Hôm nay: 19/09/2014
 
Đạo Phật In

Image
Chùa Viên Minh
Đạo Phật có mặt ở Bến Tre sớm nhất so với các đạo khác, do cha ông ta từ miền ngoài mang vào. Khi công cuộc định cư đã đi vào nề nếp cùng với việc thiết lập thôn, ấp, tổ chức chợ búa, thì đình, chùa miếu cũng bắt đầu được dựng lên trong địa phương. Dĩ nhiên, lúc này kiến trúc còn đơn sơ, chủ yếu bằng cây, lá tại chỗ. Cho đến khi kinh tế phát triển, đời sống được ổn định, việc giao lưu kinh tế trong vùng được mở rộng và phát triển, người ta mới nghĩ ngay đến việc xây dựng những ngôi đình, ngôi chùa bằng gạch ngói. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, cách tu theo đạo Phật cổ truyền được phổ biến ở miền Nam trước đây là lối "tu tại gia". Ở trong nhà thường có treo hình Quan Âm bồ tát, hoặc cao hơn một chút là có một tượng Phật nhỏ để thờ. Như thế cũng có thể nói là "theo đạo Phật” rồi. Có nhiều địa phương không có chùa, nhưng vẫn có người theo đạo Phật. Ở những nơi, dù có chùa đi nữa các tín đồ Phật giáo cũng chỉ biết đến chùa dâng lễ và khấn vái trong những ngày rằm, ngày Tết, chứ không đi lễ nhà chùa, nghe giảng kinh đều đặn hàng tuần như tín đồ đạo thiên chúa.  

Theo nhiều tài liệu còn lưu giữ ở địa phương, thì Hội Tôn Cổ Tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành là chùa xưa nhất của tỉnh. Chùa được xây cất từ đời Cảnh Hưng (1740) do hòa thượng Long Thiền, tên thật là Đạt, quê ở Quảng Ngãi, trụ trì. Như vậy so với chùa được xây dựng sớm nhất ở Nam bộ là chùa Vạn An, được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng sắc tứ vào năm 1710, thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, thì chỉ muộn hơn 30 năm.

Chùa Phú Hưng được xây dựng từ thời vua Gia Long. Viên Giác Tự cũng là chùa cổ của tỉnh Bến Tre, được xây dựng từ năm 1870 tại thị xã. Bửu Sơn tự ở xã Tân Thuỷ, Ba Tri cũng là ngôi chùa tương đối lâu đời. Chùa này do hoà thượng Khánh Thông xây dựng vào cuối thề kỷ XIX. Đặc biệt có hai anh em ông Nguyễn Duy Trới và Nguyễn Duy Đảnh là sĩ phu yêu nước, từng tham gia tổ chức thiên địa hội, bị giặc Pháp truy lùng phải lẩn tránh sang xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. Ban đầu hai ông xây dựng một ngôi chùa đơn sơ bằng cây là bên rạch Tân Hương, làm nơi để ẩn náu tu hành và đặt tên chùa là Tiên Linh . Lập chùa xong hai ông cùng một số phật tử sang huyện Ba Tri thỉnh hoà thượng Lê Khánh Phong về làm trụ trì, còn hai ông cũng xuất gia thọ giáo tại chùa này.

hòa thượng Lê Khánh Phong trụ trì ở chùa Tiên Linh đến năm 1902 thì viên tịch. Người con trai của ông Nguyễn Duy Đảnh là Nguyễn Duy Quý cùng phật tử sang huyện Ba Tri thỉnh hoà thượng Lê Khánh Hoà, pháp danh là Thích Như Trí về trụ trì vào năm 1907. Chùa Tiên Linh được trùng tu, mở rộng và hoà thượng đổi tên là chùa Tuyên Linh (1924). Hoà tượng Lê Khánh Hoà là một vị cao tăng, uyên thâm về nho học và Phật học, là một trong những người chủ xướng ra phong trào Nam kỳ chấn hưng Phật giáo vào những năm 1924-1934, quy tụ nhiều cao tăng, cư sĩ phật giáo có tiếng lúc bấy giờ ở Nam kỳ. Cũng tại nơi chùa này, vào cuối năm 1926, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh – cùng một vị cao tăng ở chùa Từ Đàm (Huế) đã đến gặp nhà sư Lê Khánh Hoà mời lưu lại chùa một thời gian, có mở lớp dạy phật tử và xem mạch bốc thuốc chữa bệnh cho đồng bào trong vùng.

Nhà sư Lê Khánh Hoà đã trụ trì tại chùa này 39 năm và viên tịch tại đây vào ngày 19-6-1947. Đến năm 1955, để tưởng nhớ công đức của nhà sư, Hội phật học Việt Nam (miền Nam) đã long trọng tổ chức lễ Tà Tỳ (lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo tháp) ngay tại chùa Tuyên Linh.

Chùa Huệ Quang tại thị trấn Giồng Trôm cũng là chùa lâu đời. Từ một chùa nhỏ bằng cây là, đến năm 1784, được hoà thượng Minh Hòa (thuộc tổ đình Long Thành – Bà Hom ở Gia Định) về tạo dựng khang trang và được xem là tổ khai sơn.

Nói đến Phật giáo ở Bến Tre, đặc biệt phong trào Phật giáo yêu nước của tỉnh, trước hết cần phải kể đến vai trò và uy tín của hoà thượng Lê Khánh Hoà, mà về sau đã được suy tôn là Tổ sư chấn hưng đệ nhất của giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Tư tưởng, tiến bộ yêu nước, yêu đồng bào đã được thể hiện ở nhà sư khá sớm và khá nhất quán. Ngay từ năm 1930, sư Lê Khánh Hoà đã được bầu làm Hội trưởng Nam Kỳ nghiên cứu Phật học hội, chủ bút tạp chí Từ bi âm kiêm giám đốc phật học tùng thư và là người lãnh đạo tinh thần có uy tín không chỉ đối với phong trào Phật giáo của tỉnh Bến Tre mà cả đối với Phật tử Bắc – Nam – Trung.

Khi CMT8-1945 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hoà đang trụ trì tại chùa tuyên Linh, đã kêu gọi phật tử trong tỉnh và trong miền ủng hộ chính quyền cách mạng, tham gia vào công cuộc chuẩn bị kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc. Khi chiến tranh lan đến Bến Tre, đồng bào Phật tử trong tỉnh đã sát cách cùng các tầng lớp nhân dân chống giặc cứu nước.

Năm 1947, nhà sư Lê Khánh Hoà lâm bệnh nặng, biết mình không thể qua khỏi, ông đã cẩn thận sắp xếp lại tổ chức trong giáo hội, căn dặn học trò, tín đồ hãy tích cực tham gia vào cuộc kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Gương sáng và thái độ  tích cực của hoà thượng Lê Khánh Hoà đã có tác động lớn trong việc động viên tinh thần yêu nước của giới phật tử. Ở đây, tư tưởng nhân đạo, bác ái của phật giáo đã gặp và hoà nhập cùng với tư tưởng yêu nước của quần chúng nhân dân, làm bừng lên ngọn lửa chiến đấu oanh liệt của mảnh đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất. Chính điều này là cơ sở để giải thích vì sao phần lớn các nhà sư, tăng ni, phật tử ở Bến Tre đã tham gia cách mạng giải phóng dân tộc. Nhiều chùa chiền trước cách mạng là nơi nương náu, nuôi giấu những cán bộ cách mạng hoạt động bí mật.

Trong KCCP, tăng ni, phật tử Bến Tre đã tham gia vào Mặt trận Việt Minh rồi Liên Việt với tư cách là một đoàn thể yêu nước: Hội phật giáo cứu quốc.

Truyền thống này vẫn được duy trì và phát huy trong thời chống Mỹ, mặc dù lúc này kẻ địch đã áp dụng nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi nhằm thao túng giáo hội, mua chuộc hàng chức sắc, đưa hoạt động của giáo hội Phật giáo đi vào quỹ đạo chính trị của chủ nghĩa thực dân mới. Đa số quần chúng tín đồ đã hướng về cánh mạng và có nhiều đóng góp tích cực trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Nhưng có một thực tế cần thừa nhận là dưới thời Mỹ, nguỵ, bằng nhiều nguồn tài trợ từ bên ngoài, nhiều chùa chiền, thánh tịnh, thánh thất, nhà thờ, nhà giảng được xây dựng cùng khắp trong tỉnh với quy mô lớn gấp nhiều lần so với thời Pháp thuộc. Hoạt động của Phật giáo ngày một mang đậm màu sắc chính trị.

Ở một số nơi, đặc biệt trong vùng định kiểm soát, hệ thống giáo quyền phát triển đến tận ấp, xã. Tại Bến Tre trước ngày giải phóng, cả hai phái Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang đều song song hoạt động, và mỗi bên đều có một lực lượng tín đồ riêng. Theo thống kê của mặt trận Tổ quốc tỉnh năm 1983, toàn tỉnh có 251 tự viện (trong đó 227 chùa, 12 tịnh xá, 12 tịnh thất), 426 tăng ni (391 bắc tông, 35 khất sĩ) và 81.000 tín đồ (trong số đó khoảng 51.000 tín đồ thường xuyên đi chùa).

 

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

Advertisement