Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTin tức và sự kiện

 
Tin tức và sự kiện
 
Sáng 13/5/2017, UBND huyện Chợ Lách tổ chức Lễ công bố xã Vĩnh Bình đạt chuẩn nông thôn mới (NTM). Đây là xã NTM thứ 3 của huyện Chợ Lách.  
 
Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, huyện Chợ Lách có nhiều chuyển biến tích cực: Công tác cán bộ nữ luôn được các cấp ủy Đảng quan tâm, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy, HĐND các cấp, cơ quan dân cử, cơ quan hành chính Nhà nước tăng so với nhiệm kỳ trước. Từ đó vai trò, vị trí của phụ nữ ngày càng được khẳng định và có sự đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.  
 
Tối ngày 11/5/2017, tại khuôn viên Hội trường lớn của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, Tuần lễ Giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) tại tỉnh Bến Tre năm 2017 đã chính thức khai mạc.  
 
Từ ngày 01/6/2017, Thông tư số 02/2017/TT-BYT Ngày 15/3/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) trong các cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí KCB trong một số trường hợp sẽ có hiệu lực áp dụng.  
 
Chiều 11/5/2017, tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Bến Tre, ông Nguyễn Hữu Phước - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Đại hội Thể dục thể thao Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ VII – Bến Tre năm 2017 đã chủ trì Hội nghị sơ kết giai đoạn 1 và công tác chuẩn bị tổ chức giai đoạn 2. Tham dự hội nghị có ông Nguyễn Kiều Linh – Cục trưởng Cục công tác phía Nam Bộ VHTT&DL; ông Trương Quốc Phong – Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Bến Tre; lãnh đạo các Cục thuộc Bộ VHTT&DL, Sở VHTT&DL các tỉnh ĐBSCL, miền Đông Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh.  
 
Ngày 9/5/2017, Ban Chỉ đạo Xây dựng thành phố Bến Tre đạt chuẩn đô thị loại II tổ chức hội nghị với các thành viên Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc để sơ kết tình hình, kết quả thực hiện Đề án Xây dựng thành phố Bến Tre đạt chuẩn đô thị loại II năm 2016 và phương hướng thực hiện năm 2017.  
 
Sáng ngày 10/5/2017, ông Trần Ngọc Tam - Phó Bí thư Tỉnh ủy, ông Nguyễn Hữu Phước - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đến thăm, chúc mừng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bến Tre tại chùa Viên Minh, thành phố Bến Tre, nhân lễ Phật đản Phật lịch 2561.  
 
Ngày 9 và 10/5/2017, đoàn công tác của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đến tỉnh Bến Tre để khảo sát tình hình thực hiện Thông tư liên tịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích. Ông Từ Mạnh Lương - Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Trưởng đoàn); ông Lê Duy Khánh - Phó Cục trưởng Cục Công tác phía Nam Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) cùng các thành viên trong đoàn đã làm việc tại Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bến Tre và đi khảo sát một số điểm du lịch, khách sạn, nhà hàng, khu di tích.  
 
Sáng nay 10/5, tại hội trường UBND huyện, Huyện ủy Thạnh Phú tổ chức hội nghị triển khai Chuyên đề “Đồng Khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp” cho các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, bí thư các chi, đảng bộ và trưởng các ban, ngành, MTTQ, đoàn thể huyện và báo cáo viên cấp huyện.  
 
Việc quản lý, nhận diện, truy xuất nguồn gốc sản phẩm là con đường duy nhất để xây dựng niềm tin và phát triển thị trường cho sản phẩm. Chính vì thế, việc đẩy nhanh tiến độ tham gia Đề án Quản lý, nhận diện và truy xuất nguồn gốc thịt heo của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) trên địa bàn tỉnh Bến Tre là rất cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người chăn nuôi heo của tỉnh ổn định đầu ra sản phẩm trên thị trường TP.HCM. Đồng thời, việc tham gia Đề án cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của người chăn nuôi, thúc đẩy người chăn nuôi đổi mới phương thức sản xuất, phát triển quy mô chăn nuôi nhằm tạo ra sản phẩm sạch, vệ sinh, an toàn  
 
 
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Chợ Lách: Chuyển biến tích cực qua thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thưNew
Đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có vai trò quan trọng trong việc phát huy nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây phát nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và xây dựng nông thôn mới, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Đào tạo nghề, dạy nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có vai trò quan trọng trong việc phát huy nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây phát nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và xây dựng nông thôn mới, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Sau khi tiếp thu Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư (khoá XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn”, Ban Thường vụ Huyện uỷ Chợ Lách ban hành Công văn số 502-CV/HU chỉ đạo các cấp uỷ Đảng lãnh đạo tốt việc xây dựng chương trình, kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn; đảm bảo phù hợp quy hoạch sản xuất, xây dựng nông thôn mới, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương; đồng thời, tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí chiến lược của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vai trò của công tác dạy nghề đối với sự phát triển của nông thôn trong giai đoạn mới.

Để triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư khoá XI, UBND huyện, có công văn  đồng ý phê duyệt kế hoạch dạy nghề phi nông nghiệp cho lao động nông thôn; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, Tổ thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg cấp huyện có kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn hàng năm.

Đa số học viên sau khi học nghề đã áp dụng tốt những kiến thức đã học vào lao động và sản xuất. (Ảnh: Ngọc Lãm)

Hàng năm, Huyện uỷ, UBND huyện, các ngành, các cấp tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sau đào tạo nghề cho lao động nông thôn và khảo sát nhu cầu đào tạo nghề của người lao động. Qua đó, nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân về công tác dạy nghề cho lao động nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực. Nhân dân thấy rõ tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác dạy nghề, học nghề, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống.

Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư khoá XI, giai đoạn 2012-2016, huyện Chợ Lách mở 90 lớp dạy nghề cho 2.289 học viên; trong đó có 64 lớp dạy nghề phi nông nghiệp, với 1.546 học viên và 26 lớp dạy nghề nông nghiệp, với 743 học viên.

Nhìn chung, đa số học viên sau khi học nghề đã áp dụng tốt những kiến thức đã học vào trong quá trình lao động và sản xuất, đặc biệt là sản xuất tại hộ gia đình như kỹ thuật bonsai, cây kiểng, kỹ thuật chăm sóc cây ăn trái; có 92,5% học viên có việc làm sau khi học nghề. Những học viên học các nghề như may công nghiệp, đan bội kẽm, quay chậu giả gỗ và các nghề nông nghiệp đều có việc làm.

Việc thực hiện tốt các công tác tuyên truyền, vận động, phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên dạy nghề, thực hiện chính sách vốn, phương tiện sản xuất, đầu ra cho sản phẩm, huy động nguồn lực, biểu dương và nhân rộng các điển hình trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đã tạo điều kiện để huyện Chợ Lách đạt các mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn.

Huyện Chợ Lách hiện có 11 trung tâm học tập cộng đồng, 1 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên với 13 nghề đào tạo, trong đó có 8 nghề phi nông nghiệp và 5 nghề nông nghiệp. Toàn huyện có 24 giáo viên tham gia công tác dạy nghề, trong đó có 11 giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn, 13 giáo viên dạy nghề ở các trường. Chất lượng giáo viên đều đạt chuẩn, từng bước được bố trí hợp lý. Tính đến tháng 4/2017, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Chợ Lách đã cho vay hỗ trợ lãi suất cho 819 hộ ở 64 tổ hợp tác, với số tiền là 875 triệu đồng và tổ chức triển khai cho vay lãi suất ưu đãi theo Nghị định 55/NĐ-TTg của Chính phủ. Hội Nông dân phối hợp Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh Chợ Lách thẩm định cho 4.460 hộ vay, với số tiền gần 76 tỷ đồng. Huyện duy trì, phát triển các mô hình, dự án sản xuất kinh tế, thường xuyên mở lớp tập huấn cho nông dân có nhu cầu chuyển đổi cây trồng để nâng cao năng suất, chất lượng trái cây.

Đồng thời, huyện duy trì, phát triển 180 mô hình đào tạo nghề đan bội kẽm, 175 mô hình chăn nuôi dê, 400 mô hình trồng cây ăn trái, hoa kiểng đạt hiệu quả kinh tế cao. 100% học viên tham gia các mô hình đều có việc làm, áp dụng tốt kiến thức đã học vào sản xuất, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình.

Hướng tới, Huyện uỷ Chợ Lách tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn; tăng cường tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dạy nghề trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; liên kết các trường mở các lớp dạy nghề cho lao động nông thôn gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo viên dạy nghề; liên kết với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để giải quyết việc làm cho lao động sau học nghề; huy động các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hoá công tác dạy nghề cho lao động nông thôn.

24/05/2017 4:42 CHĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_24_16_48_17_153.jpg48Ngọc Lãm
Bình Đại: Tăng cường phòng, chống dịch bệnh năm 2017New
Trong năm 2016, được sự quan tâm của chính quyền các cấp, công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn huyện Bình Đại đạt nhiều kết quả, không xảy ra dịch lớn. Tuy nhiên, bệnh truyền nhiễm vẫn còn xảy ra, một số bệnh có tăng so với cùng kỳ, như tiêu chảy, SXH, viêm gan virút, cúm. Ngoài ra, dự báo trong năm 2017, ở huyện Bình Đại, các bênh sốt xuất huyết (SXH), tay chân miệng, thủy đậu, quai bị, cúm là các bệnh có thể gây dịch.

Trong năm 2016, được sự quan tâm của chính quyền các cấp, công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn huyện Bình Đại đạt nhiều kết quả, không xảy ra dịch lớn. Tuy nhiên, bệnh truyền nhiễm vẫn còn xảy ra, một số bệnh có tăng so với cùng kỳ, như tiêu chảy, SXH, viêm gan virút, cúm. Ngoài ra, dự báo trong năm 2017, ở huyện Bình Đại, các bênh sốt xuất huyết (SXH), tay chân miệng, thủy đậu, quai bị, cúm là các bệnh có thể gây dịch.

Đặc biệt, trong thời điểm đang vào mùa mưa, nhiều cơ hội cho dịch bệnh phát triển, huyện Bình Đại triển khai quyết liệt công tác phòng, chống dịch bệnh năm 2017. Theo đó, huyện huy động các đội chống dịch cơ động cùng y tế xã thực hiện điều tra và chống dịch trong thời gian dưới 48 giờ sau khi nhận được thông tin. Tùy theo từng loại bệnh truyền nhiễm mà có biện pháp phòng chống dịch thích hợp.

Thực hiện báo cáo phát hiện ổ dịch, cập nhật thông tin ổ dịch và báo cáo kết thúc dịch theo quy định. Tăng cường giám sát dịch bệnh tại địa bàn. Tiến hành lấy mẫu phân các trường hợp bệnh tay chân miệng nặng có biến chứng tại Trung tâm Y tế huyện. Điều tra và xử lý triệt để các ổ dịch bệnh. Khảo sát yếu tố dịch tễ và lâm sàng bệnh viêm não Nhật Bản ở huyện từ năm 2014-2016.

Tổ chức phun thuốc diệt muỗi tại xã Bình Thắng. (Ảnh: Tuyết Mai)

Huyện chú trọng đến công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú trong công tác phòng chống dịch bệnh ở người như: pa-nô, áp-phích, tờ rơi được dán tại các trung tâm cộng đồng, khu dân cư. Tăng cường thời lượng tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh từ huyện đến xã về công tác phòng chống dịch tay chân miệng, sốt xuất huyết, quai bị, tiêu chảy cấp và các loại dịch bệnh khác. Phối hợp với các ngành chức năng, đoàn thể, tổ NDTQ tăng cường công tác tuyên truyền qua hội viên. Qua đó đã giúp cho nhân dân nhận thức tốt và tham gia tích cực vào công tác phòng chống dịch bệnh.

Trong công tác phòng chống dịch bệnh, ngành y tế huyện phát huy tốt vai trò cơ quan đầu mối chính trong lập kế hoạch phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm. Lồng ghép các hoạt động của các chương trình phòng chống bệnh SXH, phòng chống bệnh do virút Zika, tiêm chủng mở rộng, phòng chống cúm vào các hoạt động phòng chống dịch. Củng cố các đội cơ động chống dịch của ngành y tế của huyện và các xã, có nhiệm vụ điều tra và xử lý chống dịch.

Tổ chức huấn luyện cho cán bộ hiện có về giám sát đáp ứng chống dịch, thông qua các hoạt động điều tra, xử lý dịch tại thực địa. Huấn luyện chẩn đoán, phòng chống bệnh truyền nhiễm thường gặp và mới nổi như: SXH, phòng bệnh do virút Zika, tay chân miệng, cúm gia cầm cho cán bộ y tế xã, lồng ghép vào các cuộc họp giao ban với y tế xã…

Mặt khác, ngành y tế huyện phối hợp chặt chẽ với ngành giáo dục trong hoạt động giám sát phòng chống dịch bệnh tại trường học, đặc biệt là dịch bệnh tay chân miệng trong trường học. Trong đó, giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo khám trẻ khi nhận trẻ vào lớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ bệnh tay chân miệng cần cho trẻ nghỉ học, đưa đến khám các cơ sở y tế để xác định bệnh. Các nhà trẻ mẫu giáo thường xuyên thực hiện vệ sinh, khử trùng phòng học, đồ chơi tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho phụ huynh.

Riêng tại các cơ sở điều trị, chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, trang thiết bị cho điều trị bệnh nhân. Khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị đúng theo quy định. Tăng cường giám sát, lấy mẫu xét nghiệm đối với các trường hợp nghi ngờ nhiễm virút Zika tại các khoa khám bệnh. Tổ chức sàng lọc, quản lý và phát hiện hội chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh. Củng cố các đội chống dịch lưu động, đội y tế lưu động, sẵn sàng hỗ trợ địa phương khi cần thiết. Tuyên truyền, vận động người dân tham gia thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh ở người. Đặc biệt, chú ý các khuyến cáo đối với phụ nữ chuẩn bị mang thai, đang mang thai trong việc phòng lây nhiễm virút Zika. Lồng ghép chiến dịch diệt muỗi, lăng quăng phòng bệnh SXH và Zika tại các hộ gia đình, đặc biệt là khu vực có ca nghi ngờ/ca bệnh.

Phấn đấu đạt mục tiêu chung của huyện là kéo giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Khống chế dịch kịp thời, không để xảy ra dịch lớn. Cụ thể hơn, khống chế không để xảy ra dịch lớn về bệnh tả, sốt phát ban, 100% số ca hội chứng não cấp được lấy mẫu máu và dịch não tủy làm xét nghiệm, giảm 5% số ca mắc tay chân miệng so với năm 2016, tỷ lệ mắc 100.000 dân năm 2017 là 106. Không có bệnh dại, khống chế dịch bệnh do virút Zika.

24/05/2017 1:56 CHĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_24_13_57_8_935.jpg59Tuyết Mai
Giồng Trôm xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020New
Huyện Giồng Trôm hiện đang xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025 theo Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy.

Huyện Giồng Trôm hiện đang xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025 theo Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy.

Giồng Trôm là huyện nông nghiệp. Huyện đang tập trung thực hiện kế hoạch tổ chức lại sản xuất ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả bền vững giai đoạn 2016-2020, đồng thời đang từng bước chuyển dịch theo hướng chuyên canh một số cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao như: dừa, bưởi, heo, bò, với các mô hình sản xuất an toàn được chứng nhận GAP, hữu cơ. Đây là nhóm nông sản có lợi thế, được xác định là nông sản chủ lực của huyện.

Hiện nay, cây dừa có diện tích 17.354 ha, sản lượng ước đạt 193,5 triệu trái, đã hình thành các tổ liên kết, tổ hợp tác sản xuất tiêu thụ giữa nông dân với các doanh nghiệp, chủ yếu là Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre, Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Mêkông và một số doanh nghiệp khác.

Nông dân Giồng Trôm thu hoạch dừa – khâu đầu trong chuỗi giá trị cây dừa. (Ảnh: Diệu Hiền)

Tuy nhiên, cơ chế ràng buộc giữa doanh nghiệp với người nông dân chưa phát huy hiệu quả nên chưa thật sự gắn kết lâu dài thông qua các hợp đồng tiêu thụ do chưa đảm bảo hài hòa lợi ích.

Cây ăn trái có diện tích 4.950 ha, trong đó bưởi da xanh là 1.200 ha. Nông dân đã sử dụng các giống cây có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Đối với bưởi da xanh có 04 hợp tác xã, 62 tổ hợp tác. Nhìn chung, các hợp tác xã, tổ hợp tác chưa ký được hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp, doanh nghiệp và nông dân chưa có niềm tin lẫn nhau, thiếu sự liên kết.

Đàn gia súc với 02 đối tượng là heo và bò được đánh giá có chất lượng tốt. Trong đó, đàn bò có 20.540 con. Heo được đánh giá cao hơn, phát triển khá mạnh với quy mô vừa và nhỏ, có 110.000 con, hiện có 3 tổ hợp tác chăn nuôi heo. Thời gian qua, cơ chế hỗ trợ liên kết sản xuất tiêu thụ trong chăn nuôi còn hạn chế, đầu ra chủ yếu là các thương lái tại địa phương, giá cả không cao chưa mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân.

Từ tình hình trên, việc xây dựng và phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là việc làm cần thiết để từng bước giải quyết những khó khăn và đáp ứng xu hướng phát triển trong thời gian tới. Xu hướng phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp được bắt đầu từ thị trường tiêu thụ sản phẩm đến công nghệ chế biến, tổ chức sản xuất phù hợp theo tín hiệu thị trường.

Bưởi da xanh đạt chuẩn VietGAP tại Hợp tác xã Bưởi da xanh Giồng Trôm. (Ảnh: Diệu Hiền)

Mục tiêu của huyện Giồng Trôm là phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp bền vững nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao nhận thức nhằm thay đổi hành vi người tiêu dùng theo hướng ưu tiên sử dụng các sản phẩm hàng hóa tham gia chuỗi giá trị nông sản.

Xây dựng, hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị 03 nông nông sản chủ lực của huyện là dừa, bưởi, heo trên cơ sở củng cố hoạt động các hợp tác xã, tổ hợp tác hiện có và xây dựng 04 hợp tác xã tham gia liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp đảm bảo đầu vào, đầu ra gắn với xây dựng – phát triển thương hiệu nông sản chủ lực của huyện nhà.

Đối với dừa, giai đoạn 2017-2018, huyện thành lập hợp tác xã dừa công nghiệp quy mô tối thiểu 100 ha tại 2 xã Châu Bình và Hưng Lễ. Đối với bưởi, thành lập hợp tác xã quy mô tối thiểu 100 ha tại xã Lương Phú. Đối với heo, đến năm 2020, thành lập hợp tác xã quy mô tối thiểu 6.000 con tại xã Tân Lợi Thạnh.

Để thực hiện đạt mục tiêu trên, huyện Giồng Trôm tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chung như: Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức; tổ chức lại sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tập trung nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại và kết nối thị trường; tập trung huy động các nguồn lực phục vụ phát triển nông nghiệp; triển khai đầy đủ, đồng bộ cơ chế, chính sách; đào tạo nâng chất lượng nguồn lực; nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng ngành nông nghiệp theo chiều sâu.

24/05/2017 10:14 SAĐã ban hànhBài viếtKinh tế
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_24_13_22_48_528.jpg44Diệu Hiền
Châu Thành: Triển khai chuyên đề năm 2017 học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh New
Ngày 24/5, Thường trực Huyện uỷ Châu Thành đã tổ chức hội nghị triển triển khai quán triệt chuyên đề năm 2017 học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ, gắn với triển khai Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị cho cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên, công nhân viên chức ngành huyện.

Ngày 24/5, Thường trực Huyện uỷ Châu Thành đã tổ chức hội nghị triển triển khai quán triệt chuyên đề năm 2017 học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ, gắn với triển khai Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị cho cán bộ chủ chốt, cán bộ đảng viên, công nhân viên chức ngành huyện.

Đồng chí Trương Minh Nhựt – Bí thư Huyện uỷ Châu Thành báo cáo nội dung chuyên đề năm 2017 học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ, gắn với triển khai Kết luận số 10-KL/TW của Bộ chính trịkhoáa XII. (Ảnh: Hoàng Loan)

Hội nghị đã nghe đồng chí Trương Minh Nhựt – Bí thư Huyện uỷ Châu Thành báo cáo nội dung chuyên đề năm 2017 học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ, gắn với triển khai Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị khoá XII về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và kế hoạch thực hiện của Huyện uỷ.

Đồng chí Bí thư Huyện uỷ nêu rõ nội dung chuyên đề: Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên nhân, hình thức, biểu hiện cụ thể, hậu quả, tác hại và các giải pháp phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ và nhấn mạnh các giải pháp để thực hiện như tăng cường công tác giáo dục và tuyên truyền, nêu gương người tốt việc tốt, xây dựng tinh thần chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; mỗi cán bộ đảng viên tự soi rọi bản thân đăng ký các nội dung học tập theo Bác cụ thể, thiết thực.

24/05/2017 10:08 SAĐã ban hànhTinTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_24_10_9_42_297.jpg77Hoàng Loan
Bến Tre triển khai nhiều chương trình nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hộiNew
Thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của năm 2017, đặc biệt là tỉnh đang triển khai nhiều chương trình, hoạt động nhằm hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2017), Cổng thông tin điện tử Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre xin trích đăng bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng xung quanh các chương trình, hoạt động của tỉnh trong phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

Thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của năm 2017, đặc biệt là tỉnh đang triển khai nhiều chương trình, hoạt động nhằm hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2017), Cổng thông tin điện tử Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre xin trích đăng bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng xung quanh các chương trình, hoạt động của tỉnh trong phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

PV: Xin ông cho biết các chương trình kinh tế trọng điểm mà tỉnh đã triển khai nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội?

- Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng: Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tỉnh Bến Tre đã và đang triển khai thực hiện một số chương trình kinh tế trọng điểm như tổ chức thực hiện Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản chủ lực của tỉnh (trong đó, tỉnh tập trung xây dựng Khu Công nghiệp Phú Thuận và đưa vào vận hành các cụm công nghiệp Long Phước, Thành Thới B, Phú Hưng đã được phê duyệt để gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế); phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch thông qua hình thành các trung tâm thương mại hiện đại và xây dựng chợ nông thôn; phát triển hạ tầng du lịch và xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù tỉnh Bến Tre để thu hút và giữ du khách lưu trú dài ngày tại tỉnh, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng chuỗi giá trị các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh như bưởi da xanh, dừa, chôm chôm, nhãn, hoa kiểng, heo bò, tôm biển; tổ chức thực hiện tốt chương trình phát triển ngành dừa, chương trình giống cây trồng, vật nuôi gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường. Song song đó, tỉnh còn tập trung thực hiện chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp; chương trình Đồng Khởi khởi nghiệp - phát triển doanh nghiệp; chương trình phát triển sinh kế cho người nghèo; chương trình xây dựng nông thôn mới; chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ gia đình có công với cách mạng,...

PV: Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đang triển khai nhiều chương trình quốc gia hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ, giảm nghèo, bảo vệ chăm sóc trẻ em, phát triển nguồn nhân lực,… Vậy, Bến Tre đã và chuẩn bị gì để chương trình này được thực hiện tốt ở địa phương?

- Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng: Hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2017), bên cạnh tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách và thực hiện các hoạt động tri ân đối với người có công với cách mạng, tỉnh tiếp tục chỉ đạo rà soát, bổ sung và xây dựng mới các công trình nhà ở cho người có công; đẩy mạnh công tác quyên góp, ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa; tăng cường công tác quản lý, thu thập thông tin và tìm mộ liệt sĩ; họp mặt, thăm hỏi gia đình người có công với cách mạng; họp mặt sinh hoạt truyền thống cho hội viên Hội phụ nữ kết hợp đón nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đội quân tóc dài; tổ chức khám, sàng lọc bệnh cho thương binh, bệnh binh; đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các địa phương tổ chức thắp nến tri ân và thực hiện nghi lễ cầu siêu vong linh các anh hùng liệt sĩ,...

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo, tỉnh đã xây dựng Đề án Phát triển đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020, trong đó phấn đấu mỗi năm có 3.000 hộ có điều kiện phát triển sinh kế vươn lên thoát nghèo bền vững, tập trung thực hiện các hoạt động hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập như ưu đãi vốn vay, hướng dẫn chuyển giao khoa học, kỹ thuật, hỗ trợ dạy nghề, giới thiệu việc làm, kỹ năng quản lý chi tiêu và các chính sách hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin, trợ giúp pháp lý.

Về thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, với mục tiêu năm 2017 có 86% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp; 71% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em, tỉnh Bến Tre tiếp tục tập trung thực hiện chương trình bảo vệ trẻ em; triển khai kế hoạch thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em; phòng, chống tai nạn thương tích cho trẻ em; phòng, chống đuối nước ở trẻ em, trong đó tập trung tổ chức các hoạt động hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em vùng sâu, vùng bãi ngang ven biển. Ngoài ra, tỉnh cũng chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp với các tổ chức đoàn thể, các hội quan tâm, thực hiện một số hoạt động về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, góp phần tạo môi trường lành mạnh cho trẻ em phát triển nhanh về tri thức và thể lực.

Về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, thực hiện phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông gắn với mục tiêu Đồng Khởi khởi nghiệp; tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác hướng nghiệp, giáo dục và tư vấn định hướng nghề nghiệp; tăng cường tuyên truyền các chủ trương, chính sách về đào tạo nghề; gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm cho lao động, nhất là lao động nông thôn; nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội,... Ngoài ra, tỉnh đã phối hợp với các viện, trường để thực hiện công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước; đào tạo nguồn nhân lực có trình sau đại học trong và ngoài nước; thực hiện liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo có uy tín; phối hợp với Đại học Quốc gia TP.HCM thành lập Phân hiệu Đại học Quốc gia TP.HCM tại Bến Tre, nhằm phục vụ công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh và khu vực.

PV: Bến Tre là tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh đã có sự liên kết vùng như thế nào trong việc phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường nhằm tạo ra sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững?

- Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng: Hiện nay, tỉnh Bến Tre đang tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Từ đó, đòi hỏi phải có sự chuyển đổi cơ cấu lao động trong nội tỉnh nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Xuất phát từ tình hình này, tỉnh xác định nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, phát triển mạng lưới đào tạo nghề,… để kịp thời cung ứng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lượng cao phục vụ nhu cầu phát triển của địa phương và cả khu vực. Nhằm thực hiện đạt mục tiêu đề ra, Bến Tre tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, trong đó quan tâm sắp xếp hệ thống giáo dục nghề nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng, trung cấp trên địa bàn, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động tại tỉnh và có thể cung ứng cho các tỉnh, thành khác trong cả nước; phối hợp, hỗ trợ nâng cao hiệu quả hoạt động Phân hiệu Đại học quốc gia TP. HCM tại tỉnh Bến Tre,...; đồng thời, thực hiện tốt chương trình hợp tác phát triển kinh tế-xã hội đã được ký kết với Thành phố Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh; liên kết đào tạo với các trường đại học, các viện và các trung tâm đào tạo có uy tín.

Vấn đề giải quyết việc làm luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm. Hàng năm, tỉnh Bến Tre có trên 18.000 lao động cần giải quyết việc làm mới, trong đó giải quyết việc làm trong tỉnh khoảng 10.000 người, xuất cư lao động ngoài tỉnh bình quân từ 7.000 đến 8.000 người/năm và trên 500 người đi xuất khẩu lao động. Đây là lực lượng lao động tiềm năng, có khả năng cung ứng được cho các doanh nghiệp và thị trường xuất khẩu lao động các nước. Trong năm 2016, tỉnh đã tư vấn việc làm, nghề nghiệp 30.835 lượt người; giải quyết việc làm 20.262 người, đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,4%. Tuy nhiên, công tác giải quyết việc làm trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện khá độc lập tại tỉnh, vấn đề liên kết với các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long để giải quyết việc làm cho lao động giữa các địa phương còn hạn chế, chưa tạo được hiệu ứng rõ nét. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo các sở, ngành đề ra các giải pháp để liên kết chặt chẽ với các địa phương trong vùng nhằm giải quyết tốt vấn đề lao động việc làm giữa các tỉnh, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, giải quyết tốt nhu cầu việc làm và kéo giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp trong xã hội.

Công tác bảo vệ môi trường là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và người dân trong tỉnh. Hiện nay, vấn đề liên kết vùng trong bảo vệ môi trường dần được hình thành và được chú trọng thực hiện trong quá trình quản lý, điều hành của các tỉnh, thành trong khu vực, nhất là trong phối hợp xử lý vấn đề nguồn nước, xả thải, phòng chống hạn mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu,... Tuy nhiên, do chưa có cơ chế, chính sách đầu tư trọng điểm nhằm tạo sự phát triển lan toả trong vùng, nên vấn đề hợp tác trong bảo vệ môi trường, cụ thể như môi trường nước theo lưu vực sông, môi trường không khí, môi trường đất, rừng và đa dạng sinh học,… chưa được tiến hành đồng bộ và hiệu quả giữa các tỉnh, thành trong khu vực. Vì vậy, vấn đề liên kết vùng trong bảo vệ môi trường cũng chưa có sự chuyển biến rõ nét, chưa mang lại hiệu quả thiết thực trong phục vụ phát triển chung của các địa phương trong vùng.

Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tập trung triển khai thực hiện tốt các cam kết trong liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016-2020 để phù hợp với xu thế phát triển chung; đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các ngành, các cấp nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ, hiệu quả và tiết kiệm trong khai thác, sử dụng đất đai, cát sông và nguồn nước ngọt; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường; tăng cường hợp tác, liên kết giữa các địa phương, vùng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

PV: Xin ông cho biết những công trình, những dự án, chương trình kinh tế lớn mà tỉnh Bến Tre sẽ triển khai trong thời gian tới?

- Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng: Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ X và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020, trong thời gian tới, tỉnh Bến Tre sẽ tiếp tục triển khai thực hiện một số công trình, dự án, chương trình kinh tế có sức lan toả lớn, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh như tập trung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, thuỷ lợi và cấp nước sinh hoạt; xây dựng, nâng cấp, mở rộng mạng lưới cung cấp điện; hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp; phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp; liên kết, hợp tác phát triển sản xuất nông sản chủ lực của 4 tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long đối với mặt hàng dừa và bưởi da xanh; phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp dẫn đầu; thực hiện chương trình công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững; tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế,… Ngoài ra, tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt để các ngành, địa phương tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nhà máy chế biến nông sản Thuận Phong, Khu dân cư Hưng Phú, Cao ốc liên hợp Hoàn Cầu,...; cũng như hỗ trợ để sớm triển khai các dự án: Nhà máy bia Sài Gòn, Nhà máy sữa Vinamilk, Nhà máy điện gió Thạnh Hải, Nhà máy điện gió Bình Đại, Trạm nghiền xi-măng, Nhà máy nước Ba Lai,...

24/05/2017 9:34 SAĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg53N.T.N.G
Lễ hội Cây trái ngon an toàn – nơi tôn vinh nét đẹp sinh vật cảnh Chợ LáchNew
Trải qua 15 lần tổ chức, lễ hội cây trái ngon, an toàn tỉnh Bến Tre đã trở thành một hoạt động truyền thống mang nét đặc sắc của địa phương. Trong đó, hoạt động trưng bày và hội thi kiểng bonsai là một trong những những điểm nhấn của lễ hội. Hoạt động thu hút sự tham quan của du khách cũng như góp phần tạo sân chơi cho giới mộ điệu sinh vật cảnh trong và ngoài tỉnh, đồng thời góp phần quảng bá sản phẩm hoa kiểng truyền thống của địa phương.

Trải qua 15 lần tổ chức, lễ hội cây trái ngon, an toàn tỉnh Bến Tre đã trở thành một hoạt động truyền thống mang nét đặc sắc của địa phương. Trong đó, hoạt động trưng bày và hội thi kiểng bonsai là một trong những những điểm nhấn của lễ hội. Hoạt động thu hút sự tham quan của du khách cũng như góp phần tạo sân chơi cho giới mộ điệu sinh vật cảnh trong và ngoài tỉnh, đồng thời góp phần quảng bá sản phẩm hoa kiểng truyền thống của địa phương.

Lễ hội Cây trái ngon an toàn tỉnh Bến Tre lần thứ XVI năm 2017 diễn ra tại huyện Chợ Lách ngoài các hoạt động chính như hội thi trái ngon, hội thi đấu xảo, phiên chợ cây giống, hoa kiểng, ẩm thực, hội chợ thương mại, trưng bày con gà bằng cây – hoa – trái lớn nhất, tham quan du lịch thì các hoạt động như hội thi kiểng bonsai, hội thi tạo dáng bonsai, trưng bày hoa kiểng, trưng bày sinh vật lạ cũng là những hoạt động được kỳ vọng mang lại nhiều hứng khởi cho du khách tham quan lễ hội.

Theo đó, hội thi kiểng bonsai diễn ra từ ngày 27/5/2017 đến hết ngày 31/5/2017. Gồm các sản phẩm bonsai tiểu và bonsai trung. Đây là hoạt động truyền thống hàng năm. Không những thu hút đông khách tham quan mà đây còn là sân chơi thường niên của giới nghệ nhân bonsai trong và ngoài tỉnh. Ngoài ra, năm nay hoạt động trưng bày kiểng bonsai cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nghệ nhân trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Đây là nơi để trưng bày các sản phẩm kiểng bonsai đã đoạt giải cao trong các hội thi trong tỉnh và khu vực để cho giới mộ điệu cũng như khách tham quan, học hỏi và giao lưu với chủ nhân của tác phẩm.

Chuẩn bị tham gia hội thi kiểng bonsai. (Ảnh: Cao Khiết)

Nghệ nhân Lê Ngọc Trọn – thị trấn Chợ Lách cho biết: “Tôi đến với loại hình sinh vật cảnh mà đặt biệt là kiểng bonsai hơn 20 năm. Cứ đến dịp lễ hội cây trái ngon hay Tết Nguyên đán tôi đều trông chờ hội thi kiểng bonsai để tham gia. Bởi sau quá trình lao động miệt mài để chế tác thành công một sản phẩm kiểng bonsai thì đây là cơ hội để mình thẩm định chất lượng sản phẩm, kiểm chứng tay nghề và tiếp thu học hỏi từ các nghệ nhân tiền bối và các kiến thức mới từ anh em đồng nghiệp. Vì lẽ đó mà ngày hội năm nào tôi cũng đều tranh thủ chuẩn bị sản phẩm để dự thi, có năm dự thi 5, 6 sản phẩm, và cũng nhờ tham gia đều đặn ở các hội thi mà tay nghề và sản phẩm của mình được nhiều người biết tới”.

Nét mới của hoạt động sinh vật cảnh trong lễ hội lần thứ 16 này có lẽ là hội thi tạo dáng bonsai được tổ chức vào lúc 8 giờ ngày 29/5/2017, nhằm ngày mùng 4 tháng 5 năm Đinh Dậu. Hội thi thu hút nhiều nghệ nhân và người sản xuất kiểng bonsai trong và ngoài tỉnh đăng ký dự thi. Dự kiến, ban tổ chức sẽ chọn ra những nghệ nhân có thành tích để trao giải thưởng và vinh danh nghệ nhân. Riêng đối với nghệ nhân trên địa bàn huyện Chợ Lách sau khi dự thi, căn cứ vào thành tích thì Hội Sinh vật cảnh huyện sẽ xét công nhận danh hiệu hoặc nâng cấp danh hiệu nghệ nhân. Đây là một trong những hoạt động được giới nghệ nhân trẻ chờ đợi nhằm kiểm tra tay nghề, học tập kinh nghiệm và kỳ vọng là một trong những hoạt động thu hút sự quan tâm của du khách tham quan ngày hội.

Nghệ nhân Trần Quốc Tuấn – xã Vĩnh Thành cho biết: “Mặc dù đến với loại hình kiểng bonsai đã gần 10 năm, cũng ít nhiều nắm bắt các kỹ thuật để tạo tác một sản bonsai hoàn chỉnh, nhưng khi hay tin Lễ hội Cây trái ngon an toàn tỉnh Bến Tre năm 2017 có tổ chức thi tạo dáng bonsai là tôi đăng ký ngay. Bởi một phần là đam mê với nghề, một phần là mình muốn kiểm tra lại tay nghề và bổ sung thêm các kiến thức mới từ anh em nghệ nhân”.

Đến nay, mọi khâu chuẩn bị đều đã được chuẩn bị chu đáo. Hiện tại có 160  nghệ nhân đăng ký trưng bày bonsai và thi bonsai tại lễ hội và 24 nghệ nhân đăng ký hội thi tạo dáng bonsai. Riêng về lĩnh vực trưng bày sinh vật lạ thì Hội Sinh vật cảnh đang phối hợp với Hội Nông dân, Trạm thú y phát động người dân có sản phẩm đăng ký dự thi, góp phần thu hút cho khách tham quan ngày hội.

Nói về quá trình chuẩn bị các hoạt động sinh vật cảnh tại Lễ hội Cây trái ngon an toàn tỉnh Bến Tre lần thứ XVI năm 2017, ông Trần Minh Mẫn – Phó Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh huyện Chợ Lách cho biết: “Các hoạt động trưng bày, các hội thi sinh vật cảnh mà tâm điểm là kiểng bonsai là hoạt động truyền thống của Lễ hội Cây trái ngon an toàn tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, ngoài giữ nét truyền thống mỗi năm các hoạt động luôn có những điểm mới nhằm tạo sự hấp dẫn cho giới nghệ nhân cũng như du khách tham quan. Trong kỳ lễ hội lần thứ XVI này, điểm mới là hội thi tạo dáng bonsai. Ban Tổ chức kỳ vọng đây là hoạt động bổ ích nhằm giúp giới nghệ nhân trẻ có cơ hội giao lưu học hỏi, phát triển tay nghề, khẳng định thương hiệu bonsai của địa phương với khu vực”.

24/05/2017 2:55 SAĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_24_10_3_48_47.jpg82Cao Khiết
Trung ương Đoàn tổ chức hội nghị chuyên đề chuẩn bị Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI
Ngày 23/5/2017, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã phối hợp với Tỉnh đoàn Bến Tre tổ chức Hội nghị chuyên đề lấy ý kiến thanh niên trên địa bàn dân cư chuẩn bị báo cáo chính trị Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI. Ông Nguyễn Anh Tuấn - Bí thư BCH Trung ương Đoàn, ông Trần Ngọc Tam - Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre chủ trì hội nghị. Hội nghị có sự tham dự của đại biểu thanh niên các tỉnh, thành phía Nam.

Ngày 23/5/2017, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã phối hợp với Tỉnh đoàn Bến Tre tổ chức Hội nghị chuyên đề lấy ý kiến thanh niên trên địa bàn dân cư chuẩn bị báo cáo chính trị Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI. Ông Nguyễn Anh Tuấn - Bí thư BCH Trung ương Đoàn, ông Trần Ngọc Tam - Phó Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre chủ trì hội nghị. Hội nghị có sự tham dự của đại biểu thanh niên các tỉnh, thành phía Nam.

 

Đại biểu các tỉnh phát biểu ý kiến. (Ảnh: Thu Huyền)

Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá, trong nhiệm kỳ 2012-2017, với sự nỗ lực, cố gắng của các cấp bộ đoàn và cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X đã được triển  khai, thực hiện đạt nhiều kết quả, tạo chuyển biến tích cực, toàn diện trên các mặt công tác.

Việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội và các Nghị quyết, chủ trương công tác của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Ban Bí thư Trung ương Đoàn trong nhiệm kỳ 2012- 2017 đã tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi.

Nội dung, phương thức giáo dục được đổi mới. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng có nhiều nét mới; giáo dục đạo đức, lối sống được tăng cường. Phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ có bước phát triển, đã phát huy vai trò, trách nhiệm, tính xung kích, tình nguyện, sáng tạo của tuổi trẻ tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ qua việc thực hiện Nghị quyết Đai hội Đoàn vẫn còn một số hạn chế như: Phương thức giáo dục tuy đã có nhiều đổi mới song nhìn chung còn chậm và không đồng đều giữa các khu vực, địa bàn, trong các đối tượng thanh niên. Công tác nắm bắt và định hướng tư tưởng thanh niên; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa theo kịp thực tiễn xã hội và tình hình thanh niên. Tính bền vững, thường xuyên của một số phong trào trong các tầng lớp thanh niên chưa cao.

 

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Bí thư Trung ương Đoàn phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: Thu Huyền)

Hoạt động chăm lo, đồng hành, hỗ trợ của Đoàn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên. Chất lượng hoạt động của Đoàn trên địa bàn dân cư còn thấp. Sinh hoạt chi đoàn ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc. Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên chưa đa dạng. Vai trò của Đoàn, Hội, Đội các cấp trong công tác đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh thiếu niên chưa rõ.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy Trần Ngọc Tam bày tỏ vui mừng khi được Trung ương Đoàn chọn Bến Tre làm điểm tổ chức hội nghị chuyên đề mà trọng tâm là nông thôn mới và văn minh đô thị. Phó Bí thư Tỉnh ủy thông tin nhanh với các đại biểu sơ nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội Bến Tre, những định hướng sắp tới. Đồng thời, ghi nhận vai trò đóng góp to lớn của Đoàn trong các phong trào hành động cách mạng tại địa phương và mong muốn trong thời gian sắp tới lực lượng đoàn viên sẽ tiếp tục tiên phong trong mọi phong trào hành động cách mạng.

Phát hiểu kết thúc hội nghị, Bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Anh Tuấn ghi nhận và đánh giá cao những ý kiến đóng góp của đại biểu các tỉnh, thành, đã có nhiều nhận định, đánh giá công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi thời gian qua. Đồng thời, cũng chỉ ra được nhiều khiếm khuyết cần khắc phục trong thời gian tới. Ông Nguyễn Anh Tuấn hứa sẽ tiếp thu, ghi nhận và bổ sung vào báo cáo chính trị Đại hội Đoàn toàn quốc sắp tới.

Ông Nguyễn Anh Tuấn mong muốn các phong trào Đoàn ở các tỉnh, thành cần cụ thể hơn, xây dựng các mô hình điểm phải thật sự thuyết phục, sát thực tiễn hơn. Cần củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn. Đặc biệt, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, tạo điều kiện để thanh niên cống hiến và đảm bảo quyền lợi chính đáng của thanh niên.

23/05/2017 4:24 CHĐã ban hànhBài viếtChính trị Xã hội
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_23_16_31_21_703.jpg118Thu Huyền
Nâng cao hiệu quả công tác lập hồ sơ, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy
Thời gian qua công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy (áp dụng biện pháp xử lý hành chính như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) trên địa bàn tỉnh đã được các sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị, địa phương) quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng chống ma túy và cai nghiện ma túy; xây dựng, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác cai nghiện ma túy, công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn; nắm chắc tình hình, theo dõi, quản lý, phân loại người sử dụng và người nghiện ma túy theo quy định.

Thời gian qua công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy (áp dụng biện pháp xử lý hành chính như: giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) trên địa bàn tỉnh đã được các sở, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị, địa phương) quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng chống ma túy và cai nghiện ma túy; xây dựng, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác cai nghiện ma túy, công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn; nắm chắc tình hình, theo dõi, quản lý, phân loại người sử dụng và người nghiện ma túy theo quy định.

Tuy nhiên, công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy vẫn còn nhiều hạn chế, như: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống ma túy và cai nghiện ma túy chưa thường xuyên và sâu rộng; một số cơ quan, đơn vị, địa phương nhận thức chưa đầy đủ và chính xác, chưa coi người nghiện ma túy là người bệnh, chưa quan tâm đến công tác giáo dục tại xã, phường, thị trấn; trách nhiệm phối hợp quản lý, giáo dục người sử dụng và người nghiện ma túy giữa gia đình người nghiện, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và tổ chức thành viên ở cấp xã chưa cao; công tác phối hợp lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy ở một số địa phương chưa đồng bộ, chưa thống nhất; việc phối hợp cung cấp thông tin người vi phạm sử dụng ma túy giữa cơ quan lập hồ sơ và cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Mathadone chưa chặt chẽ, kịp thời; việc xác định nhân thân người vi phạm, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc (12 tháng hay 24 tháng) chưa phù hợp; việc sử dụng biểu mẫu trong lập hồ sơ, sắp xếp, lưu trữ hồ sơ chưa thống nhất.

Để nâng cao hiệu quả công tác thi hành pháp luật về lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt một số nội dung sau đây:

Các cơ quan chức năng có liên quan khẩn trương có văn bản hướng dẫn, tháo gỡ những vướng mắc về công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tư vấn chính sách pháp luật có liên quan về phòng, chống ma túy.

Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; bảo đảm thực hiện thống nhất thành phần hồ sơ, sắp xếp, lưu trữ hồ sơ theo quy định của Luật Lưu trữ và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Phối hợp chặt chẽ, kịp thời với cơ quan y tế trong việc xác định tình trạng nghiện ma túy và cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Mathadone trong việc cung cấp thông tin đối với trường hợp người vi phạm sử dụng ma túy đang lập hồ sơ để thống nhất biện pháp xử lý.

Chỉ đạo các cơ quan y tế ở địa phương, cơ sở phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an xác định tình trạng nghiện ma túy kịp thời, đúng quy định (lập và lưu giữ bệnh án theo quy định); đảm bảo việc cung cấp thông tin, phân công cụ thể người có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy. Có văn bản hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở thực hiện thống nhất về thời gian xác định chất ma túy tồn tại trong cơ thể người sử dụng ma túy.

Phối hợp với các cơ quan có liên quan cân đối nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện tốt công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, có văn bản hướng dẫn mức chi cho công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Thông tư liên tịch số 148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Thông tư số 193/2014/TT-BTC ngày 12/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Các cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh phối hợp tuyên truyền pháp luật có liên quan về phòng, chống ma túy. Chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã phối hợp với UBND cấp xã quản lý, giáo dục, giúp đỡ người nghiện ma túy đang cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; phân công người có trách nhiệm giúp đỡ người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo các cơ quan liên quan, UBND cấp xã phối hợp tăng cường mạnh mẽ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy và cai nghiện ma túy để cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân hiểu đúng và thực hiện đúng quy định của pháp luật; quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Thường xuyên kiểm tra công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy tại địa phương, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục (nhất là về thẩm quyền lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sử dụng biểu mẫu) theo quy định pháp luật; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan, rút ngắn thời gian lập hồ sơ.

Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan liên quan thực hiện tốt công tác lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người nghiện ma túy (giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy và đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc), trong đó cần quan tâm thực hiện một số nội dung như:

Xác minh đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thời gian sử dụng trái phép chất ma túy (tình trạng sử dụng ma túy, đã sử dụng bao nhiêu lần, đã bị xử lý hành chính chưa) để làm cơ sở cho Tòa án xem xét, quyết định thời gian cai nghiện bắt buộc cho phù hợp.

Xác minh nơi cư trú phải đảm bảo thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Việc lập hồ sơ để xác định tình trạng nghiện ma túy phải đúng và kịp thời; thành phần hồ sơ phải chặt chẽ, nội dung ghi đầy đủ, rõ ràng (nhất là đối với bản tường trình của người vi phạm, biên bản xét nghiệm tình trạng sử dụng ma túy, biên bản cuộc họp xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn); sắp xếp, đánh bút lục và lưu trữ hồ sơ đúng quy định của pháp luật.

Thường xuyên rà soát, phát hiện những vướng mắc, bất cập quy định pháp luật về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

23/05/2017 4:18 CHĐã ban hànhBài viếtChính trị Xã hội
2.017
/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg112P.T.T.
Mỏ Cày Bắc trao 185 Huy hiệu Đảng đợt 19/5
Ngày 18/5/2017, Huyện ủy Mỏ Cày Bắc tổ chức lễ trao tặng danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và trao Huy hiệu Đảng đợt 19/5 cho đảng viên đến niên hạn. Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo; ông Huỳnh Văn Be - nguyên Bí thư Tỉnh ủy; bà Hồ Thị Hoàng Yến - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy đã đến dự.

Ngày 18/5/2017, Huyện ủy Mỏ Cày Bắc tổ chức lễ trao tặng danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng và trao Huy hiệu Đảng đợt 19/5 cho đảng viên đến niên hạn. Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo; ông Huỳnh Văn Be - nguyên Bí thư Tỉnh ủy; bà Hồ Thị Hoàng Yến - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy đã đến dự.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho đảng viên Trần Đức Mậu, xã Phước Mỹ Trung. (Ảnh: Thu Duyên)

Trong buổi lễ, huyện đã trao bằng truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước cho 1 Mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Phước Mỹ Trung, trao 1 Huân chương Độc lập hạng I, 1 Huân chương Độc lập hạng II và 16 Huân chương Độc lập hạng III cho các gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đồng thời, Huyện ủy Mỏ Cày Bắc trao Huy hiệu Đảng đợt 19/5 cho 185 đảng viên đến niên hạn, gồm 1 huy hiệu 70 năm, 6 huy hiệu 55 năm, 3 huy hiệu 50 năm, 166 huy hiệu 45 năm (trong đó có 28 trường hợp truy tặng) và 9 huy hiệu 30 năm tuổi Đảng.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Kiến Tính - Bí thư Huyện ủy huyện Mỏ Cày Bắc đã biểu dương những hy sinh của các gia đình liệt sĩ và đóng góp của các đồng chí đảng viên. Bí thư Huyện ủy mong muốn các đảng viên được nhận huy hiệu đảng tiếp tục đóng góp thiết thực trên cương vị của mình; luôn là tấm gương sáng để đảng viên trẻ, thanh niên noi theo. Đặc biệt tích cực tham gia thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, huyện Mỏ Cày Bắc nhiệm kỳ 2015 - 2020 đi vào cuộc sống.

23/05/2017 4:10 CHĐã ban hànhTinChính trị Xã hội
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_23_16_15_24_110.jpg117Thu Duyên
Thạnh Phú: Xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực
Thực hiện Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy Bến Tre về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025, huyện Thạnh Phú đã cụ thể hóa thành kế hoạch thực hiện với hai mục tiêu chính.

Thực hiện Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy Bến Tre về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025, huyện Thạnh Phú đã cụ thể hóa thành kế hoạch thực hiện với hai mục tiêu chính.

Với việc thành lập HTX dịch vụ sản xuất nông nghiệp Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú đang xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị cho trái xoài tứ quý. (Ảnh: Vĩnh Thừa Ngã)

Đó là nâng cao chất lượng ngành nông nghiệp và thủy sản; phát triển bền vững mối liên kết giữa sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân, đưa mức thu nhập bình quân đầu người đạt 42 triệu đồng/người vào năm 2020. Đồng thời, từng bước thay đổi căn bản nền nông nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị, có sự liên kết chặt chẽ giữa đầu vào, đầu ra; ứng dụng tốt khoa học kỹ thuật trong sản xuất, chế biến sản phẩm; hình thành bền vững các mối liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hoàn thiện các chuỗi sản phẩm nông nghiệp chính của huyện.

Cụ thể, huyện xác định xây dựng và hoàn thiện chuỗi sản phẩm nông nghiệp đối với 6 sản phẩm chủ lực gồm con tôm, cây lúa, cây dừa, cây xoài, con bò và con gà. Trong đó, hai năm 2016 và 2017 huyện đã tập trung triển khai chuỗi lúa sạch Thạnh Phú, xây dựng thành công 01 HTX lúa - tôm Thạnh Phú. Từ năm 2017 - 2018, xây dựng chuỗi giá trị trái xoài, dừa, đã thành lập được 01 HTX kinh doanh dịch vụ sản phẩm xoài tứ quý ở Thạnh Phong. Từ năm 2018 - 2019, xây dựng và thực hiện chuỗi giá trị đối với con bò và con gà và từ năm 2019 - 2020 xây dựng và thực hiện chuỗi giá trị đối với con tôm biển, trong đó, tôm càng xanh là một phần trong chuỗi con tôm của huyện. Từ năm 2020 - 2025 huyện tiếp tục hoàn thiện các chuỗi giá trị được xác định thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020.

Để đạt mục tiêu trên, huyện đề ra 08 nhóm giải pháp thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, chú trọng quán triệt, phổ biến chủ trương, mục tiêu và nội dung chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, vận động nhân dân sắp xếp tổ chức sản xuất theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo môi trường, an toàn thực phẩm gắn với xây dựng nông thôn mới.

Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch theo hướng phát huy lợi thế sản phẩm địa phương; ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, liên kết chuyển giao những kỹ thuật thích ứng, thích hợp cho người dân.

Bên cạnh đó, huyện phối hợp với các đơn vị trong, ngoài tỉnh thực hiện tốt chương trình phát triển giống cây trồng, vật nuôi; thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư kinh doanh trên địa bàn.

Ngoài ra, Thạnh Phú còn thực hiện các giải pháp về vốn và cơ chế chính sách; kiến nghị tỉnh và Trung ương đầu tư khép kín, đồng bộ hệ thống hạ tầng thủy lợi, các công trình giao thông, hạ tầng thiết yếu phục vụ cho chế biến nông sản, đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng nuôi thủy sản, hạ tầng cụm công nghiệp An Nhơn, nâng cấp cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, Cảng cá Thạnh Phú.

23/05/2017 10:19 SAĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_23_10_22_47_438.jpg179Vĩnh Thừa Ngã
Áp dụng giá mới cho dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế
Ngày 15/3/2017, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 02/2017/TT-BYT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017. Thông tư này quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.

Ngày 15/3/2017, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 02/2017/TT-BYT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017. Thông tư này quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.

Đối tượng áp dụng đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước; người bệnh chưa tham gia bảo hiểm y tế; người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế nhưng đi khám bệnh, chữa bệnh hoặc sử dụng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế thì thực hiện theo mức giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế quy định tại Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc.

Thông tư này không áp dụng đối với các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau đây:

a) Đơn vị góp vốn, huy động vốn, liên doanh, liên kết theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 12/10/2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và thực hiện giá dịch vụ theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích lũy;

b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động theo mô hình doanh nghiệp do đơn vị sự nghiệp công vay vốn để đầu tư, hợp tác đầu tư theo Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế;

c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tư theo hình thức đối tác công tư theo Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: Mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, kiểm tra sức khỏe. Mức tối đa khung giá dịch vụ ngày giường điều trị. Mức tối đa khung giá dịch vụ kỹ thuật, xét nghiệm. Mức tối đa khung giá quy định tại Thông tư này gồm các chi phí về: thuốc, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế để thực hiện các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Riêng đối với một số loại thuốc, dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế chưa được tính vào giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Máu, chế phẩm máu thanh toán theo số lượng thực tế sử dụng cho người bệnh và giá mua theo quy định của pháp luật. Chi phí về điện, nước, nhiên liệu, xử lý chất thải, vệ sinh môi trường; chi phí duy tu, bảo dưỡng thiết bị, mua thay thế công cụ, dụng cụ; chi phí tiền lương, phụ cấp thường trực, phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật.

Thời gian bắt đầu thực hiện từ ngày 01/06/2017, tuy nhiên không phải tất cả các cơ sở khám chữa bệnh công lập đều đồng loạt áp dụng cùng một thời điểm mà chỉ có các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cơ quan có thẩm quyền phân loại là đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, thời điểm thực hiện kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2017. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cơ quan có thẩm quyền phân loại là đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, thời điểm thực hiện vào tháng 8, tháng 10 hoặc tháng 12/2017 và phải thực hiện trong năm 2017. Mặt khác, muốn triển khai thực hiện phải được sự quyết nghị của Hội đồng nhân dân tỉnh về giá.

Trên địa bàn tỉnh Bến Tre hiện tại chưa có đơn vị khám chữa bệnh nào được phân loại là đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và cũng chưa có đơn vị khám chữa bệnh nào tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Đồng thời đến thời điểm hiện nay đã gần đến thời điểm 01/6/2017 nhưng các ngành chuyên môn chưa tham mưu trình Hội đồng nhân dân quyết nghị giá dịch vụ y tế theo hướng dẫn tại thông tư này, cho nên vào thời điểm ngày 01/6/2017, tỉnh Bến Tre chưa áp dụng giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Như vậy, khả năng tỉnh Bến Tre sẽ áp dụng thông tư này vào ngày 01/01/2018 vì quá trình xây dựng cơ cấu giá mất nhiều thời gian, chỉ có thể trình thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh vào kỳ họp cuối năm 2017.

Nếu thời gian áp dụng vào ngày 01/01/2018 thì còn thời gian để người chưa có thẻ bảo hiểm y tế suy nghĩ và tham gia bảo hiểm y tế để tránh phải mất nhiều chi phí cho công tác khám chữa bệnh bởi vì khi thực hiện thông tư này thì mức giá người bệnh không có thẻ bảo hiểm y tế phải trả trọn gói 100% với mức chi phí rất cao so với hiện tại do phần lớn các dịch vụ tăng từ 2 đến 3 lần mức giá hiện đang thực hiện đối với đối tượng này.

Đây cũng là thời gian để các ngành chức năng tranh thủ vận động người dân tham gia bảo hiểm y tế nhằm giảm nhẹ chi phí khi không may lâm vào tình trạng bệnh tật. Ngành y tế và ngành bảo hiểm cần phối hợp với các cơ quan thông tin và truyền thông phổ biến cho người dân hiểu về chi phí khi đi khám chữa bệnh nếu không tham gia bảo hiểm y tế để họ tham gia.

23/05/2017 9:19 SAĐã ban hànhBài viếtY tế
2.017
/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg115Tuấn Kiệt
Triển khai phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2017
Năm 2016, việc thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá được tỉnh quan tâm thực hiện, kết quả đạt 95% các cơ quan ban ngành đoàn thể đã kiện toàn Ban Chỉ đạo và có xây dựng Kế hoạch phòng chống tác hại của thuốc lá, triển khai Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá, các quy định xử lý vi phạm; 100% các sở, ban ngành, đoàn thể, cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh có triển khai các quy định của Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng chống tác hại của thuốc lá; 95% các cơ quan đơn vị, ban ngành, đoàn thể xây dựng mô hình không khói thuốc trong cơ quan đơn vị, thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc.

Năm 2016, việc thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá được tỉnh quan tâm thực hiện, kết quả đạt 95% các cơ quan ban ngành đoàn thể đã kiện toàn Ban Chỉ đạo và có xây dựng Kế hoạch phòng chống tác hại của thuốc lá, triển khai Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá, các quy định xử lý vi phạm; 100% các sở, ban ngành, đoàn thể, cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh có triển khai các quy định của Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến phòng chống tác hại của thuốc lá; 95% các cơ quan đơn vị, ban ngành, đoàn thể xây dựng mô hình không khói thuốc trong cơ quan đơn vị, thực hiện nghiêm quy định cấm hút thuốc lá tại nơi làm việc. Ban Chỉ đạo Phòng chống tác hại của thuốc lá các cấp thành lập và phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm các quy định về phòng chống tác hại thuốc lá theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở kết quả của năm 2016 và căn cứ tình hình thực tế của địa phương, tỉnh Bến Tre tiếp tực xây dựng kế hoạch năm 2017 để thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá. Kế hoạch năm nay tiếp tục thực hiện các quy định môi trường không khói thuốc lá; thực hiện nghiên cứu, đánh giá về tỷ lệ sử dụng thuốc lá, tiếp xúc thụ động với khói thuốc; giám sát đánh giá việc thực hiện các quy định về cấm quảng cáo, khuyến mại, tài trợ các sản phẩm thuốc lá, kinh doanh bất hợp pháp các sản phẩm thuốc lá. Giảm nhu cầu sử dụng và giảm cung cấp các sản phẩm thuốc lá trên địa bàn tỉnh nhằm giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong do sử dụng thuốc lá gây ra.

Để thực hiện mục tiêu trên, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề ra các chỉ tiêu cụ thể là 100% công chức, viên chức, người lao động các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh ký cam kết với lãnh đạo đơn vị không hút thuốc lá nơi công sở, nơi làm việc; 65% điểm kinh doanh thuốc lá không quảng cáo thuốc lá và trưng bày thuốc lá đúng quy định; 100% các sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh có xây dựng môi trường không khói thuốc lá; 100% các sở, ban ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh có triển khai các quy định của Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và các văn bản quy pháp luật có liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá; 100% lãnh đạo tỉnh, thành phố và các sở, ban, ngành, địa phương hiểu rõ về quy định của Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá. Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống tác hại của thuốc lá ở tất cả các cấp và có tổ, đoàn giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Y tế làm đầu mối phối hợp với các ngành triển khai, sơ kết, tổng kết các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá theo kế hoạch. Hướng dẫn các ngành, địa phương thực hiện ký cam kết không hút thuốc lá nơi công sở. Phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức các lớp tập huấn giám sát và thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá; hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật triển khai hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá cho các đơn vị liên quan; thường xuyên triển khai công tác tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng thuốc lá, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và các quy định xử lý vi phạm trong phòng, chống tác hại của thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông sâu rộng trong cộng đồng dân cư tại các khu phố, dân cư. Thực hiện đánh giá về tình hình sử dụng thuốc lá các ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh Bến Tre. Tổ chức Hội thảo triển khai thực hiện xây dựng môi trường không khói thuốc lá, phổ biến Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trên địa bàn tỉnh. Phối hợp với các ngành, địa phương tổ chức Lễ phát động thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và môi trường không khói thuốc lá. Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, truyền thông trực tiếp về tác hại của thuốc lá và thực thi Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá. Tổ chức hội thi Tìm hiểu về phòng, chống tác hại của thuốc lá trong phạm vi toàn tỉnh. Tổ chức hội thảo, tọa đàm công tác phòng chống tác hại của thuốc lá. Tổ chức tập huấn xây dựng môi trường không khói thuốc lá. Tổ chức tập huấn kỹ năng truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá. Sản xuất tài liệu truyền thông như: tờ bướm, áp-phích, sổ tay, pa-nô cung cấp cho cộng đồng. Chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh thành lập tổ, đoàn giám sát việc thực thi Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thực hiện các hoạt động hưởng ứng Ngày Thế giới không thuốc lá 31/5 và Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá (25-31/5) theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Phối hợp với Sở Tài chính dự toán kinh phí cho hoạt động từ Quỹ phòng, chống tác hại thuốc lá Trung ương. Tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch của các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện theo quy định. Tổ chức sơ kết, tổng kết định kỳ 06 tháng, 01 năm.

Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì xây dựng các văn bản hướng dẫn về quảng cáo, khuyến mại các sản phẩm thuốc lá theo quy định của pháp luật hiện hành. Phối hợp với Sở Y tế về việc thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá; Công ước Khung, tác hại của các sản phẩm thuốc lá trên các phương tiện thông tin, truyền thông.

Sở Công thương quản lý tốt việc sản xuất, kinh doanh thuốc lá theo quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Y tế tăng cường công tác truyền thông, giáo dục cho học sinh, sinh viên, cán bộ, nhân viên trong ngành giáo dục về phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tiếp tục chỉ đạo xây dựng mô hình trường học không khói thuốc.

Sở Tài chính bảo đảm phối hợp với các đơn vị có liên quan cân đối kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Công an tỉnh tăng cường hoạt động phòng, chống tác hại thuốc lá trong ngành công an; phối hợp với Sở Công thương và các cơ quan có liên quan đẩy mạnh công tác phòng, chống kinh doanh thuốc lá bất hợp pháp, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Đài Phát thanh và Truyền hình phối hợp với Sở Y tế xây dựng chương trình phát sóng về phòng, chống tác hại của thuốc lá. Sắp xếp thời lượng phù hợp để phát sóng, đưa tin bài, câu chuyện truyền thanh về mục tiêu, ý nghĩa, các nội dung của Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá, Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá. Kêu gọi người dân thực hiện nghiêm Luật phòng, chống tác hại thuốc lá.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa quy định về hạn chế hoặc không hút thuốc trong các đám cưới, đám tang, lễ hội trên địa bàn dân cư vào hương ước. Lồng ghép phong trào xây dựng làng văn hóa – sức khỏe với xây dựng cộng đồng dân cư không có người hút thuốc lá, thuốc lào, xây dựng cộng đồng dân cư không thuốc lá.

Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố kiện toàn Ban chỉ đạo phòng, chống tác hại của thuốc lá trên địa bàn quản lý. Mỗi địa phương xây dựng kế hoạch hoạt động phòng, chống tác hại của thuốc lá để hoạt động. Đồng thời thành lập mạng lưới thanh tra, kiểm tra từ huyện, thành phố đến xã, phường, thị trấn và tổ chức các đợt thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm tại địa điểm đã có quy định cấm trưng bày, bán thuốc lá, quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại tài trợ theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Chỉ đạo triển khai các quy định không hút thuốc lá nơi công sở, nơi làm việc trên địa bàn quản lý. Đưa quy định về việc hạn chế hút thuốc lá trong đám cưới, đám tang, lễ hội vào hương ước theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cho người dân biết. Xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên vận động nhân dân không sử dụng thuốc lá. Xây dựng và phát triển môi trường không khói thuốc lá. Tổ chức Lễ phát động thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá và môi trường không khói thuốc lá tại địa phương.

Kế hoạch năm nay, Ủy ban nhân dân tỉnh còn đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chỉ đạo các tổ chức thành viên tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trên địa bàn tỉnh.

23/05/2017 9:17 SAĐã ban hànhBài viếtY tế
2.017
/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg121Tuấn Kiệt
Tập trung toàn lực đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án AMD Bến Tre
Ngày 19/5/2017, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập đã chủ trì cuộc họp sơ kết tình hình hoạt động dự án AMD Bến Tre 5 tháng đầu năm, triển khai các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện 7 tháng cuối năm 2017. Tham gia cuộc họp còn có các thành viên, lãnh đạo các huyện của 30 xã vùng dự án.

Ngày 19/5/2017, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập đã chủ trì cuộc họp sơ kết tình hình hoạt động dự án AMD Bến Tre 5 tháng đầu năm, triển khai các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện 7 tháng cuối năm 2017. Tham gia cuộc họp còn có các thành viên, lãnh đạo các huyện của 30 xã vùng dự án.

Theo Ban Điều phối dự án AMD Bến Tre, 5 tháng qua dự án tiếp tục phát triển các nghiên cứu, mô hình canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Theo dõi, giám sát thực hiện 10 mô hình thích ứng BDKH chuyển tiếp từ năm 2016. Phê duyệt danh mục 12 mô hình thích ứng BDKH  mới; phê duyệt và thực hiện đề tài nghiên cứu chất giữ ẩm nhằm nghiên cứu tỷ lệ phối trộn thích hợp của chất giữ ẩm với giá thể để làm lớp phủ bề mặt vườn cây ăn trái; làm giá thể cho cây giống và hoa kiểng trong điều kiện hạn mặn. Tổ chức 18 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật sản xuất cho nông dân nhằm nâng cao năng lực cho người dân thực hiện có hiệu quả các mô hình thích ứng BĐKH như kỹ thuật ủ phân hữu cơ, kỹ thuật chăn nuôi dê, chăm sóc sầu riêng, chôm chôm.

Nâng cấp 8 chuỗi giá trị cấp tỉnh và 10 chuỗi giá trị cấp huyện. Hoàn thiện kế hoạch hành động phát triển chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng tại huyện Giồng Trôm. Phối hợp với huyện Mỏ Cày Nam tổ chức lớp tập huấn nâng cao năng lực cho các bên liên quan về chuỗi giá trị heo và đề án truy xuất nguồn gốc heo thịt tại TP.HCM. Tổ chức hội thảo liên kết sản xuất và tiêu thụ trái cây theo chuỗi giá trị, bước đầu đã tạo điều kiện trao đổi, thảo luận giữa doanh nghiệp và nông dân, tạo tiền đề cơ bản cho mối liên kiết giữa doanh nghiệp và nông dân trong thời gian tới, đặc biệt là 8 chuỗi sản phẩm nông nghiệp theo Nghị quyết 02 của Tỉnh uỷ.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập phát biểu tại cuộc họp. (Ảnh: TV)

Đã thành lập 98 nhóm tín dụng tiết kiệm với 409 thành viên, trong đó có 168 thành viên là hộ nghèo, 327 thành viên nữ với số tiền giải ngân khoảng 5 tỷ đồng. Đến nay, dự án có 1.393 nhóm tín dụng tiết kiệm với 5.500 thành viên, trong đó có 2.161 thành viên là hộ nghèo, 4.725 thành viên nữ với số tiền giải ngân 28,7 tỷ đồng.

Tiếp tục thi công các công trình chuyển tiếp và triển khai các công trình mới theo danh mục được duyệt, trong đó đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 26 công trình, triển khai thi công các công trình còn lại theo kế hoạch. Đây là các công trình hạ tầng nông thôn thích ứng BĐKH có tác động đến vùng sản xuất nông nghiệp, khu sinh hoạt của dân như hệ thống thuỷ lợi, đê bao kết hợp giao thông phục vụ vùng sản xuất, đê bao ngăn triều cường, cống ngăn mặn điều tiết nước. Giá trị khối lượng hoàn thành đạt khoảng 21 tỷ đồng.

AMD đã phê duyệt và cấp kinh phí triển khai 52 tiểu dự án với khoảng 300 người được nhận tài trợ, trong đó 240 người nghèo với số tiền là 5,25 tỷ đồng. Phối hợp với UBND các huyện tổ chức 8 hội thảo, cuộc họp đánh giá nhu cầu tham gia và giới thiệu Quỹ đồng cấp vốn với khoảng 3.600 người tham gia.

Quỹ hợp tác công tư tiếp tục thực hiện các dự án chuyển tiếp từ năm 2016 trong lĩnh vực chế biến dừa, kiểng lá và may mặc. Tổ chức hội thảo giới thiệu Quỹ cho các đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã tiềm năng. Qua hội thảo có 2 doanh nghiệp có ý tưởng đầu tư mong muốn được tiếp cận Quỹ, Ban Điều phối dự án sẽ tiếp cận để sàn lọc doanh nghiệp tiềm năng.

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực lớn của Ban Điều phối dự án, các địa phương và người dân trong vùng dự án. Đồng thời, chỉ đạo Ban Điều phối dự án cần kiện toàn tổ chức bộ máy, tập trung quyết liệt, phân kỳ cụ thể để đẩy nhanh tiến độ các chương trình, kế hoạch dự án. Bến Tre được Trung ương quan tâm đầu tư dự án cùng với Trà Vinh để hạn chế tác động của biến đổi khí hậu là vô cùng thuận lợi. Do vậy, việc triển khai dự án là hết sức có ý nghĩa cùng với việc tỉnh xây dựng chuỗi giá trị 8 sản phẩm chủ lực của tỉnh để hướng đến phát triển kinh tế bền vững, tạo sinh kế cho người nghèo. Tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền để các đối tượng nghèo hiểu, chia sẻ, định hướng và thích ứng bằng những việc làm cụ thể, sản phẩm cụ thể. Phó Chủ tịch giao Sở Tài chính cùng hỗ trợ tháo gỡ khó khăn trong giải ngân các nguồn vốn còn vướng. Ban Điều phối dự án phải làm việc khoa học hơn, có kiểm tra, đôn đốc và giao việc cụ thể cho từng tổ chức, đơn vị, địa phương phối hợp và từng thành viên.

22/05/2017 3:15 CHĐã ban hànhTinHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_15_16_41_578.jpg204Thu Huyền
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Núi rừng đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, là hồn thiêng sông núi của đất nước Việt Nam, đã làm điểm tựa vững chắc cho dân tộc ta sáng tạo độc đáo, làm nên con đường lịch sử đường Trường Sơn – con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại, là con đường giải phóng, “con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh.


Núi rừng đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, là hồn thiêng sông núi của đất nước Việt Nam, đã làm điểm tựa vững chắc cho dân tộc ta sáng tạo độc đáo, làm nên con đường lịch sử đường Trường Sơn – con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại, là con đường giải phóng, “con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh. Đó là con đường Nam - Bắc, thống nhất nước nhà, là con đường tương lai rộng mở của Tổ quốc ta. Con đường này trở thành huyền thoại trong lịch sử chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam và đó cũng là con đường đoàn kết của các dân tộc, của ba nước Đông Dương” như lưu bút của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn ghi trong sổ vàng truyền thống Bộ đội Trường Sơn. Con đường của những kỳ tích mà cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã lập nên, mãi mãi đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca bất tử muôn đời.

 

Các chiến sĩ của Trung đoàn 70 – đơn vị đầu tiên của Bộ đội Trường Sơn đang thồ hàng trên tuyến Tây Trường Sơn tháng 9/1961. (Ảnh TLLS)

Đường Trường Sơn -  đường Hồ Chí Minh lịch sử trên đất liền, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử trọng đại của nó trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước trong suốt 16 năm (1959 - 1975). Lịch sử ghi lại, sau chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến "Chín năm làm một Điện Biên” (ngày 07/5/1954), Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 21/7/1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp và can thiệp của Mỹ, chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và bán đảo Đông Dương. Ngay sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, vĩ tuyến 17 tại sông Bến Hải (cầu Hiền Lương), huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trở thành ranh giới chia cắt hai miền Nam – Bắc.

Như vậy, một nửa đất nước được giải phóng, một nửa đất nước sống oằn mình trước âm mưu xâm lược, thâm độc của đế quốc Mỹ và chính sách đàn áp, khủng bố của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam, đã lên đến đỉnh cao về mức độ khốc liệt, cũng như tính chất man rợ của chúng, đặt các lực lượng miền Nam và Chính phủ miền Bắc trước một sự lựa chọn khắc nghiệt. Có thể nói, giai đoạn từ năm 1959, cách mạng miền Nam gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là giao thông liên lạc, chi viện từ Bắc vào Nam. Để kịp thời đối phó với tình hình và lãnh đạo toàn dân đấu tranh chống lại chế độ đế quốc tay sai Mỹ - Diệm, Đảng ta đã có quyết sách kịp thời, và ngày 13/01/1959 đã tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 15 mở rộng, để bàn về chiến lược cách mạng, tập trung giải phóng miền Nam, xây dựng và bảo vệ miền Bắc. Hội nghị chỉ rõ: “Con đường phát triển của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”.

Sau Hội nghị Trung ương 15 và thực hiện Nghị quyết này, Tổng Quân ủy Trung ương đã họp bàn về việc xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam và chuẩn bị tìm cách đưa một số bộ phận quân đội cùng với vũ khí đạn, dược, vật tư vào chi viện cho chiến trường miền Nam một cách bí mật, an toàn, tránh sự kiểm soát, phát hiện của địch. Ngày 19/5/1959 (cũng là ngày sinh của Bác Hồ), Tổng Quân ủy Trung ương quyết định thành lập "Đoàn quân sự đặc biệt" (sau đó gọi là Đoàn 559) có nhiệm vụ mở xuyên đường Trường Sơn vào Nam. Cũng chính từ đây, đường Trường Sơn – con đường mang tên Hồ Chí Minh được hình thành và trở thành mạch máu giao thông quan trọng, góp phần quyết định sự thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Điều đáng kể của thiên nhiên là sự kỳ vĩ của núi rừng Trường Sơn bình quân cứ 200m có một dốc cao, 15m có có một đèo cao, 200m có một dòng suối nhỏ, 2km có một con suối lớn và cứ 20km lại có một dòng sông nhỏ chảy xiết. Với cấu tạo địa hình kỳ vĩ, nhưng cực kỳ hiểm trở, một quyết định lịch sử “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” là thể hiện quyết tâm và ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Lực lượng ban đầu tham gia mở đường Trường Sơn “quân đi tính từng người, hàng chuyển tính từng cân”. Điểm đầu tuyến đường là khu rừng Khe Hó - Bãi Hà, Gio Linh, Quảng Trị - điểm khởi đầu cho một trận đồ bát quái giữa đại ngàn Trường Sơn. Lúc đầu, đường Trường Sơn là con đường mòn đi dọc phía đông dãy Trường Sơn hùng vĩ, luồn lách qua hàng rào đồn bót của địch, Đoàn 559 vừa vận chuyển vừa mở đường hành quân, với phương châm "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" để đảm bảo bí mật tối đa.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (giữa) và trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (bên phải) trong chiến dịch đường 9 – Nam Lào năm 1971. (Ảnh TLLS)

Sau một thời gian "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", con đường ngày một nối dài, vượt xa với quy mô, phạm vi cả Đông và Tây dãy Trường Sơn, xuyên qua 20 tỉnh thuộc 3 nước Việt Nam - Lào - Campuchia; các tuyến vận tải của các chiến trường thuộc 3 nước Đông Dương, đã tạo nên một hệ thống liên hoàn và vững chắc. Từ khi tuyến đường Trường Sơn được hình thành, thì sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam ngày càng tăng lên. Tính từ tháng 8/1959 đến cuối năm 1964, những chuyến hàng đầu tiên từ hậu phương miền Bắc qua đôi vai các chiến sĩ đã vượt Trường Sơn vào tuyến lớn miền Nam với 3.000 tấn vũ khí, hơn 40.000 cán bộ, chiến sĩ được đưa vào tăng cường cho cách mạng miền Nam và cùng với quân dân miền Nam làm nên hàng loạt trận đánh hiểm hóc (như Tua Hai, Ấp Bắc, Bình Giã…), đã làm cho đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn rúng động. Về phương thức ta vẫn lấy vận tải thô sơ, gùi thồ là chính, kết hợp với vận tải cơ giới ở từng khu vực, tận dụng những đoạn đường sông thuận lợi để vận tải đường thủy.

Quá trình xây dựng, phát triển con đường chiến lược Trường Sơn trải qua nhiều giai đoạn, gắn liền với các thời kỳ phát triển của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, có thể kể đến như: Từ năm 1965-1972, đường Trường Sơn phát triển mạnh mẽ, tiến lên cơ giới hóa toàn tuyến vận tải quân sự; năm 1965 - 1968, đã có 30 vạn cán bộ chiến sĩ miền Bắc theo tuyến đường Trường Sơn vào các chiến trường miền Nam, góp phần đánh bại “Chiến tranh cục bộ của Mỹ”. Năm 1969, Mỹ tăng cường ngăn chặn, đánh hệ thống đường Trường Sơn; Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho đây là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, nên đã tập trung mọi phương tiện chiến tranh hiện đại nhất nhằm triệt phá con đường chiến lược này, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc; Mỹ tăng cường không quân lên gấp 02 lần so với năm 1968. Chủ trương của ta lúc này là giữ các đường 12, 16, 18, 20, và mở thêm các đường vòng tránh.

Cùng với việc mở đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh trên bộ, Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp tục mở đường Hồ Chí Minh trên biển (vào ngày 23/10/1961). Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng con đường biển và kể từ đó làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển, với những con tàu không số, nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.

 

Các nữ thanh niên xung phong tuổi 20 trên chiến trường đường Trường Sơn. (Ảnh TLLS)

Hệ thống lại quá trình hình thành con đường chiến lược - đường Trường Sơn và sứ mệnh lịch sử của nó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai, suốt 16 năm hoạt động (1959 - 1975) con đường này được xem là khúc ruột, là huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, nó không chỉ là tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược, mà còn là một chiến trường tổng hợp, một mặt trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch. Bất chấp sự hủy diệt của kẻ thù và những khó khăn, trở ngại của thời tiết, địa hình trong 16 năm (1959 - 1975), đặc biệt từ sau năm 1964 đường Trường Sơn như một trận đồ bát quái vươn ra các chiến trường bằng mọi ngã. Các đơn vị bộ đội và thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đã vượt qua muôn vàn gian lao, khó khăn, thử thách, dũng cảm, kiên cường chống trả các cuộc oanh tạc tàn khốc của Mỹ - Ngụy. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã trở thành bản thiên anh hùng ca bất tử, vĩ đại, mà nhà thơ Tố Hữu đã diễn tả: “Trường Sơn xẻ dọc, dọc ngang/ Xẻng tay mà viết nên trang sử vàng/ Trường Sơn vượt núi băng sông/ Xe đi trăm ngã, chiến công bốn mùa/ Trường Sơn đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó như chưa hiểu mình".

Vào mùa khô năm 1970, tuyến đường ống xăng dầu từ miền Bắc vào tận miền Nam bắt đầu hoạt động. Nếu như năm 1969 đã có hai vạn tấn hàng hóa đã được vận chuyển vào miền Nam, thì năm 1970 là bốn vạn tấn, năm 1971 lên tới sáu vạn tấn. Đầu năm 1971, toàn bộ lực lượng chiến đấu trên mặt trận đường 9 - Nam Lào đã lên tới sáu vạn người đã theo đường Trường Sơn an toàn, đúng thời gian quy định. Từ năm 1973 - 1975, sau chiến thắng đường 9 - Nam Lào, tuyến đường Trường Sơn hoàn toàn thông suốt, tiếp tục vận chuyển nguồn chi viện to lớn từ miền Bắc vào miền Nam, phục vụ kịp thời và có hiệu quả cho cuộc Tổng tiến công trên toàn miền Nam. Đến cưối năm 1974, Chính phủ ta đã tập trung lớn vào việc nâng cao chất lượng hệ thống, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới thêm đường Trường Sơn, để xe ôtô có thể vận chuyển đưa quân cho các chiến trường miền Nam và hoạt động bình thường cả mùa khô, mùa mưa. Đường Đông Trường Sơn đã nối liền với Lộc Ninh; đường Tây Trường Sơn được nắn thẳng tuyến tới ngã ba biên giới, rồi qua các kênh rạch vùng Đồng Tháp Mười, qua tuyến đường 1C đến Hòn Đất - Kiên Giang nối liền với tuyến vận tải đường Hồ Chí Minh trên biển của Đoàn 759.

Đường Trường Sơn còn được những người lính trong cuộc chiến thời hoa lửa ấy gọi là tuyến lửa; con đường huyền thoại nằm trên núi rừng Trường Sơn hùng vĩ, với lá đổ ào ào, với bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa, đã diễn ra cuộc chiến đấu vô cùng khốc liệt, thể hiện về quy mô, tính chất, cường độ hủy diệt mà Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành suốt 16 năm từ (1959-1975). Điều thần kỳ của những người con làm nhiệm vụ ở đường Trường Sơn đã tận dụng sự cấu tạo đặc biệt của thiên nhiên, kết hợp với sự sáng tạo độc đáo của mình, làm nên tuyến đường Trường Sơn có 3.140km đường che kín, cho xe ôtô hoạt động cả ngày - đêm che mắt quân thù trong điều kiện đánh phá ác liệt của máy bay địch. Và con đường Trường Sơn huyền thoại, lạ kỳ này đã giúp cho các chiến sĩ Trường Sơn ta với các xe pháo hùng hậu, ngày đêm hối hả nối đuôi nhau trên các ngã đường thần tốc, táo bạo, bí mật, bất ngờ đã tiêu diệt địch, bắn rơi máy bay các loại của địch, trong đó có cả pháo đài bay B52. Ta càng đánh càng thắng, để rồi tất cả cùng nhau tiến về Sài Gòn quét sạch giặc thù, tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng tiến công đại thắng mùa xuân năm 1975.

Trong cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù, bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến trên đường Trường Sơn thời hoa lửa ấy, đã chịu nhiều tổn thất về người và phương tiện vật chất, có hơn 2 vạn cán bộ, chiến sĩ, văn nghệ sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ở tuổi thanh xuân nằm lại với núi rừng Trường Sơn hùng vĩ; hơn 3 vạn người đã đã bỏ lại một phần thân thể của mình nơi đại ngàn Trường Sơn. Những ai đã từng ở Trường Sơn, không thể nào quên những tháng năm trên dãy Trường Sơn, với chiếc gậy Trường Sơn là bạn “tri kỷ” để chống trơn, là điểm tựa vững chắc trong những cuộc hành quân qua những cánh rừng bom xới, những con đường bom chồng lên bom chi chít, những công binh kiên cường mải miết san đường, để đêm đêm xe thẳng hướng chiến trường, để “Ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn/... Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình…”. Và ai đó chỉ một lần có mặt ở đường Trường Sơn, hẳn cũng sẽ hiểu rõ sự hy sinh, mất mát và sức chịu đựng vô bờ bến của một dân tộc đã trả giá như thế nào cho ngày chiến thắng. Những chiến sĩ Trường Sơn, những bông hoa ngát hương trên tuyến đường tuyến lửa ấy, đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình mà lòng phơi phới dậy tương lai cho Tổ quốc thân yêu, vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Những người con anh dũng của Tổ quốc, đã góp phần quan trọng làm nên lịch sử con đường huyền thoại - đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, sẽ luôn thấm đẫm trong tâm hồn mỗi chúng ta lòng kính trọng, tri ân; tên các anh, các chị  trở thành tên đất nước; máu thịt các anh, chị trở thành tượng đài bất diệt, đẹp mãi trong lòng các thế hệ dân tộc Việt Nam.

 

Đoàn xe vận tải hùng hậu và quân đội ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 trên đường Trường Sơn. (Ảnh TLLS)

Đến bây giờ vẫn chưa giấy bút nào có thể diễn tả hết lòng dũng cảm vô song, sự hy sinh cao cả, trí thông minh tuyệt vời của những con người đã sống và chiến đấu trên con đường Trường Sơn huyền thoại - tuyến vận tải chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nếu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là một thiên huyền thoại, thì đường Trường Sơn là biểu hiện sinh động nhất của huyền thoại ấy, là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh, đúng như lời bình của một nhà báo người Pháp viết trên tờ Le Figaro năm 1971: “Con đường Hồ Chí Minh trở thành câu chuyện thần thoại ở Đông Dương chính con đường mòn đã quyết định hòa bình hay chiến tranh. Quân đội mạnh nhất thế giới đã không làm gì được con đường này. Các máy bay khổng lồ B52 đã ném bom xuống đường mòn Hồ Chí Minh để hủy diệt, nhưng nó vẫn tồn tại, là con rắn trăm đầu luôn mọc lại".

Đường Trường Sơn huyền thoại anh hùng, con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại, là một sự sáng tạo độc đáo về chiến lược của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là con đường huyền thoại thống nhất Bắc - Nam, là con đường liên minh đoàn kết và chiến đấu thắng lợi của 3 nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia. Con đường mà không bút mực nào tả hết về lịch sử của nó; con đường mà trên đường ta qua không một dấu chân người, dừng ở lưng đèo chỉ nghe suối hát, luôn có nhiều mưa giông nắng lửa, khói bom, mà các anh, các chị đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình trở thành những chiến sĩ đến với núi rừng Trường Sơn. Đường Trường Sơn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng; là huyền thoại của huyền thoại trong bản trường ca chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh của thế kỷ XX. Chúng ta tự hào về đường Trường Sơn huyền thoại và anh hùng, tự hào về con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại, con đường bạt núi giữa pháo sáng với đạn bom, con đường có núi cao mấy tầng, con đường say chiến đấu, ghi chiến công lẫy lừng, đường soi sáng để các đoàn xe của ta luôn thẳng tới; đường mang bao nghĩa tình, đường Nam - Bắc yêu thương.

Trong những ngày, tháng năm lịch sử của tháng 4, tháng 5 năm Đinh Dậu - 2017, cả nước diễn ra các sự kiện: Kỷ niệm 42 năm giải phóng miền Nam - thống nhất đất nước  (30/4/1975 - 30/4/2017); 63 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 – 07/5/2017); 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017). Đặc biệt, ngày 19/5/1959 cũng là ngày lịch sử - Đảng ta quyết định mở đường Trường Sơn - con đường mang tên Bác Hồ vĩ đại kính yêu của dân tộc Việt Nam. Kỷ niệm 58 năm (19/5/1959 - 19/5/2015), ngày mở đường Trường Sơn trên cạn – con đường huyền thoại - đường Hồ Chí Minh lịch sử, để các thế hệ dân tộc ta ôn lại những kỳ tích, truyền thống vẻ vang của con đường thời hoa lửa ấy, mà ở đó mỗi mét đường, mỗi cây cỏ đều thấm đượm mồ hôi, máu xương của biết bao anh hùng, liệt sĩ đã mãi mãi nằm xuống nơi đây; với lớp lớp những người con thân yêu từ khắp mọi miền của Tổ quốc đã không ngại hy sinh, gian khổ cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc, để đất nước được độc lập, dân tộc ta được tự do và hát vang khúc ca khải hoàn đại thắng mùa xuân năm 1975 - đất nước trọn niềm vui.

Lịch sử như dòng chảy, đường Trường Sơn của thời hoa lửa ấy và năm tháng vĩ đại của con đường tuyến lửa đã trôi qua, nhưng mỗi lần nhắc đến nó, các thế hệ dân tộc Việt Nam không thể nào quên, mãi mãi xem đó là niềm tự hào, niềm kiêu hãnh của lớp lớp thế hệ dân tộc Việt Nam về những cán bộ, chiến sĩ, văn nghệ sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Trường Sơn. Nhắc lại lịch sử, quá khứ của đường Trường Sơn để chúng ta hiểu sâu hơn giá trị tuyệt vời mà những người con anh dũng, kiên cường của Tổ quốc ta đã góp phần làm nên. Qua đó, chúng ta càng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng ta; tự soi rọi lại mình, cũng như thường xuyên, tự giác rèn luyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Đường Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đang tiếp nối và mãi mãi đi cùng năm tháng với lịch sử của Tổ quốc Việt Nam thân yêu trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thế giới. Những chiến tích độc đáo của đường Trường Sơn đã góp phần làm rang rỡ thêm những trang sử vàng son của đất nước. Phát huy truyền thống, sứ mệnh lịch sử vẻ vang, trong giai đoạn cách mạng mới, đường Trường Sơn lại một lần nữa mang sứ mệnh lịch sử mới và chính thức trở thành một tuyến quốc lộ Bắc - Nam hiện đại, phục vụ cho khát vọng vươn lên của dân tộc, sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, con đường phồn vinh, ấm no cho Tổ quốc.

(Tham khảo tư liệu lịch sử)

22/05/2017 3:03 CHĐã ban hànhBài viếtAn ninh Quốc phòng
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_15_13_4_766.jpg207Thanh Hoàng
UBND tỉnh họp lệ kỳ tháng 5/2017 (lần 2): Tập trung hoàn chỉnh Quy chế xét tặng Giải thưởng VH-NT Nguyễn Đình Chiểu
Chiều 20/5/2017, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã tổ chức họp thành viên lệ kỳ tháng 5/2017 (lần 2) để thảo luận, cho ý kiến và thống nhất một số chính sách kinh tế - xã hội của tỉnh.

Chiều 20/5/2017, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã tổ chức họp thành viên lệ kỳ tháng 5/2017 (lần 2) để thảo luận, cho ý kiến và thống nhất một số chính sách kinh tế - xã hội của tỉnh.

Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: Trương Hùng)

Tại phiên họp, các thành viên UBND tỉnh đã tập trung thảo luận sâu và cho ý kiến góp ý để hoàn chỉnh dự thảo Quy chế xét tặng Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre. Hầu hết ý kiến của thành viên UBND tỉnh đề nghị đơn vị soạn thảo chỉnh sửa câu chữ cho phù hợp, rõ ràng, chính xác, chỉnh sửa một số điểm quy định còn bất hợp lý.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước lưu ý đơn vị soạn thảo xác định rõ đối tượng xét tặng giải thưởng cống hiến đối với các văn nghệ sĩ hoạt động kháng chiến giai đoạn trước 1975; đồng thời gom gọn lại các quy định về nguyên tắc xét tặng; đề nghị thời gian xét tặng giải thưởng 5 năm một lần.

Ông Lê Văn Sáu - Chánh Văn phòng UBND tỉnh phát biểu ý kiến. (Ảnh: Trương Hùng)

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng thống nhất với các ý kiến góp ý. Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, việc xét tặng Giải thưởng VH-NT Nguyễn Đình Chiểu là chủ trương của Tỉnh ủy, đã được Tỉnh ủy chỉ đạo từ đầu năm 2017, nhưng đến nay (tháng 5/2017), vẫn chưa ban hành Quy chế xét tặng giải thưởng này là chậm trễ. Do vậy, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu đơn vị soạn thảo phải khẩn trương hoàn thiện dự thảo Quy chế để sớm triển khai việc xét tặng giải thưởng. Nên tiến hành xét tặng giải thưởng ngay trong năm 2017 này.

Bên cạnh đó, Chủ tịch UBND tỉnh kết luận, mỗi đợt xét tặng giải thưởng là 5 năm, số lượng không quá 30 giải thưởng VH-NT, cộng với 7 giải cống hiến. Việc tăng giảm số lượng giải thưởng ở từng loại hình VH-NT sẽ do Chủ tịch Hội đồng xét tặng giải thưởng quyết định, điều tiết sao cho phù hợp, hài hòa. Đồng thời, nên cân nhắc mở rộng diện đối tượng xét tặng giải cống hiến để tạo sự công bằng.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng và các Phó Chủ tịch Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Hữu Lập chủ trì phiên họp. (Ảnh: Trương Hùng)

Bên cạnh Quy chế xét tặng Giải thưởng VH-NT Nguyễn Đình Chiểu, thành viên UBND cũng cho ý kiến và thống nhất thông qua một số chính sách KT-XH, như: quy định mức giá một số dịch vụ điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho công an viên thường trực cấp xã và công an viên phụ trách ấp, khu phố; Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm giai đoạn 2016-2020; tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2017; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn NSNN năm 2017,...

22/05/2017 2:55 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_15_1_55_422.jpg227Trương Hùng
Tổng kết công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017
Ngày 19/5/2017, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017. Đến dự có ông Cao Văn Trọng – Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nghĩa vụ quân sự (NVQS) tỉnh, Đại tá Vũ Thành Đức – Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng NVQS tỉnh cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và UBND các huyện, thành phố.

Ngày 19/5/2017, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017. Đến dự có ông Cao Văn Trọng – Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nghĩa vụ quân sự (NVQS) tỉnh, Đại tá Vũ Thành Đức – Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng NVQS tỉnh cùng lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh và UBND các huyện, thành phố.

 

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Huy Hoàng)

Theo đó, năm 2017, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường; đời sống nhân dân được nâng lên, an sinh xã hội được bảo đảm.

Hệ thống chính trị các cấp được kiện toàn, vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính quyền được phát huy; cơ quan quân sự và các ban ngành đoàn thể tích cực, chủ động tham mưu đề xuất những chủ trương, giải pháp phù hợp giúp Hội đồng NVQS cùng cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ; nhận thức, trách nhiệm của nhân dân và thanh niên trong độ tuổi sẵn sàng nhập ngũ ngày càng tốt hơn.

Công tác tuyển quân luôn được cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ, tổ chức thực hiện nghiêm túc; Hội đồng NVQS các cấp nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết tốt những vướng mắc, khó khăn ngay tại cơ sở.

Cấp ủy các cấp có nghị quyết lãnh đạo, UBND, Hội đồng NVQS các ban, ngành, đoàn thể có kế hoạch, hướng dẫn thực hiện đồng bộ, thống nhất; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong công tác tuyển quân, phát huy được sức mạnh của cả hệ thống chính trị.

 

Đại tá Vũ Thành Đức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh gợi ý thảo luận. (Ảnh: Huy Hoàng)

Thực hiện theo phương châm Liên quân tại nhà, tiễn đưa tại xã, giao quân tại huyện; huyện, thành phố tổ chức một điểm giao quân. Lễ giao nhận quân kết hợp với các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ thực hiện đúng theo quy định tổ chức nghi lễ trong quân đội; thực sự là ngày hội của tuổi trẻ tòng quân, mang ý nghĩa động viên thiết thực khích lệ công dân hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Bảo đảm giao nhận quân nhanh gọn, tiết kiệm và an toàn tuyệt đối.

Kết quả giao nhận quân, về số lượng đã giao 1.300 công dân, đạt 100% so với chỉ tiêu, về chất lượng đảng viên 14 đạt 1,08% (giảm 0,49% so với năm 2016), đại học, cao đẳng 103 đạt 7,92% (tăng 2,13% so với năm 2016), chuyên môn kỹ thuật 47 đạt 3,62% (giảm 3,99% so với năm 2016).

Bên cạnh những thuận lợi, công tác tuyển quân năm 2017 cũng gặp khó khăn do ảnh hưởng thiên tai, giá cả thị trường không ổn định, đời sống cũng như sinh hoạt của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, đa số thanh niên phải đi làm ăn xa nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc đăng ký, quản lý công dân trong diện sẵn sàng nhập ngũ và thực hiện các bước trong quy trình tuyển quân của cơ sở.

Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật về NVQS cũng như việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành Luật NVQS ban hành chưa kịp thời nên các địa phương còn nhiều lúng túng trong quá trình tổ chức thực hiện.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng tặng Bằng khen cho các tập thể và cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017. (Ảnh: Huy Hoàng)

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, làm rõ nguyên nhân hạn chế của công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ để có giải pháp đồng bộ trong thời gian tới.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh biểu dương những thành tích mà các địa phương đạt được trong công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn còn một số cơ quan quân sự địa phương làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chưa sát đúng với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm tình hình địa phương dẫn đến kết quả tuyển chọn chất lượng còn thấp so với năm 2016.

Về phương hướng năm 2018, Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các ngành, các cấp, các địa phương tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1. Quán triệt sâu sắc về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, trong đó công tác tuyển quân là nhiệm vụ quan trọng của địa phương. Cấp ủy, chính quyền các cấp tăng cường lãnh, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng Luật NVQS trong nhân dân và thực hiện tốt các chế độ chính sách hậu phương quân đội; Thường xuyên nắm chắc tình hình của thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ, đặc biệt là những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, tư tưởng không ổn định để kịp thời động viên, giáo dục để thanh niên an tâm lên đường nhập ngũ.

2. Hội đồng NVQS các cấp phải được củng cố kiện toàn đủ số lượng theo quy định; từng thành viên hội đồng phải nắm thật chắc Luật NVQS, các nghị định, văn bản hướng dẫn của cấp trên liên quan đến công tác tuyển quân, nêu cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, làm việc hết chức trách của mình, trong quá trình tuyển chọn phải chặt chẽ, thực sự công khai, dân chủ, công bằng và thực hiện tốt chế độ dân chủ ở cơ sở.

 

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng phát biểu chỉ đạo hội nghị. (Ảnh: Huy Hoàng)

3. Cơ quan quân sự các cấp thực hiện tốt vai trò làm tham mưu cho Hội đồng NVQS cùng cấp, phải chủ động chuẩn bị nguồn ngay từ đầu; phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trong công tác đăng ký, quản lý, xét duyệt chính trị, thực hiện tuyển chọn chính xác, đúng luật, không bỏ sót thanh niên; các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh và mọi khiếu nại của nhân dân về tuyển chọn công dân nhập ngũ phải được giải quyết dứt điểm ngay tại xã, phường, thị trấn không để kéo dài.

Ngoài ra, quan tâm thanh niên đã tốt nghiệp các trường đại học, trung học chuyên nghiệp ra trường hiện chưa có việc làm ổn định. Tích cực động viên những thanh niên này tình nguyện đi xây dựng quân đội để nếu có điều kiện thì đăng ký phục vụ lâu dài trong quân đội và làm nguồn cán bộ địa phương sau này.

4. Củng cố bổ sung và nâng cao chất lượng Hội đồng khám sức khỏe, tổ chức khám và kết luận chính xác sức khỏe của từng thanh niên theo đúng qui định của Thông tư số 16 và Thông tư 140, không vì thiếu chỉ tiêu mà tự hạ tiêu chuẩn sức khỏe; hạn chế đến mất thấp nhất phải thay đổi hồ sơ khi chốt với các đơn vị nhận quân vì lý do không đủ sức khỏe.

5. Đề nghị Mặt trận Tổ quốc làm trung tâm hiệp đồng giữa các đoàn thể trong công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục công dân nam và gia đình ngay từ khi chuẩn bị nguồn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Phụ nữ, Nông dân làm nòng cốt. Đặc biệt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với các ngành tổ chức Hội trại “Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc”. Trong Hội trại cần nghiên cứu đổi mới phương pháp, nội dung, hình thức phong phú, hấp dẫn thu hút được đông đảo thanh niên và quần chúng nhân dân địa phương tham gia.

6. Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật NVQS như trốn, chống khám sức khỏe NVQS, lệnh gọi nhập ngũ, xử lý kịp thời và thông báo công khai rộng rãi để giáo dục, răn đe.

7. Thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, giúp cho thanh niên sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự được đào tạo nghề và có việc làm ổn định.

Dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng đã tặng Bằng khen cho 02 tập thể và 04 cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2017.

22/05/2017 2:49 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/2017_5_22_14_50_34_875.jpg215Huy Hoàng
Tỉnh phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”
Ngày 19/5/2017, tại huyện Thạnh Phú, UBND tỉnh phối hợp với UBND huyện Thạnh Phú tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2017). Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập; ông Bùi Văn Lâm - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến dự.

Ngày 19/5/2017, tại huyện Thạnh Phú, UBND tỉnh phối hợp với UBND huyện Thạnh Phú tổ chức lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Bác (19/5/1890 – 19/5/2017). Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập; ông Bùi Văn Lâm - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến dự.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2017. (Ảnh do Văn Minh cung cấp)

Tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập đã phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”, qua đó nhấn mạnh, Bác đã dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” câu nói ấy đã in sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Thực hiện lời dạy của Người, nhiều năm qua toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Bến Tre đã tích cực hưởng ứng “Tết trồng cây” và coi đó như một truyền thống, một nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” do Bác Hồ phát động, tỉnh Bến Tre đã phấn đấu trồng hàng ngàn hecta rừng tập trung và hàng chục triệu cây phân tán các loại. Riêng năm 2016, đã trồng mới thêm 62 ha rừng tập trung và hơn 900 ngàn cây phân tán các loại, nâng diện tích rừng hiện có của tỉnh lên hơn 4.200ha. Đến nay, rừng đã phát huy tốt vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường góp phần bảo vệ an toàn cho sản xuất và đời sống của nhân dân vùng ven biển.

Thay mặt lãnh đạo UBND tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập kêu gọi: “Các ngành, các cấp; cán bộ, công nhân viên chức, đoàn viên thanh niên, các em học sinh và toàn thể nhân dân trong tỉnh với tinh thần “Đồng Khởi mới”, hãy hăng hái tham gia trồng cây, trồng rừng; mọi người và mọi nhà trồng cây; trồng cây ăn quả, trồng cây lấy gỗ, trồng cây chắn sóng, chắn gió bảo vệ đê biển, chống xói lở đất; trồng trong khuôn viên cơ quan, trường học, đình chùa; trồng cây dọc đường giao thông nông thôn, trên các bờ kênh thủy lợi, vùng ven sông, ven biển,... phù hợp với đất đai của từng nơi và đặc biệt là chăm sóc giữ gìn để cho cây, cho rừng phát triển tốt, tỏa bóng xum xuê, là việc làm quan trọng, là trách nhiệm của tất cả chúng ta và xã hội”.

Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền huyện Thạnh Phú đã quan tâm chỉ đạo, thực hiện công tác trồng cây và chăm sóc cây xanh trên địa bàn huyện, ngoài chỉ tiêu, số lượng cây phân tán do tỉnh cung cấp, huyện còn bổ sung kế hoạch trồng thêm một số loại cây khác do nhân dân tự trồng hàng năm khoảng 200.000 cây giống các loại, tập trung cho các trục lộ giao thông, các tuyến đường nội ô. Đồng thời, trồng mới một số cây xanh bóng mát theo các dự án đường giao thông, trụ sở, cơ quan làm việc và các trường học,...

Hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh đạo UBND tỉnh, ông Mai Văn Hùng, Phó Chủ tịch UBND huyện đề nghị các ngành, các xã, thị trấn và toàn thể nhân dân trên địa bàn huyện Thạnh Phú khẩn trương triển khai thực hiện tốt chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về kế hoạch trồng cây phân tán năm 2017; đồng thời tập trung thực hiện tốt một số nội dung như: “Tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân về vai trò, tác dụng to lớn, lợi ích toàn diện và giá trị nhân văn của việc trồng cây, trồng rừng, phát động phong trào “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây, toàn dân trồng cây, trồng rừng” gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ mội trường sinh thái. Chính quyền địa phương các xã, thị trấn, các đơn vị phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện, vật tư, nhân lực, kinh phí để tổ chức thực hiện tốt “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” năm 2017. Sau khi trồng cây phải thường xuyên theo dõi, chăm sóc, bảo vệ để cây trồng phát triển tốt. Cụ thể là sau buổi lễ phát động, các ban, ngành, đoàn thể huyện và các xã, thị trấn tích cực ra quân thực hiện tốt kế hoạch trồng cây gây rừng, tạo không khí sôi nổi, nhộn nhịp để công tác trồng cây đời đời nhớ ơn Bác nhanh chóng lan tỏa trong nhân dân”.

Sau buổi lễ, lãnh đạo tỉnh, các huyện, thành phố; ban, ngành, đoàn thể tỉnh, huyện, xã An Điền và đông đảo đoàn viên, thanh niên, học sinh trên địa bàn huyện Thạnh Phú đã tham gia trồng 200 cây xà cừ dọc chiều dài 2km Huyện lộ 92 thuộc ấp Giang Hà, xã An Điền.

22/05/2017 10:50 SAĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_10_52_47_453.jpg216Văn Minh
Khai mạc Đại hội Thể dục thể thao khu vực đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VII – Bến Tre 2017
Tối 19/5/2017, tại sân vận động tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Hữu Phước đã chính thức tuyên bố khai mạc Đại hội Thể dục thể thao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VII – Bến Tre 2017.

Tối 19/5/2017, tại sân vận động tỉnh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Hữu Phước đã chính thức tuyên bố khai mạc Đại hội Thể dục thể thao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VII – Bến Tre 2017.

Lãnh đạo tỉnh và các sở ngành dự lễ khai mạc Đại hội TDTT ĐBSCL lần thứ VII – Bến Tre 2017. (Ảnh: Trương Hùng)

Đại hội TDTT ĐBSCL lần này có sự tham gia của 18 đoàn thể thao, ngoài 13 tỉnh trong khu vực ĐBSCL còn có các đoàn Trung tâm TDTT Quốc phòng 4 Quân khu 9 và một số tỉnh, thành miền Đông Nam bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước. Ngoài việc tạo không khí vui tươi, phấn khởi, chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Đại hội còn là dịp để kiểm tra, đánh giá chặng đường 42 năm xây dựng và phát triển phong trào TDTT trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực, góp phần thúc đẩy các phong trào thể thao học đường, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển.

Rước Quốc kỳ và ảnh Bác trong lễ khai mạc Đại hội TDTT ĐBSCL lần thứ VII – Bến Tre 2017. (Ảnh: Trương Hùng)

Theo ông Trương Quốc Phong – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đại hội TDTT khu vực ĐBSCL được tổ chức theo chu kỳ 2 năm 1 lần, bắt đầu từ năm 2005. Đại hội thật sự trở thành ngày hội thể dục thể thao lớn nhất trong khu vực, đồng thời đây cũng được xem là một trong những sự kiện TDTT có tầm vóc lớn của cả nước. Từ năm 2011, Đại hội đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm và có hướng sắp tới đây sẽ xét công nhận là một trong những chuỗi hoạt động TDTT trọng điểm của quốc gia.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước – Trưởng ban Chỉ đạo Đại hội TDTT ĐBSCL lần thứ VII – Bến Tre 2017 châm ngọn đuốc khai mạc Đại hội. (Ảnh: Trương Hùng)

Đại hội TDTT khu vực ĐBSCL có sức lan tỏa lớn, đã tạo nên động lực thúc đẩy phong trào tập luyện TDTT trong nhân dân. Đồng thời, Đại hội cũng tạo nên sự đoàn kết, gắn bó, tạo cơ hội cho các tỉnh, thành trong khu vực học tập kinh nghiệm lẫn nhau, góp phần phát hiện, tuyển chọn và đào tạo thêm nhiều tài năng thể thao cho các địa phương trong khu vực và cả nước, qua đó đóng góp không nhỏ vào thành tích thể thao nước nhà ở tầm khu vực và thế giới trong hơn một thập niên qua.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước – Trưởng ban Chỉ đạo Đại hội TDTT ĐBSCL lần thứ VII – Bến Tre 2017 tuyên bố khai mạc Đại hội. (Ảnh: Trương Hùng)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Mỗi người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần. Mỗi người dân mạnh khỏe tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục. Riêng tôi ngày nào cũng tập.” Đại hội TDTT ĐBSCL lần này được tổ chức đúng vào dịp kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa hết sức to lớn. Mặc dù Bác đã đi xa, nhưng đối với mỗi người dân Việt Nam cũng như bạn bè năm châu, Bác vẫn sống mãi cùng chúng ta. Chúng ta học tập ở Bác tinh thần siêng năng tập luyện TDTT và thực hiện di nguyện của Bác để góp phần xây dựng nước nhà văn minh, giàu mạnh.

22/05/2017 10:41 SAĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_10_47_57_922.jpg209Trương Hùng
Hội thảo tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bền vững ngành dừa Bến Tre
Ngày 20/5/2017, Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập, Giám đốc Sở NN&PTNT Bùi Văn Lâm đã chủ trì Hội thảo tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bền vững ngành dừa Bến Tre. Tham gia hội thảo có đông đảo đại diện lãnh đạo các sở ngành, đoàn thể tỉnh, lãnh đạo các huyện, thành phố, doanh nghiệp và HTX, THT, nông dân trong tỉnh.

Ngày 20/5/2017, Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập, Giám đốc Sở NN&PTNT Bùi Văn Lâm đã chủ trì Hội thảo tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bền vững ngành dừa Bến Tre. Tham gia hội thảo có đông đảo đại diện lãnh đạo các sở ngành, đoàn thể tỉnh, lãnh đạo các huyện, thành phố, doanh nghiệp và HTX, THT, nông dân trong tỉnh.

Lãnh đạo tỉnh tham quan sản phẩm kẹo dừa Vĩnh Tiến. (Ảnh: Hữu Hiệp)

Tại hội thảo đã có nhiều tham luận, ý kiến của doanh nghiệp, nông dân, nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật đã thảo luận nhiều vấn đề xoay quanh giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất bền vững ngành dừa Bến Tre; một số vấn đề về công tác giống dừa; quản lý dịch hại trên cây dừa; giải pháp khoa học trong vườn dừa; giải pháp tuyên truyền, vận động nông dân trồng dừa tham gia chuỗi giá trị; thực trạng và giải pháp thành lập HTX dừa; công tác quản lý nhà nước, quy hoạch, tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi giá trị của Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam; kinh nghiệm nuôi tôm càng xanh toàn đực, bưởi da xanh xen trong vườn dừa; kinh nghiệm tham canh vườn dừa theo hướng hữu cơ; kinh nghiệm liên kết THT dừa tại Hưng Lễ; thuận lợi, khó khăn của THT dừa Châu Bình.

Theo báo cáo của Giám đốc Sở NN&PTNT Bùi Văn Lâm, dừa là cây công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với Bến Tre. Với điều kiện tự nhiên phù hợp và tập quán trồng dừa, đến nay Bến Tre đã phát triển vườn dừa trên 70.000 ha, chiếm 40% diện tích trồng dừa cả nước, trong đó dừa uống nước có diện tích 7.958ha.

Trong khi đó, toàn tỉnh có khoảng 163.000 hộ trồng dừa với diện tích bình quân 0,4ha/hộ, trong đó có khoảng 123.000 hộ có diện tích dưới 0,5ha; 31.000 hộ có diện tích từ 0,5-1ha, khoảng 8.500 hộ có diện tích trên 1ha. Đa số các hộ trồng dừa có trồng xen cây khác ở mức độ khác nhau, chỉ một phần nhỏ trồng độc canh cây dừa. Theo ước tính có khoảng 40% hộ nông dân có hoạt động liên quan đến cây dừa. Qua phân tích cho thấy thu nhập từ dừa chiếm 72% cơ cấu thu nhập của hộ; 7% thu nhập từ cây khác như chuối, chanh, lúa, mía; 3% từ chăn nuôi và 4% còn lại từ dịch vụ và nhiều ngành nghề khác. Chỉ tính riêng giai đoạn 2010-2016 diện tích dừa tăng 33,7%, năng suất tăng 15,3%, sản lượng tăng 35,6%. Nguồn thu nhập bình quân của hộ trồng dừa khoảng 68 triệu đồng/ha/năm.

Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Hữu Hiệp)

Thời gian gần đây thu nhập của người trồng dừa có được cải thiện hơn so với trước đây. Tuy nhiên, sự tăng thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sự tăng giá trên thị trường của các mặt hàng từ dừa chứ chưa phụ thuộc nhiều vào sự chủ động tạo giá trị tăng thêm trong hệ thống canh tác của vườn dừa. Mức thu nhập của dừa còn thấp so với nhiều loại cây trồng khác.

Do vậy, ngành nông nghiệp đề xuất giải pháp thời gian tới là tập trung quy hoạch lại diện tích vườn dừa cho phù hợp. Xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp, cụ thể là chuỗi giá trị dừa. Tập trung tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất vùng chuyên canh nguyên liệu tập trung. Đặc biệt là tuyên truyền vận động nông dân nâng cao nhận thức tính tất yếu hiện nay là phải tham gia liên kết sản xuất, tham gia chuỗi giá trị, quan tâm củng cố các THT, HTX để hợp tác với doanh nghiệp; mạnh dạn chuyển đổi cây trồng kém hiện quả sang cây trồng có hiệu quả kinh tế cao. Nhân rộng mô hình trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa. Tuyển chọn các giống mới phù hợp với từng vùng đất, kết hợp canh tác theo hướng hữu cơ.

Phát biểu tại hội thảo, Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo cho rằng, hội thảo như là một “hội nghị Diên Hồng” nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu nhất để nâng cao giá trị cây dừa, tạo quy trình khép kín từ trồng, chăm sóc, chế biến và xuất khẩu, bởi hội thảo đã có đủ thành phần từ nhà quản lý, nhà khoa học đến doanh nghiệp, người dân. Thực tế giá dừa trồi sụt bất thường ảnh hưởng rất lớn đến nông dân và doanh nghiệp. Vấn đề này không tự ai có thể làm được mà cần rất nhiều người từ nông dân, doanh nghiệp, nhà quản lý, nhà khoa học. Thời gian qua cây dừa rất thăng trầm, không ổn định, do chưa xây dựng được chuỗi giá trị để đảm bảo tính bền vững. Làm sao để nâng cao hiệu quả cây dừa từ khâu trồng, chăm sóc, chế biến, xuất khẩu, tất cả vì cây dừa Bến Tre. Hội thảo đã tìm ra được bài toán nan giải và qua đó cho thấy việc gì cần làm và nên làm. Đã đến lúc người trồng dừa cần phải thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, chứ sản xuất mang tính hộ gia đình không còn phù hợp nữa. Đã đến lúc phải cùng nhau vượt qua rào cản tâm lý từ người nông dân, các đoàn thể, cách thức tổ chức tập huấn, đặc biệt trong xây dựng các mô hình THT, HTX dừa. Làm sao tăng nhanh số lượng THT, HTX để việc cung cấp dịch vụ, kỹ thuật được tốt hơn, đầu ra, đầu vào ổn định, nhằm khắc phục tình trạng trồi sụt giá dừa, chia sẻ hài hòa lợi ích giữa nông dân, doanh nghiệp. Cho nên phải tập trung liên kết sản xuất tránh tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, nhiều rủi ro, bất lợi. Từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cây dừa, phát triển cây dừa theo hướng hữu cơ, có giống tốt, năng suất, sản lượng cao. Đã đến lúc nhận thức lại cách thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật, đầu ra.

Lãnh đạo tỉnh chủ trì hội thảo. (Ảnh: Hữu Hiệp)

Bí thư Tỉnh ủy mong muốn có sự cam kết giữa doanh nghiệp, nhà quản lý, nhà khoa học và nông dân phải được làm ngay. Để làm được điều này phải chọn người thật sự hiểu biết và làm được để đứng ra tổ chức thành lập các THT, HTX. Ngành nông nghiệp nhất thiết phải xây dựng cho được mô hình đối chiếu để thấy hiệu quả trong liên kết. Vai trò của Sở Khoa học và công nghệ, Trung tâm giống, Trung tâm dừa Đồng Gò là rất quan trọng, không thể chấp nhận cam kết chung chung, phải cụ thể. Các doanh nghiệp thời gian qua có nhiều nỗ lực tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, phong phú, đa dạng, giá trị gia tăng là điều rất đáng được ghi nhận. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng phải nghĩ tới yếu tố bền vững để ổn định nguồn nguyên liệu lâu dài cho nhà máy. Đây là con đường duy nhất của nông dân-doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Thực hiện tốt hơn vai trò dẫn đầu của doanhn nghiệp. Nếu khắc phục được các yếu điểm trên sẽ đưa ngành dừa phát triển xa hơn.

Kết thúc hội thảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Lập cho rằng, theo số liệu thống kê hiện nay toàn tỉnh có trên 70.000 ha dừa, sản lượng hàng năm gần 600 triệu trái. Giá trị sản xuất các sản phẩm dừa chiếm khoảng 20% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Kim ngạch xuất khẩu chiếm trên dưới 25% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Sự thành công và lớn mạnh của ngành dừa đã thật sự trở thành động lực thúc đẩy sản xuất trên nhiều lĩnh vực khác, nhất là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Hiện Bến Tre có 2.000 cơ sở chế biến dừa với nhiều loại hình, quy mô khác nhau. Nhiều sản phẩm có giá trị, được thị trường trong ngoài nước ưa chuộng như sữa dừa, dầu dừa, nước dừa, cơm dừa nạo sấy, kẹo dừa, than hoạt tính. Trong đó, một số sản phẩm đã được các thị trường khó tính chấp nhận như Nhật Bản, E.U, Hoa Kỳ. Thường xuyên tạo việc làm, thu nhập cho hàng trăm ngàn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, công nghiệp và du lịch. Dừa là ngành kinh tế quan trọng và có chiều hướng phát triển tốt, lâu dài tại Bến Tre. Tuy nhiên, sản xuất dừa hiện nay còn nhiều hạn chế như diện tích manh mún, nhỏ lẻ, liên kết sản xuất chưa tốt. Việc tiêu thụ, giá trị gia tăng trong từng phân khúc của ngành chưa thật sự hợp lý. Giá nguyên liệu đôi lúc không ổn định, một số vườn dừa cho năng suất chưa cao, già cỗi. Trong xu thế biến đổi khí hậu như hiện nay, một số vườn dừa có biểu hiện ảnh hưởng, năng suất, sản lượng dừa trái bị giảm đảng kể. Một số nhà máy khó khăn do thiếu nguyên liệu, sự liên kết còn lúng túng, lỏng lẻo. Do vậy, hội thảo cũng đã cơ bản đã tìm ra được nguyên nhân, đề xuất các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống canh tác tổng hợp trong vườn dừa, nhân rộng các mô hình trồng xen nuôi xen, hợp lý, có hiệu quả trong vườn dừa. Đặc biệt là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cải tạo giống, trẻ hoá vườn dừa, phòng trừ dịch hại, liên kết sản xuất với tiêu thụ sao cho hiệu quả, ổn định.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng đã giao cho sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công thương phối hợp triển khai có hiệu quả hơn tinh thần hội thảo trên tất cả các khâu: sản xuất, chế biến, tiêu thụ, đặc biệt là hình thành THT, HTX để kết nối nông dân-doanh nghiệp.

22/05/2017 9:14 SAĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_9_20_8_500.jpg187Hữu Hiệp
Triển lãm bộ ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam
Chào mừng 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5 - 2017), 106 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05 – 6 -1911 - 05 – 6 - 2017), Ban Quản lý Di tích Bến Tre triển lãm bộ ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo quê hương tại chùa Tuyên Linh (xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày Nam).

Chào mừng 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5 - 2017), 106 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (05 – 6 -1911 - 05 – 6 - 2017), Ban Quản lý Di tích Bến Tre triển lãm bộ ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo quê hương tại chùa Tuyên Linh (xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày Nam).

Triển lãm giới thiệu gần 120 hình ảnh, tài liệu về biển đảo Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam. Triển lãm gồm ba phần: Giới thiệu tổng quát về biển đảo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam và một số hình ảnh về biển đảo Việt Nam ngày nay. 

 

Triển lãm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo Việt Nam. (Ảnh: T.H.H.)        

Với tầm nhìn chiến lược vượt thời đại, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ rõ tiềm năng, lợi thế biển đảo của Việt Nam mà còn đặc biệt quan tâm đến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhất là vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Người từng nói: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng ngày càng quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước từ biển. Hơn nữa việc vươn ra biển, làm giàu từ biển theo tư tưởng Hồ Chí Minh là định hướng đúng đắn phù hợp với Việt Nam – một quốc gia có biển và nhiều hải đảo. Những hình ảnh, tư liệu này phản ánh sự đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; xây dựng tình đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng và quốc tế, cùng chiến đấu không mệt mỏi vì sự công bằng, hòa bình và tiến bộ của các dân tộc trên thế giới.

Ngoài ra, triển lãm còn gửi đến những hình ảnh khẳng định ý nghĩa và giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thông qua triển lãm góp phần giới thiệu sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với biển đảo, nhân dân vùng biển đảo và các lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ chủ quyền biển đảo, thể hiện qua lời nói cũng như việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời triển lãm cũng nêu bật sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc thực hiện những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Triển lãm nhằm tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ đảng viên, quần chúng nhân dân về thân thế sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc, đất nước, cách mạng Việt Nam và cách mạng vô sản thế giới; khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tiếp tục vận động cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, đây là một hoạt động văn hóa thiết thực, góp phần làm rõ hơn nữa vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo trong hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và tình hình biển đảo đất nước qua từng thời kỳ. Qua đó, mỗi người dân Việt Nam sẽ càng thêm yêu và có trách nhiệm hơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Triển lãm bắt đầu từ ngày 18/5/2017. 

22/05/2017 9:10 SAĐã ban hànhBài viếtVăn hóa Thể thao
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_22_10_2_50_610.jpg185Trần Hoàng Huấn
Tổng kết, trao thưởng Giải báo chí về Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre năm 2016-2017
Giải thưởng báo chí Khoa học và Công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức từ năm 2012 nhằm mục đích nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông về lĩnh vực này.

Giải thưởng báo chí Khoa học và Công nghệ được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tổ chức từ năm 2012 nhằm mục đích nâng cao nhận thức xã hội về vai trò và tác động của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh công tác truyền thông về lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, Giải thưởng còn tạo động lực, khuyến khích các phóng viên, cơ quan báo chí tích cực tham gia tuyên truyền về KH&CN, góp phần đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào cuộc sống và sản xuất kinh doanh; nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của KH&CN trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Tại Bến Tre, Giải báo chí về Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre lần thứ nhất năm 2016-2017 được phát động từ tháng 9/2016 đến tháng 5/2017, do Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước trao giải Nhì cho các tác giả. (Ảnh Trường Phúc)

Giải thưởng đã có 77 tác phẩm tham gia dự thi, với 03 loại hình báo chí là báo in (có 58 tác phẩm); báo hình (16 tác phẩm) và phát thanh (03 tác phẩm); trong đó có 55 tác phẩm viết về những thành tựu ứng dụng KH&CN trong sản xuất nông nghiệp, chiếm 71,42%.

Các tác phẩm đã phản ánh khá tốt mọi mặt hoạt động KH&CN của các nhà khoa học, của các địa phương, doanh nghiệp cũng như của người dân; đi vào các nội dung cấp bách, phổ biến và thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội. Các tác giả đã đi sâu khai thác, nắm bắt, phát hiện kịp thời những mô hình, quy trình kỹ thuật mới trong canh tác, chăm sóc những vật nuôi, cây trồng có hiệu quả, như: Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy Invitro; xây dựng quy trình nhân giống cây hoa chuông; ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nhân giống hoa kiểng ở Bến Tre; xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao trồng cà chua Picota; chăm sóc cây có múi sau hạn-mặn; hiệu quả mô hình “Thâm canh tổng hợp nhãn Ido”; điều tiết nước hợp lý trong canh tác lúa - Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; biện pháp hạn chế tác hại của phèn, hạn, mặn cho sản xuất lúa vụ hè thu; sử dụng phân hữu cơ trên vườn bưởi da xanh - Giải pháp phát triển nông nghiệp bềnh vững; điều tiết nước hợp lý trong canh tác lúa - Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu; nuôi gà an toàn sinh học; một số vấn đề cần quan tâm trong thâm canh dừa; sáng kiến tưới nhỏ giọt tự động bằng năng lượng. Qua đó, đã tạo được hiệu ứng truyền thông tốt về một số chủ đề thời sự như: gắn nghiên cứu khoa học với doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, góp phần kết nối nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ gắn với sản xuất và đời sống.

Kết quả đã được Hội đồng Giám khảo và Ban Tổ chức xét chọn và trao giải cho 34 tác phẩm, gồm: 03 giải Nhì, 13 giải Ba và 19 giải Khuyến khích (không có giải Nhất).

Trưởng ban Tổ chức Giải, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Nguyễn Quốc Bảo trao giải Ba cho các tác giả. (Ảnh Trường Phúc)

Phát biểu tại buổi lễ tổng kết và trao giải thưởng Giải báo chí về Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre năm 2016-2017, nhân kỷ niệm ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5), Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Hữu Phước đánh giá cao hoạt động của Ban Tổ chức Giải, cũng như sự nhiệt tình tham gia của các tác giả. Đồng thời nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của báo chí, nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức nói chung và kiến thức về KH&CN nói riêng, để báo chí thật sự là sức mạnh của tri thức, thông tin muôn mặt của đời sống đến với mọi người, thật sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong thời gian tới, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị nên duy trì Giải này hàng năm, hoặc tổ chức 02 năm 01 lần. Theo đó, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ, Hội Nhà Báo và các sở, ngành tỉnh cần phối hợp chặt chẽ, đổi mới trong công tác tổ chức, tuyên truyền phát động giải, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông, phổ biến kiến thức cho nhân dân.

Mặt khác, Phó Chủ tịch UBND tỉnh mong muốn các cơ quan, đơn vị, địa phương, tạo điều kiện cho các nhà báo tiếp cận được thông tin cần thiết để viết bài, tác phẩm nhiều hơn. Ngoài ra, các tác giả cần tích cực đi sâu khai thác những vấn đề mới đặt ra, phản ánh được những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là chương trình trọng điểm của tỉnh, để góp phần thúc đẩy nền KH&CN tỉnh nhà phát triển và hội nhập với khu vực và cả nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc thi.

19/05/2017 5:02 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_17_4_40_404.jpg420Trường Phúc
Triển khai tháng cao điểm thực hiện an toàn hành lang đường bộ
Theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, triển khai kế hoạch tháng cao điểm lần này tập trung vào tuyên truyền, vận động nhân dân thực thi pháp luật và đồng thời xử lý những trường hợp không chấp hành tháo dỡ hoặc tái vi phạm an toàn hành lang đường bộ trên địa bàn tỉnh.

Theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh, triển khai kế hoạch tháng cao điểm lần này tập trung vào tuyên truyền, vận động nhân dân thực thi pháp luật và đồng thời xử lý những trường hợp không chấp hành tháo dỡ hoặc tái vi phạm an toàn hành lang đường bộ trên địa bàn tỉnh.

Thời gian triển khai từ ngày 20/5/2017 đến ngày 20/6/2017. Tháng cao điểm tập trung tuyên truyền, phổ biến những nội dung cơ bản về quy định hành lang an toàn đường bộ, vỉa hè đô thị, công tác quản lý xây dựng vỉa hè đô thị và thực hiện nếp sống văn minh đô thị đến mọi người dân. Từng gia đình, cơ quan, tổ chức và nhân dân sống ở ven các tuyến đường phải chấp hành những quy định về hành lang an toàn giao thông đường bộ.

Các hộ dân sống ven các trục giao thông và các tuyến phố phải duy trì chấp hành những quy định về hành lang an toàn đường bộ, công tác quản lý đô thị. Chấp hành tự tháo dỡ các công trình vi phạm, tái vi phạm như xây dựng lều, quán, mái che bán hàng hóa, quán ăn uống, rửa xe, sửa xe trên vỉa hè,... Không đổ vật liệu, rác thải trên vỉa hè, lòng đường để trả lại mặt bằng chung cho đường giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia giao thông.

Sau khi vận động, hộ dân nào không chấp hành tháo dỡ khắc phục vi phạm hoặc tái vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định. Tổ chức giải tỏa dứt điểm các trường hợp vi phạm lấn chiếm hành lang an toàn đường bộ, vỉa hè các tuyến đường trên địa bàn tỉnh gắn với chỉnh trang đô thị. Kiên quyết không để tái lấn chiếm hành lang đường bộ làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông. Đảm bảo và duy trì đường thông hè thoáng trên tất cả các tuyến đường.

19/05/2017 3:39 CHĐã ban hànhTinAn ninh Quốc phòng
2.017
/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg417Tuấn Kiệt
Miền Nam trong trái tim Bác Hồ, mong đợi một ngày Bác sẽ vô thăm
Giờ đây, Bác Hồ đã đi xa gần 48 năm (1969 – 2017), nhưng trong tâm khảm dân tộc Việt Nam luôn nghĩ Bác như vẫn còn đâu đây và sống mãi cùng con cháu, cùng dân tộc Việt Nam. Hàng năm, đến ngày 19/5, người dân cả nước ai ai cũng tưởng nhớ đến Ngày sinh của Bác. Bởi tên tuổi của Người gắn liền với lịch sử của Đảng, với đất nước ta và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới. Bác là người cộng sản mẫu mực, có tư tưởng sáng ngời, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường, tình cảm trong sáng, tác phong khiêm tốn, cuộc sống giản dị; là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trọn cuộc đời của Người đã dành cho sự nghiệp cách mạng và dân tộc Việt Nam với nung nấu một khát vọng cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Giờ đây, Bác Hồ đã đi xa gần 48 năm (1969 – 2017), nhưng trong tâm khảm dân tộc Việt Nam luôn nghĩ Bác như vẫn còn đâu đây và sống mãi cùng con cháu, cùng dân tộc Việt Nam. Hàng năm, đến ngày 19/5, người dân cả nước ai ai cũng tưởng nhớ đến Ngày sinh của Bác. Bởi tên tuổi của Người gắn liền với lịch sử của Đảng, với đất nước ta và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới. Bác là người cộng sản mẫu mực, có tư tưởng sáng ngời, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường, tình cảm trong sáng, tác phong khiêm tốn, cuộc sống giản dị; là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trọn cuộc đời của Người đã dành cho sự nghiệp cách mạng và dân tộc Việt Nam với nung nấu một khát vọng cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Năm Đinh Dậu - 2017, trong những ngày tháng 4, tháng 5, cả nước còn âm vang trong không khí vui tươi phấn khởi với các hoạt động chào mừng kỷ niệm 42 năm Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2017); 63 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2017). Đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Bác (19/5/1890 - 19/5/2017), dịp này các thế hệ dân tộc Việt Nam tự hào, ca ngợi, tôn kính ôn lại những kỷ niệm về vị lãnh tụ thiên tài của đất nước ta - Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn hoá thế giới, là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu nhất của thời đại chúng ta.

Đối với miền Nam, sinh thời Bác luôn nặng lòng và dành cho đồng bào miền Nam những tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất, Bác thường nói: Quê mình ở Nam Đàn - Nghệ An, nhưng mẹ mình mất ở Xứ Huế, cha mình mất ở Cao Lãnh. Quê mình trải dài đất nước, lúc sống, mình đã từng đến Phan Thiết, Sài Gòn,... nhưng nay về nước đã bao nǎm rồi, mà mình vẫn chưa về đến chốn.... Thực dân Pháp dã tâm xâm lược nước ta lần thứ 2, đồng bào Nam Bộ đã vùng lên kháng chiến, nổ phát súng đầu tiên vào kẻ thù. Trải qua chín năm kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1945-1954), đồng bào miền Bắc hưởng cuộc sống hoà bình, trong khi đồng bào miền Nam tiếp tục tranh đấu trước âm mưu phá hoại Hiệp định Ge-ne-vơ chia cắt đất nước của Mỹ-Diệm; đồng bào miền Nam tiếp tục cầm súng đánh Mỹ và tay sai.

 

Bác Hồ chăm sóc cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng. (Ảnh TLLS)

Nhìn lại lịch sử nước ta, khi thực dân Pháp trở lại xâm chiếm lần thứ hai và âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam, cũng như ngay từ đầu Cách mạng Tháng Tám mùa thu năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi chống Mỹ, họng súng của quân xâm lược cùng bè lũ tay sai bán nước ra sức đàn áp dã man tinh thần yêu nước, bất khuất, trung kiên của đồng bào miền Nam. Nỗi đau thương mất mát của đồng bào, cũng là nỗi đau của chính Bác, vì vậy Bác luôn chia sẻ và nói: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của Tôi”. Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ (01/6/1946), Bác đã nêu lập trường: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”. Với đồng bào Nam Bộ ruột thịt, Bác luôn bày tỏ tình cảm sâu sắc cùng với quyết tâm thống nhất đất nước: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”. Hơn ai hết, Bác tin đồng bào miền Nam - những người con trung hiếu, vững vàng bất khuất của Tổ quốc. Có lẽ vậy, ngày 01/01/1956, trong lời chúc mừng năm mới Bác Hồ đã viết: Miền Nam yêu quý của chúng ta luôn xứng đáng là “Thành đồng Tổ quốc”.

Đồng bào miền Nam kính trọng Bác, ngày 30/10/1948, đại biểu miền Nam kính biếu Bác bức hoạ vẽ bằng máu của hoạ sĩ Diệp Minh Châu thể hiện “Bác Hồ và ba em thiếu nhi tượng trưng cho 3 miền Bắc - Trung - Nam” vây quanh Bác rất xúc động. Bức hoạ ấy để khẳng định sự đoàn tụ, hân hoan của cả đất nước với vị lãnh tụ, vị cha già vô vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Niềm thương nhớ miền Nam đã thể hiện trong thư gửi bộ đội và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc (9/1954), Bác viết: “Đến ngày hoà bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta”. Và Bác khẳng định: “Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ - Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên”.

Tấm lòng thương yêu đồng bào miền Nam của Bác vô hạn, đặc biệt Bác chăm sóc các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết ra Bắc, Bác cho xe ôtô đón các cháu từ Hải Phòng về Thủ đô ăn Tết với Bác; xem triển lãm tranh tượng của hoạ sĩ miền Nam; thăm trại an dưỡng, trại thiếu nhi miền Nam. Một số cán bộ từ miền Nam tập kết ra Bắc, đồng bào miền Nam nhờ gửi kính tặng Bác cây vú sữa, Bác đã trồng cây vú sữa đó ngay cạnh ngôi nhà nhỏ ở góc vườn trong khu Phủ Chủ tịch. Năm 1958, khi dựng cho Bác ngôi nhà sàn, khi sang ở ngôi nhà sàn, tuy chỉ cách ngôi nhà cũ khoảng trǎm thước, nhưng Bác vẫn yêu cầu chuyển cả cây vú sữa sang trồng cạnh ngôi nhà sàn. Hàng ngày, ngồi làm việc, Bác vẫn nhìn thấy cây vú sữa của đồng bào miền Nam tặng, để phần nào vơi đi nỗi niềm thương nhớ đồng bào miền Nam của Bác.

 

Bác Hồ xem bức hoạ của hoạ sĩ Diệp Minh Châu gửi tặng. (Ảnh TLLS)

Lần đầu tiên (ngày 20/12/1962) đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc, Bác xúc động ôm hôn Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, đặt tay lên ngực trái mình, Bác nói: “Miền Nam yêu quý luôn luôn trong trái tim tôi”. Khi Bác tiếp chiến sĩ lái tàu mở con đường Hồ Chí Minh trên biển, rồi tiếp đoàn vận tải quân sự 559 (đường Trường Sơn), Bác căn dặn: “Đoàn phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật, phải bất ngờ, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp sức cho cách mạng miền Nam”. Tâm huyết và với nỗi niềm thương nhớ miền Nam, Bác nói: “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...”. Câu nói chí tình ấy của Bác đã làm rung động trái tim những người con Nam Bộ tập kết ra đất Bắc và đem lại cho nhạc sĩ Lưu Cầu cảm xúc, dùng ca từ da diết diễn đạt trong bài hát “Miền Nam nhớ mãi ơn Người”, trong đó có đoạn: “Dẫu núi có mòn mà sông kia có cạn.../ Miền Nam ơi, miền Nam nhớ mãi ơn Người thiết tha?/ Ơ... hai tiếng miền Nam luôn trong tim của Người/ Thương nhớ ngày đêm không phút giây nào nguôi/ Miền Nam anh dũng ở trong tim Người...”. Năm 1963, Bác mời Thượng tướng Trần Văn Trà đến ăn cơm chia tay, trước khi vào Nam chiến đấu, Bác gửi hộp xì-gà Cu Ba của Chủ tịch Phiđen Caxtơrô tặng, Bác nói: “Bác gửi chú món quà này mang về cho anh em trong đó hút để nhớ Bác và nhớ đến Cu Ba anh em. Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam”. Và trước những hành động leo thang chiến tranh xâm lược tàn bạo của Mỹ, tháng 7/1965, Bác khẳng định: “Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng phải kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”.

Thương nhớ miền Nam còn trong máu lửa, không một phút nào Bác không nghĩ đến, thương đồng bào miền Nam bao nhiêu, thì Bác càng vui bấy nhiêu khi được gặp đại biểu của miền Nam. Một buổi chiều nǎm 1965, Bác gặp đoàn anh hùng dũng sĩ miền Nam, vừa thấy Bác, cả đoàn reo lên: “Bác, Bác, Bác ơi! Chúng cháu nhớ Bác quá! Đồng bào miền Nam nhớ Bác quá!”. Nhìn Bác, cả đoàn đều khóc vì sung sướng, vì cảm động và vây quanh Bác như những người con đã xa lâu ngày về quây quần bên cha. Bác xúc động nói: “Bác mong các cháu lắm, Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm”. Rồi Bác hỏi chuyện chiến trường: “Thằng Mỹ to các cháu có sợ không?”. Các cháu thưa: “Chúng cháu cũng như đồng bào ở trong đó không hề sợ lính Mỹ, cũng không sợ gian khổ, không sợ chết mà chỉ sợ một điều: Chúng cháu chỉ sợ bị mù cả hai con mắt, sau này không được nhìn thấy Bác”. Vừa nghe trả lời xong, Bác trào dâng nước mắt, Bác khóc vì Bác thương các cháu, càng thương nhớ miền Nam. Bác cǎn dặn Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng phải làm các món ǎn ngon thì các cháu miền Nam mới ǎn được nhiều, sức khoẻ mới tốt.

Có thể nói, nỗi nhớ miền Nam luôn khát khao cháy bỏng trong Bác. Tháng 02/1966 tuy tuổi cao, sức khoẻ có giảm, Bác nói với Bộ Chính trị: “Đã bao lần tôi yêu cầu vào Nam, sao các chú không thu xếp cho tôi đi?... Sao các chú không để cho tôi đi... Bây giờ còn đang khoẻ, đi lại thuận tiện, không vào Nam Bộ được thì vào Khu Năm hay vào một vùng giải phóng nào đó cũng được. Các chú định khi nào cho tôi đi. Tôi đề nghị mãi mà các chú vẫn cứ từ chối!”.

 

Các thiếu niên miền Nam học tập trên đất Bắc vây quanh Bác Hồ. (Ảnh TLLS)

Sang nǎm 1967, Bác thấy sức khoẻ của mình có phần giảm sút, Bác tích cực đi bộ, có khi tập leo núi cao, với ý định vào thǎm đồng bào, đồng chí miền Nam. Bác đã chính thức nêu ý kiến đó với Bộ Chính trị. Thấy Bác quyết tâm, các đồng chí phụ trách đành phải báo cáo đường đi rất khó khǎn vất vả, e Bác đi không được, Bác nói: “Nếu không có đường nào khác thì tổ chức cho tôi đi bộ. Các chú đi được thì tôi đi được. Đi mỗi ngày một ít. Chưa chắc thua các chú đâu”. Và Bác đã tự thu xếp việc này khá chu đáo, một mặt Bác bảo đồng chí trực tiếp giúp việc Bác hàng ngày để râu để hoá trang, một mặt Bác gửi thư cho đồng chí Bí thư Thứ nhất của Đảng để thu xếp công việc, Bác dặn: “Nhớ lại hồi Nô-en nǎm ngoái, chú có ý khuyên Bác đi thǎm miền Nam sau ngày ta giành thắng lợi hoàn toàn, Bác rất tán thành. Nhưng nay chỉ đổi chữ “sau” thành chữ “trước” ngày thắng lợi hoàn toàn, tức là đi thǎm khi anh em trỏng đang chuẩn bị mở màn thứ 3. Đi thǎm đúng lúc đó mới có tác dụng khuyến khích thêm anh em...”.

Khi gặp đồng chí Phạm Hùng, Hoàng Văn Thái từ miền Nam ra Bắc họp, Bác vẫn nhắc để Bác vào Nam và hỏi: “Các chú có thể chuẩn bị cho Bác sớm vào thăm đồng bào miền Nam được không?” Hai đồng chí thưa: “Chúng cháu nhất định hoàn thành nhiệm vụ để sớm rước Bác vào Nam”. Rồi biết Bộ Chính trị chưa thể bố trí Bác vào Nam trong tình thế chiến tranh còn ác liệt, Bác hỏi đến từng bữa ăn, tiêu chuẩn ăn gạo của chiến sĩ rồi nói: “Hai chú cho Bác gửi lời thăm hỏi đồng bào miền Nam, thăm cán bộ dân chính Đảng, thăm cán bộ và chiến sĩ trong quân đội, các chú phải chuyển lời này cho Bác”. Mỗi khi có chiến sĩ miền Nam thăm, đều được ăn cơm với Bác, món ăn rất đồng quê và Bác thường bảo anh Vũ Kỳ: “Xúc cơm cho thật đầy bát và mọi người ăn cho hết thức ăn”. Còn Bác, cố ăn hết hai bát cơm để các anh về nói đồng bào miền Nam yên tâm, Bác vẫn khoẻ. Có những lần, Bác dặn đồng chí phục vụ: “Hôm nay, Bác mời cơm đồng chí miền Nam, chú nhớ đơm cho Bác bát cơm thật đầy để đồng bào, đồng chí miền Nam an tâm”.

Miền Nam vào những năm chiến tranh ác liệt, Bác thường xuyên gọi điện cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp để hỏi tình hình chiến sự: “Hiện nay miền Nam đánh thắng ở đâu”. Ngày 5/8/1969 Đoàn liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch ra thăm Bác, với tình cảm thương nhớ, nồng ấm, Bác nói: “Bác rất vui mừng gửi đến các cô, các chú lời khen nhiệt liệt nhất, thân ái nhất. Giặc Mỹ đã thua nặng, nhưng chúng vẫn chưa bỏ dã tâm xâm lược, chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta. Vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh đến khi Mỹ - nguỵ thất bại hoàn toàn, cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng”.

Sức khoẻ Bác ngày một giảm, nghĩ đến miền Nam, thương nhớ miền Nam, khi Bác nằm trên giường bệnh, Bác vẫn treo bản đồ miền Nam có các mũi tên chỉ tình hình chiến sự trong những ngày gần nhất và cán bộ tổng tham mưu sáng nào cũng phải báo cáo chiến sự miền Nam với Bác. Khi đã nằm trên giường bệnh, Bác cũng không muốn cho mọi người thấy rằng mình mệt. Cứ sau cơn mệt nặng, lúc tỉnh dậy, câu hỏi đầu tiên của Bác là: “Hôm nay, đồng bào miền Nam đã thắng đến đâu?”. Những ngày Bác nằm trên giường bệnh, Bác vẫn mở đài lắng nghe từng bước, từng chiến công ở ngoài tiền tuyến (chiếc đài này là chiến lợi phẩm mà chiến sĩ ta thu được ở trận Phước Thành tháng 9/1961, các chiến sĩ ta đã gửi ra biếu Bác). Xuân năm 1969, Bác chúc Tết đồng bào cả nước, cũng là niềm khát vọng mong mỏi của Bác trước lúc đi xa: “Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”.

 

Bến Tre với Hội nghị toàn quốc (trực tuyến) Tổng kết 5 năm học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. (Ảnh H.C)

Đồng bào miền Nam cũng thương yêu Bác hơn biển rộng sông dài, tình cảm ấy được nhà thơ Tố Hữu viết: “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”. Với Bác, miền Nam “Thành đồng Tổ quốc”, như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn không bao giờ vơi cạn. Miền Nam chưa giải phóng Bác coi là chưa làm tròn nhiệm vụ. Điều đó thể hiện khi được tin kỳ họp lần thứ 6 Quốc hội khoá II (5/1963) quyết định tặng Bác Huân chương cao quý nhất của nước ta - Huân chương Sao Vàng - Bác chưa dám nhận, Bác tỏ lòng cảm ơn Quốc hội, nhưng xin Quốc hội cho phép: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý ấy, như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”. Hay nhân dịp kỷ niệm 50 nǎm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại (năm 1967), Đảng, Chính phủ Liên Xô (cũ) quyết định trao tặng Bác Huân chương Lênin (Huân chương cao quý nhất của Liên Xô), Bác cũng đề nghị hoãn việc trao Huân chương, chờ đến ngày đất nước ta hoàn toàn độc lập, Bác thay mặt đồng bào cả nước nhận Huân chương cao quý đó.

Miền Nam, đồng bào miền Nam trong trái tim Bác Hồ là thế đấy và miền Nam cũng luôn mong đợi một ngày Bác Hồ sẽ vào thăm. Vì vậy, trong hai cuộc trường chinh kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân miền Nam đã kiên cường anh dũng chiến đấu để Tổ quốc sớm thống nhất, sớm được đón Bác vào thăm, để thoả lòng mong ước của Bác. Rồi đến một ngày cả nhân loại bàng hoàng, nhất là dân tộc Việt Nam khi hay tin ngày 09/9/1969 Đảng ta long trọng tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu ra đi về cõi vĩnh hằng. Đất nước ta thời khắc ấy “Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa”, Bác đã thật sự ra đi về với thế giới người hiền. Dân tộc Việt Nam, Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài, một Người thầy vĩ đại, tổn thất này vô cùng lớn lao, đau thương này thật là vô hạn.

Sau khi Bác Hồ mất, nhiều nơi nhân dân miền Nam, kể cả vùng bị địch tạm chiếm cũng lập đền thờ Bác. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác đã tạo nên sức mạnh dời non, lấp biển, thôi thúc nhân dân hai miền Nam, Bắc tiến lên “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”, làm nên Đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, thoả lòng Bác mong. Ngày đất nước ta trọn niềm vui thống nhất Tổ quốc, tuy không có Bác cùng chung vui, nhưng nhân dân cả nước hân hoan hát vang khúc ca khải hoàn “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Tự hào về Bác, nhớ về Bác, dù ở cương vị nào, mỗi người chúng ta ai ai cũng cần tự giác, thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã hiến dâng trọn cuộc đời, tâm hồn và trí tuệ cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc. Tên của Người - Hồ Chí Minh luôn có sức lan toả và sống mãi trong tâm khảm của các thế hệ dân tộc Việt Nam và cả bạn bè trên thế giới. Trong giai đoạn cách mạng mới, nhất là hiện nay việc tự giác, thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác, dù là học và làm theo một việc nhỏ, đơn giản của Bác, đồng nghĩa chúng ta góp thêm một viên gạch để xây đắp, củng cố vững chắc cho thế trận lòng dân, để gìn giữ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân ngày càng nhiều; tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành mục tiêu “Dâu giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và để thoả lòng mong ước của Bác ngày nào: “Bao giờ Nam - Bắc một nhà/ Dân giàu nước mạnh thì ta vui lòng”.

(Tham khảo nguồn tư liệu lịch sử)

19/05/2017 3:38 CHĐã ban hànhBài viếtChính trị Xã hội
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_15_40_13_139.jpg385Văn Thanh
Công bố quyết định Ngày truyền thống lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách
Ngày 17/5/2017, huyện Chợ Lách long trọng tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017) và công bố Quyết định của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 về công nhận Ngày truyền thống lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (19/5/1960).

Ngày 17/5/2017, huyện Chợ Lách long trọng tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017) và công bố Quyết định của Bộ Tư lệnh Quân khu 9 về công nhận Ngày truyền thống lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (19/5/1960).

Đại tá Lê Văn Hùng - Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre; Thượng tá Đỗ Văn Nốp - Phó trưởng Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bến Tre; ông Phạm Hoàng Hiệp - Bí thư Huyện ủy Chợ Lách; ông Trần Văn Đém - Chủ tịch UBND huyện đến dự.

Trao Quyết định của Quân khu 9 cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện Chợ Lách. (Ảnh: Ngọc Lãm)

Buổi họp mặt đã ôn lại cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là tấm gương sáng ngời của người chiến sĩ cộng sản trọn đời vì nước, vì dân, là biểu tượng của khí phách anh hùng, ý chí độc lập tự cường, kiên trì lý tưởng, sáng tạo, quyết thắng, không khuất phục trước kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cùng với phong trào cách mạng của dân tộc, lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách được hình thành từ những cao trào đấu tranh Cách mạng tháng Tám năm 1945. Các đội vũ trang của huyện tham gia lấy đồn giặc, tiến công vào Chi khu Chợ Lách, hỗ trợ lực lượng chính trị giành chính quyền, góp phần cho cuộc kháng chiến chống Pháp thành công. Sau phong trào Đồng Khởi, lực lượng vũ trang huyện phát triển nhanh chóng, làm nòng cốt cho phong trào quần chúng nổi dậy, diệt ác, phá kìm.

Ngày 19/5/1960, bộ đội địa phương quân của huyện chính thức thành lập gồm 16 đồng chí, sau đó phát triển thành 2 đại đội, tạo thế mạnh quân sự, hỗ trợ phong trào toàn dân đánh giặc. Điểm nổi bật của lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách là: Trong 6 ngày đêm, Tết Mậu Thân năm 1968, quân dân trong huyện đồng loạt tiến công trên địa bàn toàn huyện, sang bằng nhiều đồn tua, ấp chiến lược, tiêu diệt và làm tan rã hàng trăm tên địch, giải phóng vùng đất rộng lớn từ giáp ranh huyện Mỏ Cày đến mỏm đất sông Tiền.

Với nhiều thành tích vẻ vang, quân, dân Chợ Lách được Bộ Tư lệnh Miền tặng 8 chữ vàng “Tấn công ba mặt, giết giặc mở vùng”. Đảng bộ, quân và dân huyện Chợ Lách cùng 7 xã, 3 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 213 mẹ vinh dự được phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; cùng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý khác.

Phát huy tinh thần Đồng Khởi, quyết chiến, quyết thắng, quân và dân huyện Chợ Lách tiếp tục cống hiến sức người, sức của tham gia bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc; thực hiện nghĩa vụ quốc tế; xây dựng quê hương giàu, đẹp; góp phần xây dựng nông thôn mới.

Ngày 13/3/2017, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 quyết định công nhận ngày 19/5 là Ngày thành lập và cũng là Ngày truyền thống của lực lượng vũ trang huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

19/05/2017 3:13 CHĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_15_17_26_904.jpg551Ngọc Lãm
Thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh họp lệ kỳ tháng 5
Ngày 18/5/2017, tại Văn phòng UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Trương Duy Hải và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước chủ trì cuộc họp thành viên UBND tỉnh lệ kỳ tháng 5 để thảo luận, thông qua một số cơ chế, chính sách quan trọng của tỉnh.

Ngày 18/5/2017, tại Văn phòng UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Trương Duy Hải và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước chủ trì cuộc họp thành viên UBND tỉnh lệ kỳ tháng 5 để thảo luận, thông qua một số cơ chế, chính sách quan trọng của tỉnh.

Tại cuộc họp, đại diện Sở Xây dựng đã trình bày Tờ trình xin thông qua phương án đầu tư Dự án Khu dân cư thương mại phường 8, thành phố Bến Tre. Các thành viên UBND tỉnh thống nhất thông qua chủ trương đầu tư dự án, thành viên cũng góp ý sửa tên dự án thành chỉnh trang đô thị.

Công an tỉnh đã trình bày Tờ trình xin thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy cho lực lượng dân phòng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Các thành viên UBND tỉnh thống nhất dự thảo, đồng thời đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh sửa một số nội dung trong dự thảo ngắn gọn, dự trù mức đóng góp cũng như lộ trình xã hội hoá. Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng nên làm thí điểm và phân kỳ từng năm.

Quang cảnh cuộc họp. (Ảnh: Huy Hoàng)

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Hữu Phước cho rằng nên tập trung khai thác lực lượng địa phương, nâng cao ý thức phòng cháy và chữa cháy của người dân, tận dụng phương tiện chữa cháy tại chỗ và xã hội hoá phương tiện phòng cháy và chữa cháy ở địa phương là rất cần thiết.

Chủ tịch UBND tỉnh thống nhất với ý kiến của các thành viên nên phân kỳ trang bị phương tiện lần đầu cho lực lượng dân phòng.

Công an tỉnh đã trình bày Tờ trình về việc ban hành nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 13/2008/NQ-HĐND ngày 23 tháng 7 năm 2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre về việc quy định chế độ, chính sách, trang bị phương tiện cho lực lượng bảo vệ dân phố.

Theo ý kiến của các thành viên UBND tỉnh, do nghị quyết này còn nhiều quy định chồng chéo, do đó các thành viên đề nghị cơ quan soạn thảo nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 13 để phân nguồn ngân sách, thẩm quyền đúng với quy định.

Tại cuộc họp, Sở Kế hoạch và Đầu tư trình bày Tờ trình xin thông qua dự thảo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2017; nghị quyết về bổ sung một số giải pháp tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2017.

Các thành viên UBND tỉnh thống nhất với báo cáo. Tuy nhiên, theo các thành viên báo cáo nên đánh giá cụ thể hơn từng lĩnh vực, nêu lên những thuận lợi, khó khăn cũng như những biện pháp khắc phục. Báo cáo cần đưa ra dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm.

Đồng thời Sở Kế hoạch và Đầu tư trình bày Tờ trình xin thông qua dự thảo nghị quyết về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các thành viên UBND tỉnh thống nhất thông qua dự thảo, các thành viên đề nghị cơ quan soạn thảo chỉnh sửa một số nội dung trong dự thảo ngắn gọn, bỏ một số điều trong dự thảo do chồng chéo. Bên cạnh đó, một số thành viên góp ý chờ Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời mới ban hành nghị quyết về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến thương mại tìm đầu ra cho sản phẩm, đăng ký sở hữu trí tuệ thương hiệu cho doanh nghiệp.

Các thành viên UBND tỉnh thống nhất thông qua các Tờ trình nghị quyết về việc quy định mức chi đảm bảo hoạt động của Ban Chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Tờ trình về việc xin tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06/2015/NQ-HĐND; Tờ trình về việc dự thảo báo cáo ước thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và biện pháp thực hiện dự toán ngân sách tỉnh 6 tháng cuối năm 2017.

19/05/2017 3:11 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_15_12_14_842.jpg406Huy Hoàng
Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng tiếp nhà đầu tư dự án nhà máy tái chế nước
Sáng 19/5/2017, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Cao Văn Trọng đã tiếp và làm việc với đại diện Công ty Cổ phần SX-TM NID để nghe trình bày đề xuất dự án xây dựng nhà máy tái chế nước thải thành nước sạch bằng công nghệ lọc hiện đại.

Sáng 19/5/2017, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Cao Văn Trọng đã tiếp và làm việc với đại diện Công ty Cổ phần SX-TM NID để nghe trình bày đề xuất dự án xây dựng nhà máy tái chế nước thải thành nước sạch bằng công nghệ lọc hiện đại.

Quang cảnh cuộc làm việc. (Ảnh: Trương Hùng)

Theo Công ty NID, dự án nhà máy tái chế nước có công suất ban đầu dự kiến là 9.000m3/ngày đêm, nhu cầu diện tích mặt bằng để xây dựng nhà máy là khoảng 3.644m2, vị trí tại khu vực Khu công nghiệp Giao Long và Cụm công nghiệp Long Phước. Mục đích xây dựng nhà máy là để cung cấp nước sạch cho các doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất trong Khu công nghiệp Giao Long. Sau một thời gian hoạt động, nếu nhu cầu cung cấp nước sạch tại các khu, cụm công nghiệp tăng lên, nhà máy sẽ được đầu tư tiếp và nâng công suất lên 15.000m3/ngày đêm. Bùn thải sau khi tái chế nước không thải ra môi trường mà sẽ được thu hồi.

Các sở, ban, ngành tỉnh đã trao đổi với nhà đầu tư một số vấn đề về giá cung cấp nước sạch, về vị trí xây dựng nhà máy, công suất đầu ra của nhà máy, đầu tư hệ thống phân phối nước và sự hài hoà lợi ích với doanh nghiệp cung cấp nước hiện tại.

Chuyên gia tư vấn công nghệ thuyết minh về công nghệ lọc hiện đại sẽ áp dụng cho dự án. (Ảnh: Trương Hùng)

Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, việc bảo đảm nguồn nước cho các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp nói chung là trách nhiệm của lãnh đạo tỉnh đối với các nhà đầu tư. Mặt khác, vấn đề bức xúc nhất hiện nay là làm sao giải quyết cho được bài toán nước thải từ các khu, cụm công nghiệp. Hiện nay, khi các doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn, sẽ phải đầu tư thêm một đường ống dẫn nước thải sau khi xử lý ra môi trường. Vì vậy, Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá dự án đầu tư nhà máy tái chế nước thải mang lại lợi ích kéo theo là giúp doanh nghiệp trong các khu công nghiệp giảm được chi phí cho việc lắp đặt hệ thống dẫn ước thải sau xử lý.

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng phát biểu tại cuộc làm việc. (Ảnh: Trương Hùng)

Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng cho rằng, nhà đầu tư cũng cần tính toán mức giá nước thành phẩm sao cho hợp lý, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong các khu công nghiệp giảm chi phí sản xuất thì đầu ra của dự án mới khả quan. Hiện tại việc cung cấp nước cho các doanh nghiệp trong các khu, cụm công nghiệp (cụ thể là Khu công nghiệp Giao Long) tỉnh đã giao cho Công ty Cổ phần Cấp – thoát nước Bến Tre đảm trách. Như vậy, khi đầu tư nhà máy tái chế nước sẽ làm nảy sinh sự cạnh tranh cung cấp nước với Công ty này. Chính vì thế, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu phải có sự phối hợp hài hoà giữa nhà đầu tư với Công ty Cổ phần Cấp – thoát nước Bến Tre. Được như thế sẽ giúp nhà đầu tư tiết kiệm một khoản chi phí để lắp đặt hệ thống phân phối nước thành phẩm.

Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị hai bên cần bàn bạc kỹ với nhau để đi đến thống nhất phương án phối hợp. Sau khi đã thống nhất, trình phương án lên UBND tỉnh để cấp chủ trương đầu tư và sau đó là tiến hành các bước tiếp theo để triển khai dự án.

19/05/2017 3:03 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_15_5_31_576.jpg409Trương Hùng
Thành ủy Bến Tre tổ chức Lễ trao tặng và truy tặng Huy hiệu Đảng đợt 19-5
Sáng ngày 18/5/2017, Thành ủy Bến Tre đã long trọng tổ chức Lễ trao tặng và truy tặng Huy hiệu Đảng cho 409 đồng chí đảng viên có tuổi đảng từ 30-70 (trong đó có 40 đồng chí truy tặng), đang sinh hoạt tại các chi, đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Thành phố. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi đến dự.

Sáng ngày 18/5/2017, Thành ủy Bến Tre đã long trọng tổ chức Lễ trao tặng và truy tặng Huy hiệu Đảng cho 409 đồng chí đảng viên có tuổi đảng từ 30-70 (trong đó có 40 đồng chí truy tặng), đang sinh hoạt tại các chi, đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Thành phố. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi đến dự.

Đại biểu dự lễ trao tặng Huy hiệu Đảng. (Ảnh: Hữu Hiệp)

Tại buổi lễ, Chủ tịch UBND thành phố Bến Tre Cao Thành Hiếu đã ôn lại truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong thời kỳ kiến thiết đất nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Việc tổ chức trao tặng, truy tặng Huy hiệu Đảng là sự ghi nhận của Đảng đối với những đảng viên có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là niềm vinh dự của đảng viên được nhận mà còn là niềm vinh dự, tự hào chung của Đảng bộ Thành phố.

Ông Nguyễn Minh Huyền, ở xã Phú Nhuận, là đảng viên nhận Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng xúc động nói: “Tôi tham gia cách mạng từ khi 15 tuổi đến 24 tuổi đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trải qua bao khó khăn, vất vả, tù đày, nhưng tôi vẫn một lòng trung kiên theo Đảng đến cùng. Tôi rất tự hào vì những năm tháng đó đã đóng góp hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Tôi luôn tuyệt đối giữ niềm tin vào Đảng, luôn giữ mình và sẽ mãi mãi là tấm gương để thế hệ trẻ noi theo. Tôi cũng băn khoăn khi một ít đảng viên trẻ bây giờ thiếu gắn bó với Đảng nên cần tạo điều kiện để họ gần với Đảng hơn, để họ tiếp tục cống hiến.”

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên. (Ảnh: Hữu Hiệp)

Phát biểu tại lễ trao tặng, truy tặng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phan Văn Mãi cho rằng đây là một hoạt động rất có ý nghĩa. Huy hiệu Đảng là sự ghi nhận những đóng góp to lớn, tôn vinh tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên có quá trình cống hiến lâu dài, là niềm tự hào khi Đảng bộ Thành phố có nhiều đảng viên được trao tặng, truy tặng, nhất là đối với các đảng viên 60, 70 tuổi Đảng. Đặc biệt, có rất nhiều đảng viên nhận Huy hiệu Đảng là những người thân, anh em trong gia đình, vợ chồng. Đây là những người tiên phong đi đầu, là những tấm gương sáng ngời để các thế hệ trẻ noi theo.

Theo Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, sinh nhật Bác năm nay có rất nhiều hoạt động có ‎ý nghĩa như sơ kết 1 năm học tập và làm theo Bác, đưa việc học và làm theo Bác trở thành việc làm thiết thực, hiệu quả hơn, nhất là trong việc chống tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đảng cũng kiên quyết, xử lý‎ nhiều việc tham nhũng, tiêu cực để tiếp tục xây dựng chỉnh đốn Đảng, thể hiện quyết tâm của Đảng trong công tác chỉnh đốn Đảng để Đảng mạnh hơn.

Nhân dịp này, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy cũng thông tin nhanh với các đảng viên về tình hình công tác tổ chức, xây dựng Đảng, tình hình kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh và nhiều điểm mới của tỉnh đang triển khai như phong trào Đồng Khởi mới, Đồng Khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp, phong trào xây dựng nông thôn mới, văn minh độ thị và các phong trào hành động cách mạng tại địa phương, để tăng tốc hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết năm 2017, phấn đấu đến năm 2020 thu nhập ngang bằng mức bình quân khu vực ĐBSCL và cả trước, hướng đến tự cân đối ngân sách.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy cũng đề nghị các địa phương tiếp tục quan tâm chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thẩn của đảng viên; kêu gọi cán bộ, đảng viên quan tâm, góp ‎ý với Đảng bộ tỉnh các vấn đề về kinh tế-xã hội, xây dựng Đảng hiện nay.

19/05/2017 2:53 CHĐã ban hànhBài viếtChính trị Xã hội
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_19_15_9_49_29.jpg364Hữu Hiệp
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc: Mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng, không phân biệt công hay tư
Ngày 17/5/2017, Thu tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các Phó Thủ tướng đã chủ trì Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp chủ đề “Đồng hành cùng doanh nghiệp”. Khoảng 2.000 đại biểu doanh nghiệp và các bộ ngành trung ương tham dự trực tiếp tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Văn Trọng chủ trì điểm cầu Bến Tre tham dự hội nghị.

Ngày 17/5/2017, Thu tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các Phó Thủ tướng đã chủ trì Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp chủ đề “Đồng hành cùng doanh nghiệp”. Khoảng 2.000 đại biểu doanh nghiệp và các bộ ngành trung ương tham dự trực tiếp tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Văn Trọng chủ trì điểm cầu Bến Tre tham dự hội nghị.

 

Bí thư Tỉnh ủy Võ Thành Hạo (bên phải) và Chủ tịch UBND tỉnh Cao Văn Trọng chủ trì điểm cầu Bến Tre dự hội nghị. (Ảnh: Trương Hùng)

Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp năm 2017 được đánh giá là một “Hội nghị Diên Hồng” về kinh tế với quy mô tổ chức lớn chưa từng có. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh Trung ương Đảng vừa tổ chức Hội nghị lần thứ 5 trong đó thảo luận và thông qua Nghị quyết về “phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, do đó cũng được xem là một bước cụ thể hóa chủ trương của Đảng.

Tại Hội nghị, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các bộ, ngành trung ương đã tiếp nhận hàng chục ý kiến phản ánh của các doanh nghiệp về tình hình hoạt động kinh doanh, về những khó khăn, vướng mắc mà doanh nghiệp vẫn gặp phải dù Chính phủ đã có ban hành 3 Nghị quyết số 19, số 35 và số 01 để hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, vấn đề chi phí bôi trơn trong mọi hoạt động của doanh nghiệp là nổi cộm hơn hết. Nhiều ý kiến doanh nghiệp đề xuất Chính phủ tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng, tạo điều kiện thông thoáng hơn nữa để doanh nghiệp sản xuất, phát triển.

Đáp lại những ý kiến phản ánh của doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã nêu bật điều bất cập lớn nhất gây khó khăn cho doanh nghiệp chính là hoạt động thanh tra, kiểm tra quá nhiêu khê, chồng chất. Trên tinh thần “nói và làm ngay”, Thủ tướng đã công bố ngay tại hội nghị Chỉ thị số 20 vừa được ký ban hành trước đó đúng 20 phút. Đây là Chỉ thị quy định bắt buộc hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp không được quá 1 lần trong năm; nếu có thanh tra, kiểm tra đột xuất, theo chuyên đề thì không được mở rộng nội dung thanh - kiểm tra.

Điểm lại một năm thực hiện Chỉ thị số 35 của Chính phủ về Hỗ trợ doanh nghiệp đến năm 2020, Thủ tướng đánh giá cả nước đã đạt được một số kết quả nhất định. Đó là Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản điều hành, tích cực rà soát và cắt giảm nhiều thủ tục, giấy phép nhằm tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến (đăng ký kinh doanh, khai thuế, hải quan, thanh toán phí, lệ phí điện tử,...) nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; các điều kiện kinh doanh đã được cải thiện tốt hơn. Qua đó, bức tranh kinh tế Việt Nam sáng lên, tốt hơn. Ngoài ra, việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong một năm qua cũng góp phần tạo “lực đẩy” để các địa phương trong cả nước tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận lợi cho người dân.

 

Điểm cầu Bến Tre dự hội nghị. (Ảnh: Trương Hùng)

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được cũng còn một số bất cập, nhiều rào cản trên đường phát triển doanh nghiệp. Về thể chế chính sách, Thủ tướng cho rằng vẫn còn nhiều mâu thuẫn trong các văn bản dưới luật, còn nhiều vướng mắc gây mất thời gian cho doanh nghiệp. Thủ tướng cho rằng, phải xây dựng thể chế công bằng giữa khu vực công và tư nhân. Thủ tướng đề nghị các doanh nghiệp, các hiệp hội cần góp ý xây dựng thể chế chính sách để góp phần giúp Chính phủ tạo môi trường đầu tư, kinh doanh tốt hơn. Một vấn để nổi cộm nữa là thuế, phí còn cao, không chỉ có những chi phí liên quan đến thủ tục hành chính mà còn những chi phí bến bãi, cầu đường, đặc biệt là chi phí “bôi trơn” không chính thức. Doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn thuế giá trị gia tăng. Thủ tục hành chính trong cấp phép, điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực còn gây khó khăn cho doanh nghiệp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chồng chéo, kém hiệu quả, gây bức xúc cho doanh nghiệp.

Thủ tướng cho rằng trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung giải quyết hai vấn đề then chốt. Thứ nhất là tiếp tục kiến tạo môi trường kinh doanh công bằng, thân thiện, khuyến khích đầu tư, bảo đảm thực thi pháp luật, môi trường vĩ mô ổn định, đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật, thực thi công vụ nghiêm túc từ trung ương đến địa phương, không được gây nhũng nhiễu, khó khăn cho doanh nghiệp. Thủ tướng yêu cầu Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bộ trưởng theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện việc đảm bảo không gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo đuổi mục tiêu phát triển một cách xuyên suốt, nhất quán trên nền tảng cải cách thể chế theo hướng cởi mở, thân thiện, trao cơ hội cho mọi thành phần kinh tế đóng góp và hưởng lợi từ những thành quả tăng trưởng một cách bình đẳng, công bằng. Thủ tướng nhấn mạnh: mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng, không phân biệt công hay tư.

Thủ tướng cho biết, Chính phủ sẽ hoàn thiện, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ III các dự án luật, trong đó có dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhanh chóng ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành, đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi những quy định về thuế, hải quan theo hướng liên thông giữa các bộ, cơ quan liên quan để giảm thủ tục, giảm thời gian và chi phí thực hiện.

 

Thủ tướng Chính phủ phát biểu kết luận hội nghị. (Ảnh chụp qua mành hình. Ảnh: Trương Hùng)

Thủ tướng nhấn mạnh phải giảm phí cho doanh nghiệp, và gọi năm nay là Năm giảm phí cho doanh nghiệp. Theo đó, Chính phủ sẽ rà soát các quy định và thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, như: chi phí thủ tục hành chính, thuế, hải quan, giấy phép, phí BOT, chi phí về logistics, chi phí sử dụng dịch vụ công, nhất là chi phí kiểm định, thẩm định, giám định,...

Chủ trương thứ hai của Chính phủ là nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, tối ưu hóa các thành tựu khoa học công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cụ thể là xây dựng, kiến tạo yếu tố để tạo lợi thế cạnh tranh cho nền kinh tế, như cơ sở hạ tầng thông minh, phát triển hệ thống tài chính, cải cách giáo dục, nâng cao trình độ nghề nghiệp, cải thiện chất lượng đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, khoa học công nghệ,...

Thủ tướng khẳng định, Chính phủ sẽ kết hợp một cách tối ưu các nguồn lực và công cụ chính thức nhằm tạo những điều kiện cho kinh tế tư nhân giảm thiểu chi phí, tăng năng lực cạnh tranh trong kinh doanh và hội nhập quốc tế. Xây dựng thương hiệu sản phẩm Việt Nam. Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước và của doanh nghiệp để tương thích với sự phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay và xu hướng tương lai.

Thủ tướng cho rằng để thực hiện được tất cả những việc nêu trên cần có sự đồng lòng, đồng tâm của tất cả các doanh nghiệp, doanh nhân, cùng với quyết tâm của hệ thống chính trị, của Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương, trong đó yếu tố con người đóng vai trò quyết định.

Đối với doanh nghiệp, Thủ tướng kêu gọi: “Tôi nghĩ rằng bình minh đang đến với đất nước ta. Tôi tin tưởng các bạn, những nhà doanh nghiệp sẽ đóng góp cho một bình minh rực sáng trên Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Với tinh thần đó, tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ xây dựng một hệ sinh thái lành mạnh mà ở đó tất cả các thành phần kinh tế đều phát triển bình đẳng, kết nối và hỗ trợ nhau, đem lại sự thịnh vượng kinh tế chung cho Việt Nam.”

18/05/2017 2:35 CHĐã ban hànhBài viếtHoạt động của Lãnh đạo
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_18_14_46_53_185.jpg479Trương Hùng
Chợ Lách tiếp tục quan tâm khai thác thế mạnh từ du lịch
Nông dân huyện Chợ Lách đầu tư phát triển du lịch sinh thái dựa trên việc khai thác thế mạnh của địa phương với nghề truyền thống sản xuất cây giống, hoa kiểng và trồng cây ăn trái đặc sản như chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, bưởi da xanh. Đến nay toàn huyện có hơn 10 điểm du lịch sinh thái tại các xã Phú Phụng, Vĩnh Bình, Sơn Định, Vĩnh Thành, Hưng Khánh Trung B và thị trấn Chợ Lách, mỗi năm tiếp đón hàng chục ngàn lượt du khách đến tham quan.

Nông dân huyện Chợ Lách đầu tư phát triển du lịch sinh thái dựa trên việc khai thác thế mạnh của địa phương với nghề truyền thống sản xuất cây giống, hoa kiểng và trồng cây ăn trái đặc sản như chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, bưởi da xanh. Đến nay toàn huyện có hơn 10 điểm du lịch sinh thái tại các xã Phú Phụng, Vĩnh Bình, Sơn Định, Vĩnh Thành, Hưng Khánh Trung B và thị trấn Chợ Lách, mỗi năm tiếp đón hàng chục ngàn lượt du khách đến tham quan.

Tuy nhiên, so với các địa phương trong và ngoài tỉnh, loại hình kinh doanh du lịch sinh thái tại huyện Chợ Lách phát triển chưa phong phú; các điểm du lịch hình thành mang tính tự phát, quy mô nhỏ, chưa được đầu tư nâng cấp; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch, từ đó chưa thu hút nhiều khách đến tham quan.

Du lịch trên sông được du khách ưa thích. (Ảnh: Trúc Ly)

Để tiếp tục phát huy thế mạnh của địa phương từ nghề truyền thống sản xuất cây giống, hoa kiểng và trồng cây ăn trái gắn với phát triển du lịch, tạo điều kiện cho người dân từng bước vươn lên, huyện Chợ Lách có kế hoạch phát triển du lịch năm 2017 dựa trên các loại hình du lịch chính là du lịch văn hóa, tâm linh; du lịch trải nghiệm cuộc sống; du lịch nghỉ dưỡng, ẩm thực. Phấn đấu thu hút hơn 48.000 lượt du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, tổng doanh thu hơn 30 tỷ đồng.

Để đạt được mục tiêu trên, Chợ Lách quan tâm phát triển các điểm du lịch, xây dựng các chương trình tham quan du lịch và hoạt động hỗ trợ, quảng bá, nâng chất du lịch. Cụ thể, tiếp tục vận động các điểm du lịch hiện có nâng cấp, mở rộng diện tích đón khách, mở rộng các loại hình phục vụ, xây dựng, trang trí địa điểm, nơi đón khách đảm bảo mỹ quan, sạch đẹp; liên kết các vườn cây ăn trái phục vụ du khách.

Vận động các hộ dân có vườn cây xanh-sạch-đẹp phát triển điểm du lịch gia đình. Phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Di sản văn hóa Bến Tre xây dựng nâng cấp nhà bia Trương Vĩnh Ký tại xã Vĩnh Thành; xây dựng chương trình tour du lịch 01, 02 ngày tại các điểm du lịch trên địa bàn huyện, lộ trình từ xã Hưng Khánh Trung B đến xã Phú phụng.

Hoạt động nổi bật trong các tour du lịch bao gồm: tham quan vườn ươm cây giống, hoa kiểng; bia tưởng niệm nhà bác học Trương Vĩnh Ký; tham quan vườn cây ăn trái, thưởng thức trái cây đặc sản, khám phá cảnh quan thiên nhiên trên cồn Phú Đa, Phú Bình; tát mương bắt cá, chế biến món ăn tại các điểm du lịch; trải nghiệm với nghề uốn sửa kiểng của các nghệ nhân.

Song song đó, để tiếp tục thu hút lượng du khách đến với vùng quê Chợ Lách, huyện còn chú trọng các hình thức quảng bá về tiềm năng du lịch sinh thái ở Chợ Lách đến mọi miền; quan tâm đầu tư xây dựng các tuyến giao thông tại các xã, thị trấn; tôn tạo nâng cấp, tu bổ các bia, tượng, trên địa bàn nhằm góp phần phát triển du lịch; kết hợp phát triển kinh tế vườn và du lịch sinh thái, du lịch miệt vườn với ưu thế vườn cây ăn trái, các làng nghề cây giống, hoa kiểng.

Nâng chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, phát triển làng nghề gắn với du lịch. Xây dựng mô hình vườn cây ăn trái an toàn, hoa kiểng xanh-sạch-đẹp làm điểm du lịch thường xuyên cho khách tham quan, thưởng thức trái cây tại vườn.

Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, vận động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, xem du lịch cũng là một hình thức quảng bá cho sản phẩm nông nghiệp có hiệu quả, là ngành du lịch tạo sản phẩm đầu ra tại chỗ, nhất là vào dịp tết, lễ hội cây trái ngon an toàn; đồng thời quan tâm đảm bảo an ninh, trật tự an toàn cho du khách đến tham quan; có cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch bằng nhiều hình thức như ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất vay, tạo môi trường pháp lý thông thoáng để cá nhân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư phát triển du lịch.

Ngoài ra, để Chợ Lách thật sự là điểm đến, là sự chọn lựa của du khách, bên cạnh việc quan tâm đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông, phát triển các điểm du lịch, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho du lịch phát triển, Chợ Lách còn quan tâm về mặt nhân lực và đầu tư tài chính. Theo đó, huyện phối hợp các sở, ban, ngành tỉnh tổ chức các lớp tập huấn kinh doanh du lịch, văn hóa du lịch cho cán bộ công chức quản lý du lịch cấp huyện, xã, các điểm kinh doanh du lịch. Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm về phát triển du lịch tại các vùng, miền có du lịch phát triển mạnh. Riêng tại các điểm kinh doanh du lịch để tạo được dấu ấn cho du khách khi đến tham quan, bên cạnh việc nâng cấp mở rộng diện tích, đa dạng hóa các loại hình du lịch, tạo cảnh quan môi trường sạch đẹp, an toàn, đòi hỏi nhân viên phục vụ phải có thái độ ân cần, lịch sử, thân thiện đối với du khách. Đối với các hộ sản xuất cây giống, hoa kiểng, làng nghề không ngừng nâng cao tay nghề, tìm tòi học hỏi tạo, ra những sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu du khách khi đến tham quan.

18/05/2017 8:56 SAĐã ban hànhBài viếtDu lịch
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_18_9_1_29_830.jpg494Trúc Ly
Giồng Trôm: Phát động cuộc vận động Xây dựng phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ
Nhằm xây dựng mỗi cán bộ, chiến sĩ công an toàn huyện có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh và văn hóa giao tiếp ứng xử chuẩn mực, thể hiện hình ảnh đẹp về người chiến sĩ công an trong lòng nhân dân, Công an huyện Giồng Trôm đã tổ chức lễ phát động thực hiện cuộc vận động Xây dựng phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ vào ngày 16/5/2017.

Nhằm xây dựng mỗi cán bộ, chiến sĩ công an toàn huyện có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh và văn hóa giao tiếp ứng xử chuẩn mực, thể hiện hình ảnh đẹp về người chiến sĩ công an trong lòng nhân dân, Công an huyện Giồng Trôm đã tổ chức lễ phát động thực hiện cuộc vận động Xây dựng phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ vào ngày 16/5/2017.

Thượng tá Huỳnh Văn Nỉ - Phó trưởng Công an huyện ra lời kêu gọi tại lễ phát động. (Ảnh: Diệu Hiền)

Tại lễ phát động, đại diện Ban chỉ huy công an huyện đã phát động trong toàn thể cán bộ, chiến sĩ công an huyện thực hiện tốt cuộc vận động, với các nội dung như: Tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, học tập, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ công an và nội dung biện pháp thực hiện cuộc vận động cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an từ huyện đến cơ sở; tăng cường công tác phối hợp tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, tác phong chính quy trong công tác, chiến đấu, sinh hoạt, đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ; xây dựng, thực hiện các tiêu chí về phong cách người công an có bản lĩnh chính trị tư tưởng vững vàng, tác phong chính quy trong công tác, chiến đấu sinh hoạt, các quy định về quy tắc văn hóa ứng xử, về chuẩn mực đạo đức, lối sống văn hóa của cán bộ, chiến sĩ; thường xuyên bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, pháp luật, năng lực thực thi công vụ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho cán bộ chiến sĩ; phối hợp Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân giám sát, đóng góp ý kiến về phong cách, đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, tư thế, tác phong, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ; đẩy mạnh tuyên truyền về phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ.

Các đội trực thuộc Công an huyện ký kết giao ước thi đua quyết tâm thực hiện tốt cuộc vận động. (Ảnh: Diệu Hiền)

Đại diện Đội cảnh sát giao thông – trật tự cơ động Công an huyện, Trưởng công an xã Lương Hòa đã phát biểu hưởng ứng. Các đội trực thuộc Công an huyện, công an các xã, thị trấn cũng đã ký kết giao ước thi đua quyết tâm thực hiện tốt cuộc vận động Xây dựng phong cách người công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ.

17/05/2017 3:58 CHĐã ban hànhBài viếtTin Huyện Thành phố
2.017
/PublishingImages/2017-05/avatar2017_5_17_16_18_5_776.jpg745Diệu Hiền
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(075)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer