|
Bến Tre không còn hộ đói, chỉ có hộ nghèo. Hiện tại, hộ nghèo
ở Bến tre chiếm 17,74% số hộ trong tỉnh. Nhìn vào danh sách 57.257 hộ nghèo ta thấy
rõ rằng nghèo ở đây không chỉ là nghèo tiền, nghèo bạc, nên xem ra việc giảm nghèo
là không dễ, đòi hỏi phải có thời gian, thậm chí phải chấp nhận còn một bộ phận
nghèo.
Nghèo toàn diện
Ở nông thôn nơi nào cũng
vậy, không khó đi tìm một hộ nghèo để hiểu rõ thực hư. Nhưng hôm nay lại khác, để
đạt thêm một ý mới, tôi dùng điện thoại gọi tuần tự đến ba bí thư xã của ba xã
rất quen, đến độ chỉ cần nghe tiếng nói trong điện thoại là biết nhau ngay. Một
câu hỏi chung là “Anh chỉ dùm một gia đình nghèo để tôi tự đến nắm thực trạng
tình hình của hộ nghèo đó”. Tất cả đều có chung một câu trả lời: “Anh cứ đến,
có cán bộ xóa đói giảm nghèo của xã dẫn đi, tha hồ mà nắm tình hình. Còn liền
bây giờ, vì tôi lãnh đạo chung, nên khó lòng chỉ được cụ thể”.
Đến một số nơi như Thạnh
Phú Đông (huyện Giồng Trôm), Mỹ Hòa (huyện Ba Tri), Định Thủy (huyện Mỏ Cày) để
thấy rằng, đã gọi là nhà nghèo thì không chỉ nghèo tiền, nghèo bạc, nghèo nhà
ở, mà còn nghèo cả kiến thức, đến nỗi “chữ tín” của con người cũng không có.
Nghèo xác xơ, nghèo rớt mồng tơi là vậy.
Cái trước mắt chủ yếu là
vai u, thịt bắp để kiếm cái ăn hằng bữa còn chưa chắc được, huống chi nói đến
chuyện lâu dài, đầu tư tái sản xuất, tạo ra sản phẩm có giá trị cao.
Người nghèo phần nhiều
là không đất hoặc thiếu đất sản xuất, sống nhờ vào làm thuê lao động giản đơn,
thì làm sao có thu nhập cao được.
Nghèo vì trong gia đình
không còn người lao động, thậm chí không có người nuôi dưỡng, chỉ sống nhờ vào
chính sách bảo trợ xã hội. Nghèo là đương nhiên.
Người nghèo nhà dột, cột
xiêu, đất đai không có. Thiên tai đến thường là những hộ này bị thiệt hại trước
hết và nhiều nhất. Nghèo lại nghèo thêm.
Nhà nghèo, không tiền,
không kiến thức, làm gì cũng thường hay gặp rủi ro, khả năng hoàn vốn thấp, nên
chữ tín không còn, vay không được gia hạn hoặc khoanh nợ, đành phải đi vay nặng
lãi. Nợ chồng thêm nợ.
Cái nghèo lại thường rơi
vào vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn. Gặp bệnh, mặc dù chữa trị không mất
tiền, nhưng chi phí cho tàu xe, người nuôi không có, đành phải nằm nhà. Bệnh
càng thêm nặng…
Theo họ, nghèo là “số
mệnh”. Cái “nghèo toàn diện” làm cho tư duy con người không thoát ra khỏi cái
vòng lẩn quẩn túng khó, cho nên họ cứ sống ngày nào hay ngày đó, sống ngày nay
không tính đến ngày mai. Vì vậy, chính quyền địa phương muốn giúp họ thoát
nghèo cũng không phải dễ
 Người nghèo lại chính là những người chịu thiệt hại nặng nhất vì thiên tai
Theo anh Ngũ Văn Hóa, Phó
Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội: Giải quyết được cái nghèo ở Bến
Tre “phải tổng hợp các giải pháp, không thể xem nhẹ mặt nào và phải có thời
gian”.
Nâng tố chất người nghèo
Đúng như ai đó đã nói: Nếu
trong một hộ nghèo, mà có người được học nghề và có việc làm, có thu nhập 1
triệu đồng/tháng hoặc đi làm việc nước ngoài, thì hộ đó sẽ thoát nghèo. Nhưng
đối với nhà nghèo được học nghề đã khó, có việc làm càng khó hơn. Trong điều
kiện hiện nay, muốn giúp người nghèo học được nghề và có việc làm, phải thỏa
mãn hai điều kiện: Đẩy mạnh phát triển ngành nghề và tổ chức dạy nghề tại nông thôn,
đồng thời là nâng mức hỗ trợ về học phí, kể cả chi phí ăn, ở, chi phí giới
thiệu việc làm. Có như vậy, người nghèo, kể cả người cận nghèo mới chuyển được
ngành nghề, nhất là đối với những hộ không đất hoặc thiếu đất sản xuất. Xem ra
đây là điều kiện tốt, cần nên có chủ trương, vì số này đã quá nửa số nghèo của
tỉnh, đồng thời cũng là phù hợp với việc phát triển kinh tế của Bến Tre.
Hỗ trợ phát triển kinh tế
Công tác giảm nghèo phải
đặt trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội hàng năm ở từng địa phương,
do cấp ủy nơi đó trực tiếp lãnh đạo, vì đây là một trong những biểu hiện bản
chất tốt đẹp của chế độ ta. Cụ thể hóa công tác giảm nghèo bằng những kế hoạch,
giải pháp thiết thực, phù hợp. Phát huy dân chủ ở cơ sở là điều không thể thiếu
trong công tác giảm nghèo - cái gì làm trước, cái gì làm sau, làm như thế nào,
nguồn lực ở đâu – tất cả đều công khai, do dân thảo luận và trực tiếp quyết
định trên cơ sở đã có kế hoạch.
Trên cơ sở quy hoạch
phát triển kinh tế, đặc biệt là xác định từng loại cây trồng, vật nuôi phù hợp
từng vùng, từng đối tượng, mà hỗ trợ người nghèo định hướng phát triển kinh tế
gia đình. Mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên miếng đất của họ không
còn phù hợp. Đầu tư vay vốn gắn liền với hỗ trợ kỹ thuật, chú trọng đầu ra sản
phẩm và quan tâm đến yếu tố rủi ro. Ưu tiên cho vay vốn với mức tối đa và thời
gian hợp lý, theo nhu cầu đối với những hộ chí thú làm ăn, có kế hoạch hợp lý
và có ý thức tốt, trong đó có xem xét hỗ trợ cho vay tái đầu tư mỗi khi bị thua
lỗ hoặc rủi ro chính đáng.
Giải pháp bổ trợ
Tiếp tục thực hiện tốt
việc cấp thẻ bảo hiểm y tế và chính sách bảo trợ cho người nghèo, kể cả việc chăm
sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng miễn phí cho người nghèo, người tàn tật, người
cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Triển khai dự án tiếp cận hỗ trợ y tế cho người
nghèo, người cận nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và người lang
thang cơ nhỡ; vận động hộ thoát nghèo, hộ cận nghèo mua bảo hiểm y tế tự
nguyện.
Tranh thủ các nguồn hỗ
trợ chương trình nước sạch cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, cụm đông dân cư;
đẩy mạnh sửa chữa, xây nhà mới cho hộ nghèo quá khó khăn về nhà ở, mà bản thân
không thể tự lực được, ngoài quỹ vì người nghèo và cộng đồng hỗ trợ, chú ý đến
tình làng nghĩa xóm trong từng xóm ấp, nhất là trong họ tộc.
Khuyến khích bản thân
người nghèo tự phấn đấu vươn lên, khắc phục tư tưởng trông chờ ỷ lại. Trong đảng,
ngoài việc lo cái nghèo cho đảng viên, chi bộ phân công đảng viên giúp từ một
đến hai hộ nghèo trong xóm, ấp từ một đến hai năm. Đoàn viên, hội viên nào
nghèo thì đoàn, hội nơi ấy giúp đỡ. Vai trò của 905 trưởng ấp và 12.666 tổ
trưởng tổ nhân dân tự quản là đặc biệt quan trọng trong công tác giảm nghèo.
Ban chỉ đạo giảm nghèo
các cấp kịp thời xem lại để mà củng cố. Ngoài nhiệt tình và năng lực không thể
thiếu cái tâm và cái tầm. Đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và cán bộ làm công tác giảm nghèo cũng cần phải được nâng cao năng lực.
Chỉ tiêu giảm hộ nghèo ở
Bến Tre phấn đấu đến cuối năm 2008 còn dưới 11%, để đến năm 2010 tỉ lệ ấy chỉ
còn một con số. Cơ bản đến năm 2008 hộ chính sách nghèo có mức sống tối thiểu
bằng mức sống cộng đồng dân cư nơi cư trú. Cuối năm 2010 không còn hộ nghèo khó
khăn về nhà ở. Với tinh thần “Ấp giải quyết công việc của ấp, xã giải quyết
công việc của xã, huyện - thị giải quyết công việc của huyện – thị, tỉnh chỉ
đạo điều phối chung và tập trung hỗ trợ những địa bàn trọng điểm”. Ai cũng dành
lấy công việc về mình, không đùn đẩy trách nhiệm, nắm rõ hoàn cảnh từng người
nghèo, giúp đỡ đúng thực chất, không chạy theo thành tích, “kiên quyết không
đưa những người có tư liệu sản xuất, có khả năng lao động nhưng lười biếng vào
diện nghèo” thì ắt hẳn dân sẽ ủng hộ, việc giảm nghèo sẽ mau đến đích.
|