|
Ngày 20/1/1960, Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam
ra đời. Ngày 20/7/1961, Hội Văn nghệ Giải phóng, một tổ chức văn nghệ cách mạng
tập hợp tất cả những người làm công tác văn học nghệ thuật trong miền, được
thành lập. Cuối năm 1961, Đoàn Văn công giải phóng ra đời. Tạp chí Văn nghệ
giải phóng số đầu tiên xuất bản vào đầu 1962. Tất cả những sự kiện ấy đều có
tác động trực tiếp đến sự phát triển của văn học vùng giải phóng miền
Nam nói chung và văn học Bến Tre nói riêng.
Để chào mừng ngày Mặt trận
Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra mắt đồng bào, báo Chiến thắng lần đầu
tiên in typô và tăng số trang, do đó phần dành cho văn nghệ trên tờ báo cũng "ưu
tiên" hơn trước. Tuy nhiên, phải chờ đến tháng 10 -1961 khi tập san Văn nghệ
Bến Tre ra mắt độc giả, thì đội ngũ làm văn hóa văn nghệ trong tỉnh mới có
được “đất dụng võ" cho ngành mình.
Số báo đầu tiên in typô với
lượng phát hành ba ngàn bản, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của văn nghệ.
Để phù hợp với tình hình, tập san Văn nghệ Bến Tre vẫn ra định kỳ hàng
tháng, nhưng mỗi số mang một tiêu đề khác nhau như: Mặt trận Gò Đìa, Em bé
thị xã...
Từ sau cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tập san Văn nghệ Bến Tre còn chủ trương xuất
bản tập Văn nghệ xung kích, khổ nhỏ, ít trang, gọn nhẹ, nhằm phản ánh kịp
thời và phổ biến nhanh chóng đến tay người đọc.
Tính từ khi ra mắt đến tháng
4-1975, tập san Văn nghệ Bến Tre xuất bản được 92 số. Tờ báo phát hành
rộng rãi, được đưa vào cả trong thị xã, thị trấn, và đã gây được ảnh hưởng tốt,
sự cảm phục của công chức, binh sĩ, giáo viên, các nhân sĩ sống trong vùng địch
kiểm soát. Tờ báo cũng được gởi đi trao đổi với các tỉnh bạn, với các miền...
Trong khi đó, ở các huyện, thị nhiều tập “Văn nghệ” xuất bản không định kỳ đã
góp thêm nhiều tiếng nói với phong trào chung: Văn nghệ Bình Đại, Văn nghệ
Châu Thành, Văn nghệ Ba Tri. ? tại thị xã có tờ Học đường mới và
Sao trong phố do một số giáo chức và học sinh ở nội thị chủ trương.
Đầu năm 1963, tại xã Châu Hòa
– vùng giải phóng của huyện Giồng Trôm – đã tiến hành đại hội thành lập Phân hội
văn nghệ Đồ Chiểu. Ban chấp hành gồm có các đồng chí: Nhân Đạo (Chí Nhân) hội
trưởng, Đoàn Tứ, phó hội trưởng, Nguyễn Tấn, ủy viên thư ký và các ủy viên Hà
Mãnh, Nguyễn Hồ, Xuân Cảnh, Cầu Tiến, Võ Tước. Sự ra đời của Phân hội văn nghệ
Đồ Chiểu đánh dấu một bước tiến mới của hoạt động văn nghệ trong tỉnh. Ngoài
việc tổ chức các cuộc thi sáng tác, Phân hội đã chăm lo đến việc bồi dưỡng đào
tạo đội ngũ, tổ chức in ấn, xuất bản. Một số anh chị em được chọn gửi đi những
lớp huấn luyện nghiệp vụ do Hội Văn nghệ Giải phóng mở. Lực lượng sáng tác văn
học trong tỉnh tăng lên: Đoàn Hùng, Nhân Đạo, Hoài Minh, Lê Nhị Trung, Ba Cầu,
Hoàng Lê, Kim Tinh, Nam Hồng, Nguyễn Hồ, Võ Tước, Ngọc Ca, Đan Thanh, Tố Mỹ,
Chim Trắng, Thanh Giang, Lê Hà, Trần Ký, Bến hải, Tiền Phong, Huy Vũ, Lê Hồng
Phương, Huỳnh Năm Thông, Hồ Thanh Điền, Lê Minh Đào, Lê Huỳnh...
Về sáng tác kịch bản sân khấu
có những kịch bản tiêu biểu như Ông Năm Hạn của Đoàn Tứ, Từ yếu tới
yếu, Ra tiền phương, Cây dừa đỏ của Lê Huỳnh...
Văn học Bến Tre trong giai
đoạn này có mặt đầy đủ các thể loại, nhưng nhìn chung sự phát triển chưa thật
đồng đều. Nhược điểm này đối với bức tranh văn học ở một chiến trường căng thẳng,
khốc liệt như Bến Tre là điều dễ hiểu, và không thể đòi hỏi khác hơn. Phát triển
mạnh nhất, nổi bật nhất là thể loại thơ và ký.
Về thơ, đ?i ngũ làm thơ đông
đảo và sung sức. Vấn đề mà thơ đề cập hôm nay cũng đa diện và phong phú hơn,
nghệ thuật có mặt già dặn hơn. Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất "đâm mấy
thằng gian, bút chẳng tà" của Đồ Chiểu, người làm thơ hôm nay càng hiểu "thơ là
súng là gươm", là lời giục gọi đoàn kết chiến đấu, là lý tưởng soi đường đi tới
tương lai...
Có thể nói chưa bao giờ những
người làm thơ đông đảo như thế. Từ đồng chí lãnh đạo đến người cán bộ cơ sở, từ
người lính xung kích đến chị giao liên, từ cô du kích ở thôn ấp đến người bác sĩ
của một trạm quân y tiền phương... mỗi người đều có thể sáng tác đôi bài thơ,
năm ba vần ca dao. Dường như trước hiện thực nóng bỏng, ngồn ngộn sự kiện, nơi
giao tranh quyết liệt giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa,
giữa tự do và nô lệ, giữa cái chết và cái sống, con người cần phải tỏ bày thái
độ, cảm xúc của mình. Đề tài của thơ cũng thật phong phú. Có thể đó là kỷ niệm
của một đêm hành quân qua làng, một tin vui thắng trận, một chuyến đò ngang
nhiều may mắn, một gương hy sinh dũng cảm. Cũng có thể đó là niềm rung động
trước cảnh đẹp của quê hương, hay nỗi căm thù trào dâng trước một tội ác man rợ
của giặc. Nổi bật ở thể loại này có Lê Anh Xuân và Chim Trắng. Lê Anh Xuân, khi
trở về quê hương ước ao “được làm cây chông tre. Lúc nào cũng nhọn sắc. Để
đâm vào quân giặc", Chim Trắng nói lên khát vọng của mình đã được định hướng:
”Tôi chọn tiếng mõ tre làm điểm tựa. Mang âm thanh đi suốt cuộc đời mình!"
Và tấm lòng của anh gắn bó với quê hương vô cùng da diết: "nếu ngã xuống,
ta nguyện làm con sóng nhỏ. Làm hạt cát vàng giữa Cồn Ốc, Cồn Nghêu". Tâm sự
của Lê Anh Xuân hay của Chim Trắng cũng là suy nghĩ, là quan niệm chung của cả
thế hệ những người cầm bút thời đánh Mỹ.
Sau thơ là thể loại ký. Do
đặc trưng nhanh nhạy trong việc phản ánh hiện thực, thể ký có nhiều ưu thế nhất
so với các thể loại khác. Hoàn cảnh, điều kiện sống căng thẳng và khẩn trương
của chiến trường đòi hỏi người cầm bút phản ánh chân thực, kịp thời hiện thực
chiến đấu sôi bỏng trước mắt, biểu dương, cổ vũ những gương anh hùng, sự dũng
cảm, kiên cường của quần chúng đang giáp mặt với kẻ thù; hay nói như Trần Đăng
là phải "làm thật nhiều croquis" (bức phác thảo nhanh) để phục vụ cuộc chiến đấu,
chứ chưa phải là lúc ngồi tỉa tót từng chữ, từng lời, xây dựng cốt truyện, chọn
lọc tình tiết để tạo ra những tác phẩm dài hơi. Mặt khác, những điều kiện in ấn,
giấy má và phát hành ở chiến trường lúc này cũng không thể nào đáp ứng cho sự ra
đời những trường ca hay tiểu thuyết. Một mẫu ghi chép, một đoạn văn ngắn, một
tiểu phẩm, một “Nụ cười kháng chiến” đăng trên báo, hoặc trong các tập “Văn nghệ
xung kích” hay “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ”, đều là những dạng khác nhau của thể
ký nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu trước mắt. Có thể về mặt nghệ thuật còn
đơn sơ, non yếu, nhưng tác dụng đóng góp của thể ký đối với cuộc sống chiến đ?u
là điều cần khẳng định.
Lá thư Bến Tre,
sau này được in trong tập
Từ tuyến đầu Tổ quốc
(1),
là một trong những bài ký ra đời tương đối sớm và đã vượt chặng đường hàng
ngàn kilômét để đến với độc giả miền Bắc. Bức thư có đoạn “Chế độ Mỹ, Diệm là
một lò sát sinh man rợ trên trái đất ngày nay". Những thông tin nóng bỏng và cụ
thể như thế từ chiến trường "bay" ra hậu phương lớn, rõ ràng có một tác dụng như
một lời kêu gọi chi viện: Hãy cứu lấy miền
Nam!
Ký không những đóng vai trò "nòng
cốt" trong các tập san Văn nghệ Bến Tre, mà còn giữ một vị trí quan trọng
trên các báo khác của tỉnh, nhất là những bài ký hay viết về những người thật,
việc thật. Đội ngũ viết ký cũng xuất hiện ngày một đông đảo hơn như: Đoàn Hùng,
Nguyễn Hồ, Hà Mãnh, Ngọc Ca, Lê Anh Xuân, Hồ Thanh Điền, Thanh Giang, Thủy Thủ,
Nguyễn Đông, Lê Hồng Phương, Thái Dương, Thanh Vũ...
Mảnh đất “Quê hương Đồng khởi”
cũng đã thu hút nhiều họa sĩ như Lê Lam, Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Cổ Tấn Long
Châu, nhiều nhà văn, nhà thơ từ các nơi khác đến như Trần Hiếu Minh, Giang Nam,
Thủy Thủ, Nguyễn Thi, Hưởng Triều... Những trang viết về cái “nôi Đồng khởi” Mỏ
Cày của Trần Hiếu Minh, Thủy Thủ, Nguyễn Thi vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó
cho đến ngày nay. Đặc biệt hơn cả là Nguyễn Thi. Anh đã lăn lộn ở nhiều nơi trên
đất Bến Tre. Hàng trăm trang ghi chép của anh về con người, về phong trào, đất
đai, cây trái, tập quán, nghề nghiệp nơi đây trong tập Những năm tháng chưa
xa(2) là những bức
phác thảo sống động về những con người và cảnh vật nơi đây của “một thời chiến
đấu say mê và hào hùng".
Sẽ rất thiếu sót, nếu viết về
văn học giai đoạn chống Mỹ mà không đề cập đến một số cây bút quê Bến Tre hoạt
động hợp pháp hoặc bất hợp pháp trên lĩnh vực báo chí, văn nghệ ở đô thị (chủ
yếu ở thành phố Sài Gòn và thị xã Bến Tre). Có những trường hợp do tổ chức phân
công ở lại hoạt động trong phong trào yêu nước của nội thành, nội thị như Dương
Tử Giang, Trang Thế Hy. Cũng có những người do hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp
nên sống và làm việc ở đô thị, có tinh thần dân tộc và yêu nước, tình cảm và
ngòi bút của họ hướng về cách mạng.
Trên lĩnh vực nghiên cứu, có
các cây bút: Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Duy Oanh, Huỳnh Minh. Ngoài các công trình
nghiên cứu về văn học dân gian Nam Bộ, Nguyễn Duy Oanh còn có công trình Tỉnh
Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) và Chân dung Phan Thanh
Giản (3).
Đây là hai quyển sách được biên soạn công phu, phong phú về mặt tư liệu mặc
dù còn những hạn chế . Nhưng cái đáng quý cần được ghi nhận ở các tập sách trên
là tấm lòng của tác giả đối với quê hương, đối với đồng bào của mình, cũng như
thái độ trân trọng của tác giả đối với người xưa.
Trong khi đó, thì Huỳnh Minh
– tên thật là Huỳnh Khắc Vịnh - từ chỗ là chủ hiệu sách ở đường Phan Đình Phùng
(Sài Gòn), đã say mê sưu tập các nguồn tư liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa,
xã hội ở Nam Bộ. Kể từ cuốn Địa linh nhân kiệt - Kiến Hòa xưa và nay viết
về Bến Tre, quê hương ông, từ năm 1963 đến năm 1973, Huỳnh Minh đã cho ra đời 10
tập sách thuộc dạng này. Đó là những quyển Bạc Liêu xưa và nay, Cần Thơ xưa
và nay, Định Tường xưa và nay, Sa Đéc xưa và nay, Gia Định xưa và nay, Tây Ninh
xưa và nay, Vũng Tàu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay... ? các quyển sách
thuộc dạng "sưu khảo" này - chữ dùng của tác giả - ngoài phần văn chương (chiếm
tỷ lệ không cao) còn có những tư liệu bổ ích về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh
tế.
Cùng phát triển trong hoàn
cảnh Bến Tre, nhưng văn học Bến Tre trong giai đoạn chống Mỹ (1954-1975) đã có
một bước tiến vượt bậc so với giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954) về
quy mô, đội ngũ, phương tiện xuất bản, kể cả về mặt tổ chức và chỉ đạo. Nhìn một
cách tổng quát, văn học Bến Tre thời chống Mỹ đã phản ánh được những nét tiêu
biểu của hiện thực chiến đấu lớn lao đầy gian khổ, hy sinh của cán bộ, lực lượng
vũ trang và nhân dân trên một chiến trường ác liệt nhất của Nam Bộ.
Chú thích :
1.
NXB Văn học, H, 1963
2. Ngô Thảo sưu tầm và giới thiệu, NXB Văn nghệ TP.HCM
3. Bộ Giáo dục và Thanh niên xuất bản, S, 1974
|