Hôm nay: 24/04/2014
 
Trang chủ arrow Lịch sử arrow Trang sử arrow Bến Tre xây dựng, củng cố thực lực mọi mặt, chuẩn bị cuộc kháng chiến
Bến Tre xây dựng, củng cố thực lực mọi mặt, chuẩn bị cuộc kháng chiến In

Trong khi các tỉnh khác ở Nam Bộ đã bị quân Pháp đánh chiếm, thì Bến Tre (và cù lao An Hóa, lúc này thuộc tỉnh Mỹ Tho) do cách trở về địa lý, nên vẫn còn là vùng đất tự do. Nhờ vậy, tỉnh có điều kiện thời gian chuẩn bị, củng cố lực lượng về mọi mặt để bước vào cuộc chiến đấu mới. Thời gian 135 ngày này có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

   Cùng ngày giặc Pháp khởi hấn ở Sài Gòn, thì tại Bến Tre, Tỉnh ủy đã họp hội nghị, phân tích, đánh giá tình hình, thảo luận quán triệt tinh thần chỉ thị của Trung ương và XUNB. Hội nghị nhận định sớm muộn gì giặc Pháp cũng tấn công, chiếm đóng Bến Tre, do vậy cần phát động toàn Đảng, toàn dân trong tỉnh khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, coi đây như là nhiệm vụ hàng đầu. Tỉnh ủy xác định: bên cạnh việc tăng cường bố phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, cần phải củng cố lực lượng chính trị của quần chúng.

   Để phù hợp với thời chiến, UBKC được thành lập từ tỉnh đến huyện, xã để điều hành các công việc liên quan trực tiếp đến cuộc chiến đấu chống giặc. Sau một thời gian ngắn, UBKC theo chủ trương chung, đổi thành UBKCHC ở các cấp.

   Trường Cộng hòa vệ binh cũng được thành lập, do đồng chí Huỳnh Kỳ Thanh phụ trách, mở khóa đào tạo cán bộ quân sự.

   Để chi viện cho tỉnh bạn, Bến Tre đã cử một phân đội Cộng hòa vệ binh gồm 30 chiến sĩ có tinh thần cảm tử để cùng quân dân Sài Gòn chiến đấu ở mặt trận phía nam Sài Gòn. Đồng thời, cử một trung đội gồm 100 chiến sĩ phối hợp cùng quân dân Vĩnh Long đánh địch ở thị trấn Càn Long và thị trấn Chợ Lách, gây được tiếng vang và sự tin yêu của tỉnh bạn.

   Sau khi mặt trận phía nam Sài Gòn bị vỡ, quân Pháp chiếm Mỹ Tho và Gò Công, một số LLVT đã về đóng tại địa bàn An Hóa như Cộng hòa vệ binh Nam Bộ của Trương Văn Giàu, bộ đội Gò Công của Lê Văn Lung, bộ đội Bình Xuyên của Dương Văn Dương.

   Căn cứ vào các sắc lệnh của Chính phủ lâm thời, chính quyền cách mạng ban hành một số chính sách nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như: xóa bỏ các thứ thuế vô lý và bất công, giảm thuế điền thổ xuống 20%, chia lại ruộng công cho những người không có ruộng, công bố mức giảm tô chính và bãi bỏ các hình thức tô phụ, xóa các nợ nần cũ của dân nghèo, kể cả những món nợ truyền kiếp từ đời cha cho đến đời trước đó. Về tài chính, UBKCHC tỉnh phát hành tín phiếu loại 1 đồng, 2 đồng, 10 đồng, 20 đồng để giải quyết nạn khan hiếm tiền lẻ, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Các chủ trương trên đã tạo nên một không khí hồ hởi, phấn khởi thực sự trong nông thôn.

   Một phong trào tăng gia sản xuất, xóa nạn mù chữ, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, ăn ở theo đời sống mới, tổ chức phòng bệnh và trị bệnh v.v... được phát động và được các tầng lớp nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Tất cả những hoạt động trên đây đã làm cho bộ mặt xã hội Bến Tre biến đổi đáng kể.

   Cùng với cả nước, tỉnh Bến Tre đã phát động "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng” để lập “Quỹ độc lập”, xây dựng đất nước và mua sắm rèn đúc vũ khí đánh giặc. Kết quả nhân dân Bến Tre đã góp được 700 lạng vàng và hàng chục tấn đồng thau cho các công binh xưởng. Những nồi đồng, mâm thau, chân đèn, lư hương bằng đồng được bà con mang hiến cho cách mạng.

   Ngày 25-12-1945, nhân dân trong tỉnh đã nô nức tham gia Tổng tuyển cử, bầu đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước VNDCCH (1). Hơn 90% cử tri đã trực tiếp đi bỏ phiếu, cử người đại diện của mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.

   Về mặt quân sự, bên cạnh việc xây dựng các phòng tuyến chống giặc trên những hướng mà địch có thể tấn công. Tỉnh cũng chủ trương đào đường, đắp ụ, đắp cản, phá hoại những nhà cửa, cơ sở xây dựng kiên cố để nếu giặc đánh chiếm sẽ không có nơi làm chỗ cho chúng đóng quân an toàn. Nhân dân ở thị xã và các thị trấn được vận động tản cư về nông thôn. Bộ đội tỉnh, huyện, tự vệ chiến đấu ở các xã được kiện toàn và tổ chức huấn luyện, trang bị thêm vũ khí, với tinh thần sẵn sàng chiến đấu khi địch đến. Tỉnh ủy đã cử một số cán bộ lãnh đạo có năng lực bổ sung cho LLVT. Một không khí nô nức tòng quân dấy lên sôi nổi trong thanh niên. Để cung cấp vũ khí cho các LLVT, UBKCHC cũng đã quyết định thành lập công binh xưởng đầu tiên, do đồng chí Võ Tấn Nhứt phụ trách. Nguyên liệu cho công binh xưởng lúc bấy giờ là sắt thép và đồng thau do nhân dân đóng góp. Công binh xưởng đã sản xuất nhiều loại vũ khí như mìn, địa lôi, lựu đạn, mã tấu v.v... giải quyết một phần vũ khí trang bị cho các đội cộng hòa vệ binh và dân quân tự vệ.

   Mặt trận Việt Minh tỉnh đã tập hợp được đông đảo những nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo... cùng các tầng lớp đồng bào thành một khối đoàn kết, quyết tâm chống lại kẻ thù xâm lược.

   Một sự kiện đáng lưu ý lúc này (12-1945) là Đảng bộ Bến Tre đã rút vào bí mật, đồng thời theo chủ trương ở trên, thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác - một tổ chức công khai do đồng chí Trần Trường Sinh phụ trách, để thông qua đó lãnh đạo phong trào. Trong khi đó, việc phát triển đảng viên mới được tiến hành tích cực. Do đó, đến cuối năm 1945, khi giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, số đảng viên của toàn bộ Đảng bộ tỉnh đã lên đến 1.000 người.

   Có thể nói rằng Đảng bộ và nhân dân Bến Tre bước vào cuộc KCCP trong điều kiện đã được chuẩn bị tương đối thuận lợi về nhiều mặt so với các tỉnh bạn, trên cái nền chính trị là khối đoàn kết toàn dân đã được củng cố với quyết tâm cao.

   Sau khi đã chiếm được các tỉnh và thiết lập xong hệ thống đồn bót tại những vị trí chiến lược ở Nam Bộ, ngày 20-1-1946, thực dân Pháp cho máy bay đánh phá chợ Mỹ Lồng, cho tàu chiến bắn phá vàm Bến Tre và hai bờ sông Hàm Luông, Cổ Chiên, chuẩn bị cho cuộc tiến công xâm lược vào Bến Tre. Đến ngày 8-2-1946, chúng tập trung lực lượng gồm cả bộ binh, pháo binh, có máy bay và tàu yểm trợ, hình thành 3 cánh quân tiến đánh Bến Tre: mũi chính từ sông Hàm Luông theo rạch Bến Tre đánh vào thị xã, mũi thứ hai từ Ba Lai theo đường số 6, mũi thứ ba từ sông Tiền tiến theo kênh Giao Hòa.

   Các đơn vị vũ trang của ta lập tức chặn đánh địch quyết liệt ở cả ba hướng, nhưng do lực lượng so sánh giữa ta và địch quá chênh lệch, cho nên ngay trong ngày đầu địch đã chiếm được thị xã. Sau đó, chúng chuyển quân đánh chiếm Mỏ Cày và những điểm then chốt ở cù lao Minh. Chúng rải quân đóng đồn ở các thị trấn, các vùng xung yếu, dọc theo các đường giao thông và các vùng đông giáo dân. Đánh chiếm đến đâu, chúng tung quân càn quét, bắn giết bừa bãi, đốt nhà, cướp của đến đó, nhằm uy hiếp tinh thần nhân dân. Mặt khác, chúng đưa những tên tay sai và bọn hội tề cũ về lập lại bộ máy ngụy quyền, đồng thời mua chuộc, lôi kéo các công chức cũ trở lại làm việc cho chúng. Chúng sử dụng cả bọn lưu manh, gián điệp, ác ôn từng có tội với nhân dân để làm do thám, chỉ điểm nhằm đánh phá cơ sở cách mạng. Máu của những người yêu nước và cả những người dân vô tội bắt đầu chảy từ đây trên vùng đất ba dải cù lao này.

   Tình hình diễn biến quá nhanh và ác liệt làm cho phong trào quần chúng khựng lại, nhiều người hoang mang. Một số ít cán bộ đảng viên, nhất là những đảng viên mới được kết nạp trong những ngày đầu cách mạng thành công, đâm ra dao động, chạy dài.

   Nhưng nếu bạo lực của kẻ thù làm khiếp nhược, nguội lạnh nhanh chóng những loại nhiệt tình yêu nước lửa rơm và làm bộc lộ sớm chân tướng của những kẻ cơ hội, thì trái lại nó là một thử thách, giúp cho những người cách mạng rèn luyện thêm ý chí của mình. Nhiều cán bộ, đảng viên trung kiên vẫn bám trụ trong nhân dân, chắp nối, liên lạc với nhau, phục hồi tổ chức Đảng và cơ sở quần chúng, phát động phong trào và tổ chức lại cuộc chiến đấu. Chỉ trong một thời gian có mấy tháng, hệ thống chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở được phục hồi trở lại.

   Cũng trong thời gian này (4-1946), Tỉnh ủy Bến Tre đã quyết định tổ chức chuyến vượt biển gồm có các đồng chí Nguyễn Thị Định, Ca Văn Thỉnh và Trần Hữu Nghiệp ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình của Nam Bộ và của Bến Tre, đồng thời xin chi viện cho chiến trường. Chuyến đi này đã góp phần mở ra con đường tiếp tế vũ khí trên biển của Trung ương cho chiến trường Nam Bộ về sau.

   Giữa năm 1946, cơ quan Tỉnh ủy từ căn cứ rừng Thạnh Phú được chuyển về huyện Tán Kế (Giồng Trôm ngày nay) để việc chỉ đạo phong trào toàn tỉnh được thuận tiện hơn. Tờ báo Đoàn kết – cơ quan tuyên truyền kháng chiến của Mặt trận Việt Minh tỉnh - được phát hành đến tận cơ sở. Nhiều vùng căn cứ, vùng du kích trong tỉnh được khôi phục và củng cố.

   Cùng với phong trào dân quân du kích phát triển ngày một rộng, các đơn vị bộ đội tập trung được thành lập ở nhiều địa bàn trong tỉnh (2). Sự ra đời của các đơn vị bộ đội tập trung này - thực chất là những đơn vị bộ đội địa phương – báo hiệu bước lớn mạnh nhanh chóng của phong trào chiến tranh nhân dân. Đến tháng 5-1946, bộ đội Tân Hào đã có trên 100 chiến sĩ, được trang bị 80 súng trường, tiểu liên, trung liên lấy từ tay giặc.

   Theo chủ trương chung của quân khu 8, tháng 10-1946, đơn vị vệ quốc đoàn đầu tiên của Bến Tre đã ra đời trên cơ sở thống nhất các lực lượng trong toàn tỉnh, với phiên hiệu chi đội 19, do đồng chí Đồng Văn Cống và Nguyễn Công trung chỉ huy. Địa bàn hoạt động của đơn vị không chỉ trên đất Bến Tre, mà gồm cả An Hóa và Gò Công.

   Để chỉ đạo dân quân du kích, bộ máy tỉnh đội, huyện đội, xã đội được thành lập. Nhiều cán bộ cốt cán được điều sang phụ trách công tác này. Đồng chí Mai Văn Khẳng được cử làm Tỉnh đội trưởng và Nguyễn Tẩu làm Chính trị viên tỉnh đội.

   Sự lớn mạnh của phong trào du kích chiến tranh chính là nguyên nhân làm cho bộ máy tề ngụy bị phá rã từng mảng, nhiều tên ác ôn bị trừng trị, địa bàn kiểm soát của chúng bị thu hẹp. Trên cơ sở vùng tự do được mở rộng (3) chính quyền cách mạng được lập lại ở nhiều xã.

   Với thế mới, lực mới cùng với những kinh nghiệm chiến đấu tích lũy được trong gần một năm quần nhau sống mái với địch, nhân dân Bến Tre cùng cả nước bước vào kháng chiến toàn quốc.

Chú thích

(1) Do tình hình khẩn trương, Trung ương đã chấp thuận đề nghị của tỉnh, cho tổ chức bầu cử Quốc hội sớm hơn ngày qui định chung cho toàn quốc 10 hôm (ngày chính thức 6-1-1946). Năm đại biểu Quốc hội của Bến Tre: Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Nguyễn Tẩu, Trần Quế Tử.
(2) Ở cù lao Bảo có bộ đội Tân Hào của đồng chí Đồng Văn Cống, bộ đội anh Tá ở Châu Hòa, Châu Bình, bộ đội anh Phải, anh Kích ở Thạnh Phú Đông, Phước Long. Ở cù lao Minh có bộ đội Phạm Hồng Thái của anh Tỷ và anh Măng, phân đội Hồ Chí Minh do Phan Thanh Nhàn và Đào Công Gia chỉ huy, bộ đội Quang Trung do anh Xem phụ trách.
(3)  Lúc này vùng tự do chiếm 2/3 đất đai của tỉnh.

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement