Hôm nay: 17/04/2014
 
Huyện Thạnh Phú In

Diện tích (Km2) : 412  ||  Dân số : 134.590  ||   Mật độ người/km2 : 326,67

Địa chỉ :
Điện thoại : 075.3870943
Fax : 075.3870677

Chủ tịch
BÙI VĂN LÂM
Điện thoại: 075.3870947

Phó chủ tịch
ĐÀO CÔNG THƯƠNG

Phó chủ tịch
MAI VĂN HÙNG

Phó chủ tịch
LÂM VĂN TÂN

Danh sách các phường, xã
 
STTTên đơn vịÐịa chỉÐiện thoại 
1

Thị trấn Thạnh Phú

  
2

Phú Khánh

  
3

Đại Điền

  
4

Tân Phong

  
5

Thới Thạnh

  
6

Quới Điền

  
7

Mỹ Hưng

  
8

Hòa Lợi

  
9

Bình Thạnh

  
10

An Thạnh

  
11

An Điền

  
12

An Thuận

  
13

An Qui

  
14

An Nhơn

  
15

Giao Thạnh

  
16

Thạnh Hải

  
17

Thạnh Phong

  
 

Quá trình hình thành và phát triển 

Trên bản đồ tỉnh Bến Tre, huyện Thạnh Phú nằm ở cuối cù lao Minh, chân đạp sóng biển Đông (với bờ biển dài 25 km, tính từ Vàm Rỏng đến Khâu Băng), phía tây giáp huyện Mỏ Cày, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, ngăn cách bởi con sông Cổ Chiên, phía bắc giáp huyện Ba Tri, có ranh giới chung con sông Hàm Luông.

Ngược dòng lịch sử, thời chúa Nguyễn (1757), vùng đất Thạnh Phú thuộc tổng Tân An, châu Định Viễn, phủ Gia Định. Năm 1808, tổng Tân An thăng thành phủ Tân An, thuộc châu Định Viễn, Gia Định thành, đến năm 1823, đổi thành phủ Hoằng An, trấn Vĩnh Thanh gồm 2 huyện: Bảo An (cù lao Bảo) và Tân Minh (cù lao Minh). Năm 1867, thực dân Pháp chiếm miền Tây Nam Bộ, chúng thành lập tỉnh Bến Tre gồm 2 cù lao Bảo và Minh. Huyện Thanh Phú nằm trên cù lao Minh, gồm phần lớn đất đai huyện Duy Minh cũ. Thạnh Phú có tên trên bản đồ từ đó.

Thời Pháp thuộc, huyện Thạnh Phú gồm 2 tổng Minh Phú và Minh Trị với 11 làng, Phú Khánh, Đại Điền, Thới Thạnh, Quới Điền, Thạnh Phú, An Thạnh, An Qui, An Nhơn, Giao Thạnh và Thạnh Phong.

Trong Kháng chiến chống Pháp, năm 1948, do việc đi lại khó khăn, để tiện việc chỉ đạo, UBKCHC tỉnh Bến Tre quyết định lập thêm 3 xã Giang Hà, Phan Nhứt Tánh và Thạnh Phú 2. Năm 1951, 3 xã trên được giải thể và trở về nguyên trạng, hai xã An Qui, An Nhơn nhập lại thành xã Qui Nhơn cho đến sau ngày hiệp định Genève (20-7-1954) mới tách ra làm đôi như cũ.

Sau ngày giải phóng (30-4-1975), hai xã An Nhơn và An Qui, Đại Điền và Thạnh Phú được nhập lại, nhưng chỉ trong vòng một năm thì lại tách ra. Các xã Đại Điền, Quới Điền, Thạnh Phong, do diện tích quá rộng đã được chia làm đôi để lập thêm 3 xã mới: Tân Phong, Hòa Lợi và Thạnh Hải. Xã Thạnh Phú được chia thành 3: Thạnh Phú, Mỹ Hưng và Bình Thạnh.

Về mặt thổ nhưỡng, Thạnh Phú được hình thành từ đất phù sa của hai con sông Hàm Luông và Cổ Chiên bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ và hiện nay, bãi biển Thạnh Phú vẫn lấn dần ra phía biển Đông. Nhiều cồn cát nhô lên ngoài khơi báo hiệu diện tích tương lai của huyện sẽ còn mở rộng thêm ra. Một ví dụ: trước đây mười năm, cồn Lợi còn cách xa bờ biển 1 km, nay đã dính với đất liền.

Là một trong 3 huyện duyên hải của tỉnh, Thạnh Phú gồm những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ với những giồng cát và những khu rừng ngập mặn. Ở ven biển, ven sông là những dải rừng ráng, chà là, dừa nước, bần, mắm, đước, vẹt v.v... Diện tích chung toàn huyện là 41.180 ha, phần lớn đất đai do ảnh hưởng thủy triều của biển Đông nên bị nhiễm mặn, còn các xã từ thị trấn Thạnh Phú trở lên giáp với huyện Mỏ Cày thuộc vùng nước lợ. Việc phát triển nông nghiệp, nhất là cây lúa, gặp nhiều khó khăn, năng suất thường bấp bênh.

Nền kinh tế chính của tỉnh là sản xuất nông nghiệp với cây chủ lực là cây lúa nước. Từ thị trấn ngược lên Đại Điền, Phú Khánh là những cánh đồng lúa bao la. Từ thị trấn đi về phía biển, diện tích đồng lúa bị thu hẹp dần lại, nhường chỗ cho các đầm nuôi tôm, đưa lại thu nhập cao gấp nhiều lần trồng lúa. Người dân ở vùng này, còn có nghề rừng, đánh bắt và chế biến hải sản.

Trên những giồng đất, nhân dân thường trồng hoa màu, thuốc lá, dưa hấu. Trong những năm 40, nghề trồng bông vải từ phía Ba Tri lan sang đây, phát triển khá mạnh trên các giồng, tận ven biển.

Trong Kháng chiến chống Pháp, rừng Thạnh Phú còn khá rậm rạp, chiếm một diện tích đáng kể, là nơi căn cứ an toàn của tỉnh, của khu 8: cơ quan, bệnh viện, trường học, nhà in, kho tàng, công binh xưởng... Đến thời chống Mỹ, nhất là sau giai đoạn Đồng Khởi, hầu hết các khu rừng đều bị tàn phá. Bom đạn, chất độc hóa học đã hủy diệt hàng ngàn hécta, để lại nền đất trơ trụi. Sau 10 năm giải phóng, cảnh quan ở đây đã có nhiều thay đổi. Vườn tược, rừng trồng mới, những cánh đồng lúa... đã phủ lại màu xanh trên đất đai bị hoang hóa.

Mạng lưới sông ngòi chằng chịt và biển khơi là nguồn thủy hải sản dồi dào, hàng năm cung cấp cho Thạnh Phú hàng ngàn tấn tôm, cua, cá các loại. Con nghêu, một đặc sản của vùng biển Thạnh Phong, Thạnh Hải cũng là nguồn lợi quan trọng, nuôi sống hàng ngàn dân ven biển. Nằm trên một địa bàn thuận lợi như vậy, đã từ lâu, người dân Thạnh Phú đã dùng thuyền to để vận chuyển, đi lại mua bán với các tỉnh miền Tây, lên phía Đồng Tháp Mười và ra tận miền Trung.

Trước CMT8-1945, đất đai của Thạnh Phú, đặc biệt những vùng ruộng lúa, phần lớn nằm trong tay những địa chủ như Nguyễn Duy Hinh (Phủ Kiển), Hương Liêm, Phó Hoài ở xã Đại Điền, Cai Thì ở xã An Nhơn, Ngô Quang Dung (Chủ Quới) ở xã Giao Thạnh, Ban Phan ở xã An Thạnh...

Ngày nay, toàn bộ giai cấp bóc lột đã bị truất phế, nhưng những chứng tích như nhà cửa, lăng mộ đồ sộ, nguy nga xây dựng bằng mồ hôi, nước mắt của nông dân vẫn còn đó như một biểu tượng của sự bóc lột, chiếm đoạt.

Nhân dân Thạnh Phú có truyền thống yêu nước chống xâm lược khá vẻ vang. Nhiều người dân Thạnh Phú đã có mặt trong các đội nghĩa quân chống Pháp của Bến Tre từ những ngày đầu chúng đặt chân đến vùng đất cù lao này. Mảnh đất Thạnh Phú, năm 1946 được mang vinh dự là nơi xuất phát của chuyến vượt biển đầu tiên của đoàn đại biểu Bến Tre ra miền Bắc gặp Bác Hồ và Trung ương Đảng, mở đường chi viện của Trung ương cho miền Nam. Tiểu đoàn 307 nổi tiếng là đơn vị “đánh đâu được đấy, oai hùng biết mấy” của thời 9 năm Kháng chiến chống Pháp đã làm lễ xuất quân đầu tiên trên đất Đại Điền, Thạnh Phú.

Thời kháng chiến chống Mỹ, xã Thạnh Phong lại một lần nữa trở thành đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện cho chiến trường trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.

Những chiến địa danh như Cồn Rừng, Cồn Bửng, Cồn Lợi, Bần Mít, Eo Lói, Khâu Băng... được cả nước biết đến. Nơi đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện Bắc – Nam ở xã Thạnh Phong được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1995. Trong 16 xã của huyện, có 5 xã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND: Thạnh Phong, An Nhơn, An Qui, Quới Điền và Phú Khánh. Huyện Thạnh Phú là đơn vị Anh hùng LLVTND (1997).

Từ sau ngày giải phóng, đặc biệt trong khoảng 10 năm cuối của thế kỷ (1990 – 2000) qua một quá trình thể nghiệm, điều chỉnh nhiều lần, đến nay huyện Thạnh Phú đã hình thành rõ nét 3 tiểu vùng:

Tiểu vùng 1: gồm 9 xã phía bắc của huyện giáp với huyện Mỏ Cày (Phú Khánh, Đại Điền, Quới Điền, Thới Thạnh, Hòa Lợi, Mỹ Hưng, Bình Thạnh, Tân Phong và một phần thị trấn Thạnh Phú) là vùng lúa 2 vụ/năm, có diện tích hơn 6.000 ha.

Tiểu vùng 2: tức vùng giữa của huyện gồm các xã An Thạnh, An Qui, An Thuận, An Điền và một phần của thị trấn Thạnh Phú, xấp xỉ 7.000 ha, được quy hoạch luân canh một vụ tôm vào mùa nắng và một vụ lúa vào mùa mưa, đã đem lại hiệu quả rõ rệt.

Tiểu vùng 3: vùng ven biển, gồm các xã An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh Phong, Thạnh Hải là vùng chuyên nuôi tôm. Diện tích đầm, ao nuôi tôm đến năm 1999 chiếm khoảng 5.000 ha. Khả năng có thể mở rộng diện tích nuôi tôm lên gấp đôi trong những năm đến.

Là một huyện nằm ở cuối dòng sông Cửu Long, đất đai phần lớn bị nhiễm mặn, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, việc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của dân gặp không ít khó khăn. Hằng ngày, tỉnh thường phải tổ chức cứu trợ cho một số hộ nghèo, nhưng từ năm 1995 thì bắt đầu chấm dứt hẳn. Tuy nhiên, việc làm ăn khấm khá diễn ra không đều. Vùng nuôi thủy sản phát triển nhanh nhất nhờ con tôm. Nhiều gia đình nghèo khổ nay đã trở thành triệu phú, thậm chí có bạc tỷ. Một nét đẹp đáng biểu dương là có những người nghèo nay làm ăn phát đạt, vì thấm thía nỗi khổ mà mình đã trải, nên đã bỏ ra hàng đôi ba trăm triệu đồng cho bà con mượn làm vốn sản xuất, không lấy lãi và có khi không cần kỳ hạn, nếu những người đó làm ăn gặp phải khó khăn, chưa vượt qua được. Ở xã Giao Thạnh, có gia đình điển hình cho mượn vốn tương trợ, giúp đỡ nhau vượt nghèo, vượt khó không lấy lãi.

Dự án ngọt hóa vùng Quới Điền với hệ thống kênh, đê, cống có tổng chiều dài 25 km là công trình thủy lợi lớn nhất ở vùng bắc Thạnh Phú trong những năm qua, đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

Về giáo dục, niên khóa 1999 – 2000, toàn huyện có một trường phổ thông trung học lớn, một trường tiểu học bán công, 15 trường trung học cơ sở. Mỗi xã đều có trường trung học hoàn chỉnh. Toàn huyện có 500 phòng học (con số tròn), không còn hiện tượng học 3 ca, 73% trường được ngói hóa. Cứ 4,5 người dân có một người đi học, so với tỷ lệ 4 người dân có một người đi học của toàn tỉnh.

Về y tế, nếu năm 1975 còn rất yếu kém với vài trạm xá, thì nay có 18 trạm xá trên 16 xã, với 17 bác sĩ. Y tế huyện có khả năng khống chế được những dịch bệnh thông thường.

Thế mạnh về tiềm năng kinh tế của huyện đã bước đầu được xác định và đã có kế hoạch đầu tư cho cây lúa và con tôm (được coi là mũi nhọn kinh tế). Băn khoăn của lãnh đạo huyện là tiềm năng lớn của huyện chưa được khai thác do thiếu vốn, thiếu cán bộ có trình độ kỹ thuật và chuyên môn. Trong đội ngũ cán bộ vẫn có sự hụt hẫng so với yêu cầu, cả về số lượng lẫn chất lượng. Cơ cấu chuyển dịch kinh tế hiệu quả còn thấp. Phong trào nhân dân có bước chuyển biến, nhưng chưa mạnh, còn mang tính tự phát, chưa đồng đều, vững chắc.

 
< Trước
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement