Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức và sự kiện

Tin tức và sự kiện
Thứ 4, Ngày 16/09/2015, 10:45
Các phong trào thi đua yêu nước trong phát triển kinh tế tại Bến Tre 5 năm qua
16/09/2015 | Hoàng Thanh
Hưởng ứng phát động phong trào thi đua yêu nước theo nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Bến Tre giai đoạn 2010 - 2015. Đồng thời, đúc kết kinh nghiệm từ Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre lần thứ VIII, 5 năm qua các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đã đổi mới nhận thức, thay đổi phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng; bám sát thực tiển, phát hiện, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến; dấy lên các phong trào thi đua sôi nổi, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia để tập trung các nguồn lực nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hưởng ứng phát động phong trào thi đua yêu nước theo nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Bến Tre giai đoạn 2010 - 2015. Đồng thời, đúc kết kinh nghiệm từ Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Bến Tre lần thứ VIII, 5 năm qua các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đã đổi mới nhận thức, thay đổi phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào thi đua yêu nước và công tác thi đua, khen thưởng; bám sát thực tiển, phát hiện, xây dựng và nhân rộng  các điển hình tiên tiến; dấy lên các phong trào thi đua sôi nổi, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia để tập trung các nguồn lực nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đánh giá những kết quả nổi bật của phong trào thi đua yêu nước 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen. Tình hình chính trị trên thế giới, tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển đông diễn biến phức tạp, khủng hoảng tài chính, tiền tệ, suy thoái kinh tế kéo dài.

Trong nước, sự điều chỉnh các chính sách kinh tế nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, nguồn lực đầu tư cho nền kinh tế còn hạn chế, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, giá cả biến động bất thường, cùng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đã tác động rất lớn đến sự phát triển của cả nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng.

7630_1692015_11109.jpg

Sản phẩm mặt nạ dừa Bến Tre. (Ảnh TTr)

Phát huy truyền thống cách mạng của quê hương Bến Tre Đồng Khởi, đồng thời tiếp nối các thế hệ đi trước, cũng như kế thừa tinh thần Đại hội thi đua yêu nước lần thứ VIII (2005-2010), với tinh thần đoàn kết, phát huy trí tuệ, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, các cấp, các ngành, các đơn vị, các thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân Bến Tre đã có nhiều phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn 2010 - 2015, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã đề ra như: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của 5 năm đạt 7,3%; GDP bình quân đầu người đạt 34,7 triệu đồng tăng 1,66 lần so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng dần trong GDP. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng, 5 năm qua đạt 2.680 triệu USD (tăng bình quân 22,6%/năm); hiện nay hàng hóa của Bến Tre đã xuất khẩu được sang 105 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng hàng nông sản thô, tăng nhanh một số sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Giải quyết việc làm cho 122.298 lao động; tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục được kéo giảm còn 5,5%,

Các phong trào thi đua trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, vận tải và bưu chính viễn thông, góp phần tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 12,76% năm 2010, lên 18,19% năm 2015; giá trị sản xuất công nghiệp (SXCN) tăng gấp 2,27 lần so với giai đoạn 2006-2010; trong đó khu vực kinh tế trong nước bằng 1,5 lần và khu vực FDI tăng gấp 14,81 lần; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2011-2015, tăng bình quân 22,6%/năm, gấp đôi giai đoạn 2006-2010; cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, chế biến và các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao. Một số sản phẩm có tốc độ tăng khá so với năm 2010 như thủy sản chế biến tăng 2,44 lần; thức ăn thủy sản tăng 2,69 lần; sữa dừa tăng 7,9 lần; giá trị cơ khí tăng 2 lần; bột cá tăng 3,3 lần; cơm dừa nạo sấy tăng 33%; chỉ xơ dừa tăng 40,47%; bên cạnh đó đã tạo ra một số sản phẩm mới như: bộ hộp số xe, nước dừa giải khát đóng lon, dầu dừa trắng, mặt nạ dừa, đất sạch, túi xách du lịch.

Trong 5 năm qua, nhờ thực hiện chính sách cải cải thủ tục hành chính và thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư, đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Bến Tre. Tính đến 2015, có 1.265 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký 4.209 tỷ đồng và 55 dự án đầu tư trong nước được cấp giấy chứng nhận đầu tư, vốn đăng ký 8.192 tỷ đồng, đạt 115,5% so kế hoạch.

5 năm qua tỉnh đã cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 24 dự án FDI, với vốn đăng ký 271,525 triệu USD, đạt 108,61% kế hoạch, tập trung vào chế biến các sản phẩm từ dừa, thủy sản, gia công giày, may mặc, sản xuất bộ dây điện ô tô, góp phần lớn trong tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu ngân sách và giải quyết việc làm. Hiện đã có 16 Quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào tỉnh trong đó dẫn đầu là Nhật Bản, tiếp theo là Hàn Quốc, Thái Lan…

Ước đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 48 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 435,44 triệu USD. Doanh thu xuất khẩu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này trong giai đoạn 2011-2015 là 1.755 triệu USD, đạt 120,88% kế hoạch. Tiêu biểu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh là Công ty CP Xuất nhập khẩu Bến Tre, Công ty TNHH Vĩnh Tiến, Công ty TNHH may xuất khẩu Việt Hồng, Công ty TNHH Thương mại Sài Gòn - Bến Tre, Viễn thông Bến Tre, VIETTEL Bến Tre,  Ngân hàng Thương mại CP Sài Gòn Thương Tín, Công ty CP Vật liệu xây dựng Bến Tre, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre.

Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố, 5 năm qua phát triển mới khoảng 800 tổ hợp tác, nâng tổng số trên địa bàn tỉnh có 1.916 tổ, nhóm hợp tác trên các lĩnh vực, với khoảng 20.905 thành viên và trên 13.000 lao động tham gia. Phát triển mới được 30 hợp tác xã, đạt 60% kế hoạch, nâng tổng số hợp tác xã toàn tỉnh đến cuối năm 2015 là 90 hợp tác xã, với tổng vốn điều lệ 134,425 tỷ đồng, có 26.577 thành viên, 1.326 lao động thường xuyên và 5.132 lao động thời vụ. Hiệu quả hoạt động của các tổ hợp tác được duy trì khá ổn định.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề tiếp tục phát triển, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động. Nhiều công trình giao thông, thủy lợi, hạ tầng công nghiệp, thương mại, dịch vụ, hành chính… đã hoàn thành và đưa vào sử dụng tạo diện mạo mới cho Bến Tre, bưu chính viễn thông phát triển nhanh, mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hoá.

Đặc biệt, phong trào xây dựng giao thông nông thôn tiếp tục được duy trì và phát triển, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân nông thôn, đã xây mới, nâng cấp và cải tạo 586 km đường huyện; 1.382 km đường liên xã, trục xã; 1.977 km đường ấp, xóm và 171 km đường trục nội đồng; xây mới và sửa chữa 1.204 cây cầu trên đường huyện, đường xã, đường ấp, xóm, với tổng kinh phí thực hiện hơn 2.675 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp khoảng 313 tỷ đồng, góp phần tích cực trong thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

7630_1692015_11110.jpg

Sản phẩm lưới chỉ sơ dừa xuất khẩu. (Ảnh TTr)

Điển hình tiêu biểu và tiên phong của phong trào này là ông Trịnh Văn Y - Chủ tịch Hội Khoa học và Kỹ thuật Cầu đường tỉnh trực tiếp vận động các cá nhân, tập thể, các tổ chức trong nước và nước ngoài đóng góp xây dựng và đưa vào sử dụng được 790 cây cầu, 126 km lộ bê-tông xi-măng với tổng kinh phí 240 tỷ đồng (trong đó nhân dân đóng góp 61,7 tỷ đồng gồm đất đai, di dời nhà cửa, cây trái hoa màu, công lao động).

Các phong trào thi đua trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản tiếp tục phát huy; hai thế mạnh kinh tế vườn và kinh tế thủy sản tiếp tục phát huy hiệu quả; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng, chất lượng, hiệu quả, gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu.

Việc đầu tư thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trồng xen, nuôi xen được đẩy mạnh, đã triển khai trên 10 đề tài khoa học, xây dựng 13 dự án; công tác kiểm soát dịch bệnh được tăng cường; hệ thống thủy lợi dần được hoàn thiện và phát huy tác dụng, phục vụ tốt nhu cầu sản xuất, nâng cao hiệu quả trên đơn vị diện tích, giá trị sản xuất tăng bình quân 5,69% /năm.

Nông nghiệp phát triển đa dạng, theo hướng sản xuất hàng hóa; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển; cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, lưới điện, trường học, trạm y tế, chợ được đầu tư nâng cấp, đời sống nhân dân được nâng lên, đã góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Cây ăn trái chuyển dịch theo hướng trồng cây đặc sản, có chất lượng, giá trị cao và giảm một số diện tích kém hiệu quả. Diện tích gieo trồng lúa và mía giảm do hiệu quả thấp, người dân chuyển sang trồng dừa hoặc cây ăn trái, rau màu, nuôi thủy sản có hiệu quả cao hơn.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển theo hướng gia trại, trang trại và nâng cao chất lượng thịt. Công tác phòng, chống dịch bệnh được đẩy mạnh, đã góp phần làm tăng tổng đàn.

Nuôi thủy sản phát triển mạnh trên cả ba vùng sinh thái; nuôi tôm chân trắng thâm canh, bán thâm canh được nông dân đầu tư phát triển 2 vụ/năm; riêng nuôi cá tra thâm canh hiệu quả thấp nên thu hẹp quy mô. Sản xuất giống tôm nước lợ phục vụ cho nuôi thương phẩm được tập trung phát triển; công tác quản lý vùng nuôi, môi trường nuôi được chú trọng, hạn chế được dịch bệnh trong các vụ nuôi.

Hoạt động khai thác thủy sản ngày càng được người dân đầu tư tàu đánh bắt xa bờ với công suất lớn, so với năm 2010 đã tăng 221 chiếc; công suất bình quân 410 CV/tàu (tăng 81CV/tàu). Mô hình đánh bắt tổ, đội được nhân rộng (có 946 tàu tham gia); nhiều tàu được hỗ trợ trang thiết bị kết nối vệ tinh, tạo điều kiện thuận lợi để ngư dân an tâm đánh bắt dài ngày.

Các công trình phục vụ hậu cần nghề cá được đầu tư đưa vào sử dụng bước đầu đã phát huy hiệu quả như: cảng cá Thạnh Phú, khu neo đậu trú bão cho tàu cá huyện Bình Đại, đảm bảo tàu cá cập cảng tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, thúc đẩy dịch vụ phát triển. Ước đến năm 2015, sản lượng khai thác thủy sản 158.500 tấn, tăng 68.500 tấn so kế hoạch và 38.821 tấn so năm 2010.

Công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc rừng được thực hiện khá tốt, duy trì được diện tích rừng phòng hộ ven biển, hạn chế xói lở và ổn định sinh thái vùng ngập mặn. Phong trào Tết Trồng cây đời đời nhớ ơn Bác nhân ngày sinh nhật Bác (19/5) trong 5 năm qua diện tích trồng mới được 478 ha, đạt 125,79% kế hoạch, nâng tổng diện tích rừng đến năm 2015 là 4.376 ha.

7630_1692015_11111.jpg

Sản phẩm dừa uống nước của Bến Tre cung cấp cho các siêu thị tại Tp. Hồ Chí Minh. (Ảnh TTr)

Sản xuất muối được duy trì theo quy hoạch; công tác tập huấn hướng dẫn kỹ thuật sản xuất muối sạch, xây dựng mô hình sản xuất muối theo phương pháp trải bạt ô kết tinh được chú trọng, tuy diện tích và sản lượng muối giảm nhưng chất lượng muối được nâng lên, giá muối khá cao nên đời sống diêm dân tương đối ổn định. Diện tích muối năm 2015 ước đạt 1.350 ha, giảm gần 300 ha; sản lượng 54.000 tấn giảm 24.000 tấn so năm 2010.

Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh bước đầu được các ngành, các cấp quan tâm triển khai thực hiện. Trên lĩnh vực trồng trọt, tỉnh tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình liên kết 4 nhà trên lúa, dừa và bưởi da xanh; từng bước chuyển dịch diện tích cây ăn trái theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững; đồng thời tập trung nhân rộng các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP.

Trên lĩnh vực chăn nuôi, đang tập trung triển khai thực hiện kế hoạch tái cơ cấu lĩnh vực chăn nuôi với định hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, phân tán sang phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, tổ hợp tác và hợp tác xã, tập trung phát triển mạnh hoạt động chăn nuôi theo quy mô theo hướng khuyến khích đẩy mạnh phát triển các cơ sở có quy mô lớn, phù hợp với năng lực tài chính, điều kiện quản lý và xử lý môi trường.

Hiện đã 498 tổ liên kết sản xuất, 228 tổ hợp tác, 420 trang trại chăn nuôi (trong đó 115 trang trại chăn nuôi heo, 02 trang trại chăn nuôi gà áp dụng quy trình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và 01 trang trại chăn nuôi cút). Trên lĩnh vực nuôi thuỷ sản, tỉnh đã thực hiện rà soát, điều chỉnh và công bố quy hoạch chi tiết về nuôi tôm chân trắng để triển khai tổ chức thực hiện.

Tập trung hướng dẫn kỹ thuật, các biện pháp quản lý, tổ chức sản xuất đối với các đối tượng thủy sản nuôi truyền thống như cá nước ngọt, lợ; tôm càng xanh xen trong mương vườn, liền canh liền cư, tôm càng xanh luân vụ với tôm sú trên ruộng lúa để phát triển ổn định hình thức tổ chức sản xuất quy mô hộ gia đình và nâng cao thu nhập.

Từ thực tế sinh động của đời sống nông nghiệp và nông thôn đã xuất hiện nhiều phong trào thi đua tiêu biểu có tác dụng mạnh mẽ tới các hoạt động của lĩnh vực này đó là phong trào thi đua "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", phong trào "Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi", "Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình", "Thanh niên giúp nhau phát triển kinh tế gia đình".

Nhiều mô hình trình diễn được bà con nông dân ứng dụng và mang lại hiệu quả cao như: Biện pháp 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa, trình diễn giống lúa chịu mặn, kỹ thuật thâm canh ca cao, canh tác tổng hợp dừa - ca cao, xây dựng cánh đồng mẫu, nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa, nuôi tôm thẻ chân trắng, mô hình nuôi ong lấy mật, vỗ béo bò thịt, đệm lót sinh học trong chăn nuôi, ứng dụng kỹ thuật máy dò ngang trong nghề khai thác lưới vây xa bờ, mô hình liên kết sản xuất như  "Liên kết sản xuất tiêu thụ lúa chất lượng cao"; "Liên kết sản xuất, sơ chế và tiêu thụ dừa"; "Liên kết sản xuất nhãn"; "Liên kết sản xuất chôm chôm"; "Liên kết sản xuất bưởi Da xanh"…, đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng theo nhu cầu thị trường, đa dạng hóa sản xuất.

Các phong trào thi đua trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế với nhiều loại hình và phương thức kinh doanh linh hoạt phù hợp với năng lực và trình độ của doanh nghiệp; công tác quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh được tăng cường góp phần bình ổn thị trường, giá cả, thiết lập được trật tự kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

7630_1692015_11112.jpg

Một góc khu du lịch Forever Green Resort tại xã Phú Túc, huyện Châu Thành, Bến Tre. (Ảnh TTr)

Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" đã có tác động tích cực, làm thay đổi nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng, giúp các doanh nghiệp thâm nhập thị trường nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2015 ước đạt 30.742 tỷ đồng, tăng bình quân 14,6%/năm.

Một số loại hình thương mại văn minh hiện đại như: siêu thị, đang hình thành và phát huy hiệu quả; công tác đầu tư hạ tầng thương mại có bước phát triển đáng kể, thực hiện khá tốt chủ trương xã hội hóa trong đầu tư xây dựng mới và nâng cấp chợ, dự kiến đến năm 2015, toàn tỉnh xây dựng được 43 chợ, nâng cấp 07 chợ, 01 trung tâm thương mại, 01 siêu thị, với tổng vốn đầu tư 201,8 tỷ đồng từ nhiều nguồn vốn; trong đó có 11 chợ do doanh nghiệp đầu tư xây dựng, quản lý kinh doanh khai thác, với vốn đầu tư 139,1 tỷ đồng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng bình quân 14,6%/năm; thương mại nội địa duy trì ổn định và phát triển, loại hình thương mại văn minh từng bước được hình thành và phát huy hiệu quả. Nổi bật nhất trên lĩnh vực này là các hoạt động xuất khẩu, với kim ngạch năm sau tăng cao hơn năm trước, đó là nhờ đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, tổ chức nhiều đoàn đi học tập nghiên cứu, khảo sát tìm kiếm thị trường, tham gia các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng khá cao so với năm 2010 như thủy hải sản (76,2%), than hoạt tính (10,68 lần), cơm dừa nạo sấy (53,84%), hàng may mặc (78,58%) và một số mặt hàng mới như sữa dừa, bộ dây điện xe ô tô. Hiện các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh có mặt 105 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.079 triệu USD, bằng 3,18 lần so năm 2010, tăng bình quân 26%/năm; chủ yếu nhập máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất thuốc trị bệnh, sản xuất bộ dây điện xe ô tô; gia công hàng may mặc, lưới bảo hộ lao động...

Hoạt động du lịch tiếp tục duy trì được sự tăng trưởng, chất lượng phục vụ ngày được nâng lên, cơ sở vật chất ngành du lịch được tăng cường. Trong thời gian qua, đã đưa vào sử dụng một số dự án có quy mô khá và hiện đại như: Khách sạn Việt Úc; Khu du lịch Forever Green Resort, Trạm dừng chân Phú An Khang, Nhà hàng Đồng Khởi Palace, Khu du lịch Cồn Phụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Số lượt khách du lịch tăng hàng năm từ 540.000 lượt người năm 2010 lên 1.000.000 lượt người năm 2015, tăng 13,12%/năm; trong đó khách quốc tế tăng 13,85%/năm. Doanh thu du lịch tăng từ 245 tỷ đồng năm 2010 lên 700 tỷ đồng vào năm 2015, tăng 23,4%/năm.

Có thể nói, những kết quả đạt được qua các phong trào thi đua yêu nước trong lĩnh vực kinh tế của tỉnh nhà 5 năm qua, đó là nhờ thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể.

Tin tưởng trong giai đoạn 2015 - 2020, Bến Tre tiếp tục gặt hái nhiều kết quả hơn nữa qua các phong trào thi đua yêu nước trên lĩnh vực kinh tế, để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu 'Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Đặc biệt, là thực hiện thắng lợi phong trào thi đua "Đồng Khởi mới" do Tỉnh ủy Bến Tre phát động từ đầu năm 2015 đến 2020 và Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ X.

Lượt người xem:   1669
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Nam

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer