|
Đố và đáp vốn là một hình
thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá phổ biến ở Bến Tre trước đây. Người già
cũng như người trẻ, ai cũng được năm ba câu đố và cũng từng được người
khác đố. Vì vậy, chúng ta có thể bắt gặp nhiều loại câu đố khác nhau ở bất cứ
nơi nào trong tỉnh, từ vùng Chợ Lách cây trái sum suê đến vùng ven biển Thạnh
Phú, Ba Tri, từ bờ sông Tiền đến bên bờ Cổ Chiên.
Cuộc chơi có tính chất
trí tuệ, linh hoạt này có thể diễn ra bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, không
cần phải chọn lựa địa điểm, thời gian. Có thể đố nhau trên đồng ruộng, trong
những phút nghỉ ngơi, nơi bến sông cùng chờ một chuyến đò ngang, hay trên một
chuyến đò dọc, trên một chặng đường đất đi chung, hay dưới một bóng cây giữa
trưa hè oi bức. Cuộc đố và đáp cũng được diễn ra ở nông thôn vào những đêm
trăng thơ mộng nơi sân nhà, người tham gia quây quần quanh ấm nước chè thắm
đượm tình làng nghĩa xóm. Trẻ em cũng thường đố nhau khi ngồi vắt vẻo trên lưng
trâu, nơi bờ kênh, hoặc trên đường tung tăng chân sáo, cắp sách đến trường.
Những cuộc đố vui cũng là một cách giải trí tinh thần, vì chủ yếu người chơi
dùng óc phán đoán, liên tưởng, suy luận. Có ý kiến cho rằng câu đố cũng là một
bài toán – không phải là toán số học mà là "toán văn học” – đòi hỏi người
giải phải tuân thủ một lôgích hợp lý, chặt chẽ theo cách riêng của câu đố. Nếu
ca dao, dân ca là tiếng nói của tình cảm, thì câu đố là tiếng cười của trí tuệ,
bởi vì người thi tài muốn đoán, giải đúng phải có những điều kiện như: vốn
sống, kiến thức và kinh nghiệm dồi dào, có một tư duy liên hội phong phú và
linh hoạt. Đồng thời cũng phải có tinh thần “cảnh giác” đối với người ra câu
đố, vì lắm khi bị đánh lừa bởi kỹ thuật diễn tả để làm lạc hướng suy luận của
đối phương. Câu đố càng lắt léo, càng hóc búa mà được người giải đoán đúng sẽ
tạo thêm niềm thích thú tinh thần cao độ, không những cho kẻ được cuộc mà cả cử
tọa tham dự cuộc chơi.
Cũng như ca dao và nhiều
loại hình văn nghệ dân gian khác, chúng ta bắt gặp ở Bến Tre những câu đố về
người, về cây, về loài vật, về đồ dùng, về sinh hoạt, về chữ... vốn phổ biến ở
nơi khác, thậm chí không ít câu đố có gốc gác từ nơi đất cũ được những lưu dân
mang theo cùng với hành trang của mình trên bước đường di chuyển, Những câu đố
này, nhất là những câu đố mang tính địa phương rõ nét. Một số ví dụ:
Về hiện tượng vũ trụ:
Bằng cái dĩa, sỉa xuống ao
Đào không thấy, lấy không lên
(Mặt trăng)
Về thực vật:
Đầu rồng, đuôi phượng le te
Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con
(Câu cau và buồng cau)
Về động vật quen thuộc:
Bốn ông đập đất, một ông phất cờ
Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân
(Con trâu: 4 chân, đuôi, mõm, lỗ đít)
Về sinh hoạt:
Anh đỏ liếm đít chị đen
Chị đen không nói, ăn quen liếm hoài.
(Ngọn lửa và đít nồi)
Có thể dẫn ra một loạt
trường hợp tương tự, từ cái cối giã trầu, ông bình vôi của bà mẹ đến nồi cơm,
cái gáo múc nước, từ cây cỏ, vật dụng trong nhà đến chiếc xuồng, tấm lưới cho
đến cả trăng, sao trên trời.
Tuy nhiên, những câu đố
chiếm số lượng nhiều nhất vẫn là những câu đố được gắn liền với cuộc sống chung
quanh. Người ta có thể nhận biết nó, khi câu đố liên quan với tên đất, tên
sông, các sự kiện lịch sử đã từng xảy ra ở địa phương hay sự nghiệp của một
nhân vật cụ thể... Nhưng không phải khi nào cũng vậy. Rất nhiều câu đố chỉ mang
dấu ấn tâm lý, tính cách con người, cảnh sắc, sản vật địa phương... mà muốn xác
định phải có một sự suy đoán, liên hệ, đối chiếu công phu.
Trước hết, đó là loại
câu đố về quê hương, về những đặc sản nổi tiếng, về những nhân vật tiêu biểu.
Thường thì những câu đố này vừa hàm chứa tình yêu mến, vừa pha lẫn niềm tự hào.
Để khẳng định một vùng
đất trù phú:
Quê em ba dải cù lao
Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu
(tỉnh nào?)
Quê anh có cửa biển sâu
Có ruộng lấy muối, có dâu nuôi tằm.
(Huyện nào?)
Những câu trên đây vừa
thuộc dạng ca dao, vừa là câu đố. Nói chung, loại câu đố này đơn giản, ít lắt
léo, nên việc đoán giải không khó.
Dừa và cau là hai loại đặc
sản nổi tiếng của địa phương – có hàng chục câu đố về cau và dừa. Tuy vậy có
những câu, nếu không có sự suy luận, liên hội tốt thì không dễ đoán giải được.
Ví dụ:
Sông không đến, bến không vào
Lơ lửng giữa trời làm sao có nước?
Hoặc:
Giữa lưng trời có vũng nước trong
Cá lòng tong không mong lội tới.
Hay
câu đố về động tác trèo cau:
Chân trói, tay bíu, khu nắc, mắt nhìn
Hai tay thì tréo
Hai chân thì trói
Cái đít thì lắc
Con mắt ngó chừng.
Người ra câu đố cũng khi
mượn được một tâm trạng để chỉ một loại cây trái phổ biến trong vùng:
Một mình âm ỉ canh chầy
Dĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(Trái sầu riêng)
Chất trí tuệ dân gian
đôi khi được vận dụng một cách thông minh, nhằm lái suy nghĩ của người đoán
giải về một hướng khác để chệch mục tiêu cần tìm. Từ chỗ miêu tả một động tác
hái trái vốn là một sản phẩm phổ biến ở địa phương (thực vật), người ra đố lại
nhằm về một món ăn (xuất thực vật) phổ biến trong bữa cơm nhà nghèo, theo lối
nói lái:
May không chút nào nữa thì lầm
Cau dầy không bẻ, bẻ nhằm cau ranh
(Canh rau)
Thực chất cái gọi là
"đố", chỉ gói tròn trong hai chữ cuối cùng.
Đất Bến Tre cũng là nơi
sinh ra nhiều nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Trương
Vĩnh Ký... Loại câu đố “xuất nhân danh” ở đây cũng đã khắc họa được đặc trưng
riêng về những con người đó. Có trường hợp đọc lên là có thể hiểu ngay như câu
đố về cụ Đồ Chiểu:
Quyết tâm rửa sạch quốc thù
Ô hô cặp mắt, công phu lỡ làng.
Hay như câu đố về người
phụ nữ làm chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở nước ta, tờ Nữ giới chung: bà
Sương Nguyệt Anh.
Đem chuông lên đánh Sài Gòn
Để cho nữ giới biết con ông Đồ.
Cũng có những câu đố
“Xuất nhân danh” đòi hỏi người đoán giải phải có kiến thức về lịch sử như
trường hợp câu đố về nhà bác học Trương Vĩnh Ký:
Xứng danh thập bát văn hào
Soạn nhiều sách quý giúp trào hậu lai.
Bến Tre là một trong một
số tỉnh ở Nam Bộ có phong trào học chữ Nho phát triển mạnh vào thế kỷ XIX.
Những thầy đồ Huế, thầy đồ Quảng chính cũng là những tác giả loại câu đố “xuất
Hán tự”. Để trả lời đúng loại câu đố này, người đoán giải bắt buộc phải biết
chữ Nho:
Chữ ngũ mà chẳng có đầu
Chữ ngưu dưới khẩu lộn nhầu một khuôn
(Chữ vi: vây quanh)
Cô là con gái còn son
Cớ sao lại để đứa con ngồi kề.
(Chữ hảo: ưa thích)
Từ sau khi chữ quốc ngữ
được phổ biến rộng, ở Bến Tre lại có thêm một loại câu đố “xuất quốc ngữ” theo
mẫu tự La-tinh.
Nếu lối “đố tục, giảng
thanh” là một đặc trưng của câu đố Việt Nam, thường tạo nên những yếu tố bất
ngờ, trào lộng mà cái nghĩa ẩn của nó lắm khi làm đỏ mặt các cô gái và cả những
"nhà đạo đức” đạo mạo, thì ở Bến Tre loại câu đố này, ngoài tính chất
chung trên, còn mang sắc thái địa phương của một vùng sông nước, cây trái dồi
dào. Chính cái tính chất trào lộng, đa ý, đa nghĩa đó làm cho cuộc đố trở nên
sôi động, rôm rả, hấp dẫn, kéo theo những trận cười sảng khoái trong những cuộc
chơi:
Đem em mà bỏ xuống xuồng
Chèo ra khúc vịnh lột truồng em ra.
(Nghề ươm tơ thủ công)
Rõ ràng là nếu ai chưa
một lần trông thấy cảnh cô thợ ươm tơ vừa bỏ những chiếc kén tằm vào nồi nước
sôi, vừa dùng đôi đũa để điều khiển mối tơ ra cho đều thì khó đáp nổi câu đố
trên. Câu đố cũng phản ảnh một giai đoạn lịch sử (ươm tơ, dệt lụa) của đất Ba
Tri từ hơn nửa thế kỷ trước.
Hoặc câu đố nói về động
tác của người ngư dân làm nghề đóng đáy trên các cửa sông Ba Lai, Hàm Luông, Cổ
Chiên...
Canh một thì trải chiếu ra
Canh hai xét vú, canh ba rà mồm
Canh tư khởi ép sự dồn
Canh năm cuốn chiếu, rửa trôn, việc rồi.
Cái nghề lao động khá
vất vả trên sông nước này lại được người ra câu đố miêu tả như một cuộc
"mộng du" theo trình tự thời gian từ canh một cho chí canh năm: “trải
chiếu” (giăng đáy), “xét vú” (kiểm tra rốn đáy), “rà mồm" (rà soát lại
miệng đáy), “cuốn chiếu”, “rửa trôn” (kết thúc một đêm vật lộn trên sóng nước).
Cách miêu tả này dễ gây cho người giải đoán một sự liên tưởng chệch hướng, dễ
nghiêng về phía cái tục.
Hoặc câu đố về một loại
trái cây quen thuộc:
Bằng cổ tay treo ngay đầu cột
Ăn cơm rồi, bắt lột áo ra.
(Trái chuối tráng miệng sau bữa cơm)
hay một loài cây (xuất
mộc) thường thấy mọc ở các giồng cát vùng Thạnh Phú, Ba Tri:
Đêm khuya gà gáy o o
Kiếm mùng em vợ lén bò chun vô.
(Cây chó đẻ)
Rõ ràng cái nội dung hàm
ý phê phán hành vi phi đạo đức của những anh chàng "dê" nào đó để
đánh lừa người đi tìm lời giải đoán.
Ở Bến Tre, cũng như
nhiều tỉnh khác ở Nam Bộ, câu đố còn được vận dụng trong hát đối đáp:
Thấy anh ăn học Sài Gòn
Em đây xin hỏi trăng tròn mấy đêm?
hoặc:
Thấy anh ăn học Bắc Kỳ
Em đây hỏi thiệt con bò gì không kêu?
(Con bò in trên thẻ sôcôla, hay hộp sữa)
Những cuộc điều tra,
khảo sát điền dã, cho thấy ở Bến Tre không có lối đố nói (không vần), đố Kiều
như nhiều nơi khác, và lối đố mẹo, đố đoán cũng rất ít xuất hiện.
|