Hôm nay: 01/08/2014
 
Huyện Châu Thành In
  
Diện tích (Km2) : 228  Dân số 2001: 165.605  |   Mật độ người/km2 : 726,34
Địa chỉ: Khóm 3, Thị trấn Châu Thành - Bến Tre
Điện thoại: 075. 3860227
Fax: 075. 3860662
 
Chủ tịch

TRẦN VĂN THỌ

Phó chủ tịch

    
TRƯƠNG QUỐC PHONG
ĐẶNG TUY PHONG
LÊ QUANG VỊNH



 
 Danh sách các phường, xã:

STT

Tên đơn vị

Ðịa chỉ

Ðiện thoại 

1

Thị trấn Châu Thành

 

 

2

Tân Thạch

 

 

3

   An Phước

 

 

4

Quới Thành

 

 

5

Phước Thạnh

 

 

6

Phú Túc

 

 

7

Tân Phú

 

 

8

Mỹ Thành

 

 

9

An Hóa

 

 

10

Quới Sơn

 

 

11

Giao Long

 

 

12

Hữu Định

 

 

13

Sơn Hòa

 

 

14

An Hiệp

 

 

15

An Khánh

 

 

16

Thành Triệu

 

 

17

Tam Phước

 

 

18

Phú An Hòa

 

 

19

Phú Đức

 

 

20

Tiên Thủy

 

 

21

Tiên Long

 

 

22

Tường Đa

 

 

23

Giao Hòa

 

 


Quá trình hình thành và phát triển

Huyện Châu Thành ngày nay không giống huyện Châu Thành của tỉnh Bến Tre năm 1929 về mặt vị trí, diện tích, ranh giới, vào lúc này tỉnh Bến Tre chia làm 4 quận: hai quận Châu Thành và Ba Tri nằm trên cù lao Bảo và hai quận Mỏ Cày, Thạnh Phú nằm trên cù lao Minh, tất cả gồm 20 tổng, 94 làng. Như vậy, huyện Châu Thành ngày ấy chiếm phần trên của cù lao Bảo (con sông Ba Lai lúc bấy giờ chưa bị bồi lắp, là ranh giới tự nhiên giữa cù lao Bảo và cù lao An Hóa), bao trùm cả ngoại vi thị xã và một số xã của huyện Giồng Trôm ngày nay. Cù lao An Hóa lúc ấy thuộc về tỉnh Mỹ Tho.

Huyện Châu Thành ngày nay (tính từ 30-4-1975) bao gồm phần đất nằm ở chót cù lao Bảo và đến cù lao An Hóa, bắc giáp tỉnh Tiền Giang (lấy con sông Tiền làm ranh giới), tây giáp ngã ba sông Hàm Luông – sông Tiền, nam giáp huyện Chợ Lách (lấy sông Hàm Luông làm ranh giới), đông giáp huyện Bình Đại, thị xã và huyện Giồng Trôm.

Đất Châu Thành ngày nay, vào năm 1779 một phần thuộc dinh Long Hồ (nam sông Ba Lai). Năm 1867, sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp chia Lục tỉnh thành 25 sở tham biện (inspection). Cù lao Bảo nằm trong sở tham biện Bến Tre, còn cù lao An Hóa nằm trong sở tham biện Kiến Hòa. Năm 1930, phần đất phía đầu cù lao Bảo nằm giữa sông Ba Lai và Hàm Luông được cắt ra, lập thành quận Sóc Sãi gồm 5 tổng, 27 làng.

Trước CMT8-1945, huyện Châu Thành gồm 5 tổng (Bảo Thành, Bảo Khánh, Bảo Hựu, Bảo Ngãi, Bảo Đức), chiếm phần phía tây cù lao Bảo, tính từ ranh giới các xã Phong Mỹ, Lương Quới, Lương Hòa ngược trở lên.

Sau CMT8-1945, Bến Tre đổi tên thành tỉnh Đồ Chiểu, đồng thời một huyện mới cũng được thành lập lấy tên là huyện Tán Kế, gồm một số xã của huyện Châu Thành và một số xã của huyện Ba Tri hợp lại. Huyện Tán Kế chỉ tồn tại đến năm 1948 thì giải thể, các xã bị cắt ra trước đó được nhập về huyện cũ. Cũng trong thời gian này, để việc chỉ đạo được thuận tiện, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh quyết định chia huyện Châu Thành làm hai: một nửa ngang từ xã Sơn Đông, Tam Phước ngược trở lên thành huyện Sóc Sãi (gồm 11 xã), phần còn lại vẫn gọi là huyện Châu Thành (gồm 25 xã).

Năm 1948, một quyết định khác của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ sáp nhập 6 xã ở phần đầu cù lao Minh (thuộc tỉnh Vĩnh Long), cù lao An Hóa (thuộc tỉnh Mỹ Tho) nhập vào tỉnh Bến Tre để thành một địa bàn thống nhất, tiện cho việc chỉ đạo và tổ chức chiến đấu. Từ kinh An Hóa trở lên đến xã Phú Đức gồm 11 xã, nhập về huyện Sóc Sãi, từ kinh An Hóa trở xuống đến xã Thới Thuận gồm 14 xã thuộc huyện An Hóa. Tỉnh Bến Tre lúc này gồm trọn diện tích 3 cù lao: Minh, Bảo và An Hóa, chia thành 7 huyện: Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách, Ba Tri, Châu Thành, Sóc Sãi và An Hóa.

Sau hiệp định Genèvơ (20-7-1954), chính quyền Ngô Đình Diệm tách cù lao An Hóa, sáp nhập vào Mỹ Tho như cũ. Cho đến tháng 6-1956, trong chủ trương chung điều chỉnh lại địa giới các tỉnh Nam phần của chính quyền Sài Gòn, cù lao An Hóa lại nhập với cù lao Bảo và Minh thành một tỉnh mới với tên là Kiến Hòa.

Về phía cách mạng, sau Đồng khởi (1-1960), Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định nhập hai huyện Sóc Sãi và Châu Thành thành huyện Châu Thành (mới). Đến tháng 7-1972 - thời kỳ bình định ác liệt của địch - lại có quyết định của Tỉnh ủy chia đôi huyện Châu Thành (mới) thành 2 huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.

Sau ngày 30-4-1975, hai huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây nhập lại làm một, lấy tên là huyện Châu Thành gồm 24 xã. Sau đó một thời gian, hai xã Phú Hưng và Sơn Đông được cắt ra nhập về thị xã Bến Tre. Như vậy, huyện Châu Thành lúc này gồm phần đất từ kênh An Hóa và phần đất chót của cù lao Bảo với 22 xã: Tiên Long, Tiên Thủy, An Hiệp, Sơn Hòa, Mỹ Thành, Tân Phú, Quới Thành, Phú Đức, Quới Sơn, Giao Hòa, Giao Long, An Hóa, An Phước, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Hữu Định, Tam Phước và thị trấn Châu Thành.

Đến 1-4-1999, với diện tích tự nhiên 22.145 ha và số dân 162.294 người, Châu Thành thuộc loại huyện rộng trung bình của tỉnh, trong đó đất nông nghiệp chiếm 16.364 ha, bằng 72,4% diện tích tự nhiên. Nằm ở phía đầu cù lao, huyện Châu Thành có ưu thế lớn về nông nghiệp so với các huyện khác ở trong tỉnh, đặc biệt về kinh tế vườn. Tuy nhiên hằng năm, do ảnh hưởng của gió chướng, triều cường, những cánh đồng thuộc các xã phía đông huyện thường bị nhiễm mặn nhẹ.

Vào những thập niên đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức cũng đã nhận xét: “Huyện Kiến Hòa (trong đó có phần đất Châu Thành ngày nay) đất ruộng phì nhiêu, mênh mông bát ngát, nhiều người lo việc canh nông làm gốc, trong nhà có vựa chứa lúa gạo đầy rẫy, lại có đức tính trung hậu, cần kiệm, vui làm việc nghĩa, an lạc cùng nhau”. Cần lưu ý một điều là việc Trịnh Hoài Đức ca ngợi đất đai Kiến Hòa ”phì nhiêu, mênh mông bát ngát” đã cách đây 180 năm – cái thời mà toàn bộ tỉnh Vĩnh Long (trong đó có tỉnh Bến Tre ngày nay) số dân đinh chưa đầy 4 vạn. Từ đó đến nay, diện tích canh tác tăng không đáng bao nhiêu, trong khi đó dân số tăng lên hơn chục lần.

Hiện nay, mật độ dân cư của huyện Châu Thành thuộc loại cao nhất trong các huyện của tỉnh, trừ thị xã Bến Tre. Riêng số dân của huyện hiện nay đã nhiều hơn dân số của toàn tỉnh Bến Tre khi giặc Pháp vừa chiếm đóng, năm 1867 (dân số tỉnh Bến Tre có khoảng 130.000 người). Vả chăng độ phì nhiêu của đất ngày nay cũng đã biến đổi đi nhiều. Do đó, cái khái niệm “phì nhiêu, mênh mông bát ngát” hay “vựa lúa, rừng dừa, tôm cá đầy sông” cũng cần được nhận thức lại một cách tỉnh táo hơn, hiện thực hơn. Đúng là huyện Châu Thành có những ưu thế về kinh tế - xã hội so với một số huyện khác như đất đai, nước tưới, kinh tế vườn, nằm trên trục lộ giao thông thủy bộ, nơi cửa ngõ Bến Tre, nhân dân có kinh nghiệm sản xuất, có truyền thống đoàn kết đấu tranh kiên cường. Rõ ràng là những tiềm năng về đất đai, sức lao động ở đây còn nhiều, nhưng tổ chức khai thác, huy động như thế nào đây để đẩy nhanh được tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, xây dựng văn hóa của một huyện được mệnh danh là “Châu Thành” nghĩa là vùng ngoại vi của trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh, đó là một câu hỏi lớn đặt ra bức thiết, mà đáp số đang còn nằm ở phía trước.

Huyện Châu Thành không có điều kiện vươn ra biển cả để đánh bắt hải sản như Bình Đại, Ba Tri, hay trồng rừng, nuôi tôm cá nước mặn và lợ, nuôi nghêu như Thạnh Phú, Bình Đại.

Là vùng đất được khai phá tương đối sớm của tỉnh Bến Tre, huyện Châu Thành cũng là nơi còn ghi lại nhiều dấu vết lịch sử qua những địa danh, những thành ngữ, những truyền thuyết, truyện kể lưu truyền trong dân gian về công cuộc phấn đấu đầy gian lao của những thế hệ đầu tiên đi mở đất, như chuyện đánh cọp, diệt sấu dũng cảm và mưu trí.

Nhân dân Châu Thành cũng đã góp phần vinh dự của mình vào trang sử chống ngoại xâm ngay từ trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1784) – nơi hơn hai vạn quân xâm lược Xiêm bị đánh tan tác trên sông Tiền (Theo sử liệu, một cánh quân Tây Sơn phục kích ở bờ nam sông Tiền, trong đó có các xã Tân Phú, Phú Ðức, Phú Túc). Trong cuộc khởi nghĩa do Thủ khoa Huân lãnh đạo (1875), nhân dân Châu Thành cũng đã góp phần công sức đáng kể. Chính vì vậy, sau cái chết của người anh hùng đất Mỹ Tho lúc bấy giờ, Thống đốc Nam Kỳ đã ra quyết định phạt vạ nhân dân 47 làng đã có người tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, chứa chấp, nuôi nấng nghĩa quân, để răn đe dân chúng, trong đó có 3 làng thuộc Châu Thành .

Phong trào yêu nước trong huyện từ khi có Ðảng Cộng sản lãnh đạo đã phát triển mạnh mẽ và liên tục. Tháng 8-1930, chi bộ đầu tiên được thành lập ở Hòa Quới, trên cơ sở của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được hình thành trước đó. Đảng bộ huyện Châu Thành đã lãnh đạo nhân dân phối hợp cùng với các huyện bạn cướp chính quyền thành công ở tỉnh vào ngày 25-8-1945.

Chín năm Kháng chiến chống Pháp là một thử thách đầy gian khổ hy sinh đối với nhân dân Châu Thành, đặc biệt trong những năm tháng khốc liệt phải đương đầu với đội quân UMDC của tên Léon Leroy. Những địa danh đã xảy ra những cuộc thảm sát đẫm máu như cầu tàu An Phước, cầu Ba Lai, ngã tư An Hóa, cồn Thùng... mãi mãi khắc sâu trong lòng người dân ở đây.

Trong Kháng chiến chống Mỹ, phong trào cách mạng của nhân dân Châu Thành đã từng chịu đựng bao nhiêu tổn thất nặng nề do chính sách tố cộng, diệt cộng và chiến tranh diệt chủng sau này gây ra. Với tinh thần bền bỉ đấu tranh, chấp nhận mọi hy sinh, mất mát, nhân dân Châu Thành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy và Tỉnh ủy, đã góp phần bẻ gãy mọi âm mưu của giặc, từ “chiến tranh đặc biệt” đến “chiến tranh cục bộ”, chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến cứu nước vào ngày 30-4-1975.

Từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân Châu Thành đã nỗ lực phấn đấu, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại nhà cửa, làng xóm, tổ chức đời sống kinh tế, phát triển văn hóa và trong thực tế đã đạt được những thành tích đáng kể.

Thành tích lớn nhất của hơn 25 năm qua là việc thực hiện có kết quả đề án chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh, chuyển giao thành tựu khoa học kỹ thuật cho dân, để tự họ ứng dụng vào trong sản xuất. Huyện đã tập trung sức xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, hoàn thành dự án bê đao, tận dụng và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái có năng suất cao. Công tác chuyển dịch cơ cấu, thay thế giống cây trồng có năng suất cao, bổ sung các giống cây mới có giá trị kinh tế, từng bước thâm nhập, tìm hiểu thị trường, vừa giải quyết tốt cả đầu vào lẫn đầu ra, đảm bảo thu nhập của người sản xuất.

Cho đến nay, từ 3.509 ha vườn tạp từ sau ngày giải phóng, huyện đã lãnh đạo nhân dân cải tạo, trồng mới, đạt 5.020 ha dừa và 8.324 ha vườn cây ăn trái. Cơ cấu cây trồng cũng có nhiều chuyển đổi, đưa vào những giống cây có múi sạch bệnh như cam; quýt, loại dừa lai F1 cho năng suất cao ở các xã Tam Phước, Tường Đa, Phú Đức, Thành Triệu, chuyển từ nhãn long sang trồng nhãn da bò, nhãn tiêu ở xã Quới Sơn, Phước Thạnh, đưa sản lượng hàng năm đạt khoảng 100 tấn trái cây thương phẩm và khoảng 36 triệu trái dừa/năm.

Về kế hoạch thủy lợi, đến cuối năm 1999, huyện đã hoàn thành bê đao cồn Tiên Lợi (xã Tiên Long), cồn Khánh Hội (xã Tiên Thủy), các cồn thuộc các xã Phú Túc, Phú Đức, Quới Thành, Tam Phước, Tường Đa, Phước Thành, Phước Triệu, đem lại hiệu quả rõ rệt là nâng cao được chất lượng và năng suất các vườn cây ăn trái. Trong khi đó, cây lúa vẫn giữ được diện tích ổn định, trong đó có 1.000 ha lúa cao sản. Hai xã Tân Thạch và An Hiệp đã phát triển các nghề thủ công truyền thống như dệt chiếu, làm đồ mỹ nghệ từ sản phẩm của dừa, sản xuất bánh kẹo, thu hút 2.500 lao động, đa số là phụ nữ.

Điện đã vượt sông Tiền về ba cù lao Bến Tre từ cả chục năm nay. Huyện Châu Thành – nơi đặt trạm biến thế của tỉnh - được coi như là điểm tiếp nhận đầu mối. Hiện nay, điện đã kéo về tận 22 xã và thị trấn. Đã có 61% số hộ sử dụng điện cho thắp sáng, cho sinh hoạt và cho tưới tiêu, chế biến lương thực, thực phẩm cho người và gia súc.

Chăn nuôi gia súc cũng như nuôi tôm cá nước ngọt đã có bước phát triển đáng kể. Trong số 2.732 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, đã đưa vào sử dụng 661 ha nuôi tôm càng xanh và cá các loại. Sản lượng đạt 400 tấn/năm. Về xây dựng cơ sở hạ tầng, tính đến nay ô-tô có thể về đến tận trung tâm 23/23 xã, thị trấn. Đang từng bước nhựa hóa và bê-tông hóa đường dẫn vào thôn, ấp... Nhiều xã đã xóa hẳn cầu khỉ.

Bộ mặt đời sống vật chất có bước thay đổi lớn, đời sống tinh thần cũng có bước tiến đáng kể. Từ một vùng bị bom đạn, chất độc hóa học tàn phá biến thành hoang hóa, nay là những xóm làng xanh tươi, khang trang, sạch đẹp. 27 ấp văn hóa đã được công nhận với những trường học các cấp, bệnh xá được ngói hóa. Huyện Châu Thành đã được công nhận là ngọn cờ đầu của tỉnh về chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng dân cư.

Tận dụng cảnh quan miệt vườn quanh năm xanh tươi với mùa nào trái cây ấy và cảnh sông nước hữu tình, các xã ven sông Tiền cùng các cù lao trên sông như Tân Thạch, Phú Túc, Tiên Thủy, Quới Sơn... đang phát triển du lịch xanh. Những kết quả ban đầu trong vài năm nay đang mở ra nhiều hứa hẹn về khả năng thu hút khách.

Huyện Châu Thành đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân vào tháng 8-1995. Mười xã trong huyện được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Đó là các xã An Khánh, Phú Túc, Phú Đức, Thành Triệu, Tường Đa, Tam Phước, Phước Thạnh, Hữu Định, Tân Thạch và An Phước.

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

Advertisement