Hôm nay: 21/04/2014
 
Trang chủ arrow Lịch sử arrow Trang sử arrow Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945)
Bến Tre dưới sự thống trị của thực dân Pháp (1895-1945) In

Sau khi triều đình nhà Nguyễn ký kết hòa ước Nhâm Tuất (1874), giao trọn chủ quyền sáu tỉnh cho Pháp, thực dân Pháp bắt tay tổ chức ngay bộ máy cai trị ở Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng. Chúng lập ra phủ Thống đốc – cơ quan cai trị cao nhất ở Nam Kỳ – do thống đốc đứng đầu. Viên Thống đốc đô đốc (Governeur Amiral) đầu tiên ở Nam Kỳ là Victor Auguste Duperré. Tiếp đến, chúng phân chia toàn bộ Nam Kỳ Lục tỉnh thành 4 khu vực hành chính: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xắc. Ở dưới cấp khu vực có những tiểu khu trực thuộc. Tiểu khu Bến Tre nằm trong khu vực Vĩnh Long. Năm 1867, Nam Kỳ được chia thành 25 sở tham biện (inspection), cù lao An Hóa thuộc sở tham biện Kiến Hòa, cù lao Minh và cù lao Bảo lúc đầu nằm trong tham biện Bến Tre, sau đó lại chia làm hai: sở tham biện Mỏ Cày và sở tham biện Bến Tre. Đến ngày 7-6-1871, hai sở tham biện lại nhập thành một: sở tham biện Bến Tre. Cơ cấu hành chính này tồn tại mãi đến ngày 20-12-1899, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định chính thức đổi tên gọi tiểu khu thành tỉnh (province).

   Đứng đầu mỗi tỉnh là viên Chánh chủ tỉnh (Administrateur chef de province) do người Pháp trực tiếp giữ chức vụ này. Ở Bến Tre Chánh chủ tỉnh đầu tiên là Quesnel (1920), sau đó là Georges Rivoal (1926), Gaston Travernoy (1928), Fernad Caire (1929-1930) v.v...

   Đơn vị hành chính dưới tỉnh là quận, do chủ quận đứng đầu, dưới quận là tổng, có cai tổng đứng đầu. Đơn vị hành chính cơ sở là làng, và ở đây về cơ bản, thực dân Pháp vẫn giữ nguyên hệ thống tổ chức cũ của nhà Nguyễn với một hội đồng kỳ hào gồm 11 đến 12 người (1). Bọn thống trị thực dân từ Paul Doumer đến Albert Sarraut đều muốn duy trì bộ máy xã thôn cũ, làm công cụ đàn áp và bóc lột nhân dân ta ở nông thôn. Chính Doumer đã từng nhấn mạnh: "Theo tôi, duy trì trọn vẹn thậm chí tăng cường cách tổ chức cũ kỹ, mà chúng ta thấy đó là một điều tốt. Theo cách tổ chức này, thì mỗi làng sẽ là một nước cộng hòa nhỏ bé, độc lập trong những giới hạn quyền lợi của địa phương. Đó là một tập thể được tổ chức rất chặt chẽ, rất có kỷ luật và rất có trách nhiệm đối với chính quyền cấp trên về những cá nhân thành viên của nó - những cá nhân mà chính quyền cấp trên không cần biết tới - điều đó rất thuận lợi cho công việc của chính quyền" (2).

   Với dụng ý trên, ở Bến Tre, sau khi hoàn thành việc đánh chiếm, thực dân Pháp không ngừng củng cố và phát triển bộ máy hành chính xã thôn có sẵn thời Nguyễn. Năm 1867 về trước, tại cù lao Minh và cù lao Bảo chỉ có một phủ và bốn huyện (Tân Minh, Duy Minh, Bảo Hựu và Bảo An), nhưng đến năm 1929 thực dân Pháp đã chia ra làm 4 quận: Sóc Sãi (về sau, đổi tên thành quận Châu Thành), Ba Tri (ở cù lao Bảo) và Mỏ Cày, Thạnh Phú (ở cù lao Minh) gồm 20 tổng (10 tổng ở Bảo, 10 tổng ở Minh) với 94 làng ở Bảo, 41 làng ở Minh. Hệ thống tổ chức này không chỉ có giá trị về hành chính, an ninh mà còn có giá trị về kinh tế. Chúng lại đưa địa chủ vào nắm các chức vụ trong bộ máy cai trị đó như Phó Hoài, Phủ Kiểng, Hương Liêm, Cai Tâm, Cai Thì, Hội đồng Nhơn, Hội đồng Thạch v.v... thực hiện sự cấu kết giữa địa chủ phong kiến và thực dân trong việc khống chế và áp bức nhân dân lao động ở nông thôn.

   Đi đôi với việc thiết lập bộ máy cai trị, thực dân Pháp thi hành chính sách bóc lột, vơ vét tài nguyên và lao động của nước ta phục vụ cho sự phồn vinh của chính quốc Pháp.

   Để có một ngân sách chi tiêu vào công việc trong xứ, thực dân Pháp duy trì việc thu thuế đinh cùng thuế điền và mức thuế đã không ngừng tăng lên nhanh chóng. Kết quả là riêng ở Nam Kỳ, năm 1899 chúng mới thu được 4,7 triệu tiền thuế, đến năm 1907 con số đó lên đến 7 triệu đồng Đông Dương.

   Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp thi hành chính sách cướp đoạt ruộng đất của nông dân để nuôi béo bọn điền chủ Pháp. Sắc lệnh tháng 7-1888, và nhất là sắc lệnh 18-8-1896 của Toàn quyền cho phép bọn "colon" người Pháp được phép chiếm đoạt ruộng đất dưới hình thức nhượng với những điều kiện hết sức rộng rãi. Với sắc lệnh này, chính quyền thực dân có thể nhượng cho điền chủ người Pháp cả một vùng rộng lớn, bất kể trong đó ruộng đất thuộc của ai (trên thực tế, phần lớn thuộc sở hữu của nông dân khai phá). Thủ tục khai báo xin nhượng đất rất đơn giản. Muốn xin đất, bọn điền chủ Pháp chỉ cần khai báo diện tích, vị trí, giới mốc và trả tiền theo giá 1 đồng cho mỗi hécta và sau 5 năm mới phải nộp thuế.

   Chính sách cướp đoạt này đã đưa tới hậu quả là trong cả nước, tính đến năm 1913 bọn điền chủ Pháp đã chiếm tới 470.000 ha. Riêng ở Bến Tre, số ruộng đất rơi vào tay bọn điền chủ Pháp cũng rất lớn. Năm 1880, tên Pilet chiếm 200 ha ở Mỹ Chánh. Năm 1895, Pilet, Oudin và Blanc, mỗi tên chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1897, tên Brondeau chiếm 100 ha ở Thạnh Phú, tên Guyot chiếm 300 ha ở Phú Ngãi. Năm 1901, tên Giovansili chiếm 300 ha Giao Thạnh. Năm 1903, tên Mariani chiếm 185 ha ở Bình Khương. Năm 1905, tên Prédiani chiếm 718 ha ở An Nhơn. Năm 1922, Hội truyền giáo nước ngoài (Mission Étrangère) chiếm 53 ha ở Thạnh Phú...

   Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đi đôi với sự tăng cường đầu tư của tư bản Pháp vào nông nghiệp, thực dân Pháp còn ban hành chính sách mới, tạo điều kiện thuận lợi cho bọn điền chủ Pháp chiếm đoạt nhiều ruộng đất hơn nữa. Theo nghị định ngày 18-8-1926, bọn điền chủ Pháp có thể xin cấp đất không phải mất tiền và không phải nộp thuế về sản phẩm thu hoạch trên diện tích từ 300 ha trở lại. Còn từ 300 ha trở lên, chúng cũng chỉ phải nộp một số thuế bằng 2% giá trị sản phẩm thu hoạch.

   Sắc luật tháng 11-1928 của thực dân Pháp lại xóa bỏ mọi hạn chế về diện tích chiếm hữu và nới rộng quyền hạn cấp đất của các cấp chính quyền thuộc địa. Sắc luật ấy còn giành đặc quyền chiếm đoạt ruộng đất cho bọn điền chủ Pháp.

   Đến năm 1935, thực dân Pháp lại ban hành luật điền thổ mới giành nhiều quyền ưu tiên cho ngoại kiều - chủ yếu là người Pháp - về sự chiếm hữu ruộng đất. Kết quả là đến năm 1930, ở nước ta, bọn điền chủ Pháp đã chiếm được 850.000 ha, bằng một phần sáu diện tích đất trồng trọt.

   Riêng ở Bến Tre, đến những năm 1939 - 1940, đã có những điền chủ người Pháp, người Ấn và người Việt quốc tịch Pháp chiếm những diện tích đất đai lớn như:

   Ở Bình Đại có Baudson chiếm 825 ha vùng rừng đình Đầu Trâu, Raymond Gelet chiếm 77 ha đất trồng dừa. Ở khu vực Đê Đông, René Théophile Leroy chiếm 425 ha. Avémei Di Mesah (Ấn kiều) chiếm 44 ha ở xã Phú Long.

   Ở Giồng Trôm có Hamet Toussaint chiếm 30 ha thuộc khu vực ngã ba Giồng Trường lên đến trạm máy kéo Giồng Trôm hiện nay, Thérèse Phạm Túy Anh, Phạm Văn Chánh chiếm 176 ha vùng Hưng Nhượng - Sơn Đốc.

   Ở Thạnh Phú có Sounassoudiane Chetli (Ấn kiều) chiếm 31 ha vùng Rạch Sấu, Rạch Cừ, xã An Thạnh. Elisabeth Nguyễn Thị Quang chiếm 176 ha thuộc Mỹ Hưng, xã Quới Điền.

   Ở Châu Thành có Roger Nguyễn Võ Hiền chiếm 89 ha ở An Hiệp. Ngoài ra còn có Philippe Nguyễn Văn Phụng chiếm 56 ha ở Sơn Phú, Phú Hưng. Họ đạo Cái Bông (Giồng Tre) chiếm 130 ha vùng chung quanh nhà thờ.

   Đi đôi với việc tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho các điền chủ Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, thực dân Pháp cũng tỏ ra dễ dãi đối với số điền chủ người Việt bao chiếm ruộng đất, nhằm biến số này thành chỗ dựa xã hội cho sự thống trị của chúng. Ở Bến Tre, số này được thực dân Pháp nâng đỡ khuyến khích, tiến hành bao chiếm khai thác những mảnh đất rộng lớn ở vùng cuối của cù lao Minh và cù lao Bảo. Một trường hợp điển hình là khoảng năm 1930, cha con Huỳnh Ngọc Khiêm (tục danh Hương Liêm) được thực dân Pháp cho bao chiếm khai thác vùng đất từ Dinh Bà lên vàm Băng Cung, xã Quới Điền, dải phù sa ven biển Thạnh Phú.

   Chính sách ruộng đất nói trên của thực dân Pháp đã đưa tới sự hình chế độ sở hữu ruộng đất lớn và sự tăng trưởng nhanh chóng tầng lớp địa chủ, phú hào cả về số lượng lẫn quy mô chiếm hữu. Ở Bến Tre, năm 1867, toàn tỉnh có không đầy 20 đại điền chủ có từ 100 ha trở lên, mà đến năm 1929 đã có đến 44 điền chủ từ 100 đến 500 ha và 168 điền chủ có từ 50 đến 100 ha. Toàn bộ số điền chủ này chỉ chiếm 0,7% dân số trong tổng số 315.000 dân, mà đã chiếm gần 27.000 ha trong tổng số 158.000 ha ruộng đất toàn tỉnh, tức 17% diện tích ruộng đất.

   Trong khi đó, trong tổng số 315.000 dân, ngoài số 212 đại và trung điền chủ nói trên, chỉ còn có 38.009 người có ruộng đất, trong đó 34.243 người có từ 1 đến 10 ha, và 3.766 người có từ 11 đến 50 ha. Như vậy nếu tính gộp chung lại, thì trong tổng số 315.000 dân chỉ có 38.185 người có ruộng đất, tức 12%. Còn 88% còn lại , tức 276.815 người thì không có một tí ruộng đất nào (3).

   Điều này cho thấy chính sách cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp thâm độc đến mức nào.

   Điều cần nói thêm là bọn "colon" Pháp và số điền chủ người Việt đổ xô vào nông nghiệp, đua nhau cướp đoạt ruộng đất, nhưng cách khai thác vẫn theo phương thức phong kiến, nghĩa là phát canh thu tô, hoặc cho nông dân thuê bằng tiền. Do đó năng suất lúa trong thời gian này rất thấp, thấp nhất trong số các nước sản xuất lúa ở Đông Nam Á, chỉ 12,1 tạ trên một hecta. Riêng Bến Tre, tình trạng còn bi đát hơn là mặc dù diện tích canh tác mở rộng, nhưng sản lượng lúa nói chung của toàn tỉnh thì lại lên xuống rất thất thường, thậm chí có những năm bị giảm sút nghiêm trọng.

   Từ năm 1899 đến năm 1908, hằng năm thực dân Pháp xuất khẩu khoảng 820.000 tấn gạo, đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, con số này nhảy vọt lên tới 1.763.587 tấn, chiếm từ 60 - 70% tổng giá trị xuất khẩu trong thời gian này. Số lúa xuất khẩu ấy chủ yếu vơ vét từ nông thôn chứ không phải do các đồn điền thực dân cung cấp. Ở Nam Kỳ có đến hàng chục công ty xuất khẩu gạo hoạt động. Những công ty này có một mạng lưới trung gian người Việt, nhất là người Hoa, tung về khắp nông thôn vơ vét lúa gạo. Không những thế, để có đủ gạo xuất cảng, các công ty xuất khẩu gạo được chính quyền thực dân giúp đỡ, đã dùng mọi hình thức ép nông dân phải bán rẻ số lúa quá ít ỏi của họ. Nông dân do đó bị kiệt sức, không có khả năng để cải tiến kỹ thuật canh tác.

   Như vậy là chính sách cướp đoạt ruộng đất và khai thác nông nghiệp của thực dân Pháp đã đẩy nông nghiệp Việt Nam nói chung, Bến Tre nói riêng vào tình trạng hết sức tiêu điều. Về tình cảnh của những người bần cố nông, tá điền ở Nam Kỳ thời kỳ thuộc Pháp, đồng chí Lê Duẩn có nhận xét: "Tình hình đời sống của tá điền khổ hơn nông nô. Bọn địa chủ cột chặt đời sống của tá điền vào ruộng đất không phải hằng tháng, mà suốt đời, từ đời cha đến đời con, bằng cách chồng chất lên đầu tá điền hàng trăm thứ nợ... Trong những năm thuộc Pháp - Nhật có những người con gái tá điền 15, 16 tuổi không có áo che thân, có người phải tự tử, có gia đình cả vợ chồng, con cái chỉ có một cái quần" (4). Tá điền ở Bến Tre cũng không thoát khỏi tình trạng chung đó.

   Trên lĩnh vực công nghiệp - nhìn trong phạm vi cả nước - dưới thời thực dân, hầu hết các hầm mỏ, công trường, xí nghiệp đều do Nhà nước, hoặc bọn tư sản Pháp nắm, mà hướng phát triển thì đã được xác định khá rõ ngay từ đầu: “... Nếu có mở mang công nghiệp ở đây (tức là Việt Nam) thì chỉ giới hạn trong phạm vi là nền công nghiệp đó không làm hại đến công nghiệp chính quốc" (5). Bị khống chế trong một giới hạn như vậy, cho nên nền công nghiệp ở Việt Nam nói chung rất nhỏ bé và què quặt.

   Bến Tre vốn là một tỉnh nông nghiệp, lại đứng trước một chính sách hạn chế phát triển công nghiệp như vậy, nên cơ sở công nghiệp rất nhỏ bé và còi cọc. Hơn 80 năm thống trị, bọn thực dân Pháp không đầu tư vào đây một cơ sở công nghiệp nào có giá trị, kể cả việc chế biến sản phẩm nổi tiếng ở đây là dừa. Có điều là để bảo đảm có gạo xuất khẩu, một số tên thực dân và điền chủ lớn đã xây dựng ở đây hàng loạt nhà máy xay, năm 1921, có 17 cái, năm 1929, tăng 32 cái và năm 1930, lên đến 45 cái, nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ.

   Ngoài số nhà máy xay xát ra, các cơ sở công nghiệp khác coi như không đáng kể. Toàn tỉnh chỉ có một trạm phát điện diésel, chủ yếu phục vụ cho việc thắp sáng ở tỉnh lỵ Bến Tre, 3 lò gạch, 12 trại cưa, một nhà máy rượu với công suất 435.000 lít/năm. Hầu hết các cơ sở sản xuất này nằm trong tay các nhà kinh doanh Hoa kiều.

   Về mặt giao thông, phải thừa nhận rằng dưới thời thực dân Pháp, đường bộ ở Bến Tre mới được mở mang một bước quan trọng. Công việc này được bắt đầu xúc tiến từ năm 1880 với dự án của kỹ sư công chánh Pháp Thévenet. Tất nhiên những công trình cầu đường này được xây dựng trước hết không phải vì mục tiêu kinh tế - xã hội, mà vì nhu cầu bình định, nhằm bảo đảm cho lực lượng xe cơ giới của bộ máy quân sự và an ninh Pháp có thể cơ động đối phó kịp thời với các cuộc nổi dậy của dân chúng, cũng như cho những cuộc tuần tra trong tỉnh. Cùng với con đường liên tỉnh từ Mỹ Tho đi Trà Vinh, qua thị xã Bến Tre và thị trấn Mỏ Cày dài 54km, một hệ thống đường rải đá, đường đất nối liền các trung tâm kinh tế, dân cư trên 3 dải cù lao cũng được xây dựng.

   Ngoài ra, vừa để đáp ứng nhu cầu giao thông, vừa để phục vụ việc dẫn nước tưới tiêu, rửa phèn, rất cần cho việc đẩy mạnh khai thác nông nghiệp, từ năm 1872, thực dân Pháp đã cho vét và đào thêm một số con kênh. Trong đó có mấy con kênh quan trọng như: kênh Tân Hương dài 5km (kênh này đã có sẵn, người Pháp chỉ nạo vét và mở rộng ra), giúp cho sự thông thương từ sông Hàm Luông qua sông Cổ Chiên; kênh Mỏ Cày - Cái Quao dài 7km, bắt đầu từ rạch Cái Quao đổ ra sông Hàm Luông, có tác dụng mở rộng sự giao lưu nội địa; kênh Chẹt Sậy nối liền rạch Bến Tre với sông Ba Lai dài 5,900km; kênh Cái Bông - Mỹ Chánh, dài 4,700km, dùng để thoát nước cho vùng đất thấp sình lầy thuộc tổng Bảo Thuận, khu vực Ba Mỹ; kênh Ba Tri, dài 11km, có tác dụng làm thoát nước cho một cánh đồng lớn lầy thụt, nhờ đó mà sau khi đào xong, các làng ở dọc theo kênh như Phước Tuy, Phú Ngãi, Bảo Thạnh và Đồng Xuân trồng trọt được tốt, đồng thời còn giúp cho việc đi lại bằng ghe thuyền từ sông Ba Lai đến sông Hàm Luông, tránh được đường vòng vừa xa, vừa nguy hiểm; kênh Bưng Cát, dài 2,300km, là đường thủy từ Bến Tre sang Trà Vinh; kênh Giồng Trôm nối liền Giồng Trôm với rạch Bến Tre có tác dụng mở ra một vùng đất rộng cho việc trồng trọt; kênh Mỏ Cày - Thom, dài 15,100km nối liền sông Hàm Luông với sông Cổ Chiên, tạo thành một con đường vận chuyển hành khách và hàng hóa đi Mỹ Tho và Trà Vinh xuyên qua thị xã Bến Tre và Mỏ Cày v.v...

   Tất cả những con kênh nói trên tuy về khách quan có tác dụng mở rộng lưu thông nội địa và phát triển nông nghiệp, nhưng động cơ chính của việc đào kênh của thực dân Pháp là nhằm lợi ích trước tiên vơ vét thật nhiều lúa gạo và nông sản cho xuất khẩu.

   Như vậy, dưới thời thực dân Pháp, tỉnh Bến Tre cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ thực sự trở thành nơi cung cấp lúa gạo cho xuất khẩu nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách thuộc địa. Kẻ phải gánh chịu trước nhất và nặng nhất những hậu quả do chính sách đó gây ra là người nông dân. Ruộng đất của họ cứ mất dần vào tay bọn điền chủ Pháp và Việt. Họ lại phải đóng không biết bao thứ thuế. Nếu đem chia số thuế thực dân Pháp thu được ở cả ba kỳ cho số dân, thì mỗi người dân một năm phải đóng 3,2đ tiền thuế, tức 8 francs, tương đương với 1,6 tạ gạo loại I (giá một tạ gạo loại I lúc đó trên dưới 5 francs).

   Hơn nữa quá trình tập trung ruộng đất ở Nam Kỳ đã làm cho tuyệt đại bộ phận nông dân ở đây không có ruộng, mà hầu hết cũng không có nghề thủ công tự túc trong gia đình, do đó chúng chuyển sức lao động của nông dân từ chỗ dùng vào sản xuất ra sản phẩm tự nuôi mình (tự cung, tự cấp) sang chỗ sản xuất ra hàng hóa. Nghĩa là, đời sống của tất cả nông dân đều phải dính chặt với địa chủ và tư sản thương nghiệp. Do đó, người nông dân ở đây bị ba loại độc quyền bóc lột: địa chủ, tư sản thương nghiệp và bọn cho vay.

   Phá sản, phải đi bán sức lao động bằng đủ mọi cách, hoặc phải tha phương cầu thực là con đường khó tránh khỏi của người nông dân Bến Tre, cũng như nông dân ở nhiều nơi khác. Có người ở lại nông thôn làm mướn cho bọn địa chủ, một số bỏ làng đi làm công trong các đồn điền trồng cây công nghiệp, chủ yếu là đồn điền cao su của Pháp ở các tỉnh miền Đông; số khác lên Sài Gòn - Chợ Lớn kiếm sống bằng những nghề phụ như cắt tóc, làm phu hồ, kéo xe, hoặc đi làm bồi bếp, con sen, vú em, sống cuộc đời tôi tớ, bấp bênh. Một số khác vì không chịu nổi ách áp bức, bóc lột đứng lên chống lại bọn địa chủ, lý dịch thì bị bắt bớ, tù đày, hoặc phải trốn lánh đi nơi khác.

   Ở Bến Tre vào những thập niên đầu thế kỷ XX, do sự ra đời của một số nhà máy xay xát gạo của các điền chủ lớn, một số lò gạch, xưởng dệt vải, xưởng dệt chiếu của số ít tư sản, nên bên cạnh nông dân đông đảo, cũng xuất hiện một số lượng công nhân ít ỏi. Tầng lớp mới này cũng chịu sự bóc lột hà khắc nên số phận của họ cũng không hơn gì cuộc đời nông dân gắn với ruộng đồng trước đây.

   Ngoài ra, ở thị xã còn xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản thành thị, bao gồm những tiểu thương vốn liếng nhỏ, làm ăn bấp bênh, những viên chức nhỏ của bộ máy chính quyền thực dân, những cai ký trong các nhà máy, hãng buôn. Tuy cuộc sống buôn bán, hoặc làm công ăn lương của họ có phần dễ chịu hơn so với nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị, song do giá sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ (chỉ tính từ năm 1897 đến năm 1907, giá sinh hoạt đã tăng gấp 3 lần), đời sống của họ cũng quá eo hẹp, chật vật.

   Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, ở Bến Tre cũng như nhiều địa phương khác của Nam Kỳ, còn xuất hiện một số trí thức nho học mới bên cạnh sĩ phu đã tỏ ra chán nản, bi quan, bế tắc trước thời cuộc. Họ là những trí thức, mà sau những thất bại của phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trong những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, vẫn giữ vững lòng ưu ái với đồng bào, vẫn thường xuyên có ý thức chăm sóc tinh thần lớp con em mình, và trước tình hình con đường cứu nước của các bậc cha anh đã tỏ ra vô vọng, họ luôn nung nấu tâm can, tìm kiếm con đường cứu nước đúng đắn.

   Nhìn chung, sự thống trị của thực dân Pháp đã gây nên những biến đổi kinh tế và xã hội lớn trên đất nước ta nói chung, ở Bến Tre nói riêng. Hậu quả nghiêm trọng nhất của chính sách cai trị đó đã làm cho nông dân ngày càng bị bần cùng hóa, công nhân lâm vào cảnh đói rách thường xuyên, đời sống của các tầng lớp khác như tiểu tư sản, dân nghèo thành thị luôn bị đe dọa, trong khi đó mọi quyền tự do của nhân dân đều bị tước đoạt, bóp nghẹt.

   Sự áp bức gay gắt về chính trị và bóc lột tàn bạo về kinh tế của thực dân Pháp và phong kiến tay sai tất yếu đưa đến sự căm phẫn của nhân dân Việt Nam nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, nhất là nông dân, công nhân và dân nghèo thành thị. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân ta (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt. Đó là cơ sở, là tiền đề cho một phong trào dân tộc, dân chủ mà mục tiêu là "độc lập dân tộc" và "người cày có ruộng" có điều kiện nảy nở và phát triển. Trong cuộc đấu tranh chung này, nhân dân Bến Tre đã có những đóng góp rất xứng đáng, làm sáng thêm truyền thống hào hùng của quê hương.

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement