Bỏ qua Lệnh Ruy-băng
Bỏ qua nội dung chính

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Cự ly các điểm đến tham quan đất biển Bình ĐạiCự ly các điểm đến tham quan đất biển Bình Đại
Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, so với các huyện khác trong tỉnh Bình Đại nằm lẻ loi trên một dãy cù lao và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến như các huyện khác của Bến Tre.

Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, so với các huyện khác trong tỉnh Bình Đại nằm lẻ loi trên một dãy cù lao và ở vị trí bốn bên là sông, biển bao bọc. Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy cả giao thông bộ. Về du lịch, Bình Đại chưa có nhiều điểm đến như các huyện khác của Bến Tre.

 

Lễ hội Nghinh Ông - huyện Bình Đại - Bến Tre

- Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Bình Đại 51 km đường bộ.

* Trên đường đi đến trung tâm huyện Bình Đại, dừng chân tại xã Châu Hưng, khoảng 32 km đường bộ tham quan di tích lịch sử Đình Tân Hưng và đền thờ Huỳnh Tấn Phát (xe dưới 16 chỗ vào được đến nơi). Xe 30 - 50 đậu gần UBND xã Châu Hưng (nằm trên đường tỉnh 883) và đi bộ theo hướng phải khoảng 2 km là đến nơi.

  • Khám phá kiến trúc chùa phật trên đất biển Bình Đại như:

  • Chùa Liên Hoa, ấp Vinh Châu, xã Vang Quới Tây 38 km (xe 16 chỗ đến tận nơi);

  • Chùa Vạn Phước, thị trấn Bình Đại 52 km (xe 50 chỗ đến tận nơi).

  • Công trình "Cống đập Ba Lai" tại xã Thạnh Trị và một phần của xã Bình Thới, là hệ thống thuỷ lợi có các công trình lớn đồng bộ, khép kín. Từ thành phố Bến Tre đến công trình này tại xã Thạnh Trị khoảng 59 km đường bộ và từ trung tâm huyện Bình Đại đến đây khoảng 08 km. Hay đi bằng đường bộ từ thành phố Bến Tre đến xã Tân Xuân (Ba Tri) cũng rất thuận tiện. Xe 30 - 50 chỗ đến được nơi đây.

  • Tham quan mô hình nuôi cá xấu, cá lóc bông, heo rừng, vườn cây ăn trái trồng xen cây cảnh ven sông Ba Lai tại xã Thạnh Trị, khoảng 60 km đường bộ (nằm cách công trình cống đập Ba Lai khoảng 01 km). Xe 30 chỗ đến được tại điểm này.

  • Tham quan Lễ hội nghinh Ông (16/6 âl) hàng năm tại xã Bình Thắng và cảng cá Bình Đại khoảng 51 km đường bộ.

  • Khám phá biển Thừa Đức và thưởng thức các món ăn đặc sản biển như: Cá, mực, tôm, cua, nghêu, sò... và độc đáo là món bánh xèo xứ biển (khoảng 67 km đường bộ). Xe 30 chỗ đến được bãi biển này.

161007_32.jpg 

Du khách tham quan chùa Vạn Phước – Bình Đại

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Trong thuỷ văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre, cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Bình ĐạiBình Đại
 

Quận thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm trên cù lao An Hóa được tách ra, sáp nhập vào tỉnh Kiến Hòa (đổi tên từ tỉnh Bến Tre) theo Sắc lệnh số 143-NV của Tổng thống VNCH ngày 22-10-1956.

 Huyện Bình Đại

Huyện nằm trên cù lao An Hóa, cù lao này trước thuộc về tỉnh Mỹ Tho, năm 1948 sáp nhập tỉnh Bến Tre. Trong lịch sử tồn tại, đã có nhiều lần chia, tách, nhập, thay đổi tên gọi rất phức tạp.

Sau 30-4-1975 theo chủ trương chung về việc điều chỉnh địa giới một số đơn vị hành chính, huyện Bình Đại có diện tích tự nhiên 40.059ha, phía bắc giáp huyện Châu Thành, phía tây và nam giáp huyện Giồng Trôm và Ba Tri, phía đông giáp biển. Huyện Bình Đại có 19 xã và 1 thị trấn.

Thị trấn Bình Đại

Thị trấn được thành lập theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 141/CP ngày 3-4-1979, chia thị trấn Bình Đại thành 2 đơn vị lấy tên là xã Bình Thắng và thị trấn Bình Đại.

Đã ban hành
Về xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếngVề xứ dừa - Đến làng nghề khám phá các đặc sản nổi tiếng
Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Từ xưa đến nay Bến Tre như là địa điểm quen thuộc của những ai đã từng đặt chân đến đây. Bởi cái vị mộc mạc, chân tình của người dân “xứ dừa” đã làm nên mối dây liên kết không thể tách rời giữa người bản địa và du khách. Cứ mỗi lần về xứ dừa, du khách sẽ được tận mắt cảm nhận những “cái nhất” được truyền từ đời nay sang đời khác, mà đến nay người dân Bến Tre vẫn còn lưu giữ và gần như đã trở thành món ăn tinh thần, rồi trở thành “làng nghề” tự lúc nào mà chẳng ai nhớ rõ thời điểm sự ra đời của nó.

Làng nghề truyền thống ở Bến Tre ra đời gắn liền với thời gian, tồn tại và phát triển đã tạo nên sự giao thoa mãnh liệt giữa quá khứ - hiện tại. Qua đó, thúc đẩy một diện mạo mới cho những người có tâm huyết với nghề, đặc biệt là những nghề truyền thống đã góp phần làm nên những sản phẩm nổi tiếng của địa phương. Các làng nghề được phân bố đều tại các huyện, thành phố Bến Tre dựa trên những đặc điểm vốn có của từng địa phương, được nhân rộng ra, nhưng vẫn giữ được nét nguyên thủy ban đầu vốn có của nó.

Hiện nay, du khách đến Bến Tre có thể tham quan khám phá một số làng nghề tiêu biểu như:

Làng nghề sản xuất kẹo dừa Bến Tre

Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản nổi tiếng của cả nước. Nó là một nghề thủ công truyền thống mang đậm nét văn hóa của xứ sở dừa. Không đơn thuần mà khi nhắc đến Bến Tre du khách không thể nào quên được “kẹo dừa” vừa ngon, vừa béo, vừa thơm, mà đi đâu ai cũng nhắc đến và cũng không nơi nào làm giống được. Kẹo dừa có nguồn gốc từ Mỏ Cày, vì thế mà ca dao Bến Tre đã lưu truyền:

“Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo vừa ngoan...”

Ngày xưa, người Bến Tre làm kẹo dừa để ăn trong gia đình hay để biếu bè bạn, người thân trong những dịp lễ, tết. Sau đó, nghệ thuật làm kẹo dừa đã không ngừng được cải tiến và đã trở thành một sản phẩm truyền thống đặc biệt của Bến Tre. Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái "rám vàng" mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi. Ngày nay, người Bến Tre đã cải tiến làm thêm nhiều loại kẹo dừa có kết hợp với các nguyên liệu khác làm cho kẹo dừa Bến Tre ngày càng phong phú và ngon hơn như: cho thêm hương vị sầu riêng, đậu phộng, thậm chí cả ca cao vào kẹo. Đây là hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật ẩm thực rất sáng tạo của người Bến Tre, để đáp ứng sở thích của nhiều đối tượng khách hàng, để có thể mở rộng thị trường.

Sau này do nhu cầu và điều kiện phát triển kinh tế, việc sản xuất kẹo dừa đã được mở rộng ra ngoài huyện Mỏ Cày và hình thành nên làng nghề sản xuất kẹo dừa ở phường 7 – thành phố Bến Tre. Đây là điểm đến cho du khách tham quan, khám phá, trải nghiệm.

 

Làng nghề sản xuất kẹo dừa

Từ vòng xoay Tân Thành, du khách đi thẳng theo Đại lộ  Đồng Khởi để vào trung tâm thành phố Bến Tre. Đến vòng xoay chợ  Bến Tre du khách rẽ phải qua đường Cách mạng Tháng Tám, sau đó đến vòng xoay chợ ngã năm, đi theo đường Nguyễn Văn Tư đến  phường 7 tham quan làng nghề làm kẹo dừa. Ngoài ra, nếu du khách không vào trung tâm thì rẽ vào đường tránh QL 60, ngay vòng xoay cầu Hàm Luông, hướng lên cầu Bến Tre 2 - đến vòng xoay Bình Phú, du khách rẽ phải là đến trung tâm làng nghề “Kẹo dừa Bến Tre”.

Có thể nói kẹo dừa luôn gắn bó với cuộc hành trình khám phá văn hóa, ẩm thực, du lịch ở vùng đất xứ dừa. Vì thế, mà khi du khách đến Bến Tre hình như ai cũng tìm mua kẹo dừa về làm quà cho gia đình, người thân, bè bạn.

Tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành, thành phố Bến Tre, có tổ chức các điểm sản xuất kẹo dừa truyền thống, để du khách tận mắt chứng kiến, cũng như trực tiếp tham gia vào quy trình làm ra sản phẩm kẹo dừa. Qua đó, du khách trải nghiệm và cảm nhận những tâm tư, tình cảm của người dân vùng sông nước xứ dừa.

Làng nghề sản xuất “Bánh tráng Mỹ Lồng”- “Bánh Phồng  Sơn Đốc” và “Bánh phồng Phú Ngãi”

 

Từ thành phố Bến Tre du khách theo đường tỉnh 885 khoảng 7km là tới làng nghề làm “bánh tráng Mỹ Lồng”. Làng nghề này, nằm ở xã Mỹ Thạnh –Giồng Trôm, sản phẩm rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Có thể nói, đây là sản phẩm có tiếng cả trong lẫn ngoài tỉnh. “Bánh tráng Mỹ Lồng” có nhiều hương vị khác nhau, để du khách có thể lựa chọn như: Bánh tráng béo nước cốt dừa (loại ngọt, mặn); bánh tráng béo dừa có thêm sữa; trứng gà hay bánh tráng sữa không dừa. Tuy nhiên, loại bánh tráng ngon nhất, được ưa chuộng nhất vẫn là bánh có dừa (loại này vừa béo, vừa xốp). Khi đặt bánh lên lò lửa than nướng, bánh vừa vàng tới đã tỏa mùi hương thơm béo béo, rất hấp dẫn.

Trải qua bao thăng trầm, tâm huyết nghề truyền thống, kết hợp với sự khéo léo từ những bàn tay của người thợ ngày nay ở làng nghề đã sáng tạo thêm  loại bánh tráng nem (hay còn gọi bánh tráng cuốn), vừa mỏng, vừa dai, vừa tay cuốn. Loại bánh tráng nem này, hiện có mặt ở rất nhiều nhà hàng sang trọng chốn thị thành.

Từ điểm làng nghề “Bánh tráng Mỹ Lồng”, du khách tiếp tục đi theo tuyến đường này khoảng 15km. Đến ngã ba Sơn Đốc, có bày bán thật nhiều dừa xiêm và bánh phồng nếp, rẽ phải gần 1km du khách đến làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”. Làng nghề này, nằm tại chợ Sơn Đốc, thuộc xã Hưng Nhượng – huyện Giồng Trôm, chợ tuy nhỏ nhưng khang trang nằm lọt thỏm giữa rừng dừa xanh mát và những ngôi nhà tường mới xây lợp mái ngói, đã chứng tỏ sự hưng thịnh của làng nghề “Bánh phồng Sơn Ðốc”.

Là vùng làm bánh có tiếng từ lâu và nhờ có tiếng tăm như thế, nên bánh phồng được lấy tên bởi chính địa danh nơi làm bánh. Theo người làm bánh, thì bánh phồng làm công phu hơn bánh tráng. Nguyên liệu làm từ nếp nhưng phải nấu thành xôi, cho vào cối "quết" nhuyễn cùng với các phụ liệu khác; rồi mới bắt bột vo tròn lại, cán mỏng đem phơi. Cũng như bánh tráng, phơi bánh phồng là một kỳ công, nắng vừa phải, nếu nắng quá bánh sẽ chai, gặp mưa xuống bánh bị hư. Vào làng nghề quết bánh phồng mỗi sáng, du khách nhìn thấy và sẽ nghe tiếng chày thậm thịch, rộn rã khác thường. Bình thường mỗi lò quết khoảng 30 – 40 lít nếp mỗi ngày. Cao điểm nhất là vào dịp Tết, có khi đến 200 lít.

Ở xã Phú Ngãi - Ba Tri cũng có một làng nghề làm bánh phồng rất có tiếng. Nếu du khách muốn tham quan, cũng tuyến đường tỉnh 885 này đến thẳng thị trấn Ba Tri. Sau đó tiếp tục đi khoảng 7 km nữa là đến làng nghề “Bánh phồng Phú Ngãi”. Mặc dù cũng làm bánh phồng như làng nghề ở Sơn Đốc, nhưng với bí quyết riêng nên bánh ở đây cũng ngon không kém gì nơi khác.

Theo truyền thống của người dân xứ dừa, khi thưởng thức được chiếc bánh tráng, bánh phồng, đều phải dùng lửa than để nướng. Người ta dùng vỏ dừa khô hoặc gáo dừa đốt thành than đỏ rực, rồi để bánh lên cập nướng. Bánh nướng phải trở qua, trở lại, liên tục thì bánh mới nở bung ra, vàng đều, ăn mới giòn và ngon. Mỗi khi tết đến, tiết trời se se lạnh, nhất là vào buổi sáng và tối, hình như gia đình nào ở làng quê xứ dừa cũng chuẩn bị cho nhà mình vài chục bánh tráng, vài chục bánh phồng. Rồi mọi người đều thích quây quần bên bếp lửa đỏ để nướng bánh, để thưởng thức, để được sưởi ấm. Rộn rã, lộn xộn nhất là sự chen chút dành chổ ngồi quanh bếp lửa vẫn là các cháu nhỏ tuổi bí bô, tuổi cấp sách đến trường, để được ông, Bà hay cha, mẹ, anh, chị cho những miếng bánh vừa mới nướng xong. Nhìn những gương mặt ngồi quanh bếp lửa, xem nướng bánh, hình như ai cũng có đôi gò má ửng hồng hây hây rất đáng yêu.

Ngày nay, do sự hối hả, tất bật của cuộc sống, do nhu cầu thưởng thức bánh ngày càng nhiều, nên người dân xứ dừa đã làm lò nướng được một lúc với số lượng rất nhiều bánh. Du khách có thể bắt gặp và dễ dàng mua các loại bánh tráng, bánh phồng nướng sẵn rất xốp, giòn, rất thơm ngon tại các điểm nằm dọc trên đường đến làng nghề nầy. Nếu du khách mua bánh mang về thì có thể nướng được trên bếp gas hay lò nướng bằng điện hoặc có thể cắt nhỏ ra dùng dầu, mỡ chiên như bánh phồng tôm.

Có thể nói, nghề quết bánh phồng rất kỳ công, vất vả hơn so với nghề làm bánh tráng, ngay cả từ khâu nguyên liệu đến các công đoạn để làm ra sản phẩm.

Để trải nghiệm quy trình làm nên sản phẩm bánh tráng, bánh phồng, tại các điểm du lịch sinh thái Châu Thành có tổ chức các điểm làm bánh tráng, bánh phồng truyền thống, để du khách có thể tham quan và trực tiếp tham gia làm bánh.

Làng nghề sản xuất rượu nếp Phú Lễ

Ở Đồng bằng Sông Cửu long giới “ẩm giả” sành điệu xưa nay vẫn xếp rượu Phú Lễ (Bến Tre) vào hàng “danh tửu” cùng với rượu Gò Đen (Long An), Xuân Thạnh (Trà Vinh). Làng nghề nấu rượu đế này đã tồn tại rất lâu đời tại xã Phú Lễ - Ba Tri. Rượu Phú Lễ được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và biết đến bởi sản phẩm rất thơm ngon, tinh khiết, chất lượng ổn định, không gây độc hại và hợp khẩu vị của người tiêu dùng.

“Rượu Phú Lễ” không biết có tự bao đời, chỉ biết tư liệu sách sử ghi lại vào năm 1851 Đình Phú Lễ tại làng Phú Lễ - Ba Tri được vua Tự Đức sắc phong, trong nghi thức đón nhận sắc phong “Rượu Lễ” đóng vai trò quan trọng. Nguyên liệu dùng để nấu rượu này là loại nếp mùa dài ngày ngon nhất, được đích thân trưởng lão trong làng chọn  36 vị thuốc theo liều lượng thích hợp, các vị thuốc đó là: trần bì, quế khâu, đinh hương, tất phát, đại hồi, sa nhân, tiểu hồi, lương cương, càng cương, bạch khấu, ngọc khấu, mai hoàng, hậu phát, thảo quả, quế chi, trạch lan, xích thước, hồng hoa, linh cừ, mật nang, tạo giác, cam thảo, son tàu, cam thảo nam, thiên niên kiện, cát cánh, bồ kết, hương truật, nhãn lòng, trầu lương, rau răm, lá nhãn, ngũ vị, tai vị, tiêu sọ, mồng tưới. Các vị thuốc này được xay nhuyễn, trộn bột gạo lứt, nhồi chung với cám, vo thành viên rồi phơi khô tạo thành một loại men đặc biệt gọi là hồ men.

Cũng từ tư liệu sách sử ghi lại và lưu truyền qua lời kể của các hộ dân có truyền thống nấu rượu lâu đời nơi đây, thì qui trình làm rượu Phú Lễ rất công phu. Nếp nấu chín rồi rắc trộn với men này, cho vào tĩnh ủ kín. Sau 07 ngày - 07 đêm mới đưa vào diệm kháp. Lửa đun phải dùng chính vỏ trấu của nếp mùa, ngọn lửa phải đằm không lớn, không nhỏ thì rượu mới không bị đắng không bị “thét”. Rượu ra lò chưa dùng ngay mà phải hạ thổ (chôn xuống đất) 100 ngày, để hấp thụ âm dương của trời đất cho rượu thật “nhuần”. Đến ngày khai rượu, Trưởng Lão chay tịnh sạch sẽ, lấy rượu hạ thổ đặt vào nơi trang trọng nhất. Nhờ vậy mà rượu Phú Lễ có được hương vị thật thanh tao, diễm tuyệt. Rượu Lễ này được chuyển về kinh dâng Vua, được ngài khen tặng và đặt tên rượu theo tên làng là “Rượu Phú Lễ”.

Trải qua bao thăng trầm, vượt qua bao thử thách, bền bỉ tạo dựng, rượu Phú Lễ vẫn được người dân Phú Lễ làm công phu như thế, để giữ bằng được chất lượng của loại rượu danh tiếng này. Vì thế, mà hương vị rượu Phú Lễ ngày càng thanh tao diễm tuyệt hơn. Điểm đặc biệt nhất trong quy trình kháp rượu Phú Lễ người dân sử dụng cùng lúc hai loại men để lên cơm da. Loại thứ nhất (men Phú Lễ) làm từ gạo lức và một số vị thuốc bắc để lên cơm da. Loại thứ hai (hồ men Phú Lễ) cũng từ gạo lức và có đến 36 vị thuốc dùng để tạo hương vị đặc trưng riêng cho rượu. Như vậy, nghề nấu rượu đế ở xã Phú Lễ đã có từ lâu đời và đã trở thành một làng nghề truyền thống của địa phương.

Đến Bến Tre, khám phá và trải nghiệm tại các làng nghề truyền thống làm nên những đặc sản nổi tiếng của Bến Tre; đón nhận những tình cảm mến khách và nét đôn hậu, mộc mạc của đất và người dân vùng sông nước xứ dừa. Du khách sẽ rất thú vị không thể nào quên và rồi du khách sẽ trở lại tiếp tục khám phá các làng nghề khác nơi đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Tôn giáoTôn giáo
​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

​Tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung, từ lâu là địa bàn cư trú của nhiều tộc người, đông nhất là người Việt, rồi đến người Khmer, người Hoa, người Chăm... Trong quá trình cộng cư đã diễn ra mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân nói trên khá đậm nét, mà rõ nhất là trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Đạo Nho ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của người dân vùng ba cù lao này từ nửa đầu thế kỷ XX về trước, nhưng xét về mặt hành đạo cũng như hệ thống giáo quyền, đạo Nho hoàn toàn không giống như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa. Đây là đạo thờ ông bà, một thứ tín ngưỡng đã có gốc rễ sâu sắc trong quảng đại quần chúng từ xa xưa, vừa mang ý nghĩa luân lý, vừa là sự biểu rõ tình cảm về huyết thống được thể hiện trong môi trường gia đình, gia tộc, không mang tính chất thần thánh hóa, không có giáo điều, giáo lý, cũng không có giáo chủ, không cần người thuyết giảng để làm cái gạch nối giữa đạo và đời. Từ “đạo” ở đây theo cách hiểu của dân gian là một tập tục hàm chứa lòng biết ơn, nghĩa sinh thành, lòng hiếu thảo với ông bà, tổ tiên, sự ý thức về nguồn gốc của mình.

Ngoài những tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống mang theo từ mảnh đất cội nguồn, những lưu dân người Việt trên bước đường di chuyển và định cư ở vùng đất mới, đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các cư dân bản địa. Hầu như các tôn giáo phổ biến ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có mặt ở Bến Tre từ đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, đạo Dừa... xét về mặt ảnh hưởng cũng như số lượng tín đồ, thì đáng chú ý nhất là 3 tôn giáo lớn: đạo Phật, đạo Thiên Chúa và đạo Cao Đài.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiênCuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đầu tiên
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng.

Đầu tháng 2-1859, sau khi kế hoạch đánh mau thắng mau bị chặn lại ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định. Sáng ngày 17-2-1859, sau khi bắn phá 12 đồn dọc hai bờ sông và 3 cảng trên sông Sài Gòn, quân xâm lược Pháp công hãm thành Gia Định. Đến 10 giờ cùng ngày thì chúng chiếm được thành.

Cuộc tiến công xâm lược của thực dân Pháp vào Gia Định lần này chỉ vấp phải sự chống trả yếu ớt của quân đội triều đình, một lực lượng vốn nhỏ bé lại thiếu phòng bị. Trong khi đó, ngay từ đầu, khi quân giặc từ Vũng Tàu tiến vào bắn phá pháo đài Phước Thắng ở núi lớn (Gành Rái), nhân dân Lục tỉnh đã phất cao cờ chống giặc, chủ động tổ chức thành những đạo quân “ứng nghĩa” tiếp sức cho quân đội triều đình và các toán dân dũng tự phòng vệ các thôn xã. Khi được tin quân Pháp đánh vào Gia Định, Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, quê xã Mỹ Thạnh (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) đã mang quân tiếp cứu, nhưng chưa đến nơi thì đồn đã mất. Ông tập hợp quân sĩ cùng quân nghĩa dũng các vùng phụ cận củng cố, giữ đồn Cây Mai.

Sau khi thành Gia Định bị chiếm, nhân dân quanh vùng liên tục bao vây chặn đánh, khiến địch chiếm được thành mà không đánh bung ra được, lại luôn luôn bị tập kích bất ngờ. Đêm nào quân giặc đóng trong thành cũng bị những toán dân dũng đột kích.

Nhận thấy không thể nuốt ngay được Lục tỉnh, giặc Pháp chuyển hướng tấn công ra Đà Nẵng, sau khi đã đốt thành Gia Định. Nhưng ở Đà Nẵng, chúng lại nếm mùi thất bại, nên đầu năm 1860, chúng lại tập trung quân kéo vào đánh Gia Định lần thứ hai. Lần này chúng ra sức mở thêm phạm vi chiếm đóng quanh thành Gia Định, chủ yếu là chiếm Chợ Lớn - trung tâm thương mại của Nam Kỳ - nhằm tính kế lâu dài "chinh phục bằng những gói nhỏ" (1).

Đứng trước âm mưu mới của giặc, những thống đốc đại thần, tham tán quân vụ, đô đốc, lãnh binh của triều đình Huế, theo lệnh Tự Đức đã án binh bất động (2). Trong khi đó nhân dân Lục tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre một lòng quyết đánh đuổi cho bằng được bọn xâm lược. Các đạo quân ứng nghĩa, các toán dân dũng tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi.

Ngày 1-4-1861, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến về tỉnh thành Mỹ Tho. Chúng đã vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của các toán dân dũng phục kích hai bên bờ sông và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề (3). Mặc dầu vậy, do sự chống cự yếu ớt với tinh thần thất bại chủ nghĩa của quân đội triều đình, giặc Pháp đã chiếm được tỉnh thành Định Tường ngày 15-4-1861. Lãnh phủ Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy quân triều đình đã bỏ thành, rút chạy.

Sau khi Định Tường thất thủ, một phong trào võ trang chống Pháp lan ra nhanh chóng trên toàn bộ vùng đất bị giặc chiếm dưới hình thức các đơn vị nghĩa quân, trong đó hoạt động mạnh nhất là đơn vị nghĩa quân của Trương Định, gồm hơn 6.000 người, đóng căn cứ ở Tân Hòa (Gò Công).

Có thể nói rằng từ sông Bến Nghé đến sông Tiền, nhân dân nhất tề nổi dậy, từ người nho sĩ, người chủ điền tới người thợ thủ công, nông dân, tất cả đều hăng hái chống giặc, kẻ theo địch chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Riêng Bến Tre (4), tuy lúc này vẫn là vùng tự do, nhưng nhân dân ở đây cũng không đứng ngoài cuộc chống giặc cứu nước. Trái lại, họ đã nô nức đóng góp tiền gạo, rèn đúc vũ khí, ủng hộ nghĩa quân. Những người trai tráng thì hăng hái xung phong, vượt sông tham gia vào các đội nghĩa quân.

Sức mạnh của phong trào kháng chiến của nhân dân ở đây, ngay chính giặc Pháp cũng phải thừa nhận: “Những cuộc thất bại của quân đội An Nam (tức quân đội triều đình – BS) không có ảnh hưởng nào đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã được chiếm đóng (5). “Họ (chỉ các toán nghĩa quân – BS) xuất hiện bất kỳ, đông đảo, đánh phá rồi lại rút đi đâu mất. Cuộc chiến tranh phòng vệ thật là bất lợi đối với chiến thuật này" (6).

Tuy phải chuốc lấy những tổn thất nặng nề trước sự chống trả mạnh mẽ của nhân dân ta, nhưng giặc Pháp vẫn không từ bỏ kế hoạch tiếp tục đánh chiếm các vùng đất còn lại. Vì vậy, sau khi được tăng viện và tổ chức thêm lực lượng ngụy binh, ngày 7-1-1862, chúng đánh chiếm thành Biên Hòa, tiếp đó ngày 23-3-1862, đánh chiếm luôn thành Vĩnh Long (lần thứ nhất).

Thành Biên Hòa và thành Vĩnh Long thất thủ, nhưng phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục bùng lên sôi nổi. Nghĩa quân hoạt động mạnh ở khắp nơi, đẩy giặc vào tình thế vô cùng khốn đốn. Chiến công này có sự đóng góp của nhân dân ba dải cù lao An Hóa, Minh và Bảo. Họ tiếp tục chi viện sức người, sức của cho các toán nghĩa quân trong vùng địch chiếm đóng, nhất là ở khu vực quanh thành Vĩnh Long. Tổng đốc Trương Văn Uyên sau khi rút khỏi thành Vĩnh Long, đã chạy qua huyện Duy Minh (Mỏ Cày ngày nay), nơi đây ông được dân chúng nhiệt tình ủng hộ.

Giữa lúc quân xâm lược đang khốn đốn, thì triều đình nhà Nguyễn vẫn đi theo đường lối cầu hòa, bỏ rơi nhân dân ứng nghĩa. Ngày 5-6-1862, hòa ước nhượng đứt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông được ký kết giữa phái đoàn triều đình Huế và đại diện Pháp tại Sài Gòn.

Triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc, nhưng nhân dân thì hành động theo cách nghĩ của họ. Ngay sau khi hòa ước được ký kết, một phong trào chống Pháp lại lan rộng dưới nhiều hình thức. Cuộc đấu tranh võ trang tiêu biểu là hoạt động của nghĩa quân Trương Định, trong đó có sự góp phần của nhân dân huyện Kiến Hòa (Bình Đại) (7) , phủ Hoằng Trị (Bến Tre), làm cho giặc Pháp cảm thấy rất lúng túng. Trong lá thư đề ngày 21-10-1862 gửi cho Bộ trưởng hải quân Pháp Chasseloup Laubat, Đô đốc Bonard, Tổng chỉ huy đạo quân xâm lược, than thở rằng y đã gặp phải một thuộc địa khó trị nhất, nơi tất cả phải bắt đầu từ đầu, giữa những lúc bế tắc của chiến tranh và những phức tạp của ngoại giao (8).

Cùng với cuộc đấu tranh võ trang, một phong trào "bất hợp tác", không chịu chung sống với giặc, đựơc gọi là "tị địa” đã thu hút nhiều nhân sĩ, nhà nho yêu nước và đông đảo nhân dân của 3 tỉnh bị chiếm. Những người này kiên quyết rời bỏ vùng đất đã bị giặc chiếm để chuyển sang Vĩnh Long, hoặc ra Bình Thuận. Đó là một biểu hiện mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, căm thù giặc của nhân dân. Tiêu biểu cho phong trào này là thầy đồ Nguyễn Đình Chiểu. Khi thành Gia Định thất thủ (17-2-1859), Nguyễn Đình Chiểu bỏ Gia Định chạy về Cần Giuộc. Đến khi Cần Giuộc bị chiếm, Nguyễn Đình Chiểu lại một lần nữa rời nơi đây, về Ba Tri (Bến Tre) với ý thức quyết không sống chung với quân thù.

Với phong trào "tị địa”, sau khi 3 tỉnh miền Đông lọt trọn vào tay quân Pháp, Bến Tre cùng với các tỉnh miền Tây còn lại trở thành nơi tụ họp, gặp gỡ của các nhà yêu nước cùng nhau mưu đồ việc lớn, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước, quê hương.

Cuộc đấu tranh võ trang và phong trào "tị địa" của nhân dân 3 tỉnh , trong đó có sự đóng góp của nhân dân Bến Tre, đã gây cho giặc Pháp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập trật tự và nền cai trị của chúng ở vùng đất mới chiếm. Chính Paulin Vial, một viên tham biện Pháp đã tự thú nhận nỗi lo sợ của chúng trước phong trào chống giặc cứu nước của nhân dân lục tỉnh. Y viết: "Chính lúc Đô đốc (chỉ Bonard) tưởng đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu một cách thắng lợi, lại là lúc vấp phải một cuộc kháng chiến và có lẽ đáng sợ hơn là một cuộc chiến tranh chống lại quân đội chính quy của nhà nước" (9). Bản thân L. Bonard, trong một báo cáo gửi về Pháp, đã nhận xét: "Cuộc khởi nghĩa là thường trực, nơi nào đó cũng bị chặn lại, nhưng không nơi nào khởi nghĩa bị đánh tan, vì ta không có đủ phương tiện" (10) .

Trong cuộc đấu tranh một mất một còn với địch vào những năm sau ngày ba tỉnh miền Đông vừa mới mất vào tay giặc Pháp, người dân Bến Tre rất tự hào về những người con ưu tú của mình, mà tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Thăng, Nguyễn Đình Chiểu.

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, người đã từng đem binh cứu viện thành Gia Định nhưng không kịp, bèn lui về tổ chức phòng thủ đồn Cây Mai. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (25-2-1861), ông rút về Gò Công, tập hợp, xây dựng lực lượng, tiếp tục chống Pháp trong hàng ngũ nghĩa quân Trương Định. Sau hơn 5 năm trời vào sinh ra tử, cuối cùng ông đã anh dũng hi sinh ngày 27-6-1866 trong một cuộc chiến đấu không cân sức với giặc Pháp ở vùng Gia Thuận (Gò Công).

Còn Nguyễn Đình Chiểu, thì sau khi Cần Giuộc bị chiếm (14-12-1861) ông đã rút về Ba Tri (Bến Tre), để bảo toàn khí tiết của một nho sĩ. Thời gian ở Ba Tri, trong mấy năm đầu “tị địa”, Nguyễn Đình Chiểu vừa dạy học vừa bốc thuốc trị bệnh cho dân, vừa hăng say chống giặc bằng ngòi bút, đồng thời còn làm tham mưu cho vị lãnh tụ nghĩa quân Trương Định. Tại đây, ông lại tiếp tục viết nên "những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta, chống bọn xâm lược phương Tây" (11) như Văn tế sĩ dân Lục tỉnh, Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v... Vào những ngày cuối tháng 8-1864, khi nghe tin Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Văn Tấn dẫn giặc tập kích, bắn chết ở Kiểng Phước (Gò Công), ông đã cảm xúc làm bài văn tế và 12 bài thơ liên hoàn điếu Trương Công rất lâm ly, không những biểu thị lòng thương tiếc người anh hùng đã hy sinh mà còn bộc lộ mối căm thù sâu sắc của ông đối với quân xâm lược.

Trương Định hy sinh và cuộc chiến đấu của nghĩa quân do ông trực tiếp lãnh đạo không giành được thắng lợi, nhưng phong trào kháng chiến của nhân dân các tỉnh vẫn không vì thế mà bị dập tắt. Trái lại nhiều nghĩa quân của Trương Định, sau khi chủ tướng hy sinh, đã tản về các địa phương, tiếp tục hoạt động chống Pháp.

Riêng ở Bến Tre, lúc này nổi lên một hoạt động của hai nhóm nghĩa quân: một nhóm của Trịnh Viết Bàng và một nhóm của Huỳnh Văn Thiệu. Trịnh Viết Bàng quê làng Tân Định (thuộc cù lao An Hóa), từng tham gia phong trào chống Pháp của Trương Định. Năm 1864, sau khi căn cứ Tân Hòa (Gò Công) thất thủ, chủ tướng hy sinh, ông cùng một số người thân tín rút về hoạt động chống Pháp ở cù lao An Hóa. Ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa quân và thường xuyên tổ chức lùng diệt những tên tay sai gian ác của giặc. Hoạt động được một thời gian, ông bị giặc Pháp bắt và chém đầu tại thị xã Mỹ Tho (12). Lúc chết ông vẫn không quên dặn lại: "Sau khi ta chết, đem xác ta về chôn ở ngã tư để con cháu nhớ mà không theo giặc". Cũng như Trịnh Viết Bàng, Huỳnh Văn Thiệu cũng là một bộ tướng của Trương Định. Chủ tướng mất, ông về quê tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở Châu Hưng. Ít lâu sau, do kẻ gian mật báo, giặc Pháp bắt được ông đem xử trảm ở Bàu Sấu (13).

Các cuộc nổi dậy chống giặc cứu nước của nhân dân 3 tỉnh bị chiếm với sự tham gia hỗ trợ của nhân dân các tỉnh miền Tây đã gây cho địch khá nhiều tổn thất, nhưng trước sự ươn hèn của triều đình nhà Nguyễn, tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm luôn 3 tỉnh còn lại. Thế là đến lượt Bến Tre rơi vào tay giặc pháp. Chiếm luôn được 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, giặc Pháp vô cùng hí hửng, tưởng như thế là đã nuốt xong 6 tỉnh Nam Kỳ một cách êm xuôi. Nhưng chúng đã lầm. Vừa đặt chân đến đất Bến Tre, chúng đã vấp phải một sự kháng cự anh dũng của nhân dân xứ Dừa. Tháng 6-1867, Pháp chiếm Bến Tre thì tháng 8-1867, đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai người con của Phan Thanh Giản là Phan Liêm và Phan Tôn (14). Cuộc khởi nghĩa này có quy mô rộng lớn. Giặc Pháp thú nhận cuộc khởi nghĩa rất khó đàn áp, vì nhân dân tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ, cả Vĩnh Long nữa, đã nhất tề đứng lên. Trung tâm cuộc khởi nghĩa là Bảo An (phần đất của huyện Ba Tri bây giờ), vì vùng này hồi đó rất hoang vu, cây cối rậm rạp, kênh, rạch, xẻo, mương chằng chịt, rừng dừa nước, rừng đủng đỉnh, rừng bần... dày đặc, rất thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Giặc Pháp hết sức tức tối, tập trung lực lượng để đàn áp. Tối 9-11-1867, một toán lính Pháp khoảng 40 tên do De Champeaux chỉ huy kéo đến bao vây làng Hương Điểm - một địa điểm hoạt động của nghĩa quân (15). Chúng đóng quân trong chùa, đợi sáng ngày tiến hành đàn áp. Nhưng ngay tối hôm đó, nhân khi trời mưa to gió lớn, hơn 100 nghĩa quân đã mở cuộc tấn công dữ dội vào doanh trại giặc, De Champeaux bị đâm trọng thương. Bị đánh bất ngờ, toàn bộ quân giặc hoảng sợ, rút chạy ngay đêm ấy. Bọn Pháp buộc phải đem quân từ Sài Gòn, Vĩnh Long đến ứng cứu. Ngày 12-11, đạo quân tiếp viện gồm 3 chiến thuyền, 150 lính Pháp do tên quan tư Ansart chỉ huy và 200 lính mã tà do Vial cầm đầu kéo đến Bến Tre, bao vây Hương Điểm. Sáng 13-11, giặc mở đầu cuộc bao vây, lùng sục. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân diễn ra hết sức quyết liệt. Trong trận này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng quên mình, trong đó có Trương Tấn Chí, cháu của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, cầm cờ xung phong lên trước, bị trúng đạn ngã gục (16). Giặc Pháp không dám tiến sâu vào các thôn xóm, chỉ co cụm tại chợ, đến chiều lại theo tàu chở về tỉnh lỵ Bến Tre, để lại 50 lính mã tà do Quản Cho chỉ huy.

Thực hiện vừa đánh vừa xoa, ngày 14-11, giặc Pháp sai Tôn Thọ Tường, vốn là chổ quen biết với Phan Thanh Giản, đến gảnh Mù U dụ hàng Phan Tôn và Phan Liêm, nhưng cuộc thuyết phục bất thành vì thái độ cương quyết của hai người.

Dụ hàng không được, sáng 15-11, giặc lại tung quân đi đàn áp. Tại chợ Hương Điểm, chúng phát hiện nơi để vũ khí của nghĩa quân, lấy được một số lượng vũ khí. Cùng ngày, giặc cho tàu chiến chạy dọc theo sông Hàm Luông để truy lùng, uy hiếp quân khởi nghĩa. Đến 4 giờ chiều, chúng đổ bộ lên ấp An Thới, làng An Lái. Chúng không dám vào làng mà đóng quân trên một giồng cát gần làng thường gọi là Gò Trụi, hay Giồng Gạch.

Nắm thời cơ địch vừa kéo đến, chưa kịp ổn định, 2 giờ sáng, nghĩa quân đột nhập tấn công vào doanh trại của chúng. Trận đánh diễn ra cực kỳ ác liệt. Càng về khuya, nghĩa quân kéo đến càng đông và hai bên đáng giáp lá cà dữ dội. Nổi bật nhất trong trận này là đốc binh Phan Tòng. Giai thoại ở Ba Tri kể rằng Phan Tòng đầu đội khăn tang mẹ (17), hăng hái chỉ huy nghĩa quân tấn công mãnh liệt bọn giặc. Trận Gò Trụi (Giồng Gạch) là trận đánh tập kích lớn từ khi giặc Pháp vào xâm lược Nam Kỳ cho đến lúc này. Paulin Vial, một sĩ quan Pháp chứng kiến trận này, đã ghi nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của nghĩa quân như sau: “Họ (nghĩa quân) đã cầm giáo, cầm gậy đã lao đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể nào không công nhận lòng can đảm của những người liều chết đánh giáp lá cà chống lại binh lính ta, một đội quân đã dầy dạng trên chiến trường và có súng ống đáng ghê sợ" (18). Nhân dân Ba Tri gọi đây là trận "giặc hè" vì vừa đánh vừa hè nhau lao tới. Phan Tòng đã hy sinh trong trận này (19). Đó là người anh hùng chống Pháp và là một trong những liệt sĩ đầu tiên của nhân dân Bến Tre nói chung và Ba Tri nói riêng trong trang sử chống ngoại xâm.

Mặc dù bị tập kích nặng trong đêm, sáng ngày 16-11-1867, giặc Pháp vẫn tập trung lực lượng tấn công dữ dội vào Ba Tri và Bảo Thạnh, rút về gảnh Mù U. Giặc lại tập trung cả quân thủy và quân bộ tấn công vào căn cứ này. Do tương quan lực lượng chênh lệch, sau khi chống trả quyết liệt, nghĩa quân phải rút khỏi Bảo Thạnh. Giặc Pháp tiếp tục tìm mọi cách để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Do quân giặc mạnh hơn về vũ khí trang bị, còn nghĩa quân ngoài lòng yêu nước và chí căm thù giặc, chỉ có giáo mác thô sơ, nên cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã. Anh em Phan Tôn, Phan Liêm phải chạy ra Bình Thuận, nơi "tị địa" của đa số các sĩ phu lúc ấy.

Cuộc khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm bị thất bại, nhưng phong trào KCCP của nhân dân Bến Tre không vì thế mà chấm dứt. Trái lại, cuộc chiến đấu chống giặc của nhân dân vẫn tiếp tục. Nhiều tài liệu cho biết năm 1868, khắp tỉnh nơi nào nghĩa quân cũng có mặt. Nghĩa quân phong chức hàm và cấp bằng cho những ai đóng góp tiền bạc và lương thực cho họ. Bộ tham mưu được đặt trong rừng rậm, xê dịch dài theo bờ sông Ba Lai, phía đông bắc cù lao Bảo, nhất là tại Bảo An. Ngày 5-2-1868, nghĩa quân đánh đồn Hương Điểm lần thứ hai. Đồn này có vài chục lính mã tà trấn giữ dưới quyền chỉ huy của một tên đội. Tháng 7-1868, nghĩa quân lại nổi lên ở Cái Mít, tiếp đó (tháng 8) ở Phú Ngãi và Tân Điền quanh vùng Ba Tri.

Cùng thời gian này, một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn hơn do Tán Kế lãnh đạo nổ ra ở Phong Mỹ, Phong Nẫm, Ba Mỹ, Tân Xuân, vùng Ba Châu (20). Nghĩa quân của Tán Kế đã gây nhiều tổn thất cho giặc, nhưng về sau do vũ khí thô sơ, việc tổ chức trận đấu thiếu kinh nghiệm, nên lực lượng bị hao hụt dần. Cuối cùng, Tán Kế đành phải giải tán quân sĩ, cùng một số thân tín rút vào rừng ở. Kẻ gian báo tin cho giặc Pháp biết nơi ông đang ẩn náu, do đó ông bị chúng bắt đem về chém tại Giồng Trôm ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ, tức ngày 21-2-1869. Giặc Pháp đã bêu đầu ông trên cột cờ chợ Châu Thới 3 ngày đêm để uy hiếp tinh thần dân chúng.

Cuộc khởi nghĩa của Tán Kế tan rã được ít lâu, thì tháng 5-1869, nghĩa quân lại nổi lên tấn công làng Đồng Xuân ở Ba Tri (21) với một lực lượng khoảng 100 người, giết chết tên cai tổng Trị và người em của hắn là một tên xã trưởng.

Cùng với việc đứng lên vũ trang khởi nghĩa, phong trào chống Pháp của nhân dân Bến Tre kỳ này còn diễn ra dưới hình thức bất tác với giặc. Nhân dân sẵn sàng hy sinh tài sản của mình, làm "vườn không nhà trống" ở những nơi thực dân Pháp chiếm đóng. Năm 1869, nhân dân làng Quới Điền, tổng Minh Phú bỏ nhà cửa, ruộng vườn ra đi. Tháng 10, 11 năm 1870, dân làng An Thới, tổng Minh Huệ cũng bỏ làng đi nơi khác.

Ngoài các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy nói trên, diễn ra từ năm 1870 cho đến năm 1875, nhân dân một số vùng của Bến Tre còn tích cực tham gia một cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hữu Huân trong lần khởi nghĩa này (22) chủ yếu là Định Tường, nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức ứng nghĩa bằng cách trực tiếp tham gia nghĩa quân, hoặc ủng hộ tiền bạc, lương thực, vũ khí. Để trả thù và nhằm để răn đe viên Thống đốc Nam Kỳ từng ra lệnh phạt 11 làng của Bến Tre vì đã tham gia vào phong trào khởi nghĩa của Thủ khoa Huân. Đó là các làng Bình Đại (bị phạt 3.000 francs), Châu Hưng, Nguyệt Thạnh, Phú Thuận, Lộc Thuận (bị phạt 1.000 francs), Phú Long, Phước Thuận, Thới Lai, Thọ Phú (bị phạt 500 francs), các làng An Hóa, An Hồ (bị phạt 1.000 francs) (xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục).

Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Huân, có sự tham gia của nhân dân Bến Tre, kéo dài hơn 5 năm, đã làm cho giặc Pháp luôn bị mất ăn mất ngủ. Vì vậy, đến tháng 4-1875, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng quân sự lớn, chia làm nhiều ngã, vây đánh rất ngặt căn cứ của nghĩa quân ở Long Trì.

Sau nửa tháng chống trả quyết liệt, nghĩa quân bị tan vỡ. Nguyễn Hữu Huân thoát khỏi vòng vây, rút về Chợ Gạo, sau đó khi ông tìm cách tránh ra Bình Thuận để tiếp tục chiến đấu, thì bị giặc bắt do sự phản bội của một tên bộ hạ.

Bắt được Nguyễn Hữu Huân, tên chủ tỉnh Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng ông vẫn khẳng khái cho đến phút cuối của đời mình. Ông bị giặc Pháp xử tử ở nơi giáp nước, xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (19-5-1875).

Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Huân thất bại cũng là lúc triều đình Huế ươn hèn ký hòa ước Giáp Tuất (1874), giao trọn quyền cai trị 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Với hòa ước này, thực dân Pháp trọn quyền kiểm soát mọi mặt, tự do khủng bố các phong trào yêu nước. Từ đây, nghĩa quân tạm thời chuyển hướng đấu tranh bằng các hành động đốt phá và phản kháng lẻ tẻ: năm 1878, đốt chợ Giồng Keo làng Tân Thành, tổng Minh Thuận; năm 1879, đốt chợ Thom, làng An Thạnh, tổng Minh Đạo.

Năm 1884, cụ Nguyễn Đình Chiểu tổ chức lễ tế nghĩa sĩ Lục tỉnh tại chợ Ba Tri, hàng ngàn dân chúng quanh vùng kéo đến dự. Với tư cách là người chủ tế, cụ Đồ khăn áo chỉnh tề, đã đọc bài Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong. Khác với bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc nhằm ngợi ca những người anh hùng nông dân chân đất "cui cút làm ăn riêng lo nghèo khó" đã dũng cảm cầm vũ khí tự tạo xông lên tiêu diệt quân xâm lược ngay từ buổi đầu khi chúng đặt chân lên bờ cõi nước ta, bài văn Tế Lục tỉnh sĩ dân trận vong viết sau gần một phần tư thế kỷ, là một bảng tổng kết tội ác man rợ cao như núi của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc trên vùng đất thân yêu ở phía Nam Tổ quốc, đồng thời nói lên ý chí bất khuất của nhân dân.

Hỡi ôi!
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc...
Phạt cho đến người hèn kẻ khó, thâu của quay treo,
Tội chẳng tha con nít đàn bà, đốt nhà bắt vật.
Trải mười mấy năm chầy khốn khó, bị khảo, bị tra,
Bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên...(23)

Các cụ già ở Ba Tri kể lại rằng, sau khi đọc xong bài văn tế, cụ Đồ vì quá xúc động đã lăn ra, ngất đi, bà con phải khiêng cụ ra ngoài chạy chữa hồi lâu mới tỉnh lại. Có thể nói đây là một cuộc mít-tinh quần chúng lớn nhất của Bến Tre thời ấy, biểu thị mối căm thù sôi sục đối với bọn giặc cướp nước. Bốn năm sau, năm 1888, nhân dân Bến Tre lại một lần nữa biểu thị lòng yêu nước và căm thù giặc Pháp xâm lược của mình trong ngày đưa tang cụ Nguyễn Đình Chiểu. Nhiều tư liệu còn lưu lại ảnh (cả thành văn lẫn truyền miệng) cho biết trong ngày này, trên cánh đồng Ba Tri có rất nhiều học trò đưa tiễn thầy, bệnh nhân đưa tiễn người thầy thuốc tài giỏi, giàu đức độ đã cứu giúp mình và nhân dân trong vùng đưa tiễn một nhà thơ yêu nước mà họ hằng kính phục về tiết tháo và phẩm cách, cùng những người trong gia đình tiếc thương người thân đã quá cố. Đám tang cụ Đồ thật sự là một cuộc biểu dương lực lượng và ý chí chống xâm lược của nhân dân Bến Tre.

Sau đám tang cụ Đồ, phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre còn kéo dài một số năm nữa với cuộc nổi dậy cuối cùng của Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày năm 1895. (24)

Vậy là từ những ngày đầu giặc Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ cho đến những năm cuối thế kỷ XIX, nhân dân Bến Tre đã liên tục cùng với nhân dân các tỉnh tiến hành cuộc kháng chiến cứu nước, cứu nhà. Trong cuộc chiến đấu mặt đối mặt với một kẻ thù xâm lược có ưu thế vượt hẳn về kỹ thuật và trang bị quân sự, nhân dân Bến Tre với truyền thống kiên cường bất khuất, đã không nề hy sinh, tổn thất, quyết tâm kháng chiến, bất chấp thái độ đầu hàng, phản bội của triều đình nhà Nguyễn.

Mặc dầu phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Lục tỉnh Nam Kỳ nói chung, của nhân dân Bến Tre nói riêng, do những điều kiện khách quan và chủ quan bất lợi, trong đó nổi bật nhất là thái độ hèn nhát và đường lối thỏa hiệp, đầu hàng của triều đình Tự Đức, không đạt được mục tiêu đánh bại quân xâm lược, giữ đất giữ dân, song tinh thần chiến đấu anh dũng và kiên cường của họ đã tô thắm thêm truyền thống chống giặc giữ nước được hun đúc từ bao đời của ông cha ta.

Chú thích:

(1) Tiếng Pháp là "conquête en petits paquets"
(2) Triều đình nhà Nguyễn đã tỏ ra khong có ý chí và quyết tâm chống giặc – trừ một bộ phận nhỏ chủ chiến đề ra chủ trương “lấy chủ đợi khách”, hoàn toàn bị động, và chiến lược "thủ để hòa"- thực chất là đi theo lập trường thỏa hiệp, đầu hàng.
(3) Trong cuộc chặn đánh này, quân ta đã bắn chết tên đại tá chỉ huy trưởng Bourdais. Giặc Pháp phải mất 12 ngày mới tiến được gần đến Mỹ Tho.
(4) Bến Tre lúc bấy giờ gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, thuộc tỉnh Vĩnh Long
(5) Histoire militaire de l`Indochine francaise, p. 33-36
(6) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine, p, 111, 112
(7) Bình Đại lúc bấy giờ thuộc huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường.
(8) Taboulet, Le geste fran cais en Indochine, Paris, 1956, tome II, p. 479
(9) Paulin Vial, Histoire de la Cochinchine
(10) Báo cáo ngày 14-1-1863 của Trung tướng L. Bonard.
(11) Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc, trong Kỷ yếu Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb KHXH, H, 1973
(12) Ngày mất của ông chưa được xác định (Xem thêm mục Nhân vật ở phần Phụ lục)
(13) Theo gia phả, ngày kỵ của ông Huỳnh Văn Thiệu là 24-7 âm lịch
(14) Về sau, Phan Liêm và Phan Tôn bị Pháp bắt, đưa sang Pháp một thời gian. Sau đó, phục vụ chính quyền Nam triều. Phan Liêm đã lên đến chức Thượng thư, cùng với Nguyễn Thân đánh giá phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam.
(15) Theo Nguyễn Duy Oanh, Các phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre từ 1859-1945, trong Bến Tre, đất và người, 1986
(16) Có tài liệu nói rằng Trương Tấn Chí leo lên cột cờ, xé lá cờ Pháp ném xuống đất nên bị bắn chết.
(17) Mẹ của Phan Tòng vừa qua đời trước đó mấy tháng.
(18) Paulin Vial, Les premìeres années de la Cochinchine
(19) Về thời điểm diễn ra trận đánh Ba Tri, có tài liệu nói là tháng 1-1868, và Phan Tòng hy sinh vào đêm 6 rạng ngày 7-1-1868.
(20) Về cuộc khởi nghĩa của Lê Quang Quan có nhiều tư liệu nói khác nhau (xem thêm Lê Quang Quan ở mục Nhân vật trong phần phụ lục)
(21) Trước năm 1930, xã này là hai làng Đồng Xuân và Tân Trang, sau năm 1930 nhập lại gọi là làng Tân Xuân.
(22) Nguyễn Hữu Huân đã tham gia các phong trào chống Pháp ở ba tỉnh miền Đông từ 1862-1864, bị bắt và đày sang đảo Réunion. Năm 1868, ông được thả về, nhưng địch không mua chuộc được ông. Một lần nữa, ông đứng ra cùng với Âu Dương Lân tổ chức khởi nghĩa, được nhân dân các tỉnh, trong đó có nhân dân Bến Tre hưởng ứng nhiệt liệt. Lúc mới đầu khởi nghĩa, lực lượng của ông đã có tới 3.000 người.
(23) Toàn văn ở phần phụ lục
(24) Có tài liệu nói cuộc khởi nghĩa này nổ ra năm 1874.

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hànhThu Thảo (Bảo Tàng Bến Tre)
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
 

Image
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh ngày 1-7-1822 tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc phòng Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh. Thân sinh nhà thơ là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên là Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định.

   Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ. Những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc bị triều đình Huế đàn áp, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã gây ra những bão táp kinh hoàng trực tiếp đến gia đình Nguyễn Đình Chiểu. Nguyễn Đình Huy bỏ trốn ra Huế, bị cách chức, sau đó trở vào Nam đón Nguyễn Đình Chiểu, đem gửi cho một người bạn để ăn học. Cuộc sống 8 năm ở Huế đã giúp ông nhận rõ hơn sự thối nát và phức tạp của triều đình, đồng thời có điều kiện để tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc ở đất kinh đô.

   Năm 1843, ông thi đỗ tú tài ở Trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849), nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về quê chịu tang mẹ, vì quá lo buồn, khóc thương, ông lâm bệnh và mù cả hai mắt.

   Về đến Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, ông tổ chức dạy học, bốc thuốc chữa bệnh và sáng tác thơ văn. Nhờ sống gắn bó với nhân dân, ông có điều kiện hiểu đồng bào của mình sâu sắc hơn. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác truyện thơ đầu tiên Lục Vân Tiên. Tác phẩm đề cập đến vấn đề đạo nghĩa ở đời, mang dấu ấn tự truyện, đã được nhanh chóng phổ biến rộng rãi. Một người học trò của ông là Lê Tăng Quýnh, vừa trọng nể tài năng và nhân cách, lại vừa thương cảm hoàn cảnh của thầy, đã đem gả người em gái là Lê Thị Điền cho ông. Ngày 17-2-1858, giặc Pháp chiếm thành Gia Định. Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác áng văn bất hủ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngợi ca chiến công anh hùng của những người "dân ấp dân lân" trong trận tấn công đồn Tây Dương, mà người bạn đồng khoa với ông là Đỗ Trình Thoại đã hy sinh cùng với 7 nghĩa quân khác. Tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu dài 3.448 câu thơ mang nội dung phê phán âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch, lên án những người thờ ơ, vô trách nhiệm trước cảnh nước mất nhà tan cũng được sáng tác tại đây.

   Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và lực lượng kháng chiến. Khi được tin Trương Định hy sinh (19-8-1864), nhà thơ xúc động, viết bài Văn tế Mười hai bài thơ liên hoàn điếu người anh hùng. Mười bài thơ điếu Đốc binh Phan Tòng hy sinh trong trận Giồng Gạch (1868) vốn gốc là hương sư, bạn bè thân thiết với ông, lời lẽ rất thống thiết, có những câu thơ tâm huyết như lời thề tạc vào đá: "Tinh thần hai chữ pha sương tuyết, khí phách ngàn thu rỡ núi non". Khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử sau khi để mất 3 tỉnh miền Tây, ông làm thơ điếu họ Phan với ít nhiều ngụ ý phê phán.

   Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Nổi bật là thiên hùng bút Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh. Tất cả tâm huyết của nhà thơ như dồn vào những câu đau xé lòng người: "Dân sa nước lửa bấy chầy, giặc ép mỡ dầu hết sức". Đồng bào ở đây kể lại rằng chính ông đứng ra làm lễ tế những nghĩa sĩ Lục tỉnh ngay tại chợ Ba Tri. Khi đọc xong bài điếu, nước mắt chảy ràn rụa và ông lăn kềnh ra nằm bất tỉnh.

   Tác phẩm Ngư tiều y thuật vấn đáp được viết vào giai đoạn cuối đời với một bút pháp già dặn hơn và một niềm tâm sự sâu lắng, xót xa hơn trước cảnh đất nước bị “dưa chia, khăn xé”, nhưng không hề tuyệt vọng.

{mosimage}   Bến Tre không phải là nơi sinh của nhà thơ, nhưng lại là nơi vinh hạnh được ông chọn để sống, hoạt động trong suốt 26 năm đầy biến cố phức tạp vào giai đoạn cuối đời và đã vĩnh viễn gởi xương cốt tại đây. Người ta kể lại rằng ngày đưa đám ma ông, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chữa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ, cảm phục một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn.

   Hơn một phần tư thế kỷ, sống trên đất Bến Tre, Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng quý báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Thơ văn của ông đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ con người Bến Tre và ngưng đọng lại ở đó, biến thành một sức mạnh vật chất giúp họ có thể chiến thắng được mọi gian nguy, thử thách gay go và khốc liệt nhất.

Đã ban hành
Thời kỳ chống Pháp và MỹThời kỳ chống Pháp và Mỹ
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp.

1. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)

   Do địa thế bị ngăn cách bởi các con sông lớn, vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Cổ Chiên này bị giặc Pháp chiếm sau cùng (8-2-1946) so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

   Nhờ 135 ngày được tự do, Bến Tre có thêm điều kiện để chuẩn bị tốt hơn về mặt quân sự, chính trị, kinh tế trước khi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp một mất một còn với kẻ địch. Khi bắt đầu cuộc kháng chiến (2-1946), tỉnh Bến Tre có khoảng 450.000 dân (1). Việc thực hiện một số chính sách về dân sinh dân chủ của chính quyền cách mạng tỉnh trong buổi đầu này nhằm đem lại những quyền lợi thiết thực cho người dân như xóa bỏ các thứ thuế bất công, chia lại ruộng công cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng, giảm mức tô chính, bãi bỏ tô phụ, xóa các nợ nần cũ đối với người nghèo v.v... đã có tác dụng rất tích cực đối với sự củng cố và phát triển cộng động dân cư Bến Tre trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh sau đó.

   Nhận rõ vị trí chiến lược của Bến Tre đối với chiến trường Nam Bộ, lại thêm những bài học kinh nghiệm của quá khứ về một vùng đất có truyền thống yêu nước bất khuất trong gần 80 năm thống trị, cho nên thực dân Pháp sau khi chiếm trọn 3 dải cù lao đã ra sức tập hợp bọn tay sai, bọn địa chủ phản động địa phương, lập ngụy quyền, phát triển ngụy quân, đồng thời thi hành chính sách cướp sạch, đốt sạch, giết sạch. Điển hình cho chính sách này là những hoạt động tàn bạo của Léon Leroy, một tên sĩ quan Tây lai, cùng đội quân cuồng tín UMDC – “Đơn vị cơ động bảo vệ những người theo đạo Thiên Chúa" – do hắn lập nên tại quê mẹ của hắn, đất Bình Đại. Đội quân này đã gieo rắc biết bao đau thương tang tóc trên cù lao An Hóa, về sau lan ra toàn tỉnh Bến Tre và cả một số tỉnh bạn xung quanh (2).

   Những cuộc càng quét, khủng bố giết chóc bừa bãi, dã man diễn ra khắp nơi, trong đó có nhiều cuộc thảm sát tập thể một lúc hàng trăm nhân mạng, mà dấu vết còn ghi lại đến ngày nay qua những "giỗ hội" hàng năm của đồng bào Cầu Hòa, Bình Hòa, Tân Hào Đông, Cồn Thùng, Phước Thạnh v.v... có thể nói đây là giai đoạn đẫm máu nhất của lịch sử đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Bến Tre. Những tổn thất nặng nề về của cải và nhân mạng của nhân dân Bến Tre còn diễn ra trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến, trong quá trình giành đi giật lại với kẻ thù từng tấc đất, từng người dân.

Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, có lúc kẻ địch bằng sức mạnh quân sự, đã ồ ạt lấn chiếm hầu hết các trung tâm dân cư đông đúc, những khu vực kinh tế trù phú, biến Bến Tre từ một tỉnh có vùng giải phóng rộng thành một tỉnh hoàn toàn bị tạm chiếm, với một hệ thống đồn bót dày đặc như mạng nhện, mỗi xã có từ 3 đến 28 đồn, có ấp chúng đóng đến 3 đồn. Toàn tỉnh có tới 1.036 đồn bót và tháp canh. Chiếm đóng đến đâu, địch thẳng tay bắn giết, hãm hiếp, cướp phá đến đó: cắt lưỡi, mổ bụng, moi gan, chặt đầu, bêu thây giữa chợ (3).

   Về phía cách mạng, hầu hết đảng viên, cán bộ cơ sở đánh bật ra khỏi địa phương, nhiều đồng chí phải dạt sang huyện khác hoặc tỉnh bạn. Cơ sở quần chúng bị xáo trộn, cơ quan Tỉnh ủy, huyện ủy và các đơn vị Vệ quốc đoàn rút về căn cứ rừng Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại, bị địch bao vây, phong tỏa, càn quét và đánh phá bằng phi pháo... Cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre rơi vào thời kỳ vô cùng khó khăn (4).

   Để chặn đứng âm mưu của kẻ thù, giành lại dân, giành lại quyền chủ động trong chiến tranh, Tỉnh ủy và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã phát động tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang, phân công trở về địa phương bám đất, bán dân “lấy tinh thần tự lực, tự cường để đấu trí với địch, lấy khí tiết trung kiên, bất khuất để đè bẹp uy vũ tàn bạo của kẻ thù. Cán bộ, đảng viên đã phải ăn bờ, ngủ bụi, chịu đựng đói khát, phó mặc thân mình cho mưa nắng, muỗi mòng. Trong nhiều tháng, các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày phải ăn ở trên ngọn dừa hết ngày này đến ngày khác, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú trên đường công tác gặp bão lớn, ghe chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình dưới nước mặn hàng tuần lễ" (5). Trong cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân này đã có hơn 600 cán bộ, đảng viên đã ngã xuống.

   Những dòng miêu tả trên đây cho chúng ta hôm nay hình dung được phần nào tính chất gian khổ, ác liệt cùng những hy sinh mất mát lớn lao mà nhân dân Bến Tre đã gánh chịu trong những năm KCCP.

   Thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và để cách ly dân với cách mạng, kẻ địch ra sức tập trung đồng bào ta vào quanh các đồn bót, các thị trấn, thị xã để khống chế, kiềm kẹp. Có khu tập trung khá đông như Cồn Rừng (Thạnh Phú) đến 5.000 người (6). Tình hình đó đã gây nên một cuộc xáo trộn lớn về dân cư, nhưng sự xáo trộn này chỉ diễn ra ở phạm vi trong tỉnh, không có hiện tượng đưa dân từ nơi khác đến, hoặc xúc dân từ Bến Tre đưa đi nơi khác, trừ cuộc ra đi do dân tự tổ chức gần một vạn hộ (tương đương với 4 đến 5 vạn dân) trong buổi đầu kháng chiến (1946) xuống vùng tự do Tây Nam Bộ và sinh sống ở đây cho đến hết cuộc chiến tranh (7).

   Xét về mặt phát triển dân số, cho đến nay chưa có một thống kê nào đầy đủ về số người chết trong cuộc kháng Pháp lần thứ 2 của tỉnh, nhưng rõ ràng là do tính chất ác liệt của chiến tranh đã dẫn đến tử suất cao gấp nhiều lần thời bình. Và tất nhiên, ngoài số người bị bom đạn tàn sát, còn có nhiều người chết vì bệnh tật, vì thiếu thốn thuốc men, sinh hoạt vật chất kham khổ do chiến tranh gây ra.

   Trong khi đó, số sinh cũng giảm đi đáng kể, vì phần lớn đàn ông phải thoát ly gia đình, đi chiến đấu. Mặc dù số sinh giảm, số tử tăng lên khá cao, đến cuối cuộc kháng chiến (7-1954) dân số của tỉnh Bến Tre đạt con số xấp xỉ 60 vạn người (8).

2. Trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

   Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp kéo dài suốt 9 năm, được kết thúc bằng hiệp định Genève (20-7-1954). Tại Bến Tre, đến ngày 11-8-1954, lệnh ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực. Khắp nơi trong tỉnh, nhân dân hồ hởi tổ chức mít-tinh, biểu tình mừng chiến thắng, mừng hòa bình được lập lại. Nhưng niềm vui vừa được dấy lên, thì bà con ta lại phải lưu luyến tiễn đưa những người thân của mình (gồm 2.000 cán bộ, chiến sĩ và một số con em cán bộ) hành quân xuống Cà Mau để tập kết ra Bắc. Trong khi đó, Tỉnh ủy Bến Tre lại phải lo chuẩn bị tổ chức lại lực lượng, bố trí cán bộ ở lại, dự trữ những phương tiện cần thiết để lãnh đạo quần chúng bước vào cuộc đấu tranh mới mà Đảng đã dự cảm rằng sẽ không kém phần khó khăn phức tạp so với cuộc đấu tranh vũ trang vừa qua.

   Thật vậy, chỉ trong 8 ngày nhưng tiếng súng, ngày 19-8-1954 ở Bình Đại, 5 người dân bị bắn chết, 17 người bị thương trong một cuộc đàn áp biểu tình của địch, ngày 13-9-1954 ở Mỏ Cày 11 người bị bắn chết, 36 người bị thương và hàng trăm người bị bắt trong một cuộc biểu tình quần chúng khác. Song song với việc tập hợp bọn tay sai cũ, bọn con cái địa chủ có thù với cách mạng, bọn đầu hàng phản bội và những tên côn đồ lưu manh để dựng lên một bộ máy ngụy quyền từ tỉnh đến huyện, xã, Ngô Đình Diệm đã đưa đến Bến Tre một lực lượng lính bảo an, cảnh sát, mật vụ gần 3.000 tên, đóng khoảng 300 đồn bót sâu tận xã ấp để khống chế, kìm kẹp dân chúng.

   Từ đầu năm 1955, chúng liên tiếp mở những chiến dịch khủng bố quy mô lớn trên khắp tỉnh, nhằm đánh vào tổ chức ĐCS và cơ sở cách mạng. Hàng loạt người yêu nước bị giết công khai trắng trợn, hoặc bị thủ tiêu bí mật, hàng vạn người bị bắt, bị giam cầm, tra tấn dã man. Riêng trong thời kỳ địch tiến hành các chiến dịch tố cộng, toàn tỉnh có trên 500 nhà giam lớn nhỏ. Miếu thờ, trường học, đình làng đã biến thành nhà giam, đêm đêm vọng lên tiếng gào thét, kêu la của những nạn nhân bị chúng tra tấn, mổ bụng, moi gan, khoét mắt... Trên sông, rạch, thường xuyên có những xác người trôi nổi, tay chân bị trói, mình mẩy đầy thương tích. Đó là những năm bọn khát máu thực hiện khẩu hiệu “chống cộng", "giết lầm hơn tha lầm".

   Như vậy là kẻ địch không chỉ diệt cộng sản và khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, mà chúng đã đánh vào phong trào yêu nước rộng lớn của nhân dân. Một hệ thống nhà tù cấp xã, quận đến tỉnh được thiết lập để giam cầm những người yêu nước. Khám Lá có lúc chứa đến 3.000 người, trong khi khả năng tối đa của nó chỉ có thể chứa 1.000 người.

   Nhằm đánh quỵ truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của nhân dân Bến Tre mà kẻ địch đã hiểu rõ từ lâu, và nhằm là chủ địa bàn chiến lược quan trọng này, Ngô Đình Diệm đã đưa về đây 60.000 dân di cư từ miền Bắc vào (hơn 10% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), cấy sâu vào những vùng có phong trào kháng chiến mạnh trước đây, những vùng căn cứ cũ ở Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại, Sóc Sãi, dùng họ làm chỗ dựa cho chúng về tình báo, gián điệp, về chính trị, hỗ trợ cho âm mưu phản cách mạng của chúng. Diệm còn ra lệnh cho bọn tay sai dựng lên ở Bến Tre bốn khu trù mật lớn: Thành Thới (ở Mỏ Cày), An Hiệp (ở Ba Tri), Thới Thuận (ở Bình Đại), An Hiệp (ở Châu Thành) để làm thí điểm cho việc gom dân vào các khu dồn nhằm dễ bề kiểm soát, tách cách mạng ra khỏi dân. Khu trù mật Thành Thới được chọn làm kiểu mẫu điển hình để rút kinh nghiệm trong chính sách tập trung dân của địch cho cả miền Nam. 240 mẫu đất vườn ở đây đã bị san thành bình địa. Tiếp theo là các khu tập trung dân mới được xây dựng ở các huyện như Rạch Gừa (ở Bình Đại), Bến Tranh (ở Giồng Trôm), Cầu Mống (ở Mỏ Cày), Cầu Ván (ở Thạnh Phú) v.v...

   Từ sau Đồng Khởi, để đối phó lại phong trào cách mạng của nhân dân, đi đôi với việc dùng các hình thức chiến thuật quân sự bao vây, càn quét, kẻ địch tổ chức gom dân từng khu vực vào các trại tập trung mới, mệnh danh là "ấp chiến lược". Vào thời cao điểm (cuối 1962), hàng vạn dân trong tỉnh bị gom vào trong 115 ấp chiến lược - ở đấy, mọi quyền tự do bị tước đoạt, từng người dân bị kiểm soát một cách ngặt nghèo trong sinh hoạt, đi lại, lao động v.v... Đây cũng là một trong giai đoạn đấu tranh giằng co quyết liệt nhất giữa ta và địch với nhiều tổn thất to lớn.

   Chỉ riêng việc gom dân vào các trại tập trung trá hình (khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh) của Mỹ, ngụy, ta đã thấy sự tàn bạo của kẻ địch vượt xa thời KCCP, mà hậu quả của nó là đã gây nên sự xáo trộn rất lớn về dân cư trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng, thực tế diễn ra còn khốc liệt hơn nhiều trong thời kỳ chiến tranh cục bộ từ cuối 1965 về sau với sự có mặt hàng chục vạn quân viễn chinh cùng hàng triệu tấn bom đạn, thuốc khai quang đổ vào miền Nam, nhằm dùng sức mạnh quân sự của một cường quốc vào bậc nhất của thế giới để đè bẹp, tiêu diệt cuộc cách mạng giải phóng của đồng bào miền Nam, trong đó có Bến Tre.

   Cuộc chiến tranh diệt sinh, diệt chủng mà kẻ địch tiến hành trên đất Bến Tre không những đã cướp đi hàng vạn sinh mạng, gây nên những đảo lộn to lớn về mặt đời sống vật chất, mà còn gây nên những thương tổn nghiêm trọng trong đời sống tinh thần, phá hoại nếp sinh hoạt truyền thống tốt đẹp của nhân dân từng hình thành qua bao nhiêu thế hệ trong cộng đồng thôn xã. Về mặt sinh thái, hàng vạn hécta vườn dừa, cây ăn trái, những khu rừng dừa nước, rừng ngập mặn v.v... đã bị B.52, thuốc khai quang và máy cày La Mã cày ủi, hủy diệt, mà muốn phục hồi trở lại cũng phải mất hàng thập kỷ.

   Hơn tất cả các cuộc chiến tranh trước đó, chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ với quy mô và cường độ ác liệt kéo dài 21 năm trên đất Bến Tre đã gây nên những hậu quả to lớn và nghiêm trọng. Không kể số người bị thương, bị tàn phế, tổng số người bị thiệt mạng đã lên đến 250.000 người, trong đó có 34.715 liệt sĩ. Số người bị nhiễm chất độc hóa học của Mỹ là những thế hệ mai sau. Hơn 11.126 người bị tù đày, tra tấn trở thành tàn phế, mất sức lao động, nhiều người sống dở chết dở.

   Ngoài tỷ lệ người chết cao - một điều không thể tránh khỏi trong chiến tranh, đặc biệt trong chiến tranh giải phóng – hàng loạt thanh niên và đàn ông phải thoát ly cầm súng để bảo vệ xóm làng, quê hương (không kể số người bị địch bắt lính để thực hiện chính sách “thay màu da cho những xác chết” của Lầu năm góc). Thực tế đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sinh đẻ ở nông thôn trong thời kỳ chiến tranh. Do vậy, số sinh trong thời gian này giảm dần như tuyệt đối. Đó là chưa kể nạn "hữu sinh vô dưỡng" và số trẻ em chết vì bom đạn, vì điều kiện suy dinh dưỡng do sống quá gian khổ, thiếu thốn ngay từ khi còn trong bào thai mẹ.

 Tóm lại, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, tình hình phát triển dân cư ở Bến Tre có nhiều biến động và xáo trộn to lớn. Thêm vào đó, sự phá hoại môi sinh do cuộc chiến tranh hủy diệt của đế quốc Mỹ gây ra đã để lại những vết hằn sâu trong đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân ở đây, mà hậu quả sẽ còn kéo dài về sau này.

Chú thích:

(1) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17
(2) Xem thêm chương III "Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai (1945 – 1954)" ở phần Lịch sử.
(3) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(4) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 100, 101 và 104
(5) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(6) Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 114.
(7) Theo Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nxb TP.HCM, 1987, tr. 438.
(8) Theo Lịch sử Đảng bộ ĐCS Việt Nam, tỉnh Bến Tre, Sđd., tr. 17, còn theo Annuaire statistique du Vietnam, Tlđd, thì dân số Bến Tre (phần kiểm soát được) vào năm 1954 là 344.800 người.

Đã ban hành
Nói thơ Vân TiênNói thơ Vân Tiên
 
 Nói thơ Vân Tiên là một loại hát kể mang tính chất ngâm ngợi, phù hợp với giọng thổ của nam giới. Nội dung là truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu – tác phẩm Lục Vân Tiên - được diễn đạt theo nhịp điệu không buông rơi đều đặn như hát bài chòi, hoặc hát sắc bùa, mà luôn luôn thay đổi từ khoan thai đến dồn dập. Giai điệu thường bắt đầu ở âm khu cao của đầu điệp khúc rồi lên xuống giữa âm khu trung và âm khu trầm và chậm dần để kết thúc mỗi điệp khúc. Khác với hiện tượng “cưỡng âm” ở lý, sáu thanh điệu của ngôn ngữ lời thơ trong nói thơ Vân Tiên bao giờ cũng được tôn trọng. Các dấu giọng (hỏi, ngã, nặng) đều được luyến láy rõ lời. Nói thơ Vân Tiên không sử dụng tiếng đệm lót, hãn hữu mới thấy tiếng "mà" giặm vào, hoặc tiếng đưa hơi "ơ ớ" tùy theo lối ngâm của từng người.

Theo nhạc sĩ Lê Nhất Vũ, căn cứ vào thang âm và điệu thức nói thơ Vân Tiên ở Bến Tre sử dụng điệu thức nam (hơi ai), trong khi đó nói thơ Sáu Trọng, nói thơ Hia Miêng, nói thơ Bạc Liêu thường diễn xướng trên điệu khúc oán.

Khi phong trào ca nhạc tài tử ra đời, tiếp theo là ca nhạc sân khấu cải lương thịnh hành và trở thành thời thượng, thì nói thơ Vân Tiên cũng bị phai nhạt dần. Vả chăng nhịp điệu nói thơ chỉ phù hợp với đời sống xã hội nông nghiệp cổ, không còn thích ứng với tâm lý con người trong thời đại công nghiệp, thời đại của ”mốt”, của tốc độ. Về phương diện thẩm mỹ, công chúng ngày nay, nhất là thế hệ trẻ, không chấp nhận sự lặp đi lặp lại những hình tượng nghệ thuật cũ kỹ, dù cho nó đã từng một thời làm say mê lòng người. Tuy nhiên, cho đến nay, ở Bến Tre, trong các làng quê vẫn còn những cụ già nằm lắc lư theo nhịp võng, vừa vuốt râu ngâm ngợi say mê điệu nói thơ Vân Tiên trong buổi trưa hè, hay giữa buổi chiều êm ả, tĩnh mịch: "dữ răn việc trước, lành dè thân sau...".

Đã ban hành
Khu lưu niệm Nguyễn Thị ĐịnhKhu lưu niệm Nguyễn Thị Định
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.

Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.

Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.

Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.

Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng-Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.

Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âl ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.

Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Công trình này được UBND tỉnh Bến Tre giao cho Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre (Nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch) làm chủ đầu tư bằng Quyết định số 3186/QĐ-UB ngày 23/12/1999 trên phần đất có diện tích là 15.000m2.

den-tho-nu-tuong-nguyen-thi-dinh.png 

Đền thờ nữ tướng Nguyễn Thị Định

Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức với sự tham dự của các cơ quan, ban, ngành của Trung ương và địa phương. Trải qua 3 năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 - 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng trong sự hân hoan của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng trong đó có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.

Đến đầu năm 2006, nhà triển lãm về cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Định được khởi công xây dựng trong khuôn viên của Khu lưu niệm. Cùng lúc, Bộ Quốc phòng cũng tiến hành đúc tặng khu lưu niệm tượng bán thân bằng đồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m; tác giả là trung tá Nguyễn Phước Tùng - Bảo Tàng Lịch Sử Quân Đội Việt Nam.

Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ, nhà triển lãm (diện tích 274,24m2, vốn đầu tư trên 1 tỉ đồng) được xây dựng ở gần cổng Khu lưu niệm dùng để tiếp khách và triển lãm những hình ảnh, hiện vật liên quan đến cuộc đời của bà.

Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định là một công trình văn hóa đầu thế kỷ 21, điểm thêm một chấm son trong công tác giáo dục truyền thống lịch sử tỉnh Bến Tre. Hàng năm vào ngày 28/7 (âl) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Khu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến TreKhu di tích lịch sử Đồng Khởi Bến Tre
- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.

Image
Nhà lưu niệm Đồng Khởi
Những cột mốc chính của quá trình diễn biến cuộc Đồng Khởi:

- Ngày 1-1-1960, đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre đi dự hội nghị của Khu ủy khu 8 để tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương về đến Mỏ Cày.
- Đêm 2-1, hội nghị cán bộ lãnh đạo tỉnh được triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày, để truyền đạt lại tinh thần Nghị quyết 15 và bàn kế hoạch phát động tuần lễ nổi dậy đồng loạt, từ 17-1-1960 đến 25-1-1960, lấy 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh làm điểm đột phá.
- Ngày 11-1-1960, Huyện ủy Mỏ Cày họp với cấp ủy xã Định Thủy, bàn kế hoạch thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy.
Đúng ngày 17-1-1960, cuộc nổi dậy bùng nổ và đã giành thắng lợi đúng như dự kiến.
- Ngày 20-1-1960, trung đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập, mang tên phiên hiệu 264.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi tại vùng điểm đã mở màn, cổ vũ cho phong trào nổi dậy trong toàn tỉnh, sau đó lan ra trong toàn miền. Đến ngày giải phóng (30-4-1975), những di tích diệt ác ôn, hạ đồn địch trong cuộc Đồng Khởi đã bị mai một đi nhiều. Để bảo tồn những di tích và hình ảnh, tư liệu về sự kiện lịch sử to lớn này, nhằm giáo dục truyền thống yêu nước bất khuất của người dân, và để nâng cao lòng tự hào về những chiến tích đã đạt được, lãnh đạo tỉnh Bến Tre chủ trương xây dựng tại xã Định Thủy một “Nhà truyền thống Đồng khởi”. Khu di tích này được thiết lập trên một diện tích 5.000 m2, gồm nhà bảo tàng một trệt, một lầu, có diện tích sử dụng 500 m2. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12 m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng khởi cháy sáng mãi trên xứ Dừa. Bên trong nhà là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch v.v…

   Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

   Từ thành phố Bến Tre đi qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, đến thị trấn Mỏ Cày, rẽ về 3 xã nói trên bằng đường ô-tô là đến khu di tích. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông theo đường kênh đến tận trung tâm của cái nôi Đồng khởi.

  Di tích Đồng khởi đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ra quyết định số 43-VH/QĐ công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

LÊ DUẨN - TỔNG BÍ THƯ BCHTƯĐCS VIỆT NAM

   “Cuối năm 1959 tại nhiều nơi ở Nam Bộ, quần chúng đã vùng lên diệt ác, phá kìm, khiến cho bộ máy tề ngụy của hàng trăm thôn, xã phải tan vỡ. Đặc biệt đêm 17-1-1960, dưới sự chỉ đạo của Ðảng bộ Bến Tre, nhân dân huyện Mỏ Cày đã nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt mở đầu cho một cao trào mới. Từ đó, làn sóng “Đồng khởi” như nước vỡ bờ lan ra toàn tỉnh Bến Tre và khắp các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên và Trung Trung Bộ"(1).

   “... Những cuộc đấu tranh cách mạng ấy thực chất là cao trào khởi nghĩa của quần chúng, bao gồm những cuộc khởi nghĩa từng phần, để giành thế mạnh về chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng ở thôn xã, hình thức bước đầu lực lượng vũ trang của nhân dân"(2).

   * Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do TƯCMN và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tỉnh đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954 - 1968) với các danh hiệu sau đây:

1 - Tỉnh Bến Tre: “Anh dũng Đồng khởi, thắng Mỹ diệt ngụy”.

2 - Tỉnh Long An: "Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc".

3 - Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng: "Trung dũng kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

ĐẠI TƯỚNG HOÀNG VĂN THÁI (Nguyên Tư lệnh B2):

   Trong bài phát biểu ở Hội nghị Tổng kết cuộc KCCM cứu nước của nhân dân Bến Tre, ngày 17-7-1982 đã kết luận:

   "Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ, Diệm. Rõ ràng, phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó".

ĐẠI TƯỚNG ĐOÀN KHUÊ, BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG:

   Nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng ấp Bắc, tỉnh Mỹ Tho, nay thuộc tỉnh Tiền Giang (2.1.1963 - 2.1.1998), Đại tướng đã phát biểu:

   "Mọi sự việc diễn ra trong quá trình lịch sử đều có những cột mốc phát triển của nó. Ðồng khởi Bến Tre tạo ra chiến thắng Ấp Bắc; chiến thắng Ấp Bắc tạo ra Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu), Ba Gia (Quảng Ngãi), Núi Thành (Quảng Nam), Vạn Tường (Quảng Ngãi)".

THỦ TƯỚNG VÕ VĂN KIỆT:

{mosimage}   "Chiến công chống chánh quyền ngụy tay sai của Mỹ, tiêu biểu khởi đầu là phong trào Đồng khởi của nhân dân và các chiến sĩ kiên trung của Bến Tre, đặc biệt là các chị em được mệnh danh là "đội quân tóc dài", những người đã anh dũng vùng lên, cùng nhau nổi dậy thành một phong trào, đấu tranh chính trị kết hợp với bạo lực vũ trang, phá thế kìm kẹp, làm thay đổi cục diện trên địa bàn lúc bấy giờ. Trong lúc đó ở miền Nam nhiều nơi cũng có phong trào tương tự, nhưng về quy mô thì chưa có nơi nào như ở Bến Tre (ít nhất cũng riêng Nam Bộ)

   Sự Ðồng khởi ở Bến Tre đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào nhân dân nổi dậy đấu tranh của nhiều địa phương khác ở Nam Bộ.Tôi có vinh dự lớn lúc đó là "người trong cuộc và có điều kiện theo dõi bước phát triển quan trọng này trong quá trình kháng chiến của Bến Tre đã được chứng minh trong nhiều văn kiện của Đảng và những tác phẩm văn học nghệ thuật ghi nhận là "quê hương Đồng khởi”, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre có quyền tự hào về điều này"(3).

CHỦ TỊCH TRẦN ĐỨC LƯƠNG:

   Trong thư biểu dương bà Nguyễn Thị Ðấu - Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Đồng khởi Bến Tre ở đoạn kết có câu: “Kính chúc mẹ, chúc Đảng bộ và nhân dân Bến Tre tiếp tục phấn đấu và phát huy truyền thống "Quê hương Đồng khởi” trong thời kỳ đổi mới”.

Chú thích:

(1) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr.397
(2) Lê Duẩn, Thư gửi Xứ ủy Nam Bộ, ngày 28-2-1961, Sđd, tr.40
(3) Trích thư của đồng chí Võ Văn Kiệt gởi cho Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, ngày 16-5-1995, ký tên Sáu Dân (tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt từ thời KCCM).
Đã ban hành
Cầu Bà MụCầu Bà Mụ
&nbsp;<br />

Cầu bê-tông cốt thép nằm trên đường Nguyễn Huệ, thuộc phường Phú Khương, thị xã Bến Tre. Cách nay gần một thế kỷ, nơi đây có một bà mụ vườn khá giỏi nghề, nhà bà nằm bên kia con rạch lớn, cho nên khi dân trong thị xã có người sắp sinh con, phải đi đò sang bên kia để rước bà đỡ đẻ. Về sau, dân ở đây đã góp tiền làm một cầu gỗ qua con rạch để tiện đi lại. Cầu mang tên bà mụ từ đó. Về sau cầu gỗ được thay bằng cầu bê-tông vĩnh cửu, nhưng tên gọi Bà Mụ vẫn giữ nguyên cho đến ngày nay.

Đã ban hành
Sông Ba LaiSông Ba Lai
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi nay là xã Tân Phúra đến biển, cửa Ba Lai. Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp​ ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho. Từ xã Tân Lợi đến xã Thành Thiệu (dài 17 km) dòng sông cạn và hẹp. Từ kênh An Hóa đi về phía biển, lòng sông được mở rộng từ 200 – 300 m, độ sâu từ 3 – 5 m. Nước từ sông Mỹ Tho qua kênh An Hóa, chảy mạnh vào sông Ba Lai làm hạn chế quá trình lắng đọng phù sa của đoạn sông này. Lúc kênh mới đào, chiều rộng chưa đầy 30 m, nhưng do dòng nước chảy xiết nên sông bị xói mòn nhanh và rộng dần ra cả trăm mét. Do nước chảy mạnh, dưới đáy sông lại có những cồn ngầm, cho nên vào mùa gió chướng thổi mạnh, mặt sông thường có sóng lớn, nước xoáy, gây nguy hiểm cho thuyền bè đi lại. Trên sông có các cồn như cồn Dơi, cồn Qui, cồn Bà Tam, cồn Thùng.Vào giữa năm 2000, một kế hoạch thủy lợi lớn nhất tỉnh, xây dựng cống đập Ba Lai nhằm ngọt hóa phần đất phía bắc Bến Tre đã bắt đầu được khởi công.

Hệ thống sông Ba Lai

Tên sông, rạch, kênh (1)

Địa bàn

Độ dài

R. Bà Tam

Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H. Châu Thành)

5,0 km

R. Phú Hữu

Ranh giới giữa xã Phước Thạnh và Hữu Định (H. Châu Thành)

8,0 km

R. Khai Luông

Xã Phước Thạnh (H. Châu Thành)

6,0 km

K. Chẹt Sậy

Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm 1878 – 1902

5,0 km

R. Ba Tri Rơm

Xã Châu Hòa (H. Giồng Trôm)

5,0 km

R. Cái Muồng

Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H. Bình Đại)

10,0 km

R. Vàm Hồ

Ranh giới giữa xã Châu Bình (H. Giồng Trôm) và xã Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,5 km

K. Số 1

Từ xã Bình Thới đến xã Thạnh Trị (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Mỹ Nhiên

Ranh giới giữa xã Mỹ Chánh, Tân Xuân và Mỹ Hòa (H. Ba Tri)

7,0 km

R. Xẻo Tượng

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Chim

Xã Đại Hòa Lộc (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Khiêm

Xã Thạnh Phước (H. Bình Đại) thông với K. Ông Cai

5,5 km

R. Ruộng Muối

Xã Bảo Thạnh (H. Ba Tri)

5,0 km

Chú thích :

(1)

Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H. 
Đã ban hành
Sông Mỹ ThoSông Mỹ Tho
Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng.

Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến biển còn có tên là sông Cửa Đại). Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Lòng sông sâu và rộng, trung bình từ 1.500 đến 2.000 m, và càng ra biển càng được mở rộng. Tàu trọng tải 500 tấn có thể đi từ cửa Đại đến tận Phnom Pênh, thủ đô của Campuchia. Trên sông có nhiều cồn lớn như cồn Thới Sơn, cồn Rồng (thuộc tỉnh Tiền Giang), cồn Phụng, cồn Tàu (thuộc tỉnh Bến Tre). Chiến công lịch sử hiển hách của vị anh hùng Nguyễn Huệ, trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1), đã diễn ra trên dòng sông này. Mùa xuân năm 1785, nghĩa quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ, đã phục kích và đánh tan tác hai vạn quân Xiêm theo đường thủy kéo vào xâm lược nước ta dưới danh nghĩa theo lời "cầu viện" của Nguyễn Ánh.

Hệ thống sông Tiền

Tên sông, rạch, kênh (2)

Địa bàn

Độ dài

R. Cái Sơn

Xã Phú Túc (H. Châu Thành)

6,5 km

R. Phú Thành

Xã Quới Sơn (H. Châu Thành) hai đầu ăn thông với sông Tiền

5,0 km

R. Cái Xép

Từ xã Giao Long (H. Châu Thành) tới xã Long Định (H. Bình Đại)

6,0 km

R. Giao Hòa

Từ xã Giao Hòa đến xã An Hóa (H. Bình Đại), nối sông Cửa Đại, sông Ba Lai và sông Bến Tre.

9,0 km

R. Tân Định

Ranh giới của xã Lộc Thuận và Phú Long (H. Bình Đại)

5,0 km

R. Cả Nhỏ

Từ xã Bình Thới đến xã Định Trung (H. Bình Đại)

9,0 km

R. Cả Mới

Từ xã Thạnh Trị đến xã Định Trung (H. Bình Đại)

8,0 km

R. Ông Lê

Xã Thừa Đức (H. Bình Đại)

5,0 km

 Chú thích  

(1)Rạch Gầm – Xoài Mút là hai nhánh rạch nhỏ chảy vào sông Tiền.

(2)Theo thứ tự từ thượng nguồn ra đến biển của từng con sông lớn, cả bên tả ngạn và bên hữu ngạn, và chỉ kể những kênh, rạch có độ dài từ 5 km trở lên. Sông được viết tắt là S; Rạch được viết tắt là R; Kênh được viết tắt là K; Huyện được viết tắt là H.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc SơnPhó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Trúc Sơn
XL_truc-son.jpg
- Họ và tên: Nguyễn Trúc Sơn
- Sinh năm: 1971
- Quê quán: Xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Anh văn, Thạc sĩ Quản trị Chương trình và Chính sách công
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Trương Duy Hải
- Sinh ngày: 25/5/1959
- Quê quán: Xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Vấn đề mặnVấn đề mặn
Trong thủy văn của Bến Tre, vấn đề mặn cần phải được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Là một tỉnh nông nghiệp vùng ven biển, chất lượng nước tưới cho cây trồng có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế. Nắm được quy luật diễn biến của mặn, ta có thể bố trí cơ cấu cây trồng, bố trí thời vụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

Mặn biến đổi theo thời gian

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước biển trung bình. Các con sông chủ yếu chịu tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3 km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt.

Mặn theo nước thủy triều vào trong sông, nên có quan hệ mật thiết với chế độ thủy triều. Sự dao động cũng tương tự như sự dao động của triều. Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ. Càng xa biển, chênh lệch này càng lớn. Ngoài việc biến đổi theo mùa mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra xa. Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ hơn dưới 2%o​. Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất.

Mặn biến đổi theo không gian

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm. Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và làm loãng của lượng nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm.

Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ. Cửa nào có độ sâu lớn diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ.

Ranh giới mặn

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn về. Lượng nước ngọt càng nhỏ, ranh giới mặn càng vào sâu nội địa, vì vậy mùa cạn, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh. Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu không bị nhiễm mặn, khu nước lợ và khu nước mặn.

Phân tích đường đẳng mặn ở mức 4%o, 10%o, 15%o vào các tháng 12 (cuối mùa mưa) và tháng 2 (cuối mùa khô) với kết quả quan trắc từ các năm 1982 – 1993 cho thấy:

- Độ mặn xảy ra cao nhất từ các tháng 2, 3, 4. Độ mặn trên 4%o gây ảnh hưởng cho cây trồng xuất hiện từ tháng 1 – 4 ở 2/3 diện tích của tỉnh (trừ khu vực An Hoá, phường 7, thị xã (nay là thành phố) trở lên phía thượng nguồn).

- Đường đẳng mặn 4%o tháng 12 xuất hiện cách bờ biển huyện Ba Tri 9 km qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Hưng Nhượng (huyện Giồng Trôm), Thới Thạnh (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thượng nguồn, vào tháng 2, cách bờ biển 37 km, qua các xã Giao Hòa (huyện Châu Thành), Phú Hưng (thị xã nay là thành phố), Thuận Điền (huyện Giồng Trôm), Thành Thới (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 6%o vào tháng 12 xuất hiện cách huyện Ba Tri 6 km, qua các xã Bình Thới (huyện Bình Đại), Mỹ Nhơn (huyện Ba Tri). Đường đẳng mặn tiến dần về phía thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre); cách bờ biển Ba Tri 23 km vào tháng 4, qua các xã Vang Quới (huyện Bình Đại), Tân Hào (huyện Giồng Trôm), Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày).

- Đường đẳng mặn 20%o vào các tháng 7 xuất hiện cách bờ biển Ba Tri 2 km qua các xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại), Tân Xuân (huyện Ba Tri), An Qui (huyện Thạnh Phú) tiến dần về phía thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), cách bờ biển Ba Tri 17 km vào tháng 4 qua các xã Lộc Thuận (huyện Bình Đại), Bình Thành (huyện Giồng Trôm), Quới Điền (huyện Thạnh Phú).

- Đường đẳng mặn 20%o cách bờ biển Ba Tri 5 km vào tháng 4. Trong những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ ở thượng nguồn làm giảm lượng nước đổ về phía biển, nên xu hướng mặn ngày càng xâm nhập sâu hơn vào đất liền. Ranh giới mặn 4%o cuối mùa khô đã vượt qua khỏi thị xã (nay là thành phố) lên đến các xã Phú Túc, Phú Đức (phía sông Cửa Đại) và Cái Mơn (phía sông Cổ Chiên).

Nghiên cứu từng con sông, ta thấy sông Ba Lai có độ dài xâm nhập mặn lớn nhất. Nguyên nhân do sông Ba Lai đang ở giai đoạn chết dần, không đẩy mặn ra xa được, vì lượng nước nguồn về quá nhỏ. Sông Hàm Luông có độ dài xâm nhập mặn nhỏ nhất. Nguyên nhân do cửa sông và suốt dọc chiều dài sông có nhiều bãi bồi, và do lưu lượng nước vào mùa cạn lớn nhất trong số 4 con sông.

Độ mặn trong kênh rạch

Kênh rạch không có nước ngọt từ thượng nguồn về, nên thủy triều dồn vào, mặn ngấm vào trong đất, tích tụ ngày một nhiều, vì vậy với cùng khoảng cách đới với cửa sông, bao giờ độ mặn trong kênh rạch cũng lớn hơn trong sông. Vấn đề mặn, nhất là mặn trong kênh rạch, là một vấn đề phức tạp, có ý nghĩa lớn đối với việc cấp nước tưới cho cây trồng, cần được nghiên cứu chu đáo vào toàn diện hơn.

Trong các năm qua, theo kế hoạch phát triển nông nghiệp toàn diện của tỉnh, nhiều chương trình đầu tư vào thủy lợi lớn đã được thực hiện, góp phần ngăn việc xâm nhập mặn, dẫn nước ngọt vào đồng ruộng (nhất là khu vực Vàm Đồn, huyện Mỏ Cày), Bốn Mỹ, Vàm Hồ (huyện Ba Tri), đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt. Các công trình thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm qua cũng đã góp phần ngọt hoá vùng nước lợ, tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất, thâm canh tăng vụ, mở rộng và tăng cường nguồn nước ngọt đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt cho nhân dân.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920 – 1992)Nguyễn Thị Định (1920 – 1992)
&nbsp;

    Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

   Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

   Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

   Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

   Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

   Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

   Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

   Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

   Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

   Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

   Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

   Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

   Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Khu lưu niệm nữ tướng Nguyễn Thị Định – nơi giáo dục truyền thống yêu nước

Chú thích:

(1) Xem thêm Cuộc vượt biển mở đường lần thứ nhất từ Bến Tre ra Hà Nội năm 1946 ở phần PHỤ LỤC.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh TràAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Thanh Trà
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre

Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre.

Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre.

Tháng 8-1945, Nguyễn Thanh Trà được cử làm Phó Ty Công an Bến Tre, trực tiếp chỉ huy bắt được nhiều tên phản động khét tiếng như: Quản Hiền, Đoàn Văn Lều, Cai tổng Sanh, Đội Xôm và mở ngay các phiên tòa xét xử chúng để gây uy thế cho cách mạng. Nguyễn Thanh Trà còn tổ chức nhiều trận chiến đấu chặn quân địch đi càn quét, vây ráp.

Năm 1952, Nguyễn Thanh Trà bị một tên chỉ điểm, anh đã nhanh chóng thủ tiêu các tài liệu quan trọng trước khi bị địch bắt. Giặc tìm mọi biện pháp chiêu hồi, nhưng Nguyễn Thanh Trà vẫn giữ vững khí tiết cách mạng của người cộng sản. Một lần trong nhà giam của địch, Nguyễn Thanh Trà dùng mảnh vỏ chai rạch bụng, lấy máu viết lên tường: “Năm Nhâm Thìn có Trà chết tại Bến Tre, chúc binh sĩ và đồng bào mạnh khỏe, Hồ chủ tịch muôn năm! Việt Nam độc lập muôn năm!” Kẻ địch phát hiện được đã đưa Nguyễn Thanh Trà đi băng bó và tiếp tục thuyết phục chiêu hồi, nhưng chúng đã thất bại. Trong lúc bọn lính canh sơ hở, Nguyễn Thanh Trà giật bông băng tự móc ruột mình và hy sinh anh dũng.

Ngày 3-8-1995, Nguyễn Thanh Trà được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Nguyễn Văn Đức

Phó Chủ tịch

Nguyễn Trúc Sơn

Đã ban hành
Một ngày thú vị trên sông nước xứ dừaMột ngày thú vị trên sông nước xứ dừa
Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Ngày nghỉ cuối tuần, cả nhóm chúng tôi rủ nhau du hành một chuyến về vùng đất xứ dừa khám phá sông nước, miệt vườn, xứ sở mà nghe người ta nói đi đâu cũng gặp những vườn dừa xanh thẩm bạt ngàn.

Từ thành phố Hồ Chí Minh xe khởi hành lúc 08 giờ sáng, 09 giờ 45 bọn tôi đã đến bến tàu du lịch Tiền Giang; 10 giờ xuống du thuyền và bắt đầu khám phá sông nước – miệt vườn của vùng đất xứ dừa. Từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, du thuyền đưa chúng tôi lênh đênh trên dòng sông Tiền, ngắm nhìn sông nước mênh mông, những tàu thuyền xuôi ngược, những gợn sóng nhấp nhô lắc lư du thuyền, cả bọn khoái chí vô cùng.

 

Chỉ một ngày ngắn ngủi trong chuyến hành trình khám phá vùng sông nước Bến Tre, do công ty Cổ phần du lịch Bến Tre tổ chức, thật sự là một ấn tượng đáng nhớ và khó quên của cả nhóm. Điểm dừng chân đầu tiên, chúng tôi được hướng dẫn tham quan các điểm du lịch trên Cồn Phụng (Châu Thành, Bến Tre). Đến đây, ngoài việc tận hưởng khí trời thoáng mát của vùng sông nước, chúng tôi được tham quan các kiến trúc còn hiện hữu như: Sân rồng, tòa tháp với lối kiến trúc độc đáo, có nhiều hoa văn rất đẹp, cũng như tham quan tìm hiểu về lịch sử công trình này, cả đoàn thích thú vô cùng.

 

Điểm tiếp theo được hướng dẫn thăm cơ sở sản xuất kẹo dừa và tráng bánh tráng truyền thống. Nhìn những viên kẹo dừa mới ra lò còn nóng hổi, có mùi thơm béo ngậy và nhìn đôi bàn tay khéo léo của người thợ gói kẹo, bọn tôi ngưỡng mộ vô cùng. Chúng tôi được thưởng thức những viên kẹo dừa đặc sản, do chủ cơ sở mời và uống ly trà nóng, bọn tôi cảm thấy nó ngọt ngào, ấm lòng, thâm tình sao sao ấy và khó diễn tả hết được sự mến khách của người dân xứ dừa, điều mà từ lâu bọn tôi đã nghe nhiều người nhắc đến.

Cũng tại Cồn Phụng, hành trình trên những con đường làng quanh co dưới những vườn cây trái rậm bóng mát, chúng tôi tham quan cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Cả bọn tôi ai cũng lóe mắt, ngạc nhiên với những sản phẩm thủ công mỹ nghệ hết sức độc đáo này. Phải công nhận rằng từ “cây dừa” sao mà làm ra nhiều thứ quá. Tò mò, tìm hiểu và tiếp xúc với người dân nơi đây, bọn tôi thán phục cái trí óc tưởng tượng phong phú, kết hợp với đôi bàn tay khéo léo của những “nghệ nhân miệt vườn” xứ dừa, cùng các kỹ thuật chế tác tinh xảo, đã sáng tạo ra rất nhiều loại sản phẩm từ dừa, nhất là một số sản phẩm tiêu biểu như: chén, đũa, nĩa, ấm trà, gạt tàn thuốc, hình các con vật,… để mọi người ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó. Cả đoàn ai cũng trầm trồ, rồi lựa chọn cho mình những sản phẩm thông dụng yêu thích. Riêng bọn tôi, mỗi đứa chọn cho mình một vài sản phẩm, nhất là các con vật trong bộ giáp, để tặng cho người thân, bạn bè đúng ý nghĩa với tuổi của mỗi người và để làm kỉ niệm nhân chuyến đi tại vùng sông nước, miệt vườn Bến Tre.

Đến Cồn Phụng, ngoài tham quan khung cảnh thiên nhiên, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các đặc sản truyền thống, chúng tôi thấm mệt nên nằm nghỉ chốc lát trên những chiếc võng đong đưa dưới vườn cây, tán lá xanh mát. Sau khi đã nghỉ ngơi lấy lại sức, chúng tôi tham gia vào trò chơi câu cá sấu, đây cũng là một thú tiêu khiển, thư giãn rất thú vị.

Du thuyền lại xuôi dòng sông Tiền, người hướng dẫn đưa chúng tôi đến điểm Cồn Quy; lênh đênh thưởng ngoạn trên sông nước, vừa ngắm nhìn những sản phẩm ngộ nghĩnh từ dừa trên tay, được ngồi thư thái trên du thuyền, được hít, thở gió trời của vùng sông nước xen lẫn với mùi thơm thoang thoảng của hoa bần, thật là thoải mái, thú vị vô cùng. Theo lời giới thiệu của hướng dẫn, Cồn Quy nhỏ nhất trong các cồn của Bến Tre được khai thác từ những năm 1960, hiện nay Cồn Quy vẫn còn giữ được những nét hoang sơ. Ven bờ Cồn Quy là những hàng bần với bông bần trắng tím là đà mặt nước, đong đưa trong gió và những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn đến hút mắt. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắt gặp những mái nhà lá đơn sơ thấp thoáng trong những vườn cây ăn trái trĩu quả.

Đến Cồn Quy, chúng tôi được ngắm một khung cảnh thiên nhiên hữu tình thơ mộng, khoái nhất là tham gia tát mương bắt cá, hái trái cây với chủ vườn và thưởng thức các đặc sản của vùng đất nơi đây. Dừng chân ở nhà hàng du lịch xanh Quê Dừa, ngồi trong các gian sàn rộng rãi, gọi là thủy tạ gió mát rười rượi, chúng tôi thư thái ngắm nhìn đám lục bình tràn đầy mặt hồ đã tới mùa nở hoa tím ngát rất đẹp. Theo nhận xét của nhóm chúng tôi, nhà ăn ở đây được cất bằng tre lá nhưng đầy đủ tiện nghi và theo lời giới thiệu của chủ cơ sở ở đây phục vụ khoảng 400 khách cùng một lúc, với những món ăn đặc sản dân dã như: Cá bông lau nấu canh chua bần với rau muống đồng, cá điêu hồng hấp với các loại nấm và bông bí, tép rang dừa, cháo cua đồng, cá rô kho tộ, cá tai tượng chiên xù,…

Thật hấp dẫn, cả đoàn chúng tôi còn được phục vụ đàn ca tài tử, được đưa đi tham quan quy trình nuôi ong mật, vừa thưởng thức trái cây mới hái,  thú vị nhất là được hớp ly trà mật ong. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết người dân nơi đây sáng tạo nuôi ong lấy mật tại vườn nhà, sau đó pha với trà phục vụ cho du khách. Vị đắng hậu ngọt của trà hòa trong vị ngọt chua của mật ong thật là tuyệt.

 

Tham quan xong Cồn Quy, từ du thuyền lớn chuyển sang những chiếc xuồng chèo nhỏ đưa chúng tôi len lỏi vào trong các con rạch nhỏ. Càng vào sâu trong rạch, hai bên dừa nước chen mọc dày đặc, xanh um, cùng với những bông, quầy dừa nước lớn, nhỏ, đua nhau khoe sắc trông đáng yêu vô cùng. Hướng dẫn viên thuyết minh, đây là con rạch nhỏ có tên là rạch Xếp thuộc xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, Bến Tre. Nó có tên rạch Xếp, vì càng vào sâu con rạch càng xếp nhỏ lại. Đến đây, chúng tôi được đưa đi xem các lò sấy nhãn nằm dài theo những con đường làng rợp bóng dừa xanh. Chúng tôi bắt gặp hình ảnh của  những người dân mến khách luôn có nụ cười cởi mở và thân thiện làm cho chúng tôi cảm thấy sự gần gũi và gắn bó với nơi đây tự bao giờ.

Tiếp tục chuyến hành trình, chúng tôi đến với điểm du lịch Quới An tham quan ngôi nhà chữ “đinh” làm bằng gỗ dừa rất độc đáo, đây là kiểu nhà truyền thống Nam Bộ. Trong ngôi nhà trưng bày tranh, ảnh, các hiện vật có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân Nam Bộ, cũng như các sản phẩm quà lưu niệm làm từ dừa. Chia tay điểm du lịch Quới An, tiếp tục thả bộ trên con đường làng rợp bóng dừa xanh với những vườn cây trái xanh mát, chúng tôi càng thích thú hơn khi được ngồi trên thùng xe để “chú ngựa” kéo đi, cảm giác lần đầu đi xe ngựa ngắm đường làng và nhìn thấy sinh hoạt thường nhật của người dân nơi đây cả bọn chúng tôi khoái khoái sao sao ấy. Tiếng ngựa lóc cóc vang lên trên con đường quê rợp bóng dừa xanh, thoang thoảng đâu đây mùi hương của hoa dừa, hoa của những vườn cây ăn trái,… đã làm nên một kỷ niệm khó phai trong lòng mỗi chúng tôi khi tham gia vào một chuyến du hành khám phá vùng sông nước – miệt vườn Bến Tre.

Trong chuyến đi này, nhóm bạn chúng tôi mỗi đứa có một ý nghĩ, một cảm nhận riêng. Song chúng tôi có cùng một sở thích và thích thú vô cùng đó là “xuồng chèo” len lỏi trong những con rạch nhỏ, nhìn dòng nước ròng, nước lớn, có màu đục đục. Có lẽ đây là dòng nước có nhiều phù sa, nên đã bồi tụ cho vùng đất này có rừng dừa xanh thẩm bạt ngàn và phong phú nhiều vườn cây ăn trái tốt tươi. Yêu nhất vẫn là hai hàng dừa nước xanh um tùm, đan xen trong đó là những cây bần trổ hoa thơm ngát. Hương thơm của hoa bần, với những làn gió mát rượi của vùng sông nước xứ dừa, những món ăn dân dã, những món quà lưu niệm xinh xinh làm bằng dừa,… làm cả bọn chúng tôi quên đi mệt mỏi. Đây thật sự là một trải nghiệm đáng nhớ của nhóm chúng tôi trong chuyến hành trình về với quê hương xứ dừa. Hy vọng một lần nữa hành trình đến vùng đất xứ dừa, với tuyến khám phá khác sẽ gặt hái nhiều kỷ niệm đẹp và thích thú nhiều hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Những cột mốc của quá trình Đồng KhởiNhững cột mốc của quá trình Đồng Khởi
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1)

Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo Iực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" (2).

   Nghị quyết 15 của TƯĐCS đã đánh dấu một mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.

   Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kiềm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.

   Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

   - Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.

   - Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).

   Ngày 22-2-1960, Mỹ, Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang cách mạng, hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.

   - Ngày 27-2-1960, hàng ngàn dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, mùng mền "tản cư" vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

   - Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.

   Sau khi chỉ đạo cuộc Đồng Khởi thắng lợi ở Mỏ Cày, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.

Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn quét phải rút về vị trí cũ.
Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
Cao trào Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở địch.
Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi đợt II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác của tỉnh.
   Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc Đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20-12-1960.

(1)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1980.
(2)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd.
Đã ban hành
Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế)
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 50/QĐ-UBND ngày 10 tháng 01 năm 2012 công nhận Miếu thờ và mộ Lê Quang Quan (Tán Kế), xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh 885 đến ngã tư Giồng Tre (huyện Ba Tri, 31km), rẽ trái theo đường liên xã An Ngãi Trung - An Phú Trung đến ngã ba (2km), rẽ phải khoảng 4,5 km là đến, di tích nằm bên phải.

Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, Lê Quang Quan (Tán Kế) cùng với một số binh sĩ khác bất mãn, bỏ ngũ trốn về quê. Trở về Mỹ Chánh, ông vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà.

Tháng 6/1867, giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế, địa hình hiểm trở (lúc bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp).

Cuộc khởi nghĩa của ông đã gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 21/02/1869). Trong dân gian ở vùng này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.

Cảm phục về cái chết của người anh hùng vùng đất Ba Châu, nhân dân đã lập miếu thờ ông ở những nơi mà ông và nghĩa quân thường qua lại hoạt động. Hiện nay, một miếu thờ Tán Kế được xây dựng ngay tại quê ông (xã Mỹ Thạnh, huyện Ba Tri; mộ cũng được chôn cất ở đây) để tưởng nhớ đến người anh hùng và một miếu thờ khác cũng được xây dựng tại nơi ông hy sinh, ấp Thới Hòa, xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hànhSưu tầm
Cát bùn và diễn biến các dòng sôngCát bùn và diễn biến các dòng sông
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.
Lượng cát bùn Sông Tiền hằng năm đổ ra biển khoảng 286 tỷ mét khối nước. Với lượng ngậm cát bình quân xấp xỉ 0,12 kg/m3 các sông thuộc Bến Tre được hưởng một lượng bùn cát khoảng 25 triệu tấn. Lượng bùn cát này là nguồn phân bón thiên nhiên, một phần bồi đắp cho đất đai, đồng ruộng thêm màu mỡ, phần còn lại đổ ra cửa sông, lắng đọng tạo thành bãi bồi, mỗi năm lấn ra biển tới hàng chục mét.

Kích thước các con sông và sự diễn biến lòng sông

Xem xét kích thước con sông người ta có thể xác định điều kiện ổn định động lực của nó, có thể giải thích các nguyên nhân phá vỡ cân bằng động lực, có thể dự đoán sự phát triển tương lai của dòng sông.

Các sông tỉnh Bến Tre, nhìn chung phân bố theo hình nan quạt và tương đối phẳng, có độ rộng tăng dần và độ sâu giảm dần về phía biển và có hiện tượng bồi lắng tăng dần từ nội địa ra biển.

Diễn biến – xâm thực các vùng cửa sông

Sự diễn biến lòng sông diễn ra khá phức tạp. Tình trạng xói lở bờ cũ, hình thành bờ mới, tách ra, nhập vào của các cồn bãi trên sông diễn ra thường xuyên, liên tục. Qua khảo sát thực tế năm 1996, vùng cửa sông Cửa Đại có độ sâu thay đổi từ 5 – 9 m. Đáy sông thuộc phía Bến Tre thường là nông, độ sâu trung bình từ 5 – 6 m; trong khi phí Tiền Giang, độ sâu từ 8 – 9 m. Một dải bồi tụ giữa sông nối tiếp cồn Bà Nở kéo dài tới 4 km và lệch về phía Bến Tre, làm lệch dòng chảy và gây xâm thực bờ sông phía Bến Đình. Đoạn từ Bình Thới đến Thừa Mỹ bị xâm thực mạnh. Bến Đình (1,75 km), tây bắc rạch Bà Khoai (0,5 km), tây bắc rạch Thừa Mỹ (1,5 km), vách xâm thực cao trung bình từ 1 – 1,5 m. Về phía biển, quá trình bồi tụ diễn ra rất mạnh. Một dải bồi tụ kéo dài từ rạch Thừa Mỹ đến cồn Tàu.

Cửa Hàm Luông có đáy sông nông hơn cửa Đại, trung bình từ 6 – 7 m, theo kiểu lòng máng cong đều, rãnh sâu lệch về phía bờ nam (8 – 10 m). Từ giồng Gò Chùa đến cửa rạch Đùng (cồn Hố) dài 6 – 7 km, bị xâm thực mạnh tại các điểm Bà Hiền (1,8 km), khém Bắc Kỳ (0,5 km), tây rạch Đùng (1,75 km). Các vị trí còn lại là bờ bồi tụ.

Cửa Cổ Chiên có địa hình đáy sông sâu 7 – 8 m. Nhìn chung phần giữa sông mặt đáy khá bằng phẳng, bờ sông bị xâm thực mạnh ở khu vực từ cửa Cái Bai đến Eo Lói (2,25 km), nam rạch Eo Lói (0,7 km), đông rạch Khém Thuyền (0,3 km), nam rạch Khâu Băng (0,7 km). Một cồn cát tích tụ kéo dài từ cù lao Long Hòa (Trà Vinh) về phía đông nam tới 5 km.

Cửa Ba Lai có trắc diện hình chữ U hơi lõm, độ sâu phổ biến từ 5 – 7 m. Khu vực cửa Ba Lai đang trong quá trình bồi tụ, mạnh nhất là bờ bên phải, từ cửa ấp Thạnh Phước đến Bảo Thuận (3 km) và khu vực từ rạch Vũng Luông đến xóm Trên (1 km). Địa hình các dãy tích tụ này phân bổ ở độ sâu trung bình 6 m khi triều cường và phần lớn lộ ra khi triều kém, nước ròng, tạo thành những bãi cát ngầm rộng tới 500 m. Vùng này hiện là các sân nghêu lớn của địa phương. Sự xâm thực chỉ xuất hiện trên đoạn bờ trái dài khoảng 500 – 800 m, bắt đầu từ chỗ rạch Thị Diễm đến cửa rạch Vũng Luông. Tại đây, đáy sông có lạch sâu từ 12 – 14 m.

Nhìn chung địa hình đáy sông vùng cửa sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Phiên tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cảng cá tại Bình Thắng (huyện Bình Đại), An Thủy (huyện Ba Tri), An Nhơn (huyện Thạnh Phú). Ở các cửa sông của Bến Tre, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế, đặc biệt là khu vực sông cửa Ba Lai và cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực các cửa sông diễn ra với qui mô nhỏ, liên quan chủ yếu đến hoạt động thủy triều, sóng và do tích tụ ở giữa sông, từ đó làm lệch dòng chảy.

Bồi tụ xâm thực ven biển

Biến động ven biển mạnh mẽ với quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Tài liệu qua ảnh chụp từ vệ tinh nghiên cứu trong 21 năm (1968 – 1989) cho thấy tổng diện tích bồi tụ là 61,170 km2 (trong đó huyện Bình Đại chiếm 19,807 km2, Ba Tri chiếm 16,989 km2, Thạnh Phú chiếm 24,373 km2). Như vậy trong 21 năm, tỉnh Bến Tre lấn ra biển 68,9 km2, tốc độ bình quân mỗi năm là 2,33 km2.

Đất bồi tụ hình thành dải hẹp ở phía bắc và phía nam cửa Đại. Vùng bồi tụ mạnh nhất là cửa Ba Lai, phía nam cửa Hàm Luông đến phía bắc cửa Cổ Chiên, diễn ra liên tục, tạo thành sân nghêu lớn ở phía đông cồn Lớn, trải dài trên diện tích từ Vàm Hồ đến cửa Cổ Chiên. Hiện tượng xâm thực chỉ thấy ở diện tích nhỏ nằm phía tây cồn Lớn thuộc cửa Cổ Chiên và rải rác ở phía bắc và phía nam của sông này. Cửa Cổ Chiên thường có độ sâu 5 đến 6 m và ít bãi cạn, nên giao thông tương đối thuận lợi. Cửa Cung Hầu nông hơn cửa Cổ Chiên, có một bãi nông trên mực nước triều trung bình án ngữ ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn.

Nhìn chung, vùng hạ lưu và vùng cửa sông có nhiều cồn bãi nổi và ngầm. Vì vậy, việc ra vào, đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn, trừ cửa Cổ Chiên có khá hơn chút ít.

Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hànhHoàng An
Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ Đặc công thuỷ binh chủng đặc biệt, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ
 Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Trong danh sách các đơn vị Anh hùng LLVTND tỉnh Bến Tre được Nhà nước ta tuyên dương, có đơn vị Đại đội đặc công thủy của tỉnh. Ngoài danh hiệu "anh hùng", đơn vị còn được tặng danh hiệu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ". Thành tích đó sống mãi trong lòng mọi chiến sĩ, mọi người dân Bến Tre.

   Ra đời ở một chiến trường bốn bề mênh mông sông nước và kênh rạch chằng chịt, trong một hoàn cảnh đặc biệt - giặc Mỹ áp dụng "chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông” - binh chủng đặc biệt này đã biết vận dụng một cách sáng tạo phương châm “lấy ít đánh nhiều”, lấy ý chí dũng cảm, trí thông minh để đối chọi lại với phương tiện hiện đại và kỹ thuật tối tân của Mỹ và đã đạt được nhiều chiến công vang dội liên tiếp, làm đau đầu những tên chỉ huy sừng sỏ của cái gọi là "Lầu năm góc phương Đông” ở Sài Gòn.

   Được thành lập năm 1961, ban đầu chỉ vỏn vẹn một tổ ba người, cho đến lúc trưởng thành gồm cả một đại đội với quân số 72 người. Ngoài đại đa số chiến sĩ là nam giới, còn có một đơn vị đặc công nữ (từ chỉ huy đến chiến sĩ đều do chị em tự quản lấy) mà những thành tích không kém thua nam giới. Đơn vị đặc công thủy Bến Tre không chỉ hoạt động trên địa bàn tỉnh nhà, mà còn chi viện cho các tỉnh bạn. Một tổ đặc công thủy ở đây đã tham gia đánh sập cầu Bến Lức (Long An) nằm trên đoạn quốc lộ 1A Sài Gòn - Mỹ Tho.

   Hoạt động của họ thường là thầm lặng, không ồn ào, rầm rộ, nhưng chiến công của họ thì lẫy lừng, vang dội, có lúc vượt ra ngoài biên giới đất nước. Với số quân không đông, nhưng thành tích của đội đặc công thủy Bến Tre thật là to lớn. Hằng trăm tàu địch, trong đó có những hạm tàu sửa chữa lớn có trọng tải hàng ngàn tấn, và hàng ngàn tên giặc bị nhận chìm xuống đáy dòng sông quê hương cùng với các loại vũ khí tối tân: xe pháo, thiết giáp, đạn dược các loại.

   Ðể đạt được những chiến công lừng lẫy đó, góp phần cùng sự nghiệp đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng quê hương, nhiều chiến sĩ đặc công đã ngã xuống, trong đó có Anh hùng LLVTND Hoàng Lam - người chỉ huy xuất sắc - có Nguyễn Thị Thủy, Lê Thị Hồng, những chiến sĩ đặc công dũng cảm, thông minh.

Chiến công đầu tiên 

   Để cắt đứt con đường bộ nối liền thị xã Bến Tre qua thị trấn Giồng Trôm, thị trấn Ba Tri để ra tận biển, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh quyết định đánh sập cầu Chẹt Sậy. Nhiệm vụ đó được giao cho đội đặc công thủy và cũng coi như là thử thách đầu tiên của đơn vị đặc biệt này. Tổ chiến đấu gồm có Kiên Trì (tổ trưởng), Lê Tự, Hoàng Lam và Việt Dũng.

   Là một chiếc cầu quan trọng nằm trên đường vận chuyển chiến lược của cù lao Bảo, do đó địch bố phòng khá nghiêm ngặt. Trên cầu có một trung đội thường trực canh giữ ngày đêm. Đặc biệt ban đêm, đèn điện các trụ và hai bên mô cầu sáng trưng như ban ngày. Cứ cách khoảng 15 phút, chúng ném lựu đạn xuống quanh các chân cầu một lần và bắn vào tất cả những dề lục bình khả nghi trôi về phía cầu để đề phòng sự đột nhập của bộ đội, du kích ta.

   Vào một đêm tháng 11-1962, các chiến sĩ bằng kỹ thuật thuần thục, đã áp sát chân cầu, gài mìn, nhưng vì trục trặc về kỹ thuật, mìn không nổ, lại phải rút ra. Đêm hôm sau, các chiến sĩ đột nhập trở lại. Khối thuốc nổ lớn làm rung chuyển cả hai bên bờ sông. Hai nhịp cầu sắt dài trên 50m gục đổ. Sáng ra, nhìn cây cầu sập, đồng bào vô cùng hồ hởi, khâm phục trong khi địch hoang mang không hiểu bộ đội ta đã đột nhập bằng con đường nào. Tiếp theo chiến công này là một loạt trận đánh diễn ra ở các cầu Lương Quới, Giồng Quéo, Bình Chánh, Cái Cấm, Ba Lai. Riêng cầu Chẹt Sậy đã bị lực lượng đặc công thủy đánh đi đánh lại đến 4 lần. Lần cuối cùng vào tháng 4-1975, cận kế ngày giải phóng, nhằm hạn chế sự vận động xe cơ giới của địch trên đường này nhằm chống lại cuộc tiến quân của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Đánh chìm hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre

   Trong những năm chiến tranh ác liệt, nơi vàm sông Bến Tre ra sông Hàm Luông, tàu chiến Mỹ thường tập trung rất đông, vì mực nước ở đây sâu, lòng sông rộng, địa hình trống trải, từ đây tàu địch có thể cơ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra trên một khu vực rộng lớn.

  Tổ đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy nhận được lệnh đánh vào chiếc tàu dài 110m, rộng 25m - một cơ xưởng nổi sửa chữa tàu thuộc loại hiện đại từ Mỹ đưa sang - đang đậu tại đây. Để bảo vệ tàu, địch quy định một chế độ canh phòng rất cẩn mật. Giữa dòng chảy xiết của sông Hàm Luông, chúng bố trí đèn pha cực mạnh có thể soi sáng từ xa, phát hiện tất cả những vật di động lớn nhỏ trên mặt nước. Cứ năm phút, lính tuần tiễu ném xuống quanh tàu lựu đạn và mìn hơi. Chúng còn dùng dòng điện cực mạnh phóng liên tục xuống nước để đề phòng đặc công ta có thể đột nhập vào bên trong cụm tàu đang bỏ neo. Trên bờ sông còn có bót Giồng Xoài, do một đại đội bảo an phối hợp cùng bọn mật vụ rải dài canh gác khu vực này, nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của bộ đội ta từ phía bờ.

   Đêm 23-11-1967, tổ đặc công xuất kích, đã dũng cảm, mưu trí vượt qua các màng lưới bố phòng của địch, kể cả máy bay trực thăng rọi đèn từ trên cao và các tàu tuần tiễu quần đảo liên tục chung quanh, đưa khối thuốc nổ 200kg áp vào thành buồng máy của hạm tàu một cách an toàn. Đúng 2 giờ khuya, một tiếng nổ long trời dội vào tận thị xã và vùng phụ cận. Có người đã chứng kiến hôm ấy, một cột nước cao gần trăm mét phụt lên không trung. Lửa cháy lan ra kín cả một khúc sông. Tàu 883 cùng 10 chiếc tàu nhỏ đậu chung quanh để chờ sửa chữa đều bị nhận chìm xuống dòng nước Hàm Luông, kéo theo hàng trăm sĩ quan, kỹ sư, thợ máy, kỹ thuật viên Mỹ, Úc, Tân Tây Lan...

Trận tập kích căn cứ nổi trên Hàm Luông

  Trong khi địch chưa hoàn hồn về trận tiến công hàm tàu sửa chữa đêm 23-11-1967, thì vào đêm 29-12-1967, các chiến sĩ bộ đội đặc công lại đánh bồi tiếp một trận mới tại căn cứ nổi của Mỹ nơi vàm Băng Cung. Trong trận này, đơn vị đặc công thủy đã đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có một tàu hải quân mang số 821 dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M.113 trên tàu bị phá hủy.

   Chỉ trong vòng hơn một tháng trời, bằng lực lượng nhỏ tinh nhuệ, quân ta đã đánh hai trận xuất sắc vang dội cả nước, gây tổn thất to lớn cho “chiến thuật hạm đội nhỏ trên sông" của giặc Mỹ ngay trên chiến trường Bến Tre.

Đội nữ đặc công thủy 

   “Đội quân tóc dài" ở miền Nam, mà nơi đầu tiên ra đời là đất Bến Tre, từng vang danh trong cả nước và tiếng tăm của nó cũng đã vượt ra ngoài biên giới Tổ quốc. Thế nhưng, còn có một kỳ tích nữa của phụ nữ Bến Tre mà người ta ít biết đến là những chiến công xuất sắc của đội nữ đặc công thủy ở đây trong những ngày đánh Mỹ. Xét về mặt thể lực, về tâm sinh lý cũng như đặc điểm giới tính, chị em không thể bơi lội ngâm mình, vật lộn với sóng nước cả ngày như những "con cá kình" nam giới. Nhưng rồi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh - đánh địch trên bộ được, thì chị em cũng có thể đánh địch được cả ở dưới nước. Và, một tổ đặc công thủy toàn nữ ra đời. Thực tế, chị em không khỏe và có sức chịu đựng dẻo dai như nam giới khi vật lộn với sóng nước, nhưng bù vào đó là tác phong tỉ mỉ, chu đáo, kiên trì - những đức tính rất cần thiết đối với người chiến sĩ đặc công - và chị em cũng có ưu thế hơn nam giới là khi cần có thể trà trộn vào ra nơi địch đóng quân để điều tra, trinh sát, hoặc đưa những phương tiện đặc biệt cần thiết vào sâu bên trong, chuẩn bị cho trận đánh thắng lợi.

   Đội nữ đặc công thủy Bến Tre gồm một đại đội, hoàn toàn do chị em tự điều khiển, từ đại đội trưởng đến chính trị viên, tổ trưởng v.v... Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp hoạt động với các tổ nam đặc công, đơn vị của các chị đã hoạt động trên khắp sông nước Bến Tre. Trong những thành tích mà bản tuyên dương công trạng anh hùng của đơn vị đặc công thủy Bến Tre đã nêu "Cỡi sóng Hàm Luông, nhận chìm hạm Mỹ" có phần đóng góp không nhỏ của chị em. Tất nhiên, có chiến công nào, thắng lợi nào mà không phải đổi bằng những hy sinh mất mát, có khác chăng sự hy sinh ở đây thường diễn ra thầm lặng hơn. Trong danh sách những liệt sĩ của đơn vị đặc công thủy có Nguyễn Thị Thủy hy sinh ở cầu Chẹt Sậy, Lê Thị Hồng hy sinh ở Phước Hiệp... Họ đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng quê hương ở tuổi đôi mươi đầy hứa hẹn.
Đã ban hành
1 - 30Tiếp
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer