Skip to main content
Hôm nay: Thứ bảy, 25/10/2014 06:07

Xà bông Cô Ba từ cây dừa Bến Tre

Một lần tình cờ vô siêu thị Coop.Mark Bến Tre, tôi bỗng thấy khá nhiều xà bông Cô Ba trưng bày trên kệ. Chúng chễm chệ, kiêu kỳ không kém các sản phẩm nổi tiếng bên cạnh như Lux, Camay, Enchenteur… Cầm một hộp ngửi thử, cái hương thơm chân chất ngọt ngào của nó vẫn y như hồi bốn chục năm về trước. Má tôi buộc miệng: “Cái này hồi tụi bây còn nhỏ tao mua cho tắm hoài. Trong tủ lúc nào cũng để một hộp cho thơm quần áo…”

Thương hiệu Việt từ năm 1930

Hóa ra tới bây giờ người ta vẫn còn làm ra nó. Lần theo địa chỉ ghi trên nhãn hộp, tôi tìm đến số 40 đường Kim Biên, quận 5, TP HCM. Đó là một dãy nhà lớn bên hông chợ Kim Biên ngày nay. Mặt dựng trước dãy nhà vẫn còn nguyên cái logo nổi hình người phụ nữ đầu búi tóc, vẻ dịu dàng thanh thoát. Nhìn biết ngay đó là Cô Ba, biểu tượng của người phụ nữ Nam bộ. Chỉ có điều hơi khác, bên dưới logo trước kia có hàng chữ “Công ty Trương Văn Bền và các con”, nay đã thay thế bằng “Công ty Phương Đông”.

Hình ảnh Cô Ba trên thương hiệu xà bông Cô Ba nức tiếng hơn 80 năm.

Ông Nguyễn Đức Hiệp, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần sản xuất Thương mại Phương Đông, xác nhận: “Cơ sở này trước kia chính là của ông Trương Văn Bền, chuyên sản xuất xà bông cục 72% dầu có nhãn hiệu “xà bông Việt Nam”, với xuất xứ từ nguyên liệu cây dừa Bến Tre. Và sản phẩm độc đáo nhất chính là cục xà bông thơm mang nhãn hiệu “xà bông Cô Ba” nức tiếng một thời. Năm 1977, người con út của ông là Trương Khắc Cẩn vẫn còn làm Phó Giám đốc. Năm 1995, công ty được cổ phần hóa do nhà nước quản lý. Hiện nay công ty vẫn tiếp tục sản xuất sản phẩm xà bông Cô Ba bởi nhiều người lớn tuổi vẫn còn ưa dùng. Và trên hết là bảo tồn một thương hiệu truyền thống khắc sâu lòng người hơn 80 năm qua”.

Tại Bảo tàng TP HCM hiện nay vẫn còn lưu giữ những hiện vật ít ỏi còn lại của thương hiệu nổi tiếng một thời này. Đó là một bộ khuôn dập nhãn hiệu xà bông Cô Ba, những vỏ hộp in hình người phụ nữ Nam bộ có gương mặt phúc hậu, mặc áo dài đen, cổ đeo dây chuyền vàng đóng khung trong hình oval; những cục xà bông đã ngã vàng là xà bông đá nhãn hiệu Việt Nam; cục xà bông thơm màu xanh, một mặt in chữ nổi “CoBa”, mặt kia in hình logo Cô Ba đầu búi tóc cao quen thuộc.

Đặc biệt, trong số hiện vật trưng bày còn có tờ rơi quảng cáo in hình vận động viên cách điệu cục xà bông đang trên đường chạy, bên dưới ghi hàng chữ “bao giờ cũng nhứt” rất ngộ nghĩnh. Từ hồi xưa, ông Trương Văn Bền đã nghĩ ra cách quảng cáo sản phẩm cực kỳ độc đáo như vậy. Ngoài ra, gian trưng bày còn có danh thiếp ghi rõ tên công ty bằng tiếng Pháp cùng với nhãn hiệu “Cô Ba” quen thuộc với hàng chữ “Fonde En 1930 – Ets Truong-Van-Ben & Fils S.A - Huilerie et Savonnerie Vietnam (thành lập năm 1930 – Công ty Trương Văn Bền và Các con - Dầu và Xà bông Việt Nam).

Cô Nguyễn Thị Thu Vân, cán bộ Bảo tàng TP HCM, cho biết: “Những hiện vật trên do một người dân gửi tặng. Tư liệu về hãng xà bông này còn rất ít, những người thân, con cháu của ông Bền hiện nay đều ở nước ngoài nên rất khó tìm. Việc trưng bày những hiện vật nói trên nhằm đánh dấu một bước thành công của nền kỹ nghệ Việt Nam lúc bấy giờ, trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, hai miền bị chia cắt. Bởi xà bông Cô Ba lúc đó đã đánh bật được xà bông Marseille nổi tiếng của Pháp nhập từ chính quốc”.

Nhà kỹ nghệ doanh thương

Đó là biệt danh người đời đặt cho ông Trương Văn Bền thời đó, bởi ông là người Việt Nam đầu tiên thành công trong ngành kỹ nghệ đầu thế kỷ 20. Sinh ra ở Chợ Lớn trong một gia đình có truyền thống tiểu thủ công nghiệp, từ nhỏ ông Bền đã đam mê làm ăn buôn bán. Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, “lúc đầu ông bán đậu phộng, đậu xanh, đường… trong một cửa tiệm nhỏ ở số 40 Rue du Cambodge (Chợ Lớn) – nay là đường Kim Biên. Năm 1905, ông mở một xưởng sản xuất và tinh luyện dầu ở Thủ Đức. Một năm sau, ông mở một nhà máy xay gạo ở Chợ Lớn và một ở Rạch Các. Ông cũng có một khách sạn và một tiệm mỹ phẩm ở Chợ Lớn. Năm 1918, ông mở thêm một cơ sở sản xuất dầu nữa ở Chợ Lớn. Xưởng này sản xuất đủ loại dầu từ dầu nấu ăn, dầu salat đến dầu dừa, dầu castor, dầu cao su và các loại dầu dùng trong kỹ nghệ…”

Lúc này ông đặc biệt chú ý tới dầu dừa, sản phẩm từ cây dừa được trồng bạt ngàn ở Bến Tre. Dầu dừa cũng là thành phần chính trong sản xuất xà bông, mà xà bông thời đó ở thị trường Việt Nam chủ yếu là nhập cảng từ Pháp, giá rất mắc, chỉ giới thượng lưu mới dám xài. Xà bông trong nước cũng có nhưng làm nhỏ lẻ, yếu thế, không cạnh tranh nổi với hàng ngoại. Ông bắt đầu nghĩ tới việc làm xà bông để bán.

Những cục xà bông Việt Nam 72% dầu và xà bông thơm

hiệu Cô Ba trưng bày trong Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh.

Lúc đó đã có hai nhà máy làm xà bông của Pháp ở Sài Gòn do các ông Mazet và Boris làm chủ. Một mặt ông lân la tìm hiểu kỹ thuật sản xuất của hai nhà máy này, mặc khác ông cử người thân tín qua tận Pháp học nghề chế biến xà bông đem về áp dụng. Nắm được bí quyết rồi, ông tự sản xuất ra xà bông của chính mình bằng công thức: “Dầu dừa, sút kết hợp vài phụ liệu khác ”. Năm 1930, ông thành lập hãng và cho ra đời sản phẩm “xà bông Việt Nam” 72% dầu, loại xà bông cục (còn gọi xà bông đá) dùng để giặt quần áo, rửa chén và cả tắm rửa cho người bình dân.

Bà Nguyễn Thị Bé, nay đã 74 tuổi ở ấp Phú Chánh, xã Phú Hưng (TP Bến Tre) nhớ lại: “Hồi nhỏ tui thường theo tía chở dầu dừa lên Chợ Lớn bán cho hãng ông Bền. Cái hãng nó bự lắm, người ra vô tấp nập, ghe xuồng chở dầu lên xuống bán ì xèo. Ở Bến Tre này hầu như ai cũng bán cơm dừa, dầu dừa cho ổng để làm xà bông. Tui nhớ hồi đó đi mua cục xà bông đá, người ta cắt trong cái “bánh” cả ký lô bán dần từng cục nhỏ. Cái sàn nước nhà ai dưới quê cũng có cục xà bông đá trong “muỗng vùa” (gáo dừa khô) để rửa chén, giặt đồ. Nó rẻ, bọt nhiều, giặt thiệt sạch nên ai cũng ưa dùng”.

Ông Hồ Vĩnh Sang, Chủ tịch Hiệp hội Dừa Bến Tre, cho biết: “Từ những năm đầu thế kỷ 20, dân Bến Tre đã làm dầu dừa bán cho Hoa kiều, trong đó có ông Trương Văn Bền. Người dân bán theo hai dạng, cơm dừa và dầu dừa thô. Rồi chủ hãng mới chế thành dầu ăn, xà bông. Tôi nhớ lúc đầu có xà bông đá giặt còn nghe mùi dầu dừa. Sau ra loại xà bông thơm Cô Ba thì ai cũng chịu bởi nó thơm lâu. Dân miền Nam mình hồi đó toàn xài xà bông Cô Ba chớ đâu có hàng ngoại nhập gì vô được đâu”.

Cho tới bây giờ vẫn chưa ai biết ông có bí quyết nào chế ra được loại xà bông có mùi thơm đặc trưng chân chất, gần gũi nhưng không kém phần kiêu sa, đài các. Bà Nguyễn Thị Bé nhận xét: “Hồi đó hễ đờn bà con gái tắm một cái là nước da thơm mịn màng, đờn ông đi ngang chết mê chết mệt. Còn con nít tắm buổi chiều xong vô người lớn tranh nhau hun hít đã đời. Có khi mấy ông cũng lén giành tắm nữa à…”

“Chiêu” quảng cáo

Với những “chiêu” tiếp thị độc đáo, ông Bền từng bước chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, chẳng những đánh bật xà bông ngoại mà còn xuất ra nước ngoài. Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, ông Trương Văn Bền viết trong hồi ký của mình về việc khuếch trương sản phẩm xà bông như vầy: “…thấy xà bông bán chạy tôi làm thêm một chảo nữa. Nay nhiều thêm thì phải làm quảng cáo dữ mới bán được. Một mặt phải kiếm thế ép mấy hàng tạp hóa mua xà bông Việt Nam, vì tiệm tạp hóa hầu hết của khách trú, chúng xấu bụng không mấy khi chịu mua đồ của người Việt Nam về bán, trừ khi nào món đồ ấy đã được thông dụng, đem cho chúng mối lợi hàng ngày. Tôi bèn huy động một tốp người cứ lần lượt hàng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà bông Việt Nam bán không ? Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu “Sao không buôn xà bông Việt Nam về bán ? Thứ đó tốt hơn xà bông khác nhiều ”. Hết người này tới người khác, thét rồi chủ tiệm cũng phải để ý lấy làm lạ, phải hỏi lại chỗ bán xà bông Việt Nam, cho người mua thử về bán. Tốp thì ôm đờn ca vọng cổ tán dương tính chất của xà bông Việt Nam, tốp thì đi đánh võ rao hàng, rồi đá banh tôi cũng cho mặc áo thêu xà bông Việt Nam. Nói tóm lại tôi không bỏ lỡ một dịp nào mà không làm quảng cáo, nên xà bông Việt Nam bán chạy lắm (…)

“… Năm 1941, tôi chịu cho sở binh lương một ít lợi quyền, nên bán được giá cao, chở đi Madagascar, Réunion … Mấy xứ thuộc địa Pháp này vẫn mua xà bông Marseille, nay vì chiến tranh, giao thương bế tắc nên phải mua của tôi…”

Như vậy đủ thấy kiểu làm ăn của ông lúc đó quả là đáng nể. Sau đó, ông tiếp tục xuất xà bông qua các nước Malaysia, Singapore, Lào, Campuchia, Thái Lan, gần như chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á.  

Đặt tên thương hiệu

Một “độc chiêu” nữa của ông Bền là cách đặt tên cho sản phẩm. Từ thời đó, ông đã biết cách kêu gọi người Việt Nam dùng hàng Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, trong hồi ký của mình, ông viết về sự chọn lựa tên sản phẩm xà bông của mình như vầy: “... tôi đang tìm kiếm tên nào kêu, dễ gọi, dễ nhớ để đặt tên cho xà bông mà chưa kiếm ra. Ngoài Bắc, phong trào cách mạng Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu nổi lên nhiều chỗ và đã bị thất bại đau đớn. Đến lúc Tây xử tử họ ở Yên Bái thì mười người như một, trước khi đút đầu vô máy chém đều bình tĩnh hô to : “Việt Nam vạn tuế” gây một luồng dư luận sôi nổi ở trong nước và thế giới. Tôi không bỏ lỡ vội chụp lấy vụ này, lấy tên Việt Nam đặt cho xà bông, gọi Savon Việt Nam để nêu lòng ái quốc đang bồng bột ở trong xứ, xà bông Việt Nam là của người Việt làm cho người Việt, người Việt yêu nước phải dùng đồ Việt Nam”. 

Về tên gọi “Cô Ba” còn tuyệt chiêu hơn nữa. Cho tới bây giờ, hình ảnh người con gái đẹp in trên nhãn hiệu là ai, vì sao gọi Cô Ba?... vẫn ít người được biết. Và cuộc “truy tìm” nguồn cơn cái tên ấy mang nhiều bất ngờ thú vị.

Bà Nguyễn Thị Bé kể lại: “trong những lần đi bán dầu dừa cho hãng ông Bền, tui có nghe người làm công loáng thoáng kêu bà chủ, vợ ông Bền là cô Ba. Có người còn nói ông thương vợ lắm nên in hình bà vô sản phẩm luôn”.

Nhà thơ Lê Minh Quốc trong bộ sách “Những người Việt Nam đi tiên phong” cũng viết: “… với mục tiêu phục vụ đại chúng, ông Trương Văn Bền đưa ra sản phẩm lấy tên Cô Ba, lý do thứ nhất là vợ ông được mọi người quen gọi cô Ba…”

Điều gần như chắc chắn là, trong số những tấm hình do nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp sưu tầm được, có một tấm chụp cả nhà ông Trương Văn Bền cùng với 6 người con, trong đó ông Bền đứng ở vị trí thứ ba (từ phải sang). Ông và các con đều mặc áo trắng, duy chỉ một người phụ nữ ngồi ngay giữa là mặc áo dài đen, gương mặt phúc hậu, đầu búi tóc, cổ đeo dây chuyền vàng. Người đó không phải vợ ông Bền thì còn ai vô đây? Và nhãn hiệu Cô Ba in trên hộp xà bông cũng hoàn toàn trùng khớp với tấm hình gia đình ông Bền ở trên. Như vậy có thể kết luận cô Ba chính là vợ ông Bền.

Còn một lý do nữa ông Bền muốn đặt tên “cô Ba” cho nhãn hiệu xà bông của mình, là có một cô Ba từng là hoa khôi đẹp nhất Nam kỳ lúc bấy giờ, lại thêm cô là một nữ nhi anh hùng, tiếng tăm lừng lẫy. Cố học giả Vương Hồng Sển viết trong quyển “Sài Gòn năm xưa” như vầy: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia hồi Tây mới đến, có cô Ba con thầy Thông Chánh là đẹp không ai bì. Cô đẹp tự nhiên, không răng giả, không ngực keo su nhơn tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt mượt mà thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà Nước in hình vào con tem Nhà Dây Thép (bưu điện) và một hiệu buôn xà bông xin phép làm mẫu rao hàng: xà bông Cô Ba”.

Cô Ba, sách xưa thường gọi cô Ba Thiệu, con gái ông Nguyễn Trung Chánh ở Trà Vinh. Ông làm thông ngôn cho người Pháp những năm 1890 nên người đời gọi là thầy Thông Chánh. Do căm ghét tên biện lý Joboin ve vãn vợ mình, thầy đã lập mưu giết chết hắn và bị xử bắn. Trong ngày xử cha mình, cô Ba đã tỏ thái độ phản đối quyết liệt trước sự khiếp phục của bọn mã tà, phú lít. Hành động nữ nhi anh hùng cùng sắc đẹp của cô đã làm cho người đời kính trọng. Việc lấy tên cô Ba đặt cho nhãn hiệu xà bông cũng là ý tứ của ông Bền muốn đưa hình ảnh gần gũi ấy đến với rộng rãi công chúng.  

Và điều đó đã gây hiệu ứng xã hội, lan tỏa rộng rãi. Xà bông Cô Ba có xuất xứ từ cây dừa Bến Tre ngày càng nổi tiếng và đi vào lòng người một cách tự nhiên cho đến tận bây giờ.

Người viết: Dương Thế Hùng