Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
Địa hình (07/11/2014)
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên. 
 
Thổ nhưỡng (07/11/2014)
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. 
 
Địa chất (07/11/2014)
Trên bức ảnh vũ trụ chụp từ vệ tinh bay cao cả ngàn cây số, Bến Tre hiện ra như một lưỡi phù sa mới của sông Tiền, mang đặc trưng riêng của đồng bằng sông Cửu Long là tính bằng phẳng rất cao. Chênh mức tuyệt đối giữa điểm thấp hơn hết và điểm cao hơn hết là 3,5 m, một điều khó biểu diễn trên mặt cắt bình thường của nhà địa chất.  
 
Nước mặt (07/11/2014)
Nước ngọt của các sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước ngọt từ sông Tiền. Do điều tiết của Biển Hồ ở Campuchia, hằng năm từ tháng 6 đến tháng 9 có dòng nước chảy ngược vào Tông Lê Sáp, rồi vào Biển Hồ, để rồi từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau lại từ Biển Hồ nước bổ sung cho dòng chảy sông Tiền, sông Hậu với tổng lượng nước khoảng 80 km3. 
 
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều. 
 
Nước ngầm (07/11/2014)
Toàn tỉnh có diện tích đất giồng cát là 12.179 ha (trầm tích đệ tứ kỷ, tuổi Halocene). Đây là nơi hình thành những cụm cư dân nông nghiệp lâu đời và đã trở thành làng xã, do những nơi này không khí thoáng đãng, đường đi trong thôn xóm khô ráo, đặc biệt bên tầng đất dưới chứa nước ngọt do nước mưa ngấm xuống, đủ để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Một số giồng ven biển cũng được bà con ngư dân chọn làm nơi định cư vì hội đủ những điều kiện trên, trong đó yếu tố hàng đầu là nước ngọt. 
 
Vấn đề mặn (07/11/2014)
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.  
 
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).  
 
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét. 
 
 
Trong vòng ba thế kỷ, kể từ khi những lưu dân người Việt đầu tiên đến định cư, đặt những nhát cuốc khai phá đầu tiên vùng đất hoang vu của phía nam Tổ quốc cho đến ngày hôm nay đã có những biến đổi kỳ diệu. Trong phạm vi tỉnh Bến Tre mà xét, nếu đem đối chiếu với những điều đã được miêu tả về thiên nhiên nơi đây cách nay vài ba thế kỷ trong các thư tịch cổ, thì rõ ràng là cảnh quan đã có những đổi thay rất to lớn 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Trần Văn Ơn (1931 - 1950)Trần Văn Ơn (1931 - 1950)
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948

Image
Tượng Trần Văn Ơn
Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

{mosimage}   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Chắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triểnChắp cánh cho du lịch Ba Tri phát triển
“Bến Tre biển cá sông tôm, Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

“Bến Tre biển cá sông tôm,

 Ba Tri muối mặn, Giồng Trôm lúa vàng”.

Nếu ai đã một lần về thăm mảnh đất Ba Tri vùng đất biển với biết bao sản vật địa phương, hải sản biển, nơi nức danh với danh tửu “rượu Phú Lễ”, bánh phồng Phú Ngãi mang đậm hương vị quê nhà, nhiều sản phẩm thủ công tinh xảo của làng nghề đan đát Phú Lễ và Phước Tuy thì sẽ nhớ mãi cái tình người, tình đất và tình quê hương xứ sở ở một vùng đất biển cuối nguồn dòng Ba Lai.

Ba Tri quê tôi, miền đất thuộc cù lao Bảo của tỉnh Bến Tre, được thiên thiên ưu đãi, nguồn lợi kinh tế biển dồi dào, có lịch sử khai phá hình thành và phát triển khá lâu đời, cư dân sống chủ yếu bằng kinh tế nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản là chính. Trải qua ngần ấy thời gian, mảnh đất này đã mang theo trong mình những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, với những danh nhân đã làm nên những trang sử hào hùng cho đất nước như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Tán Kế, Phan Ngọc Tòng,... Với một hệ thống các di tích văn hóa- lịch sử phong phú như: Khu tưởng niệm nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu (An Đức - Ba Tri), Mộ và đền thờ nhà giáo Võ Trường Toản (Bảo Thạnh - Ba Tri), di tích cây Da Đôi (Tân Xuân - Ba Tri), di tích đình Phú Lễ (Phú Lễ - Ba Tri), di tích miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế) ở Mỹ Thạnh - Ba Tri, di tích khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng ở An Hiệp - Ba Tri, là điều kiện thuận lợi để Ba Tri phát triển loại hình du lịch về nguồn.

Bên cạnh đó, các làng nghề thủ công truyền thống cũng được người dân địa phương giữ gìn và lưu truyền từ đời này sang đời khác như: Làng nghề cá khô An Thủy, làng nghề sản xuất muối Bảo Thạnh, làng nghề đan đát và nấu rượu Phú Lễ, làng nghề bánh phồng Phú Ngãi,... đang ngày càng phát triển bền vững và vươn xa giữa nhịp sống hiện đại. Duy trì và gắn bó với nghề không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế gia đình mà còn là giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề để cho các làng nghề không bị mai một theo thời gian. Đây cũng là một tiềm năng lớn để Ba Tri phát triển loại hình du lịch làng nghề.

Vùng đất biển Ba Tri không có những vườn cây ăn trái trĩu quả như huyện Chợ Lách, không có “lung linh sông nước” như du lịch huyện Châu Thành, nhưng Ba Tri luôn hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp mộc mạc của vùng đất biển, cái chân chất, thật thà của những con người đôn hậu, nghĩa tình. Với môi trường sinh thái biển trong lành, sự đa dạng sinh học cao, nhiều rừng đước, mắm, bần,…nơi quy tụ nhiều loại sinh vật biển, chim cò, các loại cá tôm, bò sát,… nên Ba Tri có nhiều điều kiện thuận lợi trong công việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng dương để phòng chống lũ lụt, xói mòn, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngoài ra, Ba Tri còn có trên 20km đường bờ biển với nhiều bãi biển đẹp như: Bãi Ngao, cồn Tròn, cồn Hố, cồn Nhàn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch biển trong tương lai.

Bến Tre đang phát triển nhiều loại hình du lịch thu hút du khách: Du lịch sông nước miệt vườn, du lịch homestay, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa - lịch sử và du lịch biển. Vì vậy, các công ty du lịch tại Bến Tre cũng đã tập trung khai thác các chương trình tham quan tại huyện Ba Tri như: Đưa du khách đi tham quan các di tích văn hóa-lịch sử, khám phá vườn chim Vàm Hồ, tham quan công trình kiến trúc nghệ thuật đình Phú Lễ, các bãi biển đẹp: Bãi Ngao, cồn Nhàn, cồn Hố, và thưởng thức hải sản biển tươi sống. Mặc khác, các doanh nghiệp này cũng đưa khách khám phá các làng nghề truyền thống của huyện để gắn kết giữa du lịch về nguồn với du lịch biển và du lịch làng nghề tạo nên sự đa dạng sản phẩm trong tour du lịch về Ba Tri.

Nói đến Ba Tri là nói đến vùng đất biển với những hào sản mà thiên nhiên đã ban tặng. Đến đây, du khách có thể tham gia vào lễ hội nghinh Ông Nam Hải được tổ chức vào trung tuần tháng 6 Âm lịch hằng năm tại xã An Thủy, hòa cùng không khí sôi nổi háo hức của lễ hội, đây là một lễ hội mang đậm nét truyền thống văn hóa của cư dân miệt biển, cầu cho mưa thuận gió hòa, đánh bắt cá có một mùa bội thu, và trở thành một tín ngưỡng dân gian in sâu vào tâm linh của những người dân xứ biển này.

Cảm giác của biển luôn làm lay động lòng người viễn xứ, về Ba Tri mà du khách chưa đến Tiệm Tôm xem như là chưa đến Ba Tri. Cái địa danh này không biết có từ khi nào, nhưng nghe tên thì du khách cũng cảm nhận được nơi đây rất giàu tôm, cá. Về đây, du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống làng quê của cư dân miền biển tại làng chài Tiệm Tôm thuộc xã An Thủy huyện Ba Tri, tham quan làng nghề cá khô An Thủy - Ba Tri, tham quan cảng cá Tiệm Tôm, ngắm nhìn cảnh biển, chợ sáng trên cảng với không khí nhộn nhịp. Hay đi dọc theo những con đường quê, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh từng phên cá được phơi khô với đủ các loại cá ngon như: Cá trích, cá ngừ, cá bạc má, mực, tôm, … Đúng là một vùng quê xứ biển, cái mùi thơm thoang thoảng của các loại cá khô như muốn níu chân du khách.

Đến cảng cá Tiệm Tôm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những đoàn tàu ra khơi lúc bình minh, vươn ra đại dương mênh mông để trở về với những khoang thuyền đầy ắp cá, tôm. Lắng lòng giữa biển cả mênh mông, để cảm nhận những làn gió biển vi vu suốt ngày đêm, như những tiếng đàn, tiếng lòng của quê hương xứ biển, dừng chân tại một nhà hàng ven biển với không gian thoáng mát, du khách sẽ thưởng thức hải sản tươi sống với nhiều món đặc sản hấp dẫn như: tôm hấp nước dừa, mực nướng, sò huyết, nghêu hấp lá quế, cá đối nướng, cá ngát nấu canh chua bần,… Đặc biệt, du khách sẽ được thưởng thức món mắm còng Ba Tri nổi tiếng thơm ngon.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 tổ chức tại huyện Ba Tri đang là một trong những sản phẩm để phát triển du lịch

Cứ hẹn lại lên, từ ngày 01-03/7 hằng năm là Ba Tri sẽ nhộn nhịp vào mùa lễ hội. Trong thời gian này, du khách về thăm khu di tích nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu sẽ được hòa mình vào không khí tưng bừng, rộn ràng của các hoạt động văn hóa, văn nghệ thuật của lễ hội truyền thống văn hóa 1/7 như: Liên hoan “Đờn ca tài tử” và hóa trang các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, lễ dâng hương, hội thi mâm cơm ngày giỗ, mâm xôi ngày hội, và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao khác,… Đây là dịp để người dân vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa, văn nghệ, ngâm thơ Lục Vân Tiên, tham gia vào nhiều hoạt động đa dạng, hấp dẫn. Đồng thời để giáo dục truyền thống văn hóa cho các thế hệ mai sau.

Ngược về xã Phú Lễ, du khách sẽ tham quan đình Phú Lễ với công trình kiến trúc độc đáo còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị như: Hoành phi, liễn đối, bao lam,… được sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Hằng năm, Đình là nơi tổ chức lễ cúng kỳ yên lớn và tiêu biểu của tỉnh. Ngoài ra, du khách không thể bỏ qua việc tìm hiểu về làng nghề nấu rượu và đan đát để chiêm ngưỡng các sản phẩm thủ công đẹp mắt, mà những nghệ nhân của làng nghề tạo ra như: Bung, giỏ, thúng, rổ,… Du khách cũng có thể tự tay làm nên một sản phẩm thủ công mà mình thích, để trải nghiệm cùng người nghệ nhân.

 

Đình Phú Lễ - Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là một trong những điểm đến hấp dẫn cho du khách khi về vùng đất biển Ba Tri

Cách Thị trấn Ba Tri khoảng chừng 15km, du khách sẽ đến với vườn chim Vàm Hồ, đây là một vườn chim tự nhiên với hàng ngàn cá thể cò, vạc. Ở Vàm Hồ, ngoài vũ điệu ngoạn mục của hàng ngàn cánh cò, cánh vạc, ngôn ngữ cũng có âm điệu đặc trưng của các loài chim hoang dã khác kết hợp với cây lá xào xạc như tiếng con chim cuốc gọi đàn giữa đêm hè tĩnh mịch, tiếng bìm bịp kêu như một điệp khúc gọi con nước lớn, nước ròng; tiếng chim vịt kêu chiều và nhiều loài chim nhỏ sống trong các lùm cây gần vực nước như cuốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp, thằng chài, chẽo chẹt, bông lau, chèo bẻo đuôi cò, chim vịt…. Hiện tại, vườn chim Vàm Hồ đã có dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, phát triển du lịch do công ty TNHH xuất nhập khẩu Hải Vân làm chủ đầu tư. Hy vọng, dự án hoàn thành và đưa vào khai thác thì sẽ thu hút du khách về đây nhiều hơn, tạo nguồn thu cho huyện, góp phần giải quyết việc làm và tạo sự bức phá trong lĩnh vực du lịch huyện nhà.

 

Du khách tham quan vườn chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Ba Tri còn đó rất nhiều điều thú vị mà du khách là người khám phá, quê tôi vùng đất biển chỉ có nắng gió, nhưng những hào sản mà thiên nhiên ban tặng thật sự là những món quà đầy ý nghĩa mà đất và con người Ba Tri dâng tặng cho du khách thập phương. Ba Tri không ồn ào, tấp nập nhưng nó có sức hấp dẫn kỳ lạ như “người con gái ngủ say” đang chờ du khách đánh thức; đang chờ các nhà đầu tư du lịch về đầu tư kinh doanh tại vùng đất đầy tiềm năng của Ba Tri.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cái MơnCái Mơn
 

Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong). Ngày xưa, nơi con rạch này có nhiều tổ ong mật. Cái Mơn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, nay là một thị tứ sầm uất của huyện Chợ Lách, có nhà thờ Thiên Chúa lâu đời. Cái Mơn cũng là nơi nổi tiếng sản xuất cây kiểng và các loại cây giống ăn trái của đồng bằng sông Cửu Long.

Cái Mơn nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

Đã ban hành
Quần thể thực vật vùng bưng trũngQuần thể thực vật vùng bưng trũng
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:
Image
Đây là phần đất nằm xa sông rạch hoặc xen kẽ giữa các giồng cát ven biển, thường bị ngập nước do lũ hoặc thủy triều chiếm một diện tích khá rộng từ vùng mặn, lợ lên vùng ngọt. Thảm thực vật nguyên thủy khi xưa là khu rừng úng nước với ba kiểu rõ rệt tùy thuộc đặc điểm môi trường:

- Rừng lá là nơi trũng thấp nước mặn lợ, dừa nước chiếm ưu thế xen lẫn vài bụi bần chua. Một phần diện tích này đã được đắp đê rửa mặn, biến thành những ruộng lúa. Một phần diện tích khác ít bị nhiễm mặn hơn, được người dân đào mương, lên liếp để lập các vườn dừa. Đây là đất thích hợp nhất với cây dừa chiếm một phạm vi tương đối rộng trong tỉnh. Dừa trồng trên đất này có hàm lượng dầu cao.

- Rừng tràm ở vùng trũng, đất phèn mặn đã được rửa lâu ngày qua nước mưa và nước sông. Diện tích đã bị khai phá để canh tác lúa, hoặc bị thay thế bởi cỏ năn như trường hợp gặp ở khu vực Đồng Gò của huyện Giồng Trôm.

- Rừng úng nước ngọt không bị ảnh hưởng mặn hoặc phèn, với cấu trúc gồm nhiều loài thảo mộc như cà na, chiếc, gừa, săn máu, bần chua, bình bát, gáo, dứa gai v.v... xen lẫn ở tầng dưới có các loài chuối nước, dây choại, dây cương, bòng bong, mây nước, mua, tràm bột, dành dành, lau sậy, lác hến, lúa ma, tâm bức, rau dừa, rau mác, sen, súng v.v...

Kiểu rừng nguyên thủy này khi xưa chiếm một diện tích khá rộng, nhưng nó đã bị những lưu dân khai phá, biến thành ruộng lúa, vườn cây ăn trái, hoặc đất trồng rau màu. Thảm thực vật nguyên thủy với sự hiện diện các khu rừng trên địa bàn tỉnh xưa kia là điều kiện đảm bảo tính phong phú, đa dạng của các loài thực vật và động vật hoang dại có thể tồn tại, giữ được cân bằng sinh thái trong tự nhiên.

Lúc đầu, khi số dân còn ít, con người có thể tận dụng các sản phẩm của thảm thực vật tự nhiên và nguồn động vật sẵn có như khai thác củi, gỗ, hái lượm một số loại trái, loại nấm, rau, củ có thể ăn được, săn bắt thú hoang dại để bổ sung cho nguồn lương thực, thực phẩm làm ra đủ để nuôi mình một cách không mấy khó khăn. Đến khi số dân gia tăng ngày một đông, đất rừng bị thu hẹp dần để làm thành đất thổ cư và đất canh tác, nguồn tài nguyên thiên nhiên dần dần cạn kiệt, thì các hoạt động khai thác theo kiểu tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu của con người, mà còn tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

Quá trình tác động của con người vào môi trường thiên nhiên thường dẫn đến hai hậu quả:

- Một mặt, con người qua kinh nghiệm lâu đời của cuộc sống đã biết cải tạo thiên nhiên, biến hệ sinh thái tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp với năng suất cao, sản lượng nhiều để thỏa mãn nhu cầu sinh sống và phát triển xã hội. Việc khai hoang, đắp đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước, lên liếp trồng cây, đã biến một diện tích rộng lớn đất rừng thành những cánh đồng lúa, mía, màu, những vườn dừa, vườn cây ăn trái, những vuông tôm, ao cá v.v... Việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã giúp con người mở rộng diện tích lúa từ một vụ thành hai vụ, tận dụng các tiềm năng về đất, nước, khí hậu, sinh vật để đem lại cho xã hội những sản phẩm ngày càng dồi dào và phong phú hơn.

- Mặt khác, bên cạnh các thành công trong việc cải tạo thiên nhiên, phát triển sản xuất, cũng có không ít những hoạt động của con người đã gây nhiều tác hại cho tự nhiên, làm hủy diệt thảm thực vật theo hướng bất lợi nhất. Vì thế, tài nguyên trong tỉnh trở nên cạn kiệt nhanh chóng, diện tích rừng bị ngập mặn bị thu hẹp dần, các thú hoang dại gần như bị diệt chủng, các nguồn lợi về tôm, cua, cá giảm sút đến mức báo động, nguồn “gien” thực vật và động vật hoang dại không còn phong phú như trước, làm ảnh hưởng đến công cuộc phát triển kinh tế lâu dài của tỉnh. Quỹ đất của tỉnh quá thấp so với dân số, nhưng một số diện tích lại đang được sử dụng không hợp lý, như thiết lập vườn dừa trên đất phèn mặn, hoặc còn bỏ hoang hoá như vùng đất ven biển. Một số vùng đất phèn tiềm tàng do việc xẻ mương tiêu nước, hoặc lên liếp trồng cây thiếu điều tra, cân nhắc nên đã biến thành đất phèn hoạt động, cuối cùng đất bị thoái hoá nghiêm trọng, có nơi trở thành đất hoang.

Việc hủy diệt rừng ngập mặn ven biển đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi tôm, cua, cá có thể khai thác trong phạm vi rừng và ngoài khơi, chưa kể hậu quả tiêu cực có tính chất dây chuyền, làm mất nơi sinh sống của các loài thú, chim sống trong rừng ngập mặn. Phong trào phá rừng, thiết lập vuông tôm chạy theo mối lợi trước mắt tức thời đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật của khu vực và tạo tình trạng xói mòn, lở bờ và rửa trôi đất ven sông, ven biển.

Tỉ lệ diện tích rừng trên diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bến Tre thuộc loại quá thấp, nên cần phải có kế hoạch quy hoạch rừng một cách hợp lý, bảo vệ và phục hồi những khu rừng thoái hoá hiện có, phủ rừng trên diện tích đất còn bỏ hoang hoá, đẩy mạnh công tác vận động trồng cây trong nhân dân nhằm tăng diện tích cây xanh, đồng thời giảm bớt sức ép về nhu cầu gỗ xây dựng và chất đốt cho nhân dân.

Thảm thực vật, ngoài việc che phủ và bảo vệ đất, chống lở bờ, rửa trôi, điều hoà khí hậu, tạo nơi trú ngụ và sinh sống của nhiều loài động vật hoang dại v.v... còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế.

Các loài gỗ như sao, dầu, xà cừ, nhạc ngựa, tràm, gáo, đước, vẹt, tre, bạch đàn, dừa nước v.v... là nguyên vật liệu cho xây dựng nhà cửa và vật dụng sinh hoạt như bàn ghế, tủ, giường, ghe, xuồng v.v... Lá dừa nước, tre, trúc, sậy, xơ dừa, gáo dừa, thân dừa, lác, dây lùng v.v... là nguồn nguyên liệu cho nhiều nghề thủ công trong tỉnh. Lá so đũa, lá mắm được dùng làm thức ăn gia súc. Cây lứt, sen, nhàu, bạc hà, cỏ tranh, cỏ xước, mù u, hà thủ ô là loại dược liệu thông dụng trong Đông y. Ngó sen, bông súng, bông lục bình, bông điên điển, đọt choại, đọt vừng, rau đắng, rau nhút... đã từ lâu được nhân dân dùng làm thực phẩm góp phần làm cho bữa ăn hàng ngày của con người trở nên phong phú và đa dạng.

Chất ta-nanh trích ly từ các vỏ cây dà, đước,vẹt của rừng ngập mặn là nguyên liệu cần cho công nghiệp. Nước ngọt lấy từ buồng dừa nước có thể chế thành nước giải khát lên men, hoặc cất thành cồn. Gỗ bạch đàn, bần, lau, sậy, tre, rơm, rạ là nguyên liệu làm bột giấy.

Rừng và thảm thực vật nói chung, còn góp phần rất quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, chắn gió cát, chống xói lở v.v...

Tóm lại, công dụng và lợi ích của rừng và thảm thực vật nói chung đối với cuộc sống con người rất lớn và đa dạng. Do đó, cần phải có kế hoạch tích cực bảo vệ các nguồn “gien” quý còn tồn tại trong tỉnh bằng cách lập khu bảo vệ, phục hồi lại vốn rừng với hệ chim thú, nguồn thủy hải sản song song với việc đầu tư thích đáng cho công tác điều tra cơ bản có mục tiêu nhằm đặt cơ sở cho việc quy hoạch sinh thái lãnh thổ, bảo vệ môi trường vì lợi ích lâu dài cho những thế hệ mai sau.

Thấy được tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, gia tăng nguồn lợi thủy sản, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ven biển, trong thời gian qua tỉnh đã tranh thủ tích cực sự hỗ trợ của Trung ương và bằng nội lực của tỉnh, đã từng bước khôi phục lại vốn rừng bị tàn phá trước đây.

Trong vòng 17 năm (1976 – 1993), đã tiến hành trồng mới 3.894 ha, nhưng tỉ lệ thành rừng còn thấp, chỉ đạt 1.862 ha (47,8%), đưa diện tích đất có rừng trong toàn tỉnh đến năm 1994 là 6.126 ha, chiếm 43,6% diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp.

Từ năm 1994, được sự hỗ trợ Chương trình 327/TƯ, tỉnh Bến Tre đã tiến hành quy hoạch lâm nghiệp, gia tăng tốc độ trồng rừng. Trong 5 năm, tốc độ trồng rừng tăng khá nhanh, đạt 2.228 ha (trong đó, rừng phòng hộ 1.453 ha, rừng sản xuất 775 ha). Đây là một cố gắng lớn của tỉnh. Tuy nhiên, so với nhiệm vụ còn lại theo mục tiêu đến năm 2000 phải xây dựng được 528 ha rừng phòng hộ, 2.350 ha rừng sản xuất, thì nhiệm vụ còn lại hết sức nặng nề và khó có khả năng thực hiện được vì lẽ:

- Một phần diện tích quy hoạch lâm nghiệp đã có ngư trường của dân đang khai thác.

- Đất giồng cát và cồn cát khó thực hiện việc trồng rừng và tạo điều kiện cho cây phát triển nhanh chóng.

Do đó, để phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tỉnh đã quyết định điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp với định hình khu vực rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre là 10.416 ha với vai trò chủ yếu là rừng phòng hộ (3.275 ha), rừng đặc dụng (3.998 ha), rừng sản xuất kết hợp với lâm – ngư nghiệp (2.273 ha), xây dựng vườn hộ (820 ha), đất sử dụng vào mục đích khác (50 ha). Việc điều chỉnh quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế rừng ngập mặn của tỉnh. Giá trị thực tế của rừng ngập mặn về lâm sản không lớn, nhưng giá trị về sinh thái và bảo vệ bờ biển, làm trong sạch môi trường không khí nước, gia tăng nguồn lợi thủy sản là rất lớn.

Việc quy hoạch định hình khu vực lâm nghiệp, xác định ranh giới cụ thể với khu vực quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản là một giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp, góp phần tích cực vào việc hạn chế phá rừng làm ao nuôi tôm phổ biến ở vùng ven biển Bến Tre trong các năm qua.

Bên cạnh việc phục hồi vốn rừng, tỉnh đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ "đa dạng sinh học”, nguồn “gien” động vật, thực vật của hệ sinh thái rừng ngập mặn nơi cửa sông, ven biển các nhánh sông Cửu Long thông qua xây dựng và triển khai 2 dự án sau đây:

* Dự án xây dựng khu bảo tồn sân chim Vàm Hồ (huyện Ba Tri) với diện tích 67,657 ha ở khu vực cửa sông Ba Lai với thảm thực vật tự nhiên là chà là, đước, dừa nước, lau, sậy... phân bố trên một hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đó là điều kiện sinh cảnh thích hợp cho các chủng loại cò, vạc... tụ về làm tổ và sinh sản. Tại sân chim Vàm Hồ hiện có đến hàng trăm ngàn cá thể tập trung các loại cò trắng, cò ngàng nhỏ, cò ma, cò ruồi, vạc, quắm trắng, diệc xám...

Theo kết quả điều tra, hiện có 7 loại chim có số lượng đông nhất. Trong các lùm cây bụi hay gần mé nước còn có các loại chim quốc ngực trắng, trích, cúm núm, chàng nghịch, bìm bịp lớn, bìm bịp nhỏ, thằng chài, chẽo chụt, bông lau, chích chòe, chèo bẻo đuôi cờ...

Dự án sẽ phát triển thêm diện tích rừng của khu vực để tạo điều kiện duy trì và phát triển quần thể loài chim kết hợp với việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển loại hình du lịch sinh thái ở phía ven biển Bến Tre.

* Dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước ở huyện Thạnh Phú với diện tích 8.825 ha nằm trên 3 xã An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải. Khu vực rừng ngập mặn này là vùng đất ngập nước độc đáo ở cửa sông Cửu Long – nơi đã được ghi nhận là vị trí quan trọng trong thư mục các vùng đất ngập nước của các nước Đông Nam Á. Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước ở Thạnh Phú khá tiêu biểu cho vùng sinh thái ở cửa sông Cửu Long với những nét khác biệt so với các vùng đất ngập nước ven biển khác ở đồng bằng sông Cửu Long.

Đó là các đặc trưng về địa mạo, đất đai của vùng này đã bị chi phối mạnh mẽ bởi sông Cửu Long và biển Đông, nên có những giồng cát chạy song song với bờ biển. Xen giữa các giồng cát là những trảng trũng, rừng ngập mặn.

Đó là tính chất của môi trường nước (đặc biệt là độ mặn của nước) thay đổi theo mùa, nên thành phần các loài thực vật và thủy sinh vật ở đây khá phong phú, gồm nhiều chủng loại đặc trưng của môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn.

Đó còn là nơi phát triển các loài cây tiền phong, loài cây ưu thế của hệ thực vật sống trong môi trường nước lợ, có độ mặn thấp. Trong khi đó, các loài cây tiền phong và cây ưu thế của hệ thực vật ở tại vùng bờ biển khác lại là những loài cây sống trong môi trường độ mặn cao.

Rừng ngập mặn ở vùng cửa sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái ở vùng cửa sông (nơi giao lưu giữa đất liền và biển cả). Rừng ngập mặn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, cung cấp nguồn giống động vật và thực vật, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ quá trình phát triển bền vững của vùng ven biển, làm sạch môi trường nước, không khí, hạn chế sự lan truyền nước mặn vào sâu trong nội đồng. Sự tồn tại và phát triển của rừng ngập mặn nơi cửa sông Cửu Long có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của tỉnh Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Trong hai cuộc KCCP và KCCM, rừng ngập mặn Thạnh Phú và Bình Đại là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền. Ngày 23-12-1995, Bộ Văn hóa – Thông tin đã có Quyết định số 3777-QĐ/BT công nhận khu rừng xã Thạnh Phong là "Di tích lịch sử đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc Nam" thời KCCM.

Với lý do trên, việc xây dựng và thực hiện dự án đầu tư phát triển khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước Thạnh Phú có một ý nghĩa quan trọng, nhằm bảo vệ một mẫu sinh cảnh độc đáo vả bảo vệ môi trường đa dạng sinh học vùng cửa sông, đồng thời cũng để bảo vệ một khu di tích lịch sử mang đậm tinh thần yêu nước bất khuất của nhân dân một vùng đất kiên cường trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Việc duy trì và bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên vùng đất ngập nước này còn phục vụ thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
 

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)Tướng quân Đồng Văn Cống - Người anh cả của lực lượng vũ trang Bến Tre(*)
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ.

Đồng Văn Cống là người có công lớn xây dựng LLVT Bến Tre và chiến trường khu 8 thời kháng Pháp, đóng góp tích cực trong việc xây dựng “Thế trận đồng bằng Nam Bộ” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông là vị tướng chiến trường mà chiến tích không tách rời lịch sử chiến tranh nhân dân của Bến Tre và Nam Bộ “thành đồng Tổ quốc”. Nếu như đồng đội của ông – nữ tướng Nguyễn Thị Định có công khai mở con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, thì tướng quân Đồng Văn Cống lại có công tổ chức, củng cố vững chắc và có hiệu quả con đường lịch sử đó mang mật danh 559B khi ông đảm nhiệm cương vị Cục phó Cục Tác chiến ở Bộ Tổng tham mưu, bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phần I:

THỜI TRAI TRẺ VÀ GIAI THOẠI ĐÁNH TÂY

Đồng Văn Cống sinh năm 1918 ở xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm trong một gia đình khá giả, đông con. Thuở nhỏ ông được cha mẹ và các anh chị cưng chìu vì ông là con trai duy nhất. Nhưng không vì thế mà ông chỉ biết hưởng thụ an nhàn. Ông ý thức được trách nhiệm của người thanh niên khi đất nước, quê hương bị xâm lược, sớm hoạt động xã hội, tham gia “Hội đồng kỳ mục” ở làng Tân Hào, được bà con quen gọi là “Kiểm Cống”, “Chánh lục bộ Cống” (Bộ Cống). Thời gian này được cụ Lê Văn Phi – một người cao niên đức độ, có uy tín trong làng đã giáo dục, định hướng con đường đi đúng cho Đồng Văn Cống đến với cách mạng.

Image
Đồng Văn Cống

Đồng Văn Cống vốn được trời ban cho sức vóc cao to, đẹp trai, mạnh khỏe. Thời trai trẻ ông lặn rất sâu nhiều lần dưới sông để vớt súng Tây, hành quân bộ hàng trăm cây số mà chẳng hề hấn gì. Ông thích chơi thể thao và cờ tướng, từng là tuyển thủ Đội A bóng đá Bến Tre. Ông đi đá bóng nhiều nơi, quen biết nhiều người và thuộc địa hình trong tỉnh như trong lòng bàn tay. Ông sinh hoạt phóng khoáng, gần gũi với dân, là thần tượng của thanh niên trang lứa trong làng và bạn bè quanh vùng quen biết ông. Điều đó rất thuận lợi khi ông tập hợp lực lượng khởi binh đánh Pháp.

Đồng Văn Cống sớm giác ngộ cách mạng, hoạt động bí mật từ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông dương năm 1939, bí thư chi bộ kiêm tổng ủy viên, lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương năm 1945. Vừa là bí thư chi bộ, vừa trực tiếp tổ chức xây dựng và chỉ huy đội du kích Tân Hào nổi tiếng khắp vùng trong tỉnh. Ông bà thân sinh sợ con trai duy nhất gặp hiểm nguy trong chiến trận nên ngăn cản không cho ông thoát ly hoạt động quân sự. Vợ chồng ông phải dâng khai rượu quỳ lạy song thân xin cho ông đi kháng chiến. Đồng Văn Đe lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng cũng biết “ăn theo” ba má quỳ lạy van xin ông bà nội để ba Cống được đi đánh Tây. Ông bà thân sinh mềm lòng đồng thuận cho Đồng Văn Cống xông pha vào lửa đạn vì nghĩa lớn.

Image
Tướng Đồng Văn Cống và vợ Lê Thị Gấm khi nghỉ hưu

Vợ ông, bà Lê Thị Gấm, lớn hơn ông một tuổi, nhà nghèo, sớm mồ côi mẹ, đẹp người, phúc hậu – một hoa khôi đồng nội cùng làng với ông. Thuở nhỏ bà có tiếng giỏi cấy lúa và khéo nữ công gia chánh. Bà chịu thương chịu khó làm tròn phận dâu đối với nhà chồng, lam lũ lao động nuôi con, chung thủy với chồng. Trai tài gái sắc gặp nhau thời ly loạn, sát cánh bên nhau trong suốt cuộc trường chinh đánh Pháp, đuổi Mỹ vì nghiệp lớn. Các con ông nối bước con đường ông chọn. Đứa con trai đầu lòng – Đồng Văn Đe có nhiều giai thoại về một sĩ quan phi công trẻ tài năng, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc trong Quân chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Ái nữ của ông là bác sĩ quân y Đồng Thị Thanh Hồng. Cả gia đình ông là một tập thể quân nhân cách mạng.

Đội du kích Tân Hào của Đồng Văn Cống đánh giặc giỏi, công tác tốt, phát triển nhanh, làm nòng cốt hình thành Chi đội 19 và Trung đoàn 99 nổi tiếng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu “TRUNG ĐOÀN GƯƠNG MẪU” và cũng chính Bác Hồ ký quyết định phong hàm Đại đoàn phó cho ông. Trung đoàn do Đồng Văn Cống chỉ huy đã đóng góp vai trò cốt cán xây dựng các đơn vị chủ lực cho Khu 8, trong đó có Tiểu đoàn 307 vang danh cả nước. Thanh niên Bến Tre thời đó rất tự hào khi gia nhập LLVT để được gọi là “Bộ đội ông Cống”. Thời khởi sự đánh Tây, khắp nơi trong tỉnh bà con đồn đại với niềm say mê kính phục: “Đằng mình có ông Cống, ông Tá, ông Phải, ông Kích, ông Tỷ, ông Măng, ông Xem, ông Chót, ông Bài, ông Hùng… chỉ huy đánh Tây giỏi như xuất thánh nhập thần…”. Dân gian truyền miệng và thích thú câu chuyện ông Cống gởi thư khiêu khích giặc Tây: “Bộ đội ông Cống đóng ở Bàu Dơi. Tây vào đánh chơi. Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo”. Ông Cống chỉ huy đánh giặc mưu trí, gan dạ. Ông đeo đồng hồ có dạ quang và khi ngủ choàng tay trên đầu. Dạ quang đồng hồ phát sáng ban đêm nên bà con đồn đại, thêu dệt: “Ông Cống nằm ngủ trên đầu xuất hiện hào quang, đúng là chánh vì tướng”.

Đã ban hành
Cồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu LongCồn Phụng - điểm đến du lịch tiêu biểu Đồng bằng sông Cửu Long
Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

Điểm du lịch Cồn Phụng nằm trên phần đất đầu cồn, trong quần thể mà dân gian thường gọi là tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) và nổi lên giữa sông Tiền thuộc ấp Tân Vinh, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng từ lâu đã được du khách trong, ngoài nước biết đến như là một địa danh quen thuộc, hấp dẫn với du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước và công trình kiến trúc “Đạo Dừa Bến Tre”.

 

Đội ngũ hướng dẫn viên của du lịch Cồn Phụng

Đến Cồn Phụng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo còn lưu lại như: sân Rồng, tháp Hòa Bình (cửu trùng đài)...; tham quan phòng truyền thống giới thiệu hình ảnh và các hoạt động của tiền nhân đất và người Bến Tre...; khám phá, trải nghiệm nét đặc sắc của nghề truyền thống làm kẹo dừa, bánh tráng …, đặc biệt độc đáo nhất là tận mắt chứng kiến những bàn tay khéo léo, tài hoa cộng với óc thẩm mỹ của người dân đất cồn, đã biến những thứ có giá trị thấp của cây dừa thành hàng trăm mẫu mã sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị trong cuộc sống và mang giá trị nghệ thuật cao, có mặt trên thị trường trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài.

Cũng như các điểm du lịch khác, Cồn Phụng cũng có nhiều dịch vụ hấp dẫn, nhất là du thuyền đưa du khách tham quan ngắm cảnh sông nước, tham quan vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả của các cồn và những sinh hoạt thường nhật của người dân vùng ven sông Tiền. Du khách còn được trải nghiệm trên những chiếc xuồng máy, xuồng chèo len lõi trong những sông, rạch nhỏ mà hai bên toàn là cây dừa nước, những rặng bần và trên bờ là những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả; hay du ngoạn trên những chiếc xe ngựa, xe đạp ngắm cảnh những đường làng quê xứ dừa và giao lưu thân thiện với người dân địa phương....

Thú vị nhất vào những đêm trăng thanh gió mát, du khách xuống du thuyền bồng bềnh trên sóng nước, ngắm trăng bóng nước, giao lưu đàn ca tài tử với người dân địa phương trong khoảng không gian sông nước thật hữu tình. Hay vào những đêm tối trời, du khách có thể tham gia ngắm và bắt đom đóm, những ánh sáng chớp, tắt liên hồi của bầy đóm đóm trên những rặng bần ven sông trong đêm tĩnh mịch, lắng nghe đâu đấy âm thanh lách tách của những cơn gió làm nên tiếng sóng nước vỗ vào bờ và tiếng xào xạc của những cụm lá dừa nước, lắng lòng lại ta sẽ cảm nhận khung cảnh trời mây, sông nước thanh bình của xứ dừa ở Cồn Phụng thêm lung linh huyền ảo.... Hoặc khi hoàng hôn vừa xuống, đứng trên tầng cao Cồn Phụng ngắm hoàng hôn, nhìn cảnh mặt trời khuất dần sau các rặng dừa và như chìm vào sông nước xứ dừa Bến Tre thật hiền hòa, yên ả, nên thơ.

Và cũng thật êm ả, thích thú, ban ngày du khách khám phá các vườn cây ăn trái, các điểm làm nghề thủ công truyền thống của địa phương và tham gia vào các công đoạn chế biến kẹo dừa, bánh tráng, làm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa; hay tham gia vào các dịch vụ giải trí..., khi thấm mệt, du khách nghĩ ngơi, thả hồn đong đưa trên chiếc võng được mắc trong vườn cây ăn trái tỏa bóng mát rượi. Hay vào các buổi trưa hè du khách sẽ thư thả tản bộ trên những con đường làng rợp bóng cây xanh, vừa ngắm nhìn những vườn cây trái trĩu quả và bắt gặp những sinh hoạt thường ngày của người dân xứ cồn; thưởng thức tại vườn các loại trái cây miền sông nước; các loại bánh kẹo từ dừa, thưởng thức tại chỗ hoặc mang về làm quà tặng người thân...

Sôi động hơn là điểm du lịch Cồn Phụng còn có loại hình câu cá sấu, mô tô nước..., các trò chơi tập thể tại khu sinh hoạt ngoài trời; hát karaoke, hát múa tập thể, hát với nhau ngoài trời hay trong sân khấu mini tại các nhà hàng; hay hồi hộp đi qua cầu dừa, cầu tre lắc lẻo (loại cầu mà người dân ĐBSCL gọi là cầu khỉ).

Đến Cồn Phụng, du khách không chỉ hòa mình với thiên nhiên sông nước hữu tình, mà còn được thưởng thức có đủ các món ăn đặc trưng của vùng châu thổ đồng bằng, được các đầu bếp lành nghề thực hiện tỉ mỉ theo kinh nghiệm dân gian và chế biến theo khẩu vị của thực khách trong và ngoài nước, đặc trưng nhất là những món ăn dân dã của miệt vườn miền Tây như: món cá tai tượng chiên xù, hấp nước dừa, nước nắm; lẩu mắm; cá  kho tộ; ốc nướng tiêu; lươn hấp muối, lươn um dừa lá cách, bắp chuối; cháo gà ta thả vườn, gà nướng lu, lẩu gà nòi hầm xả; các món ăn biếu tấu từ chuột dừa; xôi chiên phồng; bánh xèo; đuông dừa chiên bơ, chiên nước nắm...; các món ăn chế biến có nước cốt dừa…. Với lợi thế nguyên vật liệu tươi sống có sẵn tại khu du lịch Cồn Phụng, nên các món ăn của nhà hàng luôn đảm bảo về sự tươi, ngon, chất lượng cao. Kết hợp nhâm nhi với các món ẩm thực có loại rượu Phú Lễ (đặc sản của Bến Tre). Rượu Phú Lễ được nhiều người ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định và hợp khẩu vị của người tiêu dùng, giới “ẩm giả” sành điệu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” với các loại rượu nổi tiếng khác trong vùng đất chín rồng.

Những năm gần đây, hệ thống nhà hàng Cồn Phụng đã phát triển, mở rộng quy mô gồm nhiều khu biệt lập như: Nhà hàng thủy tạ, nhà hàng sân vườn, nhà hàng ven sông, nhà hàng phục vụ khách Quốc tế…, không gian các điểm nhà hàng tại Cồn Phụng rất rộng rãi thoáng mát, cùng lúc nhà hàng có khả năng phục vụ 2.000 khách. Nơi đây đã thật sự trở thành điểm lý tưởng cho nhiều đoàn khách, các cơ quan - đơn vị tổ chức các cuộc họp tổng kết cuối năm, hội nghị khách hàng, hội trại, họp mặt bạn bè, gia đình, người thân, liên hoan, tiệc cưới, hỏi, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới….

Bên cạnh đó, Cồn Phụng còn có các phòng nghỉ ven sông thoáng mát, cùng với sự phục vụ chu đáo, nhiệt tình, mến khách chắc chắn sẽ đem lại cho quý khách sự an toàn và những giây phút thư giản thoải mái trong những ngày khám phá, vui chơi, nghĩ dưỡng tại Cồn Phụng.

Năm 2012, hòa vào sự phát triển chung của du lịch đất chín rồng, điểm du lịch Cồn Phụng đã có nhiều dịch vụ và tổ chức nhiều hoạt động hấp, thu hút nhiều du khách trong, ngoài nước đến tham quan, cùng với nhiều năm kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động du lịch, điểm du lịch Cồn Phụng đã đăng ký cùng với 10 khu, điểm du lịch khác của các tỉnh ĐBSCL tham gia chương trình bình chọn “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012” và điểm du lịch Cồn Phụng được Hiệp hội Du lịch ĐBSCL bình chọn là “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL năm 2012”.

 

Hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng

Dịp tết Nguyên đán Quý Tỵ - 2013 điểu du lịch Cồn Phụng tổ chức chương trình vui xuân diễn ra từ mùng 1 đến mùng 8 tết gồm các hoạt động: Múa lân nữ, câu cá sấu, hội thi câu cá, hội thi đá chim, hội thi gà Tre cảnh, các trò chơi dân gian trúng thưởng vui nhộn, trò chơi cảm giác mạnh (mô tô nước kéo phao), hát với nhau, hái lộc đầu xuân với nhiều giải thưởng hấp dẫn.... Đặc biệt, có sự góp mặt của nhóm múa lửa, múa bụng, múa hiphop, xiếc ảo thuật kungfu và ca sĩ đến từ thành phố Hồ Chí Minh tham gia biểu diễn nhiều tiết mục đặc sắc mới lạ để phục vụ du khách đến du xuân trong những ngày đầu năm mới. Các hoạt động vui xuân tại điểm du lịch Cồn Phụng sẽ đem đến cho du khách cùng bạn bè và gia đình những ngày tết thật vui tươi, an toàn và hạnh phúc.  

Hy vọng trên bước đường phát triển để hoàn thiện mình hơn nữa, cùng với những gì thiên nhiên đã ban tặng cho Cồn Phụng, với sự năng động, nhạy bén, luôn sáng tạo của nhà quản lý, sự mến khách, trách nhiệm, tận tình của đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ tại điểm du lịch sinh thái Cồn Phụng mãi luôn là điểm đến hấp dẫn với danh hiệu “Điểm du lịch tiêu biểu ĐBSCL” và trong tương lai sẽ ngày càng thu hút khách du lịch trong, ngoài nước hội tụ về đây tham quan, khám phá, trải nghiệm, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, cũng như hòa mình vào không gian xanh, hít thở không khí trong lành, thoáng mát, dễ chịu, thoải mái, đầy lý thú của du lịch sinh thái sông nước miệt vườn xứ dừa Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
 
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
 
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Mỹ LồngMỹ Lồng
 

Còn gọi Mỹ Luông

Chợ lâu đời nhất của tỉnh Bến Tre với đặc sản nổi tiếng về cau và bánh tráng, đã đi vào tục ngữ địa phương (Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc), nằm trên tỉnh lộ 885 và ở cạnh sông Bến Tre. Sách Gia Định thành thông chí viết: “Nơi bờ phía bắc (sông Bến Tre) là chợ Mỹ Luông (tên cũ của chợ Mỹ Lồng) phố xá liền lạc, người buôn bán tụ hội đông đảo”.

 Nơi đây từng chứng kiến trận đánh giữa quân Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn. Đã có một thời huyện lỵ Bảo Hựu đặt tại đây.

  Bến Tre nhiều gái chưa chồng
  Không tin xuống chợ Mỹ Lồng mà xem.
 
                                                    (Ca dao)
Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cồn TàuCồn Tàu
 

Cồn đất phù sa màu mỡ nằm tên sông Tiền. Về nguồn gốc địa danh có 2 thuyết: 1. Cồn giống hình chiếc tàu thủy nên gọi Cồn Tàu. 2. Xưa kia, có một chiếc tàu buôn nước ngoài vào ăn hàng bị chìm tại đây. Về sau, phù sa bồi tụ lại thành cồn, từ đó có tên gọi Cồn Tàu. Sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều có nhắc đến Cồn Tàu. Năm 1002, cồn thuộc làng Long Phụng, quận Hoà Đồng, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Ngày 28-8-1957, cồn được chuyển giao về quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, Cồn Tàu là xã Tam Hiệp, huyện Bình Đại. Nguồn lợi lớn nhất của Cồn Tàu là cây ăn trái. Nghề nuôi tôm, cá ở đây cũng là nguồn lợi kinh tế đáng kể.

Đã ban hành
Cây dừaCây dừa
Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.
Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Image
"Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”

Câu ca dao đã khẳng định vị trí của hai loại cây trồng chủ lực nổi tiếng ở hai địa phương: cây dừa Bến Tre và cây lúa miệt Hậu Giang. Cho đến nay, Bến Tre vẫn là tỉnh dẫn đầu cả nước về dừa trên hai mặt diện tích và sản lượng.

Các giống dừa trồng phổ biến ở địa phương có dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa nhiếm, dừa xiêm, dừa cỏ, dừa Tam Quan. Trong những năm gần đây, nhiều giống dừa nhập nội đã được đưa vào trồng thí điểm ở Bến Tre. Công ty Kinh doanh dừa của tỉnh phối hợp cùng với các viện nghiên cứu trung ương, đang tiến hành lai tạo giống mới có năng suất cao, nhằm dần dần loại bỏ những giống thoái hóa.

Do biên độ sinh trưởng khá rộng, dừa có khả năng phát triển ở cả ba vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Riêng vùng nước lợ đã tỏ ra có ảnh hưởng tốt đến việc sinh trưởng của cây và hàm lượng dầu của quả.

Hiện nay, phần lớn các diện tích vườn dừa được cải tạo và trồng xen với các loại cây ăn quả, tạo cho vườn dừa có nhiều tầng sinh thái, cùng một lúa và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những vườn chỉ trồng chuyên một loại dừa. Đây cũng là kinh nghiệm của nhiều nước trồng dừa trên thế giới.

Đã ban hành
Du lịch lễ hội xứ dừaDu lịch lễ hội xứ dừa
“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.

Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông… Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Hội đình Phú Lễ

Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

 

Món ăn đạt giải trong "Liên hoan ẩm thực"

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)Huỳnh Tấn Phát (1913 – 1989)
 

Image
Huỳnh Tấn Phát (1913-1989)
    Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa tháng 8 –1945, phong trào học sinh sinh viên yêu nước rầm rộ từ Bắc chí Nam, Huỳnh Tấn Phát lúc bấy giờ là kiến trúc sư ra trường đã lâu, có văn phòng riêng, làm ăn phát đạt. Thế nhưng, chí hướng của người kiến trúc sư trẻ ấy không vì mục đích làm giàu, nên văn phòng ấy chính là nơi lui tới, hội họp sinh viên, trí thức yêu nước Sài Gòn. Trong Tổng hội Sinh viên Đông Dương (AGEI) vào những năm 40, trước CMT8 – 1945, tên tuổi của Huỳnh Tấn Phát nổi bật lên trong đám trí thức đàn anh. Tờ tuần báo Thanh niên (1944) do ông làm chủ nhiệm trở thành cơ quan ngôn luận của giới trí thức trẻ. Được kết nạp vào ĐCS tháng 3-1945, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sài Gòn và được cử làm Phó giám đốc Sở Thông tin báo chí của UBND Nam Bộ. Cũng từ đây, ông tạm giã từ chuyên môn, dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

   Khi quân Pháp chiếm lại Sài Gòn, ông bị chúng bắt và bị kết án tù hai năm. Ra tù, ông tiếp tục hoạt động ở nội thành đến năm 1949 mới ra chiến khu, và được cử làm ủy viên UBKCHC Nam Bộ, rồi ủy viên UBKCHC đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau hiệp định Genève 1954, ông được phân công hoạt động ở nội thành. Đầu năm 1959, ra vùng giải phóng, được cử làm ủy viên Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, phụ trách công tác vận động trí thức, tư sản và công tác Mặc trận. Cuối 1960, Đại hội MTDTGPMNVN cử làm Phó chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN. Tháng 6-1969, được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm Chủ tịch Chính phủ CMLTCHMNNVN.

   Năm 1975, sau ngày giải phóng, đã giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCHVN, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, VI, VII, VIII. Do công lao và thành tích đối với cách mạng, ông đã được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

   Trên đây là những nét lớn về tiểu sử cùng những hoạt động cách mạng của ông. Nhưng điều đáng nói hơn không phải là ở chỗ chức vụ, danh vọng, vị trí xã hội đã đạt được, mà là tấm lòng, nhân cách, đức độ, tác phong sống của một người trí thức chân chính. Người ta kính trọng ông, một kiến trúc sư, một trí thức lớn sẵn sàng vứt bỏ mọi vinh hoa, phú quý của xã hội thượng lưu, lao vào cuộc chiến đấu một mất một còn của nhân dân vì độc lập, tự do. Những người từng sống gắn bó với ông từ cán bộ cấp cao đến người bảo vệ, liên lạc, yêu quý, mến phục ông với cái tên thân thương Tám Chí. Nhà văn Thép Mới, trong bài viết sau khi ông qua đời, có nhận xét: "Phong thái anh không lẫn với ai khác được. Anh đã sống nhiều năm ở vùng Tam Giác Sắt không khác gì các chiến sĩ, đồng bào. Lính trẻ Củ Chi chịu anh tình thương lính tráng. Cô bác Phú Hòa Đông, Nhuận Đức quý anh như bạn, như người cao tuổi trong gia đình. Ai cũng trọng anh, nhưng không ai coi anh là nhân sĩ. Anh là người vận động cụ thể, tổ chức cụ thể, chăm lo thể hiện những chủ trương cụ thể về công tác Mặt trận và vận động trí thức ở thành. Anh đã là anh rồi, nên không nghĩ đến cá nhân nhiều… Cái cách anh quan hệ, ứng xử với các bạn trí thức, đến với cách mạng cũng có những nét riêng. Anh không hùng biện, không sắc cạnh, không bắt ai phục mình. Ánh sáng là ánh sáng chung của cuộc đời. Tự anh không phát sáng. Nhưng anh biết làm cho "than hồng nhen thành lửa ngọn". Anh thuyết phục họ bằng chính con người anh, một con người Sài Gòn, lẽ ra có thể sống ít nhiều vương giả lắm chứ, nếu muốn. Vậy mà, anh dấn thân vào trường kỳ kháng chiến, dấn thân đến cùng, sống cách mạng một cách chân thật, tự nhiên, trong trẻo". (Báo Nhân dân, số 14-10-1989). Còn giáo sư Nguyễn Văn Chí, một trí thức lớn của Sài Gòn, đã từng sống với anh ở khu, có nhận xét: "Huỳnh Tấn Phát sống ở rừng, làm cách mạng trông vẫn thanh niên như hồi cắm trại ở suối Lồ Ồ".

   Sinh năm 1913 trong một gia đình viên chức nhỏ ở xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Tấn Phát học ở Sài Gòn, rồi Hà Nội. Nhưng, nơi ông gắn bó sâu sắc và lâu dài nhất vẫn là thành phố Sài Gòn và vùng đất Nam Bộ. So với trí thức và nghệ sĩ đã đến với cách mạng và kháng chiến, cống hiến tài năng chuyên môn hay nghệ thuật, hoặc đánh giặc, Huỳnh Tấn Phát đã đóng góp bằng cách riêng của mình.

   Ông đã dành gần như trọn đời cho những hoạt động vận động quần chúng trực tiếp, làm công tác phong trào, từ khi chủ trương tờ Thanh niên cho đến cuối đời, làm Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông sống chân tình, cởi mở, bao dung, sẵn sàng chia sẻ, cảm thông với những khó khăn, trăn trở của từng người, dù người đó là nhân vật có tên tuổi, hay là người bảo vệ bình thường của cơ quan. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên mà Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc tặng ông Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết.

Đã ban hành
Nhà điêu khắc Diệp Minh ChâuNhà điêu khắc Diệp Minh Châu
 

Image
Nhà điêu khắc Diệp Minh Châu sinh năm 1919 tại làng Nhơn Thạnh, huyện Châu Thành, nay thuộc thị xã Bến Tre, trong một gia đình nông dân. Ngay ở bậc tiểu học, cậu học sinh Châu đã nổi tiếng vẽ giỏi. Ngồi trong lớp, nhiều lúc Châu mải mê vẽ, thậm chí bài giảng của thầy cũng được thể hiện thành những trang vẽ sinh động. Biệt danh “Châu vẽ” ra đời từ đấy. Năm 15 tuổi, thôi học, về nhà giúp cha làm ruộng, chăn vịt, nhưng niềm khao khát nghệ thuật vẫn luôn đốt cháy lòng anh. Anh gặp Hoàng Tuyển, tác giả của bức tranh Tứ thời mà anh đã có lần ngắm nhìn say mê từng nét vẽ, từng mảng màu, sau đó Hoàng Tuyển đã trở thành người anh, người thầy truyền cho anh lòng say mê nghệ thuật.

Năm 1940, ra Hà Nội, thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và điều bất ngờ là anh đã đỗ đầu kỳ thi tuyển năm ấy. Để có tiền ăn học, anh phải tiếp tục làm thêm nghề vẽ phông màn cho các gánh hát ở Hà Nội. Năm 1942, một số tranh chân dung của Diệp Minh Châu như Trăng thu, Nhớ mong, Hương sắc đã bắt đầu gây được sự chú ý của giới mỹ thuật thủ đô. Lúc bấy giờ, phong trào sinh viên yêu nước phát triển mạnh. Vừa sáng tác, vừa tham gia vào phong trào Truyền bá quốc ngữ, vẽ bìa cho các bản nhạc yêu nước của Lưu Hữu Phước, thiết kế mỹ thuật cho các đêm diễn của ban kịch Tổng hội sinh viên Hà Nội. Đầu năm 1945, học xong năm cuối Trường Cao đẳng Mỹ thuật, Diệp Minh Châu về lại quê nhà, tiếp tục vẽ chân dung, tổ chức triển lãm tranh tại Bến Tre và Mỹ Tho, lấy tiền giúp nạn đói ở Bắc Kỳ. Năm 1945, gia nhập vào phong trào Thanh niên tiền phong và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Bến Tre.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm trưởng ban trừ gian huyện Châu Thành, Bến Tre. Cuối năm 1946, về công tác ở khu 8. Là phóng viên mặt trận, Diệp Minh Châu có dịp đi theo những đơn vị Vệ quốc đoàn, đến nhiều nơi như Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc và vùng Đồng Tháp Mười. Cây cọ vẽ của ông lại có dịp ghi lại những cảnh lao động, sản xuất, bố phòng, hành quân: Phong cảnh Đồng Tháp Mười, Lớp học bình dân trong lán ven rừng, Qua rừng Lá, Du kích qua làng, Chiến sĩ rẽ lau v.v..

Trong những ký họa vẽ ngay trên trận địa còn vương khói súng, đáng chú nhất là bức Chiến sĩ Lê Hồng Sơn hy sinh lúc xung phong (1947) được ông vẽ ngay tại Vàm Nước Trong (Mỏ Cày) bằng chính máu của người chiến sĩ ấy. (Bức tranh hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam).

Năm 1949, Diệp Minh Châu được chuyển về công tác Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ do giáo sư Hoàng Xuân Nhị làm Giám đốc, đóng tại khu 9. Vào giữa năm 1950, có điện từ Trung ương gọi ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Chuyến đi dài hơn 8 tháng trời từ Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan rồi đi tàu vòng sang Trung Quốc để đến Việt Bắc. Tại đây, ông được may mắn sống gần Bác Hồ, ông nghiên cứu và vẽ về Bác từ nhiều góc độ khác nhau và gửi vào đó tất cả lòng kính yêu, trân trọng. Hàng loạt bức tranh ra đời như Bố cục nhà Bác trên đồi (lụa – 1951), Bác làm việc ở nhà sàn Việt Bắc (sơn dầu – 1951), Bác câu cá bên bờ suối (sơn dầu – 1951), Ánh nắng trưa trước sân nhà Bác (sơn dầu – 1951).

Trong một đêm tháng 5-1951, nhân lúc rảnh rỗi, ông ngỏ ý xin Bác ra nước ngoài học nghề tạc tượng để sau này về phục vụ nhân dân. Nguyện vọng đó đã được thỏa mãn. Ông được gởi sang học ngành điêu khắc ở Viện Hàn lâm Mỹ thuật Tiệp Khắc. Trước khi về nước, ông còn đến nghiên cứu về nghệ thuật tượng đài ở Liên Xô và Ấn Độ trong nhiều tháng.

Dù sống, làm việc ở nước ngoài hay ở miền Bắc, tâm hồn ông luôn hướng về quê hương miền Nam thân yêu. Hàng loạt tranh, tượng phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường bất khuất của quê hương như: Võ Thị Sáu trước quân thù, Lòng người miền Nam, Căm thù Phú Lợi, Miền Nam bất khuất, Miền Nam thành đồng, Người mẹ Việt Nam v.v...

Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Diệp Minh Châu trở về thành phố mang tên Bác. Mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài sáng tạo và dành thì giờ đào tạo, dìu dắt một số nghệ sĩ trẻ. Chỉ riêng về đề tài Bác Hồ, đã có hàng chục bức tranh và hơn 30 bức tượng. Nhiều tranh, tượng về Bác được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Khởi đầu con đường nghệ thuật phục vụ cách mạng, Diệp Minh Châu đã vẽ bức tranh Bác Hồ và 3 cháu nhi đồng Bắc – Trung – Nam bằng máu của mình trích ra trên vải với lời ghi chú "Kính gửi cha già Hồ Chí Minh" tại Giồng Dứa (Đồng Tháp Mười). Hơn 40 năm sau, vào giai đoạn cuối đời, ông lại dồn tâm lực để hoàn thành tượng đài lãnh tụ kính yêu của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, bằng đồng đặt trước trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh.

Diệp Minh Châu là một khuôn mặt lớn của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam, nhiều tác phẩm của ông đã được lưu giữ ở các bảo tàng cấp quốc gia trong nước và một số ở bảo tàng thế giới như Tiệp Khắc, Liên Xô, Ấn Độ. Tên tuổi của Diệp Minh Châu cũng đã được giới thiệu trong Bách khoa toàn thư của châu Âu.

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
 

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Cự ly các điểm đến tại huyện Ba TriCự ly các điểm đến tại huyện Ba Tri
Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

 

Lễ hội truyền thống văn hóa tại di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu - Ba Tri

- Từ Thành phố Hồ Chí Minh đến trung tâm thành phố Bến Tre: 86 km.

- Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Ba Tri: 36 km.

- Từ trung tâm huyện Ba Tri đến các điểm trên địa bàn huyện như sau:

  • Khu di tích lịch sử Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức (01 km);

  • Di tích nghệ thuật Đình Phú Lễ, xã Phú Lễ (04 km);

  • Di tích mộ Võ Trường Toản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba Cây Da Đôi, xã Tân Xuân (12 km);

  • Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng, xã An Hiệp (03 km);

  • Miếu thờ cụ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh (08 km);

  • Khu mộ và đền thờ tiến sĩ Phan Thanh Giản, xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề đan đát Phước Tuy, xã Phước Tuy (06 km);

  • Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Phú Lễ, xã Phú Lễ (sản xuất mây tre đan và sản xuất rượu nếp) (04km);

  • Làng nghề "Bánh phồng Phú Ngãi", xã Phú Ngãi (08 km);

  • Làng nghề "Muối Bảo Thạnh", xã Bảo Thạnh (12 km);

  • Làng nghề "Cá khô An Thủy", xã An Thủy (09 km);

  • Sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ (15 km);

  • Nhà thờ Cái Bông, xã An Phú Trung (03 km).

  • Các điểm đến trên, phương tiện xe 50 chỗ đến được. Riêng sân chim Vàm Hồ, xã Tân Mỹ đi được cả đường bộ và đường thủy.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Bình ĐạiBình Đại
 

Quận thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm trên cù lao An Hóa được tách ra, sáp nhập vào tỉnh Kiến Hòa (đổi tên từ tỉnh Bến Tre) theo Sắc lệnh số 143-NV của Tổng thống VNCH ngày 22-10-1956.

 Huyện Bình Đại

Huyện nằm trên cù lao An Hóa, cù lao này trước thuộc về tỉnh Mỹ Tho, năm 1948 sáp nhập tỉnh Bến Tre. Trong lịch sử tồn tại, đã có nhiều lần chia, tách, nhập, thay đổi tên gọi rất phức tạp.

Sau 30-4-1975 theo chủ trương chung về việc điều chỉnh địa giới một số đơn vị hành chính, huyện Bình Đại có diện tích tự nhiên 40.059ha, phía bắc giáp huyện Châu Thành, phía tây và nam giáp huyện Giồng Trôm và Ba Tri, phía đông giáp biển. Huyện Bình Đại có 19 xã và 1 thị trấn.

Thị trấn Bình Đại

Thị trấn được thành lập theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 141/CP ngày 3-4-1979, chia thị trấn Bình Đại thành 2 đơn vị lấy tên là xã Bình Thắng và thị trấn Bình Đại.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer