|
Nằm ở trung tâm thị xã Bến Tre, bảo tàng tỉnh là một trong số ít
ngôi nhà được xây dựng từ đầu thế kỷ 20
hiện còn lại ở Bến Tre, trên diện tích hơn 1,4 ha. Trước ngôi nhà là dòng sông
Bến Tre êm ả, gió mát và những tán cây cổ thụ bao quanh tạo cho nơi đây sự yên
tĩnh và mát mẻ quanh năm. Ngôi nhà được xây dựng để làm Dinh Tham biện, Dinh
Tỉnh trưởng từ thời Pháp thuộc đến năm 1975. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều sự
kiện lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Bến Tre trong hai thời kỳ kháng
chiến. Từ ngày 26-11-1960 đến 26-5-1962, người chiến sĩ tình báo – đại tá, liệt
sĩ anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Ngọc Thảo đã hoạt động bí mật
trong lòng địch với cương vị là Tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hòa của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa. Xác định được tầm quan trọng của bảo tàng tỉnh là nơi sưu tầm, bảo
quản, trưng bày những hiện vật có liên quan đến quá trình hình thành của Lịch
sử - Văn hóa vùng đất Bến Tre, đặc biệt là giai đọan lịch sử cách mạng, để phục
vụ công tác nghiên cứu lịch sử cũng như giáo dục truyền thống cho nhân dân,
nhất là thế hệ trẻ, ngày 20-10-1981, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre đã chính thức
cho sử dụng ngôi nhà này làm bảo tàng của tỉnh.
Trên cơ sở Phòng Bảo tồn
- Bảo tàng được thành lập từ năm 1976, Bảo tàng Bến Tre đã có một cơ ngơi khá
khang trang để phát huy tốt vai trò của mình. Lúc mới thành lập, bảo tàng chỉ
có vài cán bộ trình độ chuyên môn còn hạn chế, nhưng đến nay đã có 20 cán bộ có
trình độ từ trung cấp đến đại học, trong đó 1 thạc sĩ, 9 cán bộ đại học chuyên
ngành bảo tàng. Bảo tàng đã không ngừng đổi mới để đáp ứng kịp nhu cầu và nhiệm
vụ chính trị của đơn vị.
Công
tác nghiên cứu – sưu tầm
Đây là khâu rất quan
trọng trong việc quyết định sự hình thành và phát triển của Bảo tàng Bến Tre.
Lúc mới thành lập, bằng lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm trước lịch sử,
những cán bộ sưu tầm đã mang về nhập kho bảo tàng nhiều hiện vật có giá trị
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đây là cơ sở để bảo tàng tổ chức
những cuộc triển lãm đầu tiên phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị lúc bấy giờ,
từ đó công tác sưu tầm, gìn giữ và phát huy hiện vật được nhân dân trong tỉnh
đồng tình ủng hộ, có nhiều gia đình sẵn lòng tặng cho bảo tàng rất nhiều hiện vật mà không hề có yêu cầu gì,
điển hình như ông Nguyễn Văn Tư ở ấp Phước Khánh, xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ
Cày; bà Phan Thị Nỉ ở xã Sơn Phú, huyện Giồng Trôm; bà Huỳnh Phương Thảo ở
phường 17, Quận 3, TP Hồ Chí Minh; bà Đồng Thị Thanh Hồng ở số 744/2, Nguyễn
Kiệm, TP.HCM; ông Nguyễn Văn Quang ở ấp 2, xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, và còn rất
nhiều những tấm lòng, những nghĩa cử cao đẹp của nhân dân không thể kể hết ra đây.
Từ năm 2002 đến nay, bảo
tàng đã tổ chức 4 đợt sưu tầm có tính chất quy mô trong phạm vi toàn tỉnh, đã
sưu tầm được 6.934 hiện vật bổ sung cho các bộ sưu tập hiện vật trong kho,
trong đó có những hiện vật quý hiếm mà trước đây kho bảo tàng chưa có, với sự
đóng góp nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn sinh viên Cao đẳng khoa Bảo tàng
khóa 4, 5 và khóa 9, trường Đại học Văn hóa TP.HCM.
Công
tác kiểm kê – bảo quản
Công tác kiểm kê – bảo
quản hiện vật được xác định là một bộ phận không thể thiếu và tách rời với các
khâu công tác khác vì nó quyết định cho sự phát triển sự nghiệp bảo tàng. Ngoài
mục đích làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa, giá trị và tình trạng bảo quản hiện
vật, công tác kiểm kê hiện vật còn có vai trò đặc biệt quan trọng là “đăng ký,
kiểm kê các hiện vật nhập vào kho, để cho các hiện vật đó trở thành tài sản
chính thức và vô giá của nhà nước, được bảo vệ theo quy định của pháp luật và
luật di sản văn hóa.”
Tuy nhiên, so với yêu
cầu của việc lưu giữ trên 13.709 hiện vật với nhiều chất liệu và lọai hình khác
nhau, hơn 120kg tiền kim lọai, hàng trăm hiện vật khảo cổ đã khai quật liên tiếp
trong những năm gần đây, diện tích kho hiện nay vẫn chưa đủ để bảo quản tốt
hiện vật theo đúng phương pháp khoa học, và sự phát triển theo chuẩn của một bảo
tàng tổng hợp của tỉnh. Về nguyên tắc, việc bảo quản được phân chia theo từng
kho chất liệu riêng và hình thành những sưu tập theo nội dung hay niên đại khác
nhau.
Cho đến cuối năm 2006,
bước đầu Bảo tàng Bến Tre đã định hình xây dựng các sưu tập hiện vật phản ánh
nội dung, tính chất của một bảo tàng tổng hợp như sau:
-Phân
lọai theo chất liệu: Có 7 bộ sưu tập gồm sưu tập gốm sứ; sưu tập kim lọai;
sưu tập gỗ; sưu tập mây tre; sưu tập
giấy; sưu tập vải; sưu tập da; sưu tập xương và sưu tập sừng.
-Phân
lọai theo niên đại: Có 9 bộ sưu tập, trong đó các bộ sưu tập hiện vật của Bảo tàng
Bến Tre khá đa dạng về chất liệu, phong phú về lọai hình, nội dung và niên đại.
Các bộ sưu tập này đã phản ánh sinh động quá trình phát triển, cũng như đặc
trưng tiêu biểu của lịch sử - văn hóa vùng đất Bến Tre. Đó là bộ sưu tập hiện
vật di chỉ Giồng Nổi; bộ sưu tập tiền kim lọai có niên đại từ rất sớm (sưu tập
hiện vật khảo cổ di chỉ Giồng Nổi có niên đại 2000 – 2500BP). Các sưu tập này
được trưng bày tại Bảo tàng.
Công
tác trưng bày và tuyên truyền
Công tác trưng bày là
ngôn ngữ, là bộ mặt hoạt động của bảo tàng, là cầu nối của bảo tàng với công
chúng, cho nên trong những năm gần đây Bảo tàng Bến Tre thường xuyên đổi mới
nâng cao chất lượng về nội dung lẫn hình thức trong trưng bày. Từ năm 2001 đến
nay, ngoài trưng bày cố định về lịch sử cách mạng kháng chiến và thành tựu kinh
tế - xã hội của tỉnh, bảo tàng còn tổ chức 40 cuộc triển lãm, trưng bày theo
từng chuyên đề phục vụ các ngày lễ, tết hàng năm (các dịp lễ lớn như 17-1; 3-2;
30-4; 19-5; 2-9; 22-12) tại nhà trưng bày thành tựu, phòng truyền thống Đồng
Khởi và mở rộng đến các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày, Châu Thành và Bình Đại. Ngoài
ra, còn phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM và Bảo tàng Văn hóa
Dân tộc ở Thái Nguyên trưng bày một số hình ảnh hiện vật tiêu biểu của 53 dân
tộc và một số hình ảnh, hiện vật di chỉ khảo cổ học Hoàng thành Thăng Long.
Bảo tàng còn tổ chức
trưng bày tại các di tích cấp quốc gia như di tích Nguyễn Đình Chiểu, di tích Đồng
Khởi; nhà ông Nguyễn Văn Trác (nơi ở và làm việc của cố tổng bí thư ĐCSVN Lê
Duẩn); cây da đôi; nhà lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định; nhà lưu niệm kiến
trúc sư Huỳnh Tấn Phát.
Thuyết minh phục vụ
khách tham quan là khâu công tác cuối cùng của hoạt động bảo tàng, vì nó phản
ánh hoạt động của các khâu công tác từ khâu tổ chức – hành chánh cho đến kiểm
kê – bảo quản. Có thể nói, hoạt động bảo tàng đều nhằm vào mục đích cuối cùng
là phục vụ khách tham quan. Lượng khách đến tham quan bảo tàng và các di tích
năm sau cao hơn năm trước, bình quân hàng năm có khoảng 170.000 lượt khách
trong và ngoài nước đến tham quan, học tập và nghiên cứu. Để phục vụ ngày càng
tốt hơn, Bảo tàng Bến Tre rất quan tâm đến trẻ hóa đội ngũ cán bộ thuyết minh
và được đào tạo qua trường lớp, có kiến thức chuyên sâu về lịch sử, văn hóa, xã
hội, có trình độ ngoại ngữ tương đối để có thể trực tiếp giới thiệu với khách
nước ngoài.
Để tuyên truyền giáo dục
truyền thống cách mạng sâu rộng trong nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, bảo tàng đã
tổ chức thành công 3 cuộc thi: Tìm hiểu lịch sử Bến Tre trước khi có Đảng cho
đến thời kỳ chống Pháp và Mỹ qua trưng bày bảo tàng; tìm hiểu lịch sử Đồng Khởi
Bến Tre; tìm hiểu Luật Di sản văn hóa. Mỗi đợt có trên 10.000 bài dự thi, đa số
là học sinh, sinh viên. Song song đó, bảo tàng còn in và xuất bản các tờ gấp
giới thiệu di tích; sách “Bến Tre – Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa”; phối
hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam xuất bản tạp chí Khảo cổ học, giới thiệu “Di
chỉ Giồng Nổi và công tác khảo cổ học ở Bến Tre”.
Cùng với hoạt động bảo
tàng, việc gìn giữ tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử được đặc biệt quan tâm
như đầu tư kinh phí trùng tu, sửa chữa, xây dựng và mở rộng các di tích, tiêu
biểu như di tích lịch sử cấp quốc gia Nguyễn Đình Chiểu, ngã ba cây da đôi,
Đình Tân Thạch, Đình Phú Lễ, Đồng Khởi, đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam, chứng
tích cuộc thảm sát 286 người dân vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1946 ở
Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, khu lưu niệm Nguyễn Thị Định, nhà lưu niệm Huỳnh Tấn
Phát, …để có điều kiện phục vụ được tốt hơn.
Đến nay có 13 di tích
được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích cấp Quốc gia, 3 di tích cấp
tỉnh, trên 40 bia tượng được xây dựng và 6 nhà trưng bày truyền thống được phân
bổ đều khắp các huyện trong tỉnh. Hiện nay, bảo tàng đang lập hồ sơ và chờ
quyết định công nhận di tích cấp quốc gia của Bộ Thông tin và truyền thông cho Nguyễn
Từ Đường và nhà cổ Hương Liêm. Bên cạnh đó, bảo tàng còn thực hiện nhiều chương
trình mục tiêu cấp quốc gia về văn hóa phi vật thể như nghệ thuật hát sắc bùa
Phú Lễ, lễ hội đu bầu, tang lễ người già, các hình thức diễn xướng dân gian Bến
Tre.
Với sự nỗ lực, phấn đấu
và phát triển, năm 2006 Bảo tàng Bến Tre đã được UBND tỉnh công nhận là bảo
tàng hạng ba.
|