Hôm nay: 04/09/2010
 
THỜI KỲ CHỐNG MỸ (1954-1975) In

Ngày 20/1/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngày 20/7/1961, Hội Văn nghệ Giải phóng, một tổ chức văn nghệ cách mạng tập hợp tất cả những người làm công tác văn học nghệ thuật trong miền, được thành lập. Cuối năm 1961, Đoàn Văn công giải phóng ra đời. Tạp chí Văn nghệ giải phóng số đầu tiên xuất bản vào đầu 1962. Tất cả những sự kiện ấy đều có tác động trực tiếp đến sự phát triển của văn học vùng giải phóng miền Nam nói chung và văn học Bến Tre nói riêng.

Để chào mừng ngày Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra mắt đồng bào, báo Chiến thắng lần đầu tiên in typô và tăng số trang, do đó phần dành cho văn nghệ trên tờ báo cũng "ưu tiên" hơn trước. Tuy nhiên, phải chờ đến tháng 10 -1961 khi tập san Văn nghệ Bến Tre ra mắt độc giả, thì đội ngũ làm văn hóa văn nghệ trong tỉnh mới có được “đất dụng võ" cho ngành mình.

Số báo đầu tiên in typô với lượng phát hành ba ngàn bản, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của văn nghệ. Để phù hợp với tình hình, tập san Văn nghệ Bến Tre vẫn ra định kỳ hàng tháng, nhưng mỗi số mang một tiêu đề khác nhau như: Mặt trận Gò Đìa, Em bé thị xã...

Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tập san Văn nghệ Bến Tre còn chủ trương xuất bản tập Văn nghệ xung kích, khổ nhỏ, ít trang, gọn nhẹ, nhằm phản ánh kịp thời và phổ biến nhanh chóng đến tay người đọc.

Tính từ khi ra mắt đến tháng 4-1975, tập san Văn nghệ Bến Tre xuất bản được 92 số. Tờ báo phát hành rộng rãi, được đưa vào cả trong thị xã, thị trấn, và đã gây được ảnh hưởng tốt, sự cảm phục của công chức, binh sĩ, giáo viên, các nhân sĩ sống trong vùng địch kiểm soát. Tờ báo cũng được gởi đi trao đổi với các tỉnh bạn, với các miền... Trong khi đó, ở các huyện, thị nhiều tập “Văn nghệ” xuất bản không định kỳ đã góp thêm nhiều tiếng nói với phong trào chung: Văn nghệ Bình Đại, Văn nghệ Châu Thành, Văn nghệ Ba Tri. ? tại thị xã có tờ Học đường mới Sao trong phố do một số giáo chức và học sinh ở nội thị chủ trương.

Đầu năm 1963, tại xã Châu Hòa – vùng giải phóng của huyện Giồng Trôm – đã tiến hành đại hội thành lập Phân hội văn nghệ Đồ Chiểu. Ban chấp hành gồm có các đồng chí: Nhân Đạo (Chí Nhân) hội trưởng, Đoàn Tứ, phó hội trưởng, Nguyễn Tấn, ủy viên thư ký và các ủy viên Hà Mãnh, Nguyễn Hồ, Xuân Cảnh, Cầu Tiến, Võ Tước. Sự ra đời của Phân hội văn nghệ Đồ Chiểu đánh dấu một bước tiến mới của hoạt động văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc tổ chức các cuộc thi sáng tác, Phân hội đã chăm lo đến việc bồi dưỡng đào tạo đội ngũ, tổ chức in ấn, xuất bản. Một số anh chị em được chọn gửi đi những lớp huấn luyện nghiệp vụ do Hội Văn nghệ Giải phóng mở. Lực lượng sáng tác văn học trong tỉnh tăng lên: Đoàn Hùng, Nhân Đạo, Hoài Minh, Lê Nhị Trung, Ba Cầu, Hoàng Lê, Kim Tinh, Nam Hồng, Nguyễn Hồ, Võ Tước, Ngọc Ca, Đan Thanh, Tố Mỹ, Chim Trắng, Thanh Giang, Lê Hà, Trần Ký, Bến hải, Tiền Phong, Huy Vũ, Lê Hồng Phương, Huỳnh Năm Thông, Hồ Thanh Điền, Lê Minh Đào, Lê Huỳnh...

Về sáng tác kịch bản sân khấu có những kịch bản tiêu biểu như Ông Năm Hạn của Đoàn Tứ, Từ yếu tới yếu, Ra tiền phương, Cây dừa đỏ của Lê Huỳnh...

Văn học Bến Tre trong giai đoạn này có mặt đầy đủ các thể loại, nhưng nhìn chung sự phát triển chưa thật đồng đều. Nhược điểm này đối với bức tranh văn học ở một chiến trường căng thẳng, khốc liệt như Bến Tre là điều dễ hiểu, và không thể đòi hỏi khác hơn. Phát triển mạnh nhất, nổi bật nhất là thể loại thơ và ký.

Về thơ, đ?i ngũ làm thơ đông đảo và sung sức. Vấn đề mà thơ đề cập hôm nay cũng đa diện và phong phú hơn, nghệ thuật có mặt già dặn hơn. Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất "đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà" của Đồ Chiểu, người làm thơ hôm nay càng hiểu "thơ là súng là gươm", là lời giục gọi đoàn kết chiến đấu, là lý tưởng soi đường đi tới tương lai...

Có thể nói chưa bao giờ những người làm thơ đông đảo như thế. Từ đồng chí lãnh đạo đến người cán bộ cơ sở, từ người lính xung kích đến chị giao liên, từ cô du kích ở thôn ấp đến người bác sĩ của một trạm quân y tiền phương... mỗi người đều có thể sáng tác đôi bài thơ, năm ba vần ca dao. Dường như trước hiện thực nóng bỏng, ngồn ngộn sự kiện, nơi giao tranh quyết liệt giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa tự do và nô lệ, giữa cái chết và cái sống, con người cần phải tỏ bày thái độ, cảm xúc của mình. Đề tài của thơ cũng thật phong phú. Có thể đó là kỷ niệm của một đêm hành quân qua làng, một tin vui thắng trận, một chuyến đò ngang nhiều may mắn, một gương hy sinh dũng cảm. Cũng có thể đó là niềm rung động trước cảnh đẹp của quê hương, hay nỗi căm thù trào dâng trước một tội ác man rợ của giặc. Nổi bật ở thể loại này có Lê Anh Xuân và Chim Trắng. Lê Anh Xuân, khi trở về quê hương ước ao “được làm cây chông tre. Lúc nào cũng nhọn sắc. Để đâm vào quân giặc", Chim Trắng nói lên khát vọng của mình đã được định hướng: ”Tôi chọn tiếng mõ tre làm điểm tựa. Mang âm thanh đi suốt cuộc đời mình!" Và tấm lòng của anh gắn bó với quê hương vô cùng da diết: "nếu ngã xuống, ta nguyện làm con sóng nhỏ. Làm hạt cát vàng giữa Cồn Ốc, Cồn Nghêu". Tâm sự của Lê Anh Xuân hay của Chim Trắng cũng là suy nghĩ, là quan niệm chung của cả thế hệ những người cầm bút thời đánh Mỹ.

Sau thơ là thể loại ký. Do đặc trưng nhanh nhạy trong việc phản ánh hiện thực, thể ký có nhiều ưu thế nhất so với các thể loại khác. Hoàn cảnh, điều kiện sống căng thẳng và khẩn trương của chiến trường đòi hỏi người cầm bút phản ánh chân thực, kịp thời hiện thực chiến đấu sôi bỏng trước mắt, biểu dương, cổ vũ những gương anh hùng, sự dũng cảm, kiên cường của quần chúng đang giáp mặt với kẻ thù; hay nói như Trần Đăng là phải "làm thật nhiều croquis" (bức phác thảo nhanh) để phục vụ cuộc chiến đấu, chứ chưa phải là lúc ngồi tỉa tót từng chữ, từng lời, xây dựng cốt truyện, chọn lọc tình tiết để tạo ra những tác phẩm dài hơi. Mặt khác, những điều kiện in ấn, giấy má và phát hành ở chiến trường lúc này cũng không thể nào đáp ứng cho sự ra đời những trường ca hay tiểu thuyết. Một mẫu ghi chép, một đoạn văn ngắn, một tiểu phẩm, một “Nụ cười kháng chiến” đăng trên báo, hoặc trong các tập “Văn nghệ xung kích” hay “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ”, đều là những dạng khác nhau của thể ký nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu trước mắt. Có thể về mặt nghệ thuật còn đơn sơ, non yếu, nhưng tác dụng đóng góp của thể ký đối với cuộc sống chiến đ?u là điều cần khẳng định.

Lá thư Bến Tre, sau này được in trong tập Từ tuyến đầu Tổ quốc (1), là một trong những bài ký ra đời tương đối sớm và đã vượt chặng đường hàng ngàn kilômét để đến với độc giả miền Bắc. Bức thư có đoạn “Chế độ Mỹ, Diệm là một lò sát sinh man rợ trên trái đất ngày nay". Những thông tin nóng bỏng và cụ thể như thế từ chiến trường "bay" ra hậu phương lớn, rõ ràng có một tác dụng như một lời kêu gọi chi viện: Hãy cứu lấy miền Nam!

Ký không những đóng vai trò "nòng cốt" trong các tập san Văn nghệ Bến Tre, mà còn giữ một vị trí quan trọng trên các báo khác của tỉnh, nhất là những bài ký hay viết về những người thật, việc thật. Đội ngũ viết ký cũng xuất hiện ngày một đông đảo hơn như: Đoàn Hùng, Nguyễn Hồ, Hà Mãnh, Ngọc Ca, Lê Anh Xuân, Hồ Thanh Điền, Thanh Giang, Thủy Thủ, Nguyễn Đông, Lê Hồng Phương, Thái Dương, Thanh Vũ...

Mảnh đất “Quê hương Đồng khởi” cũng đã thu hút nhiều họa sĩ như Lê Lam, Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Cổ Tấn Long Châu, nhiều nhà văn, nhà thơ từ các nơi khác đến như Trần Hiếu Minh, Giang Nam, Thủy Thủ, Nguyễn Thi, Hưởng Triều... Những trang viết về cái “nôi Đồng khởi” Mỏ Cày của Trần Hiếu Minh, Thủy Thủ, Nguyễn Thi vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó cho đến ngày nay. Đặc biệt hơn cả là Nguyễn Thi. Anh đã lăn lộn ở nhiều nơi trên đất Bến Tre. Hàng trăm trang ghi chép của anh về con người, về phong trào, đất đai, cây trái, tập quán, nghề nghiệp nơi đây trong tập Những năm tháng chưa xa(2) là những bức phác thảo sống động về những con người và cảnh vật nơi đây của “một thời chiến đấu say mê và hào hùng".

Sẽ rất thiếu sót, nếu viết về văn học giai đoạn chống Mỹ mà không đề cập đến một số cây bút quê Bến Tre hoạt động hợp pháp hoặc bất hợp pháp trên lĩnh vực báo chí, văn nghệ ở đô thị (chủ yếu ở thành phố Sài Gòn và thị xã Bến Tre). Có những trường hợp do tổ chức phân công ở lại hoạt động trong phong trào yêu nước của nội thành, nội thị như Dương Tử Giang, Trang Thế Hy. Cũng có những người do hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp nên sống và làm việc ở đô thị, có tinh thần dân tộc và yêu nước, tình cảm và ngòi bút của họ hướng về cách mạng.

Trên lĩnh vực nghiên cứu, có các cây bút: Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Duy Oanh, Huỳnh Minh. Ngoài các công trình nghiên cứu về văn học dân gian Nam Bộ, Nguyễn Duy Oanh còn có công trình Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) và Chân dung Phan Thanh Giản (3). Đây là hai quyển sách được biên soạn công phu, phong phú về mặt tư liệu mặc dù còn những hạn chế . Nhưng cái đáng quý cần được ghi nhận ở các tập sách trên là tấm lòng của tác giả đối với quê hương, đối với đồng bào của mình, cũng như thái độ trân trọng của tác giả đối với người xưa.

Trong khi đó, thì Huỳnh Minh – tên thật là Huỳnh Khắc Vịnh - từ chỗ là chủ hiệu sách ở đường Phan Đình Phùng (Sài Gòn), đã say mê sưu tập các nguồn tư liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ. Kể từ cuốn Địa linh nhân kiệt - Kiến Hòa xưa và nay viết về Bến Tre, quê hương ông, từ năm 1963 đến năm 1973, Huỳnh Minh đã cho ra đời 10 tập sách thuộc dạng này. Đó là những quyển Bạc Liêu xưa và nay, Cần Thơ xưa và nay, Định Tường xưa và nay, Sa Đéc xưa và nay, Gia Định xưa và nay, Tây Ninh xưa và nay, Vũng Tàu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay... ? các quyển sách thuộc dạng "sưu khảo" này - chữ dùng của tác giả - ngoài phần văn chương (chiếm tỷ lệ không cao) còn có những tư liệu bổ ích về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế.

Cùng phát triển trong hoàn cảnh Bến Tre, nhưng văn học Bến Tre trong giai đoạn chống Mỹ (1954-1975) đã có một bước tiến vượt bậc so với giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954) về quy mô, đội ngũ, phương tiện xuất bản, kể cả về mặt tổ chức và chỉ đạo. Nhìn một cách tổng quát, văn học Bến Tre thời chống Mỹ đã phản ánh được những nét tiêu biểu của hiện thực chiến đấu lớn lao đầy gian khổ, hy sinh của cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân trên một chiến trường ác liệt nhất của Nam Bộ.

Chú thích :

1. NXB Văn học, H, 1963
2
. Ngô Thảo sưu tầm và giới thiệu, NXB Văn nghệ TP.HCM
3
. Bộ Giáo dục và Thanh niên xuất bản, S, 1974
 

 
< Trước   Tiếp >

Tin vắn

HTML clipboard

1 Ngày 17/7/2010, Đoàn ngành cụm 6 đã có chuyến hoạt động Kỳ nghỉ hồng tại xã Tân Xuân (huyện Ba Tri). 43 đoàn viên thanh niên của đoàn ngành và 13 bác sỹ của câu lạc bộ Thầy thuốc trẻ (Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu và Trần Văn An) đã triển khai các hoạt động như khám và phát thuốc miễn phí (kinh phí 7 triệu đồng do Tỉnh Đoàn vận động) cho hơn 220 bệnh nhân nghèo tại địa phương; phát tờ rơi tuyên truyền về phòng chống HIV-AIDS, các bệnh: sốt xuất huyết, sốt rét, sử dụng nước sạch… Cùng lúc, đội hình phân chia nhóm thực hiện công trình thanh niên dọn vệ sinh khu di tích lịch sử Cây da đôi, sinh hoạt và tặng quà (tập vở) cho các em thiếu nhi, thăm và tặng 5 phần quà cho gia đình chính sách. Được biết, đây là đợt ra quân Kỳ nghỉ hồng đầu tiên của Đoàn ngành tỉnh nhằm thể hiện tinh thần hoạt động vì cộng đồng của đoàn viên thanh niên khối Đoàn ngành. (Ánh Nguyệt)

2 Tính đến tháng 6/2010, huyện Mỏ Cày Bắc đã tổ chức hai đợt hiến máu tình nguyện, được 100 đơn vị máu sạch cung cấp cho ngân hàng máu, đạt 50% chỉ tiêu kế hoạch năm 2010. Các xã có lực lượng tham gia hiến máu đông là Phước Mỹ Trung, Hưng Khánh Trung A và Tân Phú Tây. Hiện huyện Mỏ Cày Bắc có khoảng 50 lực lượng thường xuyên tham gia hiến máu tình nguyện. Theo kế hoạch, từ nay đến cuối năm, huyện sẽ tổ chức vận động hai đợt hiến máu, phấn đấu đạt chỉ tiêu tỉnh giao trong năm 2010 là 200 đơn vị máu. (Thu Duyên)

3. Ngày 16/7/2010, Đoàn từ thiện Phật Giáo TP.HCM do sư Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp, huyện Hóc Môn, TP.HCM, làm trưởng đoàn đã đến tặng quà cho 250 học sinh nghèo trường tiểu học và trung học cơ sở xã Tân Hưng. Mỗi phần quà là tiền mặt 200.000 đồng. Tổng kinh phí quà tặng cho học sinh nghèo xã Tân Hưng là 50 triệu đồng do phật tử Liên An, chùa Hoằng Pháp hỗ trợ. Đợt tặng quà này nhằm giúp cho học sinh nghèo xã Tân Hưng, huyện Ba Tri có điều kiện mua sắm thiết bị, dụng cụ học tập chuẩn bị cho năm học mới 2010-2011. (Minh Đức)