Hôm nay: 24/10/2014
 
In

Đây là loại hình tự sự dân gian khá phổ biến ở Bến Tre. Đến bất cứ làng nào, xã nào trong tỉnh, ta cũng có thể sưu tầm được một số bài vè: thỉnh thoảng, ta còn bắt gặp những cụ già thuộc lòng khá nhiều bài vè.

Nói vè trước đây cũng là một sinh hoạt văn nghệ dân gian khá phổ biến. Vè tham gia tương đối sâu vào mọi sinh hoạt hàng ngày của người dân trong vùng: biểu dương, chế diễu, phê phán những sự việc, những thói hư tật xấu hoặc phản ánh một vấn đề thời sự đặc biệt vừa diễn ra. Do đó, diện phổ biến và lưu truyền của vè tương đối hẹp và cũng dễ mai một, khi những vụ, việc cụ thể đó bị chìm lắng, lùi sâu vào, có thể chia làm mấy loại sau đây:

Vè kể vật và vè kể việc

Vè kể vật ở Bến Tre thường tập trung miêu tả những sản vật như các loại thổ sản, thủy sản, đặc sản của vùng đất ba cù lao" Vè trái cây, Vè các loại hoa, Vè các loại rau, Vè Thượng cầm hạ thú, Vè Bách hoa bách thú, Vè các loại bánh, Vè các loại chim, Vè các loại cá... Trong số này, có những bài vè của riêng Bến Tre, đồng thời cũng là những bài vè phổ biến ở nơi khác, có thể là dị bản được thay đổi, thêm bớt ít nhiều trong nội dung. Loại vè này thường ở thể vãn tư. Qua hình thức liệt kê các loại hoa, loại quả, động vật... các bài vè giới thiệu các sản vật địa phương như một bài "cách trí dân gian", đồng thời gởi vào đó niềm tự hào về sự giàu đẹp, sung túc của quê hương, hoặc tài nghệ khéo léo của con người như Vè các loại bánh.

Trong khi đó, vè kể việc phản ánh những sự kiện, những hình thức sinh hoạt, tập tục xã hội bằng nhiều chi tiết lịch sử cụ thể. Có những quan niệm, tập tục và những câu chuyện lịch sử ở địa phương không được ghi lại trong sử sách, nhưng lại được bảo lưu trong vè. Do đó, có thể coi đây là một nguồn tư liệu bổ ích cho sử học và dân tộc học. Đó là những bài vè như Vè Lấp kinh, Vè Sáp nhập làng, Vè Cháy nhà Giồng Miễu, Vè Tuần Niệm, Vè Đánh bạc, Vè Con gái hư, Vè Con gái làm biếng, Vè Làm ruộng, Vè đánh lưới... Những bài vè trên không chỉ có phản ánh sự việc, mà bên cạnh yếu tố kể chuyện, các tác giả bài vè cũng bộc lộ khá rõ thái độ, quan điểm của mình trước những hiện tượng xã hội, hoặc với tinh thần phê phán hay đồng tình (Vè đánh bạc, Vè đánh me, Vè con gái hư, Vè con gái làm biếng, Vè uống rượu), hoặc tỏ rõ nỗi bất bình hay thái độ cảm thông, chia sẻ nỗi gian lao cực nhọc với người trong cuộc (Vè làm ruộng, Vè đánh lưới, Vè lái rỗi).

Vè thế sự

Do khả năng nhạy bén trong vấn đề phản ánh hiện thực, vè thế sự hầu như ghi lại đậm nét và bao quát những diễn biến xảy ra trong đời sống nhân dân, đặc biệt một số sáng tác dưới thời phong kiến. Tuy nhiên, do đặc trưng của nó, tuổi thọ của vè thế sự thường không dài, ngoại trừ những bài vè mang nội dung sâu sắc và có nghệ thuật diễn đạt cao, hoặc những bài vè đó may mắn được người ta ghi chép và xuất bản thành sách. Những bài vè thế sự được lưu truyền còn lại đến ngày nay là những tư liệu bổ ích giúp ta hình dung được rõ hơn diện mạo của xã hội nông thôn ngày xưa: bên cạnh những truyền thống đẹp và hay, còn có những tập tục cổ hủ, cảnh tranh giành ngôi thứ, quyền lợi, mô tín dị đoan, tệ nạn cờ bạc, rượu chè, trai gái cùng thân phận của người nông dân lao động, đặc biệt thân phận của người phụ nữ. Đó là những bài vè như: Vè lỡ thời, Vè Mười vợ, Vè con gái hư, Vé đám cưới, vè Tuần Niệm, Vè Chửa hoang, Vè đánh ghen, vè Nằm dỏ (Điếm canh), Vè đánh bạc, Vè uống rượu, Vè thịt chó, Vè lối xóm...

Vè lịch sử

Lịch sử nói ở đây bao gồm cả lịch sử đấu tranh thiên nhiên và lịch sử đấu tranh xã hội. Thế nhưng những kết quả điều tra, sưu tầm văn học dân gian ở Bến Tre cho thấy những bài vè phản ánh công cuộc khai phá buổi đầu với những truyện đánh cọp, diệt sấu, dựng đình, lập chợ (vốn khá phong phú trong thể loại truyện kể) hầu như vắng bóng trong vè. Chắc chắn rằng không thể không có những bài vè ngợi ca những thành tích, những chiến công, những hành động nghĩa hiệp cứu người, giúp đời của thế hệ cha ông trong quá trình xây dựng cuộc sống nơi vùng đất mới. Có điều là qua thời gian, những sáng tác đó bị mai một, bị thất truyền. Những bài vè Sáp nhập làng, Vè Lấp kinh... ghi lại những sự kiện không cách xa với chúng ta là mấy. Về thiên tai và những trận dịch theo lịch sử ghi lại không ít, thế nhưng cho đến nay chỉ còn lưu truyền lại bài Vè Năm Thìn bão lụt (1904) - một thiên tai lớn xảy ra gần như toàn Nam Bộ - người chết, súc vật, hoa màu bị nước cuốn trôi, nhà cửa sụp đổ. Ca dao thời ấy còn ghi lại cảnh tượng thương tâm đầy xúc động

"Gặp nhau đây mới biết anh còn,
Hồi năm Thìn bão lụt em khóc mòn con ngươi".

 Bài vè lưu hành ở Bến Tre, bằng lối miêu tả trực tiếp, đã nêu lên những chi tiết dữ dội:

Tiết tháng ba loạn gió cuồn phong
Đêm mười sáu cây tan, biển lở
... Vợ bồng con khóc ngược khóc xuôi
Chồng lạc vợ hú kêu vang đất
... Xứ Gò Công chết đà vô số
Kẻ chìm thuyền biết kể bao nhiêu!

Đáng chú ý là trong mảng vè lịch sử xuất hiện loại vè yêu nước từ khi đất nước bị bọn Tây dương xâm lược. Với đặc trưng riêng, vè đã nhanh chóng nắm bắt lấy những sự kiện, những biến cố lịch sử, ghi lại những tội ác của bọn cướp nước và đám tay sai cùng khí thế của nhân dân trong sự nghiệp cứu nước (Vè Trương Định, Vè Đốc phủ Ca, Vè Ở tù Côn Đảo...)

Từ sau CMT8-1945, cùng với những biến chuyển sâu sắc trong văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca dân gian (trong đó có vè) cũng có những thay đổi đáng kể về mặt đề tài cũng như nội dung phản ánh. Ở Bến Tre, vè trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ phát triển khá phong phú. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, các phương tiện in ấn và truyền thông đại chúng còn nhiều hạn chế, vè là loại "báo chí truyền miệng" phản ánh nhanh nhạy và kịp thời những sự kiện, những chiến thắng cùng các chính sách của cách mạng, cung cấp cho quần chúng những thông tin mới. Đó là những bài vè Vè độc lập, Vè Cướp chính quyền 1945, Vè đả thực, Vè Giặc càn, Vè Bù nhìn nói dóc, Vè đoạt đồn Ba Bự, Vè Chống bóc lột, Vè trực thăng bắn chìm đó...

Ngoài ra, ở Bến tre còn có một loại vè nặng về giải trí, mục đích của người sáng tác là để mua vui, để “nghe chơi” trong chốc lác, nhằm quên đi những cực nhọc, phiền muộn, lo âu vốn thường diễn ra trong cuộc sống đời thường. Ở đây, mục đích giáo huấn nếu có thì cũng rất phụ. Đó là những bài vè như: Vè Nói ngược, Vè nói láo, Vè mười vợ, Vè thịt chó, Vè nói dóc... Ở những bài vè này, người sáng tác thường sử dụng thủ pháp ngoa dụ, hay phóng đại, tạo nên những yếu tố gây cười, đặc biệt trong các bài Vè nói ngược, Vè nói láo. Hiện thực được miêu tả nhiều khi rất vô lý, phản quy luật tự nhiên, thế nhưng người nghe vẫn vui vẻ chấp nhận. Đó là con gà đẻ tới ba trăm trứng, con quạ ăn hết cả trăm con heo, tàu lá cải che được bốn mươi người trú mưa... Những chi tiết và hình ảnh này phản ánh một cách tư duy của con người nơi đây, một lối tư duy mang những nét đồng dạng với loại truyện trạng của Bến Tre.

Qua khảo sát, ta thấy vè Bến Tre thường sử dụng thể phổ biến nhất vãn tư (bốn chữ), thỉnh thoảng cũng có đôi bài vè ở thể lục bát, hoặc lục bát thể biến. Vè cũng có khi thâm nhập vào một thể loại dân ca khác như trường hợp bài Vè con cá được sử dụng trong hát sắc bùa ở Phú Lễ.

 

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement
Advertisement

Liên kết website

Advertisement