Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Bến Tre là vùng đất ở đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng. Kinh qua công cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng ở thời đại Hồ Chí Minh. Xứ Dừa “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh 18 vị tướng, trong đó có các danh tướng thời chống Pháp như Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên cách mạng; Đồng Văn Cống – Thứ trưởng Quốc phòng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN (thời kỳ chống Mỹ); Nguyễn Thị Định – Phó Tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam; và thời kỳ bảo vệ Tổ quốc có Nguyễn Văn Nới (Lê Văn Dũng) – Đại tướng đầu tiên ở Nam Bộ. 
 
Phan Thanh Giản sinh năm 1796 mất năm 1867, quê quán tại xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Ông là một danh nhân của đất Bến Tre. Cuộc đời ông là những ngày tháng trắc trở, gian truân từ lúc sinh ra cho dến cuối đời. 
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.  
 
 
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. 
Anh hùng Võ Văn Lẹ (bí danh Dũng Hiền) sinh năm 1950, dân tộc kinh, quê ở xã Phú Hưng, Thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang, Ban An ninh huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. 
 
Anh hùng Nguyễn Thanh Trà sinh năm 1918, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Phó Ty Công an Bến Tre. Năm 1935, Nguyễn Thanh Trà được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4-1936, đồng chí được cử vào Tỉnh ủy, phụ trách quận Sóc Sãi. Năm 1939, Nguyễn Thanh Trà bị bắt giam vào khám lớn Sài Gòn. Năm 1944, Nguyễn Thanh Trà vượt ngục tiếp tục bắt liên lạc với Đảng. Đầu năm 1945, được cử lại là Tỉnh ủy viên và là thành viên Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh Bến Tre 
 
Nguyễn Văn Trinh (07/12/2007)
 
Anh hùng Nguyễn Văn Trinh (tức Chí Thanh), sinh năm 1912, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Đảng viên, trưởng Ban An ninh xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. 
Anh hùng Văn Lộc Trị sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là Đảng viên, đội trưởng trinh sát Ban An ninh vũ trang huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. 15 tuổi Văn Lộc Trị đã tham gia hoạt động ở xã, đến năm 18 tuổi được bổ sung vào an ninh tỉnh Bến Tre, sau đó được đề bạt làm đội trưởng trinh sát vũ trang huyện Giồng Trôm.  
 
Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp 
 
Những năm gần đây, một số sách báo nhắc đến Dương Văn Dương – Tư lệnh Liên khu Bình Xuyên. Từ lâu có người cho rằng quê ông ở Nhà Bè, cũng có người tưởng ông là con rể của Bến Tre vì hiện có người con gái duy nhất của ông đang sinh sống ở Thạnh Phú. Nhưng trong nhiều tuyển tập của nhà văn Nguyên Hùng và bài viết của giáo sư-tiến sĩ Huỳnh Công Tín đăng báo Đồng Khởi số 2163 thì Dương Văn Dương là người con ưu tú của Bến Tre và là thiếu tướng đầu tiên ở Nam bộ. 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)Dưới thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ XVII đến 1867)
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.

Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào nguồn sử liệu có được, cộng với những sách của nước ngoài viết về vùng Đông Nam Á, chúng ta cũng có thể xác định được thời điểm người Việt có mặt sớm nhất ở đây. Phần lớn các nhà nghiên cứu lịch sử, gần như thống nhất ý kiến rằng vào đầu thế kỷ XVII đã có những người Việt từ miền ngoài vào khai thác đất đai và định cư rải rác ở nhiều nơi trên vùng đất mà ngày nay gọi là Nam Bộ (1). Trong khoảng thời gian trên dưới 300 năm, cuộc thiên di của người Việt đến vùng đất mới phương Nam diễn ra liên tục với sự hình thành các thôn, ấp và sự thiết lập từng bước bộ máy hành chính các cấp của chính quyền phong kiến. Dưới đây là một số mốc lịch sử liên quan đến quá trình định cư và khai phá đất đai ở giai đoạn đầu.

Theo một số học giả Pháp, thì vào năm 1620, vua Chân Lạp là Chey Chettha II đã cưới một công nương, con của chúa Nguyễn. Năm 1623, theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp đã chấp thuận việc người Việt đến làm ăn ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay), Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé (2).

  • Sách Gia Định thành thông chí viết: "Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng, rộng rãi, đặt dinh Tân Thuận, cất nha thự cho các quan giám quân, cai bộ và ký lục ở. Ngoài ra, còn cho dân trưng chiếm, chia làng, lập xóm, chợ phố" (3).
  • Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần lại cho phép 3.000 người Hoa "phản Thanh phục Minh" theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến cư trú chính trị và định cư ở vùng Biên Hòa và Mỹ Tho.
  • Đợt chuyển cư đáng chú ý nhất vào đầu thế kỷ XVIII diễn ra sau sự kiện Nguyễn Hữu Cảnh tuân lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh dinh đất Gia Định (1698). Có lẽ đây là đợt chuyển cư có tổ chức do chính quyền phong kiến hướng dẫn lớn nhất so với trước đó. Lúc này, dân số đã lên đến 4 vạn hộ, nghĩa là tương đương với khoảng 200.000 dân, một điều kiện quan trọng để chúa Nguyễn cho lập huyện Phước Long và Tân Bình với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn lúc bấy giờ.
  • Sang đầu thế kỷ XVIII, vào năm Ất Dậu (1705), Nguyễn Cửu Vân, một tướng của chúa Nguyễn, sau khi giúp Nặc Ông Yêm đánh bại quân can thiệp Xiêm, kéo quân vào đóng ở Vũng Gù (vùng thị xã Tân An ngày nay) cho quân khai phá vùng đất chung quanh và đào thông hai ngọn rạch Mỹ Tho – Vũng Cù, vừa để làm đường vận chuyển, vừa làm hào phòng thủ (4).
  • Năm 1756, khi Nguyễn Cư Trinh tiếp thu phủ Lôi Lạp (Soài Rạp), thì dân số vùng này đã tương đối đông. Trong tờ sớ gửi lên Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Cư Trinh viết: "Từ xứ Sài Gòn đến phủ Tầm Đôn... đất đai mênh mông, ruộng nương rất nhiều, dân số lên đến vạn người" (5). Cũng từ đây, số lưu dân kéo vào ngày càng đông, nhất là sau vụ chạy loạn của dân miền Trung vào Nam, khi quân Trịnh lợi dụng cơ hội chúa Nguyễn đang lúng túng trước phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, vượt sông Gianh, đánh chiếm Thuận Hóa, Quảng Nam (1774).

Vào thập niên 70 của thế kỷ XVIII, hai tổng Phước Lộc và Thuận An đã có hơn 350 thôn với 15.000 dân đinh, tương đương với khoảng 75.000 dân (6). Như vậy, chỉ trong vòng có mấy thập kỷ mà số dân đã tăng vọt khá nhanh.

  • Trong khi đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kéo dài một phần tư thế kỷ (1777 – 1802) cũng đã gây nên những xáo trộn nhất định về dân cư ở khu vực thành Gia Định và các vùng phụ cận, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ là vùng đất gồm một phần huyện Kiến Hòa tức cù lao An Hóa và hai huyện Bảo An, Tân Minh thuộc dinh Long Hồ).

    Trong sự nỗ lực giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ, Nguyễn Ánh cũng đã ra sức phát triển kinh tế, nhằm ổn định trật tự xã hội, đồng thời tích trữ lương thực cho cuộc chiến tranh chống Tây Sơn. Từ sau năm 1790, Nguyễn Ánh cũng ra lệnh cho quân đội vỡ ruộng, cử nhiều viên quan có tài làm điền nông sứ để vận động nhân dân ra sức phát triển nông nghiệp, đặt các sở đồn điền để sản xuất lương thực. Sau này, khi đã lên ngôi vua (1802), Gia Long vẫn tiếp tục duy trì và phát triển các hình thức đồn điền để mở rộng việc khai hoang. Hai cù lao Bảo và Minh cũng có một số đồn điền theo dạng này.

    Đến thời Minh Mạng, Châu bản triều Nguyễn có ghi sự kiện: “Trương Minh Giảng đưa hơn 1.200 phạm nhân giao cho thành Gia Định phân phối họ đến các đồn điền” (7).

Nhìn chung các đợt chuyển cư từ miền ngoài, chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (8) vào đất Đồng Nai – Gia Định trong thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, diễn ra không ào ạt, nhưng tương đối đều đặn và liên tục. Số lưu dân đến định cư ở đây gồm có hai luồng chính: luồng đi thuyền vào Đồng Nai, Bến Nghé, Tân Bình rồi sau đó mới tỏa về các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long. Về tốc độ cũng như về số lượng của luồng này phát triển chậm chạp và có nhiều hạn chế. Luồng thứ hai cũng đi đường biển bằng ghe bầu theo gió mùa hàng năm, thẳng vào các cửa sông như cửa Tiểu, cửa Đại rồi ngược dòng các sông lớn, tiến sâu vào nội địa, tỏa ra định cư ở các giồng, gò, vùng đất cao ráo có nước ngọt ở hai bên bờ sông, hoặc theo dọc các con rạch.

Đầu thế kỷ XIX, khi con đường thiên lý từ Huế vào Gia Định được khai thông, có một số lưu dân chuyển cư theo đường bộ, nhưng rất hạn chế vì đường sá hiểm trở, nạn trộm cướp dọc đường thường xảy ra, cho nên không an toàn.

Đối với Bến Tre, lưu dân đi theo đường biển chiếm số lượng lớn nhất. Trong khi đó, số từ các địa phương lân cận di chuyển đến, tuy có nhưng không nhiều. Thường thường cuộc di chuyển được tổ chức thành nhóm, thành đoàn giữa những người bà con, dòng họ với nhau, những người cùng xóm giềng, làng xã quen biết nhau, những người cùng một tôn giáo (họ đạo Thiên Chúa) v.v... Và theo trình tự "người đi trước rước người đi sau”, những lớp lưu dân tự động tổ chức các cuộc đi nối tiếp nhau. Cũng có những cuộc di chuyển do Nhà nước đứng ra tổ chức, hoặc do “những người dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn mộ vào Nam khai phá..." như Lê Quý Đôn miêu tả trong Phủ biên tạp lục.

Như vậy là bên cạnh đại đa số dân nghèo khổ, nạn nhân của chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến và chính sách bóc lộc, áp bức của nhà nguyễn, đi vào vùng đất mới để mong tìm được một sự “đổi đời” khá hơn, tốt hơn so với nơi quê cũ, còn có những người có tiền của, giàu có (những người có vật lực) với động cơ kinh doanh, làm ăn lớn. Chính lực lượng này vừa có vốn liếng, vừa tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, nên đã góp thêm những yếu tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ khai phá đất đai, phát triển kinh tế hàng hóa.

Có những người, hoặc gia đình di chuyển một mạch từ miền Trung đến Bến Tre như trường hợp ông Thái Hữu Xưa. Từ phủ Tư Nghĩa, gia đình ông đi bằng ghe bầu vào định cư tại Ba Tri.

Trường hợp gia đình ông Nguyễn Văn Vạn (90 tuổi, tính đến 1987) ở xã Thành Thới, trong bản gia phả bằng chữ Hán có ghi rõ ông tổ tên là Nguyễn Bình Đức, vợ là Bùi Thị Nhung quê ở bến đò Cô Hai, thôn An Trạch (nay thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) vào thẳng Bến Tre định cư ở Mỏ Cày.

Bản gia phả của gia đình ông Bùi Quang Đảnh (68 tuổi, tính đến năm 1984) ở thị trấn Mỏ Cày có ghi ông tổ là Bùi Ly, quê ở Châu Ổ (nay là thị trấn huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) lúc đầu đến định cư ở Giồng (Ổi, xã Long Sơn), tổng Bảo Thành, (cù lao Bảo) làm ruộng và chăn tằm.

Bản gia phả gia đình ông Lê Quang Lục (81 tuổi, tính đến năm 1984) ở xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, có ghi rõ quê quán ở thôn Phước Thuận, tổng Bình Hòa, huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) vào Ba Tri bằng ghe bầu từ năm 1877.

Cũng có những bản gia phả ghi chép từng đời con cháu đến định cư ở đây, còn quê hương bản quán thì chỉ ghi chung chung "ở miền Ngoài vào", nhưng có thể căn cứ một số chi tiết khác trong gia phả mà đoán định được quê hương gốc của họ, như trường hợp một gia đình họ Nguyễn ở xã Định Thủy (Mỏ Cày). Bài thơ chép trong gia phả này có đoạn: "Lều tranh có kẻ già khằn. Hỏi rằng xứ ấy Chiên Đờn còn xa. Mong sao phúc đức ông bà. Chuyến này chẳng đặng còn là chuyến sau". Chiêu Đờn (hay Chiêu Đàn) là một địa danh nổi tiếng về trái thơm (khóm) thuộc thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, cũng giống như thơm Bến Lức ở Long An vậy. Có khá nhiều trường hợp lưu dân trước khi định cư tại Bến Tre đã dừng lại ở một số địa phương trên đường di chuyển. Họ chuyển cư theo lối “nhảy cóc” từng chặng một, dừng lại ở đó một thời gian, có thể ngắn hoặc dài, rồi sau đó đi tiếp về phương Nam. Gia đình ông Hồ Văn Ưa là ông tổ của ông Hồ Văn Ngật, 70 tuổi ở xã Phú Lễ, huyện Ba Tri. Ông Hồ Văn Ưa gốc người Quảng Bình, theo cuộc di dân của chúa Nguyễn, đời Cảnh Hưng, vào Quảng Nam sinh sống một thời gian, sau đó đi tiếp vào Trấn Biên (Biên Hòa). Từ Biên Hòa, ông Ưa di chuyển gia đình đến Phú Lễ, huyện Ba Tri và đến nay tính đã 5 đời.

Qua cuộc khảo sát hàng trăm gia phả ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày, Chợ Lách, chúng ta gặp nhiều gia đình mà mộ cha, mộ ông nội chôn tại Bến Tre, nhưng mộ ông cố, ông sơ lại nằm ở Gò Công, Tân An hoặc Bà Rịa. Phăng tìm ngược dòng các thế hệ xa hơn nữa thì gốc gác của gia đình này ở tận Quảng Nam, Quảng Ngãi. Các cụ già khoảng 60 – 70 tuổi kể lại rằng trước đây các cụ vẫn đi về nơi ông cố, ông sơ đã từng định cư để dự giỗ chạp, dự việc họ. Chỉ từ khi chiến tranh nổ ra đến nay, việc đi lại khó khăn, không an toàn nên tục lệ này phai nhạt dần. Vùng huyện Chợ Lách và huyện Mỏ Cày có nhiều gia đình mà gốc gác hai ba đời về trước ở Trà Vinh.

Đến Bến Tre cũng không hoàn toàn có nghĩa là sẽ định cư mãi mãi ở một nơi cố định, trái lại vì nhiều lý do khác nhau, như vì sinh kế, vì hôn nhân, vì chiến tranh... nhiều gia đình lại tiếp tục di chuyển từ huyện này sang huyện khác, hoặc từ một gia đình lớn đến đời con, đời cháu, đời chắt lại phân tán ra thành nhiều gia đình nhỏ làm ăn ở nhiều nơi. Trường hợp bà tổ của ông Đặng Tường Hưng ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày là một ví dụ. Theo gia phả của gia đình còn lưu giữ được thì bà tổ tên là Hến, từ Huế dắt hai con trai vào Giồng Trôm (không ghi rõ thôn xã cụ thể) vào cuối thế kỷ XVIII. Một trong ba người con trai bị cọp vồ chết. Sau đó, bà Hến cùng hai người con trai còn lại dắt díu nhau đến định cư ở xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày cho đến ngày nay.

Những cuộc điều tra khảo sát về văn hóa dân gian và nguồn gốc dân cư do Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Sở Văn hóa – Thông tin Bến Tre tiến hành vào hai năm 1983 – 1984 cho biết qua 281 gia phả thành văn (bao gồm cả chữ Hán, Nôm, chữ quốc ngữ) và qua những câu chuyện kể không thành văn ở các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Chợ Lách, Bình Đại, Mỏ Cày, Thạnh Phú và thị xã Bến Tre có thể rút ra một số kết luận sau đây:

  • Số người định cư trước thế kỷ XVIII chiếm 3,6%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XVIII chiếm 32,5%.
  • Số người định cư ở thế kỷ XIX chiếm 63,9%.

Như vậy, ta thấy làn sóng lưu dân chuyển vào Bến Tre ào ạt nhất là ở thế kỷ XIX, gấp đôi số lượng của hai thế kỷ trước đó cộng lại.

- Về nguồn gốc địa phương của 112 gia phả (có nói đến xuất xứ) được chia ra như sau:

  • 38 gia đình quê gốc ở Quảng Ngãi.
  • 17 gia đình ở Thừa Thiên, Quảng Trị.
  • 19 gia đình ở Quảng Nam.
  • 9 gia đình ở Quảng Bình.
  • 11 gia đình ở Bình Định.
  • 5 gia đình ở Nghệ An.
  • 3 gia đình ở Hà Đông.
  • 2 gia đình ở Nam Định.
  • 4 gia đình ở miền Trung (không rõ tỉnh).
  • 4 gia đình ở miền Bắc (không rõ tỉnh).

Những dẫn chứng cùng các cứ liệu trên đây kết hợp với các đặc điểm về phong tục tập quán (cúng giỗ, cưới xin, ma chay, tục thờ cá voi, cúng việc lề...) về vốn văn nghệ dân gian (như hát sắc bùa), vốn từ vựng trong ngôn ngữ thường ngày của người dân, cùng những vật dụng, đồ trang trí nội thất (giường tủ, bàn thờ, chiếc rương xe, bộ tràng kỷ bằng tre) đã giúp ta xác định rõ được nguồn gốc dân cư của đồng bào Bến Tre. Ngoài ra, những tài liệu Hán Nôm, những câu liễn đối, bức hoành, sách thuốc, sách thầy cúng cũng đã cung cấp thêm cho chúng ta những cứ liệu lý thú khi đi tìm nguồn gốc của các vị tiền hiền, hậu hiền, các vị tổ của một số dòng họ, làm sáng tỏ thêm những điều ghi chép trong gia phả. Cần lưu ý thêm rằng có một số gia phả, nhất là những gia phả bằng chữ quốc ngữ, thường do những thế hệ sau này ghi theo trí nhớ của ông, cha kể lại, cho nên độ chính xác cũng chỉ là tương đối.

Tổng hợp lại tất cả các nguồn tài liệu qua những chuyến điều tra khảo sát điền dã nhiều vùng khác nhau trong tỉnh, có thể xác định được rằng nguồn gốc cộng đồng dân cư Bến Tre đa số ở miền Trung, đặc biệt từ phía nam đèo Hải Vân trở vào. Ở đây, cần lưu ý thêm một điều: nhiều gia phả ghi quê cũ ở Bắc - từ "Bắc" ở đây không mang nghĩa như ta hiểu miền Bắc của Tổ quốc ngày nay. Đa số đồng bào Lục tỉnh Nam Kỳ trước đây do thiếu hiểu biết rạch ròi về địa dư, thường căn cứ vào giọng nói, đã quan niệm "Bắc" với nghĩa bao gồm khu vực từ Bình Thuận trở ra, mà không phân biệt giọng Quảng, giọng Huế, Nghệ Tĩnh hay đồng bằng sông Hồng.

Từ nhiều địa chỉ khác nhau, những lưu dân trong quá trình đi tìm "mảnh đất lành” đã hội tụ về dải đất ba cù lao màu mỡ. Chính điều này đã góp phần quy định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, săn bắt thú dữ, chữa bệnh khi ốm đau, xây cất nhà cửa, thói ăn nếp ở, phong tục tập quán và những sinh hoạt văn hóa dân gian khác. Ngoài những nghề chính như trồng lúa nước, làm vườn, đánh bắt thủy hải sản, làm muối v.v...

Đất Bến Tre cũng là nơi có nhiều lò võ với những thầy võ nổi tiếng xa gần. Nằm trên địa bàn án ngữ con đường giao thông thủy từ miền Tây lên miền Đông, có nhiều cửa biển, tàu bè có thể từ biển Đông ngược dòng Cửu Long lên tận Phnom Pênh, Bến Tre đã sớm mở rộng sự giao lưu với bên ngoài, nên cũng là nơi nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi đây đi đó nhiều nơi, kể cả những nơi xa, có dịp tiếp xúc học hỏi, buôn bán, tiếp thụ những tinh hoa mọi vùng để làm giàu thêm kho tàng kiến thức của mình. Chiếc ghe Cửa Đại, nghề lưới rê, giàn đáy sông cầu, một số kỹ thuật đánh bắt tôm cá cho năng suất cao của ngư dân, nghề ghép cây, chiết cành ở Vĩnh Thành (Chợ Lách), lối kiến trúc nhà cửa ở Châu Thành, Mỏ Cày v.v... là những minh chứng cụ thể về điều đó.

Tuy nhiên, chế độ phong kiến nhà Nguyễn với cái cơ chế bảo thủ, lạc hậu mang nặng tính chất cát cứ, với những luật lệ hà khắc đã gây nên những mâu thuẫn gay gắt, làm kìm hãm sự phát triển của xã hội.

Sử sách phong kiến cũng ghi nhận rằng trong giai đoạn 1802 – 1862, nhiều trận dịch tễ lớn đã diễn ra và đã cướp đi hàng chục vạn sinh mạng. Riêng trận dịch năm 1820 lan rộng từ Hà Tiên đến Thừa Thiên đã giết hại 50.000 người và trận dịch năm 1826 làm chết riêng ở Nam Kỳ, trong đó có Bến Tre, 16.000 người. Đặc biệt, trận dịch xảy ra vào năm Kỷ Dậu (1849), mà Bến Tre nằm trong vùng trọng điểm của nó, “đã gây tử vong khoảng 3/10 dân số và để lại ấn tượng lo ngại sâu sắc nơi các vị bô lão sống vào đầu thế kỷ XX" (9). Tình hình này đã có ảnh hưởng nhất định đến lịch sử phát triển dân số của Bến Tre.

Sau này, dưới thời thuộc Pháp, bệnh dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng những điều kiện vệ sinh phòng ngừa, thuốc men cũng như màng lưới y tế được tổ chức khá hơn, cho nên có thể dập tắt nhanh chóng, hạn chế được thiệt hại đáng kể.

Như vậy, tình trạng dịch bệnh ở các thế kỷ trước cũng là một nguyên nhân đáng kể làm hạn chế mức tăng dân số, thậm chí có khi gây ra hiện tượng sút giảm trong một thời gian dài. Đó là chưa kể đến bệnh sốt rét ác tính - một bệnh phổ biến ở vùng khí hậu ẩm ướt, nhiệt đới có nhiều rừng và đầm lầy, nhất là vùng đang hoặc mới khai thác còn nhiều muỗi mòng – đã giết chết hàng năm một số lượng dân cư đáng kể.

Chiến tranh cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển dân số, đồng thời cũng gây nên những xáo trộn về địa bàn cư trú trên một diện rộng. Cuộc chiến tranh kéo dài một phần tư thế kỷ giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và chính sách đàn áp, khủng bố trả thù khốc liệt của Minh Mạng diễn ra sau đó, những cuộc đàn áp dân theo đạo Thiên Chúa dưới triều Minh Mạng, Tự Đức v.v... đã gây nên những cuộc xáo trộn, di chuyển dân cư đáng kể.

Đặc biệt cuộc chiến tranh chống xâm lược Pháp vào nửa năm thế kỷ XIX và công cuộc "bình định" của bọn thực dân trong thập kỷ 60 và 70 tiếp theo đó đã gây nên những cuộc di chuyển dân cư rất phức tạp – không chỉ ở Bến Tre mà cả địa bàn Nam Bộ, và không chỉ ở Nam Bộ còn lan ra đến một số tỉnh miền Nam Trung Bộ. Một ví dụ: Vùng Ba Vát, Mỏ Cày là vùng dân cư đông đúc, trù phú của cù lao Minh. Sách Gia Định thành thông chí miêu tả Ba Vát "có phố xá liền lạc, ghe thuyền đậu tiếp tục đến huyện lỵ Tân An. Cách 15 dặm rưỡi, sông Mỏ Cày cũng có phố xá trù mật" (10). Sách Đại nam nhất thống chí cũng có nhận xét “Chợ Ba Vát ở thôn Phước Hạnh, lỵ sở của huyện Tân Minh, phố xá đông vui, thuyền bè tấp nập" (11). Thế nhưng nơi đây, trong cuộc đụng độ ác liệt giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, đã bị tàn phá nặng nề, dân cư phân tán mỗi người một ngả, phải mất một thời gian nhiều thập kỷ mới phục hồi lại được.

Chiến tranh và chính sách khủng bố, trả thù của kẻ chiến thắng đã dẫn đến việc thay tên, đổi họ khá phổ biến ở Nam Bộ, trong đó có Bến Tre. Hiện tượng này không chỉ diễn ra dưới thời Gia Long, Minh Mạng... mà cả sau này, dưới thời thực dân Pháp với chính sách đàn áp những người kháng chiến và những người ủng hộ lực lượng kháng chiến của chúng và đám tay sai "tân trào". Gia phả của từng gia đình họ Đỗ ở xã Lương Hòa (Giồng Trôm) gốc từ miền Trung vào đây sinh cơ lập nghiệp đã 7, 8 đời có nói rõ lý do thay tên đổi họ giữa thời buổi nhiễu nhương như sau: "Quê này quê của người ta. Anh em lưu lạc sống hòa người dưng. Thay tên đổi họ không ngừng. Mới hòng sống đặng với cùng giặc Tây". Như vậy, việc thay tên đổi họ không chỉ diễn ra một lần, có khi nhiều lần, như trường hợp nhà họ Đỗ trên đây sau khi Pháp xâm lược.

Như đã trình bày ở phần trên, nguồn gốc dân cư gắn liền với lịch sử đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, gắn liền với việc khai phá và tạo dựng thôn ấp, làng xã của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Quá trình đi tìm đất mới để lập nghiệp, tính kế dài lâu cho các con cháu của ông cha ta trên mảnh đất này rõ ràng đã không diễn ra đơn giản, thẳng tuột một lèo từ bến A đến bờ B như trên một dòng sông chảy xuôi về biển, mà thường rất quanh co, khúc khuỷu. Sự xê dịch, xáo trộn, có khi hợp rồi tan, có khi đi vòng vo là những hiện tượng thường thấy ở nhiều gia đình, dòng họ cũng như nhiều làng xã ở Bến Tre.

Khi đến vùng đất mới, những lưu dân thường có tập quán sống quần tụ với nhau theo quan hệ gia đình, dòng họ, hoặc cùng quê quán, cùng tôn giáo trên những nơi thế đất cao ráo, gần bến sông hay rạch, thuận lợi cho việc canh tác, tưới tiêu nước và vận chuyển, đi lại. Rồi dần dần thôn ấp được hình thành, đến khi có được một số lượng dân nhất định, họ chung nhau xây đình, dựng chùa, lập chợ... Các nơi này trở thành những trung tâm thu hút lớp lưu dân đến sau và họ nương tựa vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong khai phá đất đai, đắp đập, đào mương thủy lợi v.v... Ví như nghề đóng đáy trên sông, biển, không thể một mình, một người làm nổi, mà cần phải có nhiều người chung vốn, chung sức cùng hợp tác với nhau.

Theo thời gian, các tụ điểm dân cư dần dần nối liền nhau và tỏa rộng ra theo hình rẽ quạt. Dĩ nhiên, bản đồ dân cư lúc đầu trong một thời gian dài còn mang hình "da báo" khá rõ, bởi vì những điều kiện kỹ thuật canh tác, sức lao động, phương tiện... còn rất nhiều hạn chế. Cách thức khai hoang chủ yếu vẫn là theo lối "móc lõm", nghĩa là những nơi nào hội đủ những điều kiện tốt nhất (địa thế đất đai hợp với cây trồng, nước tưới, điều kiện để bảo vệ v.v...) thì công cuộc khai phá được tiến hành, nơi nào khó khăn quá, sức người chưa vượt qua nổi thì chừa lại, tính sau khi có đủ điều kiện.

Có thể nói rằng đến cuối thế kỷ XVIII diện mạo của cộng đồng dân cư Bến Tre về cơ bản đã định hình trên cơ sở một nền sản xuất vật chất chủ yếu nông nghiệp và ngư nghiệp. Cùng với việc mở rộng diện tích khai hoang, sản xuất phát triển, lương thực dồi dào, các thôn xã hình thành ngày một nhiều. Việc quản lý xã hội đi dần vào nề nếp ổn định, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện cho đời sống tinh thần – văn hóa của cộng đồng phát triển.

Từ năm 1802, chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh kết thúc. Trong bối cảnh hòa bình, toàn vùng Đồng Nai – Gia Định nói chung cũng như Bến Tre nói riêng, người dân bắt tay vào xây dựng lại đời sống, ổn định nơi ăn chốn ở. Những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước phong kiến khuyến khích việc khai hoang như miễn giảm thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong thưởng cho những thành tích mộ dân, khẩn đất, lập làng, ấp... đã có tác dụng kích thích mạnh đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số. Nghề thủ công và buôn bán cũng phát triển, các chợ búa, phủ lỵ, quận lỵ, huyện lỵ hình thành, đón nhận những người "có vật lực" và những luồng lưu dân mới từ miền ngoài kéo vào đông đảo hơn, bổ sung vào cộng đồng cư dân Bến Tre vào nửa đầu thế kỷ XIX. Việc di dân liên tục đến Bến Tre (tất nhiên có một số người từ Bến Tre chuyển đi các vùng khác ở Nam Bộ) và sự gia tăng dân số tự nhiên đã làm cho dân số của tỉnh tăng nhanh. Qua bản thống kê số dân ở Nam Bộ vào giữa thế kỷ XIX, tỉnh Vĩnh Long (trong đó có Bến Tre) có 41.336 dân đinh, nghĩa là vào khoảng 206.000 dân.

Ở thời điểm này, nền kinh tế của Bến Tre - chủ yếu là nông nghiệp – cũng đã phát triển khá. Nguồn lợi chủ yếu là gạo và dừa khô, thứ đến là trái cây. Bến Tre cũng bán ra ngoài mặt hàng lụa và cau khô, một số sản phẩm của biển như cá khô, tôm khô v.v...

Sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo điều kiện cho văn hóa, giáo dục phát triển. Trước khi giặc Pháp chiếm đóng, tỉnh Bến Tre đã có 70 trường dạy chữ Hán (12). Các trường này phần lớn đặt ở các tư gia hoặc trong các chùa chiền để dạy chữ và lễ nghĩa, đạo lý. Trong số đó có trường nổi tiếng của thầy giáo kiêm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Như vậy là khi đời sống kinh tế đã ổn định, thế hệ cha ông chúng ta đã nghĩ đến việc học chữ. Với truyền thống hiếu học, nhân dân Bến Tre trong các thế kỷ qua đã có nhiều người đỗ đạt cao, có tri thức uyên bác trong hàng khoa mục ở Nam Kỳ.

Chú thích:

(1) Cũng có một vài ý kiến cho rằng lịch sử định cư của người Việt tại đây diễn ra sớm hơn trước thế kỷ XVII. Thực ra nếu có thể thì cũng chỉ là trường hợp cá biệt.
(2) Dẫn theo Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Khai Trí, S., 1967, tr. 400.
(3) Trịnh Hoài Đức, Sđd, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 73.
(4) QSQTN, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, H., 1962, tr. 192-193.
(5) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 2, tr. 89.
(6) Lê Quý Đôn, Sđd, Q. 1, tr.19. Theo cách tính mỗi dân đinh là một chủ hộ gồm: cha, mẹ, chồng, vợ, con cái, trung bình 5 người.
(7) Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng năm thứ 19 (1838), Q. 73, tr. 134, Kh lưu trữ TƯ II, bản dịch Ban Văn học, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
(8) Địa danh chỉ 5 dinh được lập đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long, gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (tức Thừa Thiên), Quảng Nam và Quảng Ngãi.
(9) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd, tr. 12.
(10) Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập thượng, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr. 80.
(11) QSQTN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb Khoa học, H., 1971, tr. 139.
(12) Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd.

Đã ban hành
Công bố quyết định công nhận thị xã Bến Tre đô thị loại IIICông bố quyết định công nhận thị xã Bến Tre đô thị loại III
<div style="TEXT-ALIGN: justify"><span style="FONT-SIZE: 10pt; COLOR: black; FONT-FAMILY: Arial">Sáng ngày 1-9-2007, trong không khí tưng bừng của buổi lễ kỷ niệm 62 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9), hơn 500 cư dân thị xã Bến Tre đã vui mừng lắng nghe lãnh đạo tỉnh công bố quyết định 1081/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng ký ngày 9-8-2007 công nhận thị xã Bến Tre là đô thị loại III.</span> </div>

Image
Đ/c Huỳnh Văn Be, bí thư Tỉnh ủy trao quyết định công nhận đô thị loại III cho Chủ tịch UBND thị xã Bến Tre.
Sáng ngày 1-9-2007, trong không khí tưng bừng của buổi lễ kỷ niệm 62 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9), hơn 500 cư dân thị xã Bến Tre đã vui mừng lắng nghe lãnh đạo tỉnh công bố quyết định 1081/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng ký ngày 9-8-2007 công nhận thị xã Bến Tre là đô thị loại III.

Thị xã Bến Tre đã phấn đấu xây dựng độ thị loại III từ năm 2002, đến năm 2007 đạt 83,5/100 điểm (điểm chuẩn để được công nhận đô thị loại III là 70/100 điểm), với cơ sở hạ tầng được nâng cấp, mở rộng; mức sống người dân được nâng lên rõ rệt, từ thu nhập bình quân 9 triệu đồng/người/năm vào năm 2003 được nâng lên 17,7 triệu đồng/người/vào năm 2006. Toàn thị xã chỉ còn 859 hộ nghèo, tỉ lệ 3,29%, là địa phương có số hộ nghèo thấp nhất tỉnh…

Tại buổi lễ công nhận, lãnh đạo tỉnh đã phát động toàn dân, quân của thị xã tiếp tục phấn đấu xây dựng thị xã Bến Tre trở thành thành phố loại III trực thuộc tỉnh trước năm 2010.

Đã ban hành
Đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dânĐánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, làm phá sản kế hoạch bình định, gom dân

Thắng lợi trong cao trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam làm cho âm mưu áp đặt chế độ thực dân mới của Mỹ đứng trước nguy cơ bị sụp đổ. Để cứu nguy, chúng chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” nhằm đánh bật LLVT và cơ sở cách mạng của ta ra khỏi nhân dân, giành lại nông thôn.

   Chiến lược này được tiến hành chủ yếu bằng quân đội tay sai tại chỗ với phương tiện vũ khí và sự yểm trợ của không quân, hải quân Mỹ. Mỹ có thể trực tiếp tham gia bằng "lực lượng đặc biệt", với binh khí kỹ thuật ở mức hạn chế.

   Cuối năm 1961, chúng đề ra kế hoạch Staley – Taylor với ba biện pháp chiến lược. Một là, tăng cường quân ngụy, dùng quân ngụy do cố vấn Mỹ chỉ huy và sử dụng nhiều máy bay trực thăng, xe thiết giáp để nhanh chóng tiêu diệt các LLVT cách mạng. Hai là, giữ vững thành thị, xây dựng ngụy quyền đủ sức ngăn chặn các cuộc đấu tranh chính trị ở thành thị, đồng thời dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn bằng "bình định" và "ấp chiến lược". Ba là, ra sức ngăn chặn ở vĩ tuyến 17, kiểm soát ven biển, cắt đứt nguồn chi viện từ miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam. Đế quốc Mỹ hy vọng sẽ “bình định” xong miền Nam trong vòng 18 tháng. Ngày 18-10-1961, Ngô Đình Diệm ban bố "tình trạng khẩn cấp" trên toàn miền Nam. Ngày 8-2-1962, Mỹ thành lập tại Sài Gòn "Bộ chỉ huy quân sự đặc biệt” (MACV) do đại tướng Paul Harkins cầm đầu.

   Để đưa phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển lên một bước, ngay từ đầu năm 1961, BTC đã đề ra nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng miền Nam là phải "đấu tranh chính trị và quân sự, tiến lên làm chủ núi rừng, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mỹ, Diệm, giải phóng miền Nam".

   Ở Bến Tre, sau cao trào Đồng khởi – 1960, ngụy quân ngụy quyền trong tỉnh lâm vào tình trạng suy sụp, bộ máy kìm kẹp ở xã ấp rệu rã, tinh thần binh sĩ ngụy hoang mang, sa sút.

   Tháng 1-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy quyết định tổ chức tiếp một cuộc tấn công thị xã vào đầu tháng 4-1961, cuộc tấn công không thực hiện được vì kế hoạch bị lộ, địch tập trung quân đối phó, lực lượng ta phải rút khỏi thị xã.

   Tháng 6-1961, Tỉnh ủy họp rút kinh nghiệm, uốn nắn ngay lệch lạc chủ quan, nóng vội và đề ra phương châm đấu tranh là vừa đẩy mạnh tấn công địch, vừa củng cố phát triển thực lực cách mạng, bảo đảm chiến đấu lâu dài.

   Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, phong trào nhân dân du kích chiến tranh được hình thành và phát triển mạnh. Hàng nghìn thanh niên tình nguyện gia nhập LLVT, vào các đội du kích. Năm 1961, LLVT tỉnh có 2 đại đội, mỗi huyện có một trung đội, mỗi xã có từ nửa tiểu đội đến một tiểu đội du kích. Một phong trào toàn quân, toàn dân đấu tranh chống địch càn quét, lấn chiếm, chống do thám, chống bắt lính đôn quân, vơ vét cướp bóc được phát động. Bộ đội tỉnh, huyện cùng nhân dân và du kích giữ vững thế chiến công, liên tục tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, làm đòn bẫy cho mũi đấu tranh chính trị phát triển.

   Từ trong thực tiễn đấu tranh với kẻ thù, đội quân chính trị của quần chúng, mà nòng cốt là "Đội quân tóc dài" hình thành từng bước, được tổ chức chặt chẽ, đấu tranh có bài bản, có chỉ huy trong từng trận chiến đấu cụ thể. Ở mỗi cấp (tỉnh, huyện, xã) đều có thành lập ban đấu tranh chính trị do một đồng chí trong cấp ủy phụ trách. Trong mỗi cuộc đấu tranh đều có tổ chức 4 lực lượng. Ban chỉ huy công khai, lực lượng đấu tranh trực diện với địch, lực lượng hậu cần và lực lượng trinh sát, liên lạc. Kế hoạch đấu tranh được chuẩn bị tỉ mỉ, có dự kiến những tình huống bất ngờ. Trước khi ra trận, quần chúng được bồi dưỡng lý lẽ đấu tranh và được tập dượt thuần thục.

   Ngày 31-1-1961 gần 10.000 quần chúng các xã kéo về thị trấn Giồng trôm, đưa kiến nghị đòi địch ngưng càn quét, bắn phá, cướp bóc. Địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình. Quần chúng kiêng xác nạn nhân lên quận, tố cáo tội ác giết người và đòi phải bồi thường nhân mạng. Trước khí thế đấu tranh quyết liệt của quần chúng, địch phải chấp nhận yêu sách, chịu bồi thường 100.000 đồng và phương tiện chôn cất nạn nhân.

   Tháng 10-1961, hơn 20.000 chị em phụ nữ lại kéo vào thị xã đấu tranh, phản đối địch càn quét khủng bố, cào nhà, cướp đất, bắt lính. Địch dùng lựu đạn cay ném vào đoàn biểu tình, lấy sơn viết khẩu hiệu phản động lên áo, lên nón, cắt tóc chị em, nhưng không sao áp đảo được tinh thần đấu tranh của họ. Cuộc đấu tranh kéo dài 3 ngày, ngụy quyền tỉnh cuối cùng phải chấp nhận yêu sách của quần chúng.

   Giữa năm 1961, chấp hành sự chỉ đạo của TƯCMN, Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre đã cử một đoàn cán bộ của tỉnh, dùng thuyền đánh cá vượt biển ra miền Bắc (1) để báo cáo tình hình Đồng khởi với BCHTƯĐCS và Bác Hồ, để Trung ương có đủ cơ sở thực tiễn đúc kết kinh nghiệm, chỉ đạo phong trào Đồng khởi, nắm tình hình, chuẩn bị mở con đường vận tải trên biển, chi viện cho cách mạng miền Nam.

   Tháng 7-1961, đoàn xuất phát từ cồn Lợi, huyện Thạnh Phú, vượt biển ra Bắc. Nhờ kinh nghiệm của chuyến đi lần thứ nhất (3-1946), các đồng chí trong đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Qua 7 ngày đêm chống chọi với sóng to gió lớn, vượt qua màng lưới kiểm soát của địch, đoàn đã tới Hà Nội. Tại đây, đồng chí Đặng Bá Tiên thay mặt cho tỉnh ủy, đã báo cáo tình hình và kinh nghiệm của Bến Tre, được ban bí thư TƯĐCS đánh giá cao.

   Từ cuộc vượt biển mở đường lần thứ hai này của Bến Tre, Trung ương đã quyết định mở con đường tiếp tế Bắc – Nam trên biển. Hàng ngàn tấn hàng hóa, vũ khí của miền Bắc chi viện được gởi tới căn cứ Thạnh Phong, Giao Thạnh (Thạnh Phú) và một số căn cứ thuộc tỉnh bạn như Trà Vinh, Cà Mau, phục vụ cho cuộc chiến đấu ở miền Nam. Sự chi viện này đã góp phần tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần cho phong trào cách mạng của nhân dân Bến Tre và nhân dân miền Nam nói chung.

   Đứng trước sự phát triển của phong trào cách mạng trong tỉnh, Mỹ, ngụy vội vàng đối phó bằng cách đưa nhiều cố vấn, phương tiện chiến tranh và đưa nhiều tiểu đoàn chủ lực đến Bến Tre, phối hợp với quân ở địa phương, triển khai kế hoạch phản kích lại. Chiến trường Nam Bộ được chia thành 3 vùng chiến thuật và 9 khu chiến thuật. Bến Tre nằm trong khu chiến thuật Tiền Giang (khu 32). Chúng lập thêm quận Hương Mỹ ở cù lao Minh, xây dựng các yếu khu, chi khu, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót, tăng cường bắt lính, đôn quân, phát triển các sắc lính bảo an, dân vệ.

   Từ năm 1962, chúng triển khai các cuộc càn quét, gom dân, lập ấp chiến lược, tăng cường củng cố hệ thống đồn bót. Đầu tiên chúng chọn xã Bình Nguyên) ở thị xã và xã Đại Điền (ở huyện Thạnh Phú) làm thí điểm. Sau đó, chúng chọn mỗi huyện một xã, mỗi xã một ấp làm thí điểm, rút kinh nghiệm và tiến hành rộng khắp trong tỉnh. Chúng dùng những thủ đoạn tàn bạo, dã man, bắt ép quần chúng phải rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, vào ở trong các khu gom dân. Ở Thạnh Phú, địch đưa các tiểu đoàn bảo an đến càn quét, khủng bố, bắt dân dỡ nhà, dời vào các khu đồn. Chúng đốt phá, cào sập hàng trăm ngôi nhà trên một tuyến dài dọc sông Hàm Luông từ Trảng Cát tới giồng Bà Thiệm, buộc họ phải vào sống trong ấp chiến lược.

Ở Bình Đại, lính bảo an chi khu đốt phá, khủng bố, cưỡng bức 356 gia đình ở các kênh số 1, ven rừng Rạch Mây, ven sông Ba Lai vào các khu gom dân. Sự phản kích quyết liệt của địch diễn ra giữa lúc LLVT cách mạng, nhất là bộ đội tập trung, còn non yếu, nên chúng đã lấn chiếm được nhiều nơi. Trong năm 1962, địch đóng thêm 70 đồn, lập thêm 194 ấp chiến lược trong toàn tỉnh.

Tháng 12-1962, đồng chí Võ Chí Công, Phó bí thư Trung ương Cục, khi về kiểm tra tình hình tỉnh Bến Tre đã xác định: Trong cuộc chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện của ta, lực lượng chính trị quần chúng và LLVT nhân dân đều là lực lượng cơ bản quyết định, nhưng khi đã đi vào chiến tranh thì LLVT có vai trò trực tiếp quyết định.

   Đầu năm 1963, Tỉnh ủy họp, xác định công tác chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ trung tâm, hàng đầu của toàn Đảng, quân dân Bến Tre.

   Giữa lúc phong trào chiến tranh du kích Bến Tre đang diễn ra trong thế giằng co, thì ngày 22-1-1963, quân dân Mỹ Tho giành thắng lợi lớn trong trận Ấp Bắc. Thắng lợi này cung cấp những kinh nghiệm có giá trị về cách đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, của Mỹ, ngụy. Một phong trào "thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công" lan rộng khắp miền Nam.

   Tại Bến Tre, Tỉnh ủy kịp thời phát động phong trào thi đua học tập Ấp Bắc, đồng thời triển khai nghị quyết xây dựng LLVT. Cuối năm 1963, mỗi huyện có từ 3 đến 5 trung đội, tỉnh có 3 đại đội. Các đội du kích được củng cố và phát triển mạnh, toàn tỉnh có 17.241 đội viên. Quân và dân Bến Tre đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.786 tên địch, diệt 50 đồn bót, giải phóng hoàn toàn 27 xã. Quần chúng đấu tranh quyết liệt không cho địch dỡ nhà, cào nhà, dồn quân với khẩu hiệu "một tấc không đi, một li không rời”. Trong các ấp chiến lược, nhân dân đấu tranh đòi trở về ruộng vườn, chống mọi hình thức kìm kẹp của địch. Gần 100 trong số 194 ấp chiến lược đã bị quần chúng phá đi, phá lại nhiều lần.

   Tháng 1-1963, hơn 30.000 người từ các huyện đã kéo về thị xã đấu tranh đòi địch chấm dứt rải chất độc hóa học, đòi bồi thường cho những nạn nhân bị nhiễm độc. Đây là cuộc đấu tranh có qui mô lớn nhất và có ảnh hưởng rộng trong nhân dân vùng địch kiểm soát và cả trong hàng ngũ địch.

   Có thể nói phong trào đấu tranh chống địch rải chất độc hóa học đã kích thích mạnh mẽ tinh thần dân tộc của nhiều tầng lớp trí thức, nhân sĩ, nhà tu hành, binh lính, sĩ quan ngụy quyền. Có cuộc, hàng trăm ghe xuồng tập trung biểu tình trên sông Bến Tre, kéo dài cả cây số với băng cờ khẩu hiệu phản đối.

   Trước những thắng lợi dồn dập của quân và dân miền Nam trên mặt trận quân sự và chống phá ấp chiến lược, kế hoạch Staley – Taylor của Mỹ lâm vào thế nguy cơ phá sản. Phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố lại dâng lên mạnh mẽ, mà nổi bật là phong trào đấu tranh của giới Phật giáo. Ngày 1-11-1963, đế quốc Mỹ buộc phải bật đèn xanh cho một số tướng lĩnh làm đảo chính, lật đổ Ngô Đình Diệm, đưa Dương Văn Minh lên thay, nhằm xoa dịu làn sóng đấu tranh của nhân dân, đồng thời trấn an bọn tay chân. Thế nhưng, sau cuộc đảo chính, ngụy quyền tay sai càng khủng hoảng, các phe phái tranh chấp, xâu xé lẫn nhau.

Nắm vững thời cơ có lợi, nhân dân Bến Tre cùng với quân và dân toàn miền Nam đẩy mạnh tiến công bằng ba mũi giáp công, tiêu diệt lực lượng chiếm đóng, phá từng mảng ấp chiến lược của địch.

Để cứu vãn tình hình nguy ngập của chúng, tháng 3-1964, Mỹ bèn đưa ra kế hoạch mới, kế hoạch Johnson-Mc Namara, nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965). Chúng lập ra Bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mỹ. Cùng một lúc, chúng tăng thêm 6.000 cố vấn và lính chiến đấu Mỹ, đưa số quân Mỹ ở miền Nam lên trên hai vạn rưỡi tên vào cuối năm 1964.

   Tại Bến Tre, chúng chọn huyện Thạnh Phú, một huyện thuộc vùng biển, làm trọng điểm bình định. Đầu năm 1964, chúng mở cuộc hành quân "Phượng hoàng TG.1", tập trung 6.000 quân, có không quân yểm trợ, đánh vào 2 xã Thạnh Phong và Giao Thạnh nhằm phá hủy căn cứ tiếp vận, cắt đứt sự chi viện Bắc – Nam.

   Quân và dân Thạnh Phú đã chặn đánh địch nhiều trận ở Hồ Cỏ, Cái Cát, Khâu Băng... diệt và làm bị thương 1.240 tên, trong đó, có tên Lye, đại tá không quân Hoàng gia Anh ở Viễn Đông, bắn rơi và bắn hỏng 47 máy bay, thu trên 200 súng. Căn cứ Thạnh Phú được giữ vững, âm mưu triệt phá đầu cầu tiếp vận của Mỹ, ngụy bị bẻ gãy.

   Ở Thạnh Phong, chị em phụ nữ đấu tranh trực diện với cố vấn Mỹ, phản đối việc bắn pháo vào rừng và khu dân cư, đòi chạy chữa những người bị thương. Cuộc đấu tranh thắng lợi đã góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng đồng bào và chiến sĩ ở vùng căn cứ.

   Tháng 2-1964, Tỉnh ủy họp, chủ trương “đẩy mạnh hoạt động du kích chiến tranh đều khắp 3 vùng trong tỉnh", chống càn quét, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, gỡ đồn bót, phá dứt điểm ấp chiến lược, làm thất bại âm mưu bình định của địch.

   Mở đầu chiến dịch, ta diệt gọn một loạt đồn ở Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Tân Xuân (Ba Tri). Các đồn bót còn lại ở các xã Bảo Thạnh, Tân Thủy, Phú Ngãi, Phú Lễ, Phước Tuy được gom về đồn Xã Diệu ở An Hòa Tây. Nhờ nội ứng, ta tiêu diệt luôn đồn này, thu trên 150 súng. Những đồn còn lại cuốn chạy về thị trấn.

   Địch điều sư đoàn 7 chủ lực đến Ba Tri. Một cuộc biểu tình lớn phản đối cuộc càn quét, đánh phá của địch đông trên 25.000 người (trong đó có 2.000 người nhà binh sĩ) kéo vào thị xã, làm cho tên tỉnh trưởng bất ngờ, lúng túng phải ra lệnh rút quân chủ lực về để bảo vệ thị xã, chỉ để lại một tiểu đoàn “Ó đỏ”.

Trong lúc ta tấn công mạnh ở Ba Tri, quân và dân Bình Đại nổi lên tiêu diệt, bức hàng và bức rút cả chục đồn bót. Sau thắng lợi ở Ba Tri, Bình Đại, chiến dịch phát triển sang cù lao Minh. LLVT của ta đánh thiệt hại nặng đồn Cây Điệp (chợ Thom, xã An Thạnh). Khu trù mật Thành Thới, chi khu Đôn Nhơn (Ba Vát) và nhiều đồn bót khác không chịu nổi sức tấn công của quân dân ta, phải rút chạy.

Tháng 7-1964, quân dân Bến Tre lại mở tiếp đợt tấn công mới nhằm phá đứt điểm những ấp chiến lược còn lại. Tiểu đoàn 516 bộ đội tỉnh cùng dân quân du kích tiến công tiêu diệt đồn Cây Điệp (Giồng Trôm) và đồn Phú Túc (Châu Thành). Địch đưa tiểu đoàn 32 biệt động quân cùng lực lượng bảo an ninh tỉnh đến giải tỏa, bị LLVT ta phục kích tại Lộ Thơ, xã Thành Triệu, tiêu diệt gần hết. Ta thu trên 200 súng. Thừa thắng, quân dân ta tiếp tục bức rút nhiều đồn, phá dứt điểm các ấp chiến lược ở các xã Tường Đa, Thành Triệu, An Khánh, Tam Phước, Phú An Hòa (Châu Thành).

   Tính đến đầu năm 1965, quân dân Bến Tre đã giải phóng 72 xã, với 550.000 dân, vùng giải phóng chiếm 3/4 đất đai và đã hình thành thế liên hoàn giữa các huyện. Những chiến thắng của quân dân ta trên chiến trường Bến Tre cũng như trên chiến trường toàn miền Nam đã bẻ gãy chiến lược "chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Chú thích:

(1) Đoàn gồm 5 đồng chí: đồng chí Sáu Giao, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre và 5 thủy thủ (Năm Kiện, Tư Đen, Bê, Đức, Nhung) (Xem thêm mục Sự kiện đáng nhớ ở phần Phụ Lục)

Đã ban hành
Võ Viết ThanhVõ Viết Thanh
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre. Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Image
Anh hùng Võ Viết Thanh sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Phú, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại đội phó xưởng sản xuất vũ khí, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Năm 17 tuổi, Võ Viết Thanh xung phong nhập ngũ, được phân công hoạt động trong thị xã, đồng chí cùng bạn bè dùng lựu đạn diệt địch. Cuối năm 1960, bị địch bắt, dù chúng dùng mọi cực hình tra tấn và mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc hơn 8 tháng, Võ Viết Thanh vẫn kiên cường, bất khuất.

Từ tháng 8-1961, thoát khỏi nhà tù của địch, Võ Viết Thanh nhận công tác ở xưởng sản xuất vũ khí của tỉnh. Tuy trình độ văn hóa có hạn, lại chưa biết nghề, song với nhiệt tình và quyết tâm cao, đồng chí nỗ lực học tập, nghiên cứu đã sản xuất được nhiều loại vũ khí, đánh địch có hiệu quả. Trong hoàn cảnh địch đánh phá ác liệt, Võ Viết Thanh phụ trách một bộ phận bám sát chiến trường. Trong 2 năm 1967-1968 vừa sản xuất vừa chiến đấu. Võ Viết Thanh tìm tòi nghiên cứu, thử nghiệm công phu, đã chế tạo thành công những khẩu súng cối, đại bác không giật, kịp thời cho bộ đội tỉnh đánh địch trong Xuân 1968. Võ Viết Thanh có nhiều sáng kiến tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất từ 150 - 500%. Đồng chí đã chỉ huy đội tự vệ của xưởng đánh nhiều trận, diệt hơn 180 tên Mỹ – ngụy, bắn hỏng 1 tàu chiến, bắn rơi và phá hủy 5 máy bay trực thăng của địch, góp phần bảo vệ căn cứ, đảm bảo sản xuất liên tục.

Đồng chí đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 2 hạng ba). Ngày 5-9-1970, Võ Viết Thanh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Sông TiềnSông Tiền
&nbsp;

Còn gọi  sông Mỹ  Tho

Đoạn sông nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, giáp biển Đông, dài 83km, chảy ra cửa Tiểu, cửa Đại, làm thành ranh giới tự nhiên giữa 2 tỉnh Bến Tre và Tiền Giang. Nước ngọt của các dòng sông chảy qua Bến Tre được cung cấp bởi nước từ sông Tiền.

Do sự biến động của dòng chảy và sự tác động của thủy triều mặn thâm nhập sâu vào trong đất liền, trên dòng sông xuất hiện nhiều cồn bãi nổi và ngầm, làm cho việc đi lại của các tàu có trọng tải lớn gặp nhiều khó khăn.

Đã ban hành
 Sân chim Vàm Hồ Sân chim Vàm Hồ
&nbsp;
{mosimage}
- Từ Thị xã Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ theo đường tỉnh 885, đến Thị trấn Ba Tri rồi rẽ về ngã Tân Xuân, đoạn đường dài khoảng 52 km. Vàm Hồ trở thành sân chim lớn nhất của tỉnh Bến Tre với khoảng nửa triệu chim các loại.
 
- Khách đến sân chim vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn sẽ được nghe bản “giao hưởng” thú vị của hàng ngàn con chim đủ loại từ các nơi bay về ríu rít bên nhau sau một ngày bay đi kiếm ăn khắp bốn phương và cả tiếng kêu của đàn vạc chuẩn bị vỗ cánh đi kiếm ăn vào ban đêm.
 
Đã ban hành
Chợ ThủChợ Thủ
&nbsp;

Chợ nằm bên cạnh cửa Ba Lai, nay thuộc xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại. Nơi đây, dưới thời Nguyễn có đặt một đồn biên phòng gọi là gọi là thủ Ba Lai do đó chợ này có tên là chợ Thủ.

Đã ban hành
Lý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến TreLý tưởng với hệ thống khách sạn ven sông Bến Tre
Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những năm gần đây hệ thống khách sạn của Bến Tre phát triển khá phong phú và đã phần nào giải quyết được số lượng khá đông du khách đến Bến Tre trong các dịp lễ hội, du lịch, những hội nghị lớn hay nhu cầu khác…. Có thể nói, việc phát triển các khách sạn mới ở Bến Tre là dấu hiệu đáng phấn khởi cho việc phát triển du lịch của Bến Tre hiện tại và tương lai. Các khách sạn được xây dựng trên đất Bến Tre gần đây đều nằm dọc bên bờ sông Bến Tre, từ cầu Bến Tre 1 hướng về bến phà Hàm Luông cũ, thuộc tuyến đường Hùng Vương, nối liền từ phường 3,5,7 của thành phố Bến Tre. Đây là một trong các tuyến đường đẹp nhất, có nhiều cây xanh thẳng tắp, tỏa nhiều bóng mát, mà những ai đã từng đến đây cũng đều trầm trồ khen ngợi không thua gì những con đường đẹp ở thành  phố Hồ Chí Minh.

Phải nhìn nhận rằng, hệ thống các khách sạn nằm bên bờ sông Bến Tre hiền hòa, thơ mộng và trên con đường Hùng Vương này thật lý tưởng. Lướt qua hệ thống khách sạn khá tiêu biểu nằm bên hai bờ sông Bến Tre trên đường Hùng Vương, để du khách có thể chọn lựa khi đến lưu trú tại xứ dừa Bến Tre như:

Khách sạn Việt Úc: Số 144, Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại (075) 3511888. Nằm ở vị trí vô cùng lý tưởng và tuyệt đẹp ngay cạnh Trung tâm chợ Phường 3, gần trung tâm thương mại phường 2 và khu mua sắm chợ đêm, bên cạnh Bảo tàng tỉnh Bến Tre…, nên rất thuận lợi trong việc tham quan, mua sắm. Khách sạn mới được xây dựng tương đương chuẩn 3 sao, với 74 phòng tiện nghi theo phong cách châu Âu gồm các loại phòng: cao cấp (superior), sang trọng (deluxe), phòng đáp ứng nhu cầu (suite) và phòng thấp hơn (Junior) nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu lưu trú của khách. Khách sạn Việt Úc sẽ chính thức khai trương và đưa vào hoạt động vào ngày 15/6/2012. Những tầng trên của khách sạn, từ những phòng nghỉ, du khách có thể vừa ngắm nhìn sông Bến Tre, vừa có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố Bến Tre. Trong khách sạn còn có 02 nhà hàng, món ăn phục vụ theo phong cách Nam Bộ lẫn Âu và Á. Phòng hội nghị sang trọng với sức chứa lên đến 700 khách. Ngoài ra, còn có các dịch vụ khác như: Cà phê VIP với các đêm nhạc đặc sắc diễn ra hàng tuần, quầy bar ngoài trời (sunny bar) với các loại cocktail mang đặc trưng thương hiệu Việt Úc, mới lạ với karaoke mang phong cách Ả Rập, thư giãn chăm sóc sức khỏe với dịch vụ spa, massage, bồn tắm trị liệu, …

Khách sạn Hùng Vương: Số 148 – 166, đường Hùng Vương, phường 3, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3822408. Là khách sạn ra đời tương đối sớm tại thành phố Bến Tre, đến nay vẫn là một trong những địa chỉ quen thuộc cho nhiều du khách khi về Bến Tre lưu trú. Với trên 38 phòng, đầy đủ các thiết bị thiết yếu, đội ngũ nhân viên phục vụ tận tình, thân thiện. Nằm tại vị trí thuận lợi cạnh bên là Bảo Tàng tỉnh. Tại ngôi nhà Bảo Tàng từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Bảo tàng nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh cùng những người muốn tìm hiểu về xứ dừa. Trước khách sạn là bến du thuyền để du khách có thể chọn lựa đến các điểm đến du lịch sinh thái sông nước - miệt vườn vùng ven thành phố Bến Tre.

Khách sạn Hàm Luông: Số 200C, Hùng Vương, Phường 5, thành phố Bến Tre; điện thoại: (0753) 3 560 560. Đây là khách sạn đầu tiên của Bến Tre đạt chuẩn 3 sao, ngoài dịch vụ phòng Hàm Luông còn cung cấp đầy đủ các dịch vụ khác cho khách đến đây lưu trú như: dịch vụ massage, karaoke, hồ bơi, … Đặt biệt, vào buổi sáng du khách có thể thưởng thức điểm tâm buffet với nhiều món ăn phong phú. Đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp. Khách sạn Hàm Luông có trên 66 phòng, với các loại phòng:  phòng chuẩn (standand), cao cấp (superior), deluxe (sang trọng) và nhiều phòng đáp ứng nhu cầu (suite)…, nên du khách sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình. Ngoài ra tầng 5 của khách sạn còn có quầy café sân thượng, không khí mát mẻ, truy cập được wifi, đặc biệt hơn du khách có thể vừa thưởng thức được các loại thức uống vừa có thể ngắm toàn cảnh sông Bến Tre.

Khách sạn Đại An: Số D7, Hùng Vương, phường 7, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 3512050. Đại An là khách sạn đạt chuẩn 1 sao, hệ thống phòng được thiết kế trang nhã, giá cả hợp lý, nên phù hợp với mọi đối tượng khách, bên cạnh đó du khách đến đây còn có thể thư giãn và ngắm cảnh sông Bến Tre tại quầy café phía trước khách sạn.

Khách sạn Oasis: Địa chỉ số 151C, Mỹ An C, Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre; điện thoại: (075) 2467799. Khách sạn Oasis nằm bên phía bờ nam sông Bến Tre, đạt chuẩn 1 sao và theo tâm sự của người quản lý khách sạn sẽ luôn đi đầu với tiêu chí “Ốc đảo hòa bình và thư giãn”, không gian nơi đây rất thoáng mát, vừa mang dáng vấp thành thị và nông thôn. Tất cả các phòng đều được trang bị đầy đủ tiện nghi, an toàn với hệ thống máy nước nóng sử dụng bằng năng lượng mặt trời, hồ bơi…. Khách sạn còn tổ chức phục vụ bữa ăn theo yêu cầu của khách. Các loại phòng gồm có: phòng đơn, phòng đôi, phòng dành cho gia đình.

Phải nhìn nhận rằng, lợi thế của các khách sạn ven sông Bến Tre lấy yếu tố hướng ra sông làm chủ đạo, nên rất tuyệt. Đến Bến Tre nếu chọn lưu trú tại các khách sạn ven sông, sẽ thuận tiện và được chiêm ngưỡng “Tượng đài Chiến thắng trên sông” được xây dựng tại công viên Hùng Vương, nhằm tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cởi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”. Hay thả bộ, ngắm cảnh con đường Hùng Vương nối dài đến tận Bến phà Hàm Luông cũ. Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, để được hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, để rồi mọi người sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Ở vị thế này, về đêm du khách có thể chọn ngắm cảnh ở cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, là hai cây cầu đẹp nằm trên đường Hùng Vương. Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông hay ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa, kết hợp với mỹ quan của đô thị thành phố Bến Tre; những ánh đèn đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông và xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông…,  tất cả cùng đan xen tỏa sắc màu ánh sáng dạ trên mặt sông và du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp thơ mộng, hiền hòa, yên ả, thanh bình của thành phố Bến Tre. Thú vị nhất là thỉnh thoảng làn gió nhè nhẹ thoảng qua, làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quí khách. Những hình ảnh thân thương đáng yêu ấy cùng hòa quyện vào nhau, tạo nên những hình ảnh đẹp làm xao động lòng người, để rồi mọi người nhớ mãi đến sông nước xứ dừa du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

 

Nhà khách Bến Tre

Ngoài hệ thống các khách sạn ven sông Bến Tre, còn rất nhiều khách sạn và nhà nghỉ tiêu biểu khác cũng rất lý tưởng ở trung tâm và vùng ven thành phố Bến Tre, để du khách có thể chọn làm điểm nghỉ qua đêm như: Nhà khách Bến Tre nằm tại nằm ở vị trí vô cùng thuận lợi trên đường  Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre, hay Khách sạn Đồng Khởi (nằm bên bờ hồ Trúc Giang); Khách sạn Bến Tre nằm đối diện công viên Tượng đài Đồng Khởi; Khách sạn sân vườn Sao Mai (đạt chuẩn 1 sao) tại số 106C, Bình Thành, Bình Phú, thành phố Bến Tre; Khách sạn Hoa Dừa số 323/1, ấp 1, Sơn Đông, thành phố Bến Tre, phía sau Trung tâm bến xe Bến Tre ….  Những cơ sở lưu trú này có nhiều loại phòng nghỉ và đầy đủ tiện nghi, có dịch vụ ăn, uống, quà lưu niệm, đặc sản xứ dừa.…, và cũng rất thuận tiện cho du khách đón các tuyến xe buýt đến các điểm du lịch tại ở các huyện của tỉnh Bến Tre. Và còn nhiều cơ sở lưu trú khác cũng nằm ở vị trí trung tâm và ngoại ô thành phố Bến Tre rất đẹp, thuận lợi, đảm bảo an toàn cho du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Ngô Văn CẩnAnh hùng liệt sĩ Ngô Văn Cẩn
Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Anh hùng Ngô Văn Cẩn (tức Sáu Quyền) sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Khánh Trung, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 bộ binh, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Từ khi nhập ngũ tới lúc hy sinh, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu ở nhiều địa bàn trong tỉnh Bến Tre. Tính chung trong hơn 12 năm, Ngô Văn Cẩn tham gia chiến đấu 210 trận, góp phần chỉ huy đơn vị diêt hơn 2.000 tên địch, bắt 120 tên, thu gần 100 súng các loại. Riêng anh diệt và làm bị thương 185 tên, bắt 13 tên (hầu hết là ác ôn, tề điệp), thu 35 súng, 7 máy thông tin. Có trận ngay từ phút đầu, anh đã bắn chết tên địch giữ khẩu trung liên rồi sử dụng khẩu súng này bắn mạnh vào khu vực địch co cụm, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị xông lên diệt gọn căn cứ địch. Một lần khác, Ngô Văn Cẩn chỉ huy 10 chiến sĩ giả làm lính ngụy lọt vào diệt gọn 1 trung đội địch rồi rút ra an toàn. Ngô Văn Cẩn cũng có nhiều thành tích trong việc xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch tạm chiếm, và trong hàng ngũ địch. Anh đã xây dựng được 40 cơ sở trong đó có 15 cơ sở khởi nghĩa diệt ác ôn mang vũ khí về với cách mạng. Cẩn còn giáo dục và tổ chức 25 thiếu niên làm liên lạc mật, vận động hàng trăm thanh niên tham gia du kích và vào bộ đội. Ngày 22-2-1972, đồng chí đã anh dũng hy sinh sau khi chỉ huy tiểu đoàn diệt gọn đồn Cầu Dần (Mỏ Cày).

Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 15 bằng và giấy khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua, 8 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6-11-1978 , Ngô Văn Cẩn được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Những cột mốc của quá trình Đồng KhởiNhững cột mốc của quá trình Đồng Khởi
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1)

Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của BCHTƯĐCS đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo Iực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân" (2).

   Nghị quyết 15 của TƯĐCS đã đánh dấu một mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.

   Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quân, ngụy quyền phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kiềm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.

   Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.

   - Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kiềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.

   - Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (Mỏ Cày).

   Ngày 22-2-1960, Mỹ, Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đại bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng võ trang cách mạng, hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.

   - Ngày 27-2-1960, hàng ngàn dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, mùng mền "tản cư" vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quận trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày đêm.

   - Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.

   Sau khi chỉ đạo cuộc Đồng Khởi thắng lợi ở Mỏ Cày, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.

Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn quét phải rút về vị trí cũ.
Tháng 6-1960, XUNB quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ
Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
Cao trào Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện chính trị ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở địch.
Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi đợt II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác của tỉnh.
   Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.

   Thắng lợi cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc Đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20-12-1960.

(1)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H.1980.
(2)Trích theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Sđd.
Đã ban hành
Phan Thị Hồng ChâuPhan Thị Hồng Châu
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre. Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre.

Anh hùng Phan Thị Hồng Châu (tức Nguyễn Thị Minh Hiền) sinh năm 1952, quê ở xã Sơn Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, chị là đảng viên, trinh sát vũ trang Ban an ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Phan Thị Hồng Châu

Năm 13 tuổi, Nguyễn Thị Minh Hiền đi làm thuê cho một gia đình ở thị xã Bến Tre. Trong Tết Mậu Thân (1968), chị được giác ngộ cách mạng, trở thành chiến sĩ trinh sát vũ trang, trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cơ sở cho đến khi được điều động ra vùng giải phóng (1972). Hoạt động trong vùng địch kiểm soát gắt gao, Nguyễn Thị Minh Hiền đã xây dựng được 5 cơ sở, đồng thời tìm mọi cách che mắt địch, bảo vệ mình, hoàn thành nhiệm vụ. Chị đã tham gia chiến đấu 17 trận, tiêu diệt và làm bị thương 174 tên gồm cảnh sát, tình báo, chiêu hồi, bình định của địch. Có những trận, một mình Nguyễn Thị Minh Hiền luồn sâu vào sào huyệt của chúng diệt nhiều tên. Đó là trận ngày 27-1-1970, chị dùng mìn định hướng diệt và làm bị thương 17 tên địch tại hội trường công chức của tỉnh. Cũng tại đây, ngày 1-4-1970, chị đã đánh một trận xuất sắc bằng mìn định hướng, diệt và làm bị thương 44 tên, bẻ gãy kế hoạch càn quét và bình định cấp tốc của địch, làm chúng hoang mang, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng nổi dậy đấu tranh giành quyền làm chủ. Nguyễn Thị Minh Hiền luôn nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng thường xuyện, lập công xuất sắc, hai năm liền là Chiến sĩ thi đua.

Đồng chí đã được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng. Ngày 6-1-1974, Nguyễn Thị Minh Hiền được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1962 - 1964 )Thế kỷ 20 ( 1962 - 1964 )

1962

1 tháng 2, Hồi 18g30, Ðài phát thanh Giải phóng, tiếng nói của MTDTGPMNVN bắt đầu phát sóng.

8 tháng 2, Mỹ quyết định lập Bộ Tư lệnh hành quân chung giữa Mỹ và Việt Nam, gọi tắt là MACV (Military Assitance Command Vietnam) gồm trên 4.000 cố vấn, do tướng Paul D. Harkins cầm đầu.

16 tháng 2, Khai mạc Ðại hội MTDTGPMNVN lần thứ nhất, có hơn 100 đại biểu, gồm đủ các tầng lớp xã hội, tôn giáo, dân tộc thuộc nhiều xu hướng chính trị khác nhau tham dự. Ðại hội họp từ 16-2 đến 3-3, đã thông qua bản cương lĩnh chính trị, các chính sách lớn của Mặt trận, bầu Ban Chấp hành gồm 52 ủy viên, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch.

27 tháng 2, Trong cuộc đảo chính lật Ngô Ðình Diệm, hai sĩ quan không quân Sài Gòn là Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã ném bom làm hỏng cánh trái của phủ Tổng thống, tức dinh Norodom cũ. Ngô Ðình Diệm và gia đình thoát chết. SAu trận này, Ngô Ðình Diệm dời Phủ Tổng thống về dinh Gia Long.

Tháng 4, "Quốc sách ấp chiến lược" của Ngô Ðình Diệm ra đời trên cơ sở của chương trình "ấp chiến lược" do Robert Thompson, một chuyên gia Anh làm cố vấn.

21 tháng 5, Ngô Ðình Diệm thiết lập "Tòa án quân sự mặt trận lưu động" thay vì chỉ có một "Tòa án quân sự đặc biệt" chung cho toàn lãnh thổ trước đó.

Tháng 12, Trong năm 1962, LLVT tỉnh Bến Tre mở nhiều cuộc tiến công, diệt hàng trăm tên địch, phá rã gần 100 ấp chiến lược.

1963

21 tháng 1, Chiến thắng Ấp Bắc - một ấp nhỏ chưa đầy 600 dân, thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, cách thành phố Mỹ Tho 15km - đã nêu cao tinh thần anh dũng của đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đánh bại cuộc càng quét lớn của Mỹ với quân số lớn hơn gấp 10 lần, được máy bay, đại bác và tàu chiến yểm trợ. Chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng thắng Mỹ về quân sự trong “Chiến tranh đặc biệt”.

7 tháng 3, Thành lập quận Ðôn Nhơn, quận lỵ đặt tại Thiên Hựu (trước gọi là Ba Vát) gồm 9 xã tách ra từ quận Mỏ Cày. Quận Mỏ Cày còn lại 12 xã (Nghị định số 209/NV ngày 7-3-1963 của Tổng thống VNCH).

11 tháng 6, Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Ðình Phùng (nay là Cách Mạng Tháng Tám - Nguyễn Ðình Chiểu) để tố cáo chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm, đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, mở đầu cho một loạt vụ tín đồ Phật giáo tự thiêu sau đó theo gương ông.

27 tháng 5, Ðại sứ Mỹ tại miền Nam Việt Nam là Nolting bị cách chức. Cabot Lodge, nguyên Ðại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc được cử sang thay.

1 tháng 11, Cuộc đảo chính do đại sứ Cabot Lodge giữ vai trò chủ mưu đã đưa đến cái chết của hai anh em Diệm - Nhu. Hội đồng quân nhân do Dương Văn Minh làm Chủ tịch lên nắm chính quyền. Cuộc đảo chính đã mở màn cho cơn khủng hoảng mới của chế độ tay sai Mỹ bằng những cuộc đảo chính liên miên diễn ra sau đó.

4 tháng 11, “Hội đồng quân nhân cách mạng” chỉ định Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên Phó tổng thống của Ngô Ðình Diệm, làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời.

1964

1 tháng 1, Ðại hội lần thứ 2 MTDTGPMNVN (từ ngày 1-1 đến ngày 8-1) tại chiến khu miền Ðông Nam Bộ.

30 tháng 1, Cuộc “chỉnh lý” xảy ra rạng sáng do tướng Nguyễn Khánh cầm đầu, lật đổ “Hội đồng quân nhân cách mạng” được thành lập sau khi lật đổ Ngô Ðình Diệm do tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch (1-11-1963). Nguyễn Khánh tự phong cho mình chức Chủ tịch "Hội đồng quân đội cách mạng”.

1 tháng 2, Nguyễn Khánh ký Sắc luật 093-SL-CT đặt cộng sản và thuyết trung lập ra khỏi vòng pháp luật.

5 tháng 2, Cuộc hành quân mang tên "Phượng hoàng TGI" gồm 6.000 quân càn quét các xã Thạnh Phong, Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú) nhằm phá hủy căn cứ tiếp viện vũ khí theo đường biển từ miền Bắc vào đã bị quân và dân Thạnh Phú chặn đánh nhiều trận. Trong trận này 14 máy bay địch bị bắn rơi và bắn hỏng, ta thu trên 200 súng, diệt 1.240 tên địch, trong đó có đại tá Lye của không quân Hoàng gia Anh.

8 tháng 2, Thành lập Chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam do tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, tướng Dương Văn Minh được cử làm Quốc trưởng.

24 tháng 4, Tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của tỉnh Bến Tre mang phiên hiệu tiểu đoàn 516 được thành lập tại xã Tân Xuân (huyện Ba Tri).

11 tháng 5, Vào lúc 16 giờ 15 ngày 11, trong lúc các em học sinh trường Linh Phụng thuộc xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm đang say sưa tập hát, thì một tốp máy bay khu trục Mỹ, do một chiếc L.19 chỉ điểm, lao đến trút những loạt bom napalm đốt cháy ngôi trường, giết chết 6 học sinh và làm bị thương nhiều người khác, trong số đó có cô giáo Thu Thủy. Cuộc ném bom có tính chất hủy diệt Trường Linh Phụng là một biểu tượng tội ác man rợ của giặc Mỹ.

16 tháng 5, “Hội đồng quân lực” của chính quyền Sài Gòn bầu tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, soạn thảo hiến pháp hiến mới.

20 tháng 6, Tướng Westmoreland được cử làm Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam thay cho tướng P. Harkins.

13 tháng 7, Ba máy bay trực thăng Mỹ bắn xối xả vào Trường tiểu học ấp Tân Ðức A, xã Tân Bình, huyện Mỏ Cày trong giờ học, làm chết 17 học sinh, 28 em khác bị thương.

4 tháng 8, Tổng thống Mỹ Johnson ra lệnh ném bom “trả đũa” miền Bắc Việt Nam tại các nơi: Hòn Gai, Lạch Trường, Bến Hải, Vinh...

16 tháng 8, Nguyễn Khánh công bố "Hiến chương Vũng Tàu", do 57 tướng tá họp thông qua tại đây, coi như một biện pháp tạm thời (gồm 8 chương, 62 điều) cho đến khi tổ chức bầu cử được một quốc hội lập hiến mới.

13 tháng 9, Cuộc đảo chính do các tướng trẻ Lâm Văn Phát và Dương Văn Ðức đứng đầu cái gọi là “Hội đồng quân dân cứu quốc” nhằm lật đổ Nguyễn Khánh thất bại.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Bến Tre, xây dựng LLVT tại chỗ để đối phó lại âm mưu gom dân, lập ấp chiến lược của địch, Ban chỉ huy quân sự tỉnh đã quyết định thành lập một đơn vị vũ trang gồm toàn nữ, từ người chỉ huy đến chiến sĩ. Ðơn vị này mang phiên hiệu C.710, nhưng trong thực tế là một trung đội gồm 3 tiểu đội nữ. Trong suốt 10 năm chiến đấu (1964-1975) đơn vị đã lập được hàng loạt chiến công xuất sắc, làm cho kẻ thù phải khiếp sợ, kiêng nể. Tính đến ngày giải thể đã có 8 chiến sĩ hy sinh, 14 người mang thương tật. Người dân Bến Tre ít nhớ cái phiên hiệu của đơn vị C.710, mà thường gọi là "Bộ đội Thu Hà" - tên của người chỉ huy đơn vị.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Nguyễn Hữu Phước
- Sinh ngày: 13/5/1959
- Quê quán: Xã Tân Thanh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh     
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam             
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cử nhân


Đã ban hành
Trần Văn CắtTrần Văn Cắt


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Trần Văn Cắt sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Châu
Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên,
chuẩn úy, đại đội phó đặc công, bộ đội địa phương huyện Châu Thành, tỉnh Bến
Tre.</span></p><div style="text-align: center;"><br /></div><p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Chiến
đấu ở địa bàn địch đánh phá ác liệt, Trần Văn Cắt đã diệt và làm bị thương 170
tên địch, bắt 20 tên (có 11 trưởng, phó đồn, 2 trưởng ấp, thu trên 50 súng). Có
trận Trần Văn Cắt được giao nhiệm vụ phụ trách 1 tổ đi điều tra tình hình 1 đại
đội Mỹ đóng ở Cầu Cao chặn hành lang vận chuyển của ta. Trần Văn Cắt chỉ huy 1
mũi luồn sâu vào trung tâm, diệt sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt
đại đội Mỹ gồm 120 tên. Riêng anh diệt 7 tên, phá hủy toàn bộ điện đài. Ngày
10-2-1972, ta đánh đồn Bờ Xoài (xã Tiên Thủy), địch ở đây đóng 1 trung đội, có
công sự kiên cố, Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi nhanh chóng dẫn tổ vượt rào xông
vào đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển đánh thêm 2 lô cốt nữa, diệt 9 tên,
làm bị thương 11 tên. Sau đó, dìu được 2 đồng chí bị thương nặng ra ngoài an
toàn. Trận đánh đồn hãng Nước Đá (xã Sơn Đông) ngày 13-8-1974, đồn này do 1
trung đội địch đóng giữ, có 3 lô cốt chính và 3 lô cốt phụ, Trần Văn Cắt chỉ
huy một mũi. Kết quả mũi của Cắt đã góp phần quan trọng diệt được bọn địch ở
đây. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân
chương chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng
ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 5 lần là Dũng sĩ, 35 bằng và giấy khen. Ngày 6
-11-1978, Trần Văn Cắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Cắt sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, chuẩn úy, đại đội phó đặc công, bộ đội địa phương huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Trần Văn Cắt

Chiến đấu ở địa bàn địch đánh phá ác liệt, Trần Văn Cắt đã diệt và làm bị thương 170 tên địch, bắt 20 tên (có 11 trưởng, phó đồn, 2 trưởng ấp, thu trên 50 súng). Có trận Trần Văn Cắt được giao nhiệm vụ phụ trách 1 tổ đi điều tra tình hình 1 đại đội Mỹ đóng ở Cầu Cao chặn hành lang vận chuyển của ta. Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi luồn sâu vào trung tâm, diệt sở chỉ huy địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt đại đội Mỹ gồm 120 tên. Riêng anh diệt 7 tên, phá hủy toàn bộ điện đài. Ngày 10-2-1972, ta đánh đồn Bờ Xoài (xã Tiên Thủy), địch ở đây đóng 1 trung đội, có công sự kiên cố, Trần Văn Cắt chỉ huy 1 mũi nhanh chóng dẫn tổ vượt rào xông vào đánh chiếm lô cốt đầu cầu và phát triển đánh thêm 2 lô cốt nữa, diệt 9 tên, làm bị thương 11 tên. Sau đó, dìu được 2 đồng chí bị thương nặng ra ngoài an toàn. Trận đánh đồn hãng Nước Đá (xã Sơn Đông) ngày 13-8-1974, đồn này do 1 trung đội địch đóng giữ, có 3 lô cốt chính và 3 lô cốt phụ, Trần Văn Cắt chỉ huy một mũi. Kết quả mũi của Cắt đã góp phần quan trọng diệt được bọn địch ở đây.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 5 lần là Dũng sĩ, 35 bằng và giấy khen. Ngày 6 -11-1978, Trần Văn Cắt được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc TòngKhu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng
UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

UBND tỉnh Bến Tre có Quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Từ thành phố Bến Tre theo đường tỉnh lộ 885 đến ngã tư Bình Tây khoảng 35km, rẽ phải theo đường liên xã An Bình Tây - An Hiệp khoảng 2km là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang, nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu.

Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên là Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch, đánh giáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Phan Ngọc Tòng cùng với nhiều nghĩa quân khác đã hy sinh. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn​

Đã ban hành
Thổ nhưỡngThổ nhưỡng
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này.
Nhìn toàn bộ vị trí địa lý, Bến Tre là một dạng cù lao lớn ở cửa sông Cửu Long hình thành do quá trình bồi tụ phù sa của những "đảo cửa sông", một trong những dạng thức lấn biển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long trong hàng ngàn năm qua. Những kết quả khảo sát chi tiết đã xác nhận rằng đất đai Bến Tre mang sắc thái đặc thù tiêu biểu cho toàn bộ quá trình hình thành đồng bằng này. Ngược về quá khứ trên 2.000 năm trước, khi biển bắt đầu lùi dần và toàn bộ đồng bằng tiến nhanh ra khơi, thì trên mỗi chặng đường rút lui của biển, những dải giồng cát bắt đầu hình thành. Riêng tại Bến Tre có gần 20 dải giồng cát chạy song song từ trong ra ngoài, đánh dấu những chặng đường lấn biển của vùng cửa sông. Với chiều cao từ 3 đến 5 m, các giồng cát ở Bến Tre đã tạo thành dạng địa mạo rất đặc trưng của vùng cửa sông Cửu Long ngày nay. Giữa các dải giồng cát là những trũng giữa giồng, hay phẳng giữa giồng với chiều rộng chênh lệch khá nhiều. Chính đặc điểm này đã quyết định một số khu vực đất phèn ở Ba Tri, Bình Đại. Những tên gọi "Cù lao Minh", "Cù lao Bảo" ngày xưa của Bến Tre minh chứng rằng trước đây Bến Tre vốn là những cù lao hình thành riêng lẻ do sự lắng đọng phù sa ở cửa sông Tiền, dần dần những nhánh sông chia cắt giữa các cù lao cũng bị lấp nghẽn bởi lượng phù sa ngày càng lớn và các cù lao chắp lại với nhau, tạo nên Bến Tre ngày nay.

So sánh con sông Ba Lai trên bản đồ ngày xưa và hiện nay, ta thấy rõ dòng sông "chết" dần, thực ra nó chỉ tái lập hình ảnh đã diễn ra trước kia của một số dòng sông khác trên địa bàn tỉnh, như các dòng sông cổ ở Châu Thành, Chợ Lách, mà những dấu vết của nó vẫn còn để lại trên lớp đất ngày nay. Đó là những dải đất phèn, những vùng đất thấp nhiều hợp chất hữu cơ, và đặc biệt là những dòng nước ngọt âm ỉ chảy ngầm sâu hàng chục mét đã phát hiện được ở Ba Tri, Thạnh Phú năm 1985.

Nói đến Bến Tre, người ta không thể nói đến những vườn dừa bạt ngàn, tập trung ở các huyện phía tây như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm. Không phải ngẫu nhiên mà đất Bến Tre ngày nay thích hợp với cây dừa. Tập quán trồng dừa trên đất cù lao đã có từ lâu trong nhân dân đồng bằng Nam Bộ. Vào nửa thế kỷ XVII, khi những cư dân người Việt đầu tiên di chuyển ồ ạt xuống vùng Long Hồ thì các giồng là nơi tập trung sinh sống trước tiên của họ. Có một lịch sử canh tác lâu đời, đất đai Bến Tre đã trải qua những chuyển biến quan trọng về số lượng cũng như chất lượng. Nhiều vùng đất mặn ngày nay đã được ngọt hoá. Nhiều vùng đất phèn dưới ảnh hưởng của kênh đào và đê bao đã chuyển hoá thành đất phèn hoạt động, mà tầng sinh phèn đã ít nhiều bị rửa trôi. Gần nửa diện tích đất đai trong tỉnh đã bị xáo trộn do việc lập vườn, lên liếp, đào mương.

Từ sau năm 1975, công tác điều tra khảo sát đất đai Bến Tre được tiến hành trên quy mô lớn nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác nguồn tài nguyên này để đáp ứng cho nhu cầu lập quy hoạch khai thác và sử dụng. Qua đợt điều tra lập Bản đồ đất (1977 – 1978) do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp và Viện Nông hóa Thổ nhưỡng (Bộ Nông nghiệp) thực hiện trên địa bàn từng huyện, đất đai tỉnh Bến Tre chia làm 6 nhóm và 11 loại

Theo các báo cáo khảo sát nhằm bổ sung và chỉnh lý Bản đồ đất của tỉnh Bến Tre do Chương trình điều tra cơ bản tổng hợp dòng sông Cửu Long cấp Nhà nước ở giai đoạn II (1984 – 1985), toàn tỉnh Bến Tre chia làm 4 nhóm đất chính và 15 loại đất phụ.

Từ những kết quả điều tra khảo sát đất đai ở Bến Tre trong thời gian qua, có thể rút ra mấy ý kiến sau đây:

 Về số lượng:

Bến Tre là tỉnh có tiềm năng dồi dào về đất đai (trên 66% diện tích thuộc loại thuận lợi, hoặc ít hạn chế) đối với các loại cây trồng chính. Các loại đất có nhiều hạn chế đối với một số cây trồng như lúa, dừa, cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm 19% diện tích, trong đó số diện tích có hạn chế quan trọng thật sự chỉ khoảng 10%.

Trên quan điểm xây dựng một cơ cấu nông nghiệp toàn diện, Bến Tre có tiềm năng đất đai đa dạng và phong phú, để phát triển sản xuất theo mô hình nông – lâm – ngư nghiệp đồng bộ và hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao.

 Về chất lượng

Những số liệu khảo sát được cho thấy mặc dù đất đai ở Bến Tre còn có độ phì tiềm tàng đáng kể, nhưng mức độ sử dụng cho cây trồng còn hạn chế bởi ảnh hưởng của sự hiện diện ở mức độ quá cao nhiều chất đối kháng. Loại bỏ các yếu tố đối kháng này bằng các biện pháp canh tác hợp lý, chất lượng và năng suất các loại cây trồng sẽ tăng đáng kể.

Ở khía cạnh đơn thuần đất đai, những đánh giá về số lượng và chất lượng đất đôi khi chưa phản ánh hết tác động của đất lên cây trồng (năng suất, tình trạng sinh trưởng). Tuy nhiên, những kết quả điều tra ở Bến Tre cho thấy trong 10 năm qua các biện pháp canh tác không hợp lý đã dẫn đến tình trạng đất bị thoái hóa không tránh khỏi. Một số khu vực, năng suất hoặc giảm sút, hoặc không tăng lên được, mặc dù đã tăng cường lượng phân bón trong mỗi vụ. Thực tế là đất vốn rất nghèo lân, lượng đạm dễ tiêu và tổng số không hẳn dồi dào, việc thâm canh cây lúa đã lấy đi của đất ngày càng nhiều những chất dinh dưỡng chủ yếu, trong khi lượng phân bón thiếu cân đối, do đó đất càng bạc màu dần. Ngoài ra, việc sử dụng hoàn toàn phân vô cơ và tập quán đốt rơm rạ (nhất là các vùng có xen màu) đã làm đất mất dần sự tơi xốp và thiếu lượng hữu cơ cần thiết của quá trình chuyển hoá các chất dinh dưỡng.

Ở những khu vực đất bị nhiễm mặn, chỉ gieo trồng một vụ lúa vào mùa mưa và bỏ hoá mùa khô, không có thảm thực vật che phủ. Nhiều nơi ở Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, rừng ven biển bị khai hoang để trồng lúa, đất mất thảm thực vật che phủ càng bốc mặn nghiêm trọng trong mùa khô, mất kết cấu, nứt nẻ và chuyển biến theo chiều hướng xấu.

Vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác, sử dụng đất phải đi đôi với việc bồi dưỡng và cải tạo đất bằng nhiều biện pháp tổng hợp để vừa có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên.

Trong hàng trăm năm qua, người dân Bến Tre bằng những kinh nghiệm được đúc kết từ bao đời, đã vừa lợi dụng quy luật thiên nhiên, vừa từng bước hạn chế tác hại của nó, để khai thác có hiệu quả vốn quý đất đai. Những vùng đất được lên liếp vừa để trồng dừa và những loại cây thích hợp vừa nuôi tôm, bên cạnh đó là hàng loạt các công trình thủy nông lớn nhỏ được xây dựng, là kết quả của một quá trình lao động cần cù sáng tạo của nhân dân Bến Tre.

Ngày nay, sự phát triển không ngừng của nền sản xuất nông nghiệp càng khẳng định vai trò quan trọng của đất đai - nguồn tài nguyên không tái tạo được. Việc đánh giá chi tiết và cụ thể quỹ đất nhằm đề ra các biện pháp sử dụng hợp lý về cả mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết. Đối với Bến Tre, nơi đất đai khá đa dạng và phong phú, cần có phương hướng khai thác và sử dụng theo quan điểm nông nghiệp toàn diện, vừa bảo vệ được môi trường tự nhiên, vừa khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng dồi dào đó.

Đất đai ở đây khá đồng nhất về chất lượng. Đất có độ phì tiềm tàng khá, nhưng khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng kém. Đất có phản ứng từ ít chua đến trung tính ở tầng mặt, ngoại trừ nhóm đất phèn nặng. Lượng đạm tổng số nhìn chung từ mức trung bình đến khá ở tầng đất mặn, trong khi lượng lân từ nghèo đến rất nghèo. Hầu hết các loại đất đều có cán cân độ phì từ mức thấp đến rất thấp. Tương quan giữa lượng đạm và lân trong đất tương đối tốt, nhưng tương quan giữa lượng lân tổng số và dễ tiêu rất xấu, do đó có ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Đã ban hành
Cây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốcCây dừa trong lịch sử đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.

​Dựa vào hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của rừng dừa - sông nước, người dân Bến Tre đã mưu trí, dũng cảm nghĩ ra nhiều cách đánh giặc tài tình mà khi tìm hiểu lịch sử đấu tranh cách mạng của người Bến Tre chúng ta không thể không nhắc tới. Đây là những chiến công hiển hách của quân và dân Bến Tre qua những lối đánh giặc có một không hai trong lịch sử. Lối đánh dựa vào “địa lợi” mà chỉ ở vùng sông nước - rừng dừa này mới có.


Trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu có câu “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” thì ở Bến Tre đồng bào lại có câu “Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù”.

Quân giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngàn khắp ba dải cù lao, đâu đâu cũng có dừa che mắt giặc. Trên lưng một chót lá dừa làm lá ngụy trang, dưới chân là những thân dừa làm cầu nâng bước. Ngoài ra, thân dừa còn dùng làm nóc hầm tránh bom pháo giặc mà bất cứ nhà nào trong vùng giải phóng Bến Tre cũng có. Những căn hầm lớn mà căn cứ khu ủy Sài gòn - Gia Định đóng tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày ngày nay được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia cũng được làm bằng thân dừa .

Trong chiến tranh, việc lập một đài quan sát tình hình địch hết sức khó khăn, rất dễ bị lộ. Ở Bến Tre bất cứ ngọn dừa lão nào cũng có thể trở thành đài quan sát mà địch không thể ngờ tới. Nhiều trận phục kích quân ta thắng vang dội cũng nhờ quan sát tốt nắm hướng địch càn quét mà bố trí trận địa đón đầu.

1107_TT_1l.jpg
Căn hầm làm bằng dừa trong chiến tranh


Ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày), du kích lấy thân dừa dựng pháo đài, bắn tỉa địch ngày đêm khiến chúng mất ăn mất ngủ bỏ đồn mà chạy. Họ dùng bốn thân dừa dựng thành một cái khung hình tháp, ngang tầm tháp canh đồn giặc, chung quanh khung dùng bịch lá chằm bằng lá dừa nước đựng đầy đất chồng lên tới đỉnh làm thành pháo đài, trên chót có lỗ châu mai, du kích thay phiên nhau theo dõi từng động tĩnh của giặc, với những tay súng thiện xạ mỗi viên đạn diệt một quân thù.

Hàng ngày, cây cầu dừa giúp mọi người đi lại từ nơi này sang nơi khác, giúp bộ đội hành quân, chuyển thương tải đạn nhưng lại là cạm bẫy đối với giặc. Khi nắm được tình hình giặc sắp đi càn, du kích dùng cưa cắt hờ ở giữa cầu một đường cưa từ dưới lên độ 2/3 thân dừa, sao cho sức nặng của một tên giặc đi lên là gãy cầu rơi xuống bãi chông ngầm đã được cắm sẵn .

Dừa mang khẩu hiệu

Lúc đầu mọi khẩu hiệu trong vùng giải phóng Bến Tre đều viết bằng giấy rồi dán lên thân dừa. Mỗi lần giặc càn chúng xé khẩu hiệu hoặc bị bọn phản động nửa đêm lén gỡ, thêm nữa vào mùa mưa khẩu hiệu bằng giấy sẽ bị trôi mất hết, thời kỳ ấy giấy lại rất hiếm.

Người ta nghĩ ra cách bào nhẵn một khoảng chữ nhật trên thân dừa hoặc bào vắt chéo nếu khẩu hiệu hơi dài rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, cũng có nơi vẽ cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Giặc đành “bó tay” bởi không thể đốn hạ cả rừng dừa và còn e ngại chung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu không biết còn cạm bẫy gì chăng.

1107_TT_2l.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo về thăm căn cứ của khu ủy Sài Gòn-Gia Định.
(Căn hầm làm bằng thân dừa đã được phục chế lại)

Mõ dừa

Thân dừa già người ta cắt đoạn non thước rồi đục miệng, móc ruột làm thành cái mõ đánh rất kêu. Mõ dừa cùng với mõ tre, mõ mù u, trống, chiêng... và đủ loại dụng cụ có thể phát ra âm thanh uy hiếp tinh thần giặc mỗi khi ta vây hãm đồn bót. Mỗi lần “vô đợt”, tức bắt đầu một chiến dịch, những chiếc mõ đã chôn dấu được đem chùi rửa, phơi khô, đêm đêm tiếng mõ lại vang lên không mệt mỏi.​

Ngủ trên ngọn dừa

Nhờ vườn dừa mà những nhóm du kích, tổ biệt động đã áp sát địch, xuất quỷ nhập thần, làm địch tổn thất nặng nề. Họ chọn những vườn dừa rậm rạp, cao trên 10 mét, lấy khăn rằn làm nài leo lên ngọn, dùng một cái võng ngắn màu xanh lá cây căng qua hai tàu dừa, hai tàu lá câu đầu lại vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay phát hiện. Nếu cẩn thận buộc khăn rằn quấn qua người vào một bẹ dừa làm dây an toàn để yên tâm ngồi ngủ. Có lúc họ ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế. Với một con dao găm, sẵn nước dừa mà uống, sẵn cùi dừa mà ăn để chờ thời cơ đánh vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù.

Những năm trước hiệp định Paris, giặc tung quân giành dân, lấn đất, ta thường treo cờ Mặt trận lên ngọn dừa để phân giới tuyến vùng giải phóng kế cận đồn bót địch, xác định chủ quyền. Chúng cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, tương kế tựu kế, dưới ngọn cờ du kích nối với một quả mìn tự tạo, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt. Từ đó chúng không dám nghênh ngang lộng hành như trước.

Vào cuối mùa mưa nước sông thường chảy xiết, lợi dụng thời cơ này năm 1972 du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, ta cho cắt dây bè, bè trôi nhanh theo dòng nước, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cầu Bình Chánh xuống dòng sông. Cầu Hòa Lộc (Mỏ Cày) cũng bị đánh sập bằng cách này để cắt đứt đường tiếp tế của giặc.

Lòng căm thù giặc sâu sắc cộng với sự thông minh tài trí, quân và dân Bến Tre đã tạo ra được nhiều cách đánh giặc xưa nay chưa từng có khiến quân địch phải khiếp vía kinh hồn. Đây là một cách đánh mưu trí mà chỉ những người dân sống trong rừng dừa - sông nước hiểu được quy luật của tự nhiên mới có thể sáng tạo ra.

Cũng dựa vào lợi thế sông rạch, bọn ngụy dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến nhỏ luồn sâu vào các cửa sông rạch vùng giải phóng để càn quét bắn phá. Nhân dân ta cản giặc bằng cách vạt nhọn thân dừa cắm sâu xuống vùng cửa sông sao cho ghe xuồng nhỏ vẫn có thể qua lại được nhưng tàu giặc thì không thể lọt qua.

Tàu lá dừa dùng làm chông sào cắm ngoài ruộng cũng ngăn được trực thăng đổ quân. Gỗ dừa, bập dừa (phần gốc của tàu lá dừa nước) được dùng làm súng giả nghi trang uy hiếp tinh thần giặc.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, do điều kiện thiếu thốn thuốc men, trước mỗi trận đánh Ban Dân y phải chuẩn bị một lượng dừa nạo khá lớn để thay thế nước biển (một loại dung dịch để tiếp vào máu khi chiến sĩ bị thương mất máu). Dừa được chọn rất kỹ, phải là dừa trồng ở chỗ xa nhà, xa chuồng trại gia súc, ở gần mương rạch thông thoáng. Khi bẻ dừa phải dòng dây hoặc cắn cuống đem xuống từng quả một mà không được làm rơi hoặc quăng quật. Sáng kiến này đã cứu sống nhiều thương binh tưởng chừng không thể qua khỏi do mất máu, mất nước kiệt sức. Đồng chí Lê Dân, nguyên Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật Bến Tre bị thương trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã được truyền nước dừa mà sống. Ngoài ra, người ta còn dùng nước dừa thay thế nước cất trộn thuốc kháng sinh mà tiêm rất tốt. Mật ong ruồi trong vườn dừa cũng được dùng sát trùng, rửa vết thương rất hiệu quả.

Ngoài ra, quân và dân Bến Tre còn sáng tạo nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong đó phải nói đến cách dùng “đội binh ong vò vẽ” làm vũ khí. Trong vườn dừa, ong vò vẽ đóng ổ rất nhiều. Ong vò vẽ có nọc rất độc. Người lớn bị ong đốt năm ba vết là sưng mình, nóng lạnh. Trường hợp bị cả đàn vây đốt có thể dẫn đến tử vong, chí ít cũng dở sống dở chết. Dựa vào đặc tính đó, anh hùng Nguyễn Văn Tư ở xã Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày) là người đầu tiên nghĩ ra cách sử dụng ong vò vẽ đánh giặc rất tài tình.

Để sử dụng ong vò vẽ đánh giặc, đầu tiên phải tìm cách bắt ong. Bà con chọn những tổ ong chỉ lớn bằng quả dừa cho dễ bắt, ít bị vỡ tổ. Ban đêm dùng đèn pin quan sát thấy ong rút hết vào tổ chỉ chừa vài con thay phiên nhau gác ở miệng tổ, chờ lúc chúng chuẩn bị đổi gác, con ngoài chui vào con trong chưa kịp ra, ấy là thời cơ tốt nhất. Người ta dùng giấy dầu có trét sẵn nhựa cây mít mà bịt miệng tổ lại . Sau đó dùng cưa hoặc liềm mà cắt nguyên tổ đem đi đặt vào những lùm bụi, cây cối gần những lối đi quanh xóm, nơi phán đoán giặc có thể đi vào. Tổ ong được nối với một sợi dây chắc chắn chuyền ra xa. Chung quanh, bên dưới tổ ong này có nhiều hố chông được ngụy trang kỹ, dưới mương cũng cắm dày đặc chông tre. Khi có báo động những địa điểm này được gài thêm lựu đạn. Mỗi du kích được phân công giữ một đầu dây. Khi giặc lọt vào trận địa thì giật dây cho ong vỡ tổ, đội binh ong rượt đuổi chích đốt khiến địch hoảng loạn bỏ chạy tứ tung hoặc vướng lựu đạn hoặc sụp hầm chông. Kẻ nhanh chân nhảy xuống mương cũng bị chông ngầm đâm phải. Đó là cách đánh trận địa liên hoàn được phổ biến khắp vùng giải phóng Bến Tre và sang cả các tỉnh lân cận.

Những năm đầu sau Đồng Khởi, để bảo vệ vùng giải phóng, đội quân ong được bố trí khắp nơi khiến ong trở nên hiếm. Người ta phải canh giữ để loài chim ó khỏi phá tổ ăn ong non. Ở những nơi có tổ ong to khó lấy được, ban đêm người ta lén phá tổ cho chúng phân đàn để có thêm nhiều tổ. Bến Tre có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn An Định, chống địch đi càn. Trong năm 1963, toàn tỉnh Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Rừng dừa đã góp phần cùng quân dân Bến Tre lập nên những chiến công trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Chúng ta cần lưu giữ để ghi nhớ công ơn của bao thế hệ đã làm nên lịch sử giữ nước hào hùng của dân tộc ta.
Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Thế kỷ 20 ( 1976 - 1993 )Thế kỷ 20 ( 1976 - 1993 )

1976

31 tháng 3, Ủy ban Quân quản làm lễ bàn giao nhiệm vụ cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre.

24 tháng 6, Tại thủ đô Hà Nội, Quốc hội (khóa VI) của nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu tiên từ ngày 24-6-1976 đến ngày 2-7-1976.

2 tháng 7, Cuộc họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI đã thông qua quyết định lấy tên nước Việt Nam thống nhất là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội cũng quyết định đặt tên cho thành phố Sài Gòn - Gia Ðịnh là TP. Hồ Chí Minh.

1 tháng 10, Báo Chiến thắng đổi tên thành báo Ðồng khởi. Số đầu tiên ra mắt bạn đọc gồm 8 trang, in ốp sét. Báo ra hàng tuần.

20 tháng 12, Thành lập Ðài phát thanh Bến Tre.

1977

7 tháng 3, Ðài phát thanh Bến Tre phát buổi đầu tiên.

Ðại hội Ðảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ nhất vòng 2 (từ 7 đến 18-3) xác định 3 thế mạnh của nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh: nghề ruộng, nghề vườn, nghề cá.

Thành lập Trường Trung học Sư phạm Bến Tre.

1978

Tháng 11, Thành lập Hội Nhà báo tỉnh Bến Tre.

Thành lập Trường Cán bộ Quản lý giáo dục Bến Tre.

1979

1 tháng 10, Theo kết quả Tổng điều tra dân số trong cả nước lần thứ I, tỉnh Bến Tre có số dân 1.033.900 người, so với số dân toàn quốc là 52.711.766 người.

1984

9 tháng 1, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định chọn xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm làm địa phương kết nghĩa với Cuba mang tên "Làng Môncađa".

14 tháng 3, Phân vạch địa giới một số xã, thị trấn ở tỉnh Bến Tre.

Chia xã Tân Hào (huyện Giồng Trôm) thành 2 xã: Tân Hào và Tân Lợi Thạnh.

Chi xã Tân Thủy (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Tân Thủy và An Thủy.

Chia xã Ðịnh Hòa (huyện Bình Ðại) thành 2 xã: Long Ðịnh và Long Hòa.

Chia xã Vang Quới (huyện Bình Ðại) thành 2 xã: Vang Quới Ðông và Vang Quới Tây.

Chia xã Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) thành 2 xã: Bình Khánh Ðông và Bình Khánh Tây.

Chia xã Thành Thới (huyện Mỏ Cày) thành 2 xã: Thành Thới A và Thành Thới B.

Chia xã Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Thạnh Phong và Thạnh Hải.

Chia xã Quới Ðiền (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Quới Ðiền và Hòa Lợi.

Chia xã Ðại Ðiền (huyện Thạnh Phú) thành 2 xã: Ðại Ðiền và Tân Phong.

Tách ấp Sơn Quy, 2/3 ấp Bình An, 1/6 ấp Phụng Châu của xã Sơn Ðịnh, sáp nhập vào thị trấn Chợ Lách.

Giải thể các xã Bình Nguyên, Mỹ Hóa, An Hòa và thành lập 3 phường mới 3, 7 và 8.

(Quyết định số 44-HÐBT, ngày 14-3-1984 của Hội đồng Bộ trưởng).

Tháng 12, Dân số tỉnh Bến Tre là 1.158.936 người.

1985

16 tháng 4:

Chia xã Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Bảo Thạnh và Bảo Thuận.

Chia xã Mỹ Chánh Hòa (huyện Ba Tri) thành 2 xã: Mỹ Chánh và Mỹ Hoà

Chia xã An Ngãi Trung (huyện Ba Tri) thành An Ngãi Trung và An Phú Trung.

Tách ấp An Hội của xã An Ðức để sáp nhập vào thị trấn Ba Tri.

Thành lập xã Vĩnh An (huyện Ba Tri) trên cơ sở tách một phần đất của xã An Vĩnh Hòa và xã An Hòa Tây nhập lại.

(Quyết định số 119-HÐBT, ngày 16-4-1985 của Hội đồng Bộ trưởng).

Chính phủ trao tăng Huân chương Sao vàng cho nhân dân Bến Tre và Huân chương Quân công hạng I cho LLVTND tỉnh.

Sau 10 năm giải phóng (1975-1985), dân số Bến Tre đạt con số 1.170.664 người.

1987

17 tháng 1, Khởi công xây dựng đường dây 110KV Mỹ Tho - Bến tre vượt qua sông Tiền, nối Bến Tre với lưới điện quốc gia.

1989

1 tháng 4, Kết quả Tổng điều tra dân số trong cả nước lần thứ II, tỉnh Bến Tre có số dân 1.214.329 người, trong đó người Kinh có 1.206.738 người.

19 tháng 5, Lễ khánh thành đường dây điện vượt sông Tiền 110KW nối tỉnh Bến Tre với mạng lưới điện quốc gia với tổng kinh phí trên 5 tỷ đồng.

28 tháng 9, Ðóng mạch điện nối liền Bến Tre với mạng lưới điện quốc gia.

20 tháng 11, Khởi công xây dựng đường dây điện vượt sông Hàm Luông, đưa điện về 3 huyện của cù lao Minh.

22 tháng 12, Khởi công xây dựng cầu Chẹt Sậy nằm trên tỉnh lộ 26 (thị xã - Giồng Trôm), dài gần 200m.

27 tháng 12, Hoàn thành việc lập bản đồ Bến Tre tỷ lệ 1/5000.

1990

6 tháng 12, Khởi công xây dựng Trường Phổ thông trung học Nguyễn Ðình Chiểu (xây mới) tại ấp 1, xã Phú Khương, thị xã Bến tre, cạnh quốc lộ 60, có mặt bằng 7.360m2.

23 tháng 12, Huyện Ba Tri được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.

Khánh thành đoạn đường quốc lộ 60 nối từ bến phà Rạch Miễu, thị tứ Tân Trạch đến thị xã Bến Tre, dài 11,5km.

1991

27 tháng 4, Ðại hội đại biểu Ðảng bộ ÐCS tỉnh Bến Tre lần thứ V, từ ngày 27-4 đến 29-4. Có 352 đại biểu dự.

Trường Cao đẳng Sư phạm Bến Tre được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng III.

1992

15 tháng 5, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định thành lập Ủy ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình trực thuộc UBND tỉnh; về sau, đổi thành Trung tâm Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em - Kế hoạch hóa gia đình.

26 tháng 8, Ðồng chí Nguyễn Thị Ðịnh mất tại TP.Hồ Chí Minh.

1993

7 tháng 1, Bộ Văn Hóa - Thông tin ra quyết định số 43-VH/QÐ công nhận:

Khu di tích lịch sử Ðồng khởi Bến Tre (17-1-1960) tại xã Ðịnh Thủy, huyện Mỏ Cày.

Khu di tích nghệ thuật đình Bình Hòa, tại xã Bình Hòa, huyện Giồng Trôm.

Khu di tích nghệ thuật đình Phú Lễ, tại xã Phú Lễ, huyện Ba Tri.

25 tháng 8, Khánh thành cầu Cái Cấm và cầu Chợ Xếp trên tỉnh lộ 887. Cầu Cái Cấm dài 149,3m, gồm 7 nhịp, rộng 8m, bằng bê-tông cốt thép vĩnh cửu.

Cầu Chợ Xếp dài 50,40m, gồm 3 nhịp, rộng 8m, bằng bê-tông cốt thép vĩnh cửu.

3 tháng 9, Khánh thành tượng đài kỷ niệm ngày thành lập trung đoàn Ðồng Khởi tại xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày.

Đã ban hành
Lê Quang QuanLê Quang Quan
&nbsp;

Image
Đền thờ Tán Kế tại Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri.
    Lê Quang Quan, tự Kế (nên cũng thường gọi là Tán Kế) sinh tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông nội ông quê quán ở Bình Định vào đất Ba Tri lập nghiệp. Kế thừa tinh thần thượng võ của ông cha từ nơi quê cũ, ông luyện tập võ nghệ khá tinh thông và khi lớn lên ông đăng lính triều đình.

   Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, ông cùng với một số binh sĩ khác bất mãn, bỏ ngũ trốn về quê. Trở về Mỹ Chánh, ông đi vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà. Tháng 6-1867, giặc Pháp chiếm đánh 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (lúc bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp) đã gây cho đối phương nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11-1-1869. Trong dân gian ở vùng này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.

   Cảm phục cái chết của người anh hùng đất Ba Châu, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh đã lập miếu thờ ông. Mộ ông xây dựng tại làng Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri. Hiện nay, đền thờ ông được xây dựng khá khang trang tại xã Mỹ Chánh.

Đã ban hành
Khấu Trung GươngKhấu Trung Gương
Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn uý, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Khấu Trung Gương sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Phước Hiệp, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, Chuẩn úy, Đại đội trưởng Đại đội 3 bộ binh thuộc tiểu đoàn 263, bộ đội địa phương tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Khấu Trung Gương

Từ năm 1965 đến tháng 4-1975, Khấu Trung Gương đã đánh trên 80 trận, diệt và làm bị thương 290 tên, thu 28 súng. Tháng 9 năm 1969, Khấu Trung Gương phụ trách tiểu đội thông tin xây dựng căn cứ ở xã Long Trung, địch càn quét, đóng đồn trong xã, Gương đã tổ chức anh em bao vây, ban ngày bắn tỉa, gài lựu đạn chặn đánh quân địch đi càn; ban đêm bò vào sát đồn ném lựu đạn và cắm chông, gài mìn chặn các đường đi, liên tục trong nửa tháng, diệt và làm bị thương trên 70 tên, buộc địch bỏ đồn, rút chạy. Trong trận đánh ngày 10 tháng 4 năm 1971, diệt 2 đại đội ngụy ở xã Thuận Điền, sau khi kết thúc, anh được giao phụ trách 1 tổ quay lại trận địa tìm 1 thương binh còn sót lại. Khấu Trung Gương bất chấp nguy hiểm đã vào tìm được thương binh và đưa về phía sau an toàn. Ngày 13-3-1975, Khấu Trung Gương chỉ huy đơn vị phục kích tiểu đoàn bảo an số 454 ở xã Tân Xuân, tuy địch dùng bom đạn ngăn chặn, nhưng đồng chí đã dẫn đầu đơn vị táo bạo thọc sâu chia cắt đội hình địch dùng B40 diệt các hoả điểm, tạo thuận lợi cho đơn vị phát triển. Thấy địch tháo chạy, Khấu Trung Gương dẫn đầu đơn vị truy kích, cùng đơn vị bạn tiêu diệt nốt số địch này.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen. Ngày 6-11-1978, Khấu Trung Gương được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Đoàn Thúy BaĐoàn Thúy Ba

    Sinh năm 1930 trong một gia đình nông dân ở xã An Thới, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Năm 1947, thoát ly gia đình đi kháng chiến, lúc đầu công tác ở Huyện ủy Mỏ Cày, sau được cử đi học lớp y tá do Sở Y tế Nam Bộ mở, rồi về công tác ở quân y viện trung đoàn 99. Khi sinh đứa con đầu lòng được 2 tháng thì bà được tin sét đánh: người chồng, đại đội trưởng Vệ quốc đoàn, hy sinh trong một trận chống càn. Năm 1953, sau khi gởi con về thành phố, nhờ gia đình bên chồng nuôi, để có thể rảnh tay theo đơn vị chiến đấu rày đây mai đó, bà được cử đi học lớp đào tạo cán bộ y sĩ của Sở Y tế Nam Bộ do bác sĩ Trần Hữu Nghiệp làm Hiệu trưởng.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), tập kết ra Bắc, được đi học ở Trường Cán bộ y tế Hà Nội. Ra trường, về công tác ở đoàn chuyên gia Liên Xô, điều tra về bệnh hoa liễu ở miền Bắc một thời gian, rồi chuyển về bệnh viện Việt - Tiệp ở Hải Phòng.

   Chuẩn bị về Nam công tác, bà được điều về làm việc ở bệnh viện hữu nghị Việt – Xô tại Hà Nội, để bồi dưỡng cấp tốc một số mặt chuyên môn cần thiết cho công tác y tế ở chiến trường, sau đó dự thi khóa bác sĩ đặc biệt. Nhận bằng bác sĩ ngày 2-9-1962, bà cùng một số đồng nghiệp vượt Trường Sơn về Nam Bộ.

   Tháng 4-1963, bà được cử làm Giám đốc bệnh viện Hoàng Lệ Kha ở cơ quan TƯCMN. Sau hiệp định Paris (1973), lại ra Bắc chữa bệnh, và được Bộ Y tế cử đi bổ túc chuyên môn ở bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

   Sau ngày miền Nam giải phóng, bà về thành phố Hồ Chí Minh, công tác ở bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) một thời gian, được Bộ Y tế cử đi tu nghiệp ở Hà Lan. Về nước, làm Phó giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy.

   Năm 1986, được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Bà đã cùng với Giám đốc y tế của Tổng cục Cao su, các chuyên gia của Viện chống sốt rét, Viện Pasteur ở thành phố Hồ Chí Minh, Viện vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên tổ chức, chấn chỉnh lại hoạt động y tế ở các nông trường cao su, làm giảm tỷ lệ bệnh sốt rét và dịch tả trong công nhân. Bà cũng đã có mặt trong ngành dầu khí ngay từ buổi đầu, tổ chức hoàn chỉnh hệ thống sơ đồ cấp cứu kịp thời, nhanh chóng từ ngoài biển vào đất liền, phục vụ cho cán bộ và công nhân, khai thác trên thềm lục địa, nhờ đó đã hạn chế việc tử vong ở mức thấp nhất.

   Bà được Nhà nước phong danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân năm 1997, và danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2000.

Đã ban hành
Hào hứng ngao du khám phá Cồn QuiHào hứng ngao du khám phá Cồn Qui
Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

 

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

 

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

 

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa.

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lộng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

 

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết kế trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Nguyễn Văn TrinhNguyễn Văn Trinh
Anh hùng Nguyễn Văn Trinh (tức Chí Thanh), sinh năm 1912, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Đảng viên, trưởng Ban An ninh xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Anh hùng Nguyễn Văn Trinh (tức Chí Thanh), sinh năm 1912, dân tộc Kinh, quê ở xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Đảng viên, trưởng Ban An ninh xã Phú An Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Image
Chân dung Anh hùng Nguyễn Văn Trinh

 

Nguyễn Văn Trinh tham gia cách mạng từ năm 1956, liên tục làm trưởng ban tiếp tế lương thực và trưởng Ban an ninh xã. Trong suốt quá trình công tác trên 20 năm, đồng chí đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, dũng cảm, kiên cường bám đất, bám dân, xây dựng được nhiều cơ sở bí mật phục vụ công tác, chiến đấu. Ngoài ra, Nguyễn Văn Trinh còn lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt lực lượng An ninh xã Phú An Hoà phá tan âm mưu hoạt động gián điệp của địch, diệt trừ nhiều tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, lập nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc góp phần giải phóng quê hương. Năm 1968 Nguyễn Văn Trinh trừng trị 3 tên nội gián, 2 tên mật báo viên, 1 tên do thám nguy hiểm. Năm 1972, đồng chí dùng mìn diệt 13 tên địch đi càn. Cuối năm đó Nguyễn Văn Trinh cùng đồng đội diệt 45 tên đầu sỏ ác ôn. Năm 1973, đông chí cùng đồng đội diệt 2 trung úy thám báo, 2 lính bảo an, làm bị thương 6 tên, giữ vững vùng giải phóng sau Hiệp định Pari. Năm 1974, Nguyễn Văn Trinh cùng đồng đội chiến đấu tiêu diệt 1 trưởng cuộc, 1 thiếu úy, 1 trung sĩ, 1 lính cảnh sát ngụy, 2 dân vệ ngay tại cơ quan cảnh sát của chúng…. Ngoài ra, Nguyễn Văn Trinh còn hướng dẫn, bồi dưỡng cho đội ngũ an ninh xã xây dựng được 13 cơ sở bí mật giúp ban an ninh xã nắm vững tình hình địch, tổ chức tiến công chúng kịp thời, giành thắng lợi.

Ngày 6 tháng 6 năm 1976, Nguyễn Văn Trinh được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)
&nbsp;

Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi niên thiếu, từ 12 đến 19 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu sống và học tập ở Huế. Nhưng năm 21 tuổi (1843), ông lại thi và đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi Kỷ Dậu (1849). Chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về chịu tang, vì quá buồn lo khóc thương mẹ, ông lâm bệnh và bị mù cả hai mắt.

Về lại Gia Định, sau khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu chuyển sang học thuốc, chữa bệnh cho dân, mở trường dạy học, vừa sáng tác thơ văn. Truyện Lục Vân Tiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở Nam Kỳ. Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu(1) dài 3.448 câu thơ kịch liệt công kích đạo Phật, đạo Thiến Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước. Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng nước.

Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Đ?nh. Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An). Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc. Năm 1861, giặc Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Gò Công, Định Tường, ông phải “tị địa” về Ba Tri, Bến Tre. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn cho đến cuối đời.

Vì mù, không thể cầm gươm, cầm giáo được, ông đánh giặc bằng ngòi bút. Ông trao đổi thư từ với Trương Định, liên hệ với nhiều sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị... Tuy không sinh ra ở đất Bến Tre, nhưng hơn một phần tư thế kỷ sống và lao động nghệ thuật cần mẫn, cứu người giúp đời, gắn bó chặt chẽ với nhân dân Ba Tri, Nguyễn Đình Chiểu có một uy tín và ảnh hưởng sâu rộng trong đồng bào Bến Tre về phương diện nhân cách, tư tưởng, văn chương.

Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX. Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ. Đó là Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch, Thư gửi cho em, Mười hai bài thơ điều Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ, Hà Mậu Ngư tiều y thuật vấn đáp.

Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch: "Nói ra thì nước mắt trào, Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi".

Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị xâm lăng - của ông là "những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước ta” (Phạm Văn Đồng). Người nghĩa dân, nghĩa sĩ chống Pháp và người sĩ phu “theo bụng dân” chiến đấu cho đại cuộc của dân tộc là những hình ảnh sáng chói trong thơ văn ông. Nói một cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã phản ánh được vấn đề cơ bản nhất của xã hội Việt Nam đương thời.

Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm. Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền Nam. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước. Ông là người kết thúc một cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

Đối với Bến Tre nói riêng, như trên đã từng nhắc đến, Nguyễn Đình Chiểu đã có một tầm ảnh hưởng lớn lao trong các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, cũng chính vùng đất giàu truyền thống yêu nước, bất khuất này – nơi ông đã gắn bó một phần tư thế kỷ đầy biến động – đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc thêm tài năng nghệ thuật của một nhà thơ lớn.

Đã có không ít giai thoại lưu truyền ở vùng này về lối sống, cách đối nhân xử thế, về thái độ của ông đối với kẻ thù dân tộc, về việc truyền thụ kiến thức, đạo đức cho học trò, về việc thẳng thừng chối từ những bổng lộc mà người Pháp muốn ban phát cho ông, mà trong thực tế là để mua chuộc ông. Nếu “văn tức là người", thì ở Nguyễn Đình Chiểu điều đó hoàn toàn nhất quán, do vậy lòng yêu kính nhà thơ càng nồng đượm hơn. Đồng bào Ba Tri thường nhắc: ngày đưa Nguyễn Đình Chiểu về nơi an nghỉ cuối cùng có đông đảo nhân dân quanh vùng, có những bạn bè, học trò, thân chủ được ông chữa khỏi bệnh, những người mến mộ tài đức ông... đều có mặt. Hôm ấy, cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang.

Chú thích

 (1) Ty Văn hoá - Thông tin Long An, 1982

Đã ban hành
Tạ Thị KiềuTạ Thị Kiều
Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày. Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại.

Anh hùng Tạ Thị Kiều (tức Mười Lý) sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, cán bộ ban chỉ huy quân sự huyện Mỏ Cày.

Tạ Thị Kiều đã tổ chức và tham gia 107 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, chiến đấu 33 trận, diệt 7 tên địch, làm bị thương 11 tên, bắt sống 13 tên, thu 24 súng các loại. Tháng 1-1960, được phân công xây dựng phong trào, tổ chức cơ sở, gần 7 tháng ròng chị đã kiên trì vận động nhân dân, tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị với địch, phát triển được 3 tổ nòng cốt trong lực lượng cách mạng, vận động được 13 gia đình binh sĩ, tuyên truyền được 4 binh lính nguỵ về với nhân dân, tổ chức được 2 người khác giúp ta hoạt động.

Image
Anh hùng Tạ Thị Kiều

Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, Tạ Thị Kiều tổ chức 1 tiểu đội du kích thường xuyên hoạt động rải truyền đơn, phá rào ấp chiến lược, gài mìn, phá đường, đốt chòi canh, diệt ác ôn… khiến địch ngày càng hoang mang, nao núng. Trận đánh bốt An Bình, tuy lực lượng ta ít nhưng do có cơ sở nội ứng, mưu trí lừa và phân tán địch, tạo điều kiện cho đồng đội lấy gọn bốt, ta an toàn và vẫn giữ được thế đấu tranh hợp pháp. Trận đánh bốt Kinh Ngang, chị đã dụ được bọn địch ra bờ kênh, tạo cơ hội cho anh em xông vào lấy đồn không tốn một viên đạn. Tháng 10-1961, Tạ Thị Kiều chỉ huy đội du kích phục đánh xe địch đi trên đường Mỏ Cày đi Thom, bắn cháy 1 xe, do lực lượng địch đông, ỷ thế mạnh đánh trả quyết liệt. Thấy tình thế bất lợi, chị bình tĩnh một mình ở lại cơ động chiến đấu chặn địch để anh em đưa thương binh rút an toàn.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua của Quân khu. Ngày 5-5-1965, Tạ Thị Kiều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer