Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức và sự kiện

Tin tức và sự kiện
Thứ 2, Ngày 12/10/2015, 17:20
Một số kết quả quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2010-2015 và định hướng phát triển trong giai đoạn 2015-2020
12/10/2015 | Cao Văn Trọng - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre
Trong giai đoạn 2010-2015, Đảng bộ, chính quyền và toàn thể quân dân Bến Tre đã tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá IX trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhau, trước và sau Đại hội Đảng tỉnh lần thứ IX, kinh tế thế giới nói chung, cả nước nói riêng đang trong xu hướng phát triển thuận lợi, nguồn vốn đầu tư dồi dào nhưng từ cuối năm 2011 kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, Chính phủ quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ thắt chặt, để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chi tiêu công được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến nguồn lực đầu tư hạn hẹp. Bên cạnh đó, với sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh nhà còn thấp và chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra,... đã làm cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong toàn nhiệm kỳ gặp nhiều hạn chế. Tuy nhiên, với sự nỗ lực, đoàn kết và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh và sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, đã giúp Bến Tre vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức thực hiện đạt và vượt một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu.

​Trong giai đoạn 2010-2015, Đảng bộ, chính quyền và toàn thể quân dân Bến Tre đã tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá IX trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhau, trước và sau Đại hội Đảng tỉnh lần thứ IX, kinh tế thế giới nói chung, cả nước nói riêng đang trong xu hướng phát triển thuận lợi, nguồn vốn đầu tư dồi dào nhưng từ cuối năm 2011 kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, Chính phủ quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ thắt chặt, để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là chi tiêu công được kiểm soát chặt chẽ, dẫn đến nguồn lực đầu tư hạn hẹp. Bên cạnh đó, với sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh nhà còn thấp và chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra,... đã làm cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong toàn nhiệm kỳ gặp nhiều hạn chế. Tuy nhiên, với sự nỗ lực, đoàn kết và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân trong tỉnh và sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, đã giúp Bến Tre vượt qua khó khăn, thách thức, tổ chức thực hiện đạt và vượt một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu.

Song, với kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2015, Đảng bộ, chính quyền và quân dân tỉnh nhà cũng rất phấn khởi, với điểm nhấn quan trọng là kinh tế tiếp tục phát triển, công nghiệp được đẩy mạnh để tạo thế đột phá; kết cấu hạ tầng được tăng cường đầu tư mới và nâng cấp, sửa chữa, từng bước hoàn thiện; đào tạo nguồn nhân lực được tập trung theo hướng chất lượng cao,... Qua đó, đã góp phần quan trọng đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7,3% (Khu vực I tăng 3,8%; khu vực II tăng 13,3%; khu vực III tăng 13%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp xu thế phát triển chung của cả nước, với sự tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Thu nhập bình quân đầu người đạt 34,7 triệu đồng, tăng 1,66 lần so với năm 2010. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân có sự cải thiện rõ nét. Các hoạt động trên lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra và góp phần thực hiện khá tốt công tác đảm bảo an sinh xã hội. Quốc phòng an ninh được tăng cường, đảm bảo giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư phát triển có hạn nhưng tỉnh đã kết hợp, lồng ghép huy động từ nhiều nguồn, với nhiều phương thức khác nhau, trong đó chú trọng khai thác có hiệu quả những tiềm năng, lợi thế sẵn có của tỉnh kết hợp với sự hỗ trợ nguồn vốn từ Trung ương, nguồn xã hội hóa và vốn viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh. Với sự nỗ lực, tích cực tìm kiếm nguồn và vận động tài trợ, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn trong 5 năm qua ước đạt 58.103 tỷ đồng, với cơ cấu 15,25% vốn nhà nước, 55,59% vốn trong dân và 31,16% vốn nước ngoài. Nguồn vốn này được tập trung đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, thủy lợi, công nghiệp, thương mại, điện, nước, giáo dục, y tế,... nhằm tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển trong thời gian tới. Giai đoạn 2010-2015, toàn tỉnh có nhiều công trình hạ tầng trọng điểm hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả tích cực như cầu Cổ Chiên, cầu Phong Nẫm, cầu Ván, cầu Chợ Lách, 10 cầu trên đường tỉnh 883; ĐT 884, ĐT 885, ĐT 887, đường từ Cảng Giao Long đến Nguyễn Thị Định; nạo vét thượng nguồn sông Ba Lai; đê ven sông hàm Luông; đê biển Bình Đại; kè chống sạt lở bờ Bắc và bờ Nam sông Bến Tre; trụ sở làm việc khối Mặt trận, đoàn thể; Sân vận động tỉnh (giai đoạn 1); nhà văn hóa Trung tâm tỉnh; Bệnh viện Lao; Bệnh viện tâm thần; Trường THPT Chuyên Bến Tre;... Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào xây dựng giao thông nông thôn theo phương thức “nhà nước và nhân dân cùng làm”, đã thu hút nhiều thành phần tham gia và đạt được kết quả rất khả quan, phần lớn các tuyến đường liên xóm, ấp đều được nhựa hoá, bêtông hoá, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã,... Từ đó, đã kiến tạo bộ mặt nông thôn thêm khang trang sạch đẹp, tạo thuận lợi cho người dân đi lại và vận chuyển hàng hoá. Nhìn chung, hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh từng bước hoàn thiện, đáp ứng cơ bản nhu cầu phục vụ phát triển sản xuất và đời sống người dân cũng như thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

Trong nguồn lực có hạn nhưng tỉnh ta đã dồn sức vào tập trung phát triển công nghiệp là một trong 3 khâu đột phá để phát triển kinh tế, nhất là đầu tư hạ tầng các Khu, Cụm công nghiệp trên địa bàn để tạo quỹ đất sạch, thu hút các nhà đầu tư đến tỉnh xây dựng nhà máy, vận hành sản xuất, góp phần gia tăng năng lực cho nền kinh tế. Khu Công nghiệp Giao Long và Khu Công nghiệp An Hiệp đã đi vào hoạt động ổn định, đóng góp gần 50% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Kết quả thống kê cho thấy giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 12,8%/năm, gần gấp đôi giai đoạn 2005-2010. Trong đó, công nghiệp chế biến là ngành sản xuất chiếm tỷ trọng cao, đặc biệt là các sản phẩm chủ lực, thế mạnh của tỉnh có mức tăng khá như thủy sản chế biến, cơm dừa nạo sấy, sữa dừa,... Các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, sản phẩm mới được khuyến khích phát triển, bước đầu đã hình thành một số sản phẩm mới dựa trên ưu thế nguồn nguyên liệu tại chỗ, được thị trường chấp nhận và có xu hướng phát triển tốt. Nổi bật là một số mỹ phẩm được sản xuất từ dừa như mặt nạ dừa, tinh dầu dừa,... Công tác khuyến công, hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển làng nghề được quan tâm thực hiện, giúp doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ, thiết bị và cải tiến quy trình sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề tiếp tục phát triển, nhất là các làng nghề sản xuất hoa kiểng và sản phẩm truyền thống của địa phương, đã góp phần tạo việc làm và cải thiện đời sống người dân khu vực nông thôn. Sự phát triển vượt bậc trong công nghiệp đã thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo động lực phát triển các ngành, lĩnh vực khác và tham gia giải quyết tốt các vấn đề xã hội như thu nhập, việc làm cho người dân,...

Xuất phát từ quan điểm “Con người là nhân tố quyết định sự thành bại, hưng thịnh và giàu có của các quốc gia, dân tộc”, tỉnh ta đã xác định phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là bước đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, tạo lợi thế cạnh tranh, góp phần đưa kinh tế tỉnh nhà phát triển nhanh, bền vững. Trong nhiệm kỳ 2010-2015, tỉnh đã tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo Đề án Bến Tre 50 và các chương trình, đề án khác của các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực xã hội thông qua các chương trình giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề,... Nhờ đó, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh được nâng lên, với tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng, đạt 50% tổng số lao động của tỉnh. Công tác giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động được mở rộng theo hướng kết nối với các đơn vị có nhu cầu tuyển dụng, đã nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực này, góp phần kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống còn 3,42%. Song song với đào tạo, bồi dưỡng về tri thức, tỉnh cũng chú trọng phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, lối sống và sức khỏe nên con người dần dần hoàn thiện bản thân, trở thành nguồn nhân lực đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn về tâm lực, trí lực và thể lực để tham gia xây dựng, phát triển quê hương.

Ngoài những kết quả nổi bật đạt được trong thực hiện 03 khâu đột phá, các lĩnh vực còn lại cũng có chuyển biến tích cực, điển hình là khu vực nông nghiệp-thủy sản. Với ưu thế vốn có, nông nghiệp tiếp tục phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,69%, trong đó ngành chăn nuôi phát triển khá nhanh. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển đổi theo hướng tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và kiểm soát khá tốt dịch bệnh. Các mô hình trồng xen, nuôi xen tiếp tục được nhân rộng và từng bước hình thành các mô hình liên kết sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các công trình thuỷ lợi được quan tâm đầu tư, phát triển khá đồng bộ, tiến bộ khoa học, kỹ thuật canh tác hiện đại được triển khai đến tận người dân để hỗ trợ, hướng dẫn nông dân tổ chức lại sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh và dần chuyển hướng theo quy mô gia trại, trang trại. Nuôi thuỷ sản đạt kết quả khá tốt, sản lượng và diện tích đều tăng. Các đối tượng nuôi mới được nhân rộng, nhất là tôm thẻ chân trắng. Hoạt động khai thác xa bờ phát triển khá tốt kết hợp với mở rộng dịch vụ hậu cần nghề cá đã góp phần đưa sản lượng khai thác tăng khá so với giai đoạn trước. Chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện quyết liệt. Đến nay, đã công nhận 05 xã đạt tiêu chí nông thôn mới và đang tập trung cao cho các xã điểm, đồng thời đang tích cực huy động nguồn lực tổng hợp từ xã hội để xây dựng các xã còn lại. Nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và toàn dân về xây dựng nông thôn mới đã chuyển biến rõ nét.

Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá phát triển nhanh với các phương thức kinh doanh đa dạng, hiện đại. Hệ thống chợ nông thôn được đầu tư xây dựng, sửa chữa khang trang, là nơi mua sắm, kinh doanh phù hợp với nhu cầu của người dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tăng bình quân 14,6%/ năm. Các hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển, nhất là dịch vụ bưu chính viễn thông, ngân hàng, cung cấp điện, nước, chăm sóc sức khoẻ,… Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh, thị trường xuất khẩu được mở rộng, tiếp cận được một số thị trường mới ở Châu Âu. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm ước đạt 2.680 triệu USD, tăng bình quân 22,6%/năm, gấp 3,3 lần so với giai đoạn trước. Hoạt động du lịch chuyển biến rõ nét, loại hình phục vụ đa dạng hơn, cơ sở vật chất được đầu tư, nâng cấp, trở nên sạch đẹp, hiện đại, phù hợp với thị hiếu du khách. Nhờ đó, số lượt khách tăng 13,12%/năm và doanh thu tăng 23,4%/năm.

Song song với lĩnh vực kinh tế, các hoạt động văn hoá - xã hội cũng có nhiều tiến bộ. Các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm, chăm lo và không ngừng nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, đã thu hẹp dần sự cách biệt giữa thành thị với nông thôn. Hoạt động văn hoá thông tin có chuyển biến tích cực, đã phục vụ tổ chức thành công các sự kiện chính trị - kinh tế - văn hoá trọng đại trên địa bàn như Lễ hội Dừa lần III, IV; Hội thảo ASEM; kỷ niệm ngày Bến Tre Đồng khởi;... Qua đó, đã ghi đậm dấu ấn tốt đẹp với các tỉnh trong khu vực và cả nước. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” dần đi vào chiều sâu và phát triển đều khắp các địa phương. Chất lượng giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân và dạy nghề được nâng lên rõ rệt, với số lượng học sinh khá, giỏi các cấp học đều tăng, các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được kiểm soát khá chặt chẽ và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng nhanh, cơ bản đáp ứng được yêu cầu lao động trong tỉnh và tham gia xuất khẩu lao động. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được tập trung thực hiện đúng quy định, nhất là chăm lo đối tượng chính sách, hộ nghèo đạt kết quả khá tốt thông qua nhiều giải pháp thiết thực như tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, xây dựng nhà ở,... góp phần kéo giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh, đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 5,5%.

Công tác cải cách hành chính cũng được tập trung, tạo sự chuyển biến tích cực, góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, thu hút doanh nghiệp đến tỉnh triển khai dự án và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan công quyền. Chỉ số cải cách hành chính và chỉ số hài lòng của người dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước được tổ chức đánh giá nghiêm túc, chính xác, tạo cơ sở để chấn chỉnh, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Một số phương pháp mới được thực hiện trong đánh giá, tuyển dụng nhân sự và bổ nhiệm, đề bạt lãnh đạo được thực hiện, đặc biệt là tổ chức thi tuyển công chức, thi nâng ngạch, thi tuyển lãnh đạo theo nguyên tắc cạnh tranh,... đã góp phần quan trọng trong thay đổi tư duy, phương pháp thực hiện cũng như từng bước đổi chất đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thi hành pháp luật được tập trung thực hiện, từng bước đi vào nền nếp, đúng pháp luật. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn duy trì ổn định.

Theo dự báo, tình hình kinh tế - xã hội trong 5 năm tới diễn biến phức tạp, khó lường. Sự đan xen giữa những cơ hội, điều kiện thuận lợi với những khó khăn, thách thức vẫn là vấn đề quan trọng cần được nhìn nhận thấu đáo để có những giải pháp xử lý hiệu quả, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho cả giai đoạn 2015-2020, nhất là nguy cơ “tụt hậu” ngày càng xa hơn so với các tỉnh trong khu vực. Trước tình hình đó, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân trong tỉnh phải năng động, sáng tạo, cùng đồng lòng, chung sức, dám nghĩ, dám làm để tạo chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực. Với tinh thần đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bến Tre thống nhất đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu thực hiện trong 5 năm tới là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tăng bình quân 5 năm (2015-2020) từ 7-7,5%/năm; Cơ cấu kinh tế đến năm 2020: Khu vực I: 32%; Khu vực II: 22,5%; Khu vực III: 41,5% và GDP bình quân đầu người đạt 48,6 triệu đồng; Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 15.900 tỷ đồng, tăng bình quân 12,7%/năm; Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5.660 triệu USD, tăng bình quân 15,5%/năm; Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 80.200 tỷ đồng; Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1,5%/năm; Xuất khẩu 500 lao động/năm; Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 60-65%; Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95%, nước sạch đạt 55%;…

Từ thực tế tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh và các chỉ tiêu đề ra, cả hệ thống chính trị và toàn dân Bến Tre đã thảo luận, thống nhất một số định hướng lớn, cần tập trung thực hiện trong giai đoạn 2015-2020 là: Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, tập trung vào hai mũi nhọn là kinh tế vườn và kinh tế biển, gắn với thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu nông nghiệp; phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp để đẩy nhanh tốc độ phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là đầu tư vào các Khu, Cụm công nghiệp, đưa vào hoạt động Khu Công nghiệp Phú Thuận, để tạo điều kiện thu hút đầu tư, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tạo khối lượng sản phẩm lớn và lợi nhuận cao; đa dạng hóa các loại hình thương mại, dịch vụ, du lịch, với trọng tâm là hiện đại hóa hệ thống phân phối hàng hóa, tập trung huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch, hình thành sản phẩm du lịch đặc thù để tạo thương hiệu du lịch của tỉnh; huy động, thu hút nguồn lực đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nhất là các công trình, dự án trọng điểm, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội như giao thông, thủy lợi, điện, nước, y tế, giáo dục, du lịch,...; đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới; tích cực chăm lo phát triển các lĩnh vực văn hóa xã hội và đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao; tập trung đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học ứng dụng, thực nghiệm để áp dụng vào sản xuất; nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quản lý tài nguyên vào bảo vệ môi trường; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao mức sống người dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tăng cường công tác đảm bảo quốc phòng-an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Những định hướng, nhiệm vụ chủ yếu đề ra trong nhiệm kỳ 2015-2020 là rất nặng nề. Do đó, đòi hỏi các ngành, các cấp trong tỉnh phải tập trung, thống nhất cao trong chỉ đạo, điều hành, nắm sát tình hình để từng lúc đề ra giải pháp phù hợp; năng động trong nắm bắt thời cơ, linh hoạt trong xử lý tình huống và vận dụng, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp, nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đồng thời thắt chặt mối quan hệ công tác với Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương để được hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời và huy động, thu hút có hiệu quả sự đóng góp nguồn lực của toàn xã hội để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển chung của tỉnh. Trong quản lý, điều hành cần xác định cụ thể những lĩnh vực then chốt, mang tính đột phá để đẩy mạnh thực hiện, nhằm tạo thế và lực thúc đẩy sự phát triển kéo theo của các ngành, lĩnh vực khác, đồng thời phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy và hành động để đưa Bến Tre chuyển mình, vươn lên so với các tỉnh trong khu vực và khẳng định vị thế, vai trò trên bình diện chung của cả nước.

Lượt người xem:   3128
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Nam

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer