|
Nhân dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955
- 27/2/2013) xin giới thiệu tư liệu về cuộc đời người anh hùng của Quân
y huyện Mỏ Cày Nam - đồng chí Đoàn Văn Thời, Anh hùng LLVTND.
Đồng chí Đoàn Văn
Thời (bí danh Văn Anh) sinh ra trong một gia đình bần nông ở xã An Định, huyện
Mỏ Cày Nam. Cha, mẹ, anh trai, chị gái của ông đều bị giặc bắn chết. Cha của
ông lúc còn sống là cơ sở nuôi giấu Tỉnh ủy Bến Tre trong thời kỳ chống Pháp. Ông
tham gia kháng chiến năm 1947, thuộc Đại
đội 1053 (giao liên Quân khu 8), được vinh dự kết nạp Đảng năm 1948.  Đồng chí Trần Văn Thời chụp cùng vợ (Út Hạnh) cũng là nữ anh hùng. (Ảnh tư liệu)
Trong ngày Đồng khởi
17/1/1960 ông làm Tổ trưởng cùng 3 người nữa trong tổ hành động lừa 4 tên công
an Ngô Quyền đến điểm thuận lợi, tay không vật bắt sống chúng thu 3 súng trường
và 2 lựu đạn. Sự kiện này được ghi nhận trong lịch sử Đảng bộ Bến Tre 1930 –
2000 và lịch sử 30 năm kháng chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre. Đây là
trận đánh điển hình cho hình thức “Ôm hè - Bắt hè” trong Đồng Khởi.
Sau Đồng khởi, ông giữ chức Đội trưởng Đội VTV3 (vũ trang tuyên
truyền ở địa phương) làm nhiệm vụ trừ gian diệt ác và được sự phân công của
Huyện ủy Mỏ Cày đến các xã trong huyện phổ biến hình thức tay không diệt địch
thu vũ khí, sau đó phong trào này được nhân rộng ở các nơi như An Định, Hòa
Lộc.
Tháng 6/1961 ông được
phân công về củng cố tổ chức Quân y huyện. Những ngày đầu Quân y chưa có cán bộ
chuyên môn, ông vận động xin rút 7 cán bộ chuyên môn, tổ chức bồi dưỡng, đào
tạo nghiệp vụ cho cán bộ. Cơ quan thời gian đầu phải ở tạm nhà dân, y cụ, thuốc
men rất thiếu thốn. Cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt Quân y phải tìm chỗ
cất nhà, làm công sự tránh bom pháo, hầm bí mật giấu thương binh nặng những khi
địch càn quét đánh phá. Với tư cách Trưởng Quân y huyện, ông liên hệ các xã
Thành An, Tân Phú, Vĩnh Hòa, Phước Hiệp, Định Thủy, Bình Khánh, An Định, An
Thới mỗi nơi có một đến hai điểm làm căn cứ Quân y. Ông cùng đồng đội trong
Quân y bí mật cất nhà, đào hầm tạo được 10 điểm cho Quân y huyện đóng khi di
chuyển.
Quân y huyện thường
chỉ có hai hoặc ba y sĩ, còn lại là y tá, cứu thương. Với vai trò chỉ huy, ông chịu
trách nhiệm mọi việc, nhiều trường hợp thương binh vượt ngoài khả năng điều trị
nhưng tình hình quá khó khăn thời gian không cho phép chần chờ ông và anh em cố
gắng đem hết khả năng thực hiện việc mổ khâu ở bụng, cắt đoạn tay chân và cứu
sống được thương binh, có những ca ông trực
tiếp đứng mổ từ 17 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau mới xong. Đây là việc làm thường
xuyên của ông và Quân y huyện Mỏ Cày. Trong những năm 1965 – 1975 có những lúc con
số thương binh lên đến 120 nhưng ông vẫn lãnh đạo Quân y huyện đảm bảo tốt công
tác điều trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dù quân số chỉ có 15 cán bộ.
Trong suốt thời kỳ
kháng chiến, ông và anh em trong đơn vị đã điều trị cho hơn 2.500 bộ đội, du
kích, cán bộ và nhân dân. Kẻ thù tàn ác đánh phá không trừ bất cứ nơi nào, dù
đó là bệnh viện, trường học. Ông cùng anh em đã tích cực gài trái làm tốt công
tác bảo vệ cơ quan, bảo vệ hành lang địa bàn Quân y, không để thương binh vào Quân
y huyện điều trị bị thương lần 2 do địch đánh phá.
 Ca mổ trong thời kháng chiến. (Ảnh tư liệu)
Do việc cung cấp
thuốc của trên có hạn, ông đã nghiên cứu các toa thuốc dân gian chế ra thuốc an
thần, thuốc bổ, thuốc trị đường ruột,… thay thế được 1/3 thuốc tân dược. Ngoài
ra, ông hàng trăm lần đi vận động bà con, cơ sở cách mạng ra vùng đô thị mua
thuốc men, y cụ cho đơn vị, đã mua được 900 lọ thuốc kháng sinh, nhiều thuốc
tân dược đặc trị và dụng cụ y tế. Ngoài ra, đơn vị còn lo việc ăn uống cho
thương binh, ông cùng anh em mò tôm bắt cá cải thiện bữa ăn cho thương binh.
Với tinh thần vượt
khó ông lấy inox trong xác máy bay địch, vỏ bom chế tạo y cụ như kềm, kẹp, lam
kẹp ruột, đặc biệt ông chế tạo con dao 8 lưỡi để cưa xương hoặc đốn cây làm nhà
đều được, ông còn lấy vỏ bom phốt-pho cưa thành ghe trọng tải 3 tấn gắn máy nổ di
chuyển thương binh rất thuận lợi.
Tình thương yêu đồng
chí, đồng đội của ông rất cao. Khi thương binh cần máu ông cũng sẵn lòng, chính
ông đã 4 lần tiếp máu cho bà Út Hạnh (Trần Thị Tiết) – người sau này trở thành
bạn đời của ông. Chính ông đã đem bà trở về từ cõi chết sau khi chịu đựng những
đòn tra tấn man rợ của giặc.
Nhiều lần ông lấy
quần áo của mình mặc cho đồng đội hy sinh khi đưa đến Quân y không còn cứu kịp,
có lúc ông cởi cả bộ đồ duy nhất lành lặn để mặc cho đồng đội của mình khi chôn
cất, ông chỉ còn duy nhất chiếc quần lót trên người.
Sau ngày miền Nam giải
phóng, ông được giao nhiệm vụ Trưởng phòng Y tế huyện Mỏ Cày. Với phẩm chất
người lính cụ Hồ, ông đã tích cực kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ ngành y,
khắc phục khó khăn xây dựng ngành y tế huyện nhà không ngừng lớn mạnh. Ông đã
trực tiếp khám và điều trị cho hàng chục ngàn người dân trong huyện. Đến khi
nghỉ hưu, ông tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng Đảng, chính
quyền trong sạch vững mạnh.
Ông được đồng chí,
đồng đội yêu thương quý mến, được nhân dân Mỏ Cày tin yêu quý trọng, được Đảng
và Nhà nước khen thưởng Huân chương Kháng chiến các hạng I, II, III; Huân
chương chiến công các hạng I, II; Huân chương Chiến sĩ giải phóng các hạng I, II,
III; Chiến sĩ thi đua toàn tỉnh Bến Tre năm 1963; 25 Bằng khen; 27 Giấy khen. Ông
là một trong những người con trung dũng kiên cường của quê hương Đồng khởi, hy
sinh, tận tụy đến hơi thở sau cùng. Năm 2010, ông cùng với người bạn đời
Trần Thị Tiết (tức Út Hạnh) được Nhà nước truy tặng nhận danh hiệu cao
quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
|