Hôm nay: 23/10/2014
 
Trang chủ arrow Tin tức - Sự kiện arrow Chuyện về người anh hùng của Quân y huyện Mỏ Cày Nam

Thủ tục hành chính

Cấp tỉnh, huyện, xã
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement

Thông tin website

    Khách đang xem: 26

Lượt truy cập

mod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_counter
Chuyện về người anh hùng của Quân y huyện Mỏ Cày Nam In
Người viết: Thu Thảo   
28/02/2013

Nhân dịp kỷ niệm 58 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2013) xin giới thiệu tư liệu về cuộc đời người anh hùng của Quân y huyện Mỏ Cày Nam - đồng chí Đoàn Văn Thời, Anh hùng LLVTND.

Đồng chí Đoàn Văn Thời (bí danh Văn Anh) sinh ra trong một gia đình bần nông ở xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam. Cha, mẹ, anh trai, chị gái của ông đều bị giặc bắn chết. Cha của ông lúc còn sống là cơ sở nuôi giấu Tỉnh ủy Bến Tre trong thời kỳ chống Pháp. Ông  tham gia kháng chiến năm 1947, thuộc Đại đội 1053 (giao liên Quân khu 8), được vinh dự kết nạp Đảng năm 1948.

Image
Đồng chí Trần Văn Thời chụp cùng vợ (Út Hạnh) cũng là nữ anh hùng. (Ảnh tư liệu)

Trong ngày Đồng khởi 17/1/1960 ông làm Tổ trưởng cùng 3 người nữa trong tổ hành động lừa 4 tên công an Ngô Quyền đến điểm thuận lợi, tay không vật bắt sống chúng thu 3 súng trường và 2 lựu đạn. Sự kiện này được ghi nhận trong lịch sử Đảng bộ Bến Tre 1930 – 2000 và lịch sử 30 năm kháng chiến của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bến Tre. Đây là trận đánh điển hình cho hình thức “Ôm hè - Bắt hè” trong Đồng Khởi.

Sau Đồng khởi, ông giữ chức Đội trưởng Đội VTV3 (vũ trang tuyên truyền ở địa phương) làm nhiệm vụ trừ gian diệt ác và được sự phân công của Huyện ủy Mỏ Cày đến các xã trong huyện phổ biến hình thức tay không diệt địch thu vũ khí, sau đó phong trào này được nhân rộng ở các nơi như An Định, Hòa Lộc.

Tháng 6/1961 ông được phân công về củng cố tổ chức Quân y huyện. Những ngày đầu Quân y chưa có cán bộ chuyên môn, ông vận động xin rút 7 cán bộ chuyên môn, tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ. Cơ quan thời gian đầu phải ở tạm nhà dân, y cụ, thuốc men rất thiếu thốn. Cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt Quân y phải tìm chỗ cất nhà, làm công sự tránh bom pháo, hầm bí mật giấu thương binh nặng những khi địch càn quét đánh phá. Với tư cách Trưởng Quân y huyện, ông liên hệ các xã Thành An, Tân Phú, Vĩnh Hòa, Phước Hiệp, Định Thủy, Bình Khánh, An Định, An Thới mỗi nơi có một đến hai điểm làm căn cứ Quân y. Ông cùng đồng đội trong Quân y bí mật cất nhà, đào hầm tạo được 10 điểm cho Quân y huyện đóng khi di chuyển.

Quân y huyện thường chỉ có hai hoặc ba y sĩ, còn lại là y tá, cứu thương. Với vai trò chỉ huy, ông chịu trách nhiệm mọi việc, nhiều trường hợp thương binh vượt ngoài khả năng điều trị nhưng tình hình quá khó khăn thời gian không cho phép chần chờ ông và anh em cố gắng đem hết khả năng thực hiện việc mổ khâu ở bụng, cắt đoạn tay chân và cứu sống được thương binh, có những ca ông trực tiếp đứng mổ từ 17 giờ đến 5 giờ sáng hôm sau mới xong. Đây là việc làm thường xuyên của ông và Quân y huyện Mỏ Cày. Trong những năm 1965 – 1975 có những lúc con số thương binh lên đến 120 nhưng ông vẫn lãnh đạo Quân y huyện đảm bảo tốt công tác điều trị, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dù quân số chỉ có 15 cán bộ.

Trong suốt thời kỳ kháng chiến, ông và anh em trong đơn vị đã điều trị cho hơn 2.500 bộ đội, du kích, cán bộ và nhân dân. Kẻ thù tàn ác đánh phá không trừ bất cứ nơi nào, dù đó là bệnh viện, trường học. Ông cùng anh em đã tích cực gài trái làm tốt công tác bảo vệ cơ quan, bảo vệ hành lang địa bàn Quân y, không để thương binh vào Quân y huyện điều trị bị thương lần 2 do địch đánh phá.

Image
Ca mổ trong thời kháng chiến. (Ảnh tư liệu)

Do việc cung cấp thuốc của trên có hạn, ông đã nghiên cứu các toa thuốc dân gian chế ra thuốc an thần, thuốc bổ, thuốc trị đường ruột,… thay thế được 1/3 thuốc tân dược. Ngoài ra, ông hàng trăm lần đi vận động bà con, cơ sở cách mạng ra vùng đô thị mua thuốc men, y cụ cho đơn vị, đã mua được 900 lọ thuốc kháng sinh, nhiều thuốc tân dược đặc trị và dụng cụ y tế. Ngoài ra, đơn vị còn lo việc ăn uống cho thương binh, ông cùng anh em mò tôm bắt cá cải thiện bữa ăn cho thương binh.

Với tinh thần vượt khó ông lấy inox trong xác máy bay địch, vỏ bom chế tạo y cụ như kềm, kẹp, lam kẹp ruột, đặc biệt ông chế tạo con dao 8 lưỡi để cưa xương hoặc đốn cây làm nhà đều được, ông còn lấy vỏ bom phốt-pho cưa thành ghe trọng tải 3 tấn gắn máy nổ di chuyển thương binh rất thuận lợi.

Tình thương yêu đồng chí, đồng đội của ông rất cao. Khi thương binh cần máu ông cũng sẵn lòng, chính ông đã 4 lần tiếp máu cho bà Út Hạnh (Trần Thị Tiết) – người sau này trở thành bạn đời của ông. Chính ông đã đem bà trở về từ cõi chết sau khi chịu đựng những đòn tra tấn man rợ của giặc.

Nhiều lần ông lấy quần áo của mình mặc cho đồng đội hy sinh khi đưa đến Quân y không còn cứu kịp, có lúc ông cởi cả bộ đồ duy nhất lành lặn để mặc cho đồng đội của mình khi chôn cất, ông chỉ còn duy nhất chiếc quần lót trên người.

Sau ngày miền Nam giải phóng, ông được giao nhiệm vụ Trưởng phòng Y tế huyện Mỏ Cày. Với phẩm chất người lính cụ Hồ, ông đã tích cực kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ ngành y, khắc phục khó khăn xây dựng ngành y tế huyện nhà không ngừng lớn mạnh. Ông đã trực tiếp khám và điều trị cho hàng chục ngàn người dân trong huyện. Đến khi nghỉ hưu, ông tham gia cùng cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh.

Ông được đồng chí, đồng đội yêu thương quý mến, được nhân dân Mỏ Cày tin yêu quý trọng, được Đảng và Nhà nước khen thưởng Huân chương Kháng chiến các hạng I, II, III; Huân chương chiến công các hạng I, II; Huân chương Chiến sĩ giải phóng các hạng I, II, III; Chiến sĩ thi đua toàn tỉnh Bến Tre năm 1963; 25 Bằng khen; 27 Giấy khen. Ông là một trong những người con trung dũng kiên cường của quê hương Đồng khởi, hy sinh, tận tụy đến hơi thở sau cùng. Năm 2010, ông cùng với người bạn đời Trần Thị Tiết (tức Út Hạnh) được Nhà nước truy tặng nhận danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 
< Trước   Tiếp >

Các tin khác...
Advertisement

Tìm kiếm

Tin vắn

Ngày 18/10/2014, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện Ba Tri phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 2 xã Vĩnh Hòa và Vĩnh An trao tặng 5 căn nhà tình thương cho hộ nghèo gồm ông Nguyễn Văn Nghiệp sinh năm 1954 ở ấp Bảo Hòa, ông Trần Văn Lê sinh năm 1957 ở ấp Bến Vựa (xã Vĩnh Hòa), ông Đào Văn Phu sinh năm 1959 ở ấp An Quới, bà Nguyễn Thị An sinh năm 1940 ở ấp An Nhơn, bà Phan Thị Tuyết sinh năm 1959 ở ấp Vĩnh Đức Tây (xã Vĩnh An). Các căn nhà đều có diện tích sử dụng trên 45 m2, kinh phí xây dựng từ 40 triệu đồng trở lên. Trong đó báo Nhân đạo Đời sống phía Nam vận động các đơn vị tại Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ mỗi căn 40 triệu đồng, còn lại gia đình góp vào. (Trần Xiện)

 

Trong 5 năm qua, các cấp hội cựu chiến binh ở Ba Tri đã vận động các đơn vị, tổ chức xã hội và cá nhân đóng góp kinh phí xây tặng 113 căn nhà nghĩa tình đồng đội cho hội viên có hoàn cảnh khó khăn, tổng trị giá trên 3,8 tỷ đồng. Trong đó cấp huyện vận động xây tặng 25 căn, số còn lại các xã, thị trấn vận động. (Trần Xiện)

 

Ngày 20/10/2014, Hội Cựu thanh niên xung phong tỉnh Bến Tre phối hợp với UBND 2 xã An Thuận và Phú Khánh tổ chức bàn giao 2 căn nhà tình nghĩa cho bà Huỳnh Thị Hoa ở ấp An Ninh A, xã An Thuận, và bà Lê Thị Sữa, ấp Phú Long Phụng A, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, là cựu thanh niên xung phong đang gặp khó khăn về nhà ở. Mỗi căn nhà có diện tích từ 60 - 70m², nền tráng xi-măng, vách tường, mái lợp tôn, tổng kinh phí xây dựng từ 75 đến 90 triệu đồng. Trong đó, Hội cựu thanh niên xung phong tỉnh vận động Quỹ Thiện tâm – Tập đoàn Vingroup hỗ trợ mỗi căn 50 triệu đồng, phần còn lại do gia đình góp vào. (Văn Minh)

 
Advertisement
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

Advertisement