Hôm nay: 17/04/2014
 
Trang chủ arrow Lịch sử arrow Sự kiện lịch sử arrow Về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đất Bến Tre
Về các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đất Bến Tre In
 

 Ngày nay, đi trong màu xanh bạt ngàn của những vườn cây trải dọc bờ sông Tiền, sông Hàm Luông hay sông Ba Lai, thật khó mà hình dung nổi cách đây chỉ vài thập kỷ, những ruộng vườn nơi đây đã bị bom, pháo, lửa napalm và chất độc khai quang của Mỹ tàn phá và huỷ diệt, biến thành “vùng đất chết”, nếu người đó chưa một lần chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát khủng khiếp trước đó.

 Bàn tay con người quả là kỳ diệu. Với sự giúp đỡ của thời gian. Người dân ở đây bằng sức lao động bền bỉ và cần cù đã xoá đi bao nhiêu thương tích của chiến tranh. Nếu ai để ý lắm, thỉnh thoảng cũng có thể bắt gặp đây vài dấu tích của chiến tranh ngày xưa còn sót lại qua những vết đạn bom sâu hoắm, đen ngòm trên các thân cây dừa lão, hoặc ở nơi bức tường rêu phong của vài đình chùa nào đó.

 Thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp giải phóng đất nước đã mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho hàng chục triệu con người. Nhưng đối với các bà mẹ liệt sĩ, niềm tự hào xen lẫn với nỗi đau, sự mất mát không gì bù đấp được, là một thực tế hiện hữu. Những vết thương lòng, những hụt hẫn về tinh thần và tình cảm đên bàng hoàng sững sốt đối với nhiều bà mẹ sau ngày chiến tranh kết thúc, khi biết rằng những người thân ruột thịt mà mình đã đêm ngày chờ đợi một lần tái ngộ sẽ mãi không bao giờ diễn ra nữa. Còn có nỗi đau lớn hơn, kéo dài cho đến hôm nay, nhiều bà mẹ không tìm ra mộ con, người vợ không tìm ra mộ chồng, người anh người chị không tìm ra mộ em, mặc dù được chính quyền, đoàn thể, các cơ quan truyền thông hết lòng giúp đỡ. Có những bà mẹ, người vợ đã lặn lội hết tỉnh này qua tỉnh khác, lên nguồn, xuống biển, lần theo những sự chỉ dẫn, mách bảo của bạn bè, đồng đội xưa mong tìm được mộ người thân, những rồi cũng đành thất vọng. Nỗi đau, niềm cô quạnh của các bà mẹ, các chị ở trong những trường hợp như thế đâu dễ nguôi ngoai. Nếu năm tháng không làm giảm đi niềm tự hào về sự cống hiến những núm ruột tin yêu của mình cho Tổ quốc, thì chính nó cũng không thể xoá đi nỗi đau gần như triền miên của các bà mẹ, người vợ.

 Đi về bất cứ một thôn ấp nào ở thị xã, huyện Châu Thành hay Ba Tri, Giồng Trôm hay Bình Đại, Chợ Lách, Mỏ Cày hay Thạnh Phú, bước vào nhà người dân, khách thường gặp một hình ảnh quen thuộc: trên bàn thờ là tấm ảnh của người quá cố ( và cũng có thể là hay hoặc ba… ), nơi vách tường là những tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và những huân chương các loại. Có không ít gia đình, huân chương và bằng khen, bằng “Tổ quốc ghi công” treo kín cả bức tường. Đó là những minh chứng về lòng yêu nước, lòng tự hào những ẩn chứa bên trong lớp lớp nổi đau. Đó là cái giá cần thiết để đánh đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc và đất nước, mà những người đang sống không được phép quên.

 Trân trọng những cống hiến vô giá của những bà mẹ, người vợ của những liệt sĩ, anh hùng đã ngã sống vì sự nghiệp giải phóng của đất nước, Đảng và nhà nước ta trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, đã ban hành nhiều chính sách nhằm chăm lo, giải quyết những nhu cầu bức thiết về đời sống vật chất và tinh thần cho các bà mẹ, bà chị như là một cách biểu thị lòng tri ân của Đảng và nhân dân đối với sự hy sinh vô giá đó. Chính quyền, đoàn thể của từng địa phương, đặc biệt là ở cấp cơ sở cũng đã có nhiều quan tâm, cố gắng, lo toan, chăm nom, thăm viếng các mẹ, các chị, nhất là trong dịp lễ, Tết, hoặc trong những lúc trái gió trở trời.

 Ngày 17-12-1994, thay mặt Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Lê Đức Anh đã ký quyết định 394/KTCTW tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong cả nước. Đến năm 2000, đã có 1,937 bà mẹ trong tỉnh được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

 Mẹ Cao Thị Thơm, quê xã Định Trung, huyện Bình Đại có 7 con là liệt sĩ. Đó là người mẹ có số con hy sinh cao nhất ở tỉnh Bến Tre.

Có 3 bà mẹ có 6 con là liệt sĩ.

  1. Lữ Thị Tư, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày.

  2. Phùng Thị Năm, xã Tam Phước, huyện Châu Thành.

  3. Nguyễn Thị Lang, xã Đại Hoà Lộc, huyện Bình Đại.

Có 10 bà mẹ có 5 con là liệt sĩ.

1. Đặng Thị Nỉ, xã Thới Thuận, huyện Bình Đại

2. Bùi Thị Ngọc, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại

3. Trần Thị Là, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại

4. Lê Thị Đạt, xã An Ngãi Trung, huyện Ba Tri

5. Nguyễn Thị Thảnh, xã Lướng Quới, huyện Giồng Trôm

6. Châu Thị Biết, xã Tân Lợi Thạnh, huyện Giồng Trôm

7. Châu Thị Rớt, xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú

8. Trần Thị Tư, xã Phú Túc, huyện Châu Thành

9. Lê Thị Tỉnh, xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày

10. Trịnh THị Nhứt, xã Ngãi Đăng, huyện Mỏ Cày

 

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement