|
Nếu trước đây,
trong chiến tranh giải phóng đất nước, văn nghệ là một mặt trận, thì giờ đây vị
trí đó cũng không hề thay đổi trong sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa. Văn
học nghệ thuật Bến Tre trong những năm qua đã đạt được những thành tích đáng
khích lệ về nhiều mặt: xây dựng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tổ chức sáng tác, sưu
tầm vốn văn học quá khứ, xuất bản, tạo nên một công chúng văn học mới...
Tỉnh đã có chủ
trương nhanh chóng chuyển những hoạt động văn học nghệ thuật từ thời chiến sang
thời bình, phục vụ sát sườn những nhiệm vụ chính trị của thời kỳ hàn gắn vết
thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.
Tại đại hội Văn
nghệ của tỉnh lần thứ II (7-1989) đã khẳng định vị trí của văn học là bộ môn chủ
chốt của hoạt động văn học nghệ thuật. Chính vì vậy mà Hội Văn nghệ Nguyễn Đình
Chiểu đã tập trung sức để phát triển bộ môn văn học của tỉnh nhà.
Đến Đại hội Văn
nghệ tỉnh lần thứ III (1999), số hội viên của Phân hội văn học từ 30 người
(trong đại hội lần thứ II) đã tăng lên 90 người. Năm 1994, Hội Văn nghệ Nguyễn
Đình Chiểu đã thành lập Hội Thơ Đường luật lấy tên là "Bạch Mai thi hội" gồm 150
hội viên và một câu lạc bộ riêng.
Cơ quan của Hội
Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu là tập san
Văn Nghệ Bến
Tre,
xuất
bản định kỳ thay cho những tập Văn nghệ Bến Tre xuất bản theo từng chuyên
đề ra đời trước đó. Tập san là tờ báo riêng của giới sáng tác phê bình văn học
nghệ thuật và những người yêu thích văn nghệ trong tỉnh, cùng một số cộng tác
viên ngoài tỉnh. Bên cạnh thế hệ những cây bút thời chống Mỹ, như Đoàn Tứ, Chim
Trắng, Trang Thế Hy, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Trung Điền, Nguyễn Hồ, Huỳnh Năm
Thông, Phan Thảo, Kim Tinh, Lê Dân, Lê Hồng Phương, Trần Ký, Thu Nguyễn, Nguyễn
Phước..., một thế hệ những cây bút trẻ sau 1975 xuất hiện ngày một đông đảo trên
các tập san và các báo chí khác của địa phương. Trong số đó, nổi lên một cây bút
như Lê Hoàng Dũng, Thanh Vũ, Kim Ba, Vũ Hồng, Hồ Trường, Nguyễn Chí Bền, Lê Xuân
Đoàn, Nguyên Tùng, Phạm Thị Ngọc Diệp.
Nếu như đội ngũ
cầm bút trưởng thành từ trong chiến tranh có vốn sống cà sự từng trải, vững vàng
về chính trị và có tay nghề nhất định, thì thế hệ những cây bút trẻ sau này, tuy
có những hạn chế về kinh nghiệm và vốn sống, nhưng sự hiện diện của lực lượng
đông đảo này đã làm cho bộ mặt văn học tỉnh mang những nét đa dạng, phong phú
của đời sống với những ước mơ, suy tư giàu nhiệt tình, khỏe khoắn và trẻ trung,
khát khao cái mới.
Ngoài tập san
Văn
Nghệ Bến Tre của
Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, còn phải kể đến tập san
Văn hóa Văn
nghệ của
Ty Văn hóa - Thông tin, về sau là Sở Văn hóa – Thông tin, xuất bản không định kỳ
và một số tập san của các cơ quan đoàn thể trong tỉnh như tờ
Công an Bến
Tre, Tuổi trẻ Bến Tre, Tư pháp, Sức khỏe, Ngân hàng, Dân số, Vì trẻ em...
Các
tờ báo ra không định kỳ này, ngoài phần dành cho chuyên ngành vẫn để một số
trang riêng đăng tải các sáng tác văn nghệ mới nhất.
Công tác bồi
dưỡng đội ngũ, đào tạo cán bộ cho ngành cũng được đặt ra một cách cấp thiết.
Ngoài việc phát hiện những tài năng mới để gởi đi đào tạo ở các trường lớp chính
quy theo chính sách, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã phối hợp cùng
với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, một số tỉnh lân cận như Hậu
Giang, Tiền Giang, Long An và Sở Văn hóa – Thông tin, tổ chức những trại bồi
dưỡng, những cuộc thi sáng tác, những lớp tập huấn về chính trị và nghiệp vụ để
nâng cao tay nghề cùng quan điểm, lập trường của người cầm bút. Nhờ vậy, sau một
chặng đường 25 năm qua, đội ngũ làm công tác văn học nghệ thuật Bến Tre, từ điểm
xuất phát ban đầu vừa mỏng vừa yếu, đến nay đã có một lực lượng tương đối đông
đảo. Nhiều hội chuyên ngành như Hội Âm nhạc, Hội Nhà văn, Hội Sân khấu, Hội Mỹ
thuật, lần lượt ra đời. Nhiều cây bút trưởng thành nhanh, đặc biệt sự hình thành
một lực lượng viết trẻ giàu nhiệt tình, xông xáo, có kiến thức văn hóa, có trình
độ lý luận nhất định về nghề nghiệp.
Cũng cần phải
kể đến một số tác phẩm đã xuất bản trong cùng thời gian này của những cây bút
quê Bến Tre hoạt động văn nghệ ở ngoài tỉnh như Chim Trắng, Bùi Ngọc Trung,
Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Hồ, Nguyễn Trọng Tín, Nguyễn
Trọng Nghĩa, Nguyễn Bá, Trầm Hương.. Đó là các tập thơ
Những ngã
đường
và Dấu vết
nhỏ nhoi của
Chim Trắng. Anh tham gia kháng chiến tại quê hương và bắt đầu làm thơ từ những
năm chống Mỹ. Thơ Chim Trắng từ lâu đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trong
tỉnh. Tập
Những ngả
đường của
anh đã được giải thưởng văn thơ của Hội Nhà văn Việt
Nam. Đó là Tập truyện
Mưa ấm
và Vết
thương thứ 13 của
Trang Thế Hy, ông hoạt động văn học từ trong kháng chiến chống Pháp đến sau
1954, có một thời gian hoạt động văn nghệ, báo chí ở nội thành Sài Gòn, Trang
Thế Hy là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ngoài những tác phẩm kể trên, anh
còn có các tập truyện
Nắng đẹp miền
quê ngoại, Người yêu và mùa thu,
tập truyện
Anh Thơm râu rồng, Tiếng khóc và tiếng hát...
Đó là
Giữa lòng
thành phố
(truyện ký),
Vùng tranh
chấp (tiểu
thuyết),
Bông súng đỏ (tập
truyện),
Cô biệt động (tập
truyện),
Dòng sông nước
mắt (tiểu
thuyết) của Thanh Giang.
Đó là
Lá cờ Ấp
Bắc (ký),
Trên
vành đai Bình Đức (ký),
Khi
người con gái Nam
Bộ cầm súng (truyện)
của Võ Trần Nhã.
Ngoài ra, còn
có những tập truyện như
Chuyện tình
ngày xưa (của
Đoàn Tứ),
Làng nhỏ bên
Hàm Luông (của
Lê Tâm),
Tiếng chuông
trôi trên sông (của
Vũ Hồng),
Thập khúc (của
Nguyên Tùng); tập thơ
Trăng hoàng
hôn (của
Kim Ba),
Hạt muối nhỏ
(thơ
thiếu nhi của nhiều tác giả),
Tuyển tập thơ
Bến Tre 1945-2000, Tuyển tập văn 1945-2000...
Về kịch bản sân
khấu có
Quê hương và
mẹ (của
Vĩnh Xuân),
Hào quang và
bóng tối
(của
Lê Huỳnh, Hoàng Dũng và Huy Lam),
Ánh đuốc êm
xuân (của
Ngô Mạn),
Rừng ông Gốc (của
Huỳnh Thị Đằng),
Cay đắng tình đời, Quê hương và ánh lửa (của
Vĩnh Xuân và Huỳnh Thị Đằng)...
Nhìn chung, qua
chặng đường phát triển của văn nghệ Bến Tre trong 25 năm qua, hai đề tài chù yếu
vẫn là: đề tài về chiến tranh, hay nói rộng ra là đề tài truyền thống chống
ngoại xâm của nhân dân trong tỉnh nổi bật lên đề tài về Đồng khởi của những năm
đầu thập kỷ 60. và đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở chặng đường đầu tiên của
thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, đọc những trang viết về thời kỳ này từ hồi ký, truyện
ngắn, thơ, kịch bản như
Không có con
đường nào khác, Ngọn lửa thần kỳ, Những ngày Đồng khởi, Từ trong gian khổ đứng
lên, Đội quân tóc dài, Bên bờ Hàm Luông, Mặt trời đêm, Tiếng hát trái tim... độc
giả mới cảm nhận được vẻ đẹp của những con người bình dị, giàu lòng yêu quê
hương đất nước, không chịu sống quỳ, sống nhục, dám đứng lên thay đổi vận mệnh
của mình.
Một số tác phẩm
khác thì cũng mới dừng lại ở mức môi tả các sự kiện có tính lịch sử nhằm kiến
giải cho cái kết cục có tính chất tất yếu “tức nước vỡ bờ”. Có những hồi ký mang
ý nghĩa giá trị sử liệu của một thời kỳ đấu tranh đầy sôi động, quyết liệt của
cuộc chiến tranh nhân dân hơn là tác phẩm văn chương mang đến cho người đọc
những xúc động thật sự bằng hình tượng nghệ thuật. Đương nhiên, không thể không
ghi nhận một thực tế là những sáng tác về đề tài chiến tranh từ sau ngày giải
phóng của các cây bút ở Bến Tre đã có một bước tiến khá rõ so với những truyện
ký, những tập sách “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ" xuất bản trong thời kỳ chống Mỹ
về cả hai phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.
Về đề tài Đồng
khởi, có lẽ đáng chú ý nhất là quyển
Dòng sông nước
mắt của
Thanh Giang(1).
Cho đến nay, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên viết về phong trào Đồng khởi ở Bến
Tre và cũng cả ở miền Nam.
Chủ đề chính toát lên từ gần 300 trang sách của
Dòng sông nước
mắt không
nhằm tô đậm tội ác dã man của kẻ thù qua chính sách tố cộng, diệt cộng đẫm máu
của một vùng quê, mà nhằm chứng minh một chân lý: "Dân là gốc". Thông qua số
phận của hàng loạt nhân vật với những tình huống nghiệt ngã, đau thương tột cùng,
tác giả muốn nói với người đọc rằng: "Không có dân, thì không thể có Đồng khởi
được”. Về phương diện này, có thể nói tác giả đã đạt được thành công nhất định.
.Đề tài xây
dựng chủ nghĩa xã hội, tuy đã được nhiều cây bút chú ý, nhưng nhìn chung chưa có
tác phẩm nào vượt trội, có giá trị chất lượng cao. Có thể kể tới
Những giọt
nước mắt của
Võ Trần Nhã, Ở
tập đoàn chợ
Xép của
Nguyên Tùng viết về các điển hình trong nông nghiệp;
Người tập đoàn
trưởng của
Đoàn Tứ,
Đất nhà của
Lê Hồng Phương,
Nước chảy qua
cây dừa quý của
Trường Thanh tập trung biểu dương những hạt nhân tiêu biểu của làng xóm Bến Tre
đang chuyển mình theo cung cách làm ăn mới. .
Công tác lý
luận, phê bình, sưu tầm nghiên cứu vốn văn học cổ đã được những người lãnh đạo
văn nghệ ở Bến Tre quan tâm khá sớm. Hầu như những sáng tác của các cây bút
trong tỉnh đều được giới thiệu, phê bình đều đặn trên các báo chí của địa phương,
nhất là trên tờ
Văn nghệ Bến
Tre.
Trong khi đó,
công tác sưu tầm, nghiên cứu vốn văn học cổ của tỉnh được xúc tiến mạnh mẽ và đã
đạt được những thành tựu đáng kể. Ngành Văn hóa – Thông tin, Hội Văn nghệ Nguyễn
Đình Chiểu và Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy cùng phối hợp với Viện Khoa học xã hội tại
TP Hồ Chí Minh, Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre tổ chức những cuộc điều tra,
khảo sát tìm hiểu ảnh hưởng của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong nhân
dân, kết hợp với việc sưu tầm vốn văn học Hán Nôm, văn học dân gian trên nhiều
địa bàn trong tỉnh. Những kết quả thu được từ nơi quê hương thứ hai của Cụ Đồ đã
góp phần có ý nghĩa cho việc xuất bản cuốn
Nguyễn Đình
Chiểu trong cuộc đời(2).
Năm 1982 , nhân
kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu , tỉnh đã phối hợp với
Viện Khoa học xã hội và các trường đại học tổ chức hội nghị khoa học lớn nhất từ
trước đến nay . Hội nghị được đánh dấu bằng tập kỷ yếu khoa học với tựa đề
Nguyễn Đình Chiểu gồm 91 bài viết chọn lọc trong số 106 tham luận từ các nơi
gởi về.
Cùng với việc
nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, việc điều tra xác minh về nguồn gốc quê quán,
gia phả cùng những sáng tác của nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị cũng là một việc
làm có ý nghĩa. Việc làm này đã góp phần đính chính những điều sai sót từng bị
lặp đi lặp lại về nhà thơ trên nhiều công trình xuất bản trước đây như
Lược sử tác
gia Việt Nam, Từ điển văn học và
cả trên nhiều cuốn sách giáo khoa đã xuất bản từ 1989 về trước. Ngoài những số
đặc san kỷ niệm về Phan Văn trị, Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre còn cho xuất bản
cuốn
Phan Văn Trị - quê hương, con người và tác phẩm của
Nguyễn Văn Châu.
Về việc sưu tầm
và nghiên cứu vốn văn học dân gian phải kể đến cuốn
Văn học dân
gian Bến Tre,
là
một công trình được tiến hành trong gần 10 năm trời, bao gồm việc sưu tầm, chỉnh
lý, sắp xếp lại một cách hệ thống, kèm theo phần phân tích, đánh giá của các tác
giả nói trên. Có thể nói hai tập sách trên đã bổ sung cho nhau, tạo nên những
đường nét cơ bản về diện mạo văn nghệ dân gian vốn rất phong phú của vùng đất ba
dải cù lao này.
Nói đến thành
tựu của chặng đường phát triển văn học của tỉnh từ sau ngày giải phóng đến cuối
thể kỷ này, không thể không đề cập đến việc tạo nên một công chúng văn học mới.
Trong sự nghiệp
xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa, văn học đóng một vai trò quan trọng
trong việc nâng cao dân trí, thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của nhân dân. Sự phát
triển nhanh chóng của ngành giáo dục đã tạo những điều kiện và những tiền đề mới
để người dân từng bước nâng cao trình độ hưởng thụ văn hóa theo nhu cầu và sở
thích.
Chú thích
(1)
Nxb Tác phẩm mới, H., 1989.
(2) Ty Văn hoá - Thông tin Bến Tre, 1983.
|