|
Phần I:
THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY
Đồng Văn Cống sinh năm
1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông
con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con
trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông
ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị
xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân
Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống).
Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín
trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống
đến với cách mạng.  Đồng Văn Cống
Đồng Văn Cống vốn được
trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn
rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây
số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là
tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết
nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông
sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên
trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất
thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.
Đồng Văn Cống sớm giác
ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông
dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi
dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa
trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp
vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy
trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự.
Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng
chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má
quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh
mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.  Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu
Vợ ông, bà Lê Thị Gấm,
lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu –
một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy
lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu
đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai
tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc
trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con
đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại
về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công
xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là
bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân
nhân cách mạng.
Đội du kích Tân Hào của
Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng
cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ
Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký
quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống
chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu
8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời
đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời
khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê
kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ,
ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi
như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu
chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở
Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ
huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ
choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn
đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là
chánh vì tướng”. |