Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức và sự kiện

Tin tức và sự kiện
Thứ 7, Ngày 28/10/2017, 12:00
Nguồn lực và cơ chế liên kết vùng
28/10/2017 | Cao Văn Trọng - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre
Ở bất kỳ phương diện nào, sự liên kết sẽ tạo ra một lợi thế về quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh của từng địa bàn một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, tăng cường liên kết sẽ góp phần hạn chế được sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trên cùng một địa bàn, cũng như có thể suy rộng ra, liên kết sẽ tạo được sự phối hợp chặt chẽ trong ứng phó với biến đổi khí hậu ,… góp phần ổn định và phát triển kinh tế bền vững cho từng tỉnh, thành và cho toàn vùng. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả việc liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thì chính sách sử dụng nguồn lực, chính sách đầu tư hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong đầu tư phát triển là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Ở bất kỳ phương diện nào, sự liên kết sẽ tạo ra một lợi thế về quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh của từng địa bàn một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, tăng cường liên kết sẽ góp phần hạn chế được sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trên cùng một địa bàn, cũng như có thể suy rộng ra, liên kết sẽ tạo được sự phối hợp chặt chẽ trong ứng phó với biến đổi khí hậu ,… góp phần ổn định và phát triển kinh tế bền vững cho từng tỉnh, thành và cho toàn vùng. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả việc liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thì chính sách sử dụng nguồn lực, chính sách đầu tư hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong đầu tư phát triển là vấn đề quan trọng hàng đầu.

Liên kết vùng là tất yếu

Là một tỉnh nằm ở cuối nguồn sông Cửu Long, với thế mạnh kinh tế mũi nhọn là kinh tế vườn và thủy sản dựa trên tiềm năng đất và nước phân thành hai vùng mặn và ngọt. So với phần lớn các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, Bến Tre là địa phương có nguồn lực kinh tế rất thấp, nhất là khoản thu ngân sách (bình quân tổng thu ngân sách hàng năm giai đoạn 2010 - 2015 chỉ khoảng 1.800 tỷ đồng). Đồng thời, Bến Tre là địa phương hưởng trợ cấp rất lớn từ ngân sách Trung ương, mỗi năm (trong giai đoạn 2010 - 2015) ngân sách tỉnh chỉ có khả năng cân đối được khoảng 30-35% kinh phí phục vụ cho nhu cầu đầu tư phát triển của tỉnh. Tỷ lệ này đạt rất thấp trong tổng thể chung của khu vực. Nhưng bù lại, Bến Tre là tỉnh có nguồn nhân lực rất dồi dào, trẻ, năng động, sáng tạo và đang trong độ tuổi lao động chiếm trên 60% dân số, tuy nhiên, chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp, nhân lực chất lượng cao chiếm tỷ trọng rất ít nên tỉnh đã tập trung khai thác theo khía cạnh tạo công ăn việc làm để tích lũy vốn cho gia đình và xã hội thông qua chương trình xuất khẩu lao động, xúc tiến việc làm để giới thiệu và tạo việc làm ra ngoài tỉnh. Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh thì đa dạng, phong phú chủng loại giống loài, nhưng số lượng khai thác thì không nhiều và giá trị nguồn tài nguyên không lớn lắm nên việc khai thác nguồn lực này thường thiếu ổn định. Kết cấu hạ tầng tuy được quan tâm đầu tư, nhưng chỉ đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa trong giai đoạn hiện nay, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước,…

Sự phát triển của tỉnh hiện nay đang đối mặt với tính tự phát, phân tán, manh mún của cư dân. Với tâm lý của một vùng dân cư ốc đảo nên sau khi cầu Rạch Miễu đưa vào hoạt động đã thay thế những chuyến phà hàng ngày, nhịp sống hối hả đã thôi thúc người dân Bến Tre muốn vươn lên làm giàu nhanh chóng trên mảnh đất của mình nên nhà nhà, người người dồn mọi nguồn lực cho sản xuất nhưng không quan tâm đến thị trường, dẫn đến tình trạng "mạnh ai nấy làm", đã tạo ra rào cản cho sự liên kết trong sản xuất.

Từ những rào cản trong phát triển sản xuất của tỉnh, Bến Tre đã nhận thấy, trong điều kiện hiện nay, mỗi gia đình, mỗi địa phương không thiết lập được mối liên kết thì sẽ không thể phát triển bền vững được. Liên kết sản xuất đã trở thành một nhu cầu tất yếu để giúp cho việc khai thác các tiềm năng, thế mạnh và sử dụng các nguồn lực sẵn có của địa phương và của toàn vùng hiệu quả hơn. Bởi vì, sự liên kết, ở phương diện nào đó sẽ tạo ra một lợi thế về quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh của từng địa bàn một cách hiệu quả nhất. Đồng thời, tăng cường liên kết sẽ góp phần hạn chế được sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trên cùng một địa bàn, cũng như có thể suy rộng ra, liên kết sẽ tạo được sự phối hợp chặt chẽ trong ứng phó với BĐKH,… góp phần ổn định và phát triển kinh tế bền vững cho từng tỉnh, thành và cho toàn vùng.

Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả liên kết vùng ĐBSCL, theo góc nhìn của tỉnh Bến Tre, vấn đề đầu tiên đặt ra là phải có một "Nhạc trưởng" hoặc một tổ chức có đủ thực quyền để chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng cơ chế điều phối các hoạt động trong liên kết vùng; cũng như xây dựng các cơ chế, chính sách phù hợp với quy định của pháp luật để huy động các nguồn lực thực hiện hoạt động liên kết, đảm bảo hiệu quả; đồng thời, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương trong thực hiện nhiệm vụ liên kết.

7 giải pháp căn cơ

Trong bối cảnh ngân sách khó khăn, nguồn lực của các tỉnh trong khu vực nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng rất hạn chế, hầu hết các tỉnh trong vùng đều hưởng trợ cấp từ ngân sách Trung ương, nên chưa có khả năng cân đối để thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, bức xúc phục vụ đầu tư phát triển cho địa phương và cho vùng. Vì vậy, giải pháp tối ưu trước mắt mà các tỉnh trong vùng đề xuất Trung ương là kiến nghị Chính phủ xem xét, bố trí cân đối nguồn vốn chung của quốc gia để hỗ trợ một phần cho đầu tư của vùng, nhằm tạo động lực phát triển cho các địa phương; các tỉnh, thành trong khu vực cân đối nguồn lực để tham gia một phần theo cơ cấu phù hợp; phần còn lại đề xuất thực hiện vay ưu đãi từ các nguồn vốn vay hợp pháp khác và tăng cường thu hút đầu tư. Với trách nhiệm quản lý theo địa bàn, các tỉnh, thành trong khu vực sẽ đẩy mạnh hợp tác, kêu gọi đầu tư, huy động nguồn lực từ xã hội để cùng góp sức chung cho vùng.

Bến Tre đã, đang và sẽ ưu tiên thu hút đầu tư để tạo năng lực phát triển mới. Đó là đẩy mạnh mời gọi đầu tư trong nước và quốc tế đầu tư vào các lĩnh vực trọng điểm như: Xây dựng và kinh doanh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; các dự án điện gió, điện mặt trời; chế biến các sản phẩm có giá trị gia tăng cao từ dừa, trái cây, thủy sản; phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp công nghệ cao; xây dựng chợ, trung tâm thương mại, khu đô thị, khu dân cư; đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn gắn với chuỗi giá trị 8 sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh (dừa, bưởi da xanh, chôm chôm, nhãn, hoa kiểng, heo, bò và tôm biển); phát triển du lịch sinh thái kết hợp với du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng; tập trung thực hiện chương trình Đồng Khởi khởi nghiệp; đầu tư các trường mầm non, mẫu giáo; đào tạo lao động có chất lượng, với trình độ tay nghề cao để cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước,… Ngoài ra, để thực hiện có hiệu quả cơ chế và các hoạt động liên kết vùng ĐBSCL, tỉnh cần thực hiện một số nội dung như sau:

Một là, tập trung huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là các nguồn vốn xã hội hóa, kêu gọi đầu tư, FDI, vốn ODA. Đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước,… góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn vùng.

Hai là, để thực hiện liên kết vùng ĐBSCL được bền vững, cần có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách, nguồn vốn đầu tư của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, cũng như sự chung tay và có trách nhiệm của các địa phương.

Ba là, các địa phương cần xóa bỏ quan điểm cục bộ địa phương, tư duy "một mình một chợ" trong phát triển, đồng thời không phát triển theo địa giới hành chính của từng địa phương mà phải có sự liên kết ngay trong xây dựng, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm của các địa phương.

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền đến từng cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư về mục đích, yêu cầu, nội dung, quan điểm của liên kết vùng để nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận trong quá trình thực hiện, loại dần tư tưởng đầu tư phát triển ở mỗi địa phương.

Năm là, thực hiện liên kết theo hướng lựa chọn những lĩnh vực trọng tâm, sản phẩm mũi nhọn dựa trên lợi thế so sánh của từng địa phương, tạo ra quy mô kinh tế gắn với không gian về thị trường, trong đó lấy việc phát triển vùng sản xuất nguyên liệu tập trung để cung cấp cho các nhà máy chế biến hay chí ít cũng phải hình thành được những vùng nông sản hàng hóa tập trung để thỏa mãn theo nhu cầu thị trường.

Sáu là, sớm thiết lập hệ thống thông tin và cung cấp thông tin vùng ĐBSCL tạo thành một hệ thống thông tin nhanh, kịp thời, chính xác, phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng có nhu cầu quan tâm đến các lĩnh vực, nội dung có liên quan đến cơ chế, chính sách, các thông tin cơ bản đáp ứng cho nhu cầu tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.

Bảy là, tăng cường công tác giáo dục, đào tạo và dạy nghề, nhất là đào tạo nghề cho nông dân và phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, trong đó quan tâm sắp xếp hệ thống giáo dục nghề nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng, trung cấp của các tỉnh, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động trong khu vực và cung ứng cho các tỉnh, thành khác trong cả nước; phối hợp, hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động Trung tâm Đào tạo Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tại tỉnh Bến Tre...; thực hiện liên kết đào tạo với các trường đại học, các viện và các trung tâm đào tạo có uy tín…

Mặc dù, ĐBSCL được xác định là khu vực có lợi thế so sánh về phát triển nông nghiệp cao nhất cả nước, nhưng tiềm năng, thế mạnh này chưa được khai thác, phát huy đúng mức. Vấn đề này được nhìn nhận từ khá lâu, tuy nhiên đây được xem là bài toán khó giải quyết cho các cơ quan quản lý cũng như những người dân trực tiếp sinh sống, thụ hưởng lợi ích từ địa bàn này. Vì vậy, để thực có hiệu quả việc liên kết vùng ĐBSCL một cách hiệu quả thì chính sách sử dụng nguồn lực, chính sách đầu tư hợp lý để đảm bảo hiệu quả trong đầu tư phát triển, trong đó, phải tập trung vào phát triển hạ tầng giao thông, thủy lợi tạo sự kết nối liên hoàn trong khu vực, thúc đẩy quá trình giao thương, vận chuyển hàng hóa và đi lại được dễ dàng và thuận lợi.

Lượt người xem:   413
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Nam

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer