|
Diện
tích (Km2) : 228
| Dân số 2001:
165.605 | Mật độ người/km2 :
726,34 |
Địa
chỉ: Khóm 3, Thị trấn Châu Thành - Bến
Tre
Điện thoại: 075. 3860227
Fax: 075. 3860662
Chủ tịch
TRẦN VĂN THỌ
Phó
chủ tịch
TRƯƠNG QUỐC PHONG
|
ĐẶNG TUY PHONG
|
LÊ QUANG VỊNH
|
|
|
|
|
Huyện Châu Thành ngày nay không giống huyện Châu
Thành của tỉnh Bến Tre năm 1929 về mặt vị trí, diện tích, ranh giới, vào lúc này
tỉnh Bến Tre chia làm 4 quận: hai quận Châu Thành và Ba Tri nằm trên cù lao Bảo
và hai quận Mỏ Cày, Thạnh Phú nằm trên cù lao Minh, tất cả gồm 20 tổng, 94 làng.
Như vậy, huyện Châu Thành ngày ấy chiếm phần trên của cù lao Bảo (con sông Ba
Lai lúc bấy giờ chưa bị bồi lắp, là ranh giới tự nhiên giữa cù lao Bảo và cù lao
An Hóa), bao trùm cả ngoại vi thị xã và một số xã của huyện Giồng Trôm ngày nay.
Cù lao An Hóa lúc ấy thuộc về tỉnh Mỹ Tho.
Huyện Châu Thành
ngày nay (tính từ 30-4-1975) bao gồm phần đất nằm ở chót cù lao Bảo và đến cù
lao An Hóa, bắc giáp tỉnh Tiền Giang (lấy con sông Tiền làm ranh giới), tây giáp
ngã ba sông Hàm Luông – sông Tiền, nam giáp huyện Chợ Lách (lấy sông Hàm Luông
làm ranh giới), đông giáp huyện Bình Đại, thị xã và huyện Giồng Trôm.
Đất Châu Thành ngày
nay, vào năm 1779 một phần thuộc dinh Long Hồ (nam sông Ba Lai). Năm 1867, sau
khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp chia Lục tỉnh thành 25 sở tham biện
(inspection). Cù lao Bảo nằm trong sở tham biện Bến Tre, còn cù lao An Hóa nằm
trong sở tham biện Kiến Hòa. Năm 1930, phần đất phía đầu cù lao Bảo nằm giữa
sông Ba Lai và Hàm Luông được cắt ra, lập thành quận Sóc Sãi gồm 5 tổng, 27
làng.
Trước CMT8-1945,
huyện Châu Thành gồm 5 tổng (Bảo Thành, Bảo Khánh, Bảo Hựu, Bảo Ngãi, Bảo Đức),
chiếm phần phía tây cù lao Bảo, tính từ ranh giới các xã Phong Mỹ, Lương Quới,
Lương Hòa ngược trở lên.
Sau CMT8-1945, Bến
Tre đổi tên thành tỉnh Đồ Chiểu, đồng thời một huyện mới cũng được thành lập lấy
tên là huyện Tán Kế, gồm một số xã của huyện Châu Thành và một số xã của huyện
Ba Tri hợp lại. Huyện Tán Kế chỉ tồn tại đến năm 1948 thì giải thể, các xã bị
cắt ra trước đó được nhập về huyện cũ. Cũng trong thời gian này, để việc chỉ đạo
được thuận tiện, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh quyết định chia huyện Châu
Thành làm hai: một nửa ngang từ xã Sơn Đông, Tam Phước ngược trở lên thành huyện
Sóc Sãi (gồm 11 xã), phần còn lại vẫn gọi là huyện Châu Thành (gồm 25 xã).
Năm 1948, một quyết
định khác của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ sáp nhập 6 xã ở phần đầu cù
lao Minh (thuộc tỉnh Vĩnh Long), cù lao An Hóa (thuộc tỉnh Mỹ Tho) nhập vào tỉnh
Bến Tre để thành một địa bàn thống nhất, tiện cho việc chỉ đạo và tổ chức chiến
đấu. Từ kinh An Hóa trở lên đến xã Phú Đức gồm 11 xã, nhập về huyện Sóc Sãi, từ
kinh An Hóa trở xuống đến xã Thới Thuận gồm 14 xã thuộc huyện An Hóa. Tỉnh Bến
Tre lúc này gồm trọn diện tích 3 cù lao: Minh, Bảo và An Hóa, chia thành 7
huyện: Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách, Ba Tri, Châu Thành, Sóc Sãi và An Hóa.
Sau hiệp định
Genèvơ (20-7-1954), chính quyền Ngô Đình Diệm tách cù lao An Hóa, sáp nhập vào
Mỹ Tho như cũ. Cho đến tháng 6-1956, trong chủ trương chung điều chỉnh lại địa
giới các tỉnh Nam phần của chính quyền Sài Gòn, cù lao An Hóa lại nhập với cù
lao Bảo và Minh thành một tỉnh mới với tên là Kiến Hòa.
Về phía cách mạng,
sau Đồng khởi (1-1960), Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết định nhập hai huyện Sóc Sãi và
Châu Thành thành huyện Châu Thành (mới). Đến tháng 7-1972 - thời kỳ bình định ác
liệt của địch - lại có quyết định của Tỉnh ủy chia đôi huyện Châu Thành (mới)
thành 2 huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây.
Sau ngày 30-4-1975,
hai huyện Châu Thành Đông và Châu Thành Tây nhập lại làm một, lấy tên là huyện
Châu Thành gồm 24 xã. Sau đó một thời gian, hai xã Phú Hưng và Sơn Đông được cắt
ra nhập về thị xã Bến Tre. Như vậy, huyện Châu Thành lúc này gồm phần đất từ
kênh An Hóa và phần đất chót của cù lao Bảo với 22 xã: Tiên Long, Tiên Thủy, An
Hiệp, Sơn Hòa, Mỹ Thành, Tân Phú, Quới Thành, Phú Đức, Quới Sơn, Giao Hòa, Giao
Long, An Hóa, An Phước, Phú An Hòa, Phước Thạnh, Hữu Định, Tam Phước và thị trấn
Châu Thành.
Đến 1-4-1999, với
diện tích tự nhiên 22.145 ha và số dân 162.294 người, Châu Thành thuộc loại
huyện rộng trung bình của tỉnh, trong đó đất nông nghiệp chiếm 16.364 ha, bằng
72,4% diện tích tự nhiên. Nằm ở phía đầu cù lao, huyện Châu Thành có ưu thế lớn
về nông nghiệp so với các huyện khác ở trong tỉnh, đặc biệt về kinh tế vườn. Tuy
nhiên hằng năm, do ảnh hưởng của gió chướng, triều cường, những cánh đồng thuộc
các xã phía đông huyện thường bị nhiễm mặn nhẹ.
Vào những thập niên
đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức cũng đã nhận xét: “Huyện Kiến Hòa (trong đó có
phần đất Châu Thành ngày nay) đất ruộng phì nhiêu, mênh mông bát ngát, nhiều
người lo việc canh nông làm gốc, trong nhà có vựa chứa lúa gạo đầy rẫy, lại có
đức tính trung hậu, cần kiệm, vui làm việc nghĩa, an lạc cùng nhau”. Cần lưu ý
một điều là việc Trịnh Hoài Đức ca ngợi đất đai Kiến Hòa ”phì nhiêu, mênh mông
bát ngát” đã cách đây 180 năm – cái thời mà toàn bộ tỉnh Vĩnh Long (trong đó có
tỉnh Bến Tre ngày nay) số dân đinh chưa đầy 4 vạn. Từ đó đến nay, diện tích canh
tác tăng không đáng bao nhiêu, trong khi đó dân số tăng lên hơn chục lần.
Hiện nay, mật độ
dân cư của huyện Châu Thành thuộc loại cao nhất trong các huyện của tỉnh, trừ
thị xã Bến Tre. Riêng số dân của huyện hiện nay đã nhiều hơn dân số của toàn
tỉnh Bến Tre khi giặc Pháp vừa chiếm đóng, năm 1867 (dân số tỉnh Bến Tre có
khoảng 130.000 người). Vả chăng độ phì nhiêu của đất ngày nay cũng đã biến đổi
đi nhiều. Do đó, cái khái niệm “phì nhiêu, mênh mông bát ngát” hay “vựa lúa,
rừng dừa, tôm cá đầy sông” cũng cần được nhận thức lại một cách tỉnh táo hơn,
hiện thực hơn. Đúng là huyện Châu Thành có những ưu thế về kinh tế - xã hội so
với một số huyện khác như đất đai, nước tưới, kinh tế vườn, nằm trên trục lộ
giao thông thủy bộ, nơi cửa ngõ Bến Tre, nhân dân có kinh nghiệm sản xuất, có
truyền thống đoàn kết đấu tranh kiên cường. Rõ ràng là những tiềm năng về đất
đai, sức lao động ở đây còn nhiều, nhưng tổ chức khai thác, huy động như thế nào
đây để đẩy nhanh được tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, xây dựng
văn hóa của một huyện được mệnh danh là “Châu Thành” nghĩa là vùng ngoại vi của
trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh, đó là một câu hỏi lớn đặt ra bức thiết, mà
đáp số đang còn nằm ở phía trước.
Huyện Châu Thành
không có điều kiện vươn ra biển cả để đánh bắt hải sản như Bình Đại, Ba Tri, hay
trồng rừng, nuôi tôm cá nước mặn và lợ, nuôi nghêu như Thạnh Phú, Bình Đại.
Là vùng đất được
khai phá tương đối sớm của tỉnh Bến Tre, huyện Châu Thành cũng là nơi còn ghi
lại nhiều dấu vết lịch sử qua những địa danh, những thành ngữ, những truyền
thuyết, truyện kể lưu truyền trong dân gian về công cuộc phấn đấu đầy gian lao
của những thế hệ đầu tiên đi mở đất, như chuyện đánh cọp, diệt sấu dũng cảm và
mưu trí.
Nhân dân Châu Thành
cũng đã góp phần vinh dự của mình vào trang sử chống ngoại xâm ngay từ trận Rạch
Gầm – Xoài Mút (1784) – nơi hơn hai vạn quân xâm lược Xiêm bị đánh tan tác trên
sông Tiền (Theo sử liệu, một cánh quân Tây Sơn phục kích ở bờ nam sông Tiền,
trong đó có các xã Tân Phú, Phú Ðức, Phú Túc). Trong cuộc khởi nghĩa do Thủ khoa
Huân lãnh đạo (1875), nhân dân Châu Thành cũng đã góp phần công sức đáng kể.
Chính vì vậy, sau cái chết của người anh hùng đất Mỹ Tho lúc bấy giờ, Thống đốc
Nam Kỳ đã ra quyết định phạt vạ nhân dân 47 làng đã có người tham gia nghĩa
quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, chứa chấp, nuôi nấng nghĩa quân, để răn
đe dân chúng, trong đó có 3 làng thuộc Châu Thành .
Phong trào yêu nước
trong huyện từ khi có Ðảng Cộng sản lãnh đạo đã phát triển mạnh mẽ và liên tục.
Tháng 8-1930, chi bộ đầu tiên được thành lập ở Hòa Quới, trên cơ sở của tổ chức
Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội đã được hình thành trước đó. Đảng bộ
huyện Châu Thành đã lãnh đạo nhân dân phối hợp cùng với các huyện bạn cướp chính
quyền thành công ở tỉnh vào ngày 25-8-1945.
Chín năm Kháng
chiến chống Pháp là một thử thách đầy gian khổ hy sinh đối với nhân dân Châu
Thành, đặc biệt trong những năm tháng khốc liệt phải đương đầu với đội quân UMDC
của tên Léon Leroy. Những địa danh đã xảy ra những cuộc thảm sát đẫm máu như cầu
tàu An Phước, cầu Ba Lai, ngã tư An Hóa, cồn Thùng... mãi mãi khắc sâu trong
lòng người dân ở đây.
Trong Kháng chiến
chống Mỹ, phong trào cách mạng của nhân dân Châu Thành đã từng chịu đựng bao
nhiêu tổn thất nặng nề do chính sách tố cộng, diệt cộng và chiến tranh diệt
chủng sau này gây ra. Với tinh thần bền bỉ đấu tranh, chấp nhận mọi hy sinh, mất
mát, nhân dân Châu Thành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy và Tỉnh ủy, đã
góp phần bẻ gãy mọi âm mưu của giặc, từ “chiến tranh đặc biệt” đến “chiến tranh
cục bộ”, chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc
kháng chiến cứu nước vào ngày 30-4-1975.
Từ sau ngày đất
nước hoàn toàn giải phóng, nhân dân Châu Thành đã nỗ lực phấn đấu, hàn gắn vết
thương chiến tranh, xây dựng lại nhà cửa, làng xóm, tổ chức đời sống kinh tế,
phát triển văn hóa và trong thực tế đã đạt được những thành tích đáng kể.
Thành tích lớn nhất
của hơn 25 năm qua là việc thực hiện có kết quả đề án chuyển đổi cơ cấu giống
cây trồng, cải tạo vườn tạp thành vườn chuyên canh, chuyển giao thành tựu khoa
học kỹ thuật cho dân, để tự họ ứng dụng vào trong sản xuất. Huyện đã tập trung
sức xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, hoàn thành dự án bê đao, tận dụng và
mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và cây ăn trái có năng suất cao. Công tác
chuyển dịch cơ cấu, thay thế giống cây trồng có năng suất cao, bổ sung các giống
cây mới có giá trị kinh tế, từng bước thâm nhập, tìm hiểu thị trường, vừa giải
quyết tốt cả đầu vào lẫn đầu ra, đảm bảo thu nhập của người sản xuất.
Cho đến nay, từ
3.509 ha vườn tạp từ sau ngày giải phóng, huyện đã lãnh đạo nhân dân cải tạo,
trồng mới, đạt 5.020 ha dừa và 8.324 ha vườn cây ăn trái. Cơ cấu cây trồng cũng
có nhiều chuyển đổi, đưa vào những giống cây có múi sạch bệnh như cam; quýt,
loại dừa lai F1 cho năng suất cao ở các xã Tam Phước, Tường Đa, Phú Đức, Thành
Triệu, chuyển từ nhãn long sang trồng nhãn da bò, nhãn tiêu ở xã Quới Sơn, Phước
Thạnh, đưa sản lượng hàng năm đạt khoảng 100 tấn trái cây thương phẩm và khoảng
36 triệu trái dừa/năm.
Về kế hoạch thủy
lợi, đến cuối năm 1999, huyện đã hoàn thành bê đao cồn Tiên Lợi (xã Tiên Long),
cồn Khánh Hội (xã Tiên Thủy), các cồn thuộc các xã Phú Túc, Phú Đức, Quới Thành,
Tam Phước, Tường Đa, Phước Thành, Phước Triệu, đem lại hiệu quả rõ rệt là nâng
cao được chất lượng và năng suất các vườn cây ăn trái. Trong khi đó, cây lúa vẫn
giữ được diện tích ổn định, trong đó có 1.000 ha lúa cao sản. Hai xã Tân Thạch
và An Hiệp đã phát triển các nghề thủ công truyền thống như dệt chiếu, làm đồ mỹ
nghệ từ sản phẩm của dừa, sản xuất bánh kẹo, thu hút 2.500 lao động, đa số là
phụ nữ.
Điện đã vượt sông
Tiền về ba cù lao Bến Tre từ cả chục năm nay. Huyện Châu Thành – nơi đặt trạm
biến thế của tỉnh - được coi như là điểm tiếp nhận đầu mối. Hiện nay, điện đã
kéo về tận 22 xã và thị trấn. Đã có 61% số hộ sử dụng điện cho thắp sáng, cho
sinh hoạt và cho tưới tiêu, chế biến lương thực, thực phẩm cho người và gia súc.
Chăn nuôi gia súc
cũng như nuôi tôm cá nước ngọt đã có bước phát triển đáng kể. Trong số 2.732 ha
mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, đã đưa vào sử dụng 661 ha nuôi tôm
càng xanh và cá các loại. Sản lượng đạt 400 tấn/năm. Về xây dựng cơ sở hạ tầng,
tính đến nay ô-tô có thể về đến tận trung tâm 23/23 xã, thị trấn. Đang từng bước
nhựa hóa và bê-tông hóa đường dẫn vào thôn, ấp... Nhiều xã đã xóa hẳn cầu khỉ.
Bộ mặt đời sống vật
chất có bước thay đổi lớn, đời sống tinh thần cũng có bước tiến đáng kể. Từ một
vùng bị bom đạn, chất độc hóa học tàn phá biến thành hoang hóa, nay là những xóm
làng xanh tươi, khang trang, sạch đẹp. 27 ấp văn hóa đã được công nhận với những
trường học các cấp, bệnh xá được ngói hóa. Huyện Châu Thành đã được công nhận là
ngọn cờ đầu của tỉnh về chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng dân cư.
Tận dụng cảnh quan
miệt vườn quanh năm xanh tươi với mùa nào trái cây ấy và cảnh sông nước hữu
tình, các xã ven sông Tiền cùng các cù lao trên sông như Tân Thạch, Phú Túc,
Tiên Thủy, Quới Sơn... đang phát triển du lịch xanh. Những kết quả ban đầu trong
vài năm nay đang mở ra nhiều hứa hẹn về khả năng thu hút khách.
Huyện Châu Thành đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng
Lực lượng Vũ trang nhân dân vào tháng 8-1995. Mười xã trong huyện được tuyên
dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Đó là các xã An Khánh, Phú
Túc, Phú Đức, Thành Triệu, Tường Đa, Tam Phước, Phước Thạnh, Hữu Định, Tân Thạch
và An Phước.
|