cày Nam) đã làm thành công phong trào Đồng Khởi vào ngày 17/01/1960 mở đầu cho cao trào đồng loạt nổi dậy trong toàn tỉnh và cả miền Nam lúc bấy giờ.

Tháng 5/1961, Cô Ba Định là Khu ủy viên Khu 8, với nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy thắng lợi phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, Cô tiếp tục xây dựng và phát huy có hiệu quả sức mạnh của “Đội quân tóc dài” làm cho quân thù khiếp sợ.

 

Đầu năm 1965, Cô Ba là Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam, Ủy viên Quân ủy Miền Nam Việt Nam phụ trách phong trào du kích chiến tranh, trong đó có nhiệm vụ tiếp tục củng cố và phát triển “Đội quân tóc dài” làm nồng cốt trong lực lượng đấu tranh chính trị trực diện bổ trợ cho quân chủ lực, quân địa phương tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 4/1974, Cô Ba Định với quân hàm thiếu tướng là trưởng đoàn đại biểu Mặt trận quân đội, Hội Phụ nữ giải phóng Miền Nam  ra thăm Miền Bắc. Sau đó cùng đoàn dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IV và đi thăm các nước trên thế giới, khi trở về Cô Ba cùng với các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chỉ huy toàn thắng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.

Cô Ba Định có 56 năm hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục, đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc. Cô là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm  của một chiến sĩ cách mạng  với lòng nhân ái, bao dung, dịu hiền của một người phụ nữ Việt Nam. Với sự hy sinh cao cả đó Cô Ba đã được nhận nhiều huân, huy chương cao quý trong đó có: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Liên đoàn Phụ nữ dân chủ Thế giới, giải thưởng hòa bình quốc tế Lê nin, Huân chương Giron của nhà nước Cuba; Nhà nước - nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Cô vào ngày 30/8/1995.

Để tri ân công lao đóng góp của Cô Ba Định đối với quê hương, đất nước, ngày 26/12/2000 nhân dân Bến Tre đã khởi công xây dựng đền thờ Cô Ba tại quê nhà và đưa vào phục vụ từ ngày 20/12/2003. Khu đền thờ Cô Ba được đặt tên là “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định” tọa lạc tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, nằm trên đường tỉnh 885, cách thành phố Bến Tre khoảng 09 km. Xã Lương Hòa còn có tên “Làng Môncađa”. Vì theo lời đề nghị của đồng chí Trưởng đoàn Ủy ban Cuba đoàn kết với Việt Nam, Pêtrô Palaxiôt, trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 24 ngày Đồng khởi tổ chức tại Bến Tre (09/01/1984), UBND tỉnh đã quyết định chọn xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm làm địa phương "kết nghĩa" với Cuba mang tên Môncađa - nơi phóng lên phát pháo hiệu mở đầu của cuộc khởi nghĩa giải phóng Cuba khỏi ách thống trị của bọn bù nhìn Batixta. Như vậy, là ở Cuba cũng có tên "Làng Bến Tre", và ở Việt Nam, xã Lương Hòa được mang tên “Làng Môncađa” - biểu tượng đoàn kết của hai dân tộc anh em Việt Nam - Cuba.

 

Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam, trụ rào theo kiểu thức thống nhất của cổng, rào bằng thép thông thoáng có hoa văn trang trí ở phía trước. Đền thờ Cô Ba Định cao ráo, thoáng mát xây theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 4 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết. Đền có 3 cửa ra vào chung quanh có hành lang rộng. Trong đền thờ, tượng đồng chân dung vị Nữ tướng Nguyễn Thị Định trong trang phục áo bà ba khăn rằn quấn cổ, hình ảnh được người dân nhớ nhất khi nghĩ đến Cô Ba được đặt trang trọng trên bệ đá hoa cương. Trước đền là sân lễ, cây kiểng được trồng xung quanh các công trình kiến trúc, các trục đường đi bộ nối với những mảng cỏ xanh đệm ở phía trước, tạo cho toàn khu vực thêm vẻ mỹ quan. Ngoài đền thờ còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Cô Ba. Đây là một trong những công trình văn hóa điểm thêm một dấu son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử của Bến Tre.

Hàng năm, vào ngày 28/7 âl là ngày giỗ của Cô Ba, ngoài sự có mặt của gia đình, người thân, bè bạn…, còn có cả du khách trong, ngoài tỉnh đến đây viếng đền Cô Ba rất đông và tham gia vào các hoạt động: hát, múa lân, sinh hoạt giao lưu, nghe kể chuyện xưa bên các hiện vật cụ thể tại phòng trưng bày. Hiện tại, Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã trở thành điểm hẹn về nguồn thật sự có ý nghĩa với mọi thế hệ, là điểm đến lý tưởng cho du khách; là điểm tổ chức các buổi giao lưu, gặp gỡ, tọa đàm, họp mặt của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; là nơi tổ chức các buổi dã ngoại, hội trại…, và những buổi ngoại khóa cho học sinh, sinh viên về đây tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Cô Ba.

Hình ảnh hoạt động tại “Khu lưu niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định”


 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Các sinh vật trên cạnCác sinh vật trên cạn
 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

 Với đặc điểm đa dạng của cảnh quan Bến Tre, hầu như các loài chim của đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở đây đầy đủ, nhưng nhìn chung không loài chim nào có số lượng lớn. Ngoài nguồn lợi về thịt, trứng, lông (của các vườn chim, sân chim) và vai trò diệt sâu bọ phá hoại mùa màng, cây cối, những hoạt động tích cực của các loài chim đã làm đẹp thêm cuộc sống con người bằng bộ lông, tiếng hót, sự bay lượng, chuyền cành v.v... Đã có một thời bom đạn ác liệt và chất độc hoá học trút xuống quê hương xứ dừa, chim chóc cũng bỏ đi vắng bóng.

Đất vườn trù phú cũng là nơi sinh sống của các loài chim. Nhưng nổi bật nhất ở Bến Tre là các nhóm chim sống ven bờ nước, tiêu biểu cho rừng ngập mặn. Với những diện tích bãi triều rộng, đặc biệt vùng cửa sông là môi trường sống lý tưởng của các loài chim ăn các sinh vật ven bờ nước, kể cả các đàn chim di cư bay từ phương bắc đến. Những rừng đước trồng mới ở Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri đang trải rộng màu xanh ven biển, hứa hẹn một sự hội tụ ngày một đông đảo các dòng họ chim từ các nơi khác đến. Nhóm chim dùng thức ăn tôm cá và sinh vật ở bãi triều đóng vai trò nhất định trong việc bón phân cho thủy vực, tham gia vào quá trình chu chuyển vật chất nói chung, có tác dụng tích cực đối với các loài sinh vật sống dưới rừng ngập mặn.

Nhóm chim sống gần người như chim sẻ, chích chòe, chào mào, chim sâu, sáo... có thể gặp ở khắp nơi trên đồng ruộng, trong vườn cây. Chúng săn bắt côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng, rau xanh, ăn những loại hạt cỏ dại...

Ngày nay, những nơi như Vàm Hồ, cồn Đất, cồn Nhàn (Ba Tri) đang dần dần lấy lại sự trù phú, đông đảo của cảnh sân chim một thời đã mất. Người ta ước tính có khoảng ba mươi loại chim đang quy tụ về đây, trong đó có 10 loại có giá trị kinh tế. Vào mùa sinh sản, nhìn lên những rặng bần, mắm, ta thấy chim đậu dày đặc. Có những cây trĩu nặng hàng chục tổ cò, tổ diệc, cồng cộc, sáo, le le... Chiều về, các loài chim đi ăn từ mọi nơi hạ cánh để tìm chỗ đậu, hay để mớm thức ăn cho con, cho chim mái ấp trứng v.v... ồn ào, náo nhiệt như họp chợ. Ở cồn Đất trước đây còn có rất nhiều dơi quạ.

Chim ưa môi trường trong sạch và yên tĩnh. Sự có mặt cùng những hoạt động đa dạng của chúng là những dấu hiệu tốt lành của môi trường sống, ngược lại sự vắng bóng của chúng là chỉ báo cho sự xấu đi, là tình trạng đáng báo động của điều kiện sống ở nơi đó. Môi trường bị ô nhiễm, trước hết phải kể đến nước, kế đến là không khí, sau cùng là đất. Cần phải tạo mọi điều kiện tốt cho chim chóc về sinh sống ngày một nhiều - cảnh quan, đất đai Bến Tre vốn có đủ các điều kiện đó - vỉ xét trên nhiều phương diện, nguồn lợi về chim không nhỏ.

Trong các sinh vật trên cạn, nhóm đa dạng và phong phú nhất là côn trùng. Ở Bến Tre, số lượng của chúng chắc phải đến hàng ngàn loại. Loại có ích như ong. Ong không chỉ cho mật, mà còn góp phần thụ phấn cho hoa, nâng cao năng suất cây trồng. Kiến vàng, lớn con với bộ giò cao lêu nghêu, di chuyển nhanh, thường kéo hàng đàn, bò từ cây này sang cây khác, có mặt thường xuyên ở các vườn cây. Đội quân này giúp cho người làm vườn tiêu diệt được nhiều loại sâu bọ hại cây ăn quả. Bà con ta biết đưa chúng về các vườn cam, quýt... để làm "người bảo vệ" cho cây trái, nếu nơi ấy còn vắng bóng chúng.

Kiến vương thuộc loại côn trùng có bộ cánh cứng là kẻ thù đáng gờm của các nhà trồng dừa. Ấu trùng của kiến vương sống trong các đống rác, rơm mục rải rác khắp nơi. Khi trưởng thành, ấu trùng (con đuôn) đục thân cây dừa, chọn nơi ngọn (cổ hũ dừa) làm nơi sinh trưởng. Một đọt dừa bị đuôn đục thân có thể chặt ra, bắt hàng chục có khi cả trăm con đuôn lớn bằng ngón tay. Cây dừa bị đuôn đục ngọn coi như là bỏ đi (đuôn dừa, đặc biệt là đuôn chà là, tẩm bột rán vàng là một món ăn cao cấp, được dân nhậu ưa thích).

Bên cạnh một số loại côn trùng có ích giúp cho việc thụ phấn, đậu quả, có nhiều loại côn trùng gây hại đến rau màu, lúa, cây ăn quả, nhất là các loại sâu bọ, ong ký sinh và nhóm côn trùng ăn thịt khác. Có loại côn trùng, khi còn giai đoạn ấu trùng thì sống trong các ao hồ, là động vật ăn thịt, đến lúc trưởng thành mới sống trên cạn, như ấu trùng chuồn chuồn. Số lượng loại này có nhiều trong các thủy vực, là kẻ thù của tôm và cá con.

Đã ban hành
Bia Trương Vĩnh KýBia Trương Vĩnh Ký
Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Trương Vĩnh Ký, biệt hiệu Sĩ Tải, tên thánh là Jean - Baptiste Pétrus (nên thường gọi l Ptrus Ký). Ông sinh ngày 6 tháng 12 năm 1837 tại làng Vĩnh Thành (còn gọi là Cái Mơn), tổng Minh Lý, huyện Tân Minh, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

Khi mới sinh ra, ông có tên là Trương Chánh Ký. Ông là con thứ ba của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Lên năm tuổi, ông được đi học chữ Hán, sau đó ông được học trường dòng ở Cái Nhum. Năm 1848 Pétrus Ký sang học ở chủng viện Pinhalu ở Phnôm Pênh (Campuchia). Năm 1851, trường này chọn 3 học sinh xuất sắc trong đó có Pétrus Ký, để cấp học bổng đi du học tại Chủng viện giáo hoàng ở Pinang (Indonesia). Đây là một trường chuyên đào tạo tu sĩ cho vùng Đông Nam Á thời đó.

Năm 1858 ông đang học đến năm thứ 6 và chỉ còn 1 năm nữa là kết thúc khóa học để ra trường nhận chức linh mục thì hay tin người mẹ hiền qua đời nên ông vội vàng về nước để chịu tang mẹ. Ông trở lại Cái Mơn chịu tang xong ông phân vân không biết nên quay lại chủng viện hay đi làm. Lúc này Pháp đánh chiếm Việt Nam, từ Đà Nẵng, Sài Gòn rồi đến Gia Định tiếp theo là mất 3 tỉnh miền Đông nên việc cấm đạo Công giáo cũng gay gắt hơn nên cuối cùng ông quyết định không trở lại chủng viện nữa.

nha-bia-truong-vinh-ky.png

Nhà bia Trương Vĩnh Ký

Ông lên Sài Gòn và được giới thiệu làm thông ngôn cho quân đội Pháp rồi giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương và Giám quan cố vấn cho vua Đồng Khánh ở Cơ mật viện. Ông từng tháp tùng và làm thông ngôn giúp việc Phan Thanh Giản khi đi sứ sang Pháp, ông cùng với đoàn được triều kiến Napoleon đệ tam và thăm viếng các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Thái Lan, yết kiến Đức Giáo hoàng ở Roma,…để nghiên cứu về văn hoá, kinh tế, xã hội,…sau đó ông làm chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam (1865) để truyền bá chữ quốc ngữ. Năm 1861 ông thành hôn với bà Vương Thị Thọ và dời về cư ngụ tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, ông được dùng như một quan chức An Nam đầu tiên trong chính quyền Pháp đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư Pháp văn Trường Thông ngôn (1866-1868), giám đốc trường Sư phạm kiêm Thư ký Hội đồng thành phố Chợ Lớn (1872), giáo sư Quốc văn và Hán văn cho người Pháp và Tây Ban Nha ở trường Tham biện hậu bổ (College des administrateurs stagiaires - 1874),..

Sau cái chết đột ngột của Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (11/11/1886), ông không còn được trọng dụng nữa. Ông dùng thì giờ còn lại để đọc sách báo, nghiên cứu, viết sách và dạy ở Trường Hậu bổ và Trường Thông ngôn. Con người có tài như thế đến cuối đời lại sống trong cảnh nghèo nàn, thiếu thốn. Ông mất ngày 01 tháng 9 năm 1898 hưởng thọ 62 tuổi và được an táng tại Chợ Quán (Tp Hồ Chí Minh). Mộ phần và nhà ở khi xưa của ông (nay là nơi thờ phụng ông) hiện nằm nơi góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng thuộc quận 5, Tp. Hồ Chí Minh..

Ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực văn hóa ngoại, trừ 8 tháng hoạt động ở Viện Cơ mật của triều đình Huế và 8 tháng làm phiên dịch trong phái đoàn Việt Nam sang Pháp. Hiển nhiên, Trương Vĩnh Ký đã có những sai lầm về chính trị, mặc dù hoạt động chính trị của ông rất ngắn ngủi so với hoạt động văn hóa. Tuy vậy không vì thế mà ta phủ nhận toàn bộ những cống hiến của ông đối với văn hóa dân tộc. Đáng chú ý nhất là sự đóng góp vào sự phát triển và phổ cập chữ quốc ngữ ở giai đoạn ban đầu, vào lịch sử phát triển báo chí cũng như trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ học,..

Ông là một trong những bộ óc thông thái của người Việt, ngoài sinh ngữ Pháp, Anh, Latin, Hy Lạp, Ấn Độ, Nhật ông còn thông thạo cả tiếng Ý, Trung Quốc, Mã Lai, Lào, Thái, Miến Điện, tác giả của 118 tác phẩm viết bằng tiếng Pháp và tiếng Việt, tiếng Hán cùng nhiều bản thảo chưa được công bố gồm nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, từ điển, sưu tầm, dịch thuật và sáng tác thơ văn.

Chẳng hạn ông dịch sách chữ Hán, phiên âm chữ quốc ngữ những bản cổ văn Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia Huấn Ca,.. biên soạn Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài, sách tiếng pháp: Grangd Dictionnaire Annamite - Française (đại từ điển An Nam – Pháp ), Cours d,histore Annamite (Bài giảng lịch sử An Nam ),….

Trương Vĩnh Ký là hội viên của hàng chục hội khoa học châu Âu. Ở cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp J.Bouchot gọi ông là “một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả nước Trung Hoa hiện đại nữa”. Ông từng giao thiệp với các danh nhân đương thời như: sử gia Renan, nhà từ điển Littré, đại văn hào Victor Hugo, kết giao bằng hữu với nhà sinh vật học, chính trị gia Paul Bert,… Ông là một nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học kiệt xuất, người con ưu tú của đất Bến Tre.

Trong cuộc bầu chọn Toàn Cầu Bác Học Danh Gia năm 1874, ông dù mới ngoài 30 tuổi đã được người cùng thời tôn vinh là một trong mười tám nhà bác học danh giá trên thế giới (ông đứng thứ 17 trong 18 người của nhóm Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào).

Để tưởng nhớ đến ông, nhân dân Bến Tre lập nhà bia nơi quê hương để thờ cúng, làm nơi học tập, nghiên cứu cho nhân dân trong và ngoài tỉnh. Nhà bia được xây dựng đơn sơ năm 1938 ở ấp Vĩnh Bắc, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách ,tỉnh Bến Tre (gần rạch Cái Mơn ) giữa khu vườn xum xuê cây trái. Nhà bia có hình tứ giác, chóp hình tháp với 16 trụ cột, không tường, nền tráng xi măng, bên trong chỉ có bia bằng đá xanh cao khoảng 2,5m phía trên cùng của bia là cây thánh giá. Mặt trước bia được viết bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Hán và Việt, mặt sau được viết bằng tiếng Pháp.

Trước đây tên của ông được Bộ Giáo dục Việt Nam cộng hòa đặt cho trường trung học lớn nhất miền Nam (sau năm 1975 trường này được đổi tên thành Trường trung học Lê Hồng Phong ở Tp. Hồ Chí Minh). Hiện nay nơi quê hương của Trương Vĩnh Ký (xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách) có một trường THPT mang tên ông. Ngoài ra ông được xem là người có công với nghề làm vườn ở Cái Mơn. Các giống cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, bòn bon đều do ông đem từ Pinang mỗi khi bãi trường về thăm nhà.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Trải nghiệm văn hóa - lịch sử vùng đất Ba TriTrải nghiệm văn hóa - lịch sử vùng đất Ba Tri
Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.

Nằm trong hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn, ngoài lợi thế tiềm năng dựa vào thiên nhiên để phát triển những điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, Bến Tre còn được mệnh danh là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, một vùng đất giàu truyền thống văn hóa – lịch sử, với hệ thống các di tích lịch sử, cách mạng và những công trình kiến trúc văn hóa khá tiêu biểu, có những giá trị độc đáo được cả nước trân trọng, cũng như rất thu hút du khách.

Đến xứ dừa Bến Tre, men theo tỉnh lộ 885 bằng đường bộ qua huyện Giồng Trôm, rồi đến huyện Ba Tri để khám phá, trải nghiệm bề dày văn hóa – lịch sử của vùng đất này. Ba Tri không có nhiều danh lam thắng cảnh, nhưng là địa phương có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, môi trường sinh thái rừng và hàng chục kilômét bờ biển, trong đó có gần 20 km bãi biển.

Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri chỉ 36 km, du khách đến Ba Tri gắn với các ngày lễ, hội, nghỉ hè, về nguồn, ngày tết là tuyệt nhất. Trên đường đến Ba Tri và ngược lại du khách có thể dừng chân tham quan làng nghề truyền thống nổi tiếng của đất cù lao xứ dừa đó là: “Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh và “Bánh phồng Sơn Đốc” ở xã Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm).

 

Di tích mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu

Đến Ba Tri viếng thăm "Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu" tại xã An Đức, cách trung tâm thị trấn Ba Tri 02 km, đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia vào ngày 27/4/1990. Di tích được xây dựng với tổng diện tích 13.000 m2 và hàng năm vào ngày 01/7 dương lịch cũng là ngày lễ Kỷ niệm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đây cũng là ngày được chọn làm “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh Bến Tre 01/7” hàng năm, nhằm tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đã đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho nước. Đến Ba Tri vào ngày hội du khách sẽ hòa mình và tận hưởng với các hoạt động đặc sắc như: Liên hoan đờn ca tài tử; liên hoan hóa trang Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga; nói thơ Lục Vân Tiên; biểu diễn trống hội; biểu diễn võ thuật truyền thống; liên hoan ẩm thực, mâm cơm ngày giỗ; các trò chơi dân gian: đẩy gậy, kéo co truyền thống, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay,... được tổ chức hàng năm từ ngày 30/6 - 02/7 tại Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Riêng năm 2012, là năm kỷ niệm 190 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (01/7/1822 - 01/7/2012), cũng là “Ngày hội truyền thống văn hóa của tỉnh 01/7” lần thứ 20. Ngoài những hoạt động truyền thống văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí hàng năm, năm nay còn có trưng bày mô hình sa bàn Nguyễn Đình Chiểu dạy học và một số điển tích khác; hội chợ đưa hàng Việt về nông thôn và nhiều hoạt động hội quần chúng khác.

 

Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ

Ngoài khám phá trải nghiệm những sự kiện nhân dịp lễ, hội ở Ba Tri, du khách còn tham quan tìm hiểu "Di tích kiến trúc nghệ thuật Đình Phú Lễ" tại xã Phú Lễ, cách thị trấn Ba Tri khoảng 04 km. Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình thì niên đại xây đình vào năm 1826 - Minh Mạng thứ đời thứ 7, trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm 1851 (Tự Đức thứ 5). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vảy cá. Cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng khô ráo, với hàng trăm cây cổ thụ toả bóng. Hàng năm, hội cúng đình (còn gọi là Lễ kỳ yên), Lễ tế thu, Lễ cầu bông tổ chức vào rằm tháng 3 âl. Đến Phú Lễ du khách còn khám phá làng nghề TTCN Phú Lễ (gồm đan đát, nấu rượu), trong đó có nghề nấu rượu đế đã tồn tại rất lâu đời. Rượu đế Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng. Ở Đồng bằng sông Cửu Long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh).

Từ thị trấn Ba Tri đi tiếp bằng đường bộ khoảng 18 km, du khách đến xã Bảo Thạnh tham quan "Di tích Mộ Võ Trường Toản". Người đời xưng tụng Võ Trường Toản là "Vạn thế sư biểu” và cũng chưa ai xác định rõ ông sinh trưởng ở đâu, có người nói ông là người huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Võ Trường Toản là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ, ông không đi thi để làm quan, từ chối tham chính và mọi điều ban phát. Thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, ông ở ẩn nơi quê nhà, mở trường dạy học. Ông đã đào tạo nhiều học trò nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm…. Ông mất ngày 27/7/1792, sau khi ông mất chúa Nguyễn Ánh cảm thương ban tặng cho ông hiệu "Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh" (tức bậc xử sĩ họ Võ người Gia Định sùng về đức độ). Khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, một số trí thức ở Gia Định không muốn người thầy dạy học kính yêu của mình gởi xương cốt ở nơi bị giặc chiếm, nên đã tổ chức di dời hài cốt của ông về làng Bảo Thạnh, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Khu mộ của ông, bà và con gái được xây dựng theo dạng vôi phục, nằm trong khuôn viên thoáng rộng, có cây che bóng mát, có nhà thờ mái cong hai tầng để thờ ông và làm nơi tưởng niệm cho khách thập phương. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích ngày 24/01/1998.

Bảo Thạnh còn là quê hương của cụ Phan Thanh Giản vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam kỳ. Nói về cụ Phan Thanh Giản mọi người ai cũng biết ông vốn thông minh, hiếu học, năm 1825 lúc đó ông 30 tuổi đã thi đậu cử nhân trong cuộc thi Hương tại trường thi Gia Định. Năm 1826, ông đỗ đệ tam giáp (đồng tiến sĩ) cuộc thi Hội ở kinh đô Huế và bắt đầu cuộc đời làm quan, là một đại thần của triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông mất ngày 04/8/1867, mộ và đền thờ của cụ Phan Thanh Giản được xây dựng trên đất quê nhà Bảo Thạnh.

Tiếp tục khám phá vùng đất Ba Tri, du khách đến tham quan “Di tích địa điểm Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi” tại xã Tân Xuân, cách thị trấn Ba Tri khoảng 16 km. Nơi đây vào cuối tháng 4/1930, chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung, gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của Chi bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội trước đó. Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 01/5 tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự. Tại đây, sau ngày giải phóng (30/4/1975), Sở Văn hóa - Thông tin đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này. Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin nhận Di tích cấp Quốc gia vào 07/5/1997.

Điều mà du khách đến Ba Tri cũng sẽ rất thú vị, ấn tượng, khi được khám phá sinh thái tự nhiên “Tràm chim Vàm Hồ” ở xã Tân Mỹ, cách thị trấn Ba Tri 18 km. Nếu từ thành phố Bến Tre theo đường bộ khoảng 54 km và đi bằng đường sông hướng ra biển mất khoảng 03 giờ. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc và âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác, kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, tiếng chim vịt kêu chiều chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như: cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chằng nghịch, bìm bịp, chằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt … và những hệ sinh thái thực vật tự nhiên rất lạ mắt. Hiện tại nơi đây chỉ mới được đầu tư¬ cho du lịch, nên môi trường hoàn toàn còn hoang sơ. Nếu đến Tràm chim Vàm Hồ bằng đường sông, sẽ thú vị hơn và có thể ngắm được chim về đậu trắng cả bìa rừng phía sông.

Ngoài những điểm đến khá tiêu biểu, nhiều người biết đến Ba Tri còn có những điểm hẹn khác để du khách lựa chọn khám phá trải nghiệm như: Khu lưu niệm đốc binh Phan Ngọc Tòng xã An Hiệp; miếu thờ và mộ cụ Tán Kế (Lê Quang Quan) ở xã Mỹ Thạnh. Hay làng nghề bánh phồng Phú Ngãi, làng nghề muối Bảo Thạnh, làng nghề cá khô An Thủy, biển phù sa Cồn Hố .... Về ẩm thực du khách sẽ thỏa sức thưởng thức các món hải sản biển và nhất là du khách sẽ khó quên khi thưởng thức món cá lóc đồng nướng mở hành ăn với bánh tráng cuốn rau sống, chấm nước nắm chua ngọt. Hay các món ăn dân dã, đồng quê đậm chất Nam Bộ mà khi nhâm nhi với danh tửu Phú Lễ thì hết sẩy vô cùng.

 

Khu lưu niệm đốc binh Phan Ngọc Tòng

 

Làng nghề đan đát

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)
&nbsp;

Image
Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
    Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8 –1945, phong trào học sinh sinh viên yêu nước rầm rộ từ Bắc chí Nam, Huỳnh Tấn Phát lúc bấy giờ là kiến trúc sư ra trường đã lâu, có văn phòng riêng, làm ăn phát đạt. Thế nhưng, chí hướng của người kiến trúc sư trẻ ấy không vì mục đích làm giàu, nên văn phòng ấy chính là nơi lui tới, hội họp sinh viên, trí thức yêu nước Sài Gòn. Trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương (AGEI) vào những năm 40, trước CMT8 – 1945, tên tuổi của Huỳnh Tấn Phát nổi bật lên trong đám trí thức đàn anh. Tờ tuần báo Thanh niên (1944) do ông làm chủ nhiệm trở thành cơ quan ngôn luận của giới trí thức trẻ. Được kết nạp vào ĐCS tháng 3-1945, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó giám đốc Sở Thông tin báo chí của UBND Nam Bộ. Cũng từ đây, ông tạm giã từ chuyên môn, dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

   Khi quân Pháp chiếm lại Sài Gòn, ông bị chúng bắt và bị kết án tù hai năm. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở nội thành đến năm 1949 mới ra chiến khu, và được cử làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, rồi ủy viên UBKCHC đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động ở nội thành. Đầu năm 1959, ra vùng giải phóng, được cử làm ủy viên Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, phụ trách công tác vận động trí thức, tư sản và công tác Mặc trận. Cuối 1960, Đại hội MTDTGPMNVN cử làm Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN. Tháng 6-1969, được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ CMLTCHMNNVN.

   Năm 1975, sau ngày giải phóng, đã giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCHVN, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII, VIII. Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

   Trên đây là những nét lớn về tiểu sử cùng những hoạt động cách mạng của ông. Nhưng điều đáng nói hơn không phải là ở chỗ chức vụ, danh vọng, vị trí xã hội đã đạt được, mà là tấm lòng, nhân cách, đức độ, tác phong sống của một người trí thức chân chính. Người ta kính trọng ông, một kiến trúc sư, một trí thức lớn sẵn sàng vứt bỏ mọi vinh hoa, phú quý của xã hội thượng lưu, lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn của nhân dân vì độc lập, tự do. Những người từng sống gắn bó với ông từ cán bộ cấp cao đến người bảo vệ, liên lạc, yêu quý, mến phục ông với cái tên thân thương Tám Chí. Nhà văn Thép Mới, trong bài viết sau khi ông qua đời, có nhận xét: "Phong thái anh không lẫn với ai khác được. Anh đã sống nhiều năm ở vùng Tam Giác Sắt không khác gì các chiến sĩ, đồng bào. Lính trẻ Củ Chi chịu anh tình thương lính tráng. Cô bác Phú Hòa Đông, Nhuận Đức quý anh như bạn, như người cao tuổi trong gia đình. Ai cũng trọng anh, nhưng không ai coi anh là nhân sĩ. Anh là người vận động cụ thể, tổ chức cụ thể, chăm lo thể hiện những chủ trương cụ thể về công tác Mặt trận và vận động trí thức ở thành. Anh đã là anh rồi, nên không nghĩ đến cá nhân nhiều… Cái cách anh quan hệ, ứng xử với các bạn trí thức, đến với cách mạng cũng có những nét riêng. Anh không hùng biện, không sắc cạnh, không bắt ai phục mình. Ánh sáng là ánh sáng chung của cuộc đời. Tự anh không phát sáng. Nhưng anh biết làm cho "than hồng nhen thành lửa ngọn". Anh thuyết phục họ bằng chính con người anh, một con người Sài Gòn, lẽ ra có thể sống ít nhiều vương giả lắm chứ, nếu muốn. Vậy mà, anh dấn thân vào trường kỳ kháng chiến, dấn thân đến cùng, sống cách mạng một cách chân thật, tự nhiên, trong trẻo". (Báo Nhân dân, số 14-10-1989). Còn giáo sư Nguyễn Văn Chí, một trí thức lớn của Sài Gòn, đã từng sống với anh ở khu, có nhận xét: "Huỳnh Tấn Phát sống ở rừng, làm cách mạng trông vẫn thanh niên như hồi cắm trại ở suối Lồ Ồ".

   Sinh năm 1913 trong một gia đình viên chức nhỏ ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Tấn Phát học ở Sài Gòn, rồi Hà Nội. Nhưng, nơi ông gắn bó sâu sắc và lâu dài nhất vẫn là thành phố Sài Gòn và vùng đất Nam Bộ. So với trí thức và nghệ sĩ đã đến với cách mạng và kháng chiến, cống hiến tài năng chuyên môn hay nghệ thuật, hoặc đánh giặc, Huỳnh Tấn Phát đã đóng góp bằng cách riêng của mình.

   Ông đã dành gần như trọn đời cho những hoạt động vận động quần chúng trực tiếp, làm công tác phong trào, từ khi chủ trương tờ Thanh niên cho đến cuối đời, làm Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông sống chân tình, cởi mở, bao dung, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, trăn trở của từng người, dù người đó là nhân vật có tên tuổi, hay là người bảo vệ bình thường của cơ quan. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên mà Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tặng ông Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn CẩnAnh hùng liệt sĩ Ngô Văn Cẩn
Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến TreKhám phá tour du lịch vùng ven thành phố Bến Tre
Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch vùng ven thành phố Bến Tre gồm các xã: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh và Phú Nhuận. Nơi đây với hệ thống sông rạch chằng chịt, sông nước hữu tình, con người hồn nhiên và đôn hậu. Có lẽ vậy, trong những năm gần đây khu vực Nam thành phố Bến Tre đã hình thành nhiều điểm du lịch sinh thái vườn và các tour du lịch ven thành phố Bến Tre đã được các công ty lữ hành tại đây đưa vào khai thác, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến khám phá và trải nghiệm.

Du lịch sinh thái vùng ven thành phố Bến Tre phát triển mạnh kể từ năm 2010 cho đến nay, tuy có bước hình thành và phát triển khá muộn so với các huyện khác có tiềm năng lớn để phát triển du lịch như: Châu Thành, Chợ Lách, nhưng du lịch vùng ven thành phố Bến Tre đã có sự phát triển nhanh, hiệu quả cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Hiện thành phố Bến Tre có 8 cơ sở hoạt động du lịch, 45 cơ sở lưu trú, một làng nghề dệt chiếu truyền thống, một cơ sở sản xuất các loại đũa và nhiều điểm tham quan chế biến dừa đã làm phong phú và hấp dẫn cho tour du lịch trong ngày.

 

Tham quan làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre

Thành phố Bến Tre với sự duyên dáng, e ấp của một thành phố trẻ và năng động như có sức hấp dẫn với du khách. Sau khi tham quan các danh lam, thắng cảnh hay các công trình kiến trúc tại trung tâm thành phố như Hồ Trúc Giang, Bảo tàng tỉnh, di tích đình Phú Tự với cây bạch mai trên 300 năm tuổi,… du khách có thể tham gia một chương trình tour tham quan du lịch vùng ven thành phố với nhiều khám phá thú vị. Khởi hành từ bến tàu Hùng Vương, du khách sẽ xuống tàu xuôi theo dòng sông Bến Tre để khám phá du lịch các xã ven thành phố Bến Tre. Trên tàu du lịch, du khách sẽ được ngắm nhìn chiếc cầu Bến Tre có một kiến trúc đẹp, được bắc ngang sông Bến Tre nối liền trung tâm thành phố Bến Tre với các xã ven thành phố như: Mỹ Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, nối liền đường tỉnh 887 đi các huyện Giồng Trôm, Ba Tri. Du khách ngắm chợ Bến Tre duyên dáng bên dòng sông hiền hòa, cùng khách sạn Việt Úc đạt chuẩn 3 sao càng tô điểm thêm vẻ đẹp tráng lệ của thành phố ở vùng sông nước xứ dừa. Dọc hai bên sông là những cơ sở lột dừa, và chế tác các sản phẩm từ dừa trái như: cơm dừa, thạch dừa,.... Xa xa, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những con thuyền chở đầy ắp dừa xuôi theo dòng sông như một bức tranh hữu tình về một vùng quê sông nước yên bình và thơ mộng.

 

Du khách trải nghiệm khám phá du lịch sông nước vùng ven thành phố Bến Tre

Xuôi theo dòng sông, du khách sẽ bắt gặp những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng sông nước như: đăng lưới, bắt tôm, đặt lộp,… Điểm đến đầu tiên, du khách ghé vào tham quan lò gạch thuộc xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre của gia đình chú Tư Lô, để tìm hiểu các quy trình sản xuất những viên gạch xây dựng theo phương pháp thủ công truyền thống, được chủ lò gạch dẫn đi tham quan xung quanh lò gạch, và nghe hướng dẫn viên du lịch địa phương giới thiệu những nét độc đáo về nghề làm gạch truyền thống. Điểm tham quan lò gạch này được du khách quốc tế rất thích thú bởi họ biết thêm được nghề truyền thống của cư dân bản địa. Anh Charles Gaulle và chị Synoradzki du khách đến từ Pháp ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy từng viên gạch xuất lò, anh chị cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Bến Tre, tham gia chương trình tour du lịch sông nước này, thuyền đưa chúng tôi bồng bềnh trên sông, được ngắm chợ Bến Tre, các cơ sở lột dừa, làm cơm dừa ven sông và cũng là lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy lò gạch như thế này. Nhìn thấy cảnh mọi người sản xuất gạch nhộn nhịp, chúng tôi cảm nhận được con người Bến Tre thật cần cù, chăm chỉ và cũng rất thân thiện...”. Sau khi tham quan lò gạch xong, du khách trở lại tàu du lịch và tiếp tục chuyến hành trình, thuyền lướt êm và rẽ vào một nhánh sông nhỏ với cảnh vật hai bên là những hàng dừa nước xanh um, đan xen với những hàng bần, một loại cây đặc thù của vùng sông nước, những hàng dừa cao vút thẳng tấp, say quả nghiêng mình bên dòng sông, những vườn trái cây như: cam, chanh, bưởi như e ấp nép mình trong ánh nắng, tỏa hương sắc trên miền sông nước miệt vườn.

Thuyền dừng lại một cơ sở chuyên lột dừa và làm cơm dừa nằm nép mình bên con sông nhỏ để tìm hiểu nghề sản xuất cơm dừa thủ công, du khách sẽ chứng kiến hình ảnh những công nhân lột dừa, đập dừa, cạy cơm dừa nhanh thoăn thoắt như những người thợ lành nghề, qua tìm hiểu thì những người công nhân này đều là người dân ở địa phương, cuộc sống của họ gắn liền với nghề lột dừa này đã mười mấy năm rồi, một anh công nhân vui vẻ cho biết! Có chứng kiến du khách mới hiểu rằng “Đúng là trăm nghe không bằng mắt thấy!”. Mỗi người ở đây trung bình lột khoảng 1.800 trái dừa/ngày. Du khách cũng có thể lột thử trái dừa qua sự hướng dẫn tận tình của những người thợ, nó sẽ là một kỉ niệm đáng nhớ trong chuyến đi của đoàn. Cách cơ sở lột dừa không xa là một điểm du lịch miệt vườn khá khang trang, lúc nào cũng nhộn nhịp, tấp nập khách ra vào, mà hầu hết du khách đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, phía trước điểm du lịch này có một quầy dịch vụ, trưng bày giới thiệu đến du khách nhiều mặt hàng lưu niệm độc đáo, lạ mắt như: các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dừa, dầu dừa, xà bông dừa, kẹo dừa,… Với không gian thoáng mát, du khách thưởng thức tách trà mật ong thơm lừng, thưởng thức trái cây miệt vườn với nhiều loại trái cây ngon như: Bưởi, mận, mít, nhãn, khóm, xoài,... và nghe đờn ca tài tử Nam Bộ, một loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Tiếp tục chuyến hành trình, du khách sẽ đến cơ sở sản xuất kẹo dừa thuộc xã Nhơn Thạnh, tham quan quy trình làm kẹo dừa thủ công truyền thống, thưởng thức kẹo dừa nóng hỏi tại lò, nhai chầm chậm viên kẹo dừa, du khách sẽ cảm nhận được hương vị ngọt ngào, thanh khiết và béo ngậy của nước cốt dừa tan nơi đầu lưỡi, và có thể mua một ít kẹo dừa ở đây về làm quà cho người thân và bạn bè trong chuyến du lịch thú vị này. Thả bộ tham quan làng nghề dệt chiếu khá nổi tiếng ở Bến Tre để tìm hiểu về nghề dệt chiếu truyền thống, mọi người có thể thử dệt chiếu qua sự hướng dẫn nhiệt tình của nghệ nhân, để được trải nghiệm sản phẩm nơi làng nghề truyền thống. Nó sẽ có phần hơi khó khăn cho du khách bởi chưa quen tay, nhưng tất cả sẽ làm cho du khách thật sự ấn tượng. Sau đó, cả đoàn sẽ được di chuyển bằng chiếc xe lôi máy mang dáng dấp khá lạ mắt, đưa du khách băng qua những đường làng, với những hàng dừa xanh mát, những vườn cây ăn trái, những ruộng lúa, khu vườn, những liếp rau màu, ngắm cảnh sinh hoạt đời sống bình dị của người dân nơi đây. Dừng chân tại các nhà hàng sinh thái như “Dừa Xanh, Hai Hồ, Mưởi Nở,…” thưởng thức các món ăn dân dã đồng quê với các món ăn mang đậm hương vị miệt vườn như: Tép rang dừa, cá tai tượng chiên xù, gỏi bưởi, cá kèo kho tiêu, cá lóc nướng trui, canh chua cá ngát,… giữa một không gian xanh, thật sự sẽ là một dấu ấn khó phai trong lòng mỗi du khách.

 

Thú vị khi chèo xuồng trong rạch dừa nước ở du lịch vùng ven thành phố Bến Tre

Một trải nghiệm thú vị trong hành trình khám phá là du khách sẽ đi xuồng chèo trên con rạch dừa nước nhỏ ngoằn ngèo, quanh co, uốn lượn với hai bên là những hàng dừa nước xanh um, vươn sức sống mãnh liệt giữa vùng sông nước, xen lẫn là những hàng bần hay còn gọi là cây “thủy liễu” nở hoa thơm ngát, vươn mình trong gió như đong đưa chào gọi du khách. Trở ra sông Bến Tre, lên thuyền lớn kết thúc chương trình tham quan du lịch vùng ven thành phố Bến Tre với biết bao trải nghiệm thú vị. Chia tay thành phố Bến Tre với những kỷ niệm đáng nhớ về một Bến Tre thân thiện và mến khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Đồng Văn Cống là người có công lớn xây dựng LLVT Bến Tre và chiến trường khu 8 thời kháng Pháp, đóng góp tích cực trong việc xây dựng “Thế trận đồng bằng Nam Bộ” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông là vị tướng chiến trường mà chiến tích không tách rời lịch sử chiến tranh nhân dân của Bến Tre và Nam Bộ “thành đồng Tổ quốc”. Nếu như đồng đội của ông – nữ tướng Nguyễn Thị Định có công khai mở con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng quân Đồng Văn Cống lại có công tổ chức, củng cố vững chắc và có hiệu quả con đường lịch sử đó mang mật danh 559B khi ông đảm nhiệm cương vị Cục phó Cục Tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu, bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phần I:

THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY

Đồng Văn Cống sinh năm 1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống). Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống đến với cách mạng.

Image
Đồng Văn Cống

Đồng Văn Cống vốn được trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.

Đồng Văn Cống sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự. Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.

Image
Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu

Vợ ông, bà Lê Thị Gấm, lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu – một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân nhân cách mạng.

Đội du kích Tân Hào của Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu 8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ, ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là chánh vì tướng”.

Đã ban hành
Nguyễn Minh TâmNguyễn Minh Tâm


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Nguyễn Minh
Tâm, sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến
Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chuẩn úy, phân đội
trưởng đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trưởng thành từ chiến sĩ
lên cán bộ, Nguyễn Minh Tâm gần 10 năm kiên cường bám trụ chiến đấu ở địa bàn
địch đánh phá ác liệt. Anh đánh 60 trận, diệt và làm bị thương hơn 250 tên
địch, bắt 25 tên, thu 40 súng. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trong trận tấn công địch
ở xã Bình Thành ngày 20-10-1971, Nguyễn Minh Tâm chỉ huy 1 tổ 5 đồng chí, khi
vào hàng rào cuối cùng thì bị địch phát hiện, bắn chặn. Các tổ viên đều bị
thương vong, còn một mình Tâm vẫn dũng cảm, kiên quyết xông lên, diệt được 2 lô
cốt, sau đó phát triển đánh chiếm lô cốt số 3, diệt 12 tên địch. Khi lui quân,
anh còn đưa thương binh và tử sĩ ra ngoài an toàn. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trận đánh đồn Cây Trâm
(xã Thạnh Phú Đông) ngày 20-6-1972, khi tiếp cận, mũi chủ yếu gặp khó khăn,
Nguyễn Minh Tâm được điều lên thay thế mũi trưởng, anh nhanh chóng cắt rào và
dẫn đầu đơn vị diệt lô cốt đầu cầu, mở đường cho các mũi bạn phát triển vào
trung tâm tiêu diệt gọn căn cứ địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận này Tâm diệt 5
tên. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn Minh Tâm sống
gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, luôn thương yêu đồng đội, không sợ gian khổ, ác
liệt, hy sinh, luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng
ba), 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần là Dũng sĩ, 22 bằng khen và giấy khen.
Ngày 6-11-1978, Nguyễn Minh Tâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Minh Tâm, sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, chuẩn úy, phân đội trưởng đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Nguyễn Minh Tâm

Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ, Nguyễn Minh Tâm gần 10 năm kiên cường bám trụ chiến đấu ở địa bàn địch đánh phá ác liệt. Anh đánh 60 trận, diệt và làm bị thương hơn 250 tên địch, bắt 25 tên, thu 40 súng.

Trong trận tấn công địch ở xã Bình Thành ngày 20-10-1971, Nguyễn Minh Tâm chỉ huy 1 tổ 5 đồng chí, khi vào hàng rào cuối cùng thì bị địch phát hiện, bắn chặn. Các tổ viên đều bị thương vong, còn một mình Tâm vẫn dũng cảm, kiên quyết xông lên, diệt được 2 lô cốt, sau đó phát triển đánh chiếm lô cốt số 3, diệt 12 tên địch. Khi lui quân, anh còn đưa thương binh và tử sĩ ra ngoài an toàn.

Trận đánh đồn Cây Trâm (xã Thạnh Phú Đông) ngày 20-6-1972, khi tiếp cận, mũi chủ yếu gặp khó khăn, Nguyễn Minh Tâm được điều lên thay thế mũi trưởng, anh nhanh chóng cắt rào và dẫn đầu đơn vị diệt lô cốt đầu cầu, mở đường cho các mũi bạn phát triển vào trung tâm tiêu diệt gọn căn cứ địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận này Tâm diệt 5 tên.

Nguyễn Minh Tâm sống gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, luôn thương yêu đồng đội, không sợ gian khổ, ác liệt, hy sinh, luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Đồng chí được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần là Dũng sĩ, 22 bằng khen và giấy khen. Ngày 6-11-1978, Nguyễn Minh Tâm được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Nhà bảo tàng Bến TreNhà bảo tàng Bến Tre
Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Toà nhà Bảo tàng tọa lạc tại số 146, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre, trong khuôn viên rộng hơn 13.000m2.

Ngôi nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm đặc trưng, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, diện tích 474 m2. Mái lợp ngói, tường gạch, cùng nhiều cửa sổ cũng hình vòm trên chạm đầu rồng hoặc sư tử. Bốn hướng đều có cổng ra vào với 3 mặt giáp với 3 con đường lớn: Hùng Vương, Cách Mạng Tháng Tám, Lê Đại Hành.

Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, nằm ngay trung tâm thành phố với những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng tươi tốt, quý giá và hàng rào khang trang bao bọc làm cho ngôi nhà trở nên biệt lập và sang trọng.

Đây là một vị trí đẹp, thuận lợi về mọi mặt, là điểm hẹn của nhân dân trong tỉnh, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ Dừa.

Chính vì vị trí quan trọng như vậy nên khi xâm chiếm đất Bến Tre, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngôi nhà này để làm Dinh Tham biện.

Sau hiệp định Genève (20/7/1954), đế quốc Mỹ nhảy vào dựng lên ở miềm Nam chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, ngôi nhà này được Mỹ Ngụy chọn làm Dinh Tỉnh trưởng. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, ngôi nhà được Tỉnh ủy Bến Tre tiếp quản, sau đó giao lại cho Ty Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm phòng Bảo tồn Bảo tàng vào năm 1976.

Khi Bảo tàng Bến Tre được thành lập theo Quyết định số 1564 ngày 26/10/1981, tỉnh đã quyết định giao lại ngôi nhà cho Bảo tàng sử dụng để trưng bày những hình ảnh và hiện vật truyền thống cách mạng của nhân dân tỉnh nhà trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược.

Tại đây từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân, dân Bến Tre. Đây là cơ sở nội tuyến bí mật in ấn tài liệu vào năm 1938 theo sự chỉ đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường; là nơi diễn ra lễ ký quyết định thành lập công binh giới của lãnh đạo Tỉnh ủy vào tháng 10/1945; là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo Phạm Ngọc Thảo với cương vị Đại tá - Tỉnh trưởng Kiến Hòa giai đoạn 1960 - 1962.

Hiện nay, nội thất ngôi nhà đã được sửa chữa lại để phù hợp cho việc trưng bày. Toàn bộ các phòng và hành lang đều được sử dụng để trưng bày hơn ba ngàn hiện vật, hình ảnh, tư liệu, gồm 3 phòng ở tầng trệt và 3 phòng ở tầng lầu.

Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời rộng 288m2, trưng bày những hiện vật thuộc thể khối có kích thước lớn như xác máy bay, pháo, vỏ bom, …

Bằng những hiện vật, hình ảnh, mô hình,… Bảo tàng Bến Tre có thể giúp người xem hệ thống lại lịch sử phát triển của tỉnh trong hơn 100 năm qua. Năm 2002, Bảo Tàng Bến Tre xây dựng thêm một tòa nhà mới theo Quyết định số 2234/QĐ-UB ngày 20/6/2002 trên địa điểm cách ngôi nhà cũ khoảng 20m về phía phải (nằm phía sau Nhà khách Hùng Vương). Ngôi nhà được xây dựng gồm một tầng trệt và 2 tầng lầu, được đặt tên “Nhà trưng bày thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Hương MỹHương Mỹ
&nbsp;

Quận lập theo Nghị định số 1192-NV của Tổng thống VNCH, ngày 5-12-1960, thuộc tỉnh Kiến Hòa, quận lỵ, đặt tại Cầu Mống, gồm 3 tổng (Minh Quới, Minh Huệ, Minh Phúc) và 13 xã.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tour du lịch và tham quan Bến Tre 4 ngày 3 đêmTour du lịch và tham quan Bến Tre 4 ngày 3 đêm
&nbsp;
Image

Tour trên sông Mêkông, vườn kiểng bon sai Chợ Lách. Viếng chùa Tuyên Linh, nhà truyền thống Đồng Khởi xã Định Thủy (huyện Mỏ Cày). Thăm đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam (huyện Thạnh Phú). Đến bãi biển Thừa Đức, khu du lịch sinh thái Vàm Hồ, cống đập Ba Lai.
 
 Tham quan đình cổ, di tích văn hóa quốc gia đình Bình Hòa, di tích Nguyễn Đình Chiểu, đền thờ và mộ Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, tắm biển Thừa Đức. Đi thuyền chèo sang Cồn Qui, thưởng thức trái cây ngon, nghe đờn ca tài tử Nam Bộ.
 
Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer