|
Bác Hồ
kính yêu của dân tộc ta, đất nước ta, Bác là người Việt Nam đẹp nhất, một người
Cộng sản mẫu mực, là vị lãnh tụ cách mạng thiên tài, nhà tư tưởng lớn của thời
đại, có tư tưởng sáng suốt, tâm hồn cao thượng, ý chí kiên cường, tình cảm
trong trẻo, tác phong khiêm tốn, cuộc sống giản dị.
Cả cuộc
đời Bác đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con người, trong đó có việc giải phóng phụ nữ, thực hiện
quyền bình đẳng của phụ nữ, Bác xem đó là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp
giải phóng.  Míttinh xóa bỏ bạo hành với phụ nữ tại huyện Bình Đại, Bến Tre. (Ảnh tư liệu)
Nhớ lại trong những
năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, trong những vấn đề Bác đặc biệt quan
tâm, chú ý đến là trẻ em và phụ nữ ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam
nói riêng. Bác cho đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực. Người
căm ghét bọn thống trị luôn “đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người phụ nữ...
và xúc phạm tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ” (Bản án chế độ thực
dân). Mỗi phụ nữ, một trẻ em bị đánh, bị giết đều làm tác giả đau đớn. Người đã
từng thốt lên: “Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra,
cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình”.
Có lẽ đó chính là
tình cảm, là động lực giúp Bác vượt qua mọi khó khăn gian khổ trong cuộc hành
trình tìm đường cứu nước. Trong gần 30 năm ở nước ngoài, Bác đã tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa tư tưởng tiến bộ của nhân loại, rồi khi trở về lại đất
nước mình, Bác đã không phút ngơi nghỉ để cùng Đảng và nhân dân ta làm nên sự
tích thần kỳ: “Lật nhào chế độ phong kiến thực dân, dựng nên một nước Việt Nam
độc lập dân tộc và dân chủ tiến bộ”.
Bác đã khẳng định
quyền bình đẳng của phụ nữ là quyền tự nhiên của con người; sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn bó mật thiết với giải phóng phụ
nữ. Theo Bác, chỉ khi giành được quyền độc lập dân tộc thì mới thực hiện được
quyền bình đẳng của phụ nữ: “Đàn bà,
con gái cũng nằm trong nhân dân, nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng
được tự do”.
Sự nghiệp giải phóng
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có ý nghĩa thật sự khi giải phóng được
phụ nữ, bởi vì: “Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ là nói đến một
nửa xã hội”, “Nếu phụ nữ chưa được
giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”; “Nếu không giải phóng phụ nữ là
xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.
 Bác Hồ thăm công nhân nữ đang làm việc tại xưởng dệt. (Ảnh tư liệu)
Từ tư tưởng nhân văn đó,
trong các văn kiện tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 02/1930, Bác đã nêu ra một
trong những chủ trương lớn của cách mạng Việt Nam là “thực hiện nam - nữ bình quyền”. Mục tiêu này đã được Hồ Chí Minh
đưa vào Chương trình của Mặt trận Việt Minh năm 1941 và sau khi Cách mạng Tháng
Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Bác đã nhiều lần tuyên
bố với thế giới và quốc dân rằng: “Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với
đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân. “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn
bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và gia đình”.
Theo Bác, giải phóng
phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền: “Đó
là một cuộc cách mạng khá to và khó”. Bởi vì: “Trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn
sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”. Xã
hội ta ảnh hưởng rất lớn tư tưởng Nho giáo phong kiến, trọng nam, khinh nữ là
một thói quen ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã
hội. Để thật sự giải phóng phụ nữ, cần phải có sự chuyển biến sâu sắc về nhận
thức trong xã hội về tư tưởng thành kiến đối với phụ nữ.
Bác nhiều lần bày tỏ
chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia
trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Bác cũng chỉ rõ: “Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ
nữ, tức là giải phóng phần nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà”, “phải tiêu
diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông”. Bác phê
phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi
phạm pháp luật: “Đàn ông là người công
dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh
người công dân khác tức là phạm pháp”.
Với Bác nội
dung cơ bản là giải phóng người lao động bị áp bức, là độc lập, tự do, bác ái,
bình đẳng giữa người với người. Vì vậy, tư tưởng nhân văn của Người luôn thể
hiện tình thương yêu vô bờ bến của Bác với nhân dân: Nông dân, công nhân, lao
động trí óc, cụ già, em bé, phụ nữ. Và có thể khẳng định tư tưởng của Bác luôn
là kim chỉ nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua và là ánh đuốc soi
sáng đường cho cuộc đấu tranh và xây dựng của nhân dân ta, giành từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, là tư tưởng của Bác đã trở nên bất hủ và trở
thành những giá trị tinh thần bền vững của dân tộc Việt Nam và lan tỏa ra cả
thế giới.
Trong thực tế phụ nữ nước
ta chiếm hơn một nửa dân số, vì vậy Bác cho rằng có giải phóng phụ nữ kháng
chiến kiến cuốc mới thực sự thành công. Giải phóng phụ nữ trước hết phải từ gia
đình – tế bào của xã hội, thể hiện bình đẳng giới, một vợ một chồng. Nên rất
sớm, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Bác đã chỉ đạo xây dựng
Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình. Bác kêu gọi nhân dân bài trừ tư tưởng
phong kiến, tư tưởng tư sản, thói gia trưởng trọng nam khinh nữ.
 Bác Hồ với phụ nữ các dân tộc của đất nước ta. (Ảnh sưu tầm)
Ngay
trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 06/01/1946, Bác vui mừng nhận ra
rằng: "Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất". Bác rất chú
trọng công tác vận động phụ nữ, khơi dậy tinh thần yêu nước thương nòi, tổ chức
hướng dẫn phụ nữ tham gia vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Bác biểu dương phụ nữ Việt
Nam “hay lam hay làm” trong cuộc sống thường ngày và dũng cảm chiến đấu hy sinh
khi Tổ quốc có giặc ngoại xâm. Bác đã nêu tấm gương Hai Bà Trưng phất cờ khởi
nghĩa từ đầu thế kỷ thứ nhất đánh giặc cứu nước. Vào năm 1952, nhân kỷ niệm Hai
Bà Trưng và ngày Quốc tế phụ nữ, Bác đã gửi thư ngợi khen: "Non sông gấm
vóc Việt Nam ta do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức đệt thêu mà thêm tốt
đẹp, rực rỡ".
Những năm
tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca "Lịch sử nước ta", Bác đã
khẳng định:
"Phụ nữ ta chẳng tầm thường
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời”
"Hai Bà Trưng có đại tài
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian
Ra tay khôi phục giang san
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta".
Và hình
ảnh Bà Triệu cưỡi voi đánh cồng cũng được Bác khắc họa:
"Tỉnh Thanh Hóa có một bà
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi
Tài năng dũng cảm hơn người
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương".
Bác cũng từng
căn dặn: "Hai Bà Trưng đã để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ
vang là dũng cảm kháng chiến", thì: "Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải
xứng đáng là con cháu Hai Bà".
Bác còn
nêu tấm gương anh dũng của Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu,… để phụ nữ ta học
tập. Bác còn biết ơn các bà mẹ của cả hai miền Nam - Bắc đã có công sinh và dạy
nên những thế hệ anh hùng của nước ta. Bác luôn tự hào rằng "Dân tộc
Việt Nam là dân tộc anh hùng ... Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng, cả trong
kháng chiến chống pháp. Rồi chống Mỹ "ta cũng có nhiều anh hùng là phụ
nữ". "Từ trước đến nay phụ nữ Việt Nam ta có rất nhiều đóng góp cho
cách mạng, phụ nữ ta rất đáng kính, phụ nữ ta có nhiều tiến bộ". Tuy
nhiên, "Bác còn mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa".
Trong bài nói chuyện
tại Đại hội phụ nữ tích cực Thủ đô lần thứ hai 8/3/1960, Bác cho rằng:
"Hiện nay, trong các ngành số phụ nữ tham gia còn ít. Đảng và Chính phủ
rất hoan nghênh, sẵn sàng cất nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan
trọng. Muốn vậy, bản thân phụ nữ phải: Gắng học tập chính trị, học tập văn hóa,
kỹ thuật; nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa; hăng hái
thi đua thực hiện "Cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia
đình". Chúc chị em phụ nữ cố gắng học tập, tiến bộ nhiều, tiến bộ mãi để
xứng đáng làm chủ nước nhà".
Hay tại Đại hội phụ
nữ toàn quốc lần thứ III, họp ngày 9/3/1961, Bác đã đến dự và nói: “Ngay từ khi
mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã
xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm giúp đỡ
phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận thức rõ địa vị làm chủ và nhiệm vụ làm
chủ nước nhà".
Và Bác đã nhất quán
tư tưởng giải phóng phụ nữ là giải phóng toàn diện về chính trị, tư tưởng, xã
hội, giải phóng sức lao động nữ giúp cho chị em có hiệu quả, đôi vai không phải
gánh nặng và giảm thiểu cường độ lao động về chân tay. Bác chủ trương đào tạo
phụ nữ trẻ trở thành những công dân mới XHCN, vừa biết lao động chân tay, vừa
biết lao động trí óc – tạo mọi điều kiện cho phụ nữ học văn hóa, khoa học kỹ
thuật, nâng cao trí thức tự vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ đất nước.
Bác rất đặc biệt quan
tâm công cuộc giải phóng phụ nữ ở nông thôn, nơi chiếm 80% dân số cả nước, lao
động nữ là nhân công chủ yếu làm ra của
cải trong nông nghiệp và nông thôn. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Bác Hồ đã gần 70 lần về thăm nông dân. Người ra đồng lội ruộng khi nông
dân cày cấy, tát nước, làm cỏ, gặt hái. Người thấu hiểu nỗi vất vả của nông
dân, của phụ nữ trong điều kiện lao động chân tay một nắng hai sương "bán
mặt cho đất, bán lưng cho trời".
Bác Hồ đã khuyến
khích mọi người phát huy sáng kiến chế tạo máy móc, cải tiến công cụ thực hiện
cơ giới hóa trong nông nghiệp, dùng máy móc công cụ, thay thế một phần lao động
cơ bắp. Bác đã chủ trương phát triển giao thông nông thôn, dùng xe cơ giới, xe gia
súc kéo, xe đạp thồ để "giải phóng đôi vai" cho nông dân, cho phụ nữ.
Điều đó càng có ý nghĩa khi ngày nay trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị
hóa, phần lớn lao động nam giới di chuyển không chính thức ra thành phố kiếm
việc làm, việc đồng áng chủ yếu do phụ nữ ở quê đảm nhiệm.
Theo quan điểm của
Bác, vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn, không phải chỉ là
việc riêng của phụ nữ, mà là công việc quan trọng của Đảng, Nhà nước và đòi hỏi
phải có sự tham gia của toàn xã hội, của tất cả mọi người. Việc giải phóng phụ
nữ là phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội. Chỉ có
đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa… thì mới bảo đảm
quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ.
Trong tác phẩm
"Đường Kách mệnh", Bác cũng từng viết: "Ông Các Mác nói rằng: Ai
đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào,
thì chắc không làm nổi: "Ông Lê-nin nói: Đảng cách mệnh phải làm sao dạy
cho đàn bà nấu ăn cũng phải biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là
thành công".
Trước lúc ra đi vào
cõi vĩnh hằng, Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta, người thầy vĩ đại của Đảng ta,
đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng
cho phụ nữ Việt Nam "Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang
ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ
cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm
nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ
thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng
thật sự cho phụ nữ" (Di chúc).
Chỉ thế thôi, nhưng
tình cảm của Bác luôn tràn đầy, vừa là lời huấn thị thiêng liêng và trở thành
dấu ấn luôn trường tồn và in mãi trong lòng nhân loại và dân tộc ta.
Có thể khẳng định
những tư tưởng của Bác trên các lĩnh vực, trong từng nội dung, trong mọi tình
huống và đối với từng đối tượng Bác đề cập đến đều có ý nghĩa thiết thực, mang
tính triết lý nhân văn sâu sắc. Những
người phụ nữ Việt Nam qua các thế hệ thật sự xúc động và tri ân Bác, khi biết
rằng, vào những năm tháng cuối cùng của đời mình, Bác đã để lại bản Di chúc quý
giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam.
Vận dụng tư tưởng
nhân văn của Bác về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, ngày 27/7/1993, Bộ Chính trị
đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW và khẳng định: “Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người
thầy đầu tiên của con người. Phụ
nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ
kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây
dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Đặc biệt, kỳ họp
thứ 10 vào ngày 29/11/2006 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(khóa XI) đã thông qua Luật Bình đẳng giới và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2007.
Ngày nay phụ nữ đã
được thể hiện vai trò không kém gì nam giới. Nhiều chị giữ những trọng trách
trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nước ta ngày
càng tăng. Nhiều chị em làm chủ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đóng góp đáng
kể vào Ngân sách Nhà nước và tạo việc làm cho người lao động.
Nhân kỷ
niệm 103 năm Quốc tế phụ nữ 8/3 (8/3/1900 – 8/3/2013) và 1973 năm khởi nghĩa
Hai Bà Trưng, phụ nữ cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng hãy phát huy truyền thống và phẩm chất tốt
đẹp của Phụ nữ Việt Nam trong các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Qua
đó, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường vượt khó vươn lên làm chủ bản
thân, gia đình và xã hội, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh.
Cũng nhân dịp này các
cấp Hội phụ nữ trên quê hương Bến Tre Đồng Khởi hãy cùng phát huy
truyền thống “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, thi đua lao động sản xuất, thực
hành tiết kiệm, khắc phục khó khăn, tập trung hoạt động chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần cho phụ nữ còn nhiều khó khăn; động viên các tầng lớp phụ nữ
thực hiện tốt vai trò, chức năng của người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội.
Đặc biệt, là tất cả hãy phấn đấu thực hiện đạt các chuẩn mực của người phụ nữ
trong thời kỳ CNH - HĐH “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”, hưởng ứng tích cực hoạt động xây dựng nông thôn mới trên quê hương xứ dừa Bến Tre, góp phần làm cho quê hương ngày càng thêm giàu đẹp và nhất là góp phần thực
hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh
nhà.
|