Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
Về vấn đề lưu dân người Việt đến định cư khai phá vùng đất Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long, mà ngày nay ta thường gọi bằng tên chung là Nam Bộ, các nhà nghiên cứu cũng đã từng bàn thảo khá nhiều, nhất là trong các thập kỷ gần đây, nhiều người cũng đã cố gắng tìm hiểu, miêu tả và lý giải, nhưng vì thư tịch cổ còn lưu giữ đến hôm nay quá ít ỏi và thường diễn đạt chung chung, thiếu phần cụ thể.  
 
Ngày 18-2-1859, quân xâm lược Pháp nổ súng đánh vào thành Gia Định. Sự ươn hèn của quan quân triều đình tạo thêm điều kiện cho bọn cướp nước chiếm thành rồi chiếm đất dễ dàng. Đất nước thực sự bị đặt trong tình trạng chiến tranh, nhất là sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ. Chẳng bao lâu, giặc Pháp đánh chiếm rộng ra các tỉnh lân cận.  
 
Có thể nói rằng thời kỳ từ 1945 đến 1975 là một giai đoạn đặc biệt, giai đoạn chiến tranh ròng rã suốt 30 năm với quy mô và cường độ vô cùng ác liệt. Hoàn cảnh không bình thường ấy đã để lại những dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống tinh thần cũng như vật chất của xã hội Bến Tre. Riêng về phương diện phân bố dân cư cũng như phát triển dân số có nhiều diễn biến, xáo trộn, phức tạp. 
 
Ngày 1-9-1858, sau nhiều năm chuẩn bị, thực dân Pháp nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, chính thức mở màn cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thành thuộc địa của chúng. 
 
Sau khi cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược qui mô lớn cuối cùng ở vùng Lục tỉnh - cuộc khởi nghĩa Long trì do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo bị thất bại, và tiếp theo đó thực dân Pháp gấp rút thiết lập bộ máy cai trị kiềm kẹp với sự tiếp tay của tầng lớp địa chủ “tân trào", phong trào khởi nghĩa chống Pháp xâm lược và chống phong kiến phản bội, đầu hàng của nhân dân Nam Kỳ nói chung... 
 
Cho đến đầu thế kỷ XVII, cũng như toàn vùng Đồng Nai - Gia Định (tức Nam Bộ nói chung), vùng đất ngày nay là Bến Tre về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá, khắp nơi là rừng rậm, đầm lầy. Mãi đến những thập niên cuối thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn còn nhận xét rằng "ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm". 
 
Từ sau năm 1925, dưới tác động của VNTNCMĐCH, phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta có những bước phát triển mạnh. Trong những năm 1927, 1928, 1929, hàng chục cuộc bãi công của công dân diễn ra ở nhiều xí nghiệp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sửa chữa ô-tô Avia (Hà Nội), đồn điền cao su Phú Riềng (Thủ Dầu Một). 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )Thế kỷ 20 ( 1965 - 1969 )

1965

27 tháng 1, Nguyễn Khánh lật đổ chính phủ dân sự Trần Văn Hương. Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng, Phan Khắc Sửu là Quốc trưởng.

7 tháng 2, Mỹ bắt đầu ném bom lại miền Bắc, lấy cớ là "hành động trả đũa” việc tấn công vào thị xã Pleiku của Quân giải phóng.

20 tháng 2, Cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh do Thiếu tướng Lâm Văn Phát và đại tá Phạm Ngọc Thảo đứng đầu. Phan Huy Quát được đưa lên làm Thủ tướng Chính phủ.

3 tháng 3, Lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm Quốc trưởng và Ủy ban hành pháp trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch.

8 tháng 3, 1.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ bãi biển Nam Ô (Ðà Nẵng), đưa số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 27.000 người, đánh dấu bước can thiệp trực tiếp của Mỹ bằng quân sự.

Tháng 5, Lữ đoàn lính dù 173, đơn vị lính chiến đấu của Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Vũng Tàu, mở đầu cho chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam Việt Nam.

10 tháng 6, Phan Huy Quát từ chức Thủ tướng, chấm dứt chế độ dân sự. Từ đây, chế độ Sài Gòn chuyển sang chính quyền quân sự.

11 tháng 6, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thay thế Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát.

24 tháng 6, Chính quyền Sài Gòn tuyên bố tình trạng chiến tranh trên toàn lãnh thổ miền Nam, đóng cửa một loạt 36 tờ báo ngày ở Sài Gòn. Không quân Mỹ bắt đầu vượt khỏi vĩ tuyến 17, oanh tạc dữ dội miền Bắc.

2 tháng 9, Thành lập sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Ðông Nam Bộ - theo quyết định của TƯCMN, sau chiến dịch Bình Giã - Ðồng Xoài. Sư đoàn 9 đã góp phần xuất sắc trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn và cả miền Nam năm 1975.

1966

17 tháng 7, Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ném bom, bắn phá thủ đô Hà Nội, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

15 tháng 11, Theo sáng kiến của nhà triết học Anh nổi tiếng Bertrand Russell, ngày 5-11-1966, Tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam được thành lập tại London (Anh).

1967

26 tháng 1, Bộ Tư lệnh quân Mỹ tuyên bố số quân Mỹ hiện có mặt ở miền Nam Việt Nam đã vượt quá con số 400.000 người.

8 tháng 2, Tổng thống Johnson trao đổi thư với Chủ tịch Hồ Chí Minh (công bố ngày 21-3) đề nghị thương lượng bí mật. Chính phủ VNDCCH bác bỏ đề nghị đó.

2 tháng 5, "Tòa án quốc tế xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam" do nhà bác học Bertrand Russell kết án Mỹ là tội phạm chiến tranh.

3 tháng 9, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, Nguyễn Cao Kỳ Phó tổng thống VNCH.

23 tháng 11, Ðơn vị bộ đội đặc công thủy do Hoàng Lam chỉ huy, tiến công hạm tàu sửa chữa cơ động của Mỹ tại vàm Bến Tre (tàu mang số 833, dài 110m, rộng 25m). Với 200kg thuốc nổ, các chiến sĩ đặc công đã nhận chìm tàu giặc trên dòng Hàm Luông.

7 tháng 12, Tổng thống Mỹ Johnson công bố số bom ném xuống miền Bắc Việt Nam lớn gấp 3 lần so với chiến tranh Thái Bình Dương.

29 tháng 12, Vào đêm 29, bộ đội đặc công thủy Bến Tre đã đột nhập “căn cứ nổi” trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, đánh chìm 15 tàu lớn nhỏ, trong đó có tàu hải quân mang số 812, dài 110m, rộng 12m. Hàng trăm tên Mỹ bị diệt, 22 khẩu pháo và 6 xe bọc thép M113 bị chìm xuống đáy sông.

Tháng 12, Số quân Mỹ ở chiến trường miền Nam lên đến 480.000. Lực lượng bảo vệ vòng trong, vòng ngoài ở Sài Gòn tương đương 4 sư đoàn lính Mỹ, 4 sư đoàn lính Sài Gòn, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân.

Tháng 12, Theo thống kê của chính quyền Sài Gòn, dân số tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) có 518.838 người.

1968

30 tháng 1, Ðêm 29 rạng 30, hưởng ứng mệnh lệnh của Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN, quân dân của gần 40 thành phố, thị xã, thị trấn ở miền Nam đã đồng loạt nổi dậy tiến công địch nhiều đợt liên tiếp.

Tại Bến Tre, quân ta tấn công vào thị xã, diệt 6 xe thiết giáp, chiếm Ðài phát thanh, chỉ huy sở trung đoàn 10, diệt gần hết tiểu đoàn 3.

8 tháng 2, Bộ tư lệnh quân đội Mỹ công bố số quân Mỹ miền Nam Việt Nam đã lên tới con số 500.000 người.

3 tháng 5, VNDCCH và Mỹ đồng ý bắt đầu hội đàm ở Paris từ ngày 10-5. VNDCCH cử ông Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, ông Hà Văn Lâu làm Phó đoàn. Phía Mỹ cử ông Harriman làm Trưởng đoàn và ông Vance làm Phó đoàn.

15 tháng 5, VNDCCH và Mỹ họp phiên chính thức đầu tiên tại cuộc hội đàm Paris.

4 tháng 7, Số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên đến 537.000 người.

31 tháng 10 ,Mỹ buộc phải chấp thuận sự có mặt của đại diện MTDTGPMNVN ở cuộc hội đàm Paris.

Tháng 10, Tỉnh Bến Tre được Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN tặng 8 chữ vàng "Anh dũng Ðồng khởi - Thắng Mỹ diệt Ngụy" và được công nhận là một trong 3 ngọn cờ đầu của phong trào du kích chiến tranh.

1969

18 tháng 1, Phiên họp đầu tiên 4 bên (MTDTGPMNVN, VNDCCH, Mỹ, VNCH) 3 Hội nghị Paris về Việt Nam khai mạc. Trưởng đoàn MTDTGPMNVN Trần Bửu Kiếm phát biểu trước, nêu lên lập trường 5 điểm để giải quyết vấn đề miền Nam Việt Nam.

24 tháng 1, Báo Tin sáng đăng một loạt bài tố cáo chế độ lao tù hà khắc ở Côn Ðảo, mở đầu cho phong trào đấu tranh chống lại chế độ lao tù dã man của chế độ VNCH.

7 tháng 4, Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" mà báo chí ở Sài Gòn thường gọi là "thay màu da cho những xác chết".

Tháng 4, Quân địch mở chiến dịch “bình định cấp tốc” tỉnh Bến Tre.

6 tháng 6, Ðại hội Ðại biểu quốc dân miền Nam từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn Ðóa làm Phó chủ tịch.

2 tháng 9, Tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đến với nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh qua Ðài phát thanh tiếng nói Việt Nam giữa lúc thành phố đang trong những ngày khó khăn gian khổ nhất. Bất chấp sự theo dõi của địch, các tầng lớp nhân dân, trí thức, nhân sĩ, công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, nông dân, tư sản, thanh niên, sinh viên, sư sãi, phật tử... đã tổ chức lễ truy điệu Người bằng nhiều hình thức công khai hoặc bí mật. Nhiều tờ báo xuất bản ở Sài Gòn đã đăng tin, bài cảm nghĩ của trí thức, nhân sĩ ở thành phố về Người...

3 tháng 11, Tổng thống Mỹ Nixon đọc diễn văn nói về việc kết thúc chiến tranh bằng “kế hoạch Việt Nam hóa” giao gánh nặng cho quân đội Sài Gòn. Thực chất đây là kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt của Nixon.

16 tháng 11, Thời báo New York đăng tin về vụ thảm sát Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) của quân đội Mỹ gây nên một dư luận xôn xao ở nước Mỹ, ở miền Nam Việt Nam và cả trên thế giới.

Đã ban hành
Niên biểu Bến TreNiên biểu Bến Tre
1. Niên biểu này bắt đầu từ năm 1620 cho đến năm 2000.
2. Những sự kiện xác định rõ được ngày, tháng, năm thì có ghi đầy đủ ngày, tháng, năm.​

3. Những sự kiện xảy ra trong một quá trình, mà không xác định được ngày thì ghi tháng hoặc năm. Những ngày tháng thuộc âm lịch có ghi thêm (âl).

4. Niên biểu này ghi lại những sự kiện xảy ra trên đất Bến Tre cùng những sự kiện lịch sử khác xảy ra ở phạm vi miền, trong nước, ngoài nước và trên thế giới nhưng có liên quan nhiều mặt với Bến Tre.

5. Niên biểu được biên soạn dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử của Bến Tre và các tập niên biểu của các nhà xuất bản trong nước và một số sách báo Pháp.

Đã ban hành
Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516Chiến công oanh liệt của Đội “Săn Tàu” Tiểu đoàn 516
Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!

​Đội “Săn tàu” – đơn vị đặc biệt trên chiến trường sông nước Bến Tre. Một tập thể có tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực tự cường, bền bỉ bám trụ dài ngày trên từng khúc sông, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Một đơn vị luôn chấp hành triệt để mệnh lệnh cấp trên, sẵn sàng đón nhận “cái chết được báo trước” để hoàn thành nhiệm vụ!


Từ cuối năm 1967 đến tháng 6-1969, Đội “Săn tàu” đã bắn chìm, bắn cháy 254 tàu  chiến của địch (trong đó có một tiểu pháo hạm bị bắn chìm), diệt trên 5.000 tên địch (có hàng ngàn tên Mỹ), phá hủy 5 pháo 105 ly  và 155 ly, 7 máy bay lên thẳng, 8 xe quân sự. Được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công các hạng, 1 cờ “Anh dũng kiên cường, diệt nhiều tàu Mỹ”. Ngày 10-2-1970, Đội “Săn tàu” được Chính phủ CMLTCHMNVN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đội “Săn tàu” kết thúc nhiệm vụ lịch sử khi chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ bị phá sản. Thế nhưng, sau 30-4-1975 đến nay, những quân nhân của Đội “Săn tàu” năm xưa chưa  lần nào được vinh dự họp mặt truyền thống và cũng chưa có một công trình lịch sử, một tác phẩm văn học nào ghi lại chiến công oanh liệt của họ.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã từng có những trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng, kết thúc chiến tranh, đuổi quân xâm lược phong kiến phương Bắc ra khỏi bờ cõi. Và, đất nước ta cũng có vô số những dòng sông trong Nam, ngoài Bắc nổi sóng nhận chìm tàu chiến của thực dân, đế quốc phương Tây. Trong số đó có dòng sông Giồng Trôm hiền hòa bao đời chảy xuyên qua quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định, bỗng chốc vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”!
0108_HA_1l.jpg
​Đánh tàu trên sông Giồng Trôm. (Tranh của Họa sĩ Dương Tấn Hồng)

Đó là lời bình luận của Đài tiếng nói Việt Nam phát đi trong bản tin chiều ngày 25-7-1968 (2 ngày sau khi lực lượng vũ trang Bến Tre diệt 28 tàu Mỹ trên sông Giồng Trôm). Thuật ngữ “Bạch Đằng giang của thời đại” có từ ngày đó.​​

Thượng tuần tháng 7-1968, các đơn vị của Chiến đoàn và Đội “Săn tàu” được Tỉnh đội phối thuộc tập trung về đóng quân ở xã Lương Phú, Thuận Điền, Long Mỹ để củng cố, chuẩn bị cho những trận chiến đấu mới đối mặt với quân thiện chiến Mỹ và chủ lực ngụy.

Đêm 22-7-1968, trinh sát kỹ thuật của Chiến đoàn phát hiện địch sẽ tập trung liên quân Việt-Mỹ mở cuộc càn quét lớn vào địa bàn căn cứ Giồng Trôm. Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy có Lữ đoàn 2 bộ binh và Lữ tàu 117 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ phối hợp, được dàn pháo Bình Đức và pháo đài bay B52 yểm trợ cho cuộc hành quân. Chiến đoàn trưởng Nguyễn Hữu Vị sử dụng hữu tuyến gọi Vũ Sơn – Đại  đội trưởng “Săn tàu” đang chủ trì họp rút kinh nghiệm ngày diễn tập trên thực địa cặp bờ sông Giồng Trôm: “Chuyển ngay toàn bộ đơn vị sang bờ Bắc sông Giồng Trôm, bố trí tuyến độc lập đánh tàu trên đoạn Lương Hòa – Lương Phú – Long Mỹ. Có gì thay đổi sẽ qua hệ PRC25. Thi hành ngay, không được hỏi lại!”
Nếp chỉ đạo đó của anh Tám Vị cũng được truyền đến các tiểu đoàn, đại đội độc lập và cơ quan Chiến đoàn với nội dung ngắn gọn: “Lập tức hành quân về cánh đồng Gò Tranh – khu Thợ Nhuộm. Lập thế trận đánh quân đổ bộ đường không. Không được thắc mắc, không kiến nghị, không hỏi lý do”.

Cũng từ đó, đại đội thông tin hữu tuyến của Chiến đoàn được lệnh cuốn dây, ngừng hoạt động. Không khí nhộn nhịp ở các xã Thuận Điền, Lương Phú, Long Mỹ và trên tuyến lộ 5 gần cả tuần dần lặng lẽ trong đêm tối của những ngày cuối tháng 6 âm lịch. Từng tiểu đoàn, từng đại đội độc lập của Chiến đoàn đi về đâu, với nhiệm vụ gì, tự ai nấy biết. Đây là tình huống khẩn trương và không bình thường của Chiến đoàn!. Bởi lẽ, các phương án tác chiến của đơn vị trước đây đều được phát huy “dân chủ quân sự” trước khi nổ súng tiến công. Nề nếp ấy đã được Chiến  đoàn và các đơn vị thuộc quyền xây dựng ngay từ đầu.

Đúng 1 giờ sáng ngày 23-7-1968, có 2 phi vụ bom rải thảm của B52 đầu tiên trút xuống tuyến lộ 5. Từ đó đến 6 giờ sáng có thêm 4 phi vụ nữa trút xuống các xã Thuận Điền, Long Mỹ và bờ Nam sông Giồng Trôm. Bây giờ mọi người mới hiểu vì sao lệnh của Chiến đoàn trưởng truyền ra không có lý do đi kèm. Với địa bàn bị B52 ném bom rải thảm, ai ai cũng đoán được hành động sắp xảy ra từ phía quân đội Mỹ và chủ lực Ngụy.

So với các đơn vị bạn, Đội “Săn tàu” chỉ có việc chuyển từ bờ Nam sang bờ Bắc sông Giồng Trôm rộng không đầy 200m là đúng địa bàn được chỉ định. Họ nhanh chóng triển khai trận địa phục kích và hầm trú ẩn, chỉ còn chuẩn bị chu đáo thêm lương thực cho ngày mai no bụng và sẵn sàng đón nhận trận mưa bom bão đạn của kẻ thù trước khi đoàn tàu Mỹ xuất đầu lộ diện.

Bắt đầu chiến tranh cục bộ, Mỹ từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho – Tiền Giang) đã dùng tàu sắt, súng to đánh phá ven sông lớn của Bến Tre. Năm 1966, Lữ tàu xung kích 117 của Mỹ thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông”. Chúng tăng cường đánh phá vào nội địa, nhất là sông Giồng Trôm nằm giữa lòng căn cứ chính của Bến Tre ở cù lao Bảo. Mỗi lần tàu Mỹ hành quân có ít nhất 20 chiếc tàu lớn nhỏ và bộ binh đi kèm, thường là một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ thiện chiến. Ngoài những chiếc hộ tống bộ binh, tốp tàu dẫn đầu phá đường dọn bãi gồm cối 81 ly, 60 ly bắn sâu bên trong; đại liên, thượng liên tập trung xoay nòng bắn những điểm khả nghi; M 79 bắn sát mép nước, cuối cùng là dùng súng phun lửa quét cháy sạch cây cỏ ven sông, dù công sự của ta có khéo ngụy trang đến mấy cũng dễ bị bộc lộ.

Quả thật, cán bộ chiến sĩ săn tàu đều có thần kinh thép và thực thi nhiệm vụ trên tinh thần “cái chết được báo trước”. Thực tế trên chiến trường Bến Tre, các tổ, đội săn tàu phải kiên cường bám trụ và chấp nhận hy sinh để có cách đánh hay, đánh đẹp, đánh táo bạo và thắng to, trị được chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. Tàu Mỹ đến Bến Tre gây tội ác là phải có chìm, có cháy đến nỗi không thể kéo hết về Đồng Tâm mà buộc Mỹ phải đưa một Hạm sửa chữa sang vàm Bến Tre để xử lý. Nhưng rồi “phân xưởng sửa chữa di động” này cũng lại bị đặc công thủy Bến Tre nhấn chìm xuống lòng sông Hàm Luông.

Còn nhớ hồi thượng tuần tháng 5-1968, tàu Mỹ đã vào sông Ba Lai đoạn An Hóa – Song Phước để yểm trợ cho Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy lấy xác của 2 tiểu đoàn 1 và 3 ở cánh đồng Hữu Định. Chúng đã bị đội săn tàu của Tiểu đoàn 516 bắn chìm và cháy 12 chiếc. Và từ đó đến tháng 7-1968, Trung đoàn 10 chủ lực ngụy ở Bến Tre co cụm ở vành đai thị xã. Còn bộ binh Mỹ sau 3 ngày bị chiến đoàn ta quần ở Giao Long, Quới Sơn, An Khánh (Châu Thành) đã tiêu hao hơn một tiểu đoàn và bỏ mặc cho lính bảo an có cả xe M113 yểm trợ phải bị trừng trị trên cánh đồng Bình Phú trong đợt II Mậu Thân 1968.

Trước 7 giờ sáng ngày 23-7-1968, qua thông tin vô tuyến, Ban chỉ huy Chiến đoàn kiểm tra việc sẵn sàng chiến đấu của Đội “Săn tàu”. Được biết, hôm nay Mỹ sẽ “vét túi” căn cứ Đồng Tâm, đưa cả 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 3 và đoàn tàu của Lữ 117 thuộc Sư đoàn 9 thủy quân lục chiến Mỹ đổ quân từ Lương Hòa, Lương Phú, Thuận Điền hành quân xuống Long Mỹ để Trung đoàn 10 ngụy từ phía Tân Hào đánh lên, ép Chiến đoàn ta vào giữa mà diệt. Chiến đoàn trưởng chỉ đạo chuẩn bị hỏa lực gấp đôi, đảm bảo công sự vững chắc và phải thắng lớn trong trận quyết chiến với “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ ở dòng sông Giồng Trôm.

Đúng như dự đoán, 7 giờ ngày 23-7, địch sử dụng 14 chiếc máy bay trực thăng chở 2 đại đội chủ lực thuộc trung đoàn 10 đổ quân xuống trận địa ta ở đồng Gò Tranh. Lập tức đại đội phòng không 12 ly 8 bắn rơi tại chỗ 7 chiếc, bị thương 4 chiếc. Tiểu đoàn 5 và đại đội 3 của Tiểu đoàn 516 nhanh chóng xuất kích diệt khoảng 200 tên. Sau đó đoàn máy bay trực thăng thứ 2 chở 1 tiểu đoàn chủ lực của trung đoàn 10 đến tiếp cứu cách mặt trận 1.000m. Ta bắn bị thương thêm 1 chiếc trực thăng.

Cùng lúc, “pháo bầy” của Mỹ bắn hàng ngàn quả 105ly, 155ly trên bãi B52 rải thảm trong đêm ở Lương Phú, Long Mỹ và cặp theo bờ sông Giồng Trôm. Âm thanh tàu Mỹ từ dòng sông Giao Hòa – kênh Chẹt Sậy rõ dần lên. Trực thăng “lồng kẽm” dẫn đoàn tàu khoảng 30 chiếc tiến vào sông Giồng Trôm – nơi có trận địa phục kích của Đội “Săn tàu”. Tốp đi đầu dọn bãi bằng hỏa lực mạnh các loại có trên tàu chiến để 3 tàu há mồm đổ quân Mỹ lên doi Tài Phú. Bọn bộ binh này mở đường vào Vàm Tắc xã Thuận Điền. Một lúc sau, tốp thứ hai cũng đổ lên doi Tài Phú và cả hai cánh song song hành quân hướng xuống xã Long Mỹ.

Trên bộ là pháo mặt đất dẫn đường, hộ tống bộ binh. Dưới sông hỏa lực tàu chiến cũng bắn dọn bãi theo mép nước triều dâng trong buổi sáng. Còn cách khoảng 200m đến doi Hòa Lợi (xã Lương Hòa), tốp tàu mở đường tập trung bắn phá dữ dội 2 ven bờ. Mấy mươi phút sau thấy im ắng, chúng tiến sâu vào hướng Long Mỹ. Chúng có ngờ đâu, bên dưới doi Hòa Lợi không đầy 200m tổ khóa đuôi của ta đang ém quân bên bờ bắc. Tốp đi đầu mở đường, tốp đi sau cứ tiến theo. Thế là “đầu xuôi, đuôi lọt” – nhưng mà lọt vào trận địa phục kích của “đối phương” mà chúng nào có ngờ. Chiếc trực thăng “lồng kẽm” vừa theo dõi đoàn tàu, vừa hướng dẫn bọn bộ binh Mỹ trên xã Thuận Điền thì cũng là lúc bọn Trung đoàn 10 ngụy ở cánh đồng Gò Tranh đã bị  Tiểu đoàn 516 và Tiểu đoàn 5 đánh tơi tả. Chúng không vượt qua được lộ Tân Hào – Thạnh Phú Đông để lên Long Mỹ mà bộ binh Mỹ đang giục!

Khoảng 9 giờ, đoàn tàu Mỹ đi đầu vừa đến búng Ông Móc ở xã Long Mỹ – cấm địa mà Ban chỉ huy Chiến đoàn đã chỉ định cho Đội “Săn tàu” không cho chúng vượt qua. Đại đội trưởng Vũ Sơn ra lệnh ĐKZ 75, B40, B41 ở tổ chặn đầu tập trung bắn cháy 3 chiếc và đang từ từ trầm xuống búng Ông Móc. Cùng lúc đó tổ khóa đuôi ở doi Hòa Lợi đồng loạt nổ súng đánh cháy 4 chiếc. Lửa bốc cháy dữ dội, số còn lại (cả những chiếc tàu há mồm chuyển quân) đều bị kẹt trong dòng sông hẹp, xoay trở không được và cũng bị bịt đầu, khóa đuôi không còn lối thoát, phơi hông cho từng tổ săn tàu của ta trừng trị. Qua trinh sát kỹ thuật, ta biết được Ban chỉ huy Lữ đoàn 3, Lữ tàu 117 Sư đoàn 9 Mỹ chửi rủa, đổ trách nhiệm cho Tỉnh trưởng Kiến Hòa và Trung đoàn 10 Sư đoàn 7 ngụy làm lộ bí mật, nên chúng mới bị Việt Cộng đánh đau. Hơn nửa tiếng đồng hồ, ta đã bắn chìm và cháy 16 tàu Mỹ. Mặt trận im tiếng súng và khói tàu cao vút tỏa theo gió tây bay về hướng tỉnh lộ Bến Tre – Ba Tri.
0108_HA_2l.jpg
CCB Mỹ được Đ/c Ba Sơn – nguyên Tham mưu phó Tỉnh đội Bến Tre 
và Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị (người ngồi) thuyết trình về việc đánh bại 
chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của Mỹ. (Ảnh tư liệu quân sử)
​​
Ban chỉ huy Chiến đoàn nhận định Sư đoàn 9 Mỹ ở Đồng Tâm (Mỹ Tho) sẽ tiếp tục cho tàu đến kéo xác số tàu bị ta đánh hạ. Chiến đoàn trưởng lệnh cho Đội “Săn tàu” củng cố công sự, bám trụ chờ tàu Mỹ.

Đúng như dự đoán của ta, khoảng 13 giờ cùng ngày, hơn 20 tàu khác từ Đồng Tâm xọc vào trận địa. Bọn công binh Mỹ chưa kịp trục vớt số tàu chìm, đã bị đánh bồi trận 2, cháy và chìm thêm 12 chiếc.

Như vậy, chỉ trong ngày 23-7-1968, Tiểu đoàn 516 cùng Tiểu đoàn 5 thắng lớn ở Gò Tranh và Đội “Săn tàu” lập công xuất sắc, bắn chìm và cháy 28 tàu chiến, diệt hàng trăm tên thủy quân lục chiến Mỹ. Cả 3 đơn vị đều được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng I và Đài tiếng nói Việt Nam ca ngợi sông Giồng Trôm ở quê hương đất thép nổi sóng vang danh “Bạch Đằng giang của thời đại”.
Đã ban hành
Trang phụcTrang phục
​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

​Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.

Đề cập đến việc ăn mặc của đại đa số dân chúng, trước hết cần nói đến bộ đồ bà ba. Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói rõ bộ bà ba xuất hiện ở thời điểm nào. Có ý kiến cho rằng áo bà ba là kiểu áo du nhập từ đảoPinăng của người Bà Ba (người Mã Lai gốc Hoa). Lại có ý kiến cho rằng áo bà ba có những nét giống cái "áo đàn ông cổ tròn (cổ kiềng) và cửa ống tay hẹp", mà Lê Quý Đôn đã quy định cho dân từ Thuận Quảng trở vào ở cuối thế kỷ XVIII.

Nhưng có điều chắc chắn là bộ bà ba không thể xuất hiện sớm hơn lúc sách Gia Định thành thông chí ra đời, nghĩa là vào khoảng thế kỷ XIX. Tác giả Trịnh Hoài Đức đã ghi lại y phục của người Gia Định lúc bấy giờ như sau: "Gia Định là cõi phía nam nước Việt, khi mới khai thác thì có lưu dân nước ta cùng Đường nhân (chỉ người Hoa kiều - BS). Duy có người Việt noi theo tục cũ Giao Chỉ. Hạng sĩ tử và hạng thứ dân thì búi tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay, bận thẳng, may kín hai nách..."(1).

Quan sát kỹ chiếc áo bà ba mà nay người Hoa ở Chợ Lớn còn hay mặc, ta thấy có mấy đặc điểm sau đây: Cổ tay áo đứng cao 3cm, ở cổ có 3 hàng nút, thân áo xẻ giữa có 5 đến 6 nút, khuy cài nằm ngang, có 3 túi, tay áo rộng, thường được may bằng vải kẻ sọc. Còn chiếc áo bà ba mà đồng bào ta thường mặc hiện nay, chỉ có 5 hoặc 6 nút, có hai túi ở phần dưới hai vạt trước. Ngày trước, người ta thường dùng nút đồng, hay nút xương tròn nên đơm khuy dài. Về sau, người ta dùng nút bằng sứ trắng, hoặc màu, hay nút nhựa thì có khuy xẻ. Thuở chưa có vải khổ rộng nhập cảng của người Anh từ Ấn Độ đưa sang, mà nhân dân ta thường gọi bằng cái tên chung là "vải Tây", thì vật liệu may mặc lúc bấy giờ chủ yếu là vải, lụa đũi bằng tơ tằm nội địa sản xuất từ Ba Tri, Tân Châu hay từ miền Trung đưa vào.

Về màu sắc, phổ biến nhất trước đây là màu đen. Thời chưa có thuốc nhuộm hóa học, người ta thường dùng lá bàng, vỏ trâm bầu, vỏ dà, vỏ sú vẹt, trái mặc nưa... nhuộm rồi phủ bùn để chống thôi màu. Khi có vải nhập cảng, thì lại dùng vải ú, vải sơn đầm, vải chéo go đen, bởi vì màu này phù hợp với điều kiện lao động, đi lại nơi sông rạch, bùn lầy, dễ giặt và chóng khô.

Bộ bà ba hiện nay đã từng trải qua nhiều lần sửa đổi, cách tân để phù hợp với yêu cầu thẩm mỹ của thời đại. Ngày nay, bộ bà ba đã trở thành thứ y phục thông dụng trong cả nước, nhưng bộ bà ba đen thì ở Nam Bộ phổ biến hơn cả. Chiếc áo bà ba cắt khéo làm tôn thêm vẻ đẹp của cô gái ViệtNam có thân hình nở nang, cân đối. Chiếc áo bà ba đã đi vào thơ ca bằng hình tượng khá đẹp. Trong những năm chống Mỹ sôi sục, hình ảnh đội quân tóc dài với áo bà ba và chiếc khăn rằn Nam Bộ đã chiếm nhiều chỗ trang trọng nhất trên các trang báo ngoại quốc với những lời ca ngợi nồng nhiệt đầy chất huyền thoại.

Bộ quần áo bà ba có thể mặc đi lao động ngoài đồng, chèo ghe, mặc ở trong nhà, cả ở nơi đông người. Một số bà con nông dân, nhất là những người đứng tuổi, các cụ già thường mặc bộ bà ba trắng trong những ngày Tết, ngày lễ, trong khi tiếp khách và có xu hướng dùng nó để thay thế chiếc áo dài đen cùng khăn đóng đang trở thành cổ lỗ và phiền phức.

Phụ nữ, thì ngoài màu đen còn dùng nhiều màu sắc sặc sỡ khác, xanh, đỏ, tím, vàng hay in hoa. Thường, phụ nữ nông thôn mặc quần đen là chủ yếu. Lớp thanh niên ngày nay đang có xu hướng mặc sơ mi và chiếc quần Âu bằng vải dày, có nếp, nhiều màu (thay cho màu đen đơn điệu) vừa gọn, vừa trông khỏe, phù hợp với nếp sống công nghiệp đang dần dần hình thành. Và chiếc mũ mềm trên mái tóc cắt ngắn, hoặc uốn của nữ giới, đang thay thế chiếc nón lá cồng kềnh, nhất là không phù hợp với lúc ngồi trên xe đạp, xe máy đi ngược gió, hay ở trên tàu xe.

Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế tiện lợi, lịch sử, đẹp, một xu hướng mặc theo kiểu Âu, áo sơ mi ngắn hoặc dài tay bằng vải kẻ, hoặc vải carô, quần vải dày màu sẫm đang phát triển không chỉ ở lớp thanh niên, mà cả ở người lớn tuổi, không chỉ ở nữ giới, mà cả nam giới.

Chú thích

(1)Trịnh Hoài Đức, Sđd, tập hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo, tr.6.

Đã ban hành
Địa hìnhĐịa hình
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.

Bến Tre là một tỉnh châu thổ nằm sát biển, có địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao từ 1 – 2 m. Ở vùng đất giồng, cục bộ có nơi cao hơn địa hình chung quanh từ 3 – 5 m, rải rác có những giồng cát xen kẽ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dải rừng ngập mặn ven biển và ở các cửa sông. Bốn bề đều có sông nước bao bọc. Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành của đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: An Hóa, Bảo và Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên) bồi tụ nên qua nhiều thế kỷ. Hệ thống kênh rạch chằng chịt, ăn thông với nhau, nối liền với các sông lớn, không chỉ thuận cho giao thông thủy, mà còn tạo nên nguồn tài nguyên nước dồi dào quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Đã ban hành
Phan Ngọc Tòng – người anh hùng chống PhápPhan Ngọc Tòng – người anh hùng chống Pháp
Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp

Năm 1867 quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu. Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Nơi đây vốn có một miếu thờ thần dưới gốc một cây trôm lớn, xung quanh rất hoang vu, cây cối um tùm. Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch đánh xáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Dù nghĩa quân có tinh thần yêu nước quật cường nhưng chỉ bằng vũ khí thô sơ không thể chống nổi với súng ống của quân Pháp nên trận này nghĩa quân bị thua trận. Phan Ngọc Tòng cùng hy sinh với nhiều nghĩa quân khác. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868).

Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri). Theo thời gian, chiến tranh tàn phá, nhà cửa xây cất lấn chiếm,… đã khiến cho ngôi mộ dần hoang phế. Trước tình trạng trên và thể theo nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh, để tưởng nhớ công ơn, ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh Bến Tre đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Vốn là ngôi miếu thờ thần khi nghĩa quân đánh trận Gò Trụi hy sinh dân làng tiếc thương mà thờ cúng nơi đây. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

Nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về tinh thần yêu nước của ông cha ta trải qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Bảo tàng Bến Tre đang tiến hành làm hồ sơ di tích Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng trình UBND tỉnh Bến Tre xin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân. Hy vọng trong tương lai, di tích này sẽ được đầu tư trùng tu theo đúng vị thế của cụ Đốc binh vì hiện nay nơi đây đã xuống cấp nghiêm trọng.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Phong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXPhong trào yêu nước của nhân dân Bến Tre trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX

Sau khi cuộc đấu tranh chống Pháp xâm lược qui mô lớn cuối cùng ở vùng Lục tỉnh - cuộc khởi nghĩa Long trì do Nguyễn Hữu Huân và Võ Duy Dương lãnh đạo bị thất bại, và tiếp theo đó thực dân Pháp gấp rút thiết lập bộ máy cai trị kiềm kẹp với sự tiếp tay của tầng lớp địa chủ “tân trào", phong trào khởi nghĩa chống Pháp xâm lược và chống phong kiến phản bội, đầu hàng của nhân dân Nam Kỳ nói chung, Bến Tre nói riêng, có tạm thời lắng xuống (1). Nhưng chẳng bao lâu sau đó, vào những năm đầu thế kỷ XX, nhân dân Nam Kỳ lại tiếp tục đứng lên cùng đồng bào cả nước, tiến hành cuộc đấu tranh nhằm đánh đổ sự thống trị của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.

Trong phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Nam Kỳ nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng, trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, nổi bật nhất là hoạt động của tổ chức hội kín Thiên Địa hội.

Thiên Địa hội vốn là một tổ chức vừa mang tính chất tương tế, vừa mang tính chất chính trị của nông dân Trung Quốc, được hình thành từ sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ. Hội có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, khẩu hiệu chính trị là: "phản Thanh phục Minh". Khi du nhập vào Nam Kỳ, hội này hoạt động mạnh trong giới người Hoa, nhất là trong số mới di cư đến làm ăn vào những năm cuối thế kỷ XIX (còn có tên gọi khác là hội Tam hợp). Sang đầu thế kỷ XX, Thiên Địa hội Nam Kỳ của Hoa kiều đã tích cực đóng góp tiền bạc cho phong trào cách mạng do giai cấp tư sản Trung Quốc lãnh đạo.

Người Nam Kỳ, nhất là những nông dân lưu tán và dân nghèo thành thị, xin vào hội rất đông để nhẹ bớt phần nào cuộc sống cơ cực dưới chính quyền thực dân Pháp, và để tìm ở đó nguồn động viên cho tình cảm yêu nước không có điều kiện bộc lộ. Người Việt vào hội đã thành lập một chi nhánh riêng. Thiên Địa hội của người Nam Kỳ vẫn giữ tục lệ cũ, nhưng thay đổi khẩu hiệu “phản Thanh phục Minh” thành "phản Pháp phục Nam".

Vào đầu thế kỷ XX, hội kín ở Nam Kỳ càng phát triển mạnh và đặc biệt mạnh vào những năm xảy ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Lý do là vì, dưới chính sách bóc lột của thực dân Pháp từ đầu thế kỷ XX và chính sách động viên nhân tài vật lực của chúng trong những năm chiến tranh, người nông dân Nam Kỳ phải nếm trải một sự cùng khổ tột bực. Trong khi đó, cuộc vận động cách mạng của các sĩ phu yêu nước ở đây lại tương đối yếu, không đủ sức tập hợp nông dân để đấu tranh trực diện với kẻ thù. Trong tình hình ấy, người nông dân Nan Kỳ phải tìm cho mình một lối thoát. Và họ đã tìm thấy ở các hội kín do Hoa kiều du nhập một hình thức hoạt động phù hợp với hoàn cảnh của họ, và một chừng mực nào đó có thể giải quyết được tình cảm yêu nước thiết tha, niềm căm hờn sâu sắc kẻ cướp nước. Hình thức hoạt động thần bí của các hội kín lại rất phù hợp với đức tính can trường và mạo hiểm, thích thuật số của người Nam Kỳ lúc ấy. Vốn giàu lòng yêu nước và có tinh thần bất khuất cao, những nông dân Nam Kỳ nhanh chóng biến hội kín thành hình thức hoạt động phổ biến để đấu tranh với địch.

Thành phần tham gia hội kín, ngoài nông dân là lực lượng đông đảo nhất, còn có những người vô nghề nghiệp tức là nông dân bị bần cùng hóa phải bỏ nông thôn đi lưu tán. Ngoài ra là dân nghèo thành thị như tiểu thương, những người làm nghề tự do (cắt tóc, chữa xe đạp, khuân vác, chạy hàng v.v...), những công nhân thất nghiệp. Một thành phần khác tuy ít hơn nhưng có vai trò quan trọng, đó là những người làm nghề phương thuật như thầy phù thủy, thầy ngải, thầy tăng, thầy tướng số, thầy bói.

Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước và tình hữu ái giai cấp ấy đã chịu ảnh hưởng rất đậm của hệ tư tưởng và đạo đức phong kiến pha màu thần bí. Trong tất cả các lời thề đều nhắc tới vua, đều nhấn mạnh lòng trung thành với vua. Họ mơ ước được sống dưới triều đại phong kiến thịnh trị như thời Nghiêu Thuấn. "Ông vua" mà họ tôn sùng lúc đầu là Phan Xích Long, về sau là Cường Để. Phan Xích Long theo quan niệm của họ, là "ông vua" được thần, Phật chỉ định và phù trợ, lại có pháp thuật cao cường.

Ngoài ra, tư tưởng và tình cảm của hội viên hội kín còn bị pha trộn thêm nhiều nhân tố hỗn tạp khác, nhu đạo đức Khổng Mạnh, thuyết báo ứng của nhà Phật và nhiều điều dị đoan khác.

So với nhiều nơi khác, Bến Tre là một trong những hội kín phát triển mạnh. Tại đây, tháng 2-1916, xuất hiện hội kín của Lê Văn Khanh tức Tư Khanh. Ở Giồng Trôm, năm 1916, phong trào hội kín Thiên Địa hội phát triển ở các xã Châu Hóa, Bình Chánh, Phước Long, Tân Thanh, Tân Hào. Ở Thạnh Phú, tổ chức hội kín Thiên Địa hội cũng thu hút được nhiều người tham gia.

Hoạt động nổi nhất của hội kín Thiên Địa hội ở Bến Tre là cuộc tấn công vào làng Tân Phú Tây, tổng Minh Thiện, quận Mỏ Cày năm 1916. Trước ngày Tết Nguyên đán, một toán lối 50 người dưới sự chỉ huy của một người tên là Nguyễn Văn Đáng - tên thường gọi là Tám Đáng - và một phù thủy tên là thầy Chín Sửu, đã xông vào nhà cựu hương cả Trần Trung Bình làng này, để buộc Bình giao cho cây súng mà y đang giữ. Trần Trung Bình trốn thoát, họ bắt đứa con trai của y làm con tin, sau đó tiến vào chợ Ba Vát, đập phá hai tiệm buôn, rồi bao vây nhà cửa cựu chánh tổng Minh Thiện và phó tổng Lê Phước Toản. Trong khi đó, một toán khác lối 100 người đánh chiếm nhà việc làng Tân Phú Tây. Lúc bắt đầu cuộc tấn công, họ nổi trống báo cho nhân dân biết là họ đi đánh người Pháp, để mọi người khỏi khiếp sợ. Tân chủ quận đưa lính sen đầm đến đàn áp, Nguyễn Văn Đáng bị bắt (2).

Ngoài các phong trào lớn kể trên, thời kỳ này ở Bến Tre còn có những nhân sĩ trí thức, quan lại yêu nước và tiến bộ tham gia phong trào yêu nước chống Pháp bằng việc sáng tác, hoặc giảng dạy thơ văn kích động lòng yêu nước căm thù giặc trong nhân dân. Đáng chú ý là những hoạt động của Nguyễn Đình Chiêm, Nguyễn Văn Vinh, Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Dư Hoài, Hà Đăng Đàng v.v...

Cùng với các phong trào chống Pháp của các nông dân và các nhân sĩ trí thức yêu nước và tiến bộ kể trên, ở Bến Tre còn có nhiều cuộc đấu tranh của các tầng lớp xã hội khác nữa.

Sau cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1919, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lỵ khác, đã nổ ra phong trào "tẩy chay hàng hóa của khách trú". Về thực chất, cuộc tẩy chay này phản ánh sự xung đột quyền lợi giữa hai cấp tư sản Việt Nam mới nổi lên với các thế lực tư bản nước ngoài cạnh tranh với họ. Song mũi nhọn của cuộc đấu tranh này mới chỉ chĩa vào tư bản Hoa kiều, mà chưa dám chĩa vào tư bản thực dân Pháp. Trong khi đó, chính quyền thực dân lợi dụng cuộc đấu tranh này vào mục đích đánh lạc hướng nhân dân Việt Nam, nhất là đám thanh niên thành thị, hướng sự chú ý của họ không phải vào chính sách khai thác thuộc địa qui mô lớn và sự bóc lột, vơ vét tàn bạo của thực dân Pháp, mà vào các hoạt động của thương nhân người Hoa, đồng thời gây áp lực buộc bọn này phải nộp thêm hàng triệu đồng bạc thuế cho chúng.

Sau cuộc “tẩy chay khách trú”, năm 1923 tư sản và điền chủ lớn ở Nam Kỳ lại phát động cuộc chiến tranh chống việc một công ty tư bản Pháp, được nhà cầm quyền thuộc địa ủng hộ, định giành lấy độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài Gòn. Đông đảo thanh niên trí thức tư sản và tiểu tư sản ở Sài Gòn, Bến Tre và một số tỉnh Nam Kỳ đã tham gia vào cuộc đấu tranh này. Được sự ủng hộ của quần chúng, cuộc đấu tranh đã có tiếng vang tới chính giới bên Pháp. Kết quả là chính quyền thuộc địa buộc phải tạm gác lại, chưa thi hành nghị quyết của Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ về vấn đề trên.

Đến cuối năm 1925, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bến Tre lại hưởng ứng mạnh mẽ cuộc đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu đang bị thực dân Pháp giam giữ tại nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội.

Trước sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, thực dân Pháp buộc phải xóa án cho Phan Bội Châu (trước đó đã bị kết án khổ sai chung thân). Cuộc đấu tranh này đã làm thất bại âm mưu nhà cầm quyền Pháp định lợi dụng bản án Phan Bội Châu để uy hiếp tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Vào năm 1926, nhân dân Bến Tre tiếp tục cuộc đấu tranh yêu nước của mình bằng hành động tích cực tham gia vào việc tổ chức lễ tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh - một chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong phong trào Duy Tân. Đám tang được tổ chức tại Sài Gòn. Mười bốn vạn người của Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Biên Hòa, Mỹ Tho, Bến Tre... gồm đủ mọi tầng lớp học sinh, trí thức, nhà kinh doanh, công nhân, người lao động nghèo đưa Phan Châu Trinh về nơi an nghỉ cuối cùng. Sau đám tang, tại tỉnh lỵ Bến Tre cũng như ở khắp Trung, Nam, Bắc, nhân dân tiếp tục tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước.

Đám tang và lễ truy điệu Phan Châu Trinh thực sự là một cuộc đấu tranh chính trị chống thực dân Pháp, một cuộc biểu dương tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân Bến Tre nói riêng.

Vào những năm 1927-1928, nhân dân Bến Tre, trước hết là nông dân nô nức hưởng ứng cuộc vận động chống Pháp của Nguyễn An Ninh. Từ đó xuất hiện cái gọi là phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh – hay theo danh từ thường gọi là "Thanh niên cao vọng hội" – phát triển khá mạnh. Thực ra Hội kín Nguyễn An Ninh chính là biến tướng của tổ chức hội kín Thiên Địa hội đã có từ trước. Đây là kết quả của sự gặp nhau giữa một bên là tổ chức quần chúng không có lãnh tụ - tổ chức Thiên Địa hội, và một bên là lãnh tụ không có tổ chức quần chúng - Nguyễn An Ninh. Cũng như nhiều nơi khác ở Nam Kỳ, hoạt động của các cơ sở Hội kín Nguyễn An Ninh ở Bến Tre đã gây cho thực dân Pháp nhiều lo ngại. Nhưng Hội kín Nguyễn An Ninh chưa có tôn chỉ mục đích rõ ràng, tổ chức lại không chặt chẽ, nên năm 1929, khi ông bị bắt lần thứ hai tại Bến Lức (3) và bị kết án 3 năm tù ở, thì phong trào cũng tan vỡ nhanh chóng.

Tất cả các phong trào đấu tranh nói trên của nhân dân Bến Tre cùng với phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước là những đòn đả kích mạnh mẽ vào chế độ thuộc địa của thực dân Pháp. Tuy nhiên, các phong trào quần chúng thời kỳ này vẫn chưa được hướng dẫn bởi một đường lối cứu nước đúng đắn, chưa được đặt dưới sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, vì vậy hiệu quả của các cuộc đấu tranh mang lại còn thấp, có nhiều hạn chế, chưa đạt được những mục tiêu đề ra là độc lập dân tộc và cải thiện dân sinh.

Nhưng cũng từ những năm 1925-1926 trở đi, ở Bến Tre cũng như ở Sài Gòn và các tỉnh khác ở Nam Kỳ đã bắt đầu nhen nhóm một phong trào yêu nước mang màu sắc mới được sự soi rọi bởi một đường lối cứu nước đúng đắn – con đường cách mạng vô sản – do Nguyễn Ái Quốc, người con ưu tú nhất của dân tộc mang lại. Phong trào yêu nước ấy được thực hiện thông qua hoạt động của một tổ chức lấy tên là VNTNCMĐCH do chính Nguyễn Ái Quốc sáng lập vào tháng 6-1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc).

VNTNCMĐCH là đoàn thể cách mạng mới có xu hướng mácxít, một tổ chức tiền thân của ĐCS trong tương lai. Mục đích của Hội là "làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)" (4).

Từ năm 1926, VNTNCMĐCH bắt đầu có cơ sở trong nước. Kỳ bộ Nam Kỳ của VNTNCMĐCH được thành lập vào năm 1927 với những cán bộ lãnh đạo như Tôn Đức Thắng, Nguyễn Văn Phát. Đến đầu năm 1929, Kỳ bộ Nam Kỳ đã được tổ chức được ba thành bộ và tỉnh bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho với 10 chi bộ và 12 hội quần chúng công, nông, binh, phụ ở nhiều nơi.

Ở Bến Tre, tổ chức của Hội được hình thành và hoạt động vào khoảng cuối năm 1926 đầu năm 1927. Vào khoảng thời gian này, tỉnh bộ VNTNCMĐCH được thành lập do đồng chí Hoài Nghĩa làm Bí thư, trụ sở đặt tại hiệu ảnh Tướng Quán đường Clémenceau tại thị xã Bến Tre (5).

Tháng 9-1927, đồng chí Hoài Nghĩa đến Ba Tri tổ chức ra nhiều chi bộ VNTNCMĐCH ở Tân Xuân, An Đức, An Hiệp, Mỹ Nhơn, Phú Lễ, An Bình Tây. Cũng trong thời gian này, chi bộ thị xã được tổ chức do đồng chí Phạm Văn Minh (tức Thả) làm Bí thư. Sau đó tổ chức của Hội phát triển nhanh chóng sang Mỏ Cày và Bình Đại. Ở Mỏ Cày, các chi bộ Phước Hiệp, Bình Khánh, An Thạnh, Tân Thành Bình. Ở Bình Đại, có các chi bộ Thới Thuận, Lộc Thuận. Các chi bộ hoạt động dưới sự chỉ đạo thống nhất của Tỉnh bộ VNTNCMĐCH với nội dung chủ yếu trước mắt là tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho quần chúng để phát triển thêm hội viên mới.

Từ năm 1926, theo chỉ thị của Kỳ bộ Nam Kỳ, Tỉnh bộ VNTNCMĐCH Bến Tre đã cử những thanh niên ưu tú sang Quảng Châu dự lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng, do Nguyễn Ái Quốc mở và trực tiếp huấn luyện. Trong số này có Nguyễn Văn Phát, sau khi học xong được kết nạp vào Cộng sản đoàn, về nước tham gia vào Ban chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ.

Hoạt động của các chi bộ VNTNCMĐCH từ năm 1926 đã tạo tiền đề về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng bộ Cộng sản Bến Tre vào đầu năm 1930.

Chú thích

(1) Ở Bến Tre, cuộc nổi dậy chống Pháp cuối cùng do Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương tổ chức ở Mỏ Cày vào năm 1895
(2)  Theo Monographie de la province de Bến Tre, Sđd
(3) Trước khi bị bắt, Nguyễn An Ninh đã cùng với Phan Văm Hùm dùng cách bán dầu cù là, đi về vùng nông thôn các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh... vận động quần chúng nông dân chống Pháp.
(4)  Xem điều lệ của VNTNCMĐCH.
(5) Tỉnh đọ gồm các đồng chí Hoài Nghĩa (tức Nguyễn Văn Ngọc), Trương Minh Tài (thầy giáo ở Mỏ Cày), Hồ Thả (thợ bạc ở thị xã), Tám Trừ (thợ bạc ở Giồng Trôm), Phan Văn Minh và Ba Đặng.

Đã ban hành
Ban Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnhBan Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh
.

​​​​ ​ ​ ​ ​​
​ 
Chánh Văn phòng
LÊ VĂN SÁU

 
P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN VĂN DŨNG
 
​​P. Chánh Văn phòng
NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU
 
​​P. Chánh Văn phòng
LÊ HÙNG CƯỜNG


VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN

Vị trí và chức năng

1. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh) là cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh; giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng.

 2. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Văn bản hướng dẫn cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

d) Văn bản quy định cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn chức danh Trưởng, Phó đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành:

a) Quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể các đơn vị thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Các văn bản khác theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

3. Tham mưu, xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Tổng hợp đề nghị của các Sở, ban, ngành tỉnh (sau đây gọi chung là Sở), Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cơ quan, tổ chức liên quan;

b) Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa vào chương trình, kế hoạch công tác những vấn đề cần tập trung chỉ đạo, điều hành hoặc giao cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng đề án, dự án, dự thảo văn bản;

c) Xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc phê duyệt chương trình, kế hoạch công tác;

d) Theo dõi, đôn đốc các Sở, Uỷ ban nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng;

đ) Báo cáo định kỳ hoặc đột xuất kết quả thực hiện; kiến nghị giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác;

e) Kịp thời báo cáo, điều chỉnh chương trình, kế hoạch công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

4. Phục vụ hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị chương trình, nội dung, phục vụ các cuộc họp của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ tổng hợp, báo cáo;

c) Theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Tổ chức công tác tiếp công dân theo quy định của pháp luật.

5. Tham mưu, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Triệu tập, chủ trì các cuộc họp;

b) Theo dõi, đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra công tác đối với các Sở; Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện;

c) Thực hiện nhiệm vụ trước Hội đồng nhân dân tỉnh; tiếp xúc, báo cáo, trả lời kiến nghị của cử tri;

d) Chỉ đạo, áp dụng biện pháp cần thiết giải quyết công việc trong trường hợp đột xuất, khẩn cấp;

đ) Cải tiến lề lối làm việc; duy trì kỷ luật, kỷ cương của bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương.

6. Tiếp nhận, xử lý, trình Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giải quyết những văn bản, hồ sơ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi, trình (văn bản đến):

a) Đối với đề án, dự án, dự thảo văn bản do các cơ quan trình: Kiểm tra hồ sơ, trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày dự thảo văn bản; tóm tắt nội dung, nêu rõ thẩm quyền quyết định, sự đồng bộ trong chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với vấn đề liên quan, đề xuất một trong các phương án: Ban hành, phê duyệt; đưa ra phiên họp Uỷ ban nhân dân tỉnh; gửi lấy ý kiến các thành viên Uỷ ban nhân dân tỉnh; thông báo ý kiến của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu cơ quan soạn thảo hoàn chỉnh lại, lấy thêm ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định và quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Trong quá trình xử lý, nếu đề án, dự án, dự thảo văn bản còn ý kiến khác nhau, chủ trì họp với cơ quan, tổ chức liên quan để trao đổi trước khi trình;

b) Đối với dự thảo báo cáo, bài phát biểu: Phối hợp với các cơ quan liên quan biên tập, hoàn chỉnh theo chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Đối với văn bản khác: Kiến nghị với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cơ quan liên quan triển khai thực hiện; tổ chức các điều kiện cần thiết để Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xử lý theo quy định của pháp luật và nội dung văn bản đến.

7. Phát hành, quản lý, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh:

a) Quản lý, sử dụng con dấu, phát hành văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình, kết quả thực hiện văn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; định kỳ rà soát, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành;

c) Rà soát nhằm phát hiện vướng mắc, phát sinh về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục và nghiệp vụ hành chính văn phòng trong quá trình chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung; hàng năm, tổng hợp, báo cáo Văn phòng Chính phủ;

d) Lưu trữ văn bản, hồ sơ, tài liệu của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

8. Thực hiện chế độ thông tin:

a) Tổ chức quản lý, cập nhật thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo về hoạt động của Cổng Thông tin điện tử và kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

c) Xuất bản, phát hành Công báo tỉnh;

d) Thiết lập, quản lý và duy trì hoạt động mạng tin học của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

9. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật:

a) Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Phục vụ các chuyến công tác, làm việc, tiếp khách của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

10. Hướng dẫn nghiệp vụ hành chính văn phòng

Chủ trì, phối hợp với Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ hành chính văn phòng đối với Văn phòng các Sở, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, công chức Văn phòng - Thống kê xã, phường, thị trấn.

11. Thực hiện nhiệm vụ quản trị nội bộ:

a) Tổ chức thực hiện các văn bản, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt liên quan đến hoạt động của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

b) Tiếp nhận, xử lý văn bản do cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; ban hành và quản lý văn bản theo quy định;

c) Hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật và sự phân công hoặc Uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;

d) Nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và cải cách hành chính phục vụ nhiệm vụ được giao;

đ) Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

e) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh;

g) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản được giao theo quy định;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh giao hoặc theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Cơ cấu tổ chức.

a) Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh:

- Lãnh đạo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh gồm có Chánh Văn phòng và không quá 03 Phó Chánh Văn phòng. Đồng thời, thực hiện điều khoản chuyển tiếp theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư 01/2015/TTLT- VPCP-BNV.

- Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ.

b) Các đơn vị hành chính:

- Phòng Tổng hợp;

- Phòng Kinh tế;

- Phòng Tài chính - Đầu tư;

- Phòng Khoa giáo - Văn xã;

- Phòng Nội chính;

- Phòng Hành chính - Tổ chức;

- Phòng Quản trị - Tài vụ;

- Ban Tiếp công dân tỉnh;

- Phòng Ngoại vụ.

c) Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre;

- Nhà Khách Hùng Vương.

d) Cơ cấu tổ chức của Phòng, Ban, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc:

- Mỗi Phòng gồm có Trưởng phòng, các Phó Trưởng phòng và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đối với Ban Tiếp Công dân có Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban Tiếp công dân và công chức làm công tác tiếp công dân.

- Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre có Giám đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ; Nhà Khách Hùng Vương có Chủ nhiệm, không quá 02 Phó Chủ nhiệm và các Tổ chuyên môn nghiệp vụ.

đ) Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Việc điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Tiếp công dân thực hiện theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

 Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật, cho từ chức, nghỉ hưu và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Nhà Khách Hùng Vương do Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định theo quy định của Đảng, Nhà nước và phân cấp của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập

Biên chế công chức, số lượng người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh được giao trên cơ sở vị trí việc làm, gắn với chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc và nằm trong tổng biên chế công chức, biên chế sự nghiệp của tỉnh do cấp có thẩm quyền giao.

(Nguồn Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ngày 25/4/2016)


Tập tin đính kèm 14_2016_QD.pdf


Đã ban hành
Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến TreThường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Chủ tịch

Cao Văn Trọng

   

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Lập

Phó Chủ tịch

Trương Duy Hải

Phó Chủ tịch

Nguyễn Hữu Phước

Đã ban hành
Cù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồnCù lao Minh đa dạng điểm đến, điểm hẹn về nguồn
Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Bến Tre có 3 dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa). Huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú và Chợ Lách nằm trên vùng đất cù lao Minh. Trước đây qua cù lao Minh phải “lụy phà, lụy đò”. Năm 2010, cầu Hàm Luông khánh thành nối liền đôi bờ cù lao Minh và Bảo xuyên suốt một mạch giao thông bộ. Từ thành phố Bến Tre đến trung tâm huyện Mỏ Cày Bắc khoảng 20km, Mỏ Cày Nam 21km, Thạnh Phú 48 km và Chợ Lách 41 km.

Chẳng biết tự bao giờ ai cũng bảo hễ đi đâu “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre”. Và cù lao Minh là vùng đất có diện tích trồng dừa lớn nhất tỉnh, xen lẫn những cánh đồng lúa, những ruộng mía, những vườn cây ăn trái và có cả một phần đất biển. Thiên nhiên đã ban tặng cho cù lao này hai dòng sông lớn: Hàm Luông và Cổ Chiên, đã ôm ấp, bao bọc, vun đắp phù sa qua nhiều thế kỷ, làm cho cây trái vùng này oằn sai trĩu quả, nhất là rừng dừa mãi mãi tốt tươi với những rặng dừa cao vút, rễ bám sâu vào đất mẹ, để dẻo dai trước bão giông, quật cường cùng con người trong đấu tranh và xây dựng. Từ đỉnh cầu Hàm Luông nhìn về hướng cù lao Minh ta sẽ thỏa sức ngắm nhìn với rừng dừa bạt ngàn xanh biếc đứng hiên ngang với những vườn cây ăn trái.

Về xứ dừa Bến Tre sang cù lao Minh ta có thể chọn tham quan, khám phá, trải nghiệm tại những điểm đến, điểm hẹn về nguồn như:

1. Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định”:

 

Di tích Căn cứ Khu ủy Sài Gòn – Gia Định (hay còn gọi Y4, T4)  được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận cấp Quốc gia vào ngày 23/12/1995 và tọa lạc tại xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày Bắc. Vào tháng 6/1969, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã chuyển về đóng tại đây, là vùng mới giải phóng, có địa hình rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế. Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã xung quanh như: Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng khu di tích này đang được phục hồi, mở rộng khoảng 02ha, với các hạng mục chính như: hầm ở và làm việc của ông Võ Văn Kiệt; nơi ở và làm việc của bộ phận cơ yếu, hầm cứu thương; hầm bí mật của các ông Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Trần Bạch Đằng…; nhà trưng bày các hiện vật lịch sử và các công trình liên quan khác. Công trình có ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước đối với thanh thiếu niên. Và trở thành một trong những điểm về nguồn của các hoạt động dã ngoại và điểm đến du lịch của tỉnh.

2. Các điểm đến du lịch sinh thái Chợ Lách:

Đi theo tuyến QL 57 về hướng tiếp giáp với tỉnh Vĩnh Long là huyện Chợ Lách. Thiên nhiên đã ưu đãi vùng này nước ngọt quanh năm và những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả, cây giống và hoa kiểng xanh tươi tốt cả bốn mùa. Có lẻ vậy, mà Chợ Lách đang thu hút, hấp dẫn mọi người đến với nhiều điểm du lịch sinh thái miệt vườn, sông nước. Đặc biệt, Chợ Lách còn nổi tiếng cả nước với “Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn” (Vĩnh Thành) và nhà thờ cổ Cái Mơn, là một trong những nhà thờ xưa và lớn nhất Nam bộ, được xây dựng vào năm 1872. Nhà bia tưởng niệm, ghi nhớ nơi sinh của nhà bác học Trương Vĩnh Ký cũng tại Cái Mơn, ông là người biết trên 20 ngoại ngữ, có 118 tác phẩm được xuất bản. Thú vị nhất ở vùng đất Chợ Lách là được tham quan, khám phá các làng nghề ghép cây giống, sản xuất hoa kiểng, thưởng thức đặc sản trái cây tại những vườn chuyên canh như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, bòn bon, bưởi da xanh và nhiều loại cây ăn trái khác…

 

3. Di tích Đồng Khởi và đình Rắn:

 

Di tích Đồng Khởi

Có thể khẳng định đây là điểm hẹn về nguồn lý tưởng nhất. Từ thành phố Bến Tre qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 57, đến thị trấn Mỏ Cày Nam, rẽ trái khoảng 04km là đến khu Di tích Đồng Khởi. Hoặc có thể từ thành phố Bến Tre, vượt sông Hàm Luông đến tận trung tâm cái nôi Đồng khởi. Đến đây, du khách sẽ gặp những người dân đôn hậu, những con người đã "bám chặt quê hương", đã đứng lên "dựng những pháo đài" ở xã Định Thủy, nơi đã làm nên cuộc Đồng Khởi năm xưa trên đất xứ dừa. Di tích này được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhân di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Và khu Di tích Đồng Khởi được xây dựng trên một diện tích 5.000 m2, gồm một trệt, một lầu. Trên nóc nhà là một ngọn lửa được cách điệu bằng bê tông cốt thép cao 12m, màu đỏ - biểu tượng của ngọn lửa Đồng Khởi cháy sáng mãi trên xứ dừa. Bên trong là những gian trưng bày những hiện vật, nhân vật, hình ảnh, biểu đồ, những vũ khí tự tạo để đánh địch …. Chung quanh ngôi nhà là những thảm cỏ xanh, sân rộng, những bồn hoa và cây cảnh, làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích.

Tại Định Thủy còn có đình Rắn, cũng là di tích lịch sử, nhưng còn ít người biết đến với huyền thoại đầy bí ẩn. Theo địa chí Bến Tre, năm Minh Mạng thứ 5 thì đình được nhận sắc phong. Vào thời đó đất đai ở đây còn hoang hóa mênh mông và nằm trên một khoảnh đất cao, vì thế rắn độc tụ hội rất nhiều, nhiều hang ăn sâu vào giữa đình. Khi thờ cúng, các chức việc trong đình phải lấy ván bao quanh miệng hang để tránh sự cố xảy ra, từ đấy có tên “Đình Rắn”. Nhiều người còn kể rằng, cũng nhờ có “ông rắn” mà bọn tề, ngụy, việt gian tối đến không bao giờ dám bén mảng tới nơi này. Nên kể từ sau Cách mạng tháng Tám, “Đình Rắn” là một trong những cơ sở cách mạng bí mật để hội họp, mít tinh. Lúc bấy giờ nữ tướng Nguyễn Thị Định là một trong những người thường xuyên lui tới đây để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Miền Nam. Đến năm 1970, cuộc chiến càng lúc lan rộng, bom đạn Mỹ đánh phá ác liệt, đình gần như bị sập hoàn toàn nên cơ sở cách mạng ở đây được chuyển đi nơi khác.

Đến Định Thủy mọi người còn khám phá du lịch sinh thái “Vàm Nước Trong”, cửa ngõ đường thủy của huyện Mỏ Cày Nam nối với sông Hàm Luông. Với những vườn dừa rợp bóng, những bãi bờ hoang sơ tĩnh lặng, nơi đây đã từng ghi dấu những chiến công vang dội của những người anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Đến đây, mọi người có dịp lai rai đặc sản mắm tép kẹp với thịt ba rọi luộc hoặc ăn với cá lóc nướng trui hay tôm, tép nướng; cá ngát nấu chua với bần dốt; bánh bột gạo rau mơ hấp; bánh xèo, bánh khọt pha với nước cốt dừa, thơm béo vô cùng. Điều du khách không thể bỏ qua là sự chân tình, mến khách, yêu thích văn hóa - văn nghệ của người dân Định Thủy, du khách cùng thưởng thức đờn ca tài tử và có thể giao lưu loại hình này bên dòng Hàm Luông thơ mộng rợp bóng dừa xanh.

 

4. Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh:

Rời Di tích Đồng Khởi, trở lại tuyến QL 57 đến “Di tích lịch sử Chùa Tuyên Linh” tọa lạc tại xã Minh Đức. Từ thị trấn Mỏ Cày Nam đến Chùa Tuyên Linh  khoảng 14 km, Chùa được xây dựng từ năm 1861 (Tân Dậu), dưới triều Tự Đức năm thứ 14. Năm 1930 nhân dịp chùa được trùng tu, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới “Tuyên Linh”. Nơi đây đã từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý như: vào khoảng cuối năm 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc tại chùa Tuyên Linh một thời gian. Cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của Hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Và kể từ khi Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, Hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Hay trong những năm trước Đồng khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào cách mạng mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng. Di tích này đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận di tích Quốc gia ngày 20/7/1994.

Đến Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc du khách còn được hướng dẫn tham quan cơ sở sản xuất chỉ sơ dừa, se chỉ sơ dừa, dệt thảm sơ dừa… và cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ làm từ chất liệu dừa, sản xuất kẹo dừa…

5. Các điểm đến tại huyện Thạnh Phú:

Trên bản đồ tỉnh Bến Tre, huyện Thạnh Phú nằm ở cuối cù lao Minh, có bờ biển dài 25 km. Là một trong 03 huyện duyên hải của Bến Tre, Thạnh Phú được biết đến với những cánh đồng bằng phẳng xen kẽ những giồng cát và những dải rừng ngập mặn ven biển và cũng có nhiều tiềm năng, đang dần dần thu hút du khách trong và ngoài tỉnh. Điểm dừng chân đầu tiên trên mãnh đất này là ghé  thăm bia lưu liệm nơi làm lễ xuất quân của Tiểu đoàn 307 “đánh đâu được đấy - oai hùng biết mấy” của bộ đội ta trong thời kỳ chống thực dân Pháp ở xã Đại Điền (hay còn gọi là Giồng Luông).

Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ” được Bộ VHTTDL công nhận là Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 14/4/2011. cũng ở xã Đại Điền. Những ai đã một lần đến thăm cũng không khỏi bỡ ngỡ khi đứng trước ngôi nhà cổ đẹp, bề thế của gia tộc họ Huỳnh. Dẫu trải qua hàng trăm năm, ngôi nhà vẫn còn mang nét đặc sắc của nhà cổ đồng bằng và cái lộng lẫy của gia chủ một thời sung túc. Chu vi nhà khoảng 100 m, bên trong có hoành phi sơn son thếp vàng và thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh, vật “tứ linh” thật sống động; mái nhà lợp ngói âm dương, trên mỗi miếng ngói có in hình sinh hoạt dân gian như mục đồng cỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của nông dân…. Tương truyền ngày ấy, khi những người thợ đầu tiên đến động thổ xây dựng ngôi nhà này, gia chủ mời họ ăn cam, rồi họ nhã hột gần đó, hột lên cây và đến khi cây cho trái cam đầu tiên thì ngôi nhà mới hoàn thành. Điều đó nói lên nhà đã xây dựng từ 7 – 10 năm mới hoàn thành.

Tại Thạnh Phú còn có “Di tích đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam” tại xã Thạnh Phong, di tích này được Bộ Văn Hóa – Thông tin công nhận di tích cấp Quốc gia vào 23/12/1995. Về lịch sử hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nơi đây đã ghi lại bộ đội Miền Nam vượt biển từ xã Thạnh Phong ra miền Bắc xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Đầu cầu tiếp nhận vũ khí tại xã Thạnh Phong gồm có Vàm Khâu Băng, cồn Bửng (hiện nay thuộc xã Thạnh Hải), cồn Lợi, cồn Lớn, địa điểm di tích này du khách trong và ngoài tỉnh có thể đi bằng đường bộ hoặc đường thủy rất thuận tiện. Hiện tại khu di tích này đang được mở rộng qui mô để thực hiện dự án “Bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử đường mòn Hồ Chí Minh trên biển tại Bến Tre”. Khi dự án hoàn thành đây sẽ là điểm hẹn về nguồn và điểm đến du lịch rất lý tưởng.

 

Ngoài ra, đến Thạnh Phú còn tham quan làng nghề truyền thống sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu xi-măng tại xã Hòa Lợi. Nghề ở đây “Cha truyền con nối” và sản phẩm này cũng được tiêu thụ tại địa phương, một số tỉnh và xuất khẩu sang Campuchia. Hay ghé sang xã Mỹ Hưng tìm hiểu nghề chằm nón bài thơ Huế ở ấp Thạnh Hưng, do một người quê ở Huế về định cư tại đây gầy dựng. Bà con ở đây chằm nón rất khéo, nhiều người cho rằng nón chằm đẹp hơn thợ chằm nón lá ở Huế. Nón được chằm bằng lá cật phải mua tận Bến Cầu (Tây Ninh), còn vành nón được làm bằng tre của Thạnh Phú. Cứ thế, lá của Tây Ninh, vành của Bến Tre, người chằm nón ở Thạnh Hưng đã chăm chút, thổi hồn vào từng đường kim mũi chỉ khiến nón lá Mỹ Hưng càng nhìn càng dễ thương. Tại đây mọi người còn tận mắt chứng kiến sự khéo tay không chỉ có phụ nữ mà còn có cả nam giới. Trên thực tế nón lá cũng là một sản phẩm phục vụ cho khách du lịch. Duy trì được nghề chằm nón cũng là góp phần bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống của dân tộc ta.

Không những tham quan nghề đúc lu, chằm nón, mà du khách còn được hướng dẫn đến xem làng nghề bó chổi bằng cọng dừa nổi tiếng ở Mỹ An, một nghề mà người dân nơi đây thường nói “nghề làm chơi mà ăn thiệt”. Tại đây, du khách sẽ tận mắt nhìn thấy sự khéo tay của những siêu sao bó chổi, trong một ngày có người đã bó được trên 100 cây chổi. Ở đây, nhà nào cũng đầy chổi, chổi bó rồi, chổi đang bó…, tiếng quay dây cước vào trục nghe rè rè, tiếng kêu ken két đầy ấn tượng, rồi đến tiếng xe máy chở nguyên vật liệu ra vào, khiến làng chổi càng thêm nhộn nhịp. Mỗi sản phẩm làm ra là một kỷ niệm thấm đẫm tình người, với biết bao niềm hy vọng tươi sáng của người dân hiền lành, chất phác ở một vùng quê sông nước xứ dừa luôn tin tưởng nghề này không bị mất đi và sản phẩm làm ra có nơi tiêu thụ.

Về phong cảnh, Thạnh Phú còn có con đường làng vào xã Phú Khánh có hàng cây – hàng cây cổ thụ rất đẹp, rất hữu tình. Hay du khách sẽ thư thái, thỏa sức ngắm nhìn những cách đồng lúa xanh mơn mởn xen với mô hình nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa. Hoặc về xã biển Thạnh Hải khám phá sự hoang sơ của bãi biển nơi đây, tham quan đền thờ 02 con cá Ông, mỗi      con chục tấn và bộ xương sống của cá Ông vẫn còn lưu lại nơi đây. Hàng năm, cứ vào ngày lễ hội Nghinh Ông có hàng ngàn lượt du khách đến với các xã biển Thạnh Phú để tham quan. Hay rừng ngặp mặn Thạnh Phú nằm trong quần thể vùng bưng trũng, cũng là điểm để du khách khám phá những điều thú vị ở đó. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, rừng ngập mặn Thạnh Phú cũng là căn cứ địa hình của tỉnh, của lực lượng vũ trang tỉnh, miền, là đầu cầu tiếp nhận vũ khí chi viện từ Trung ương cho chiến trường Nam Bộ. Riêng rừng Thạnh Phú giữ vị trí đầu cầu tiếp nhận vũ khí của đường Hồ Chí Minh trên biển trong nhiều năm liền.

Điều vô cùng lý thú, nhất là cho những du khách thích phiêu lưu mạo hiểm, tìm hiểu thêm việc làm đáy hàng khơi của người dân Thạnh Phú tại Vàm Băng Cung –  Giao Thạnh. Hay ở qua đêm ở Thạnh Phong vào mùa ba khía hội,  có thể đi theo những ngư dân lành nghề bắt ba khía trong rừng ngập mặn. Vào những đêm tối, trời yên biển lặng, ba khía ra khỏi hang, chúng bám dày đặc vào thân cây mắm, cây cóc hay bò trên những bãi bùn ven bờ rạch, tha hồ bắt chúng vào giỏ. Hoặc theo người dân, ngồi trên những chiếc ghe nhỏ để len lỏi theo những con rạch nhỏ sâu trong rừng mắm, cóc, đước…và thưởng thức bản hòa tấu của một số loài chim, qua đó mà trải lòng mình trong chuyến du khảo về đất biển Thạnh Phú.

Về ẩm thực không thể bỏ qua đặc sản truyền thống bánh dừa Giồng Luông nổi tiếng ở Thạnh Phú, một khi du khách đã thưởng thức rồi thì không thể nào quên bởi sự khéo tay của phụ nữ Đại Điền hay bì bún Giồng Luông cũng rất độc đáo. Hay Thạnh Phú cũng đã tận dụng hết những tiềm năng vốn có để nuôi trồng và khai thác thủy sản….Và Thạnh Phú ngày nay đã cũng được nhiều du khách biết đến qua những món hải sản như cua biển (cua gạch điều), tôm, sò huyết, nghêu, ba khía…

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"Sự ra đời của "Đội quân tóc dài"
 Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

Hình tượng mái "tóc dài bay trong gió" của người phụ nữ trong bài hát Dáng đứng Bến Tre là một hình tượng giàu tính thẩm mỹ, có sức truyền cảm sâu và mạnh đối với thính giả cả nước. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã thành công khi ông thể hiện người "con gái Bến Tre" hiên ngang bất khuất trong "đội quân tóc dài" - một đội quân đặc biệt, có thể nói là độc nhất vô nhị trên thế giới - xuất hiện từ trong cao trào Đồng khởi của tỉnh từ năm 1960, sau đó lan rộng ra cả miền Nam. Đội quân tóc dài ấy “năm xưa đi trong lửa đạn. Đi như nước lũ tràn về...".

   Báo chí phương Tây đã từng dành nhiều trang sách, bài báo để nói về sự xuất hiện cùng sức mạnh của "đội quân tóc dài" Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân ta vừa qua. Đã có khá nhiều bài bình luận, kể cả những huyền thoại chung quanh đội quân đặc biệt này.

Mấy nét về lịch sử ra đời của đội quân tóc dài

  Sau cuộc Đồng khởi nổ ra trong tỉnh đúng 10 hôm, ngày 26-1-1960, địch huy động nhiều đơn vị vũ trang gồm cả quân chủ lực và bảo an hơn một vạn tên địch đánh vào ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày. Chiến dịch khủng bố này lấy tên là "Bình trị Kiến Hòa" với mục tiêu nhằm đè bẹp phong trào cách mạng quần chúng và tiêu diệt LLVT của ta đang còn trứng nước. Đi đến đâu, chúng triệt phá nhà cửa, cướp bóc, bắn giết một cách tàn bạo.

  Để đối phó lại âm mưu của địch, Tỉnh ủy Bến Tre lúc đó chủ trương tập hợp lực lượng, tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị gồm toàn chị em phụ nữ kéo lên quận Mỏ Cày với danh nghĩa là "tản cư” để tránh cuộc hành quân càn quét đang diễn ra. Lực lượng tham gia đấu tranh lên đến 5.000 người. Các chị, các má, người thì khiêng kẻ bị thương, người thì chở xác chết, mang theo mảnh bom, mảnh đạn để làm tang chứng, lớp thì bồng con, bế cái với cả mùng mền, nồi niêu để nấu ăn. Lực lượng đấu tranh trên 200 ghe xuồng từ các ngã đổ về Mỏ Cày rồi lên bộ kéo đi chật các đường phố của thị trấn. Bà con tràn vào dinh quận trưởng, nhà thông tin, thánh thất, nhà thờ, vừa kêu khóc, tố cáo tội ác của giặc, vừa yêu cầu quận trưởng ra lệnh chạy chữa những người bị thương, cung cấp thuốc men, thực phẩm, gạo thóc cho đồng bào và ra lệnh rút quân để bà con có thể trở về yên ổn làm ăn. Trước cảnh hàng ngàn người già, phụ nữ, trẻ em nheo nhóc, ăn ngủ vạ vật khắp các nơi, đồng bào trong thị trấn vô cùng cảm động. Họ mang cơm nước, thuốc men, tiền bạc giúp đỡ. Nhiều vị tu hành, nhân sĩ kêu gọi lạc quyên ủng hộ bà con "tản cư". Công chức, binh lính, cảnh sát nhiều người tỏ thái độ đồng tình việc làm của đồng bào.

   Trước áp lực của đông đảo quần chúng, quận trưởng Mỏ Cày đành phải hứa sẽ chuyển ngay yêu sách của đồng bào lên tỉnh trưởng Bến Tre và ra lệnh giúp đỡ đồng bào để nhằm xoa dịu dư luận. Đến ngày thứ 12 của cuộc đấu tranh, đại tá Nguyễn Văn Y, thay mặt Bộ Tổng tham mưu ngụy, chỉ huy trưởng cuộc hành quân, từ Sài Gòn phải bay xuống thị sát tình hình và sau đó ra lệnh rút quân. Thế là trước sức mạnh của những người phụ nữ không một tấc sắt trong tay, cả binh đoàn sừng sỏ của địch đành phải rút lui, bỏ dở cuộc hành quân. Nguyễn Văn Y cay cú nói với bọn sĩ quan thuộc cấp: “Thôi đành phải chịu thua “đội quân đầu tóc”” (!).

   Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã thêm một minh chứng sinh động về sự sáng tạo của đường lối đấu tranh “hai chân, ba mũi” - chính trị kết hợp với võ trang và binh vận - mà về sau đã trở thành phương châm chỉ đạo chiến lược cho cao trào Đồng khởi của toàn miền Nam.

   Về phía địch, sau thất bại chua cay này, chúng càng dùng nhiều thủ đoạn đối phó phong trào đấu tranh một cách thâm độc và quyết liệt hơn. Để phá những cuộc biểu tình của "đội quân tóc dài", chúng cho bọn tay sai ác ôn dùng sơn viết khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản” lên nón đang đội, chị em ném nón, đội khăn hoặc để đầu trần. Chúng viết sơn lên áo chị em cởi áo ngoài, chỉ còn áo lót bên trong. Rút kinh nghiệm, các lần sau hễ đi đấu tranh thì họ mặc nhiều áo và khoác bên ngoài thêm chiếc áo rách. Thấy không hiệu quả, chúng xoay sang dùng kéo xông vào cắt mái tóc dài của chị em. Hành động này đã bị binh sĩ ngụy phản đối vì trong hàng ngũ đấu tranh có nhiều người là vợ, là chị, là em của lính địch. Chúng đành phải bỏ trò cắt tóc, chuyển sang hành động dùng dây thép gai vây lại, bắt chị em đem ngâm nước, dang nắng, tệ hơn chúng cởi quần áo làm nhục chị em. Nhiều người phẫn nộ không ngần ngại tụt quần trườn mặt những tên ác ôn mặt dày mày dạn làm chúng phải cúi mặt bỏ đi. Rút kinh nghiệm, khi đi đấu tranh, chị em không mặc quần dây thun, mà dùng quần dây lưng rút, hoặc gài nút. Bọn chỉ huy còn ra lệnh cho những tên ác ôn dùng thủ đoạn cưỡng hiếp chị em nữ thanh niên để trấn áp, hòng làm cho các chị không còn dám tham gia vào các cuộc đấu tranh. Thế nhưng càng đàn áp dã man, trắng trợn thì phong trào càng quyết liệt, bộ mặt giả nhân, giả nghĩa của chúng bị bóc trần thảm hại. Tâm lý hoang mang, dao động của đám tay sai, đặc biệt trong binh lính, ngày càng tăng trước sức mạnh của chính nghĩa.

  Trong khi đó “đội quân tóc dài" trong quá trình đối mặt với kẻ thù, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ đạo, về vận dụng sách lược, lý lẽ để tiến công kẻ địch, phân hóa hàng ngũ của chúng, biết giành thắng lợi từng bước, đúng lúc, đúng mức.

   Lúc bình thường, những người phụ nữ ấy gắn bó với thôn xóm, ruộng đồng, thay chồng nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già, dạy dỗ con cái nuôi giấu cán bộ. Họ có mặt hầu hết trong các công tác cách mạng ở hậu phương, xây dựng xã ấp chiến đấu, tham gia du kích bảo vệ làng mạc, đi dân công tải thương, tải đạn, giao liên... Lúc có giặc càn vào thôn, xóm, họ là lực lượng đứng ra đấu tranh ngăn chặn bước tiến của chúng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Vũ khí đấu tranh của họ không phải là súng, đạn, mà chủ yếu là lòng yêu nước, là ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, là lý lẽ được vận dụng một cách thông minh, khôn khéo trong cái thế hợp pháp. Họ vận dụng “ba mũi giáp công” đánh vào những chỗ yếu, những sơ hở của đối phương, phân hóa hàng ngũ chúng, ngăn chặn, phá vỡ những ý đồ đen tối và thâm độc của Mỹ, ngụy. Không hiếm những trường hợp với tay không và bằng mưu trí họ đã hạ được đồn bót giặc, hoặc vô hiệu hóa từng đơn vị chiến đấu của địch. Nhiều tên ác ôn bị chính những người phụ nữ hiền lành diệt giữa ban ngày ở ngay trên đường phố, hoặc ở nơi chợ búa đông người.

   Nội dung và hình thức đấu tranh cũng như việc tổ chức đội ngũ của “đội quân tóc dài” luôn luôn thay đổi, biến hóa linh hoạt và sáng tạo để thích nghi với từng hoàn cảnh cụ thể. Cách thức hoạt động của họ chưa hề được ghi trong một “binh thư” nào từ trước đến nay.

   Ra đời trong cao trào Đồng khởi ở Bến Tre, “đội quân tóc dài” đã phát triển rộng khắp trong toàn miền và đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước bất khuất, trung hậu đảm đang của người phụ nữ Việt Nam.
Đã ban hành
Du lịch Miền Tây tham quan Châu ThànhDu lịch Miền Tây tham quan Châu Thành
Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Đã từ lâu du lịch huyện Châu Thành - Bến Tre đã hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp nguyên sơ của vùng sông nước miệt vườn, những công trình kiến trúc cổ, những cơ sở sản xuất kẹo dừa và những làng nghề thủ công. Qua cầu Rạch Miễu, du khách sẽ đến huyện Châu Thành thuộc cù lao An Hóa, vùng đất phát triển du lịch nhất trong tỉnh Bến Tre. Từ đây, du khách có thể liên hệ với công ty du lịch Miền Tây để tham gia một chương trình tour Mekong đến với các điểm du lịch ven sông Tiền. Bắt đầu chuyến tham quan, du khách sẽ tham quan điểm du lịch sinh thái Tân Phú. Vào đây, du khách tham quan gian hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ do những bàn tay khéo léo tạo nên từ vỏ dừa, sơ dừa.

Bến Tre là xứ sở của dừa, mà Châu Thành là một trong những huyện có diện tích trồng dừa khá lớn, đặc trưng cho Bến Tre, xa xa lúc nào cũng thấp thoáng những ngọn dừa cao vút. Nơi đây còn là  “cái nôi” của những sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo từ cây dừa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng các mặt hàng như  khay  ly, chén đĩa, bình trà, đũa, muỗng, nĩa, các dụng cụ gia đình, đồ dùng văn phòng, búp bê và những con thú ngộ nghĩnh… Cọng, lá và bông dừa thì làm lẵng hoa, giỏ, đèn chụp… rất đẹp mắt đã được xuất khẩu qua nhiều nước trong khu vực và thế giới.

Buổi trưa, du khách sẽ thưởng thức ẩm thực vùng sông nước với các món ăn dân dã đồng quê mang đậm chất Nam Bộ như: cá lóc nướng trui, nấm mối nướng muối ớt, lẩu cá kèo, tép rang dừa,… và đặc biệt du khách sẽ được thưởng thức món cơm dừa thơm ngon được hấp trong trái dừa. Khi ăn, du khách nhai chầm chậm cơm dừa với tép rang dừa, vị ngọt lẫn hương thơm của nước dừa thấm vào hạt cơm tan dần, sẽ làm cho du khách cũng nhận được tất cả sự thơm ngon của món cơm dừa này.

Những đặc sản đồng quê này, sẽ là những món quà độc đáo mà người dân vùng đất ba dãy cù lao này dâng tặng cho du khách nhằm mời gọi du khách bốn phương về với quê hương xứ dừa, nó đặc trưng cho không khí một vùng đất mang đậm nét thiên nhiên vùng sông nước. Dù Châu Thành  đã có bước phát triển kinh tế, đời sống người dân có được nâng lên nhưng nét văn hóa ẩm thực truyền thống vẫn còn lưu giữ.

Đến với Châu Thành, du khách không thể bỏ qua chuyến tham quan Đình Tân Thạch tọa lạc tại xã Tân Thạch- huyện Châu Thành là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia với nhiều công trình kiến trúc cổ như: liễn đối, bao lam, khánh thờ, hoành phi, được sơn son thiếp vàng lộng lẫy và chùa Hội Tôn cổ tự tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành là ngôi chùa cổ nhất Bến Tre do Hòa Thượng Long Thiền, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi theo những người dân đi khai hoang vào thành lập trong giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát trị vì. Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc cổ, với nhiều hiện vật cổ xưa có giá trị như quả chuông đồng và các hiện vật cổ khác.

Ngoài ra Châu Thành còn nhiều điểm du lịch khác như du thuyền qua các cù lao: Long-Lân-Quy-Phụng, tham quan Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa) là những điểm thú vị đang chờ đón du khách khám phá. Đến Cồn Phụng, du khách sẽ được tham quan tìm hiểu về di tích ông đạo Dừa, chiêm ngưỡng sân rồng, tòa tháp và cửu trùng đài, du khách có thể chụp ảnh lưu niệm cho chuyến đi.

 

Thuyền đưa du khách đến các điểm tham quan ở huyện Châu Thành - Bến Tre

Thuyền đưa du khách tham quan vườn nhà ông Tư Bi trên cồn Qui, mỏi chân du khách có thể tạm nghỉ trong những căn nhà mái lợp lá nằm giữa vườn cây trái, chọn lựa để người phục vụ gọt đĩa trái cây các loại ưa thích như thanh long, thơm, ổi…hoặc uống một trái dừa xiêm ngọt lịm.

Thuyền lướt êm như ru qua con rạch Xếp xanh ngắt màu lá dừa nước, ô rô …, không gian mát mẻ, trong lành và ríu rít tiếng chim. Đi xe ngựa trên làng khoảng 2km đến thăm một số điểm thưởng thức trà, rượu mật ong, đi đò chèo, nghe nhạc tài tử Nam Bộ,  thưởng thức những món ăn đồng quê theo một hương sắc thật thanh nhã và thú vị.

 

Đi xe ngựa trên đường làng

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phan Văn Trị (1830 - 1910)Phan Văn Trị (1830 - 1910)
 
Image
Phan Văn Trị (1830-1910)
Phan Văn Trị sinh năm 1830 tại làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long(1), nay là xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Cha tên là Phan Văn Tấn, "làm quan khâm sai Chưởng tiền dinh Đô thống chế, đã bị triều đình nhà Nguyễn phạt chín đời không được làm quan"(2), thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu, một võ tướng đã từng giúp Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, về sau được liệt vào miếu Trung hưng công thần tại cố đô Huế. Vợ là Đinh Thị Thanh, anh em con cô cậu với Lê Quang Chiểu, tác giả cuốn Quốc âm thi hiệp tuyển(3).Ông thi đỗ cử nhân khoa Kỷ Dậu, năm Tự Đức thứ hai (1849) tại Trường thi Gia Định, cùng khoa với Nguyễn Thông. Nhỏ hơn Nguyễn Thông 3 tuổi và Nguyễn Đình Chiểu 8 tuổi, Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn chương của 2 người, mà còn là đồng chí cùng chung lý tưởng chống xâm lược và tay sai.Sau khi đậu cử nhân, ông về làng Bình Cách (nay thuộc thị xã Tân An) dạy học trò, về sau dời về làng Phong Điền, Cần Thơ (nay là xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ) tiếp tục dạy học, làm thơ, bốc thuốc chữa bệnh cho đến cuối đời. Hiện nay, phần mộ ông vẫn nằm tại nơi đây.Thơ Phan Văn Trị trước khi chống Pháp xâm lược thường là những bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật nhằm gửi gắm tâm sự và tỏ hoài bão, chí hướng của mình, phê phán bọn thống trị phong kiến bất tài, dốt nát, hám danh lợi. Khi giặc Pháp xâm lược đất nước, ông đã chuyển hẳn ngòi bút sang chống bọn cướp nước và bán nước.Tiêu biểu nhất là cuộc hoạ thơ phê phán gay gắt thái độ đầu hàng, làm tay sai cho giặc của Tôn Thọ Tường. Đập lại những luận điệu nguỵ biện cho hành động phản dân hại nước cùng sự tán dương sức mạnh vật chất của thực dân Pháp của Tường, Phan Văn Trị đã mắng thẳng vào mặt Tường là "đứa ngu”, “kẻ đáy giếng trông trơ mắt ếch”, “loại tanh nhơ”... với lập luận sắc sảo, sáng ngời chính nghĩa, đĩnh đạc và hiên ngang. Bằng vũ khí ngòi bút, ông đã giáng cho tên Việt gian trơ trẽn này những cái tát khá đau. Trong cuộc hoạ thơ này, ông đã lôi cuốn được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt.. vào một cuộc bút chiến sôi nổi. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng có quy mô lớn, đầu tiên trong lịch sử văn học của dân tộc. Nó có giá trị mở đầu cho những cuộc đấu tranh tư tưởng – văn hoá khác sẽ nổ ra trong nửa đầu thế kỷ XX sau này.Nếu như trong số các sĩ phu yêu nước thời đó phần lớn vẫn còn nhiều kỳ vọng ở triều đình nhà Nguyễn, thì Phan Văn Trị đã có một nhận thức sáng suốt và quyết liệt, một thái độ dứt khoát, khi phê phán và lên án sự ươn hèn, khiếp nhược của đám quan phong kiến trước uy lực của thực dân Pháp lúc bấy giờ. Trên dưới 50 bài thơ (mà nay chúng ta biết được) phản ánh một tinh thần lạc quan, một ý thức trách nhiệm của người trí thức đối với nhân dân và đất nước, tràn đầy tinh thần lạc quan và tính chiến đấu sâu sắc, một khí phách độc đáo, Phan Văn Trị rất xứng đáng đứng trong hàng ngũ các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hương văn học yêu nước chống Pháp thời cận đại bên cạnh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôi, Nguyễn Quang Bích v.v...(1) Cao Xuân Dục, Quôc triều hương khoa lục¸Bản chữ Hán, vi phim, hộp số 137, Thu viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.(2) Trích theo Phan Văn Trịc, thân thế và hành trang của Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế và Văn hoá nghệ thuật, Sở Văn hoá Thông tin Bến Tre, 1-1986.(3) Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản 1903, có giá trị văn bản về các tác phẩm của Phan Văn Trị.
Đã ban hành
Bến Tre đã hoàn tất mọi công việc cho ngày bầu cửBến Tre đã hoàn tất mọi công việc cho ngày bầu cử

<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng và hết sức sâu sắc trong đời sống chính trị của nhân dân, là
nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và toàn quân, toàn
dân trong việc lựa chọn những đại biểu có đủ đức, đủ tài bầu vào cơ quan quyền
lực cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span>
</div>

Image
Ông Huỳnh Văn Be - Chủ tịch Ủy ban bầu cử
Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa rất quan trọng và hết sức sâu sắc trong đời sống chính trị của nhân dân, là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và toàn quân, toàn dân trong việc lựa chọn những đại biểu có đủ đức, đủ tài bầu vào cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ góp phần to lớn vào quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời thông qua Quốc hội để phát huy năng lực, trí tuệ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng.

Đối với tỉnh ta, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII được Ủy ban bầu cử tỉnh tổ chức thực hiện qua các bước theo luật định. Đến thời điểm hiện nay, Bến Tre đã hoàn tất mọi công việc sẵn sàng cho ngày bầu cử Quốc hội khoá XII diễn ra ngày 20-5-2007.

Để đảm bảo việc tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XII đạt được kết quả tốt nhất, đồng chí Huỳnh Văn Be, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban bầu cử tỉnh cho biết từ nay đến ngày bầu cử 20-5-2007, các ngành, các cấp và đông đảo cử tri cần tập trung thực hiện một số công việc cụ thể. Đó là, Ủy ban bầu cử tỉnh lãnh đạo tổ chức việc vận động bầu cử tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật và đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức cho các ứng cử viên Đại biểu Quốc hội gặp gỡ tiếp xúc cử tri tại các đơn vị bầu cử trong tỉnh (từ ngày 3-5-2007 đến 16-5-2007) trình bày chương trình hành động của mình nếu được trúng cử Đại biểu Quốc hội. Thông qua việc vận động bầu cử, cử tri sẽ hiểu thêm về phẩm chất, năng lực thực sự của người ứng cử, làm cơ sở để cử tri quyết định bầu người xứng đáng vào Quốc hội. Dự kiến, đơn vị bầu cử số 01 sẽ tổ chức 16 điểm; đơn vị bầu cử số 02 tổ chức 14 điểm; đơn vị bầu cử số 03 sẽ tổ chức 17 điểm.

Những công việc tiếp theo bao gồm việc tổ chức Hội nghị tập huấn về nghiệp vụ của Tổ bầu cử, nghiệp vụ tổng hợp kết quả bầu cử cho các thành viên của Tiểu ban phục vụ của Ủy ban bầu cử, thành viên của các Ban bầu cử và các cán bộ trưng tập của các Ban bầu cử làm nhiệm vụ tổng hợp cho các Ban bầu cử.

Về công tác tuyên truyền, cổ động, Ủy ban bầu cử sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngành tỉnh, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn đẩy mạnh công tác tuyên truyền cả chiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa cuộc bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, quyền và nghĩa vụ của người ứng cử, quyền và nghĩa vụ của cử tri, các quy định về trình tự bầu cử. Trên các trục đường chính phải treo nhiều băng rôn, cụm panô tuyên truyền về bầu cử, nhằm động viên mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia bầu cử với khí thế của một ngày hội lớn. Song song đó là việc tổ chức học tập tiểu sử ứng cử viên, cơ cấu của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bến Tre.

Đối với cử tri do làm ăn xa không có điều kiện học tập trung sẽ có biện pháp tăng cường vận động riêng. Kế nữa là việc kiểm tra và đảm bảo các điều kiện vật chất phục vụ bầu cử tại Tổ bầu cử; tất cả công tác chuẩn bị phải hoàn thành trong ngày 19-5-2007.

Bên cạnh các biện pháp phòng chống các tình huống xấu do thiên tai gây ra, đảm bảo cuộc bầu cử được tiến hành theo đúng kế hoạch, thì việc triển khai và thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự trong ngày bầu cử là rất quan trọng. Để bảo đảm an ninh tuyệt đối, tỉnh ta đã đề ra phương án hướng dẫn quần chúng đề cao cảnh giác trước những hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử.

Từ ngày 18-5-2007, Ủy ban bầu cử, các Ban bầu cử sẽ phân công các thành viên bám địa bàn được phân công để kiểm tra, hướng dẫn các công việc bầu cử. Sau ngày bầu cử, Ủy ban bầu cử sẽ lãnh đạo thực hiện tốt công tác tổng hợp, xác định kết quả bầu cử và tổng kết cuộc bầu cử đảm bảo đúng luật, khách quan, chính xác để kịp thời báo cáo danh sách những người trúng cử về Hội đồng bầu cử theo quy định của pháp luật.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội lần này được tổ chức vào thời điểm cả nước đang nỗ lực đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, đoàn kết quyết tâm hiện thực hoá mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đã ban hành
Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)Quản Trọng Hoàng (1904 – 1942)
&nbsp;

Image
Quản Trọng Hoàng (1904-1942)
Sinh năm 1907 trong một gia đình nông dân ở làng An Định, quận Mỏ Cày, nay là xã An Định, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, học ở trường tiểu học tỉnh, rồi sang học trung học ở Collège Mỹ Tho. Sớm tiếp nhận các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, như phong trào để tang chí sĩ Phan Châu Trinh (4-4-1926); phong trào đòi thả tự do cho nhà yêu nước Nguyễn An Ninh (4-1926). Năm 1927, thoát ly hoạt động cách mạng. Năm 1929, Quản Trọng Hoàng tham gia vào VNTNCMĐCH, rồi gia nhập An Nam Cộng Sản Đảng, đến đầu năm 1930, được kết nạp vào ĐCSĐD, hoạt động ở khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn.

   Sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (9-1930), thực dân Pháp tiến hành những cuộc khủng bố trắng, nhiều đảng viên ĐCS bị bắt, bị đày đi Lao Bảo, Côn Lôn. Trước tình hình đó ở Nam Kỳ, một số đảng viên tìm về vùng U Minh nương náu để tránh bị sự khủng bố của địch. Quản Trọng Hoàng cùng nằm trong số đó. Lúc đầu, ông về vùng Giá Rai (tỉnh Bạc Liêu) nhen nhóm, xây dựng cơ sở tại đây, nhưng rồi có nguy cơ bị lộ, nên phải chuyển về hoạt động ở làng Vĩnh Thuận, quận Phước Long, tỉnh Rạch Giá. Giữa năm 1932, ông cùng với Quản Trọng Linh, Trần Mão, Hà Thị Lan thành lập chi bộ đầu tiên ở vùng này, rồi mở rộng mối quan hệ với tổ chức ĐCS ở các địa phương khác.

   Năm 1938, khi Liên tỉnh ủy miền Tây thành lập, Quản Trọng Hoàng được cử làm Phó bí thư, đến năm 1937, được cử làm Bí thư Liên tỉnh ủy Hậu Giang.

   Tháng 7-1940, trong cuộc họp của đại biểu Đảng bộ Nam Kỳ tại một địa điểm của tỉnh Mỹ Tho, Quản Trọng Hoàng được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ, trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa ở tỉnh Cần Thơ.

   Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ, khắp các tỉnh thành ở trong xứ, nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi, kẻ thù đã nắm được kế hoạch khởi nghĩa, nên các cuộc nổi dậy của quần chúng bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cùng nhiều đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có Quản Trọng Hoàng. Trải qua nhiều cực hình tra tấn dã man, ông vẫn giữ tròn khí tiết của người cộng sản kiên cường. Trong những ngày bị giam cầm ở Khám Lớn Sài Gòn, trong một bức thư gửi cho người yêu, cũng là một nữ đồng chí, Quản Trọng Hoàng khẳng định rõ lý tưởng của mình:

…Thù quân đế quốc – thù vô tận

Giận lũ tham tàn bất nhân

Nhắn bạn chung tình nên gắng sức

Bền gan rửa sạch nợ non sông.

   Đầu tháng 1-1942, tòa án thực dân Pháp ở Sài Gòn xử án các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa, Quản Trọng Hoàng bị kết án tử hình, số tù 105GAM. Trong khi bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn chờ ngày hành quyết, ông cũng đã cùng một số tù nhân khác tổ chức vượt ngục nhưng không thành. Ngày 22-7-1942, ông bị xử bắn ở Hóc Môn cùng với 9 đồng chí khác.

Đã ban hành
Hoàng Lam (1943 – 1968)Hoàng Lam (1943 – 1968)
Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

Hoàng Lam tên thật là Phan Bình Trung, con út của một gia đình nông dân xã Long Mỹ, huyện Giồng Trôm, cha chết sớm, mẹ lại mù lòa. Sau khi học hết đệ thất (tương đương với lớp 6 ngày nay), Hoàng Lam thoát ly gia đình, làm chiến sĩ giao liên ở một trạm đường dây của tỉnh do Hoàng Thọ phụ trách. Nhận thấy anh lanh lợi, tháo vát và dũng cảm, nên năm 1962, đơn vị đã chọn đưa anh đi học lớp đào tạo chiến sĩ đặc công tại Thừa Đức (huyện Bình Đại).

HoangLam.jpg

Anh hùng Hoàng Lam

Binh chủng đặc công lúc bấy giờ chia làm hai loại: đặc công bộ và đặc công thủy. Hoàng Lam đã tình nguyện chọn "mặt trận dưới nước", bởi anh có tài bơi lội giỏi từ nhỏ. Trận ra quân đầu tiên của đơn vị do Hoàng Lam chỉ huy là trận đánh sập cầu Chẹt Sậy nằm trên đường từ thị xã đi Ba Tri. Từ năm 1962 đến năm 1968, Hoàng Lam đã tham gia đánh hàng chục trận, nhận chìm nhiều tàu địch trên các dòng sông ở Bến Tre. Nhưng vang dội nhất vẫn là trận đánh chìm chiến hạm sửa chữa cơ động của hải quân Mỹ mang số hiệu 833 ở nơi vàm Bến Tre và trận tập kích "căn cứ nổi” của Mỹ trên sông Hàm Luông, nơi vàm Thủ Cửu, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm.

Là người chỉ huy, Hoàng Lam có một đức tính đáng quý là luôn luôn nhận cái khó nhất về mình, nhưng khi đạt được thắng lợi lớn, thì anh lại luôn luôn khiêm tốn, bảo đó là thành tích của anh em, còn đóng góp của mình chỉ là một phần nhỏ trong đó. Anh gắn bó với đồng đội trong đơn vị bằng tấm lòng yêu thương chân thật. Anh chia sẻ với anh em từ điếu thuốc giồng đến trái chuối, trái cam của đồng bào tặng, thậm chí cả miếng cơm cháy dòn. Vốn đẹp trai, hoạt bát và năng động, nên Hoàng Lam được nhiều cô gái thích, thậm chí có má thương nết ăn ở, cư xử của anh, ngõ lời gả con gái cho anh, nhưng anh đều chân tình cám ơn với lời từ chối rất đơn giản là: cái nhiệm vụ anh đang đảm trách nguy hiểm lắm, chết và sống như trở bàn tay. Rủi ro để khổ cho người khác…

Hoàng Lam cũng là người rất có hiếu với mẹ. Nhiều lần cùng anh em trong đơn vị chiến đấu ngồi chờ xuất phát, anh tâm sự: “Không biết giờ này người mẹ mù lòa của anh sống ra sao? Có đủ cơm để no bụng không?”. Nói xong, anh quay mặt đi chỗ khác để dấu niềm băn khoăn, lo lắng của mình trước mặt người khác.

Trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Hoàng Lam ở trong ban chỉ huy đại đội, phụ trách mũi xung kích mở đường cho bộ binh đánh vào thị xã Bến Tre, chiếm bãi đậu chiến xa (nay là hội trường lớn nhất xã). Trong trận này, đơn vị anh gặp phải mũi phản kích mạnh của địch nên hy sinh gần hết, trong số đó có anh, chỉ còn có một chiến sĩ sống sót duy nhất là Bé Ngọng. Anh đã ngã xuống tại đầu cầu cù lao Dê (nay là phường 3, thị xã Bến Tre). Tin báo tử về Hoàng Lam bay đến bộ chỉ huy quân sự tỉnh, đã gây niềm xúc động lớn, làm sững sờ nhiều người. Đồng chí Lê Minh Đào, người chỉ huy trận tấn công vào thị xã, khi vượt qua sông Hàm Luông đã cảm xúc đọc bài thơ ngợi ca người chiến sĩ đặc công anh hùng. Nhạc sĩ Lê Dân viết một ca khúc về anh, trong đó có đoạn: “Ơ… nghe Hoàng Lam còn hát đâu đây. Bài ca anh hùng vọng đến ngàn mây. Vượt ngàn hiểm nguy, cỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ…". Nhạc sĩ Xuân Hòa viết nhạc kịch, ngợi ca công tích của anh. Họa sĩ Lê Lam từ miền Bắc vào chiến trường Bến Tre, đã vẽ tranh về anh… Cùng chia sẻ nỗi đau khôn cùng ấy, còn có người yêu của anh, một cô giáo làng.

Hoàng Lam, người chiến sĩ đặc công thủy xuất sắc ấy vẫn còn sống trong lòng đồng đội, bạn bè chiến đấu từng sống chết với anh và cả trong lòng những bà má đã từng cưu mang, nuôi nấng anh trong những ngày đất nước còn chìm trong bóng đêm của khủng bố và đàn áp. Anh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994..

Đã ban hành
Du lịch lễ hội xứ dừaDu lịch lễ hội xứ dừa
“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

“Lễ hội” là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng và xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội diễn ra thường gắn liền với những phong tục tập quán, nghệ thuật truyền thống, môi trường văn hóa và đặc thù của địa phương đó. Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn như các nơi khác, song Bến Tre có những Lễ hội tiêu biểu mang sắc thái riêng của vùng đất xứ dừa. Các lễ hội ở Bến Tre cứ “đến hẹn lại lên” và diễn ra rất hấp dẫn. Bởi thế, Bến Tre không chỉ thu hút du khách thập phương với những sản phẩm du lịch sinh thái của sông nước – miệt vườn, những vùng cây trái nổi tiếng, những làng nghề hay những công trình kiến trúc văn hóa - lịch sử và kiến trúc cổ…, mà Bến Tre còn hấp dẫn du khách bởi những lễ hội rất đặc trưng diễn ra hàng năm tại xứ dừa.

Đến Bến Tre vào tháng giêng, trên vùng đất cù lao Minh du khách sẽ tham gia “Lễ hội truyền thống cách mạng” hay còn gọi là “Lễ hội Đồng Khởi”, diễn ra vào 17/01 tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày Nam. Các hoạt động “hội” gắn liền với “lễ” như: Liên hoan, hội thi, hội thao về văn nghệ, thể dục thể thao hay các trò chơi dân gian, truyền thống, hội chợ triển lãm, trưng bày hình ảnh,… Đây là dịp để quân dân Bến Tre ôn lại truyền thống vẽ vang hào hùng, đã làm nên phong trào “Đồng Khởi” vang dội khắp cả nước vào ngày 17/01/1960. Và cũng là dịp để du khách tìm hiểu về lịch sử đấu tranh cách mạng của quân dân Bến Tre.

Cũng trên vùng đất cù lao Minh, Chợ Lách là xứ sở nổi tiếng cả nước về cây lành trái ngọt, về sản xuất cây giống, cây cảnh và hoa kiểng. Vì thế, mà nơi đây đã hình thành nên “Ngày hội cây - trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp” vào dịp tết Đoan ngọ (mùng 5/5 âl) hàng năm. Ngày hội này được phát triển từ ngày hội dân gian, diễn ra trong 05 ngày. Các hoạt động diễn ra trong ngày hội với ý nghĩa thiết thực ghi nhớ công ơn những người đi trước, đồng thời tạo cơ hội giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm trồng cây ăn trái, cây giống, hoa kiểng của nhà nông trong tỉnh. Ngày hội còn diễn ra với nhiều nội dung phong phú như: Trưng bày, giới thiệu sản phẩm, những thành tựu trong sản xuất, sinh vật lạ, chương trình hội thảo, hội thi trái ngon - an toàn, đấu xảo trái cây to-sai-lạ, hội thi bàn tay vàng ghép cây giống, hội thi hoa lan, đá chim nghệ thuật, trò chơi dân gian, hội chợ thương mại, lễ tạ ơn thần nông… Du khách đến Chợ Lách vào dịp này sẽ chiêm ngưỡng, khám phá trọn vẹn những gì độc đáo “nhất” mà xứ sở này đã làm nên thương hiệu và trở thành địa chỉ quen thuộc cung cấp cây giống do người dân tự chiết cành, lai tạo lớn nhất Việt Nam; là xứ sở vườn cây trái ngon nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon… và các loại cây trái khác; là trung tâm sản xuất các loại cây cảnh, hoa kiểng từ những loại cây ngắn ngày đến các loại cây cổ thụ lâu năm, rất được ưa chuộng tại thị trường trong nước.

Nằm trên vùng đất cù lao Bảo, là một trong ba huyện biển của Bến Tre, Ba Tri là vùng đất không có nhiều danh lam thắng cảnh. Song Ba Tri là vùng đất có nhiều di tích của các danh nhân nổi riếng, di tích lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và cả môi trường sinh thái rừng và biển. Nếu đến Ba Tri từ ngày 01 - 03/7 dương lịch hằng năm, du khách sẽ tham gia vào “Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre 01/7” được tổ chức tại khu di tích Nguyễn Đình Chiểu, xã An Đức.

Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre diễn ra với ý nghĩa tôn vinh những giá trị tư tưởng, nhân cách đạo đức của một danh nhân, một nhà giáo, một người thầy thuốc suốt đời vì nhân dân, đem tài năng và trí tuệ của mình phục vụ cho dân, cho đất nước. Tùy theo năm chẵn, lẻ mà lễ hội được tổ chức qui mô lớn, nhỏ. Nhưng các hoạt động hội vẫn diễn ra như: Sân khấu hóa, liên hoan đờn ca tài tử, dàn nhạc lễ; biểu diễn trống hội, võ thuật; các trò chơi dân gian: thi đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, kéo tay…; hội thi  mâm xôi - mâm cơm ngày giỗ,… Đặc biệt, là cuộc thi hóa trang các nhân vật trong truyện “Lục Vân Tiên” được rất đông người tham gia. Hay triển lãm ảnh về những thành tựu kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre và các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu. Đến với lễ hội truyền thống văn hóa Bến Tre là dịp để du khách tìm hiểu thêm về thân thế và sự nghiệp văn chương cách mạng của Cụ Nguyễn Đình Chiểu; tham quan, khám phá các hoạt động “hội” tại khu di tích, thắp hương tưởng nhớ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu.

Cũng như các địa phương khác, Bến Tre không chỉ có lễ hội văn hóa - lịch sử, mà Bến Tre còn có những lễ hội mang đậm nét tín ngưỡng dân gian hết sức độc đáo. Nếu du khách đến vùng biển Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú vào dịp tháng 6-7 âm lịch du khách sẽ được tham gia trọn vẹn vào “Lễ hội tế thần cá Ông” hay còn gọi là “Lễ hội Nghinh Ông” của cư dân vùng biển cúng “Ông” cầu cho mưa thuận gió hòa và cư dân đi biển gặp nhiều may mắn. Lễ hội này diễn ra hàng năm, chủ yếu tập trung ở vùng đất biển Bình Đại. Du khách đến đây vào 16/6 âm lịch, rất thú vị khi khám phá “Lễ hội Nghinh Ông” tại xã Bình Thắng. Đây là lễ hội lớn nhất, tiêu biểu nhất của lễ hội cúng “Ông” của cư dân vùng biển Bến Tre. Lễ hội Nghinh Ông thường diễn ra hai phần “Lễ” và “hội”. Nghi thức lễ mừng sắc Ông diễn ra tại Lăng thờ cá Ông trên bờ và sau đó tổ chức tàu (thuyền) thành đoàn cùng nhau ra khơi để tiến hành các nghi thức lễ cúng “Ông” trên mặt biển. Phần lễ gồm: Túc yết, Nghinh Ông, tế tiền hiền, hậu hiền, lễ Chánh tế và xây chầu đại bội, vào lễ các thuyền đánh cá đều giăng đèn, kết hoa rực rỡ. Ở đầu mũi của mỗi tàu đánh cá, chủ nhân bày mâm cúng trái cây, xôi thịt, thường là cặp vịt luộc, chiếc đầu heo hay cả một con heo quay cùng với hương hoa. Sau khi du khách tham gia các nghi thức lễ xong, bắt đầu tham gia vào phần hội khá sôi nổi và hào hứng với các chương trình độc đáo như: múa lân, các trò chơi dân gian, xem hát bội,…

Trở lại vùng đất cù lao Bảo, về lại đất biển Ba Tri, đến xã Phú Lễ du khách sẽ được tham gia vào “Hội đình Phú Lễ” diễn ra 02 lần trong năm (lễ hội Kỳ Yên diễn ra từ 18 - 19/3 âm lịch và lễ Cầu Bông diễn ra từ ngày 09 – 10/11 âm lịch). Đây là lễ hội truyền thống hàng năm của nhân dân trong vùng, tưởng nhớ Thành Hoàng và những vị thần có công khai khẩn đất đai, lập làng và cầu cho quốc thái dân an, nhà nhà no ấm. Đến với hội đình Phú Lễ là dịp để du khách vui chơi thoải mái và hòa cùng không khí nhộn nhịp của lễ hội; tham gia cúng đình, nghe hát sắc bùa Phú Lễ,  nghe hát bội,.... Đó một hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo mà đình Phú Lễ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay.

 

Hội đình Phú Lễ

Đặc biệt, những năm gần đây Bến Tre đã sáng tạo ra lễ hội, mang đặc trưng của vùng đất xứ dừa, đó là “Lễ hội Dừa”. Lễ hội này hai năm tổ chức một lần. Đến với những ngày lễ hội Dừa, du khách sẽ khám phá những hoạt động và các chương trình đặc sắc như: Sân khấu hóa tái hiện sự hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng vùng đất cù lao xứ dừa; hội làng nghề truyền thống; các hội thi, liên hoan về dừa; các gian hàng trưng bày các sản phẩm từ cây dừa, các giống dừa mới…; tham quan, mua sắm hội chợ thương mại xuân hay “Tuần lễ Doanh nghiệp vừa và nhỏ”…. Du khách được hòa mình vào không khí sôi nổi hào hứng của lễ hội với tất cả sự nhộn nhịp của một thành phố trẻ nằm bên sông Bến Tre.

Điểm nhấn của lễ hội Dừa là giới thiệu sản phẩm hàng hóa truyền thống của các làng nghề, cũng như tổ chức trình diễn sản xuất một số nghề thủ công truyền thống tiêu biểu của tỉnh như: thi chế biến và trưng bày các loại bánh, mứt, kẹo, các món ăn, thức uống chế biến từ dừa với sự tham gia của các nhà nông, các cấp Hội Phụ nữ trong tỉnh; thi đấu xảo các sản phẩm từ dừa bao gồm các sản phẩm trồng trọt, làm hàng thủ công mỹ nghệ nhanh nhất, đẹp nhất (đan giỏ bằng cọng dừa, se chỉ, làm thảm sơ dừa),…. Lễ hội Dừa, là dịp để tôn vinh những giá trị sáng tạo, những tài năng có tâm quyết của nghệ nhân và người thợ thủ công làm ra những sản phẩm từ cây dừa. Đây cũng là cơ hội để Bến Tre giới thiệu tiềm năng du lịch sinh thái, di tích và văn hóa lịch sử, đặc biệt là tiềm năng kinh tế qua các sản phẩm từ dừa; đồng thời đó còn là cơ hội để khách tham quan thưởng thức những món ngon, vật lạ ở Bến Tre nói riêng và khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Hay xác nhận kỷ lục về những sản phẩm làm ra từ dừa...

 

Món ăn đạt giải trong "Liên hoan ẩm thực"

Đến xứ dừa du lịch vào các dịp lễ hội diễn ra, du khách sẽ rất ấn tượng, hài lòng với những chương trình, những hoạt động diễn ra trong lễ hội với những nét độc đáo mang đặc trưng riêng biệt của quê hương xứ dừa. Mỗi lễ hội ở Bến Tre đều có ý nghĩa, mang sắc thái riêng và thật sự đã góp phần làm nên sản phẩm du lịch, điểm đến du lịch hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước./.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
4 nhóm đất và 15 loại4 nhóm đất và 15 loại
Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...).

1/ Nhóm đất cát:

Trong đó chủ yếu là loại đất giồng chiếm diện tích 14.248 ha (6,4% diện tích toàn tỉnh). Đây là loại đất hình thành bởi tác động của dòng sông và sóng biển trong suốt quá trình lấn biển của vùng cửa sông. Các giồng nổi rõ trên ảnh vệ tinh và ảnh máy bay bằng những dạng vòng hay dạng rẻ quạt, cao từ 2 đến 5 m. Càng xa biển, giồng càng thấp dần với đỉnh bị mài mòn (giồng Ba Tri, giồng Mỏ Cày, giồng thị xã Bến Tre...). Dưới tác động của khí hậu (mưa, nắng, gió, bốc hơi) và của con người qua hàng trăm năm, đất giồng thay đổi nhiều, không còn tơi xốp như những giồng mới hiện nay ở ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Lớp đất mặn thường khá mịn, là lớp đất thịt nhẹ dày từ 30 đến 50 cm. Trong thành phần hoá học của đất cát giồng, tỉ lệ sắt khá cao so với các loại đất khác. Ở những nơi không có cây che phủ, đất rất dễ bị thoát nước và tầng mặt thường rất khô.

Đất cát giồng ít chua ở tầng mặt, rất ít chất hữu cơ (1%) nghèo dinh dưỡng, cán cân độ phì rất thấp, thiếu đạm nghiêm trọng. Ở một số giồng sát biển, tuy bị nước triều lên xuống nhưng độ mặn trong đất không cao.

2/ Nhóm đất phù sa

Hầu hết đất phù sa ở Bến Tre hình thành từ trầm tích của các cồn sông cổ và các lòng sông cổ. Đây là những địa điểm quần cư đầu tiên trong lịch sử khai thác đất đai Bến Tre. Vì vậy, đây là nơi phát sinh chủ yếu của loại đất phù sa già (đã bị phân hóa) có diện tích lớn nhất ở Bến Tre. Các tầng đất sâu trên 50 cm qua một thời gian canh tác dài, đã bắt đầu bị thoái hoá nghiêm trọng, biểu hiện bằng sự chai cứng trong các tầng đất. Ở một số khu vực khác, có địa hình thấp trũng (bắc Mỏ Cày ven sông Cổ Chiên, ven sông Hàm Luông thuộc huyện Giồng Trôm) đất phù sa hình thành từ trầm tích lòng sông có lẫn nhiều xác hữu cơ từ tầng mặt xuống sâu trên 1 m.

Ở các khu vực phía đông, đất phù sa hình thành trên những trầm tích sông biển của các phẳng giữa giồng (nam Giồng Trôm – nam Mỏ Cày), càng xuống sâu lớp đất sét càng biến dần sang sét pha cát.

Đất phù sa ở Bến Tre có thành phần cơ giới chủ yếu là sét (50 – 60%), trong đó nhiều nhất là khoáng sét Kaolinite (60 – 65%) và Illite (15 – 35%). Đất thường hơi chua ở tầng mặt, càng về phía biển tầng đất sâu càng có phản ứng trung tính hơn. Nhóm đất phù sa ở Bến Tre có độ phì vào loại thấp, nguồn đạm tốt, nhưng nguồn dự trữ lân không đủ. Ở một số khu vực, đất đang có biểu hiện suy thoái, cần được lưu ý bảo vệ và bồi dưỡng.

3/ Nhóm đất phèn:

- Đất phèn tiềm tàng là đất phèn chưa bị hoá chua, chỉ có tầng sinh phèn, chưa có tầng phèn (3.286 ha).

- Đất phèn tiềm tàng trung bình mặn từng thời kỳ, tầng sinh phèn cạn từ 50 – 100 cm (3.286 ha).

Hầu hết đất phèn ở Bến Tre đều thuộc loại phèn hoạt động. Tuy nhiên, tầng phèn thường sâu trên 50 cm, do đó chưa phải là loại đất hạn chế hoàn toàn đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa.

Ở vùng cửa sông Cửu Long, nơi mà điều kiện hình thành các loại trầm tích chứa vật liệu sinh phèn rất hạn chế, nhóm đất phèn chỉ phát sinh cục bộ trên những khu vực đặc biệt có diện tích không lớn. Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy rằng, ở Bến Tre, các vùng đất phèn đều phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ.

Trong hầu hết các dạng phát sinh kể trên, những trầm tích chứa phèn đều được bồi phủ trên mặt bởi lớp trầm tích sông, vì vậy đất phèn ở Bến Tre thường có tầng phèn sâu từ 50 cm đến trên 1 m. Suốt một thời gian dài, bằng các biện pháp đào mương, lên liếp, xẻ kênh để lập vườn, trồng lúa, người dân Bến Tre đã góp phần làm cho toàn bộ các khu vực đất phèn ở đây trở nên thoáng khí, khô ráo.

Ngoài ra, một số nơi ở vùng lợ và vùng mặn (Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú) sự xâm nhập mặn vào đất phèn trong mùa khô làm cho đất vừa mặn, vừa phèn, cây trồng càng khó sinh trưởng.

Đất phèn ở Bến Tre thường có 2 dạng chủ yếu: dạng có hữu cơ xen kẽ trong các tầng đất thường xuất hiện ở các khu vực thấp, trũng ven sông lớn hay kênh rạch chằng chịt, dạng có ít hữu cơ thường gặp ở các khu vực hơi cao nơi có nhiều giồng cát

4/ Nhóm đất mặn

- Đất mặn ít, mặn từng thời kỳ: 37.630 ha.

- Đất mặn trung bình, mặn từng thời kỳ: 25.568 ha.

- Đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ: 14.297 ha.

- Đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn: 19.243 ha.

Chiếm diện tích lớn nhất so với các nhóm đất khác ở Bến Tre, nhóm đất mặn hình thành chủ yếu từ trầm tích hỗn hợp sông - biển trong quá trình lấn biển, do đó mang dấu ấn sâu sắc của tác động biển trong thành phần và tính chất của mỗi loại đất.

Các loại đất mặn ít và trung bình thường xuyên phân bố ở địa hình trung bình từ 0,8 đến 1,2 m cách xa biển và sông lớn. Loại đất này được canh tác khá lâu đời, mùa khô kiệt bị bỏ trống, chế độ bốc hơi rất mạnh, nên đất đã bị kết vón ở độ sâu từ 80 – 100 cm (Ba Tri, Thạnh Phú...).

Loại đất mặn nhiều, mặn từng thời kỳ thường phân bố ở địa hình thấp hơn, khi triều cường nước tràn lên, khiến tầng đất mặt có độ mặn cao rất khó rửa nhanh vào đầu mùa mưa. Ở tầng đất sâu 50 – 80 cm thường có lớp cát xám xanh của bãi thủy triều, có chứa mica và nhiều mảnh vỡ vôi gốc biển.

Loại đất mặn nhiều thường xuyên dưới rừng ngập mặn, phân bố thành dải dọc ven biển Bến Tre, dưới các thảm rừng sú, vẹt, mắm mà ngày nay đã bị tàn phá nhiều, bị ngập thường xuyên do triều, đất thường có độ mặn rất cao, lầy thụt, không thuận lợi cho các loại cây trồng nông nghiệp.

Chiếm diện tích 96.739 ha (tỉ lệ 43,11% diện tích toàn tỉnh) phân bố hầu hết ở các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Tùy theo mức độ và thời gian nhiễm mặn, nhóm đất mặn ở Bến Tre được chia thành 4 loại:chiếm diện tích 15.127 ha (tỷ lệ 6,74% diện tích toàn tỉnh) phân bố rải rác trên toàn Bến Tre, từ vùng ngọt, vùng lợ đến vùng mặn. Căn cứ vào sự xuất hiện tầng phèn (tầng Jarosite) và tầng sinh phèn (tầng Pyrite), cũng như độ sâu xuất hiện của các tầng này, nhóm đất phèn ở Bến Tre được chia làm 2 nhóm phụ.: chiếm diện tích 66.471 ha (26,9% diện tích toàn tỉnh) phân bố tập trung ở các huyện vùng ngọt phía tây (Chợ Lách, Châu Thành, bắc Giồng Trôm và bắc Mỏ Cày).
Đã ban hành
Di tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôiDi tích lịch sử Nhà ông Nguyễn Văn Cung và ngã ba cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   

Image
Bia lưu niệm cây da đôi
Vào cuối tháng 4-1930, chi bộ ĐCSĐD đầu tiên của tỉnh Bến Tre được thành lập tại nhà ông Nguyễn Văn Cung. Chi bộ gồm 10 đảng viên, nguyên là hội viên của chi bộ VNTNCMĐCH trước đó, do đồng chí Nguyễn Văn Ân thay mặt liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre đứng ra thành lập. Đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Liên tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho - Bến Tre công nhận chi bộ do đồng chí Nguyễn Văn An làm Bí thư.

   Chi bộ xã Tân Xuân, sau khi thành lập, đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 tại cây da đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành, thu hút trên 200 người tham dự.

  Tại đây, sau ngày giải phóng (30-4-1975), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã tổ chức dựng bia lưu niệm về sự kiện lịch sử này.

   Di tích đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 985-QĐ/VH, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

Đã ban hành
Cái MơnCái Mơn
&nbsp;

Cái: từ cổ là con rạch. Mơn, theo ý kiến của một linh mục phụ trách lâu năm ở họ đạo Cái Mơn, là do nói trại từ khmum (tiếng khmer có nghĩa là mật ong). Ngày xưa, nơi con rạch này có nhiều tổ ong mật. Cái Mơn là quê hương của Trương Vĩnh Ký, nay là một thị tứ sầm uất của huyện Chợ Lách, có nhà thờ Thiên Chúa lâu đời. Cái Mơn cũng là nơi nổi tiếng sản xuất cây kiểng và các loại cây giống ăn trái của đồng bằng sông Cửu Long.

Cái Mơn nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách.

Đã ban hành
Chợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêmChợ Đêm Bến Tre - Điểm tham quan, mua sắm về đêm
Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Đáp ứng nhu cầu mua sắm, tham quan và thưởng thức ẩm thực về đêm cũng như tạo thêm sản phẩm du lịch để giữ chân du khách khi đến Bến Tre; chợ đêm đã được ngành công thương tổ chức và hoạt động từ những năm 2012. Vị trí chợ đặt tại một nơi vô cùng thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại, ẩm thực và du ngoạn về đêm nằm ở cuối đường Hùng Vương, dọc theo bờ sông Bến Tre thơ mộng, phía sau Trung tâm Thương mại Bến Tre.

Nơi đây có khoảng hơn 200 gian hàng rất nhộn nhịp gồm các mặt hàng may mặc, đồ lưu niệm, trái cây vùng quê, khu ăn uống rất đa dạng và phong phú. Đây là chợ do các hộ kinh doanh tại TP.Bến Tre được nhà nước khuyến khích phát triển các dịch vụ phục vụ bà con, những người có cuộc sống tất bật về ban ngày, đặc biệt là du khách từ các nơi đến Bến Tre và lưu lại; thời gian hoạt động từ 17 giờ chiều hàng ngày đến 22 giờ mỗi đêm.

Khu chợ trên trục đường có nhiều nhà hàng - khách sạn lớn từ một đến ba sao của Bến Tre như: Nhà hàng - khách sạn Hàm Luông, Việt Úc, Hùng Vương, Đại An ,… cùng nhiều khách sạn khác trong khu vực trung tâm thành phố. Những khách sạn này cách khu chợ đêm khoảng vài trăm mét, nên rất thuận tiện cho du khách tản bộ để tham quan mua sắm. Bên cạnh đó, du khách có thể cảm nhận được cảnh đẹp về đêm qua những ánh đèn lung linh hai bên bờ sông được nối liền bởi chiếc cầu Bến Tre xinh đẹp, với hình dáng vừa hiện đại vừa thơ mộng làm sao; du khách có thể đi dạo trên cầu để ngắm nhìn cảnh về đêm của thành phố và hít thở không khí trong lành từ miền quê sông nước sẽ làm cho du khách có nhiều cảm giác thư giản, thoải mái khi lưu trú lại Bến Tre về đêm.

Mặt khác, cái thú đi chợ của khách du lịch là mua sắm, chủ yếu là nhận cái cảm giác được dạo quanh ngắm nhìn những sản phẩm từ cuộc sống của người dân tại nơi đây. Với lòng hiếu khách của những người phục vụ mua bán, du khách có thể chọn cho mình một món quà lưu niệm để về tặng cho người thân hay làm kỷ niệm cho mình trong một chuyến đi du lịch về quê hương xứ dừa Bến Tre, hoặc du khách có thể mua trái cây của những nhà vườn trực tiếp đem đến chợ để bán mà du khách tự chọn, thưởng thức tại chỗ hay đem về khách sạn.

 

Hoạt động sôi nổi của chợ đêm Bến Tre

Nhiều lần, chúng tôi bắt gặp những vị khách nước ngoài vào những cửa hàng chợ đêm này để tham quan và mua sắm; mặc dù ngôn ngữ bất đồng, mô tả hàng hóa bằng tay nhưng với sự thông cảm và kinh nghiệm lẫn nhau giữa du khách và người bán, họ cũng mua được những món hàng mà mình thích. Họ trao đổi thông tin về hàng hóa rồi đến cách tính tiền cũng khá thú vị, chỉ một cái máy tính casio và vài thao tác cộng, trừ, nhân, chia là hai bên đều hiểu nhau một cách chính xác số tiền phải trả và phải thối lại là bao nhiêu. Đúng là một giao dịch thú vị và tạo ra những cảnh mà du khách và người dân địa phương cười nghiêng cười ngửa rất dễ thương và thân thiết.

Ngoài ra, khách du lịch đến đây còn có thể thuê xe đạp tại khách sạn để tự do dạo vòng quanh khu trung tâm thương mại và chợ đêm vui nhộn này. Vì đây là khu vực chợ cấm xe tải nên rất an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Một tốp các bạn trẻ cùng đi dạo ghé vào mua những trái cây bán ở đầu chợ vừa đi vừa ăn, nói cười rất vui vẻ, lâu lâu lại ghé vào một cửa hàng thử một chiếc áo, một cái nón hoặc nhờ bạn bè chụp ảnh tạo dáng xinh tươi. Khi đi dạo gần hết chợ, đôi chân cũng mỏi dần thì khu ăn uống giải khát ở cuối chợ sẽ giải quyết cái bụng rỗng về khuya cho du khách; đây là điểm dừng chân thưởng thức các món ăn đặc sản giữa không khí ồn ào của chợ bến không gian tĩnh lặng của dòng sông Bến Tre đang êm đềm trôi nhè nhẹ.

Thật thú vị làm sao!!!

Đó cũng là sản phẩm du lịch vừa phục vụ cho bà con sở tại, vừa phục vụ vui chơi, giải trí, mua sắm cho du khách thập phương đã góp phần thêm cho việc phát triển du lịch tỉnh nhà, nhất là việc lưu giữ khách ở lại dài ngày tại xứ dừa - dáng đứng Bến Tre.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

Từ thành phố Bến Tre, theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

dinh-phu-tu-va-co-thu-bach-mai.png
 

Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9.695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu… Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,… ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng.

Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai).

Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…

Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Sương Nguyệt AnhSương Nguyệt Anh
&nbsp;

    Sương Nguyệt Anh, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Khuê (cũng có tài liệu viết là Nguyễn Thị Xuân Khuê), sinh ngày 1 tháng 2 năm Giáp Tí (1864) tại An Bình Đông (nay là xã An Đức, huyện Ba Tri), là con thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Kế thừa tiết tháo của người cha, Ngọc Khuê đã sớm bộc lộ cả tài năng lẫn nhân cách.

   Năm 1888, Nguyễn Đình Chiểu từ trần, lúc ấy Ngọc Khuê 25 tuổi, đang ở với người anh thứ ba là Nguyễn Đình Chúc, tham gia dạy học trò cùng anh. Có một viên tri phủ cậy mối hỏi, nhưng Ngọc Khuê không ưng. Về sau cùng gia đình anh, chuyển sang Cái Nứa (Mỹ Tho), rồi dời về Rạch Miễu ở nhờ nhà ông nghè Trương Văn Mân. Ở đây, Ngọc Khuê kết duyên cùng với một phó tổng sở tại góa vợ tên là Nguyễn Công Tính và sinh được một người con gái đặt tên là Vinh (cô này về sau lấy ông Mai Lương Ngọc sinh ra bà Mai Huỳnh Hoa). Khi con được hai tuổi, thì ông Tính mất. Bà ở vậy nuôi con và mở trường dạy chữ Nho cho học trò trong vùng để sinh sống. Ít lâu sau, bà lên Sài Gòn, làm thơ, viết báo đăng trên tờ Nữ giới chung (Tiếng chuông của nữ giới do ông Trần Văn Chim làm chủ bút. Một thời gian sau, bà thay ông Chim làm chủ bút một tờ báo tại thành phố lớn. Do đó, ở Bến Tre có câu ca:

Đem chuông lên đánh Sài Gòn

Để cho nữ giới biết con ông Đồ.

   Trong khi đang làm báo ở Sài Gòn, bà bị đau mắt, phải về nhà của người em thứ bảy là Nguyễn Đình Chiêm ở Mỹ Chánh Hòa (Ba Tri) để chạy chữa, nhưng bệnh tình không giảm. Bà mất tại đây ngày 20-1-1921. Mộ bà lúc đầu chôn ở Mỹ Nhơn, về sau được đồng bào dời về bên cạnh mộ của hai cụ thân sinh bà tại làng An Đức, Ba Tri, nằm trong khu mộ Nguyễn Đình Chiểu ngày nay.

   Sinh ra giữa lúc tiếng súng xâm lăng của Pháp bắt đầu nổ trên quê hương, Nguyễn Thị Ngọc Khuê từng chứng kiến những nỗi thống khổ của nhân dân và bộ mặt thật của kẻ thù dân tộc. Bản thân gia đình Nguyễn Đình Chiểu cũng cùng chung số phận ấy. Do đó, thơ của Sương Nguyệt Anh, bên cạnh tính chất trang nghiêm, nho nhã vẫn hàm chứa nỗi niềm thiết tha, ưu tư sâu lắng đối với dân với nước. Ba câu cuối bài thơ tám câu Hội Minh Lang nói lên phần nào niềm thao thức đó của bà:

"Xét phận thần dân chốn lửa than

Nước mắt cô cùng trời đất biết

Biển dâu một cuộc nghĩ mà thương"

   Bên cạnh sự đoan trang, nền nếp, bà vẫn có một tác phong giao du phóng khoáng, có quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp xã hội. Thời con gái cũng như khi đã có chồng con, hay lúc góa bụa, bà vẫn giữ cung cách giao tiếp tự nhiên, cùng đàm luận, họa thơ với những người bạn nam giới như các ông Trần Khải Sơ, Hồ Bá Nguyên, Phủ Học, thầy Bảy Nguyện, và khi cần vẫn biết chối từ lời cầu hôn của kẻ quyền quý để giữ trọn ý nguyện của mình.

   Là một người thông Nho, giỏi thơ văn, bà đã làm nhiêu bài bát cú để vịnh cảnh và những bài thơ họa vận với bạn bè, trong đó có những bài vịnh như: Vịnh bạch mai, Tặng sư cô, Hội Minh Lang, Thay lời vợ thầy thuốc, Đoan ngọ nhật điếu Khuyất Nguyên, Tức sự, Tặng biệt ông Trần Khải Sơ, Họa bài ông Hồ Bá Xuyên hay chánh bái Liễu, Họa bài ông Phủ Học, Họa bài thầy Bảy Nguyên. Các cụ già ở Ba Tri còn kể rằng bà có dịch quyển tiểu thuyết Trung Hoa Yên Sơn ngoại sử sang thể lục bát, nhưng nay đã tuyệt bản.

   Kế thừa truyền thống gia đình, bà thích làm thơ chữ Nôm hơn là làm thơ chữ Hán. Thơ Sương Nguyệt Anh không đặc sắc, nhưng lời lẽ thanh thoát, dung dị. Tên tuổi của bà được nhắc nhiêu trên văn đàn công khai ở Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX. Tên bà được đặt cho một con đường ở quận 1, rợp mát bóng cây dầu và một ngôi trường ở quận 10 (TP. Hồ Chí Minh).

Đã ban hành
Cầu Cá LócCầu Cá Lóc

<br />

Cầu bê – tông cốt thép bắc qua rạch Cá Lóc (rạch này ngày xưa có rất nhiều cá lóc) trên đường tỉnh 885 từ thị xã Bến Tre đi Ba Tri.

Đã ban hành
Nguyễn Thị Định (1920-1992)Nguyễn Thị Định (1920-1992)
Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương.

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, cô Ba Định ngay từ thuở mới lớn đã chịu ảnh hưởng của phong trào yêu nước và cách mạng của địa phương. Được người anh ruột trực tiếp dìu dắt, lúc 16 tuổi cô đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào Đông Dương đại hội, như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của một số cường hào địa phương. Năm 1938, được kết nạp vào ĐCSĐD.

Sau cuộc khởi nghĩa năm 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện. Chồng bà cũng bị địch bắt, bị đày đi Côn Đảo, rồi sau đó chết trong nhà tù, còn bà thì bị đưa đi giam giữ ở “căng” Bà Rá. Năm 1943, cùng một số đồng chí khác, bà thoát khỏi nhà tù thực dân, trở về hoạt động ở huyện Châu Thành và tham gia lãnh đạo quần chúng giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre, tháng 8-1945.

NguyenThiDinh.jpg

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh.

Năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện (1). Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Trong những năm sau hiệp định Genève (7-1954), Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bản thân bà đã bao lần chạm trán với cái chết, với bẫy giăng sẵn của địch, nhưng nhờ sự bình tĩnh và trí thông minh, nhờ sự đùm bọc, che chở của nhân dân, bà đã thoát hiểm. Kẻ địch đã từng treo giải thưởng về cái đầu của bà với giá 10.000 đồng (bạc của chính quyền Sài Gòn) vào những năm 60.

Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8, Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” , thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam (4-1970).

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ, Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt,  giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Nhà sử học lão thành Trần Văn Giàu trong lời đề tựa tập sách Nhớ chị Ba Định đã viết: “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần".

Ngoài hàng chục huân chương cao quý, Bà còn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.

 

Đã ban hành
Trần Văn An (1905 – 1971)Trần Văn An (1905 – 1971)
&nbsp;

Image
Trần Văn An (1905-1971)
Sinh trong một gia đình nhà nho ở làng Tân Xuân, huyện Ba Tri, Trần Văn An khi lớn lên vừa theo học chữ Hán, vừa học cả nghề thuốc của cha.

   Tư chất thông minh lại ham học, nên ngoài vốn liếng hiểu biết từ sách vở và từ kinh nghiệm của người cha truyền lại, Trần Văn An còn tìm cách mua thêm sách báo từ Sài Gòn về tự học, tự tra cứu. Đến tuổi trưởng thành, có dịp đi đây đi đó chữa bệnh cho nhiều người, ông lại có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúx với nhiều đối tượng xã hội khác, trao đổi với họ về tình nhình đất nước, về thời cuộc, chuyền tay nhau đọc những sách báo yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ.

   Năm 1927, ông cùng với một số bạn hữu gia nhập tổ chức VNTNCMĐCH ở xã Tân Xuân. Tiệm thuốc bắc Chẩn Tế Đông đại dược phòng của cha ông được làm nơi hội họp, liên lạc.

   Đầu năm 1930, khi ĐCSĐD ra đời, đồng chí Nguyễn Văn Trí, trong ban cán sự Tỉnh uỷ Mỹ Tho đến Ba Tri, cùng bàn với Trần Văn An thành lập chi bộ Tân Xuân, do Trần Văn An làm Bí thư. Đây là chi bộ ĐCS đầu tiên của tỉnh Bến Tre.

   Ngày 1-5-1930, để kỷ niệm ngày Quốc tế lao động, các đồng chí ở chi bộ Tân Xuân đã treo cờ búa liềm trên ngọn cây đa đôi ở đầu xã và tổ chức một cuộc biểu tình gần 200 quần chúng tham gia. Trần Văn An đã đứng ra hô hào đồng bào đấu tranh chống lại bọn cường hào đòi giảm sưu, giảm thuế cho nông dân. Sau cuộc biểu tình này, bọn tay sai đánh hơi thấy có hoạt động của ĐCS ở địa phương, nên ra sức truy lùng. Trần Văn An phải tạm lánh qua vùng Châu Bình, Ba Mỹ để tiếp tục hoạt động.

   Tháng 6-1930, Trần Văn An được bầu vào Liên tỉnh ủy Mỹ Tho - Bến Tre. Khi địch đánh phá, cơ sở Đảng ở Bến Tre tan rã, ông lên Sài Gòn, đến tháng 10-1932 thì bị địch bắt và bị giam ở Khám Lớn đến năm 1935. Ra từ, Trần Văn An trở về Bến Tre tiếp tục hoạt động, gầy dựng lại phong trào.

   Năm 1936, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp lên cầm quyền, đã có chủ trương nới rộng một số chính sách cai trị ở các thuộc địa như ân xá tù chính trị, giải quyết một số quyền lợi cho người lao động. Lợi dụng tình hình chính trị thuận lợi, ĐCS chủ trương chuyển một số hoạt động bí mật sang hình thức công khai, chuẩn bị cho Đông Dương đại hội. Trần Văn An cùng một số đồng chí khác như Bùi Lương, Nguyễn Văn Bích thành lập chi cục Đông Phương thư xã tại thị xã Bến Tre và tại các tỉnh Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú.

   Năm 1939, thực dân Pháp mở đợt khủng bố mới, Trần Văn An bị sa lưới mật thám và bị kết án khổ sai 20 năm, đày ra Côn Đảo.

   Sau ngày CMT8-1945, cùng nhiều tù nhân khác ở Côn Đảo được rước về đất liền. Về lại Bến Tre, bắt tay ngay vào việc xây dựng phong trào và chuẩn bị thực lực để kháng chiến.

   Tháng 10-1947, được bầu làm Bí thư Huyện ủy Ba Tri, sang năm được bầu vào Tỉnh ủy, trực tiếp phụ trách báo Đoàn kết. Năm 1951, được điều về công tác ở miền Tây cho đến Hiệp định Genève (7-1954) mới trở lại Bến Tre.

   Trong thời kỳ địch mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng khốc liệt trên đất Bến Tre, Tỉnh uỷ chủ trương đưa số già yếu, bị lộ, không còn điều kiện hoạt động hợp pháp tạm thời đi “điều lắng” ở Sài Gòn. Đến tháng 11-1965, theo yêu cầu của Tỉnh Bến Tre, ông trở về tỉnh công tác. Năm 1965, vì tuổi già sức yếu, lại phát bệnh tim và bại liệt. Tỉnh ủy quyết định đưa ông về điều trị và điều dưỡng ở bệnh xá dân y của tỉnh. Trong những năm 1965 – 1967, cường độ chiến tranh ngày càng khốc liệt. Địch ra sức tiến hành "bình định cấp tốc" làm cho ta mất đất, mất dân nghiêm trọng. Các cơ quan dân, chính, Đảng, kể cả cơ sở hậu cần, bệnh viện phải chuyển về rừng ngập mặn ở Thạnh Phú. Trong một trận càn của địch vào xã Thạnh Phong, chúng đã bắn chết ông ngày 16-4-1971.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Khu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An KhangKhu du lịch sinh thái vườn trái cây Phú An Khang
Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Khu du lịch sinh thái Phú An Khang tọa lạc tại 319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre, trên diện tích hơn 3 hecta cây ăn trái, vườn dừa. Với cách xây dựng sáng tạo mang nét đặc trưng riêng, đặt nhu cầu của du khách lên hàng đầu luôn làm hài lòng du khách. Phú An Khang có các hoạt động du lịch đa dạng như: du lịch sông nước, du lịch sinh thái, khám phá miệt vườn, tát mương bắt cá, câu cá giải trí.

Ngoài ra, Phú An Khang còn là nơi lý tưởng cho những cặp uyên ương đang xây tổ ấm chọn làm nơi se duyên kết tóc. Nhà hàng với sức chứa gần 1000 khách, là trung tâm hội nghị sang trọng với không gian được trang trí thiết kế theo phong cách châu Âu. Đến nơi đây, du khách có thể đi dạo mát trên những con đường mòn rợp bóng dừa, sẽ ngạc nhiên khi bắt gặp những luống rau xanh tươi trong vườn. Vì tiêu chí của nhà hàng là luôn luôn sạch nên rau được trồng không phân bón và để  phục vụ tại chỗ. Những vườn hoa luôn tạo cảm giác thư thả với muôn sắc màu thắm tươi. Du khách sẽ không khỏi bất ngờ khi được tận tay câu cá trong hồ, cảm giác cá cắn câu thật là thích thú. Đến khi mệt thì có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà mái lá được xây khắp khu vườn. Có thể yêu cầu đờn ca tài tử phục vụ tận nơi với những câu hát ngọt ngào chứa chan trìu mến. Thật là vô cùng thú vị đúng với cái nghĩa vui thú điền viên.

Đặc biệt, Phú An Khang thường xuyên tổ chức các cuộc thi nấu ăn như gói bánh ít trần thịt vịt, đổ bánh xèo,... luôn thu hút đông đảo các đầu bếp có tiếng tham gia. Với diện tích khá rộng thích hợp các chương trình team building, cắm trại,.... Tạo nên không khí sôi nổi hào hứng, du khách chẳng những được đến vui chơi thoải mái mà còn được thưởng thức các món ăn dân dã nóng hổi mới ra lò. Còn gì bằng khi được tận tay hái và thưởng thức trái cây tại chổ trong vườn. Từ sơri cho đến dâu, cốc, ổi, cam, dừa,.... Nếu về Phú An Khang về đêm càng tuyệt đẹp hơn nữa với ánh đèn lung linh trong vườn thật lãng mạn. Nếu đi với gia đình và trẻ nhỏ bạn cứ yên tâm Phú An Khang có khu vui chơi dành cho trẻ em, bạn có thể thưởng thức món ăn ngon mà con cái lại được chơi đùa.

Phú An Khang một điểm đến vô cùng hấp dẫn luôn chứa những điều mới lạ thú vị. Với đội ngũ nhân viên nhiệt tình, hiếu khách trong trang phục áo bà ba mọc mạc quê mùa tôn lên nét hồn quê xanh ngát.

 

 

Khu du lịch vườn trái cây sinh thái Phú An Khang

319 ấp Phú Lợi, xã Bình Phú, Tp. Bến Tre

ĐT: 0753 83 8686 - 08 3898 2584 - 08 3518 0708

Website: Phuankhangtravel.com.vn

Email: info@phuankhangtravel.com.vn

Facebook: https:/www.facebook.com/phuankhangtravel

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer