|
Ngày 1-9 vừa qua, tại Hội trường UBND tỉnh, một sự kiện xảy
ra, năm nào cũng vậy, tưởng chừng như cũ. Nhưng riêng năm nay, lại có thêm một
nội dung mới. Đó là trong míttinh kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bến Tre long trọng công bố quyết định công
nhận thị xã đạt chuẩn đô thị loại III. Tuy là hình thức, nhưng bên trong đó lại
đầy ắp bao nỗi thăng trầm, có cả máu xương và mồ hôi, nước mắt.  Đô thị Bến Tre nhìn từ cầu Bến Tre 2. (Ảnh Cao Dương)
Những con số đánh dấu sự ra đời của đô thị Bến Tre
Nói về mảnh đất cù lao
mang tên Bến Tre thì cần phải nhắc tới hai con số 140 năm và 107 năm, để gợi
nhớ về một cái tên và trung tâm hành chính cấp tỉnh. Trước hết, con số 140 năm
là số năm ra đời của đô thị Bến Tre. Tháng 6-1867, Pháp đặt Dinh Tham biện tại
làng An Hội (bao gồm các phường 1,2,3,4 ngày nay), đánh dấu sự ra đời trung tâm
hành chính đầu tiên của tỉnh. Ngày 1-1-1900, Sở Tham biện được đổi thành tỉnh,
và tỉnh Bến Tre chính thức ra đời (tính đến nay tròn 107 năm), làng An Hội trở
thành trung tâm của tỉnh Bến Tre. Thế nhưng mãi đến năm 1948, thị xã Bến Tre –
trung tâm tỉnh lỵ Bến Tre – mới chính thức được thành lập, đồng thời tỉnh Bến
Tre đổi tên thành tỉnh Đồ Chiểu. Năm 1954, tỉnh một lần nữa được đổi tên thành
tỉnh Kiến Hoà và thị xã Bến Tre được đổi tên thành Trúc Giang. Chỉ đến khi miền
Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tên gọi tỉnh Bến Tre và thị xã
Bến Tre mới được phục hồi cho đến ngày nay.
Còn hồ Trúc Giang ngày
nay đã có tự bao giờ? Vì sao giữa lòng thị xã lại có cái hồ lớn như thế? Do tự
nhiên để lại, hay người ta lấy đất đem đi đâu và để làm gì? Trả lời các nội
dung này không khó. Nhưng mỗi khi lật lại từng trang tư liệu cũ để tìm hiểu thêm,
ta thấy rằng con người thời đó đã vít từng cục đất tại vị trí hồ Trúc Giang để
mang đi đắp nền cho một cái chợ (nay là khu trung tâm thương mại phường 2), để
lại một cái hố khá rộng. Sau này, khi vườn thú của Bến Tre hình thành, hồ lại có
tác dụng như một cái “máy điều hòa nhiệt độ” mỗi khi thị xã vào mùa nắng.
Nói vòng vo một chút như
thế để hiểu sâu sắc thêm về lịch sử của làng An Hội xưa, càng yêu tha thiết mảnh
đất này, cùng với con người thông minh và quả cảm tại đây, đã bao đời đổ không
ít mồ hôi, nước mắt trộn lẫn xương và máu. Có được như ngày hôm nay, thời gian
đó đã trôi qua không dưới 150 năm.
Một sự kiện khác xảy ra cách
đây vừa tròn 32 năm chắc nhiều người cũng đã từng chứng kiến. Đó là sau ngày miền
Nam
hoàn toàn giải phóng, nước nhà độc lập, thống nhất (1975). Sau cuộc míttinh ngoài
trời kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và 30 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đoàn quân diễu hành
đi khắp các con đường chính trong nội ô thị xã mất chưa đến nửa giờ đồng hồ, từ
trung tâm thị xã đến đình Phú Khương, rồi quay trở về cầu Nhà Thương, vòng xuống
cầu Cá Lóc là hết, không thể bung rộng ra được nữa, cũng không thể đi lâu hơn
được vì một lý do đơn giản: Chỉ diễu hành trong nội ô có đông dân cư. Với quy
mô và bề thế của thị xã bây giờ, nếu đi bộ diễu hành như 32 năm trước thì có lẽ
phải mất gần nửa ngày trời.
Sắp tới thị xã sẽ làm gì?
Bước lên đô thị loại
III, thị xã đã tiến được một bước tới cuộc sống văn minh, hiện đại với những
“tiện nghi và phúc lợi” tốt hơn. Thị xã ngày nay to đẹp hơn và đàng hoàng hơn
trước, đó là niềm tự hào chung của nhân dân thị xã. Nhưng phía trước còn bề bộn
nhiều việc, tuy không khó thực hiện cho lắm. Trước tiên là lối sống văn minh đô
thị, đang hiển hiện trước mắt của mỗi người. Đó là việc chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật, là ý thức bảo vệ các công trình công cộng, bảo vệ tài sản chung, bảo
vệ thiên nhiên, giữ gìn vệ sinh công cộng cũng như nơi ăn, chốn ở của mỗi gia
đình, thân thiện với người thân và lịch sự trong giao tiếp. Những điều này, nếu
mỗi chúng ta không quan tâm chăm chút, không chịu khó cải thiện bằng những hành
động cụ thể của mình, thì chúng sẽ trở thành lực cản đối với tiến trình đi lên
của một trung tâm đô thị đang hàng ngày, hàng giờ thực hiện ước vọng của cả
tỉnh là “xây dựng thị xã đạt mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc tỉnh trước
năm 2010”, mà chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, Cao Tấn Khổng đã nêu.
Sắp tới, thị xã sẽ phải
phát triển nhanh hơn. Như vậy, bên cạnh sự góp sức từ bên ngoài, thị xã sẽ phải
phát huy hơn nữa ý chí tự lực tự cường, phát huy mạnh mẽ những thành tựu đã đạt
được, tiếp tục lao động sáng tạo, mới có thể phát triển lên một tầm cao mới,
góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển chung của tỉnh nhà. Để đạt được đích
trên, ít nhất thị xã phải vượt qua mấy “cửa ải” trước mắt. Đó là dồn sức giải
quyết cho được các tiêu chí đã đạt nhưng còn ở cấp độ thấp của đô thị loại III,
chẳng hạn như quy mô dân số, mật độ dân số, tỉ lệ đất giao thông so với đất xây
dựng đô thị, đất cây xanh đô thị so với chuẩn quy định. Đó là tiếp tục đẩy mạnh
công cuộc vận động nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi thu hút mọi nguồn lực của
các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị, gắn
việc phát triển đô thị với phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường hiệu lực
quản lý nhà nước của chính quyền đối với đô thị.
Đó là suy nghĩ, là tìm
tòi mô hình phát triển tiên tiến, bền vững trên lĩnh vực thương mại – du lịch, để
xứng đáng là một trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng có đẳng cấp, trung tâm phân phối
hàng hóa không chỉ trong tỉnh, mà còn một số tỉnh trong vùng. Đó là chú trọng
đầu tư và phát triển bất động sản, nhà ở; phát triển văn hóa, lối sống cộng
đồng; phát triển và bảo tồn các di sản lịch sử, kiến trúc và cảnh quan thiên
nhiên; tạo lập cho được môi trường sống thích hợp, cân đối, hài hòa, bảo đảm an
ninh quốc phòng và các hoạt động kinh tế khác…
Tin chắc rằng, con người
thị xã luôn xứng danh với truyền thống anh hùng; đã tạo lập được, thì giữ vững
và phát triển được.
|