Hôm nay: 16/04/2014
 
Trang chủ arrow Tin tức - Sự kiện arrow Kinh tế arrow Từ những mô hình liên kết cộng đồng
Từ những mô hình liên kết cộng đồng In
Người viết: Nguyễn Bảy   
06/06/2007

Image
Để phát triển bền vững, không thể làm ăn đơn lẻ thế này
Thực tế của nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở Bến Tre trong thời gian qua đã cho bà con ngư dân một bài học vô cùng đắt giá. Đó là, chỉ có liên kết với nhau thành một chuỗi mắc xích mới tính đến chuyện làm ăn lâu dài, mới mong tồn tại và phát triển bền vững. Chính vì thế, từ tập quán xưa cũ “đèn nhà ai nấy sáng”, người dân Bến Tre đã biết cách “chia lửa”, cùng nhau duy trì năng lượng cho ngọn đèn không tắt. Từ cách nghĩ hẹp hòi làm ăn tư lợi, họ đã biết “đông tay vỗ nên kêu”, hình thành hàng loạt các mô hình liên kết cộng đồng.

Chuyển biến trên “mỏ vàng 2 mảnh vỏ”

Có thể nói, chưa có nơi nào thiên nhiên hào phóng ban tặng cho một bãi nghêu rộng lớn và trù phú như ở Bến Tre. Hơn 15.000 hécta bãi bồi là lãnh địa của con nghêu, trải dài suốt 65 km bờ biển. Nguồn tài nguyên vô giá này mỗi năm mang về cho người dân vùng biển Bến Tre hàng chục tỉ đồng từ con nghêu giống. Chưa kể một sản lượng nghêu thịt trên 30.000 tấn/năm, dù chỉ mới khai thác khoảng 50% tiềm năng đất bãi bồi.

Sóng gió cũng bắt đầu từ đây. Với ý nghĩ “của trời cho”, người dân tứ xứ tranh nhau bắt, tranh nhau xí phần vô tội vạ, dẫn đến sát phạt lẫn nhau, gây rối loạn an ninh cả tuyến biên phòng từ năm này sang năm khác. Dân đánh dân, dân đánh cán bộ, nội bộ mất đoàn kết, nghi kỵ lẫn nhau và biết bao nhiêu chuyện rắc rối diễn ra như cơm bữa trên các bãi nghêu vốn được xem là “mỏ vàng 2 mảnh vỏ” của tỉnh Bến Tre.

Còn nhớ vào năm 2000, một vụ xô xát tranh giành nguồn lợi con nghêu trên bãi nghêu Thới Thuận (huyện Bình Đại) đã làm cho một sinh mạng ngã xuống, máu đỏ thắm vùng nghêu, gây bao nỗi kinh hoàng cho cư dân địa phương và những người chuyên sống bằng nghề trộm nghêu, tiếng lóng gọi là “nghêu tặc”. Rồi sự tam bành, vùng vẫy trên các bãi nghêu cũng dần lắng dịu, khi mà đội quân “nghêu tặc” bắt đầu tỉnh ngộ, chịu bỏ cái nghề hốt của trời cho, nghe theo chủ trương của tỉnh đi vào làm ăn hợp tác xã. Mỗi hộ chỉ đóng tượng trưng 50 ngàn đồng, 100 ngàn đồng rồi trở thành xã viên, tham gia quản lý, khai thác và được chia lợi nhuận công bằng. Hộ có bao nhiêu người cũng đều được hưởng lợi. Chưa hết, lợi nhuận chung được trích ra một phần đóng góp xây dựng cầu đường, trường học, trạm xá và các công trình phúc lợi dân sinh. Gia đình liệt sĩ, mẹ Việt Nam anh hùng, các hộ nghèo, nạn nhân chất độc da cam được doanh lợi từ con nghêu xây nhà tình nghĩa, nhà tình thương và trợ cấp xã hội. Con em vùng nghêu có chí học hành, đều được con nghêu hỗ trợ suốt cuộc hành trình vượt khó.

Như vậy, từ một chủ trương sáng suốt của tỉnh đã sản sinh ra nhiều điều lợi. Thứ nhất, đời sống người dân được nâng lên, an ninh nông thôn được đảm bảo, bộ mặt xóm làng đổi mới. Thứ hai, kinh tế từ con nghêu chẳng những không bị thất thoát, mà tài nguyên thiên nhiên được bảo tồn, môi trường không bị suy thoái do khai thác bừa bãi, mở ra một sức sống mới trên vùng đất một thời điên đảo vì nạn trộm nghêu. Đó là bức tranh sinh động cho cung cách làm ăn đúng hướng của Hợp tác xã thuỷ sản Rạng Đông (xã Thới Thuận, huyện Bình Đại). Đây là HTX đầu tiên được thành lập trong cuộc “cách mạng” về con nghêu ở Bến Tre. Thừa thắng xông lên, ngay sau đó hàng loạt HTX quản lý và khai thác nghêu tại 3 huyện vùng biển ra đời như HTX Phong Hải (huyện Thạnh Phú), HTX Đồng Tâm (huyện Bình Đại), HTX An Thủy (huyện Ba Tri). Chỉ trong một thời gian ngắn, Bến Tre có 10 HTX nghêu ra đời, mô phỏng theo cách thức làm ăn của HTX Rạng Đông. Những nơi chưa đủ tầm đi lên HTX, người dân nghĩ ra cách thành lập “Tập đoàn nghêu” và “Ban quản lý vùng nuôi nghêu”, tuy quy mô hẹp hơn, nhưng hoạt động cũng rất bài bản, bài trừ nghêu tặc đến tận gốc. Ngoài 10 HTX nghêu, đến nay Bến Tre đã hình thành 1 Ban quản lý vùng nuôi nghêu và 35 Tập đoàn nghêu, thu hút gần 22.000 người tham gia. Cuộc “cách mạng” này đã dẹp yên được những biến cố đình đám trên các bãi nghêu một thời dậy sóng.

Để khỏi chết chùm . . .

Rỉ tai cho nhau về cái chuyện vốn một lời mười, về bạc tỉ mang lại từ cái nghề siêu lợi nhuận, hàng chục ngàn mẫu đất lúa ở vùng biển Bến Tre nhanh chóng bị xáng cạp đào bới, biến thành “vương quốc” của loài tôm sú. Và con tôm sú đã trở thành “quặng ngoại tệ” của tỉnh Bến Tre sau những cuộc vượt đại dương xuất khẩu thành công.

Đi đầu trong cuộc đua nuôi tôm sú là những đại gia lắm tiền nhiều của, những doanh nghiệp tầm cỡ tiếng tăm trên thương trường, sau đến những tầng lớp bậc trung, rồi kéo theo cả đông đảo cán bộ công chức ăn lương Nhà nước vào cuộc, khiến cho số dư nợ trong hệ thống ngân hàng tỉnh lẻ ở Bến Tre tăng lên chóng mặt. Từ 0,2 hécta nuôi tôm sú công nghiệp vào năm 2000, vọt lên hơn 100 hécta chỉ sau 1 năm, rồi tăng đột biến lên 6.000 - 6.500 hécta.

Không ai phủ nhận con tôm sú đã làm cho người nuôi giàu lên nhanh chóng. Nhưng cũng không ai có thể chối cãi rằng chỉ vì con tôm sú mà nhiều người đã trở nên khánh kiệt, chồng chất nợ nần. Cuộc chạy “marathon” đi tìm lợi nhuận bằng mọi giá đã khiến người nuôi bất chấp tất cả, nơi nào cũng nuôi, giống nào cũng thả, xài xả láng các loại kháng sinh, hóa chất, cải tạo ao nuôi một cách cẩu thả, xử lý chất thải và nguồn nước bị nhiễm bệnh bừa bãi ra môi trường tự nhiên. Hệ lụy tất yếu của những hoạt động trên là môi trường nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều năm tôm chết hàng loạt, nghề nuôi tôm sú ở Bến Tre lâm vào cảnh khốn đốn.

Để khỏi chết chùm vì vấn nạn tôm chết, sau bao cơn hú vía, dân nuôi tôm kịp nhận ra rằng “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Họ đứng ra thành lập Ban quản lý vùng nuôi, có quy chế, quy định và ban bệ đàng hoàng. Ai không tuân thủ quy trình kỹ thuật nuôi, không chấp hành tốt xử lý chất thải và bảo vệ môi trường sẽ bị tẩy chay, chịu phạt thật nặng, bồi thường thật cao. Mỗi vùng nuôi do một ban quản lý cai quản không dưới 100 hộ, trên diện tích từ hàng chục đến hàng trăm hécta. Cách làm mang tính cộng đồng này mang lại hiệu quả rất lớn. Như Ban quản lý vùng nuôi ấp 5, xã Thạnh Phước (huyện Bình Đại), Ban quản lý vùng nuôi xã Vĩnh An (huyện Ba Tri), … hoạt động tích cực, nên nhiều năm liền nơi đây không xảy ra dịch bệnh tôm. Đến nay, tại 3 huyện vùng biển đã hình thành 115 Ban quản lý vùng nuôi, thu hút khoảng 10.000 hộ tham gia quản lý, bảo vệ môi trường.

Ngoài các mô hình thử nghiệm như quy trình nuôi tôm sạch theo tiêu chuẩn GAP và nuôi tôm sinh học tăng sản đang được nhân rộng nhằm cứu vãn nghề nuôi tôm sú qua cơn điêu đứng, thì sáng kiến thành lập các Ban quản lý vùng nuôi được xem là liều thuốc giành lại sự sống cho những ao tôm nhiễm đầy độc tố, cứu lấy “quặng ngoại tệ” đã từng mang về cho Bến Tre hàng triệu đô la mỗi năm.

Nuôi tôm càng xanh liền canh liền cư

Mô hình nuôi tôm càng xanh “liền canh liền cư” là sáng kiến có một không hai được hình thành trên đất Bến Tre. Nếu như nghề nuôi tôm sú ở vùng biển bị vấn nạn môi trường hoành hành, thì con tôm càng xanh của miệt vườn nước ngọt lại chết vì bị xiệc điện do những tay trộm tôm quấy phá. Trước đây, bà con miệt vườn thường nuôi nhử đập tràn. Tức là đắp đập, lắp hệ thống cống giản đơn và cắm chà trong mương vườn để dụ tôm ngoài sông vào. Khi thủy triều rút xuống, tôm ở lại và chọn mương vườn sinh sống trong môi trường hoàn toàn tự nhiên. Nhà vườn không tốn con giống, thậm chí không tốn thức ăn, nhưng sản lượng thu hoạch như thế nào lại phụ thuộc lượng tôm ở lại nhiều hay ít. Hầu như nhà vườn nào cũng làm như vậy, coi đó là nguồn thu nhập tăng thêm đáng kể.

Đến khi giá tôm càng xanh xuất khẩu lên ngất ngưỡng trong những năm gần đây, có lúc ở mức 150 - 180 ngàn đồng/kg, phần lớn nhà vườn chuyển từ nuôi nhử đập tràn sang nuôi nhốt. Tức là mua con giống về thả, cho ăn cơm dừa, củ mì sống, gạo rang và dẫn nước ra vào thường xuyên để tôm phát triển, lãi gấp hàng chục lần so với nuôi tự nhiên. Nhiều nơi còn nuôi bằng hình thức bán công nghiệp, cho ăn thức ăn viên, có hệ thống cung cấp ôxy, xử lý nước thải. Nghề nuôi tôm càng xanh kiểu này ngày càng phát triển, từ thu nhập phụ của nhà vườn trước đây đã trở thành thu nhập chính. Và rủi ro, tai họa lại bắt đầu rình rập người nuôi tôm. Đó là nạn kẻ xấu dùng bình ac-quy, xuyệt điện để bắt trộm tôm. Rất nhiều gia đình chỉ sau 1 đêm, hàng trăm ký tôm đến kỳ thu hoạch đã bị mất trắng bởi những tay xuyệt trộm. Không dừng lại ở đó, những kẻ mang lòng ghen ghét còn dùng đến cả thuốc trừ sâu đổ xuống mương nuôi tôm để hại nhau…

Trước tình hình trên, năm 2005, Sở Thủy sản Bến Tre đã xây dựng mô hình nuôi tôm càng xanh liền canh liền cư và triển khai thí điểm gần 40 hộ ở xã Phước Hiệp (huyện Mỏ Cày) và xã Thuận Điền (huyện Giồng Trôm). Bà con được tập huấn kỹ thuật nuôi, hỗ trợ tiền mua con giống, thức ăn. Điều quan trọng là nâng cao nhận thức của người dân về cộng đồng trách nhiệm, cùng nhau quản lý, cùng nhau kiểm tra, xây dựng thành khu nuôi tôm an toàn. Kết quả mang lại rất khả quan, ai nuôi tôm cũng có lãi, không còn sợ nạn trộm tôm hoành hành, tình nghĩa xóm làng được thắc chặt. Từ mô hình này, hiện nay ở nhiều vùng nông thôn Bến Tre đã hình thành khu nuôi tôm càng xanh liền canh liền cư, tận dụng tối đa mặt nước sẵn có để phát triển kinh tế gia đình. Mô hình này được Bộ thủy sản đánh giá cao và khuyến khích nhân rộng ở nhiều nơi có điều kiện nuôi tôm càng xanh xuất khẩu.

Liên kết ra khơi

Trước đây, ngư dân thường đi biển đơn độc, mạnh ai ra khơi, tự do khai thác. Nhưng từ sau cơn bão Linda năm 1997, sự tàn phá dữ dội của sóng kình đại dương đã khiến ngư phủ lo sợ, liên kết lại thành “đồng hội đồng thuyền” trên biển. Kiểu “hiệp đồng tàu” này vừa giúp nhau giải quyết những sự cố ngoài khơi, vừa phân chia ca, kíp đánh bắt và vận chuyển sản phẩm vào đất liền. Nhờ vậy, đoàn tàu luân phiên nhau cập bến, giảm chi phí và tăng cường thời gian bám biển, sản lượng khai thác tăng lên gấp nhiều lần.

Tiên phong trên lĩnh vực này là Công ty xuất nhập khẩu lâm thủy sản Bến Tre (nay là Công ty Cổ phần thủy sản Bến Tre). Năm 1999, Công ty đầu tư 3 chiếc tàu lưới vây, mỗi chiếc có công suất 380 CV. Đây là đơn vị quốc doanh đầu tiên ở Bến Tre thành lập tổ hợp tác đánh bắt thủy sản xa bờ. Phương thức hoạt động của tổ là cả 3 tàu cùng ra khơi. Khi cá đầy,  2 chiếc ở lại tiếp tục khai thác. Một chiếc mang sản phẩm về đất liền tiêu thụ và mang nhiên liệu, lương thực, thuốc men, nước ngọt và đồ dùng sinh hoạt trở ra, tiếp liệu cho 2 tàu kia. Cứ thế, 3 chiếc luân phiên nhau làm những cuộc hải hành ra vào đất liền, tạo một chu trình đánh bắt khép kín, sản lượng tăng gấp đôi, chi phí giảm và giá bán cao hơn từ 10 – 15% do sản phẩm tươi. Nếu như cả 3 tàu cùng đi, cùng về, mỗi chuyến đi biển phải mất từ 30 – 45 ngày. Khi ấy, tôm cá lâu ngày kém chất lượng, chi phí tăng gấp 3 và lãng phí thời gian khai thác. Những lúc biển thất, giá xăng dầu tăng cao, phần lớn các chủ tàu tư nhân kêu lỗ cho tàu nằm bến, thì đội tàu của Công ty Cổ phần thủy sản Bến Tre vẫn đều đặn ra khơi, có mặt gần như suốt năm trên biển. Mỗi tàu đạt sản lượng bình quân gần 300 tấn/năm. Từ 3 chiếc ban đầu, nay đội tàu đã nâng dần lên 17 chiếc, với tổng công suất gần 6.500CV.

Theo đánh giá của Bộ Thủy sản, đây là mô hình hợp tác đánh bắt thủy sản đạt hiệu quả cao cần được nhân rộng trên phạm vi cả nước.

Vừa qua, huyện Ba Tri cũng đã thành lập 3 tổ hợp tác khai thác thủy sản. Trong đó, có một tổ cào đôi gồm 10 tàu và 75 thuyền viên, một tổ cào đơn gồm 10 tàu và 60 thuyền viên, một tổ lưới đèn gồm 6 tàu và 108 thuyền viên. Mỗi tàu có công suất từ 300 đến 500 CV. Hình thức hợp tác của các tổ này mô phỏng theo mô hình của Công ty Cổ phần thủy sản Bến Tre. Tổ hợp tác được thành lập trên tinh thần tự nguyện nhằm khai thác thủy sản có hiệu quả, nâng cao giá bán sản phẩm; đồng thời cải thiện đời sống ngư dân, xây dựng hành lang an toàn trên biển và nâng cao ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Những mô hình liên kết cộng đồng nêu trên đã góp phần đưa ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở Bến Tre chuyển biến tích cực. Đã có Hợp tác xã nuôi nghêu, sắp tới Bến Tre sẽ thành lập Hợp tác xã đánh bắt xa bờ, Hợp tác xã nuôi tôm càng xanh và nhiều loại hình liên kết khác, nhằm đưa ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ở Bến Tre phát triển theo hướng ổn định và bền vững.

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Tin vắn

Tặng 165 phần quà cho người mù ở Ba Tri. Ngày 6/4/2014, các tăng ni, phật tử Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đến thăm và tặng 165 phần quà cho người mù có hoàn cảnh khó khăn của huyện Ba Tri, mỗi phần quà gồm gạo, mì tôm, đường, bột ngọt, dầu ăn, muối… trị giá 200.000 đồng. Từ đầu năm 2014 đến nay, Hội Người mù huyện Ba Tri vận động các đơn vị Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân tặng trên 500 phần quà cho hội viên có hoàn cảnh khó khăn trị giá trên 100 triệu đồng. Từ đó giúp người mù của huyện có điều kiện vươn lên trong cuộc sống. (Trần Xiện)

 

Hưởng ứng “Hành trình sức trẻ Đồng Khởi – Năm thanh niên 2014”, nằm trong chuỗi hoạt động Tháng Thanh niên, chào mừng kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 - 26/03/2014)

Đọc tiếp...
 

  Từ đầu năm 2014 đến nay, huyện Ba Tri đã giải quyết việc làm cho 1.368 lao động trong tổng số 5.000 lao động cần giải quyết việc làm của huyện, đạt tỷ lệ 27,36%. Thị trường lao động chủ yếu là tại địa phương, ngoài tỉnh 151 lao động, xuất khẩu nước ngoài 55 lao động

Đọc tiếp...
 
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement