Hôm nay: 22/10/2014
 
Trang chủ arrow Tin tức - Sự kiện arrow Xã hội arrow Hoà giải ở cơ sở - 10 năm nhìn lại

Thủ tục hành chính

Cấp tỉnh, huyện, xã
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement
Advertisement

Thông tin website

    Khách đang xem: 31

Lượt truy cập

mod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_countermod_icbtvisit_counter
Hoà giải ở cơ sở - 10 năm nhìn lại In
Người viết: N.Th   
16/09/2008
Hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thoả thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố, phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình và công đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Mục đích, ý nghĩa hoà giải ở cơ sở rất cao đẹp, tác dụng của nó rất to lớn, vì thế hoà giải ở cơ sở luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, nhân dân đồng tình ủng hộ.

Trước năm 1998, trên địa bàn tỉnh Bến Tre, việc giải quyết các tranh chấp nhỏ trong nhân dân được Hội đồng bảo vệ an ninh trật tự ở ô, ấp, khu phố, Hội đồng bảo vệ an ninh trật tự xã, phường, thị trấn hoặc các tổ chức đoàn thể ở mỗi địa phương tự đảm nhận, do vậy cũng chưa có quy trình, tiêu chuẩn cụ thể. Từ khi có Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998 và Nghị định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18-10-1999 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh được ban hành, chính quyền địa phương và các sở, ngành có liên quan của tỉnh đã quan tâm xây dựng và kiện toàn tổ chức tổ hoà giải đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để hoạt động có hiệu quả.

Đến nay, toàn tỉnh đã xây dựng được 905 tổ hoà giải cơ sở của 905 ấp, khu phố, đạt 100% với tổng số tổ viên tổ hoà giải là 7.000 người, trong đó có 51 xã điểm và 01 ấp điểm về hoà giải. Thành phần tham gia tổ hoà giải ở cơ sở rất đa dạng, bao gồm trưởng ấp (khu phố), người cao tuổi, người có uy tín ở địa phương, hội viên các đoàn thể cơ sở như Hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu Chiến binh, Mặt trận Tổ quốc. Trong 10 năm qua, tổng số vụ việc nhận hoà giải trong toàn tỉnh là 26.800 vụ (trong đó nhiều nhất là các vụ hòa giải về dân sự, chiếm khoảng 40%, 10.075 vụ; kế đến là lĩnh vực đất đai, có 9.578 vụ; hôn nhân và gia đình có 4.362 vụ và các lĩnh vực khác là 2.785 vụ). Với tỷ lệ hòa giải thành trung bình khoảng 65%, tổng số các vụ việc hòa giải thành là 17.420 vụ; hoà giải không thành 9.380 vụ; số vụ việc hướng dẫn chuyển cơ quan chức năng giải quyết là 10.700 vụ.

Nhiều Tổ hoà giải hoạt động có hiệu quả, quy trình hòa giải, việc ghi chép sổ sách, lưu trữ, bảo quản hồ sơ đều được thực hiện khá tốt. Có những hoà giải viên có năng lực, uy tín và tâm huyết, làm việc trên cơ sở tự nguyện nhưng tinh thần trách nhiệm rất cao. Các tổ hoà giải đều được trang bị những tài liệu cơ bản để nghiên cứu, áp dụng và tuyên truyền pháp luật trong công tác hoà giải (như Bộ luật Dân sự; Luật Đất đai; Luật Hôn nhân gia đình; tài liệu tuyên truyền pháp luật dưới dạng sổ tay hòa giải 1,2,3, tờ bướm; bản tin tư pháp; các chuyên đề pháp luật,…). Và định kỳ hàng năm đều được tập huấn để kịp thời nắm vững kỹ năng, nghiệp vụ hoà giải và những kiến thức pháp luật cần thiết phục vụ cho công tác hoà giải. Khi hoà giải những vụ việc phức tạp một số tổ hoà giải đã mời cán bộ tư pháp và chuyên viên trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước hỗ trợ về kỹ năng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật. Khi hoà giải thành thì tổ hoà giải được chi thù lao. Cụ thể, đối với vụ hoà giải thành theo đơn yêu cầu (đơn giản) chi 50.000 cho 1 vụ/ tổ hoà giải; vụ hoà giải thành theo đơn yêu cầu (phức tạp) chi 100.000 đồng cho 1 vụ/ tổ hoà giải, do trưởng ban tư pháp đề xuất theo hồ sơ và báo cáo của trưởng ấp, khu phố. Cuộc thi hòa giải viên giỏi cũng đã được tổ chức qua 3 cấp. Đây là dịp rất tốt để các hòa giải viên nghiên cứu kiến thức pháp luật, trao đổi kinh nghiệm, thêm yêu công việc.

Có thể nói hoạt động hoà giải ở cơ sở tại tỉnh Bến Tre những năm qua đã từng bước đi vào nề nếp, hoạt động có hiệu quả, tỷ lệ hòa giải thành năm sau thường cao hơn năm trước, đã góp phần tích cực vào việc giữ gìn an ninh trật tự trong cộng đồng dân cư, ngăn ngừa phát sinh vi phạm pháp luật, hạn chế đơn thư khiếu kiện vượt cấp của nhân dân, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của nhà nước và nhân dân.

Tuy nhiên, hoạt động hoà giải ở cơ sở của tỉnh Bến Tre vẫn còn những khó khăn nhất định. Công tác quản lý Nhà nước về hòa giải ở một số xã, phường, thị trấn còn chưa chặt chẽ, chưa thực hiện tốt chế độ thống kê, kiểm tra, báo cáo, theo dõi sự biến động về tổ chức cũng như chất lượng của hoạt động hòa giải cơ sở. Vai trò chủ động, thường trực của cán bộ tư pháp cấp xã trong việc quản lý công tác hòa giải ở cơ sở cũng chưa thể hiện rõ nét. Tuy số lượng khá đông, nhưng đội ngũ làm công tác hoà giải lại thường không có tính ổn định, đa số lại làm công tác kiêm nhiệm, dễ có sự thay đổi và biến động. Ở nhiều nơi, hòa giải viên hoạt động trên cơ sở lòng tâm huyết, sự nhiệt tình và trách nhiệm là chính, còn kỹ năng hoà giải và kiến thức pháp luật thì vẫn còn hạn chế do việc tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ còn ít hoặc do độ tuổi của các hòa giải viên khá cao, khó tiếp thu một cách hiệu quả (trên 50% hòa giải viên cơ sở có độ tuổi trên 40), trình độ văn hoá thấp... Theo quy định chế độ đãi ngộ đối với hoà giải viên chưa thỏa đáng với công sức, trách nhiệm, sự nhiệt tình mà các hòa giải viên đã bỏ ra, không phát huy tác dụng động viên, khuyến khích hòa giải viên, rất khó để đòi hỏi hòa giải viên làm việc đạt hiệu quả cao và chất lượng. Đã vậy hiện nay do ngân sách xã, phường, thị trấn ở một số nơi trên thực tế còn rất eo hẹp, gặp khó khăn nên việc chi bồi dưỡng đối với vụ việc hòa giải thành còn bị hạn chế, chưa thường xuyên hay còn chậm (thậm chí có nơi còn không chi do ngân sách địa phương bị thiếu hụt). Bên cạnh đó, đối với các vụ hòa giải không thành - trên thực tế thường là những vụ phức tạp, đòi hỏi hòa giải viên phải bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức để hòa giải – tuy nhiên vì kết quả là hòa giải không thành nên hòa giải viên không được chi bồi dưỡng. Hơn nữa chưa có nơi nào dự toán cụ thể khoản chi hỗ trợ ổn định hàng năm cho công tác hòa giải ở cơ sở, nên hầu hết các tổ hoà giải phải hoạt động tự nguyện bằng kinh phí tự lo. Có những nơi, cán bộ hòa giải làm việc rất nhiệt tình, năng nổ, tỷ lệ hòa giải thành rất cao, giảm tải áp lực cho chính quyền địa phương rất nhiều nhưng chưa được khen thưởng xứng đáng đã làm giảm sút rất nhiều sự tâm huyết, lòng nhiệt tình của hòa giải viên.

Để tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả công tác hoà giải cơ sở trong thời gian tới tại tỉnh Bến Tre, rất cần sự quan tâm lãnh chỉ đạo, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi của cấp ủy, chính quyền về kinh phí, cơ sở vật chất, con người; tăng cường vai trò của cơ quan tư pháp trong việc tham mưu quản lý nhà nước về công tác hoà giải cơ sở, thường xuyên kiểm tra, khảo sát nhằm đánh giá kịp thời, chính xác về tổ chức và hoạt động hòa giải cơ sở, kịp thời nắm được những khó khăn, vướng mắc phát sinh trên từng địa bàn để có biện pháp hỗ trợ; quan tâm kiện toàn tổ chức, tập huấn, cung cấp tài liệu, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho hoà giải viên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hoà giải trong tình hình mới. Đồng thời phải có chế độ đãi ngộ và khen thưởng xứng đáng cho đội ngũ hoà giải viên cơ sở để kịp thời động viên, khuyến khích hoà giải viên hoàn thành nhiệm vụ góp phần phát huy tinh thần tự quản của nhân dân, giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ lẻ trong cộng đồng, giữ vững tình làng nghĩa xóm.

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Tin vắn

Ngày 18/10/2014, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc huyện Ba Tri phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 2 xã Vĩnh Hòa và Vĩnh An trao tặng 5 căn nhà tình thương cho hộ nghèo gồm ông Nguyễn Văn Nghiệp sinh năm 1954 ở ấp Bảo Hòa, ông Trần Văn Lê sinh năm 1957 ở ấp Bến Vựa (xã Vĩnh Hòa), ông Đào Văn Phu sinh năm 1959 ở ấp An Quới, bà Nguyễn Thị An sinh năm 1940 ở ấp An Nhơn, bà Phan Thị Tuyết sinh năm 1959 ở ấp Vĩnh Đức Tây (xã Vĩnh An). Các căn nhà đều có diện tích sử dụng trên 45 m2, kinh phí xây dựng từ 40 triệu đồng trở lên. Trong đó báo Nhân đạo Đời sống phía Nam vận động các đơn vị tại Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ mỗi căn 40 triệu đồng, còn lại gia đình góp vào. (Trần Xiện)

 

Trong 5 năm qua, các cấp hội cựu chiến binh ở Ba Tri đã vận động các đơn vị, tổ chức xã hội và cá nhân đóng góp kinh phí xây tặng 113 căn nhà nghĩa tình đồng đội cho hội viên có hoàn cảnh khó khăn, tổng trị giá trên 3,8 tỷ đồng. Trong đó cấp huyện vận động xây tặng 25 căn, số còn lại các xã, thị trấn vận động. (Trần Xiện)

 

Ngày 20/10/2014, Hội Cựu thanh niên xung phong tỉnh Bến Tre phối hợp với UBND 2 xã An Thuận và Phú Khánh tổ chức bàn giao 2 căn nhà tình nghĩa cho bà Huỳnh Thị Hoa ở ấp An Ninh A, xã An Thuận, và bà Lê Thị Sữa, ấp Phú Long Phụng A, xã Phú Khánh, huyện Thạnh Phú, là cựu thanh niên xung phong đang gặp khó khăn về nhà ở. Mỗi căn nhà có diện tích từ 60 - 70m², nền tráng xi-măng, vách tường, mái lợp tôn, tổng kinh phí xây dựng từ 75 đến 90 triệu đồng. Trong đó, Hội cựu thanh niên xung phong tỉnh vận động Quỹ Thiện tâm – Tập đoàn Vingroup hỗ trợ mỗi căn 50 triệu đồng, phần còn lại do gia đình góp vào. (Văn Minh)

 
Advertisement
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

Advertisement