|
Hòa thượng Lê Khánh Hòa, pháp danh Thích Như Trí, sinh ngày 22 tháng 4 năm Mậu Dần (1877), tại làng Phú Lễ, tổng Bảo An, quận Ba Tri, nay là xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Năm 19 tuổi, ông xuất gia thọ giáo ở chùa Kim Cang rồi chùa Long Triều (Tân An). Vốn thông minh lại hiếu học, cho nên sau 10 năm theo thầy học đạo, nghiên cứu kinh sách, ông nổi tiếng là một nhà sư tinh thông về Phật học. Ông được cử làm trụ trì ở các chùa Khải Tường, Long Phước, Hàng Lâm… Năm 1907, ông về trụ trì tại chùa Tuyên Linh. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa tổ chức việc truyền giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh, rồi dần dần mở rộng tầm hoạt động ra các tỉnh khác ở Nam Kỳ. Có vốn hiểu biết rộng về Nho học và Phật học, đi đây đi đó nhiều nơi, giao thiệp rộng với các nhân sĩ, trí thức, cư sĩ Phật giáo, đặc biệt sống gần gũi với quần chúng tín đồ nên ông có một sự hiểu biết sâu sắc về đời sống của nhân dân, nguyện vọng, ước mơ của họ cùng tình hình xã hội của Nam Kỳ trong những thập niên đầu thế kỷ này. Cùng với một số nhà sư có tinh thần yêu nước, tiến bộ như sư Đôn Hậu, sư Huệ Quang, sư Thiện Chiếu… hòa thượng Lê Khánh Hòa tiến hành một cuộc vận động chấn hưng đạo Phật. Chính hòa thượng là người sáng lập "Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội" và "Lưỡng Xuyên Phật học", quy tụ nhiều vị cao tăng và nhân sĩ Phật giáo có tiếng tăm lúc bấy giờ. Năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chuyến lưu lạc vào Nam, có đến Bến Tre và ghé thăm chùa Tuyên Linh. Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã lưu giữ cụ Phó bảng ở lại chùa một thời gian, hai người thường đàm luận với nhau rất tương đắc về nhiều vấn đề thời cuộc và đất nước. Mối quan hệ này về sau vẫn được tiếp tục duy trì, khi cụ Phó bảng về sống tại Cao Lãnh (Sa Đéc). Từ năm 1930, hòa thượng Lê Khánh Hòa được bầu làm Hội trưởng Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội, chủ bút tạp chí Từ bi âm kiêm giám đốc Phật học tùng thư và là người lãnh đạo tinh thần có uy tín lớn đối với phật tử Nam Kỳ và Trung Kỳ. Cũng như trong khoảng thời gian này, ông đi nhiều nơi để vận động đổi mới hoạt động của đạo Phật. Đến Rạch Giá, ông gặp hòa thượng Nguyễn Văn Đồng - một nhà sư yêu nước - về sau bị thực dân bắt giam trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - 1940, vì chùa Tam Bảo, nơi ông chủ trì, là cơ sở cách mạng. Về Trà Vinh, ông cùng hòa thượng Huệ Quang thành lập Lưỡng Xuyên Phật học hội và xuất bản Phật học duy tâm tạp chí. Lưỡng Xuyên Phật học quy tụ nhiều vị cao tăng và trí thức Phật giáo nổi tiếng ở Nam Kỳ một thời. Khi CMT8-1945 bùng nổ, hòa thượng kêu gọi các phật tử trong tỉnh và trong miền ủng hộ chính quyền cách mạng, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong buổi đầu độc lập. Cũng trong thời gian này, do tuổi cao sức yếu, hòa thượng ở hẳn tại chùa Tuyên Linh, ít đi đâu xa. Năm Đinh Hợi (1947), lâm bệnh nặng, biết mình không qua khỏi, hòa thượng đã cẩn thận sắp xếp lại tổ chức trong đạo, căn dặn học trò, tín đồ tham gia vào cuộc kháng chiến do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ngày 19 tháng 6 năm Đinh Hợi, ông bảo học trò tắm rửa và thay đạo phục cho ông, xong quay mặt về phương bắc, cầu chúc nước nhà độc lập, cụ Hồ mạnh khỏe sống lâu, rồi niệm Phật, tắt thở. Với lòng kính trọng một vị cao tăng uyên thâm về mặt triết học Phật giáo, có công xây dựng giáo hội, giàu lòng yêu nước, năm 1951, hội Tăng già giáo hội và Lục hòa Phật tử suy tôn hòa thượng Lê Khánh Hòa làm Tổ của Phật giáo miền Nam. Năm 1956, lễ trà tỳ (tức lễ hỏa thiêu di hài để đưa tro vào bảo tháp) của hòa thượng được bổn đạo cử hành hết sức trọng thể ở chùa Tuyên Linh, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã phát huy và tiếp thu tinh thần đó trong việc tu thân hành đạo một cách tích cực và sáng tạo. Cuộc đời hòa thượng Lê Khánh Hòa là một tấm gương cao đẹp về tinh thần yêu nước, về lòng vị tha cho hàng vạn tín đồ Phật giáo noi theo. |