Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức và sự kiện

Tin tức và sự kiện
Thứ 4, Ngày 06/03/2019, 18:05
Thể chế cần thiết để thực hiện hiệu quả điều phối vùng; mô hình liên kết Tiểu vùng Duyên hải phía Đông Đồng bằng sông Cửa Long
06/03/2019 | Cao Văn Trọng - Chủ tịch UBND tỉnh
Vùng Đồng bằng sông Cửa Long (ĐBSCL) giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của cả nước, có tiềm năng phát triển nông nghiệp - thủy sản - công nghiệp - du lịch và dịch vụ, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, cây ăn trái,... Trong thời gian qua, sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức trong và ngoài nước đối với các tỉnh khu vực ĐBSCL là rất lớn. Điều này được thể hiện rõ nét qua định hướng phát triển chung cho vùng, qua quy hoạch tổng thể vùng, định hướng quy hoạch tổng thể cho các địa phương trong vùng và các dự án, chương trình đã và đang triển khai tại khu vực ĐBSCL. Đặc biệt, ÐBSCL là vùng duy nhất trong cả nước được Chính phủ thí điểm thực hiện liên kết với định hướng cụ thể tại Quyết định 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020.

Vùng Đồng bằng sông Cửa Long (ĐBSCL) giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của cả nước, có tiềm năng phát triển nông nghiệp - thủy sản - công nghiệp - du lịch và dịch vụ, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, cây ăn trái,... Trong thời gian qua, sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức trong và ngoài nước đối với các tỉnh khu vực ĐBSCL là rất lớn. Điều này được thể hiện rõ nét qua định hướng phát triển chung cho vùng, qua quy hoạch tổng thể vùng, định hướng quy hoạch tổng thể cho các địa phương trong vùng và các dự án, chương trình đã và đang triển khai tại khu vực ĐBSCL. Đặc biệt, ÐBSCL là vùng duy nhất trong cả nước được Chính phủ thí điểm thực hiện liên kết với định hướng cụ thể tại Quyết định 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020.

Tuy nhiên, ĐBSCL hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, không chỉ đối với vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng mà còn là vấn đề phải thực hiện có hiệu quả liên kết vùng để tạo thêm nguồn lực cùng nhau ứng phó với thách thức chung.

18505_06032019_201936171227273.JPG

Quang cảnh Hội thảo Công bố tầm nhìn chiến lược liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng Duyên hải ĐBSCL. (Ảnh: Huyền Trang)

Chủ trương và nội dung định hướng liên kết vùng đã được thể hiện trong Quyết định 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020, nhưng hiện tại liên kết vùng vẫn chưa thể thực thi một cách hiệu quả, đã được nhìn nhận là thể chế liên kết vùng chưa được hoàn thiện nên khu vực này còn khó khăn lớn khi thiếu cơ sở pháp lý hoàn chỉnh để thực hiện hiệu quả vấn đề liên kết vùng. Vì vậy, trong khuôn khổ Hội thảo về tình hình thực hiện liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL, tỉnh Bến Tre xin trình bày tham luận đối với "Những vấn đề về thể chế cần thiết để thực hiện hiệu quả điều phối vùng và Mô hình liên kết Tiểu vùng Duyên hải phía Đông ĐBSC". Thông qua tham luận này, tỉnh Bến Tre đề xuất một số nội dung để lãnh đạo Trung ương và các tỉnh, thành trong khu vực cùng bàn bạc, thảo luận để thống nhất chung trong định hướng, xây dựng khu vực ĐBSCL ngày càng phát triển toàn diện và bền vững hơn.

Thể chế cần thiết để thực hiện hiệu quả điều phối vùng

Thời gian qua, mặc dù các tỉnh đã có sự chuẩn bị và quan tâm thực hiện hợp tác, kết nối với nhau để cùng chia sẻ cơ hội và hợp tác phát triển, điển hình như liên kết Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau, ABCD Mê Kong (An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp), liên kết Tiểu vùng Duyên hải phía Đông ĐBSCL,... song các cam kết, liên kết chỉ mới mang tính chất đồng thuận về nguyên tắc, phần lớn các hoạt động liên kết chỉ dừng lại trong khuôn khổ trao đổi, học tập kinh nghiệm, hội nghị, hội thảo chuyên đề mà chưa phát triển thành các hoạt động liên kết thực tế, có chiều sâu và toàn diện.

Đặc biệt, các tỉnh vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, chưa thống nhất trong quá trình vận hành bộ máy hoạt động liên kết giữa các tiểu vùng và trong khu vực; giữa các tỉnh thiếu cơ chế điều hành, phối hợp, liên kết với nhau, chủ yếu hoạt động theo địa bàn lãnh thổ, chưa có nhiều sự hợp tác để chia sẻ cơ hội và giảm áp lực rủi ro trong sản xuất; cũng như chưa có sự kết nối để hỗ trợ, góp sức cùng nhau trong phát triển, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn vùng và lợi thế của từng địa phương, nên đã xảy ra tình trạng sản xuất manh mún, cục bộ, địa phương,… Chính sự hạn chế đó đã dẫn đến rào cản cho liên kết vùng, tiểu vùng, kéo chậm quá trình phát triển của từng địa phương, cũng như chưa tạo được sự rõ nét trong chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng của khu vực.

Vì vậy, yêu cầu cấp thiết trước mắt hiện nay là vấn đề cơ chế, chính sách đặc thù riêng dành cho liên kết phát triển giữa các tỉnh khu vực ĐBSCL, nhằm tạo sự kết nối, hỗ trợ trong phát triển kinh tế - xã hội và tạo sự cộng hưởng chung, mang sức bật mới cho cả vùng. Trong đó, cần quan tâm đến một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về vấn đề vai trò "nhạc trưởng", điều hành hoạt động chung. Để thực hiện liên kết thật sự hiệu quả, khoa học và định hướng dài hạn, khu vực ĐBSCL cần có một tổ chức, cơ quan chuyên trách có thực quyền để điều phối các hoạt động liên kết thông suốt, nhịp nhàng. Bên cạnh việc điều phối chung, cơ quan chuyên trách sẽ định hướng xây dựng quy hoạch, chiến lược để phát triển cho cả vùng; giám sát chặt chẽ việc thực hiện theo đúng quy hoạch, chiến lược phát triển; tổng hợp các nhu cầu, cân đối nguồn lực và trình cơ quan có thẩm quyền phân bổ kinh phí thực hiện các dự án, đề án đối với vấn đề liên kết phát triển trong khu vực ĐBSCL.

Thứ hai, về vấn đề chính sách chung cho khu vực. Nguồn lực đầu tư rất hạn chế là một trong những khó khăn chung của các địa phương trong vùng ĐBSCL nói chung và Tiểu vùng Duyên hải phía đông nói riêng. Để thực hiện liên kết vùng ĐBSCL được bền vững, cần có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách, nguồn vốn đầu tư của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương để khu vực này đầu tư phát triển các dự án liên tỉnh, liên vùng, có sức tác động và lan tỏa cao trong khu vực và cả nước.

Thứ ba, về cơ chế ràng buộc giữa các tỉnh với nhau, giữa cơ quan chuyên trách quản lý và các tỉnh trong khu vực: Đây cũng là một trong những "điểm nghẽn" quan trọng trong vấn đề liên kết giữa các tỉnh. Để hoạt động liên kết mang lại ý nghĩa thực sự, các tỉnh cần phải khẳng định sự đồng thuận, nhất quán trong quá trình thực thi với các cam kết, ràng buộc lẫn nhau trên tinh thần cùng phát triển và hướng đến phát triển bền vững. Cơ quan chuyên trách quản lý điều hành, thống nhất với tỉnh về các dự án phát triển chung cho cả khu vực hoặc từng tiểu vùng. Xây dựng quy chế phối hợp và kiểm soát việc thực thi; hạn chế thấp nhất tình trạng "vượt rào" của từng địa phương vì mục đích lợi ích theo địa bàn, lãnh thổ.

Mô hình liên kết tiểu vùng Duyên hải phía Đông ĐBSCL

Trong thời gian qua, vấn đề liên kết để phát triển giữa các địa phương trong khu vực vẫn tồn tại những "điểm nghẽn" chưa được giải quyết triệt để. Vấn đề này không chỉ được nhìn nhận từ góc độ của các địa phương trong vùng hay tiểu vùng, mà vấn đề này luôn được Trung ương quan tâm. Sau Quyết định 593/QĐ-TTg và Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ, các tỉnh trong khu vực đã phần nào định hướng các bước đi trong tiến trình xây dựng, liên kết và hợp tác phát triển. Bến Tre cũng như các tỉnh trong Tiểu vùng Duyên hải phía Đông ĐBSCL gồm Tiền Giang, Vĩnh Long và Trà Vinh đã quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo và nhất quán, thống nhất trong suy nghĩ và hành động để từng bước hình thành Liên kết phát triển bền vững của Tiểu vùng.

Với sự thận trọng, vừa đánh giá, rà soát kỹ tiềm năng, lợi thế, vừa nghiên cứu các ngành, lĩnh vực có thể thực hiện liên kết, các tỉnh đã xây dựng Tầm nhìn chiến lược phát triển cho Tiểu vùng để làm cơ sở xây dựng Đề án Liên kết giữa các tỉnh với định hướng mục tiêu đến năm 2030. Ngày 10/01/2019, lãnh đạo các tỉnh đã đồng chủ trì tổ chức Hội thảo công bố Tầm nhìn chiến lược và ra mắt Ban Điều hành đề án Liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng Duyên hải phía Đông ĐBSCL tại Bến Tre. Để thực hiện tốt mục tiêu liên kết phát triển trong tiểu vùng, dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng thực trạng các "điểm nghẽn" và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó để các tỉnh cùng đề ra những giải pháp, phương thức thực hiện có căn cứ khoa học, phù hợp yêu cầu thực tiễn, nhằm tháo gỡ được các "nút thắt" gây cản trở sự phát triển chung của tiểu vùng.

Trong khuôn khổ hoạt động liên kết, các tỉnh đã thống nhất tổ chức Hội thảo phát triển bền vững chuỗi giá trị ngành Dừa, một sản phẩm có thế mạnh của tiểu vùng. Đây là một hoạt động thể hiện quyết tâm cao của các tỉnh trong tiểu vùng trong thực hiện chủ trương liên kết phát triển. Từ những hoạt động cụ thể đó đã minh chứng rõ sự quyết tâm rất lớn của lãnh đạo tỉnh Bến Tre nói riêng và các tỉnh trong tiểu vùng nói chung đối với vấn đề liên kết, hợp tác, với kỳ vọng sẽ xây dựng được tư duy mới, tầm nhìn mới và cách tiếp cận mới từ góc độ chung của toàn xã hội, giảm dần tư duy cục bộ địa phương để hướng tới mục tiêu lớn hơn, xa hơn cho cả khu vực và cả nước, nhất là đưa các sản phẩm thế mạnh của từng tỉnh trở thành sản phẩm tiềm năng của cả tiểu vùng và phù hợp với xu thế hội nhập, phát triển và cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường.

18505_06032019_201936171233476.JPG

Ra mắt Ban Điều hành Đề án liên kết phát triển bền vững Tiểu vùng phía Đông vùng ĐBSCL. (Ảnh: Huyền Trang)

Trong bước đầu quá trình thực hiện công tác liên kết, các địa phương đã nhận thấy được những tồn tại, vướng mắc nhất định; tuy nhiên với quyết tâm cao, lãnh đạo các tỉnh đã chủ động, sáng tạo và thống nhất các giải pháp để khắc phục những khó khăn chung. Điển hình như trong các nội dung hợp tác, các địa phương không đưa ra các nội dung chung chung mà chú trọng vào các ngành, lĩnh vực cụ thể, có thế mạnh của từng địa phương, như liên kết về xây dựng vùng nguyên liệu dừa, nuôi trồng, khai thác thủy hải sản, khai thác cát, phòng chống tác hại của biến đổi khí hậu,... Về cơ chế tài chính, trong lúc chưa có cơ chế "góp vốn" giữa các địa phương hay sự phân bổ ngân sách từ Trung ương cho vùng, tiểu vùng, các địa phương luân phiên giữ vị trí chủ trì và chi trả cho các hoạt động chung.

Với sự nỗ lực, quyết tâm chính trị cao của lãnh đạo các tỉnh, liên kết của tiểu vùng đã cơ bản hình thành với những nền tảng ban đầu. Tuy nhiên, nhìn bao quát và toàn diện, vấn đề liên kết vẫn còn rất nhiều những khó khăn, thách thức, nhất là trong công tác phối hợp, điều hành, phân định chức năng, nhiệm vụ và cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện liên kết trong tiểu vùng. Bên cạnh đó, sự quan tâm, tham gia của người dân và doanh nghiệp còn hạn chế do chưa nhận thức được các lợi ích khi tham gia hoạt động liên kết; đồng thời, hiện tại các tỉnh trong tiểu vùng chưa xây dựng được cơ chế, chính sách để khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân tham gia hoạt động liên kết nên chưa thể tác động lớn đến các đối tượng này.

Một số nội dung phát triển liên kết vùng, tiểu vùng

Qua quá trình thực hiện liên kết tiểu vùng và trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề để thực hiện hiệu quả các hoạt động liên kết nói chung, Bến Tre đề xuất một số nội dung để Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương xem xét và các địa phương trong nước nghiên cứu, thảo luận, cụ thể như sau:

Một là ,cần hoàn thiện thể chế để có quy định cụ thể, rõ ràng hơn về pháp lý trong thực hiện liên kết, trong đó có cơ chế điều phối, quản lý chặt chẽ hơn đối với hoạt động liên kết, phát triển khu vực ĐBSCL; tạo lập hành lang pháp lý vững chắc, với đầy đủ các quy định, hướng dẫn, đặc biệt là đối với vấn đề phân bổ ngân sách cho liên kết vùng hoặc cơ chế phân bổ, chia sẻ ngân sách cho từng tiểu vùng, giữa các tỉnh trong tiểu vùng. Đồng thời, đề xuất Trung ương xem xét, nghiên cứu, nâng mức hỗ trợ cho vùng ĐBSCL trong tổng nguồn lực phân bổ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước để tạo động lực thúc đẩy các tỉnh ĐBSCL phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và khai thác hiệu quả giá trị tài nguyên bản địa của khu vực trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Hai là, hình thành cơ quan chuyên trách quản lý, điều phối chung trên cơ sở cân đối lợi ích giữa các địa phương trong liên kết vùng; giữ vai trò "nhạc trưởng" để chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển dựa trên thế mạnh của từng tỉnh và có liên kết, hỗ trợ nhau. Đề xuất thành lập Hội đồng vùng ĐBSCL do Phó Thủ tướng Chính phủ đứng đầu để giữ vai trò điều phối, chỉ đạo, giải quyết các khó khăn, vướng mắc, điều hòa những mâu thuẫn lợi ích của các địa phương khi tham gia liên kết.

Ba là, xây dựng cơ chế, chính sách, hướng mở để thu hút, khai thác nguồn lực từ các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là nguồn lực từ doanh nghiệp, các đối tượng trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động liên kết. Việc thu hút, đa dạng các nguồn lực, nhất là khu vực tư sẽ vừa giảm gánh nặng ngân sách, vừa phát huy được vai trò tích cực, năng động của các nhân tố bên ngoài.

Bốn là, trong bối cảnh ngân sách khó khăn, nguồn lực của các tỉnh trong khu vực rất hạn chế, hầu hết các tỉnh trong vùng đều hưởng trợ cấp từ ngân sách Trung ương, nên không có khả năng cân đối để thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, bức xúc phục vụ đầu tư phát triển cho địa phương và cho vùng. Vì vậy, giải pháp tối ưu trước mắt mà Bến Tre đề xuất là Trung ương nên xem xét, cân đối để bố trí nguồn vốn chung của quốc gia thực hiện công tác hỗ trợ một phần cho đầu tư của vùng; các tỉnh, thành trong khu vực cân đối nguồn lực để tham gia một phần theo cơ cấu phù hợp; phần còn lại đề xuất thực hiện vay ưu đãi từ các nguồn vốn vay hợp pháp khác và tăng cường thu hút đầu tư. Khi đó, sẽ huy động được sự tham gia hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư cho sự phát triển chung của toàn xã hội, thể hiện được tinh thần cộng đồng, chia sẻ trách nhiệm chung giữa các chủ thể tham gia trong nền kinh tế. Với trách nhiệm quản lý theo địa bàn, các tỉnh, thành trong khu vực sẽ đẩy mạnh hợp tác, kêu gọi đầu tư, huy động nguồn lực từ xã hội để cùng góp sức chung cho vùng.

Năm là, tiến hành thực hiện liên kết theo hướng lựa chọn những lĩnh vực trọng tâm, sản phẩm mũi nhọn dựa trên lợi thế so sánh của từng địa phương, tạo ra quy mô kinh tế phù hợp, gắn với không gian về thị trường trong toàn vùng và cả nước, trong đó lấy sản xuất nông nghiệp công nghệ cao làm hạt nhân gắn với công nghiệp chế biến.

Sáu là, sớm thiết lập hệ thống thông tin và cung cấp thông tin vùng ĐBSCL tạo thành một hệ thống thông tin nhanh, kịp thời, chính xác, phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng có nhu cầu quan tâm đến các lĩnh vực, nội dung có liên quan đến cơ chế, chính sách, các thông tin cơ bản đáp ứng cho nhu cầu tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.

Ngoài ra, chúng ta có thể nghiên cứu các mô hình thành công trên thế giới để áp dụng những khía cạnh phù hợp cho khu vực ĐBSCL, điển hình như mô hình quản lý đồng bằng của Hà Lan.

Các vấn đề về thể chế, đặc biệt là về tổ chức bộ máy, cơ sở pháp lý, quy định và hướng dẫn chính thức từ các cơ quan công quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo lập và thúc đẩy liên kết vùng nói chung và liên kết các tiểu vùng nói riêng. Vì vậy, để thực hiện liên kết một cách hiệu quả, cần có thể chế rõ ràng, bộ máy đủ mạnh cùng quyết tâm và trách nhiệm cao của các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân. Với kỳ vọng hòa nhập nhanh với xu thế chung và phát triển bền vững hơn trong thời gian tới, các tỉnh trong khu vực ĐBSCL mong muốn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ sâu sắc từ các Bộ, ngành Trung ương và sự chia sẻ, ủng hộ nhiều hơn từ bạn bè trong và quốc tế. Từ sự hỗ trợ, công tác tích cực đó, hoạt động liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL sẽ mang lại kết quả cụ thể, thiết thực, góp phần thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Lượt người xem:   450
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Nam

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer