Hôm nay: 24/04/2014
 
Trang chủ arrow Văn hóa - Xã hội arrow Văn học arrow THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954)
THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945-1954) In

Văn học Bến Tre ở thời kỳ này phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nhiều năm. Văn học được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ ĐCS Bến Tre cả về tổ chức lẫn tư tưởng. Nhà văn là người chiến sĩ đánh giặc bằng vũ khí ngòi bút, lấy việc phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân làm mục đích hoạt động. 

Do tính chất của cuộc chiến tranh giải phóng và do tương quan lực lượng giữa ta và địch, trong thực tế đã hình thành hai vùng khác nhau: vùng kháng chiến và vùng địch chiếm (chủ yếu là thành phố, thị xã, thị trấn). Do đó, phương thức hoạt động văn nghệ ở hai vùng cũng không giống nhau.

Từ nhận thức “văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận", Tỉnh ủy và UBKCHC tỉnh Bến Tre đã có chủ trương tập hợp đội ngũ những văn nghệ sĩ, trí thức có khả năng viết văn, làm báo vào các cơ quan thông tin tuyên truyền, báo chí để động viên, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ tham gia vào cuộc kháng chiến cứu nước. Trên tờ báo Hy sinh (cơ quan của Tỉnh ủy) và tờ báo Đoàn kết (Cơ quan của Mặt trận Việt Minh, sau này đổi thành Liên Việt), ngoài những bài xã luận, lời kêu gọi và tin tức, còn có những bài phóng sự ngắn, bài ca dao, thơ, hò, vè hô hào tòng quân giết giặc, động viên đồng bào sản xuất, nuôi quân, bố phòng, hoặc tố cáo tội ác của giặc... Về sau, đề tài càng được mở rộng phong phú hơn, như vấn đề đoàn kết quân dân, thi đua yêu nước, bình dân học vụ, địch ngụy vận, thực hành đời sống mới và những mẫu chuyện vui kháng chiến...

Đương nhiên những sáng tác nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu lúc này còn rất vụng về, thô sơ về nội dung lẫn hình thức, giá trị văn học không nhiều, nhưng hiệu quả của nó đối với phong trào là điều không thể phủ nhận được. Có thể nói rằng những bài thơ còn mang đậm hơi hướng ca dao, những câu hò, bài chập cải lương, bài vè, mẫu chuyện vui kháng chiến chân chất và hồn nhiên ấy là những đốm lửa ban đầu thắp sáng dòng văn học hiện đại của Bến Tre khai sinh từ CMT8-1945.

Đầu năm 1948, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh được thành lập. Đây là tổ chức văn nghệ đầu tiên của tỉnh có nhiệm vụ tập hợp lực lượng làm công tác văn hóa, văn nghệ trong tỉnh, tổ chức sáng tác, xuất bản, xây dựng và phát triển phong trào. Hoạt động của Đoàn dựa trên phương châm "dân tộc, khoa học và đại chúng", lấy việc phục vụ kháng chiến làm mục đích chính.

Thư ký Đoàn là đồng chí Lê Hoài Đôn, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, các ủy viên: Lê Hà (thơ), Võ Trọng Cảnh (văn), Truy Trọng (nhạc), Đoàn Chi Lăng (họa), Phong Đảo (kịch) và Nguyễn Tân Tấn phụ trách công tác tổ chức. Đoàn cũng đã tập hợp được một đội ngũ thuộc đủ các bộ môn nghệ thuật trong tỉnh. Về văn và thơ có Nguyễn Ngọc, Lê Tâm, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Văn Châu, Mạch Văn Tư. Về họa có Đạt Huỳnh, Đoàn Chi Lăng, Đinh Giang. Về nhạc có Nguyễn Việt Tân, Truy Trọng, Chu Tấn Hưng. Ngoài ra còn có sự tham gia của một số cán bộ lãnh đạo của các ngành quân, dân, chính có tinh thần yêu thích văn nghệ như Trần Trường Sinh (cố vấn của Đoàn), Bùi Ngọc Nghi, Lê Văn Lượng...

Nhờ có tổ chức chuyên trách, tình hình hoạt động văn hóa, văn nghệ của tỉnh có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận. Các tờ báo như Hy sinh, Đoàn kết, Thông tin Bến Tre, Tin tức (thuộc trung Đoàn 99) đều dành số trang nhất định của từng số báo để đăng những sáng tác của những cây bút trong tỉnh. Từ giữa năm 1949, tập san Văn hóa phổ thông - tờ báo chuyên ngành đầu tiên ở tỉnh - được xuất bản định kỳ 3 tháng một sứ với số lượng in cả ngàn bản. Ngoài các báo chí của tỉnh, lúc này đường dây liên lạc giữa khu 8 và Nam Bộ được củng cố thông suốt, do đó, tài liệu, báo chí của khu, của miền cũng được phát hành đến Bến Tre như các tờ như Tổ quốc (khu 8), Lá lúa (cơ quan của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ), Tiếng súng không kháng địch (khu 9). Sinh hoạt văn nghệ của tỉnh nhờ đó mà sôi động hẳn lên.

Từ năm 1948 đến năm 1950, Đoàn Văn hóa kháng chiến tỉnh cũng đã tiến hành hai lần đại hội tại vùng căn cứ của tỉnh ở Mỏ Cày. Đây là những dịp họp mặt đông đủ nhất của những người làm công tác văn hóa văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc bầu ban chấp hành mới, các đoàn viên đã cùng nhau đánh giá lại các công việc đã làm, trao đổi, thảo luận về đường lối, phương pháp sáng tác, trách nhiệm của người cầm bút trước yêu cầu của cách mạng và kháng chiến.. Đoàn đã tổ chức in và xuất bản một số tác phẩm, trong đó đáng chú ý nhất là các quyển sách sau đây: Hồ Chủ tịch trong lòng dân tộc của Hằng Ngôn, Con đường sáng của Lê Tâm, tập thơ La ngà của Lê Hà. Tác giả Hằng Ngôn tức bác sĩ Nguyễn Hữu Nghiệp, vốn là thành viên của đoàn cán bộ miền Nam, trong đó có Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thị Định, vượt biển ra Trung ương xin chi viện (1946). Tập sách gồm 20 bài bút ký được tác giả ghi lại qua những điều mắt thấy tai nghe về tình cảm và lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân ta từ Nam chí Bắc. Đây cũng là quyển sách đầu tiên viết về Bác Hồ được xuất bản ở Nam Bộ.

Con đường sáng là tập tiểu thuyết của nữ tác giả Lê Tâm xuất bản đầu tiên ở tỉnh nhà, và là một trong ba cuốn tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp(1). Cốt truyện xoay quanh nhân vật chính tên Nhung – con gái một gia đình thuộc tầng lớp trung lưu. Từ nhiệt tình yêu nước ban đầu, cô gái đã đến với cách mạng một cách hồn nhiên. Rồi kháng chiến bùng nổ, cô đã thoát ly gia đình, cùng bạn bè gia nhập vào đại cuộc của dân tộc. Cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, nhưng không thiếu niềm vui và niềm tự hào, đã giúp cho Nhung ngày một trưởng thành và già dặn.

Cũng cần phải kể đến một số cây bút quê ở Bến Tre, nhưng hoạt động ở địa bàn khác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Nguyễn Hải Trừng hoạt động ở Chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Anh sáng tác nhiều thơ, truyện ngắn, truyện thơ đăng trên các báo ở khu 9 và trên tạp chí văn nghệ Lá úa. Đáng chú ý nhất là truyện thơ Chú Hai Neo gồm gần 1.000 câu lục bát, được tặng thưởng giải 3 giải văn nghệ Cửu Long 1951-1953.

Lãng Sĩ (tức Nguyễn Duy Oanh) có Hận Cầu Hòa, tập ký sự về vụ thảm sát tập thể do tên Léon Leroy gây ra ở Bến Tre được giải khuyến khích Văn nghệ Cửu Long 1951-1953. Một số truyện ngắn khác của ông ca ngợi về cảnh đẹp và con người của quê hương được tập hợp lại in trong tập Sóng gợn hồn quê(2) với bút hiệu Nguyễn Duy.

Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, quê xã Nhơn Thạnh, thị xã Bến Tre, thuộc thế hệ cầm bút trước CMT8-1945. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, anh hoạt động ở Sài Gòn, đã chủ trương các tờ báo Văn hóa, Điện báo, Thế giới, Công lý và tham gia phong trào "Báo chí thống nhất", chống âm mưu chia cắt đất nước. Năm 1949, anh xuất bản tập truyện Một vũ trụ sụp đổ và tiểu thuyết Tranh đấu. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Nam Bộ về đề tài nông dân, phản ánh cuộc đầu tranh chống lại sự cấu kết của bọn cường hào phong kiến với bọn thực dân trong việc chiếm đoạt ruộng đất, nhũng nhiễu người dân lương thiện và đẩy họ vào vòng tù tội. Thời kỳ ở khu 9 (1950-1954) anh làm việc ở tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ, có sáng tác một số tuồng hát bội như Trương Phi thủ cổ thành, Hý Charton và Le Page.

Bùi Đức Tịnh, tên thật là Bùi Kiêm Bích, còn có bút hiệu khác: Thanh Ba, Ngao Châu, Bạch Mai Châu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động ở Sài Gòn. Ngoài các bài đăng các báo công khai như Lẽ sống, Đại chúng, Thần chung, Tiếng chuông, Ngày mới, ông là thành viên ban biên tập báo Việt Minh (Thành bộ Việt Minh Sài Gòn), Liên Việt và Tổ quốc trên hết (Mặt trận Liên Việt Sài Gòn). Với bút hiệu Ngao Châu, ông có tập thơ Chiêu hồn (nhà xuất bản Dân tộc, 1949) và Đường lên cõi Bắc (phóng tác theo truyện của nhà văn da đen Richar Wringt, Nxb Đại chúng, 1949), Văn phạm Việt Nam (1952) và Lịch sử giải phóng Việt Nam (Bùi Đức Tịnh và Hùng Ngôn, 1948)...

Lê Thọ Xuân, một cây bút khảo cứu, đã có nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí trước CMT8-1945 như Đồng Nai, Mai, Tri tân, Đại Việt tạp chí, trong kỷ yếu Société des Études Indocchinoises. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Chủ tịch phong trào "Báo chí thống nhất" tại Sài Gòn, chống chủ trương Nam Kỳ tự trị "của Pháp và tay sai". Năm 1949, ông phụ trách Ban biên tập báo Thần chung (của Nam Đình) với sự cộng tác của Nguyễn Văn Hiếu, Phi Vân, Bùi Đức Tịnh, Thê Húc; phụ trách tuần báo Việt báo, tạp chí Sông Hương. Những bài nghiên cứu của ông về văn chương, lịch sử được viết trên lập trường dân tộc, yêu nước và tiến bộ.

Chú thích

(1) Hai tiểu thuyết khác: Vỡ đất của Hoàng Văn Bổn, viết về đề tài sản xuất và chiến đấu của bộ đội miền Đông Nam Bộ, giải nhất giải thưởng Văn nghệ Cửu Long 1951-1952 và tiểu thuyết 2707 của Trần Vạn An viết về đề tài hoạt động của quân báo ở nội thành.

(2) Nxb Hương quê, 1953. 

 
< Trước   Tiếp >
Advertisement

Tìm kiếm

Advertisement
Advertisement

Liên kết website

 
Advertisement
Advertisement