Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksThông tin giới thiệu

 
Thông tin giới thiệu
 
Anh hùng lực lượng vũ trang Khấu Trung Gương – biệt danh trong chiến đấu là Dũng Nhỏ, Sáu Dũng – được xếp hạng đặc biệt ở tỉnh Bến Tre. Gia đình ông thuộc ba thế hệ anh hùng. Bà ngoại ông, bà Nguyễn Thị Đầy, mẹ ông bà Lê Thị Nhung (hy sinh năm 1967) cùng ở xã Phước Hiệp huyện Mỏ Cày. 
Đồng Văn Cống Xã Tân Hào, Huyện Giồng Trôm. Lê Dũng Xã Phong Mỹ, Huyện Giồng Trôm. Nguyễn Xuân Ôn Xã Bình Khánh, Huyện Mỏ Cày 
 
 
Cuối năm 1967, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh chỉ đạo lực lượng Đặc công củng cố chất lượng và phát triển nhanh về số lượng để chuẩn bị đón thời cơ tham gia Tổng tiến công... 
Huân chương sao vàng 07 Huân chương Hồ Chí Minh 1.532 Huân chương Độc lập 69 Huân chương Thành Đồng Huân chương giải phóng ... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
Về thăm thành phố bên sông Bến TreVề thăm thành phố bên sông Bến Tre
Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Thành phố Bến Tre ngày nay, thị xã Bến Tre trước đây, là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Bến Tre, nằm bên bờ sông cùng tên Bến Tre. Từ xưa, hệ thống giao thông thủy, bộ nơi đây đã thuận lợi.

Về đường thủy, từ thành phố Bến Tre tàu thuyền có thể đi thẳng một mạch đến thành phố Hồ Chí Minh, đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc các trung tâm kinh tế khác ở đồng bằng Nam Bộ, và có thể ngược dòng sông Cửu Long đến tận Phnom Pênh, thủ đô của nước Campuchia.

Đến trung tâm thành phố Bến Tre, du khách sẽ cảm nhận những nét đẹp hữu tình của một thành phố tỉnh lẻ nằm bên dòng sông thơ mộng.

Điểm dừng chân đầu tiên tham quan là Công viên tượng đài Đồng Khởi, nằm trên đại lộ Đồng Khởi (đoạn Phường 4), được khánh thành vào ngày 17/01/1995, là một trong những tượng đài tiêu biểu, mang ý nghĩa lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân xứ dừa.

Ngay chính giữa tượng đài là hình ảnh một tàu lá dừa vươn cao, bị bom đạn bắn rách tả tơi, nhưng vẫn vươn lên thẳng tắp. Phía trước là hình ảnh người phụ nữ tóc dài, áo bà ba giơ cao ngọn lửa, là biểu trưng đội quân tóc dài trong những năm   kháng chiến. Bên cạnh là bức tượng những thế hệ người dân tham gia chiến đấu, bất kể là già trẻ, gái trai đều ôm trong tay vũ khí tiến thắng về phía trước. Phía sau là bức phù điêu về đội quân tóc dài huyền thoại, xuất hiện từ cao trào Đồng Khởi và có thể xem là độc nhất vô nhị trên thế giới.

 

Tham quan tượng đài Trần Văn Ơn nằm ở phía Tây hồ Trúc Giang, tượng làm bằng đồng, cao 3m. Anh Trần Văn Ơn quê xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, Bến Tre, tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trong những năm 1950 và hy sinh ngày 09/01/1950 tại Sài Gòn. Ngày anh hy sinh được chọn là “Ngày Học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Cạnh công viên tượng đài Trần Văn Ơn là hồ Trúc Giang rộng chừng 2 ha, nước trong xanh biếc. Lý giải về hồ Trúc Giang, theo người xưa kể lại: vào thời Pháp thuộc nơi đây được đào lên để lấy đất lấp cho cả vùng đất Phường 3. Kể từ đó mà hình thành nên cái hồ nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ.

Theo dân gian hồ Trúc Giang còn có tên là hồ “Chung Thủy”. Dạo cảnh quanh bờ hồ du khách sẽ ấn tượng, thích thú cảnh đẹp nơi đây, hít thở không khí trong lành, lắng nghe tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những hàng cây soi bóng bên hồ; những ngày hè, hoa phượng vĩ nở đỏ rực ven hồ trông rất trữ tình lãng mạn, nên thơ, rồi du khách sẽ cảm nhận sự thanh bình của thành phố xứ dừa, một thành phố trẻ đầy thơ mộng.

Xung quanh hồ hiện nay vẫn còn tồn tại những hàng me tây, hàng phượng vĩ cổ thụ và một ngôi trường nổi tiếng có từ khá lâu đời, mà trước năm 1975 có tên gọi là Trường Trung học Kiến Hòa, rồi đổi thành Lạc Long Quân, sau năm 1975 đổi thành Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trường THPT chuyên Bến Tre.

Hồ Trúc Giang đã hai lần được cải tạo, nhưng không vì thế mà làm mất đi vẻ đẹp vốn có tự nhiên. Nó vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như ngày nào. Người dân xứ dừa quê tôi dù đi đâu, ở đâu, xa quê hương bao lâu, vẫn luôn nhớ mãi hình ảnh mỗi khi có làn gió nhẹ thổi qua làm mặt nước hồ lay động nhè nhẹ, yên ả, nên thơ, xao động lòng người.... Những người con về thăm lại quê hương, không ai quên dạo lại quanh hồ, hình như ai cũng mơ về vĩ vãng, muốn mình nhỏ đi như thuở cặp sách, trốn học, nhảy tắm dưới hồ...

Tham quan Bảo tàng Bến Tre tại số 146 đường Hùng Vương, phường 3. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp với những cánh cửa hình vòm. Mặt chính ngôi nhà hướng về phía sông Bến Tre, mặt sau hướng về đường Cách mạng tháng Tám, một trong những con đường nhộn nhịp nhất của thành phố Bến Tre. Bảo tàng có khuôn viên rộng, xung quanh có những cây cổ thụ tỏa bóng mát cùng nhiều hoa kiểng quý giá, được bày trí rất đẹp.

Tại toà nhà Bảo tàng này từng diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của quân dân Bến Tre. Trước 1975, toà nhà này là Dinh Tỉnh trưởng Kiến Hoà, là cơ sở hoạt động bí mật của chiến sĩ tình báo cách mạng Phạm Ngọc Thảo với cương vị Tỉnh trưởng Kiến Hòa, giai đoạn 1960–1962.

Toàn bộ các phòng và hành lang của ngôi nhà đều được sử dụng để trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ; trưng bày Di chỉ khảo cổ Giồng Nổi được phát hiện ở ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre, khai quật vào các năm 2004, 2005, 2006.
Ngoài những phòng trưng bày trong nhà, Bảo tàng Bến Tre còn có khu trưng bày ngoài trời khá rộng và nhà trưng bày thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tỉnh Bến Tre.

Có thể nói Bảo tàng Bến Tre nằm ở vị trí thuận lợi về mọi mặt, khuôn viên và quan cảnh xung quanh rất đẹp, là điểm hẹn của nhân dân, sinh viên, học sinh, khách du lịch trong và ngoài tỉnh muốn tìm hiểu về xứ dừa. Bảo tàng vẫn ngày ngày mở cửa đón khách tham quan để quảng bá và giáo dục truyền thống, lịch sử vùng đất Bến Tre.

 

Cách Bảo tàng Bến Tre vài trăm thước là Tượng đài Chiến thắng trên sông, được xây dựng tại Công viên Hùng Vương, chạy dọc bờ sông Bến Tre, nối dài từ cầu Cái Cá đến cầu Kiến Vàng (thuộc địa phận Phường 5) và đối diện với Khách sạn 3 sao Hàm Luông.

Tượng đài xây dựng nhằm ghi dấu, tưởng niệm những chiến công hiển hách, thần kỳ của những anh hùng đội đặc công thủy Bến Tre năm xưa, đã hy sinh anh dũng góp phần giải phóng thị xã Bến Tre, giải phóng đất nước, mà tiêu biểu trong đó là anh hùng Hoàng Lam. Vì thế, mà nơi đây còn gọi là Công viên Hoàng Lam hay tượng đài “Cưỡi sóng Hàm Luông nhận chìm hạm Mỹ”.

Hai cây cầu đẹp Bến Tre 1 và Bến Tre 2, đều nằm trên đường Hùng Vương. Về đêm du khách có thể thư giãn với thú vui câu cá trên sông Bến Tre.

Từ đỉnh cầu nhìn sang phía 2 bờ sông ngắm nhìn một góc thành phố xứ dừa về đêm, với những ánh đèn từ đường phố, từ những ngôi nhà nằm hai bên bờ sông, xa xa lấp lánh ánh đèn của tàu, thuyền neo đậu, xuôi ngược trên sông.

Thỉnh thoảng, một làn gió nhẹ thoảng qua làm mặt nước sông lay động, tạo nên những đợt sóng lăng tăng, nhấp nhô, lách tách vỗ nhẹ vào đôi bờ. Ở ven bờ hàng bần cũng đung đưa như vẫy tay mến chào quý khách.

Tất cả những hình ảnh đáng yêu ấy đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo nên bức tranh đẹp làm xao động lòng người, du khách sẽ cảm nhận được nét đẹp huyền ảo, hữu tình, để rồi nhớ mãi đến sông nước xứ dừa Bến Tre, du khách sẽ trở lại lần nữa với bạn bè thân hữu.

Qua cầu Bến Tre 1 và Bến Tre 2, hay tại trung tâm thành phố Bến Tre du khách có thể liên hệ với các đơn vị lữ hành như Du lịch Hàm Luông, Du lịch Nam Bộ, Du lịch Bảo Duyên, Công ty cổ phần Du lịch Bến Tre để lựa chọn tour du thuyền, xuồng chèo hay xe đạp, xe gắn máy, xe lôi máy,… đến các điểm du lịch sinh thái miệt vườn hấp dẫn tại các xã Mỹ Thạnh An, Phú Nhuận, Nhơn Thạnh; tham quan công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, làm kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng; thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt của vùng sông nước miệt vườn Bến Tre. Nổi tiếng và ngon nhất là bưởi da xanh trồng trên đất Mỹ Thạnh An hay các món ăn dân dã, bình dị sẽ làm du khách hài lòng.

Tại trung tâm thành phố, du khách có thể thả bộ ngắm cảnh trên con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông Bến Tre kéo dài từ Phường 1, 2, 3, 5, 7 đến tận Bến phà Hàm Luông cũ.

Đây là một trong những con đường đẹp, có hàng cây xanh bóng mát thẳng tắp, nhiều du khách đến đây cứ trầm trồ mãi. Hai bên bờ sông được làm bờ kè, hình thành nên công viên có tên gọi như tên con đường.

Dạo cảnh vào buổi sáng, chiều hay về đêm trên công viên Hùng Vương, hít thở không khí trong lành, thoải mái, ấm áp, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn được cái đẹp bình dị, yên ả, nên thơ, thú vị bên dòng sông xứ dừa.

Về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo, du khách có thể tham quan đình An Hội đối diện với Trung tâm Thương mại của tỉnh (thuộc phường 2). Theo lịch sử, đình An Hội có từ năm 1845, là đình làng An Hội ngày xưa – cội nguồn hình thành thị xã Bến Tre và thành phố Bến Tre hôm nay.

Hàng năm đình An Hội đều tổ chức Giỗ hội Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), lễ hội Kỳ yên, ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và các nghi thức cúng dân gian khác của đình.

Tại thành phố Bến Tre còn hiện hữu đa dạng lối kiến trúc của các tôn giáo như chùa Viên Minh - tọa lạc tại (Phường 2), chùa Viên Giác (Phường 5), Nhà thờ Bến Tre (Phường 3), Cao Đài Ban chỉnh Nguyễn Ngọc Tương (Phường 6).

 

Thú vị nhất là du khách còn được ngắm nhìn cây bạch mai trên 300 tuổi ở đình làng Phú Tự, xã Phú Hưng, cách thành phố Bến Tre 3 km. Đình Phú Tự đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Đến nay cũng không ai biết được chính xác về thời gian xây dựng đình, chỉ biết đình được xây dựng trước khi xảy ra cơn bão năm Giáp Thìn 1904. Hàng năm, vào giữa tiết lập xuân và tiết thanh minh (từ rằm tháng Giêng đến rằm tháng hai âm lịch), cây bạch mai ở đình Phú Tự lại nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm ngát. Đặc biệt, mai chỉ nở về đêm.

Cây bạch mai cổ thụ này, là một trong ba cây bạch mai có tuổi thọ cao nhất nước, trên 300 năm, còn được mệnh danh là “cổ thụ mai, thần mai, danh mộc bạch mai”. Cây bạch mai đã sinh sôi, nảy nở, mọc thành bụi dày với khoảng 50 thân cây lớn nhỏ, cao 5 - 6m, trong đó có 16 thân cây lớn, đường kính từ 20 - 30cm. Các nhánh mai lớn đều vươn mình ra, trong tư thế nằm ngang mặt đất, dài từ 7 - 8m, tỏa thành một tán rộng. Nơi đây là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới văn nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh.

Đến xứ dừa Bến Tre từ vòng xoay Tân Thành (trước đây là ngã ba Tân Thành), du khách sẽ bắt gặp đường tránh Quốc lộ 60, đây là con đường khá quy mô, sang trọng.

Con đường này có những lối rẽ tắt vào nội ô thành phố; dẫn đến cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc – Mỏ Cày Nam – Thạnh Phú – Chợ Lách. Hay đi thẳng qua cầu Bến Tre 2 về huyện Giồng Trôm - Ba Tri.

Cũng từ vòng xoay Tân Thành rẽ trái đi thẳng là Đại lộ Đồng Khởi, là con đường chính dẫn vào trung tâm thành phố Bến Tre được cải tạo mở rộng, bố trí trồng cây xanh, trang trí cây cảnh – hoa kiểng rất đẹp.

Về đêm tại trung tâm thành phố Bến Tre, du khách có thể mua sắm tại Chợ đêm nằm bên bờ sông Bến Tre thuộc Phường 2. Hay thưởng thức đặc sản chè nước cốt dừa, sinh tố dừa, cà phê sân vườn, phố cà phê; khám phá các món ăn đặc sản, dân dã, đồng quê tại các điểm ẩm thực hai bên đường tránh quốc lộ 60. Và du khách sẽ chiêm ngưỡng cảnh đẹp về đêm, mua qùa lưu niệm hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa, đặc sản kẹo dừa, bánh tráng, bánh phồng,… tại các cơ sở và đại lý nằm trên Đại lộ Đồng Khởi.

Về thăm lại thành phố Bến Tre, sẽ thấy có nhiều thay đổi trong phát triển, đầu tư xây dựng và kiến thiết. Các lối kiến trúc trong xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, phố xá, nhà cửa,… đã góp phần đưa thành phố Bến Tre hoàn thiện dần thành phố “xanh – sạch – đẹp - thân thiện với môi trường”.

Đến đây du khách sẽ bắt gặp những người dân đôn hậu, chân thành, thân thiện, hiếu khách và giàu lòng nhân ái, biết trân trọng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đất nước, để xây dựng quê hương xứ dừa ngày càng giàu đẹp, thân thiện hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Lễ hộiLễ hội
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú.
Bến Tre không có nhiều lễ hội lớn, hấp dẫn như các nơi khác. Lễ hội lớn nhất và tưng bừng nhất là lễ hội Nghinh Ông của cư dân ven biển ở xã Bình Thắng, huyện Bình Đại và các huyện Ba Tri và Thạnh Phú. Hàng trăm tàu thuyền đánh bắt cá của huyện, của tỉnh và các tỉnh bạn như Tiền Giang, Trà Vinh thậm chí các tỉnh xa hơn nữa, trong khi hành nghề thuận tiện vẫn tập trung về nơi cửa Đại cùng ngư dân Bến Tre tham gia lễ hội Nghinh Ông.

Lễ hội thứ hai mang ý nghĩa văn hóa - lịch sử là lễ hội Nguyễn Đình Chiểu,  (nay là Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre) tổ chức vào ngày 1 tháng 7 hàng năm tại cụm đền thờ, mộ nhà thơ (nay là Khu di tích Đền thờ và Lăng mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu) tại xã An Đức, huyện Ba Tri với hàng ngàn người tham dự. Thường trong dịp này, có những đoàn khách của tỉnh bạn, của một số ngành Trung ương về cùng tham dự. Từ 1975 sau ngày giải phóng đến nay, chính quyền địa phương với sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa đã đầu tư công sức, tiền bạc để tôn tạo khu vực này thành một di tích lịch sử có giá trị mang ý nghĩa giáo dục về tinh thần yêu nước, thương dân. Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là một nhà thơ có tầm cỡ của nửa sau thế kỷ XIX, mà còn là một nhà giáo, một thầy thuốc giàu tâm huyết.

Ngoài ra ở Bến Tre còn có những lễ hội hướng về truyền thống cách mạng như: lễ hội Đồng Khởi, được tổ chức ngày 17 tháng 1 hằng năm, với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, đồng thời cũng thu hút một số lượng khách đáng kể của các tỉnh thành bạn cùng tham dự.

Đã ban hành
THỜI KỲ CHỐNG MỸ (1954-1975)THỜI KỲ CHỐNG MỸ (1954-1975)
 

Ngày 20/1/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Ngày 20/7/1961, Hội Văn nghệ Giải phóng, một tổ chức văn nghệ cách mạng tập hợp tất cả những người làm công tác văn học nghệ thuật trong miền, được thành lập. Cuối năm 1961, Đoàn Văn công giải phóng ra đời. Tạp chí Văn nghệ giải phóng số đầu tiên xuất bản vào đầu 1962. Tất cả những sự kiện ấy đều có tác động trực tiếp đến sự phát triển của văn học vùng giải phóng miền Nam nói chung và văn học Bến Tre nói riêng.

Để chào mừng ngày Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra mắt đồng bào, báo Chiến thắng lần đầu tiên in typô và tăng số trang, do đó phần dành cho văn nghệ trên tờ báo cũng "ưu tiên" hơn trước. Tuy nhiên, phải chờ đến tháng 10 -1961 khi tập san Văn nghệ Bến Tre ra mắt độc giả, thì đội ngũ làm văn hóa văn nghệ trong tỉnh mới có được “đất dụng võ" cho ngành mình.

Số báo đầu tiên in typô với lượng phát hành ba ngàn bản, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của văn nghệ. Để phù hợp với tình hình, tập san Văn nghệ Bến Tre vẫn ra định kỳ hàng tháng, nhưng mỗi số mang một tiêu đề khác nhau như: Mặt trận Gò Đìa, Em bé thị xã...

Từ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tập san Văn nghệ Bến Tre còn chủ trương xuất bản tập Văn nghệ xung kích, khổ nhỏ, ít trang, gọn nhẹ, nhằm phản ánh kịp thời và phổ biến nhanh chóng đến tay người đọc.

Tính từ khi ra mắt đến tháng 4-1975, tập san Văn nghệ Bến Tre xuất bản được 92 số. Tờ báo phát hành rộng rãi, được đưa vào cả trong thị xã, thị trấn, và đã gây được ảnh hưởng tốt, sự cảm phục của công chức, binh sĩ, giáo viên, các nhân sĩ sống trong vùng địch kiểm soát. Tờ báo cũng được gởi đi trao đổi với các tỉnh bạn, với các miền... Trong khi đó, ở các huyện, thị nhiều tập “Văn nghệ” xuất bản không định kỳ đã góp thêm nhiều tiếng nói với phong trào chung: Văn nghệ Bình Đại, Văn nghệ Châu Thành, Văn nghệ Ba Tri. ? tại thị xã có tờ Học đường mới Sao trong phố do một số giáo chức và học sinh ở nội thị chủ trương.

Đầu năm 1963, tại xã Châu Hòa – vùng giải phóng của huyện Giồng Trôm – đã tiến hành đại hội thành lập Phân hội văn nghệ Đồ Chiểu. Ban chấp hành gồm có các đồng chí: Nhân Đạo (Chí Nhân) hội trưởng, Đoàn Tứ, phó hội trưởng, Nguyễn Tấn, ủy viên thư ký và các ủy viên Hà Mãnh, Nguyễn Hồ, Xuân Cảnh, Cầu Tiến, Võ Tước. Sự ra đời của Phân hội văn nghệ Đồ Chiểu đánh dấu một bước tiến mới của hoạt động văn nghệ trong tỉnh. Ngoài việc tổ chức các cuộc thi sáng tác, Phân hội đã chăm lo đến việc bồi dưỡng đào tạo đội ngũ, tổ chức in ấn, xuất bản. Một số anh chị em được chọn gửi đi những lớp huấn luyện nghiệp vụ do Hội Văn nghệ Giải phóng mở. Lực lượng sáng tác văn học trong tỉnh tăng lên: Đoàn Hùng, Nhân Đạo, Hoài Minh, Lê Nhị Trung, Ba Cầu, Hoàng Lê, Kim Tinh, Nam Hồng, Nguyễn Hồ, Võ Tước, Ngọc Ca, Đan Thanh, Tố Mỹ, Chim Trắng, Thanh Giang, Lê Hà, Trần Ký, Bến hải, Tiền Phong, Huy Vũ, Lê Hồng Phương, Huỳnh Năm Thông, Hồ Thanh Điền, Lê Minh Đào, Lê Huỳnh...

Về sáng tác kịch bản sân khấu có những kịch bản tiêu biểu như Ông Năm Hạn của Đoàn Tứ, Từ yếu tới yếu, Ra tiền phương, Cây dừa đỏ của Lê Huỳnh...

Văn học Bến Tre trong giai đoạn này có mặt đầy đủ các thể loại, nhưng nhìn chung sự phát triển chưa thật đồng đều. Nhược điểm này đối với bức tranh văn học ở một chiến trường căng thẳng, khốc liệt như Bến Tre là điều dễ hiểu, và không thể đòi hỏi khác hơn. Phát triển mạnh nhất, nổi bật nhất là thể loại thơ và ký.

Về thơ, đ?i ngũ làm thơ đông đảo và sung sức. Vấn đề mà thơ đề cập hôm nay cũng đa diện và phong phú hơn, nghệ thuật có mặt già dặn hơn. Kế thừa truyền thống yêu nước, bất khuất "đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà" của Đồ Chiểu, người làm thơ hôm nay càng hiểu "thơ là súng là gươm", là lời giục gọi đoàn kết chiến đấu, là lý tưởng soi đường đi tới tương lai...

Có thể nói chưa bao giờ những người làm thơ đông đảo như thế. Từ đồng chí lãnh đạo đến người cán bộ cơ sở, từ người lính xung kích đến chị giao liên, từ cô du kích ở thôn ấp đến người bác sĩ của một trạm quân y tiền phương... mỗi người đều có thể sáng tác đôi bài thơ, năm ba vần ca dao. Dường như trước hiện thực nóng bỏng, ngồn ngộn sự kiện, nơi giao tranh quyết liệt giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa tự do và nô lệ, giữa cái chết và cái sống, con người cần phải tỏ bày thái độ, cảm xúc của mình. Đề tài của thơ cũng thật phong phú. Có thể đó là kỷ niệm của một đêm hành quân qua làng, một tin vui thắng trận, một chuyến đò ngang nhiều may mắn, một gương hy sinh dũng cảm. Cũng có thể đó là niềm rung động trước cảnh đẹp của quê hương, hay nỗi căm thù trào dâng trước một tội ác man rợ của giặc. Nổi bật ở thể loại này có Lê Anh Xuân và Chim Trắng. Lê Anh Xuân, khi trở về quê hương ước ao “được làm cây chông tre. Lúc nào cũng nhọn sắc. Để đâm vào quân giặc", Chim Trắng nói lên khát vọng của mình đã được định hướng: ”Tôi chọn tiếng mõ tre làm điểm tựa. Mang âm thanh đi suốt cuộc đời mình!" Và tấm lòng của anh gắn bó với quê hương vô cùng da diết: "nếu ngã xuống, ta nguyện làm con sóng nhỏ. Làm hạt cát vàng giữa Cồn Ốc, Cồn Nghêu". Tâm sự của Lê Anh Xuân hay của Chim Trắng cũng là suy nghĩ, là quan niệm chung của cả thế hệ những người cầm bút thời đánh Mỹ.

Sau thơ là thể loại ký. Do đặc trưng nhanh nhạy trong việc phản ánh hiện thực, thể ký có nhiều ưu thế nhất so với các thể loại khác. Hoàn cảnh, điều kiện sống căng thẳng và khẩn trương của chiến trường đòi hỏi người cầm bút phản ánh chân thực, kịp thời hiện thực chiến đấu sôi bỏng trước mắt, biểu dương, cổ vũ những gương anh hùng, sự dũng cảm, kiên cường của quần chúng đang giáp mặt với kẻ thù; hay nói như Trần Đăng là phải "làm thật nhiều croquis" (bức phác thảo nhanh) để phục vụ cuộc chiến đấu, chứ chưa phải là lúc ngồi tỉa tót từng chữ, từng lời, xây dựng cốt truyện, chọn lọc tình tiết để tạo ra những tác phẩm dài hơi. Mặt khác, những điều kiện in ấn, giấy má và phát hành ở chiến trường lúc này cũng không thể nào đáp ứng cho sự ra đời những trường ca hay tiểu thuyết. Một mẫu ghi chép, một đoạn văn ngắn, một tiểu phẩm, một “Nụ cười kháng chiến” đăng trên báo, hoặc trong các tập “Văn nghệ xung kích” hay “Đất anh hùng, hoa dũng sĩ”, đều là những dạng khác nhau của thể ký nhằm phục vụ kịp thời cuộc chiến đấu trước mắt. Có thể về mặt nghệ thuật còn đơn sơ, non yếu, nhưng tác dụng đóng góp của thể ký đối với cuộc sống chiến đ?u là điều cần khẳng định.

Lá thư Bến Tre, sau này được in trong tập Từ tuyến đầu Tổ quốc (1), là một trong những bài ký ra đời tương đối sớm và đã vượt chặng đường hàng ngàn kilômét để đến với độc giả miền Bắc. Bức thư có đoạn “Chế độ Mỹ, Diệm là một lò sát sinh man rợ trên trái đất ngày nay". Những thông tin nóng bỏng và cụ thể như thế từ chiến trường "bay" ra hậu phương lớn, rõ ràng có một tác dụng như một lời kêu gọi chi viện: Hãy cứu lấy miền Nam!

Ký không những đóng vai trò "nòng cốt" trong các tập san Văn nghệ Bến Tre, mà còn giữ một vị trí quan trọng trên các báo khác của tỉnh, nhất là những bài ký hay viết về những người thật, việc thật. Đội ngũ viết ký cũng xuất hiện ngày một đông đảo hơn như: Đoàn Hùng, Nguyễn Hồ, Hà Mãnh, Ngọc Ca, Lê Anh Xuân, Hồ Thanh Điền, Thanh Giang, Thủy Thủ, Nguyễn Đông, Lê Hồng Phương, Thái Dương, Thanh Vũ...

Mảnh đất “Quê hương Đồng khởi” cũng đã thu hút nhiều họa sĩ như Lê Lam, Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Cổ Tấn Long Châu, nhiều nhà văn, nhà thơ từ các nơi khác đến như Trần Hiếu Minh, Giang Nam, Thủy Thủ, Nguyễn Thi, Hưởng Triều... Những trang viết về cái “nôi Đồng khởi” Mỏ Cày của Trần Hiếu Minh, Thủy Thủ, Nguyễn Thi vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó cho đến ngày nay. Đặc biệt hơn cả là Nguyễn Thi. Anh đã lăn lộn ở nhiều nơi trên đất Bến Tre. Hàng trăm trang ghi chép của anh về con người, về phong trào, đất đai, cây trái, tập quán, nghề nghiệp nơi đây trong tập Những năm tháng chưa xa(2) là những bức phác thảo sống động về những con người và cảnh vật nơi đây của “một thời chiến đấu say mê và hào hùng".

Sẽ rất thiếu sót, nếu viết về văn học giai đoạn chống Mỹ mà không đề cập đến một số cây bút quê Bến Tre hoạt động hợp pháp hoặc bất hợp pháp trên lĩnh vực báo chí, văn nghệ ở đô thị (chủ yếu ở thành phố Sài Gòn và thị xã Bến Tre). Có những trường hợp do tổ chức phân công ở lại hoạt động trong phong trào yêu nước của nội thành, nội thị như Dương Tử Giang, Trang Thế Hy. Cũng có những người do hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp nên sống và làm việc ở đô thị, có tinh thần dân tộc và yêu nước, tình cảm và ngòi bút của họ hướng về cách mạng.

Trên lĩnh vực nghiên cứu, có các cây bút: Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Duy Oanh, Huỳnh Minh. Ngoài các công trình nghiên cứu về văn học dân gian Nam Bộ, Nguyễn Duy Oanh còn có công trình Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) và Chân dung Phan Thanh Giản (3). Đây là hai quyển sách được biên soạn công phu, phong phú về mặt tư liệu mặc dù còn những hạn chế . Nhưng cái đáng quý cần được ghi nhận ở các tập sách trên là tấm lòng của tác giả đối với quê hương, đối với đồng bào của mình, cũng như thái độ trân trọng của tác giả đối với người xưa.

Trong khi đó, thì Huỳnh Minh – tên thật là Huỳnh Khắc Vịnh - từ chỗ là chủ hiệu sách ở đường Phan Đình Phùng (Sài Gòn), đã say mê sưu tập các nguồn tư liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ. Kể từ cuốn Địa linh nhân kiệt - Kiến Hòa xưa và nay viết về Bến Tre, quê hương ông, từ năm 1963 đến năm 1973, Huỳnh Minh đã cho ra đời 10 tập sách thuộc dạng này. Đó là những quyển Bạc Liêu xưa và nay, Cần Thơ xưa và nay, Định Tường xưa và nay, Sa Đéc xưa và nay, Gia Định xưa và nay, Tây Ninh xưa và nay, Vũng Tàu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay... ? các quyển sách thuộc dạng "sưu khảo" này - chữ dùng của tác giả - ngoài phần văn chương (chiếm tỷ lệ không cao) còn có những tư liệu bổ ích về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế.

Cùng phát triển trong hoàn cảnh Bến Tre, nhưng văn học Bến Tre trong giai đoạn chống Mỹ (1954-1975) đã có một bước tiến vượt bậc so với giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954) về quy mô, đội ngũ, phương tiện xuất bản, kể cả về mặt tổ chức và chỉ đạo. Nhìn một cách tổng quát, văn học Bến Tre thời chống Mỹ đã phản ánh được những nét tiêu biểu của hiện thực chiến đấu lớn lao đầy gian khổ, hy sinh của cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân trên một chiến trường ác liệt nhất của Nam Bộ.

Chú thích :

1. NXB Văn học, H, 1963
2
. Ngô Thảo sưu tầm và giới thiệu, NXB Văn nghệ TP.HCM
3
. Bộ Giáo dục và Thanh niên xuất bản, S, 1974
 

Đã ban hành
Trần Thị Kế (1909 – 1959)Trần Thị Kế (1909 – 1959)
 

 Đứng ở bến đò Phước Long nhìn sang ben kia bờ, cù lao Ốc như một chiến hạm nổi khổng lồ nằm giữa dòng sông Hàm Luông bát ngát, mà chiều dài là màu xanh bất tận trông ngút tầm mắt. Theo các cụ già, thì cù lao này có từ thời khai hoang, lập ấp. Trong bản đồ cũ cách đây 100 năm đã có ghi cù lao này. Cùng nằm chung trong quy luật hình thành các cồn bãi trên dòng Cửu Long, cù lao Ốc do phù sa từ phía thượng nguồn từ năm này qua năm khác bồi tụ nên. Một loài ốc nước ngọt bám lấy những cây sú, vẹt, cóc kèn, ô rô bám rễ, mọc lên trên bãi bồi , sinh sôi nảy nở ngày một nhiều. Cái tên cồn Ốc ra đời từ đó. Ngày nay, cái cồn mang tên dân dã ấy là một hòn đảo ngập tràn màu xanh của dừa, chuối, vú sửa, xoài, mận… dân cư đông đúc, nhà cửa khang trang. Khách có thể đi bằng xe gắn máy t rên con lộ dài đến 7, 8 km từ đầu đến cuối đảo, nay là xã Hưng Phong, huyện Giồng Trôm.

   Bà Trần Thị Kế chào đời ngay trên mảnh đất này năm 1909, là con út của một gia đình khá giả. Chồng bà, ông Phạm Công Văn, tham gia phong trào Thiên Địa hội, bị bắt và bị tù. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, ông lại bị bắt đày đi Bà Rá (tỉnh Bình Phước). Năm 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở địa phương, công tác ở tỉnh đội Bến Tre, sau chuyển qua Hội Nông dân cứu quốc tỉnh.

   Sau hiệp định Genève (7-1954), khi Ngô Đình Diệm phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, khủng bố những người kháng chiến cũ, thì chồng và các con lớn của bà đều thoát ly, hoặc “điều lắng” nơi khác, chỉ còn một mình bà bám trụ, hoạt động hợp pháp tại quê nhà.

   Trong KCCP, bà Trần Thị Kế tham gia vào Ban chấp hành Phụ nữ cứu quốc xã, được kết nạp vào ĐCSĐD năm 1948. Điều này, một số tên chỉ điểm tay sai ở địa phương dường như đã đánh hơi biết được.

   Trong những năm 1957-1959, địch tập trung đánh phá phong trào cách mạng ở Bến Tre rất khốc liệt. Hàng ngàn đảng viên, quần chúng yêu nước bị bắt bớ, truy lùng, giam cầm. Khám Lá – nhà lao tỉnh Bến Tre – không còn đủ chỗ giam người, tù nhân phải nằm la liệt ngoài hè, ngoài sân. Nhà thờ, chùa, thánh thất, cả trường học biến thành chỗ tra tấn, giam cầm. Mỗi ngày có hàng chục người bị đưa đi thủ tiêu bí mật, xác ném xuống sông rạch. Phong trào cách mạng Bến Tre đứng trước những thử thách vô cùng nghiệt ngã.

   Ngày 17-4-1959, bọn công an Ngô Quyền kéo đến cồn Ốc, bao vây nhà má Kế. Chúng lùng sục, xăm kiếm hầm bí mật khắp nơi, nhưng không tìm ra dấu vết khả nghi nào có "Việt cộng nằm vùng", bèn quay ra bắt má đem tra khảo, truy bức về tông tích của chồng con. Trải qua những đòn tra tấn tàn bạo, má Kế một mực trả lời chúng là chồng con bà đã biệt tích từ nhiều năm nay, bà chỉ ở đây một mình với hai đứa cháu. Như một bầy thú hăng máu, chúng lồng lộn đạp, đá bà, giở những thủ đoạn tra tấn man rợ nhất, hòng moi ra đôi chút tin tức.

  Từ lâu, trước tình hình khủng bố ác liệt của địch, má Kế cũng đã cảnh giác, rằng một ngày nào đó, chúng sẽ “sờ” đến gia đình má, nhưng không ngờ lại diễn ra quá đột ngột, bức bách như thế này. Những trận đòn xối xả trút lên thân hình già nua của má ác liệt hơn, Trước tình thế đó, má Kế gượng ngồi dậy, rồi bảo chúng hãy nghe bà khai. Má đưa tay chỉ vào ngực mình nói: "Chồng con tao ở trong tim của tao đây. Chúng bay mổ ra mà kiếm!".

   Tên cầm đầu thấy không nên kéo dài cuộc tra hỏi tại đây nữa, bèn ra lệnh cho bọn dưới quyền đưa má xuống xuồng máy, chở về thị xã Bến Tre. Ơ Ty Công an tỉnh, bọn chúng sẽ có những phương tiện khác, những dụng cụ tra tấn tối tân hơn, hòng có thể khuất phục được má. Nhưng bọn chúng đã nhầm. Trải qua 3 ngày đêm truy bức với những ngón đòn tàn bạo nhất, chúng vẫn không khai thác được một chi tiết nào ở má Kế ngoài sự lặng im. Ngày 20-4-1959, má Kế trút hơi thở cuối cùng tại nhà giam của Ty Công an Bến Tre. Biết tin đau đớn này, gia đình nhờ người tới xin xác đem về, nhưng chúng bảo là không biết, không có. Nhờ cơ sở bên trong báo ra, gia đình mới biết là chúng đã bí mật đưa thi hài má chôn ở Bình Nguyên. Mãi sau này giải phóng, Sở Thương binh – Xã hội cùng gia đình mới tổ chức cải táng hài cốt má về nghĩa trang tỉnh.

   "Chồng con tao ở trong tim của tao đây. Chúng bay mổ ra mà kiếm!". Câu trả lời đầy khí phách can trường của má Trần Thị Kế vọng lên giữa không khí khủng bố, đàn áp ngột ngạt đang đè nặng lên cuộc sống của người dân Bến Tre thời ấy, có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nó cảnh tỉnh những người đang dao động, có tư tưởng bảo mạng trước thủ đoạn gian ác của kẻ thù; nó tiếp sức chiến đấu cho những cán bộ, đảng viên đang đối diện trước uy vũ, bạo lực của kẻ thù, động viên họ giữ vững ý chí bất khuất; nó nêu lên một tấm gương ngời sáng về lòng chung thủy, sắt son đối với người thân, đối với quê hương đất nước.

Đã ban hành
Dương Tử Giang (1914 – 1956)Dương Tử Giang (1914 – 1956)
 

    Dương Tử Giang tên thật là Nguyễn Tấn Sĩ, sinh năm 1914 tại xã Nhơn Thạnh, thị xã Bến Tre, trong một gia đình trung lưu. Sau khi học hết trung học ở Mỹ Tho, vốn mê thích sân khấu, nên đứng ra lập một gánh hát (1936), nhưng chỉ trong một thời gian ngắn vì nợ nần nên rã gánh. Ông xin dạy học ở Trường tiểu học Thủ Đức. Sau đó, sang làm thư ký ở Ty Thương chánh Hà Tiên, nhưng vì mê đá gà, nên xài thâm tiền két, rồi bỏ lên núi Tà Lơn cho đến ngày Nhật đảo chính Pháp mới về lại Bến Tre. Lên Sài Gòn, anh gia nhập vào làng báo, lần lượt viết cho các báo Mai, Sống của nhóm Đông Hồ và Trúc Hà, báo Thanh niên của Huỳnh Tất Phát và Mai Văn Bộ. Cũng trong thời gian này, anh cho xuất bản quyển Bịnh học Duyên hay nợ.

   Sau ngày Nam Bộ kháng chiến, cái tên Dương Tử Giang (ba chữ đầu của câu thơ Đường mà anh rất thích: Dương Tử Giang đầu dương liễu xuân) xuất hiệen trên mặt báo chí Sài Gòn như một ngòi bút sắc sảo, xông xáo và dũng cảm, dám vạch trần tính chất cuộc chiến tranh phi nghĩ của Pháp ở Đông Dương. Cùng với Vũ Tùng và Thiếu Sơn trong nhóm Justice (Công lý) - cơ quan chính thức của đảng xã hội Pháp ở Đông Dương – anh có nhiều điều kiện đóng góp cho phong trào Báo chí Thống nhứt của Sài Gòn và Nam Bộ trong những năm đầu chống Pháp.

   Năm 1946, vì một bài báo đả kích đội quân viễn chinh, anh bị Pháp bắt giam một thời gian. Trong Khám Lớn Sài Gòn, Dương Tử Giang đã tham gia đắc lực vào việc ra hai tờ báo bí mật trong lao: tờ Tiếng tù Đêm Khám Lớn.

   Sau đám tang học sinh Trần Văn Ơn (bị Pháp bắn chết), Chính phủ Trần Văn Hữu và Nguyễn Văn Tâm quay ra đàn áp mạnh báo chí. Chúng cho bọn mật vụ ám sát hai ký giả yêu nước Nam Quốc Cang và Đinh Xuân Tiếu. Trong đám tang Nam Quốc Cang, Dương Tử Giang đã leo lên cột đèn, đứng diễn thuyết tố cáo âm mưu đê hèn của địch. Sau đó, anh bị truy nã. Thấy không thể tiếp tục hoạt động hợp pháp trên lĩnh vực báo chí tại Sài Gòn, anh thoát ly ra khu vực 9. Tại đây, anh cùng với Thiếu Sơon công tác tại tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ và tham gia các hoạt động văn nghệ kháng chiến ở khu.

   Sau hiệp định Genève (1954), Dương Tử Giang được phân công về lại Sài Gòn. Trở lại thành phố cũ, nơi anh từng hoạt động, không kịp nghỉ ngơi, anh lao ngay vào công việc. Cùng với anh em kháng chiến ở khu về và những cán bộ hoạt động tại chỗ, anh chạy tiền để ra báo. Các tờ Công lý, Điện báo rồi Duy tân lần lượt ra đời. Anh còn dự định thành lập một gánh hát bộ và thông qua nghệ thuật này, hồi ở khu đã từng viết nhiều kịch bản tuồng, vừa là diễn viên sân khấu rất được hoan nghênh.

   Ngày 8-10-1955, trong chiến dịch khủng bố những người kháng chiến cũ, chính quyền Diệm đã bắt anh cùng với hàng loạt nhà văn, nhà báo yêu nước tiến bộ khác như Lý Văn Sâm, Thiếu Sơn, Tư Mã Việt, Tô Nguyệt Đình… với tội danh là "thân cộng". Chúng giam anh ở bót Catina một thời gian, sau đó chuyển về trại giam Tân Hiệp, Biên Hòa. Ngày 2-12-1956, trong cuộc nổi dậy phá trại, vượt ngục của tù nhân chính trị tại đây, Dương Tử Giang đã bị trúng đạn ở ngay cửa ngõ của nhà lao.

   Theo hồi ký của Lý Văn Sâm, người bạn văn, cũng là người bạn tù thân thiết nhất của anh, thì trước giờ hành động, Dương Tử Giang còn tâm sự với Lý Văn Sâm: "Trong hai thằng chúng mình, trong trận này, nếu một đứa hy sinh, thì đứa còn lại phải sống bằng tiềm lực của hai đứa cộng lại”. Sau đó Lý Văn Sâm đã thoát ngục về với cách mạng, còn Dương Tử Giang thì hy sinh bên cửa trại giam. Lúc ấy, anh 38 tuổi, cái tuổi tràn đầy sinh lực. Bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp đón nhận tin này với tất cả lòng tiếc thương vô hạn một nhà báo tài năng, một cây bút đánh địch sắc sảo, một người bạn chí tình, chí nghĩa với anh em, dù ở trong thành hay ở ngoài khu.

   Nhà văn Thiếu Sơn, một người bạn vong niên của Dương Tử Giang đã viết về anh như sau: "Dương Tử Giang là một chiến sĩ với những đức tính kiên trung, nghĩa dũng khiến cho tôi phải kính phục vô cùng. Suốt thời gian kháng chiến, chưa bao giờ Dương Tử Giang từ chối một công tác khó khăn nào, chưa bao giờ Giang lẩn tránh một gian nguy, khổ cực nào. Con đường chính nghĩa đó, Giang đã đi tới cùng, dù không sự nghiệp gì đáng để lại, nhưng Giang là một tấm gương hy sinh cho đại nghĩa, một tấm gương đáng nêu cho mọi người trong giây phút vẻ vang của dân tộc" (báo Sài Gòn giải phóng, số 13-12-1987). Thực ta, nghiệp cầm bút của anh bị cắt đứt giữa đường, nhưng những gì anh để lại cho đời đâu phải nhỏ. Ngoài hàng trăm bài báo chống lại bạo quyền, anh đã để lại một số sáng tác viết từ sau CMT8-1945: Một vũ trụ sụp đổ (tập truyện – 1949), Tranh đấu (tiểu thuyết – 1949), Cô gái tàu thưng (truyện thơ – 1956), Bảo Đại (1956) và một số kịch bản tuồng viết trong thời kỳ hoạt động ở khu 9 Nam Bộ như Trương Phi thủ cổ thành, Nguyễn Trung Trực quy thần, Ký Charton và Le Page.

  Dương Tử Giang còn là một tấm gương sáng về tinh thần lạc quan cách mạng, yêu đời, làm việc không biết mệt mỏi, kể cả trong những trưong hợp túng bấn, đói rách, không có đồng xu dính túi. Cuộc đời anh, sự nghiệp anh đẹp trọn vẹn như anh đã từng nuôi mộng ước trong một bài thơ gửi bạn:

Một thuở ra đi vì nghĩa lơn
Ngàn năm trẻ mãi với quê hương!

 

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn TưAnh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Tư

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã. Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá huỷ nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Anh hùng Nguyễn Văn Tư (tức Thành Ngọc) sinh năm 1935, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội phó du kích xã.

Từ năm 1960 đến khi hy sinh (tháng 10-1964), Nguyễn Văn Tư đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, diệt 46 tên địch, bắn bị thương 113 tên, bắt sống 1 ác ôn, phá 3 xe quân sự, thu và phá hủy nhiều súng đạn, máy thông tin của địch. Là chiến sĩ du kích đánh độc lập, nhỏ lẻ với vũ khí thô sơ chủ yếu là chông, mìn, bẫy, lựu đạn. Đặc biệt đồng chí đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ.

Tháng 8-1962, do nắm được quy luật đi về của địch, Nguyễn Văn Tư chỉ huy một tổ du kích bí mật nằm phục kích sát đồn địch, đợi lúc chúng rời khỏi đồn đã xông vào diệt tên đồn trưởng, thu vũ khí rồi trở về an toàn. Tháng 6-1963, lần đầu tiên có lựu đạn, Nguyễn Văn Tư đã sáng tạo ra cách đánh địch: gài lựu đạn ở dưới, đặt mìn giả lên trên rồi ngụy trang sơ sài lừa địch. Khi địch phát hiện, chúng gỡ mìn giả thì lựu đạn thật nổ diệt 1 tên, 3 tên khác bị thương nặng.

Nguyễn Văn Tư còn kiên trì huấn luyện ong vò vẽ kết hợp xen kẽ chông, mìn, cạm bẫy để đánh địch. Sau 30 trận sử dụng, anh đã diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Nguyễn Văn Tư còn tích cực vận động nhân dân đấu tranh, nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng sản xuất và tham gia chế tạo vũ khí. Trong trận ngày 26-10-1964, không may đồng chí bị địch bắn gãy một chân và bị bắt, mặc dù bị tra tấn dã man, Nguyễn Văn Tư vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất trước quân thù cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 5-5-1965, Nguyễn Văn Tư được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Chùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năngChùa Vạn Phước - Điểm du lịch tiềm năng
Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại là một huyện ven biển thuộc tỉnh Bến Tre, có địa hình gần như xung quanh là sông nước; đông giáp biển Đông, bắc giáp cửa sông Tiền, nam giáp cửa sông Ba Lai, tây giáp sông An Hóa.

Huyện Bình Đại rất có tiềm năng du lịch về biển như bãi biển Thừa Đức đang được khai thác; bãi biển Thới Thuận đang kêu gọi đầu tư; hệ thống hạ tầng đang được đầu tư xây dựng, mười cây cầu nằm trên trục lộ 883 trên địa phận Bình Đại đang thi công, hệ thống lộ và điện, nước cũng được đầu tư tiếp theo; thời gian ngắn là hạ tầng du lịch Bình Đại sẽ hoàn thiện đồng bộ; bên cạnh là hệ thống đường sông thuận lợi từ các nơi đi đến như: Bến Tre, Tiền Giang, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Giờ, Vũng Tàu, Trà Vinh…

Một vùng đất xứ biển, xung quanh là cây ngập mặn và những vuông tôm công nghiệp, lại có ngôi chùa khang trang được xây dựng trên vùng đất đầm lầy,  cây dại; đó là Chùa Vạn Phước do Đại đức Thích Phước Chí trụ trì, chùa được hình thành từ năm 2000 tại ấp Bình Chiến, thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, ngôi chùa tràn ngập ánh đạo vàng làm lộng lẫy một góc trời đông duyên hải Bình Đại với khuôn viên rộng 8 ha, cách Thị Trấn Bình Đại 2 km trên đường ra biển, đã góp phần trong việc thu hút khách du lịch đến với vùng đất biển này.

 

Kiến trúc tổng quan chùa gồm cổng Tam quan với cặp rồng vàng chầu, khu chánh điện, khu vực tượng Bồ tát Quán Thế Âm, khu vực tượng Đức Phật Thích Ca ngồi dưới gốc bồ đề, nhà làm việc, phòng khách, phòng thuốc Nam từ thiện, bảng công đức và bàn thờ Tổ quốc với chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, … Đặc biệt có  tượng phật Di Lặc cao 12,45m, nặng khoảng 99 tấn do điêu khắc gia Thụy Lam tạo tác hoàn thành ngày 29/01/2010. Tất cả những kiến trúc trên được phối hợp hài hòa với các khuôn viên trong sân chùa làm bắt mắt cho du khách đã đến tham quan.

 

Hiện nay chùa đã hoàn thành 95% và đã được quý Phật tử bốn phương hội tụ về quy ngưỡng, chiêm bái Phật; bên cạnh đó khách du lịch từ các tỉnh, nhất là từ Tp. Hồ Chí Minh đến tham quan du lịch khá đông, có đoàn lên đến vài trăm du khách.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)Phạm Ngọc Thảo (1922 - 1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

Image
Phạm Ngọc Thảo (1922-1965)
Nguyên quán tỉnh Bến Tre, sinh tại Sài Gòn, xuất thân trong một gia đình điền chủ, theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp, nên còn có tên Albert Phạm Ngọc Thảo. Học ở Trường Tabert (Sài Gòn), đỗ tú tài, theo học ngành công chánh.

CMT8-1945 bùng nổ, ông tham gia công tác ở Sài Gòn, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội, hoạt động ở miền Tây Nam Bộ, đến kết thúc kháng chiến chống Pháp (7-1954) là cán bộ cấp trung đoàn.

Sau hiệp định Genève, ông được tổ chức bố trí ở lại, hoạt động bí mật với cái vỏ bọc bên ngoài, làm nghề dạy học ở các trường tư Sài Gòn. Bị bọn mật vụ theo dõi, mấy lần vây bắt hụt, phải lánh về Vĩnh Long để nhờ sự bảo lãnh của Giám mục Ngô Đình Thục, vốn đã quen thân từ trước với gia đình ông.

Nhờ sự giới thiệu của giám mục với Ngô Đình Diệm, ông mới đưa được vợ con lên sống ở Sài Gòn. Năm 1956, làm việc ở Ngân hàng quốc gia Sài Gòn, sau chuyển qua ngạch quân đội với cấp bậc “Đại úy đồng hóa” trong quân lực VNCH, lần lượt giữ các chức vụ: Tỉnh đoàn trưởng bảo an tỉnh Vĩnh Long, Chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Sau khi học trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas) tại Hoa Kỳ, về nước được thăng thiếu tá, làm việc ở phủ Tổng thống (cạnh Ngô Đình Nhu). Được Ngô Đình Diệm tin cậy, nên ông được cử làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre) với cấp bậc trung tá.

Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), Phạm Ngọc Thảo được nhóm sĩ quan cầm đầu cuộc đảo chính thăng đại tá, làm phát ngôn viên báo chí trong "Hội đồng quân nhân cách mạng", rồi làm tùy viên văn hóa của Sứ quán VNCH tại Hoa Kỳ.

Đầu năm 1965, bị gọi về nước, vì chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ đã phát hiện ông hoạt động cho đối phương. Biết đã bị lộ, ông không chấp hành lệnh, tìm cách trốn tránh và liên hệ móc nối với các lực lượng đối lập khác như tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để lật đổ chế độ hiện thời. Cuộc đảo chính nổ ra trưa ngày 19-2-1965 ở Sài Gòn, nhưng chỉ làm làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt, ông đào thoát vào một tu viện Công giáo ở Thủ Đức.

Ngày 16-7-1965, ông bị một toán mật vụ bắt đưa đến khu rừng gần Hố Nai (Biên Hòa) thủ tiêu, rồi bỏ đi. Ông bị bắn vào đầu, nhưng không chết, sau đó được một linh mục đưa về cứu chữa tại một trạm cứu thương ở Biên Hòa. Bị lực lượng an ninh quân đội ở Sài Gòn phát hiện, ông bị bắt trở lại đưa về Sài Gòn, tra tấn đến chết vào đêm 17-7-1965.

Sau ngày giải phóng (30-4-1975), ông được Nhà nước ta truy nhận liệt sĩ với hàm đại tá quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời hoạt động của ông đã được nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý xây dựng thành bộ tiểu thuyết nhiều tập Ván bài lật ngửa, và sau đó được dựng thành phim cùng tên với nhân vật chính mang tên Nguyễn Thành Luân.

Đã ban hành
Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú)Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú)
Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1764/QĐ-UBND về việc công nhận Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú) là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh về lịch sử cách mạng.

Ngày 13 tháng 9 năm 2012, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1764/QĐ-UBND về việc công nhận Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú) là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh về lịch sử cách mạng.

Từ thành phố Bến Tre, qua cầu Hàm Luông theo quốc lộ 60, rồi đường tỉnh 888 đến Trị trấn Thạnh Phú, dọc theo hướng huyện lộ 25 khoảng 2km là đến, di tích nằm bên trái.

su-kien-30-10-1967.jpg
 

Xã Thạnh Phú trước đây, nay là xã Mỹ Hưng, xã Bình Thạnh và một phần xã Mỹ An vào đêm 24 rạng sáng 25/10/1967, lần đầu tiên, một đại đội địa phương cùng với dân quân, du kích của các xã trong huyện đồng loạt bao vây, tấn công chi khu địch tại huyện Thạnh Phú. Lần này thực hiện sự chỉ đạo của huyện, mở màn chiến dịch Đông Xuân 1967-1968, bộ đội tấn công, bao vây dài ngày chi khu địch trong huyện nhằm thăm dò sự phản ứng và lực lượng ứng cứu của địch.

Trận tấn công đồng loạt, bất ngờ, bộ đội ta tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành chiến thắng; quyết tâm bao vây, kềm chân địch. Trận chiến kéo dài, bọn địch chi khu vô cùng hoang mang, điện xin bọn tiểu khu Kiến Hòa cứu viện.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 30/10/1967, chiếc đầm già L.19 bay đến quần đảo mấy vòng rồi bắn trái điểm xuống con Giồng thuộc ấp Thạnh Trị, xã Thạnh Phú. Ngay sau đó, từng tốp máy bay phản lực của địch nhào xuống dội hàng loạt bom đìa và bom bi. Tiếp đến, pháo 105 ly của địch bắn cấp tập vào con giồng. Sau đó, trực thăng chiến đấu bay đến phóng hỏa tiễn và đạn M79, dọn bãi cho từng tốp, từng tốp máy bay trực thăng nhào xuống đổ các tiểu đoàn 31, 32 của trung đoàn 10, sư đoàn 7 ngụy và nhiều đại đội Biệt động quân, bọn lính bảo an của tiểu khu.

Trận đánh không cân sức giữa đại đội địa phương quân huyện và dân quân du kích các xã diễn ra vô cùng ác liệt, trên một địa hình trống trải, đã bị bom đạn địch san bằng. Trên con giồng Lớn ấp Thạnh Trị gần như bình địa vì bom pháo và xích xe tăng địch.

Tôn kính các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh địch phản kích ngày 30 tháng 10, Đảng ủy, chính quyền cùng nhân dân xã Mỹ Hưng xây Đền thờ tôn vinh ngay tại nơi diễn ra sự kiện và tổ chức giỗ hội hàng năm vào ngày 30/10, để tỏ lòng nhớ ơn những liệt sĩ đã xả thân vì Độc lập, Tự do cho Tổ quốc.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Võ Văn KhánhVõ Văn Khánh
 

Image
Võ Văn Khánh
    Sinh năm 1915 trong một gia đình nhà nho, tại xã Tân Xuân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thời học sinh tiểu học ở trường tỉnh lỵ, năm 1929, tham gia phong trào "học sinh phản đế".

   Ngày 21-4-1930, gia nhập ĐCSĐD thuộc chi bộ An Hội (nay là thị xã) do Nguyễn Văn Thả làm Bí thư, được phân công phụ trách Hội học sinh. Đêm 31-1-1931, trong một cuộc diễn thuyết, có treo cờ búa liềm ở sân trường tỉnh, ông bị mật thám Pháp bắt, kết án 3 năm tù, đày đi sở Ông Yệm (tỉnh Thủ Dầu Một). Năm 1936, mãn tù, về lại Bến Tre, tiếp tục hoạt động.

   Những năm 1936 – 1939, hoạt động công khai phong trào Đông Dương đại hội tại tỉnh Bến Tre trong “nhóm công khai” do đồng chí Nguyễn Văn Bích, Tỉnh ủy viên, lãnh đạo, đồng thời làm phóng viên cho báo Dân chúng (cơ quan Trung ương của ĐCS xuất bản công khai tại Sài Gòn) thường trú tại Bến Tre, có chân trong chi cục Đông phương thư xã ở tỉnh lỵ

   Tháng 9-1939, bị địch bắt đày đi Côn Đảo. Sau ngày cách mạng thành công (8-1945) cùng với nhiều tù nhân khác, được chính quyền cách mạng đưa tàu rước về đất liền, đồng chí Võ Văn Khánh được phân công về Bến Tre làm Trưởng ban chính trị Quốc gia tự vệ cuộc của tỉnh (tức Ty Công an tỉnh).

   Tháng 4-1947, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Đến tháng 5-1949, được XUNB điều sang làm Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).

   Đầu năm 1950, được cử làm ủy viên thường vụ Khu ủy khu 7 (miền Đông Nam Bộ), về sau đổi thành phân liên khu miền Đông.

   Năm 1951, được cử về làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ty Công an tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn (gọi tắt là tỉnh Bà-Chợ) cho đến ngày đình chiến theo hiệp định Genève (7-1954 ).

   Từ năm 1954, là Xứ ủy viên XUNB, Bí thư Liên tỉnh ủy miền Đông. Về sau, Liên tỉnh ủy miền Đông đổi thành Khu ủy miền Đông, thì đồng chí Phan Đức làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Khánh làm Phó bí thư.

  Năm 1959 – 1960, là Trưởng ban Mặt trận của XUNB cho đến khi thành lập TƯCMN. Từ năm 1960 – 1963, làm Phó bí thư Ban cán sự Đảng bộ Việt kiều tại Phnom Penh (Campuchia), phụ trách tuần báo Trung lập, cơ quan tuyên truyền, vận động của Hội Việt kiều yêu nước ở Campuchia.

   Năm 1963 – 1967, Bí thư Đảng ủy Trường Nguyễn Ái Quốc trực thuộc TƯCMN. Đến tháng 8-1967, trên đường đi công tác ở Bến Cát (tỉnh Bình Dương), bị thương vì bom napalm, được đưa ra Bắc điều trị. Sau thời gian chữa bệnh, làm Phó ban kinh tế miền Nam, do đồng chí Nguyễn Văn Sô, ủy viên TƯĐCS là trưởng ban, trực thuộc BCHTƯĐCS (về sau ban này giải thể).

   Ngày 6-4-1973, về lại miền Nam làm Phó ban Mặt trận thuộc TƯCMN cho đến ngày 30-4-1975. Sau ngày giải phóng, làm Bí thư Đảng ủy khối chính quyền ở miền Nam thời kỳ quân quản. Đến tháng 10-1978, nghỉ hưu.

   Được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, huy hiệu 70 tuổi Đảng và nhiều huân chương cao quý khác.

Đã ban hành
6 tháng đầu năm ngành CN-TTCN đạt gần 1.315 tỉ đồng6 tháng đầu năm ngành CN-TTCN đạt gần 1.315 tỉ đồng

<div style="text-align: justify;">
<span style="font-size: 10pt; font-family: Arial;">Theo Sở Công nghiệp Bến Tre, giá trị
sản xuất CN–TTCN 6 tháng đầu năm 2007 của tỉnh đã đạt 1.314,74 tỉ đồng, trong
đó doanh nghiệp Nhà nước đạt 494,48 tỉ đồng, chủ yếu là sản xuất mía đường. Dự
kiến đến giữa tháng 6-2007, giá trị sản xuất của Công ty Đường Bến Tre sẽ đạt gần
120 tỉ đồng.</span><br /></div>
Image
Sản xuất CN-TTCN trong nửa đầu năm 2007 đạt khá - ảnh Hoàng Vũ
Theo Sở Công nghiệp Bến Tre, giá trị sản xuất CN–TTCN 6 tháng đầu năm 2007 của tỉnh đã đạt 1.314,74 tỉ đồng, trong đó doanh nghiệp Nhà nước đạt 494,48 tỉ đồng, chủ yếu là sản xuất mía đường. Dự kiến đến giữa tháng 6-2007, giá trị sản xuất của Công ty Đường Bến Tre sẽ đạt gần 120 tỉ đồng. Doanh nghiệp dân doanh dự kiến đạt 772 tỉ đồng. Riêng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài dự kiến đạt gần 49 tỉ đồng. Sản phẩm chủ yếu trong 6 tháng đầu năm 2007 gồm cơm dừa nạo sấy, chế biến đường, nước máy, bột cá, thuỷ sản đông lạnh.

Trong năm 2006, Sở đã tổ chức công nhận 7 làng nghề và hiện đang xây dựng báo cáo để xét công nhận 6 làng nghề nữa, trong đó đã thẩm định báo cáo của 4 làng nghề ở các xã An Thuỷ (huyện Ba Tri), Bình Thắng (huyện Bình Đại), Phường 7 (Thị xã) và Phước Long (huyện Giồng Trôm).

Thực hiện Chỉ thị số 19/2005/CT-TTg ngày 2-6-2005 của Thủ tướng Chính phủ về tiết kiệm điện, 6 tháng vừa qua, ngành điện đã cắt giảm 1.200 giờ điện tương đương 0,942 triệu kwh điện.

Nhìn chung, sản xuất CN-TTCN của tỉnh ta tiếp tục phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao so cùng kỳ các năm trước.

Đã ban hành
Cao Văn TrungCao Văn Trung
Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, Trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre. Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an
ninh vũ trang của tỉnh.

Anh hùng Cao Văn Trung (bí danh Lê Hùng) sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, anh là đảng viên, trung đội phó trinh sát vũ trang Ban An ninh tỉnh Bến Tre.

Image
Anh hùng Cao Văn Trung

Cao Văn Trung sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Năm 13 tuổi anh tham gia hoạt động cách mạng. Năm 18 tuổi thì chính thức gia nhập lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh. Trải qua nhiền lĩnh vực công tác khác nhau, nhưng ở lĩnh vực công tác nào, Cao Văn Trung cũng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, say mê nhiệt tình trong công tác, chỉ huy đơn vị chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều tên địch, lập chiến công xuất sắc. Riêng đông chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 25 trận, diệt và làm bị thương 124 tên, trong đó có 29 tên ác ôn, nhiều cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp ngụy, bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy 4 xe Jeep và đưa đón cán bộ 24 lần đi công tác bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trận đánh ngày 5-10-1969, một mình Cao Văn Trung diệt 4 tên cố vấn Mỹ, 1 tên trung uý tình báo, 1 phó đồn cảnh sát ác ôn, 2 xe Jeep. Trận đánh ngày 10-10-1969, đồng chí chặn đánh một đoàn xe quân sự của địch đi bình định, diệt 1 thiếu tá, 1 trung uý, 1 thiếu uý và một số tên khác đi trên xe. Trận Cao Văn Trung đột nhập vào tận sào nguyệt địch, diệt tại chỗ 11 thám báo, bắn bị thương 8 tên khác, bắt sống một số tên ác ôn nguy hiểm, trong đó có 5 sĩ quan ngụy.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng nhất, 1 Huân chương giải phóng hạng nhất. Ngày 6-6-1976, Cao Văn Trung được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Anh hùng liệt sĩ Trần Văn TưAnh hùng liệt sĩ Trần Văn Tư


<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Trần Văn Tư (bí
danh Việt) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú,
tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, đội phó Đội trinh sát vũ
trang Ban An ninh huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1969, Trần Văn Tư
gia nhập lực lượng an ninh huyện Thạnh Phú, chiến đấu trong đơn vị trinh sát vũ
trang. Là trinh sát, đồng chí luôn bám dân, nắm chắc địa bàn, mưu trí, dũng cảm
trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trần Văn Tư đã trực
tiếp chiến đấu 27 trận, diệt và làm bị thương 118 tên địch, trong đó có 27 tên
cảnh sát bình định ác ôn và một số lính Mỹ. <o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><b><i><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Một số trận điển hình: </span></i></b><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1969, địch mở rộng
chiến dịch bình định nông thôn. Yêu cầu của cấp trên là phải đánh địch để hạn
chế chiến dịch bình định của chúng. Trần Văn Tư đã gan dạ chiến đấu diệt 6 tên
địch, làm cho địch phải co cụm phòng thủ. Ngày 10-2-1972, đồng chí cải trang
vào tận nhà riêng diệt tên Triều, một tên ác ôn khét tiếng, làm cho bọn tề ngụy
hoang mang. Ngày 3-1-1973, nắm chắc địa bàn, Trần Văn Tư đã đến tận nhà riêng
diệt tên Nuôi, phó cuộc cảnh sát ác ôn và rút lui an toàn. Tháng 12-1974, Trần
Văn Tư được lệnh đánh vào thị trấn Thạnh Phú. Đồng chí điều tra nắm chắc địa
bàn, xây dựng cơ sở và chỉ đạo đội hành động cải trang để tiếp cận các mục tiêu
rồi nổ súng và dùng lựu đạn tiêu diệt địch. Kết quả diệt được 12 tên, trong đó
có 1 tiểu đoàn phó và nhiều tên cảnh sát, bảo an của địch. Tháng 4-1975, trong
một trận chiến đấu ác liệt, đồng chí đã anh dũng hy sinh.<o:p /></span></p>

<p class="MsoNormal" style="margin-top: 12pt; text-align: justify;"><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Trần Văn Tư được tặng
thưởng bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, đồng chí được Nhà nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Trần Văn Tư (bí danh Việt) sinh năm 1950, dân tộc Kinh, quê ở xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Khi hy sinh, đồng chí là đảng viên, đội phó Đội trinh sát vũ trang Ban An ninh huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Năm 1969, Trần Văn Tư gia nhập lực lượng an ninh huyện Thạnh Phú, chiến đấu trong đơn vị trinh sát vũ trang. Là trinh sát, đồng chí luôn bám dân, nắm chắc địa bàn, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trần Văn Tư đã trực tiếp chiến đấu 27 trận, diệt và làm bị thương 118 tên địch, trong đó có 27 tên cảnh sát bình định ác ôn và một số lính Mỹ.

Một số trận điển hình: Năm 1969, địch mở rộng chiến dịch bình định nông thôn. Yêu cầu của cấp trên là phải đánh địch để hạn chế chiến dịch bình định của chúng. Trần Văn Tư đã gan dạ chiến đấu diệt 6 tên địch, làm cho địch phải co cụm phòng thủ. Ngày 10-2-1972, đồng chí cải trang vào tận nhà riêng diệt tên Triều, một tên ác ôn khét tiếng, làm cho bọn tề ngụy hoang mang. Ngày 3-1-1973, nắm chắc địa bàn, Trần Văn Tư đã đến tận nhà riêng diệt tên Nuôi, phó cuộc cảnh sát ác ôn và rút lui an toàn. Tháng 12-1974, Trần Văn Tư được lệnh đánh vào thị trấn Thạnh Phú. Đồng chí điều tra nắm chắc địa bàn, xây dựng cơ sở và chỉ đạo đội hành động cải trang để tiếp cận các mục tiêu rồi nổ súng và dùng lựu đạn tiêu diệt địch. Kết quả diệt được 12 tên, trong đó có 1 tiểu đoàn phó và nhiều tên cảnh sát, bảo an của địch. Tháng 4-1975, trong một trận chiến đấu ác liệt, đồng chí đã anh dũng hy sinh.

Trần Văn Tư được tặng thưởng bằng Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 29-1-1996, đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Phạm Thái Bường (1915 – 1974)Phạm Thái Bường (1915 – 1974)

    Phạm Thái Bường, bí danh Lê Thành Nhân, sinh năm 1915 tại xã Mỹ Cẩm, huyện Càn Long, tỉnh Trà Vinh. Thân sinh ông là Phạm Thời, làm phu lục lộ sở Trường tiền ở Trà Vinh. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình, nên năm 15 tuổi, chú bé Bường đã phải đi làm nghề phụ hồ để nuôi thân. Vốn sáng dạ và siêng năng lao động, học giỏi, nên sau một thời gian ngắn, chú đã trở thành thợ hồ có tay nghề cao tương đối vững.

  Năm 1937, phong trào Đông Dương đại hội từ các đô thị lớn đã dội đến quê Bường. Nhiều cuộc biểu tình, diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống do những người cộng sản ở Trà Vinh chủ trương, đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia, trong số đó có anh thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Dần dần được giác ngộ, năm 1938, anh tham gia vào đội Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương. Tháng 6-1938, Phạm Thái Bường được kết nạp vào ĐCSĐD. Đầu năm 1939, là ủy viên Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Trà Vinh.

   Đầu năm 1940, được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh. Trong khi đó, Bến Tre - tỉnh có cùng ranh giới chung với Trà Vinh là con sông Cổ Chiên – qua những đợt khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều cấp ủy viên tỉnh và huyện bị sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, XUNK đã điều Phạm Thái Bường sang làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Cùng với những đồng chí còn lại sau đợt khủng bố, ông đã bắt tay củng cố phong trào, gây dựng lại cơ sở Đảng ở các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri…

   Đến khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra (1940), Đảng bộ tỉnh Bến Tre đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy hưởng ứng tích cực lệnh của XUNK ban ra. Cuộc khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào. Phạm Thái Bường và hầu hết các thành viên trong Tỉnh ủy Bến Tre lần lượt bị bắt. Trong nhà lao đế quốc, bị tra tấn chết đi sống lại nhiều lần, Phạm Thái Bường vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo một điều gì làm phương hại đến phong trào. Tòa án của chính quyền thực dân kết án tù 10 năm và đày ra Côn Đảo.

  Khi Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, chính quyền cách mạng cử ngay một phái đoàn đưa phương tiện ra Côn Đảo rước các đồng chí bị giam giữ về đất liền. Phạm Thái Bường về trong chuyến tàu đầu tiên. Vừa về đến tỉnh nhà, người còn xanh xao gầy yếu, nhưng vì thấy tình hình khẩn trương, ông lao ngay vào công việc. Với tư cách là Phó bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Phạm Thái Bường đã cùng với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, bắt tay vào việc xây dựng chính quyền mới, củng cố Mặt trận đoàn kết dân tộc, đồng thời tổ chức những lớp huấn luyện quân sự, chính trị cấp tốc để đối phó với âm mưu lấn chiếm của thực dân.

  Ngày 23-9-1945, giặc Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ. Trong thời kỳ làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh (1946 – 1948), Phạm Thái Bường có một tầm nhìn rộng, thoáng, đã có những chủ trương và đối sách đúng đắn như củng cố khối đoàn kết dân tộc (Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp), thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương… do đó đã đưa phong trào kháng chiến ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định, chính quyền cách mạng từng bước được củng cố. Năm 1948, được bầu vào khu ủy Khu 8, được phân công phụ trách 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre. Cũng tháng 6 năm này, được Khu ủy chỉ định quyền Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre.

   Tháng 10 – 1949, Phạm Thái Bường được cử bổ sung vào Ban thường vụ khu ủy Khu 8, phụ trách công tác tổ chức cán bộ. Đầu năm 1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn của Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau hiệp định Genève (7 – 1954), đồng chí dẫn đầu phái đoàn của Trung ương đi truyền đạt hiệp định đình chiến ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

   Từ năm 1954 đến năm 1959, là ủy viên XUNB, kiêm Bí thư Liên tỉnh ủy miền Tây.

  Trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu là Ủy viên dự khuyết BCHTƯĐCS, có chân trong TƯCMN.

   Năm 1963, phụ trách công tác tiếp nhận vũ khí chi viện bằng đường biển cho chiến trường Nam Bộ. Cuối năm 1965, là ủy viên thường vụ TƯ Cục miền Nam. Năm 1969, làm Bí thư Khu ủy 9.

  Tháng 3 – 1972, là ủy viên chính thức BCHTƯĐCS Việt Nam. Trong một cơn bệnh hiểm nghèo, đồng chí đã từ trần ngày 29-1-1974 tại một vùng căn cứ kháng chiến ở khu 9.

   Phạm Thái Bường đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng tận tụy với dân với nước, trước uy lực của kẻ thù, cũng như những khó khăn, gian khổ. Riêng đối với tỉnh Bến Tre, đồng chí đã hai lần làm Bí thư Tỉnh ủy và có những đóng góp quan trọng trong việc phục hồi và xây dựng phong trào ở đây trong những lúc khó khăn.

Đã ban hành
Khai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến TreKhai trương Forever Green Resort - Khu nghỉ dưỡng cao cấp tại tỉnh Bến Tre
Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

Vào lúc 17 giờ 30 ngày 22 tháng 3 năm 2013, Công ty TNHH Thương mại Lô Hội chính thức khai trương Forever Green Resort, khu du lịch và nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Đến dự lễ khai trương có Bà Trương Mỹ Hoa – Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam,  ông Trương Vĩnh Trọng – Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre, ông Lã Quốc Khánh – Phó Giám đốc Sở VHTTDL thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP Hồ Chí Minh, cùng đại diện các ban, ngành tỉnh, huyện, các xã trong tỉnh, các cơ quan thông tấn báo chí trung ương và địa phương.

 

Dự án khu nghỉ dưỡng mãi xanh (forever green resort) do Công ty TNHH Thương mại Lô Hội xây dựng tại ấp Phú Khương, xã Phú Túc, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Dự án được xây dựng theo phong cách gần gũi thiên nhiên với các dịch vụ cao cấp, có chất lượng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao. Tận dụng thế mạnh của vùng sông nước miệt vườn với bốn mùa cây lành trái ngọt bên bờ sông Tiền hiền hòa, êm đềm, cùng những con người đôn hậu, hiếu khách; khu nghỉ dưỡng được đánh giá là khu du lịch nghỉ dưỡng có qui mô lớn và hiện đại nhất tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cũng là khu nghỉ dưỡng cao cấp đầu tiên của Bến Tre. Khu nghỉ dưỡng không chỉ là cơ sở kinh doanh du lịch hiện đại, mà còn là mang nặng nghĩa tình của người con Bến Tre. Nhiều chuyên gia du lịch và giới truyền thông đặt câu hỏi tại sao, một dự án du lịch qui mô lớn lại đầu tư tại xã Phú Túc là vùng đất nông nghiệp vừa phục hồi những năm sau giải phóng; đến năm 2008 vùng đất này còn bộn bề khó khăn. Câu hỏi được giải đáp qua bài phát biểu tại lễ khánh thành của bà Trương Thị Nhi – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH TM Lô Hội nhấn mạnh, khu nghỉ dưỡng mãi xanh ra đời xuất phát từ tình cảm sâu đậm, từ di ngôn của người mẹ quá cố cùng tâm huyết được ấp ủ tình yêu quê hương của bà. Mảnh đất, nơi chôn nhau cắt rún cùng sự tảo tần, một nắng hai sương của người mẹ bên gánh hủ tiếu, mà không quên dạy các con “Con phải biết sống vì người khác, sống cho quê hương, phải biết yêu thương, giúp đỡ những ngưới nghèo khó, neo đơn”. Lời dạy ngày nào của mẹ luôn vẳng bên tai và xem đó như là ước nguyện, là di ngôn. Sau mấy mươi năm bôn ba, vượt bao khó khăn vất vả, đến hôm nay bà đã có điều kiện để hoàn thành ước nguyện năm nào của mẹ. Mặc dù ở tuổi lục tuần, bà không ngần ngại trở về quê hương xã Phú Túc (Châu Thành) thực hiện di ngôn của mẹ.

 

Phát biểu tại lễ khánh thành, ông Trương Vĩnh Trọng – nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ là người đã sống và chiến đấu tại xã Phú Túc trong những năm chiến tranh; có lời phát biểu chân tình với bà Trương Thị Nhi. Trước tiên, ông có lời chúc mừng và chia vui đến bà Trương Thị Nhi, là người con có hiếu, luôn ấp ủ di ngôn của mẹ; có nghĩa với bà con, với quê hương đã trở về đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp nhất tại Bến Tre. Đồng thời, ông cũng lưu ý Ban quản lý luôn sống có nghĩa, có tình, chan hòa, giúp đỡ bà con chòm xóm, tham gia các chương trình phúc lợi địa phương, cố gắng bố trí việc làm cho người dân nơi đây; chuyển giao những giống cây trồng mới, cách thức chăm sóc rau sạch an toàn mà tập đoàn Nhật Bản đang nghiên cứu và trồng tại khu nghỉ dưỡng, cho người dân trong vùng. Ông Lê Thành Ân – Tổng lãnh sự quán Hoa kỳ tại TP Hồ Chí Minh, chúc mừng và bày tỏ lòng ngưỡng mộ bà Trương Thị Nhi có tầm nhìn thấu đáo xây dựng khu nghỉ dưỡng ở môi trường sinh thái trong lành, cung cấp dịch vụ và nơi ở chất lượng cao nhưng giá cả hợp lý. Ông Cao Văn Trọng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh chúc mừng, cũng như ghi nhận và trân trọng những cố gắng mà Công ty TNHH TM Lô Hội đã  thực hiện hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 của dự án. Công ty đầu tư xây dựng dự án khu du lịch sinh thái Mãi Xanh đã giúp cho Bến Tre có thêm một doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn trên lĩnh vực du lịch, góp phần cải thiện đời sống của người dân nơi đây, tạo nguồn lực mới để Bến Tre có khả năng thu hút khách du lịch ngày càng đông hơn, nhiều hơn.

Forever Green Resort là dự án lớn và hiện đại do Công ty TNHH TM Lô Hội đầu tư trên diện tích 21 hecta với tổng vốn đầu tư dự kiến 50 triệu USD. Dự án được thiết kế và xây dựng theo tiêu chuẩn khu nghỉ dưỡng 4 sao; gồm 4 khu chức năng và chia thành hai giai đoạn đầu tư: khu hotel – Huỳnh Gia Trang; khu sân tập Golf – Vườn cây ăn trái đặc sản; khu biệt thự nghỉ dưỡng; khu bến bãi, hậu cần.

Dự án Forever Green Resort chính thức khởi công ngày 26 tháng 10 năm 2009, đến ngày 22 tháng 3 năm 2013 đã khai trương giai đoạn 1, những hạng mục đã hoàn thành đưa vào kinh doanh: 30 villa với 60 phòng nghỉ; khu Spa cao cấp có 8 phòng body cho nam và nữ riêng biệt, 1 phòng massage chân cho 10 người, 2 phòng gồm jacuzzi, steambath, phòng tập thể hình, 1 phòng VIP, 1 phòng làm tóc, trang điểm, dưỡng da mặt; khu tiếp tân với sức chứa 300 khách và khu lounge nhạc nhẹ; khu nhà hàng sức chứa 500 khách, khu hội nghị sức chứa 300 khách; khu vườn cây cảnh được trang trí phục vụ hội nghị ngoài trời, sức chứa 1000 khách và chụp ảnh cưới; khu bar ngoài trời và trong nhà; khu karaoke gồm 4 phòng thiết kế hiện đại. Từ nay đến năm 2014, Công ty sẽ tiếp tục xây dựng các hạng mục giai đoạn 1 như: khu dạy làm bánh, nấu ăn cổ truyền;  khu du lịch giải trí thư giãn dành cho thượng khách cạnh sông Tiền; khu giải trí dân gian; khu phục hồi và nâng cao sức khỏe; khu vui chơi dành cho trẻ em; vườn cây ăn trái đủ loại dành cho học sinh, sinh viên trong và ngoài nước đến tham quan và học tập; khu bắt cá, khu rau xanh do Tập đoàn Nhật Bản thí nghiệm và nhân giống; khu nuôi cá, gà, rau sạch dành cho nhà hàng và đặc biệt có khu vườn hoa thơm đủ loại dành cho du khách thưởng ngoạn. Giai đoạn 2 sẽ khởi công vào tháng 11 năm 2014 gồm các hạng mục: khách sạn 120 phòng và khu coconut villa 120 bungalow; khu hội nghị 1.500 khách; khu nhà hàng hải sản bên bờ sông Tiền để phục vụ các món ăn mang đặc trưng của vùng quê sông nước cho du khách trong và ngoài nước; đặc biệt có món hủ tiếu gia truyền “Bà Chín” được người mẹ của bà Trương Thị Nhi truyền lại mang đậm hương vị quê hương, cùng các nguồn thực phẩm rau, cá, gà, tôm sạch được nuôi trồng tại chỗ, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2018.

Hy vọng rằng dự án Forever Green Resort không dừng lại ở các hạng mục trên; tại Lễ Khai trương, Bà Trương Thị Nhi phát biểu “Cùng với vốn tự có, rồi đây tôi sẽ kêu gọi bạn bè của mình ở nhiều nơi trên thế giới cùng hội tụ về đây trên mảnh đất quê hương Đồng Khởi, cùng góp sức đầu tư thêm nhiều hạng mục khác giúp Forever Green Resort trở thành một dự án  phức hợp bao gồm nhiều hạng mục, đủ phục vụ và đáp ứng nhu cầu đa dạng về du lịch, nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan, tìm hiểu và học tập về văn hóa, lịch sử của Việt Nam”.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Các trận đánh tại ngã tư Thạnh TânCác trận đánh tại ngã tư Thạnh Tân
Từ thành phố Bến Tre, theo Quốc lộ 60 đến ngã tư huyện Châu Thành (8km), theo Đường tỉnh 883 đến thị trấn Bình Đại (khoảng 40km), đi thẳng đến ngã tư Thạnh Phước (khoảng 7km), đi thẳng khoảng 1km nữa là đến di tích.

Từ thành phố Bến Tre, theo Quốc lộ 60 đến ngã tư huyện Châu Thành (8km), theo Đường tỉnh 883 đến thị trấn Bình Đại (khoảng 40km), đi thẳng đến ngã tư Thạnh Phước (khoảng 7km), đi thẳng khoảng 1km nữa là đến di tích.

Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại đã chiến đấu anh dũng, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, phá rã hệ thống kềm kẹp của địch, bắt sống và tiêu diệt hàng ngàn tên, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến đấu, tiêu biểu có các trận đánh: Trận diệt tên thiếu úy Từ Văn Khoa (6/1952); Trận đánh bót PC (12/11/1954): ta chiếm gọn bót, tiêu diệt một trung đội, bắt sống một trung đội, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng; Trận đánh đồn (04/5/1963): ta chiếm gọn đồn, tiêu diệt một tiểu đội lính trong đó có tên đồn trưởng, thu 30 súng các loại, một máy PRC 10 và một tấn đạn; Trận bao vây đồn ngã tư Thạnh Tân (25/12 âl 1964); buộc địch phải rút chạy về chi khu Bình Đại; Trận chống càn (11/01/1966): ta tiêu diệt 08 tên, làm bị thương 21 tên địch; Trận phục kích diệt đại đội Bảo An (04/11/1969): ta tiêu diệt 40 tên địch (có 2 sĩ quan chỉ huy), 20 tên bị thương, bắt sống 7 tên, thu 22 súng các loại, 5 máy PRC 25; Trận diệt chốt phòng vệ (1973): ta tiêu diệt được tên Nguyễn Văn Lâm, trưởng ấp và tên Phan Văn Hoành, phòng vệ thu 12 súng các loại.

Những chiến thắng này khẳng định niềm tin, sức mạnh của nhân dân xã Thạnh Phước nói riêng và huyện Bình Đại nói chung trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Ngày 20 tháng 4 năm 2001, UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận di tích Các trận đánh tại ngã tư Thạnh Tân là di tích cấp tỉnh về loại hình lịch sử cách mạng.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cao Văn HưởngCao Văn Hưởng


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh hùng Cao Văn Hưởng
sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi
được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, xưởng phó xưởng
quân giới Quân khu 7.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Từ tháng 11</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1964 đến </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">mùa
x</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">uân
1975, Cao Văn Hưởng làm nhiệm vụ sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">.</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">T</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">rong hoàn cảnh
khó khăn gian khổ, ác liệt, nguy hiểm và thiếu thốn nhiều mặt, Hưởng đã nêu cao
tinh thần dám nghĩ, dám làm</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">,</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"> phát huy sáng kiến cải
tiến kỹ thuật và sản xuất được nhiều vũ khí cung cấp cho đơn vị chiến đấu.
Trong 2 năm 1967 - 1968, đơn vị Hưởng vừa sản xuất vừa vận chuyển vũ khí ra
phía trước. Mặc dù sức khoẻ có hạn, nhưng Cao Văn Hưởng vẫn cùng anh em vượt
qua nhiều tuyến đường khó khăn, nguy hiểm</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">&nbsp;</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">để chở vũ khí
đến nơi nhanh chóng, an toàn. Nhiều chuyến anh thồ tới 300kg, khi trở về lại
cán thương về tuyến sau an toàn. </span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;"><o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm 1970, địch nhiều lần
đánh phá vào khu vực sản xuất vũ khí của xưởng gây nhiều khó khăn cho ta. Trong
khi đó nguyên vật liệu để sản xuất vũ khí lại thiếu thốn, Hưởng xung phong đi
tìm bom, đạn lép của địch về làm mìn, lựu đạn. Nhiều khi anh thức trắng đêm để
chuyển vũ khí. Cao Văn Hưởng tích cực động viên đơn vị tích cực tăng gia, sản
xuất, hàng năm thu hoạch trên 10 tấn gạo, 30 tấn sắn… nhờ đó đã giải quyết được
nhiều khó khăn về lương thực, bảo đảm đời sống cho anh em trong xưởng. Anh sống
gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, được anh em yêu mến.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công
giải phóng hạng ba, 5 năm là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">11</span><span style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">-</span><span lang="VI" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">1978, Cao Văn Hưởng
được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.<o:p /></span></p>


Anh hùng Cao Văn Hưởng sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã An Hiệp, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, thượng úy, xưởng phó xưởng quân giới Quân khu 7.

Từ tháng 11-1964 đến mùa xuân 1975, Cao Văn Hưởng làm nhiệm vụ sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu. Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, ác liệt, nguy hiểm và thiếu thốn nhiều mặt, Hưởng đã nêu cao tinh thần dám nghĩ, dám làm, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật và sản xuất được nhiều vũ khí cung cấp cho đơn vị chiến đấu. Trong 2 năm 1967 - 1968, đơn vị Hưởng vừa sản xuất vừa vận chuyển vũ khí ra phía trước. Mặc dù sức khoẻ có hạn, nhưng Cao Văn Hưởng vẫn cùng anh em vượt qua nhiều tuyến đường khó khăn, nguy hiểm để chở vũ khí đến nơi nhanh chóng, an toàn. Nhiều chuyến anh thồ tới 300kg, khi trở về lại cán thương về tuyến sau an toàn.

Năm 1970, địch nhiều lần đánh phá vào khu vực sản xuất vũ khí của xưởng gây nhiều khó khăn cho ta. Trong khi đó nguyên vật liệu để sản xuất vũ khí lại thiếu thốn, Hưởng xung phong đi tìm bom, đạn lép của địch về làm mìn, lựu đạn. Nhiều khi anh thức trắng đêm để chuyển vũ khí. Cao Văn Hưởng tích cực động viên đơn vị tích cực tăng gia, sản xuất, hàng năm thu hoạch trên 10 tấn gạo, 30 tấn sắn… nhờ đó đã giải quyết được nhiều khó khăn về lương thực, bảo đảm đời sống cho anh em trong xưởng. Anh sống gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, được anh em yêu mến.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 5 năm là Chiến sĩ thi đua. Ngày 6-11-1978, Cao Văn Hưởng được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Chu du trải nghiệm cồn Phú ĐaChu du trải nghiệm cồn Phú Đa
Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

Hình như “bộ thất” chúng tôi ai cũng thích phiêu lưu, mạo hiểm, khám phá, đặc biệt là thích khám phá những vùng sông nước và cây trái. Đã ba năm miệt mài với sách vở, không có thời gian khám phá những gì yêu thích. Chỉ một năm nữa, chúng tôi sẽ ra trường, rồi mỗi đứa mỗi nơi, biết bao giờ mới có cuộc hội ngộ đầy đủ “bộ thất” thế này để thỏa chí nghịch ngợm khám phá. Điểm chúng tôi chọn khám phá là sông nước miền Tây, thế là cả bọn chọn Bến Tre. May quá, những bạn cùng lớp học có vài bạn quê ở Chợ Lách, Bến Tre. Các bạn ấy rất nhiệt tình mời chúng tôi về khám phá ở quê bạn.

 

Chưa có kinh nghiệm tính toán cho chuyến đi, nên cả bọn chẳng ai chú ý từ thành phố Hồ Chí Minh mình đi đến Chợ Lách là bao nhiêu km. Chỉ biết 6 giờ sáng “bộ thất” khởi hành đi bằng những con ngựa sắt  đến Chợ Lách vào khoảng 9 giờ 30. Trên đường đi, qua nhiều cây cầu, nếu tính từ bờ Tiền Giang sang Bến Tre, ấn tượng nhất là cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông, đẹp quá. Điều lý thú nữa là khi đến đất Bến Tre, quan sát thấy đâu đâu cũng trồng dừa, đoạn đến đỉnh cầu Hàm Luông nhìn xuống, trời ơi bạt ngạt dừa ơi là dừa!

Đến thị trấn Chợ Lách, bạn tôi đưa cả bọn đến xã Vĩnh Bình. Từ đây, chúng tôi mới thực sự thỏa chí khám phá vùng sông nước mênh mông và đa chủng loại cây trái. Đầu tiên quan sát, tìm hiểu được biết cồn Phú Đa nằm giữa dòng sông Cổ Chiên thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, có diện tích đất canh tác 495 ha, với 630 hộ dân sinh sống. Toàn bộ cồn Phú Đa được địa phương phân chia thành 02 ấp (Phú Đa, Phú Bình). Hệ thống giao thông bộ trên cồn khá thuận lợi. Hệ thống giao thông thủy thì chằng chịt những con rạch, nên cũng rất thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa.

 

Nếu tính từ đất liền qua phà nhỏ sang cồn Phú Đa chỉ mất 5 phút, đến cồn chúng tôi được các bạn cho đi xuồng máy quanh cồn để ngắm nhìn quan cảnh sông nước mênh mông, hít thở không khí sông nước thoải mái. Chúng tôi thấy bao quanh cồn Phú Đa là những hàng bần hay những cụm lục bình xanh ngắt chen chút, núm níu sát nhau nép mình nằm sát bờ đất cồn. Vì là vùng sông nước, nên liên tiếp có những làn gió thổi vào làm những hàng bần lúc nào cũng đong đưa trong gió và những thảm lục bình cứ nhấp nhô theo những gợn sóng vỗ vào bờ, nhìn những hình ảnh ấy nó đáng yêu, khoái chí vô cùng.

Người dân nơi đây bảo, vì nằm giữa dòng Cổ Chiên, nên vào mùa nước nổi từ đất liền nhìn ra cồn Phú Đa như một ốc đảo khổng lồ bồng bềnh trên sông. Được thiên nhiên ưu đãi nước vùng này ngọt quanh năm, lại có nhiều phù sa bồi đắp, nên vườn cây ăn trái nơi đây lúc nào cũng tươi tốt, oằn sai trĩu quả cả bốn mùa. Người dân xứ cồn đa số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, nhờ chăm chỉ canh tác mà xứ này hình thành nhiều vườn chuyên canh cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài tứ quý… và nhiều loại cây ăn trái khác.

Phải công nhận rằng, tổng thể quan cảnh cồn Phú Đa rất đẹp. Chúng tôi cuốc bộ gần hết các con đường trên cồn, tính đi tính lại cả gần 3km, song chẳng thấy mệt là bao. Bởi lẽ do khí hậu nơi đây mát mẻ, còn giữ được nguyên sơ của miệt vườn và môi trường sinh thái trong lành, với màu xanh của những vườn cây ăn trái. Tiếp xúc với người dân nơi đây, được biết cồn Phú Đa có chiều dài hơn 3km, ngang 500m đất bãi bồi ven sông, nên rất thuận lợi cho các loài thủy sản nước ngọt hội tụ về đây sinh sống, trong đó phải kể đến sản vật thiên nhiên khá quý hiếm đó là con “ốc gạo”.

Cả nhóm tìm hiểu, vì sao gọi là cồn “Phú Đa”, theo lời kể qua nhiều thế hệ: Người dân xứ cồn trước đây nghèo lắm, nên người dân mới đặt tên cồn là “Phú Đa”, với mong muốn đa số người dân sẽ có cuộc sống ngày càng khá lên. Người dân nơi đây còn cho biết, ngày xưa vùng này ốc nhiều vô kể, trong cuộc sống khó khăn lúc nghèo, đói người dân thường cào ồc về làm các món ăn thay cơm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán, nên đã đem ốc đó đến các gia đình khá giả trong vùng để đổi lấy gạo ăn. Thế là từ đó người dân quen gọi là ốc gạo Phú Đa, với mong muốn cho đa số người dân nơi đây sớm thoát khỏi cảnh cơ cực.

 

Bạn tôi đưa chúng tôi thăm vườn chuyên canh sầu riêng khoảng 2ha, mà mùa này theo chúng tôi được biết không phải là mùa sầu riêng, nhưng phân nữa vườn thì là những cây sầu riêng oằn sai trái, phân nữa vườn thì mới ra hoa, cả bọn đều ngạc nhiên, hỏi ra mới biết người dân ở đây áp dụng khoa học kỹ thuật để làm cho sầu riêng ra trái ngịch mùa. Hay đến tham quan vườn chôm chôm, vườn xoài tứ quý, vườn bưởi da xanh, vườn nhãn…, thì cũng đều như thế. Ghé thăm vườn chuyên trồng nhãn, thấy trong vườn để nhiều thùng nuôi ong để lấy mật bán. Chứng kiến quy trình chủ vườn lấy mật ong, thích quá, mật ong vàng trong óng ánh và sủi bọt, chủ vườn lấy một ít pha với trà nóng, vắt vào đấy miếng tắc tươi và mời chúng tôi thưởng thức. Phải công nhận mật ong pha trà uống thiệt đã. Sau khi lấy mật, chúng tôi thấy chủ vườn thu gom các vỉ sáp ong lại,  rồi làm thành những bánh to như bánh xe hơi, hỏi ra mới biết để dùng trong xây dựng. Ngoài ra, nhiều hộ dân ở đây còn sản xuất nhiều loại cây giống, trồng nhiều loại cây kiểng quý để bán.

Chu du trên cồn Phú Đa, chúng tôi thấy nơi đây còn hiện hữu: Đình Thần, Miếu bà Chúa Xứ, Nhà Thờ Phú Đa. Chưa có nhiều thời gian để tìm hiểu nhiều ở cồn Phú Đa, nhưng cả bọn đều có chung nhận xét trong tương lai cồn Phú Đa sẽ là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn rất hấp dẫn. Bởi quan cảnh nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành mát mẻ, người dân đôn hậu, niềm nở, ân cần mến khách. Đặc biệt, là các vườn cây ăn trái được canh tác theo thời vụ và nghịch mùa, cùng với hệ thống kênh rạch chằn chịt, cảnh sông nước hữu tình, chắc chắn sẽ thu hút du khách và sẽ thích thú khi đến khám phá nơi đây.

Chúng tôi hỏi bạn ở đây có phát triển du lịch chưa? Điểm ăn uống thế nào? Bạn tôi bảo hình như “chưa thấy”, điểm ăn có chỗ Ba Ngói và bạn kể ra hàng loạt món ăn dân dã, truyền thống của địa phương như: Bánh xèo nhân hến với củ hủ dừa; gỏi cuốn hến; gà ta thả vườn nấu cháo ăn với gỏi bắp chuối, cây chuối; gà nòi hầm xả; cá tai tượng chiên xù; canh chua cá ngát – cá bông lau nấu với bần, với ngó lục bình, bông so đũa, rau nhút, rau muống, rau cải trời…; tép rang dừa, cá rô, cá kèo, cá bống dừa, cá lòng tong kho tộ…. Đặc biệt, bạn tôi bảo đến cồn Phú Đa vào dịp mùng 5/5 âl, thì sẽ mặc sức thưởng thức đặc sản ốc gạo hay bánh xèo nhân ốc gạo hết sẩy luôn.

Như vậy, là hết một ngày chu du, thưởng ngoạn, hít thở không khí trong lành, nghịch ngợm với sông nước, thưởng thức các loại trái cây thứ thiệt tại vườn…. Từ giã cồn Phú Đa, “bộ thất” chúng tôi về lại thị trấn Chợ Lách nghỉ qua đêm. Hình như cả bọn còn luyến tiếc cái không khí yên ả, mát mẽ, trong lành, với những vườn ăn cây trái xum xuê trĩu quả và sự đôn hậu, chất phác, mến khách của người xứ cồn, cùng với những món ăn dân dã “rất tuyệt”. Hy vọng sẽ được đến nơi đây lần nữa, sẽ khám phá nhiều điều hay nữa và đặc biệt là được thưởng thức cho đã các loại trái cây, các món ăn dân dã, mà bạn tôi đã giới thiệu./.

 

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Chế độ thuỷ triềuChế độ thuỷ triều
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.
Nằm kề bên biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ đổ về, mà hằng ngày, hằng giờ còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Tuy mức độ mỗi sông, hoặc mỗi đoạn sông có khác nhau, song ở bất kỳ chỗ nào, từ Mỹ Thuận tới các cửa sông, mùa cạn hay mùa lũ, mực nước các sông hằng ngày đều có dao động theo sự chi phối của thủy triều.

Biên độ thủy triều.

Vùng biển Bến Tre thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều lớn có thể từ 2,5 tới 3,5 m. Chênh lệch giữa đỉnh – chân triều những ngày triều kém thường dưới hoặc xấp xỉ 1 m. Biên bộ hằng ngày kỳ triều cường thường lớn gấp 1,5 lần đến 2 lần kỳ triều kém, song với vùng bán nhật triều điều chênh lệch này không lớn.

Trong mỗi chu kỳ nửa tháng, bắt đầu là 1,2 ngày triều kém, đến giữa chu kỳ là triều cường, cuối chu kỳ là 1,2 ngày triều kém. Kỳ nước cường thường xảy ra sau ngày không trăng (đầu tháng âm lịch) hoặc ngày trăng tròn (rằm, khoảng 2 ngày).

Sự tiết giảm triều.

Càng vào sâu trong sông, biên độ triều càng giảm do sự nâng lên của chân sóng triều là chính. Trên sông Hàm Luông, mùa khô, sau khi truyền qua 45 km từ Tân Thủy đến Mỹ Hoà, độ lớn sóng triều giảm còn khoảng 92% và truyền thêm một khoảng 25 km nữa, tới Chợ Lách độ lớn sóng triều chỉ còn xấp xỉ 75%.

Mùa lũ, ảnh hưởng của nước nguồn không lớn, song cũng làm tiết giảm độ lớn sóng triều thêm khoảng 10 đến 20 cm tại Mỹ Hòa và 20 đến 40 cm tại Chợ Lách.

Tốc độ truyền sóng triều trong sông.

Sóng triều truyền vào sông với tốc độ trung bình trên dưới 30 km/giờ đối với các sông lớn. Còn đối với những sông nhỏ, hoặc màng lưới kênh rạch, sự truyền triều diễn ra phức tạp hơn. Ở đâu còn có hiện tượng giao thoa sóng triều tại những con sông có sự truyền triều từ hai phía.

Sự truyền triều vào trong sông tuy có gây một số khó khăn như đưa nước mặn vào nội địa, khiến cho vùng cửa sông thiếu nước ngọt nghiêm trọng vào mùa khô. Những ngày lũ lớn, nếu gặp kỳ triều cường, nước dâng to sẽ gây ngập lụt v.v... Song với vùng xa cửa sông, mặn không tới được thì dao động thủy triều trong ngày có tác dụng không nhỏ cho công việc tưới tiêu, thau chua, rửa mặn. Khi triều dâng, mực nước ngọt trong sông được đẩy lên cao, người ta có thể lợi dụng để lấy nước vào ruộng. Ngược lại, khi triều rút, mực nước xuống thấp, có thể xả nước, thau chua từ ruộng ra sông. Ngoài ra, người ta cũng còn lợi dụng nước lớn và lợi dụng dòng chảy hai chiều của sông rạch để đưa tàu thuyền có trọng tải lớn vào bến, hoặc đi lại theo chiều dòng chảy, tiết kiệm được nhiên liệu. Sự truyền triều vào sông cũng khiến cho nguồn thủy sinh vật vùng cửa sông phong phú thêm.

Đã ban hành
Anh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến TreAnh hùng LLVT nhân dân tỉnh Bến Tre
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

“Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua.

Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”

“Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng.

Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng,

Dân tộc anh hùng,Đảng anh hùng.”

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH.

“Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng. Lịch sử đấu tranh oanh liệt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra biết bao người con anh hùng.

Qua những người con anh hùng mà lịch sử anh hùng của dân tộc ta còn lưu truyền mãi mãi cho đến tận ngày hôm nay.

Tất cả chúng ta đều hiểu rằng,có được những người con anh hùng là nhờ nhân dân, Tổ quốc, đồng bào, đồng chí, đồng đội và trước hết là những bà mẹ Việt Nam đã sinh ra và nuôi dưỡng những người con yêu quý của mình.

Tôi mong rằng các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng và toàn thể nhân dân ta cùng nhau học tập những tấm gương sáng ấy để bảo vệ sự trường tồn của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Tổng Bí thư LÊ KHẢ PHIÊU.

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ - Nhân dân và Lực lượng vũ trang Bến Tre đã đóng góp công lao to lớn. Bằng tình yêu quê hương đất nước thiết tha, tinh thần quả cảm, Đảng bộ - Nhân dân và các Lực lượng vũ trang nhân dân Bến Tre đã cùng toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân đánh thắng 2 đế quốc xâm lược hung bạo, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nhiều đơn vị, địa phương và cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Bến Tre đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc, được Nhà nước phong tặng và tuy tặng danh hiệu ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

 
DANH SÁCH ANH HÙNG LLVTND QUÊ BẾN TRE.

(Giới hạn đến năm 2007 – Xếp theo vần A,B,C…)
 

SỐ TT

HỌ TÊN

N.S

QUÊ QUÁN

NĂM PHONG TẶNG

1

MAI VĂN ÁNH

(Mai Minh Hải)

 

 1944

xã Mỹ Thành, huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Công binh Bến Tre.

2

NGUYỄN VĂN BA

 

 1930

 

xã Tân Thành Bình,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không quân (nghỉ hưu).

 

3

TRẦN VĂN BẢY

(Bảy Sơn)

 

1936.

 xã Thành Triệu, huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 28-4-2000)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 320 / Quân Khu 9.

4

NGUYỄN VĂN BÁNH

 

1952.

xã Nhuận Phú Tân, huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đoàn phó D306 / E3 / Quân Khu 9.

5

TRẦN VĂN CẮT

 

1950

xã An Hiệp,

huyện Châu Thành.

 

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công huyện Châu Thành /Bến Tre

6

Liệt sĩ

NGÔ VĂN CẤN

(Sáu Quyền)

 

1936

xã Hưng Khánh Trung ,

huyện Chợ Lách

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 / Bến Tre.

7

PHAN .T. HỒNG CHÂU

(Nguyễn Thị Minh Hiền)

 

1952

xã Sơn Đông, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-1-1974 ) 

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu úy, Trinh sát vũ trang (Công an BếnTre)

8

NGUYỄN VĂN CHO

 

1949.

xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Tiểu đoàn 261 (HyRon).

9

NGUYỄN VĂN CHỒN

 

1941.

xã Tân Hào,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 15-1-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó sản xuất Vũ khí huyện Giồng Trôm.

10

PHẠM VĂN DŨNG

 

1950.

xã Đại Điền,

huyện Thạnh Phú

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội phó xã An Định, huyện Mỏ Cày

11

TỐNG VIẾT DƯƠNG

 

1924

xã Mỹ Hòa,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 367 / Quân Khu 7

12

NGUYỄN TẤN ĐANG

 

1932.

xã Quới Thành,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Quân Y Trung đoàn 3 / Quân Khu 9.

13

NGUYỄN THỊ ĐỊNH

(Ba Định)

1920

xã Lương Hòa,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 30-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước (từ trần).

14

NGUYỄN THẾ ĐOÀN(*)

(Hai Thủy)

 

1938.

xã Tân Phú A,

huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp

Tuyên dương AH ( 10-2-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội phẩu thuật tiền phương – Bến Tre.

15

NGUYỄN THỊ E

(Dân Đoàn)

 

1950.

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1973)

Khi tuyên dương anh hùng là Ytá / Quân y huyện Giồng Trôm.

16

KHẤU TRUNG GƯƠNG

(Dũng)

 

1949.

xã Phước Hiệp,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng C 3 / Tiểu đoàn 263 / Bến Tre.

17

NGUYỄN VĂN HOẠT

(Hùng)

 

1951

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH (20-10-1976)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công / Bến Tre.

18

LÊ THỊ HỒNG

(Minh Thắng)

 

1950.

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Phân đội Biệt động 3 / Thị xã.Bến Tre

19

TRẦN VIỆT HÙNG

 

1932

xã Hương Mỹ,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chủ nhiệm Ban Thông tin / Tỉnh đội Bến Tre.

20

CAO VĂN HƯỞNG

 

1930

xã An Hiệp,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xưởng phó Quân giới / Quân Khu 7.

21

Liệt sĩ

LÊ VĂN KHAI

(Ba Nghĩa)

 

1937

Xã Tam Phước,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 3 -8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trưởng ban An ninh xã Tam Phước- C.Thành

22

TẠ THỊ KIỀU

(Mười Lý)

 

1938.

xã An Thạnh,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Cán bộ BCH QS huyện Mỏ Cày.

23

DƯƠNG THỊ LANG

(Chí Tâm)

 

1912

xã Thành An,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân xã Thành An.

24

Liệt sĩ

VÕ VĂN LẸ

 

1950

xã Phú Hưng,

Thị xã Bến Tre.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Trung đội phó TSVT/ huyện Châu Thành

25

VÕ HOÀNG LÊ

(Võ Văn Quản)

 

1935

xã Thành Triệu,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Viện trưởng Viện Quân Y 2 / BTL TP HCM.

26

HỒ VĂN LỲ

(Thanh Dũng)

 

1952.

xã Bình Khánh,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Trinh sát vũ trang Bến Tre.

27

Liệt sĩ

VÕ VĂN MẪN

 

1939

xã Mỹ Thạnh,

huyện Ba Tri.

Tuyên dương AH ( 28-4-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Phi công Trung đoàn 923 / F371 Kh.Quân

28

ĐOÀN HOÀNG MINH

(Đoàn Văn Tới)

 

1938

xã Cẩm Sơn,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 17-9-1967 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng Thông tin/chủ lực Đông Nam Bộ

29

LÊ HOÀNG MINH

 

1949

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên xã đội Minh Đức.

30

Liệt sĩ

TRẦN VĂN ƠN

 

1931

Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 23-3-2000 )

Khi tuyên dương anh hùng là Hội viên Hội Học sinh-Sinh viên VN-Nam Bộ.

31

LÊ VĂN PHÒNG

(Lê Thanh)

 

1932

xã Mỹ Thạnh,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Phó Chính trị viên Tiểu đoàn 516/Tỉnh đội Bến Tre

32

LÊ VĂN PHÍCH

 

1949.

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Công binh / Bến Tre.

33

TRƯƠNG VĂN RẮT

(Bảy Tiến)

 

1952

xã Thạnh Phú Đông,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Xã đội trưởng Thạnh Phú Đông.

 

34

VĂN LỘC SANH

(Hoài Phương)

 

1947

xã Thuận Điền,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đội trưởng Đội Phẩu thuật 1 / Bến Tre

35

Liệt sĩ

HỒ TẮC SANH

 

1922

xã Phong Mỹ,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Chiến sĩ Quốc gia tự vệ cuộc / Bến Tre.

36

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN SỨ

(Tâm)

 

1956

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đại đội phó Đại đội1/Tiểu đoàn 263/Bến Tre.

37

ĐINH QUYẾT TÂM

(Đinh Văn Nhẫn)

 

1948

xã Tân Thạch,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Thông tin /Trung Đoàn 23/Quân Khu 7.

38

NGUYỄN MINH TÂM

 

1951

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chuẩn úy Đặc công / Tỉnh đội Bến Tre.

39

NGUYỄN THỊ TỐT

 

1907.

xã Phước Thạnh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Chiến sĩ dân quân Phước Thạnh.

40

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TƯ

(Thành Ngọc)

 

1935

xã Tân Thành Bình huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH ( 5-5-1965 )

Khi tuyên dương anh hùng là Tiểu đội phó du kích xã Tân Thành Bình.

41

Liệt sĩ

TRẦN VĂN TƯ

(Việt)

 

1950

xã Thới Thạnh,

huyện Thạnh Phú.

Tuyên dương AH ( 29-1-1996 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội phó Trinh sát VT / huyện Thạnh Phú

42

 VÕ VIẾT THANH

 

1943

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH ( 5-9-1970 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó sản xuất Vũ khí / Bến Tre.

43

LÊ HỮU THỜI

 

1932

xã Sơn Phú,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 / Quân Khu 9.

44

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN THUYỀN (Dũng)

 

1956

xã Thành Thới,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 25-1-1983 )

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội trưởng Đại đội 3/Tiểu đoàn 179/Bến Tre

45

Liệt sĩ

NGUYỄN VĂN TIỀN

(Sáu Tiền)

 

1950.

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-11-1978 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội trưởng /Tiểu đoàn 207 (Kiên Giang).

46

CAO VĂN TRUNG

(Lê Hùng)

 

1948

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trung đội phó Trinh sát vũ trang / Bến Tre.

47

Liệt sĩ

PHAN BÌNH TRUNG (Hoàng Lam)

 

1944

xã Long Mỹ,

huyện Giồng Trôm

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại đội phó Đặc công thủy / Bến Tre.

48

NGUYỄN THÀNH TRUNG

(Đinh Khắc Chung)

 

1947

xã An Khánh,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH (20-12-1994)

Khi tuyên dương anh hùng là Đại tá Không Quân (chuyển ngành).

49

NGUYỄN VĂN TRINH

(Chí Thành)

 

1912

xã Phú An Hòa,

huyện Châu Thành.

Tuyên dương AH ( 6-6-1976 )

Khi tuyên dương anh hùng là Trưởng ban An ninh xã Phú An Hòa

50

Liệt sĩ

NGUYỄN THANH TRÀ

(Cò Trà)

 

1918

xã Sơn Hòa,

huyện Châu Thành

Tuyên dương AH ( 3-8-1995 )

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Tỉnh ủy viên /Phó Ty CA / Bến Tre.

51

 Liệt sĩ

VĂN LỘC TRỊ

 

1949.

xã Lương Phú,

huyện Giồng Trôm.

Tuyên dương AH (13-8-1980)

Khi tuyên dương anh hùng là Liệt sĩ Đội trưởng Trinh sát vũ trang/huyện G.Trôm.

52

 LÊ VĂN VÀNG

(Ba Bứng)

 

1929.

xã Tân Xuân,

huyện Ba Tri

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Chính trị viên Huyện đội Thạnh Phú.

53

LÊ QUANG VĂN

(Lê Giang)

 

1937.

xã Minh Đức,

huyện Mỏ Cày.

Tuyên dương AH (6-11-1978)

Khi tuyên dương anh hùng là Thiếu tá Tỉnh đội phó Bến Tre.

 (*) Trường hợp Anh hùng NGUYỄN THẾ ĐOÀN (quê Đồng Tháp) được quản lý trong danh sách AHLLVT ND của Bến Tre là vì NGUYỄN THẾ ĐOÀN chiến đấu trên chiến trường Bến Tre, lập công đặc biệt xuất sắc, được Tỉnh Đội Bến Tre đề nghị tuyên dương anh hùng. Hiện tại NGUYỄN THẾ ĐOÀN nghỉ hưu ở quê vợ: xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

(Danh sách AH LLVT ND được cập nhật trên cơ sở tài liệu “CHÂN DUNG ANH HÙNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH” của Ban TT-VH TW và nguồn tư liệu của Viện TĐ-KT NN cung cấp).

 

Đã ban hành
Di tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia ĐịnhDi tích lịch sử căn cứ của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định
Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

 

Image
Căn cứ của Khu ủy Sài Gòn-Gia Định
   Khu căn cứ này còn có mật danh là T4, Y4. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, qua phà Hàm Luông đi đến ngã ba chợ Xép rẽ phải đi tiếp 5 km nữa là đến xã Tân Phú Tây và xã Thành An thuộc huyện Mỏ Cày.

   Sau Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), địch phản kích quyết liệt, tăng cường hành quân càn quét, dùng phi pháo đánh phá khốc liệt ở vùng giải phóng và những nơi mà chúng nghi là có lực lượng cách mạng đang trú đóng.

   Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa thường vụ Khu ủy và lãnh đạo tỉnh Bến Tre, cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chuyển về đóng tại xã Tân Phú Tây. Đây là vùng mới giải phóng, nhân dân kiên cường, có trình độ giác ngộ chính trị cao, địa hình lại rất hiểm trở, nhiều kênh rạch chia cắt, có nhiều vườn dừa liên tiếp che chắn, địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, kể cả việc dùng trực thăng đổ quân cũng bị nhiều hạn chế.

   Bên trong căn cứ, ta thiết lập hàng chục hầm kiên cố có khả năng chịu đựng được pháo 105 ly, những công sự chiến đấu và hệ thống hầm bí mật, chỗ làm việc của lãnh đạo Khu ủy, nơi giành cho các cuộc hội nghị, cơ sở hậu cần, bảo vệ v.v…

   Ở vòng ngoài là hành lang bảo vệ và đầu mối liên lạc, gồm các xã chung quanh như Thành An, Hòa Lộc, Thạnh Ngãi, Phước Mỹ Trung.

   Gián điệp và do thám của địch cũng đã đánh hơi biết được cơ quan đầu não của Sài Gòn - Gia Định đang đóng tại căn cứ này, nên đã tung lực lượng thăm dò, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhưng đều bị lực lượng bảo vệ cùng lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên…

  Thời gian đóng căn cứ ở đây không dài, nhưng cơ quan Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã được sự hỗ trợ, cưu mang đầy tình nghĩa của quân và dân huyện Mỏ Cày nói riêng và tỉnh Bến Tre nói chung.

  Sau chiến tranh, những di tích của căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định coi như bị bom đạn của địch xóa sạch. Để lưu giữ lại dấu tích của một thời chiến đấu gian khổ, hào hùng, tỉnh đã phục chế lại hai hầm trú ẩn bằng bê tông giả thân cây dừa và dựng bia lưu niệm tại xã Tân Phú Tây.

   Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ra quyết định số 3777/QĐ/BT công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ngày 23-12-1995. 

Đã ban hành
Tân AnTân An
&nbsp;

Huyện từ một đơn vị hành chính cấp tổng được thăng lên vào năm Gia Long thứ 7 (1808), gồm 2 tổng Tân Minh (cù lao Minh) và An Bảo (cù lao Bảo), thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh.

Tân An

Tổng thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định, gồm cù lao Minh và cù lao Bảo, được thành lập năm 1757, đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

Đã ban hành
Nguyễn Văn BaNguyễn Văn Ba


<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Anh
hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại
tá nghỉ hưu.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Năm
1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm
1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung
gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh
máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế,
Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ
bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính
xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của
không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc. <o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Nguyễn
Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành
xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc
Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển
ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân
bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm
1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là
giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến
năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.<o:p /></span></p>

<p style="margin-top: 12pt; text-align: justify;" class="MsoNormal"><span lang="FR" style="font-size: 10pt; font-family: Arial; color: black;">Đồng
chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995,
Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân. <o:p /></span></p>


Anh hùng Nguyễn Văn Ba sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Khi được tuyên dương anh hùng, đồng chí là đảng viên, đại tá nghỉ hưu.

Năm 1954, Nguyễn Văn Ba tập kết ra Bắc, được cử đi học lái máy bay. Trong những năm 1963 – 1964, Mỹ-ngụy ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả dùng máy tung gián điệp. Trung đoàn 919 được giao nhiệm vụ sử dụng chiếc máy bay T28 để đánh máy bay địch. Chiếc T28 không có lý lịch, không có thợ máy và khí tài thay thế, Nguyễn Văn Ba được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đêm 14 rạng ngày 15-2-1964, tổ bay của Nguyễn Văn Ba phát hiện được chiếc C123 của địch, bằng 3 loạt đạn chính xác, Nguyễn Văn Ba đã bắn rơi chiếc C123 này. Đây là chiến công đầu tiên của không quân ta bắn rơi máy bay địch vào ban đêm trên miền Bắc.

Nguyễn Văn Ba đã đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ nào anh cũng hoàn thành xuất sắc. Tháng 3-1973, Nguyễn Văn Ba làm trưởng đoàn tiếp nhận sân bay Lộc Ninh – Thiện Ngôn. Anh đã chỉ huy tháo rời chiếc UH1A của Mỹ từ Lộc Ninh chuyển ra Bắc lắp ráp cho bộ đội luyện tập. Tháng 3-1975, Nguyễn Văn Ba tiếp nhận sân bay Phù Cát (Bình Định) và tham gia đoàn tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1976, anh làm giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất. Năm 1978 – 1979, Nguyễn Văn Ba là giám đốc xưởng A75. Năm 1990, anh chuyển sang Tổng cục Hàng không dân dụng, đến năm 1994 nghỉ hưu, mang quân hàm đại tá.

Đồng chí Ba được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 30-8-1995, Nguyễn Văn Ba được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đã ban hành
Bùi Sĩ HùngBùi Sĩ Hùng
&nbsp;

Image
Bùi Sĩ Hùng
Sinh ngày 25-2-1919 trong một gia đình trung lưu ở quận Bình Đại, tỉnh Bến Tre, Bùi Sĩ Hùng thuở nhỏ học ở trường tiểu học rồi Trung học Mỹ Tho. Năm 1937, tiếp tục theo học ở Trường trung học Thăng Long (Hà Nội), sau chuyển về Trường Pétrus Ký (Sài Gòn). Từ năm 1941 đến năm 1945, là sinh viên Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông cùng một số bạn bè đi xe đạp về Nam, rồi tham gia phong trào Thanh niên tiền phong ở quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (tức quận Bình Đại ngày nay), tham gia cướp chính quyền tại đây và được cử làm Phó Chủ tịch UBND lâm thời kiêm Ủy viên quân sự quận An Hóa.

   Sau khi giặc Pháp chiếm Bến Tre, ông gia nhập Vệ quốc đoàn thuộc chi đội 20, tuần tự kinh qua các chức vụ từ trung đội trưởng đến trung đoàn phó kiêm tham mưu trưởng trung đoàn 99, rồi trung đoàn chủ lực Cửu Long, làm Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Trà Vinh, Trưởng ban tác chiến phòng tham mưu, Bộ tư lệnh miền Tây Nam Bộ cho đến ngày hiệp định Genève được ký kết.

   Tháng 1-1955, tập kết ra miền Bắc. Đầu năm 1956, chuyển ngành, đi học lớp bổ túc y sĩ cao cấp ở Trường Cán bộ y tế tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại Bệnh viện hữu nghị Việt - Tiệp ở Hải Phòng, rồi chuyển về làm Chủ nhiệm khoa Sản phụ tại bệnh viện Vinh (Nghệ An). Do những thành tích xuất sắc trong chuyên môn, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng ba.

   Tháng 1-1963, ông được cử đi tu nghiệp tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc. Sau khi về nước, làm Phó giám đốc Trường Bổ túc bác sĩ cho chiến trường B, trực thuộc Bộ Y tế.

   Tháng 10-1963, về miền Nam, được cử làm Trưởng ban Dân y khu 8 Nam Bộ. Tháng 4-1972, ra miền Bắc, phụ trách công tác chi viện về y tế cho chiến trường B2. Tháng 11-1973, được bộ Y tế chọn đi tu nghiệp ở Pháp.

  Sau ngày miền Nam giải phóng (30-4-1975), ông ở trong Đoàn tiếp quản Sài Gòn và được cử làm Giám đốc bệnh viện Từ Dũ, sau đổi thành Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh thành phố Hồ Chí Minh… Trong 14 năm làm giám đốc, Bùi Sĩ Hùng bằng vốn kiến thức chuyên môn và năng lực quản lý của mình, đã xây dựng nơi đây từ một “nhà thương thí" trước ngày giải phóng thành một bệnh viện sản phụ lớn nhất nước và cả Đông Nam Á với 750 giường, một cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ chuyên ngành quan trọng ở phía Nam của ngành y. Bản thân có nhiều cống hiến trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành sản khoa, có nhiều sáng kiến cải tiến có giá trị trong việc thực hiện kế hoạch dân số, do đó ông được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc của ngành y và được Liên hiệp Công đoàn trung ương tặng bằng sáng chế. Năm 1988, ông được Nhà nước ta phong hàm Phó giáo sư và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân.

Đã ban hành
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh

Phó Chủ tịch Trường trực Ủy ban nhân dân tỉnh
- Họ và tên: Trương Duy Hải
- Sinh ngày: 25/5/1959
- Quê quán: Xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre
- Dân tộc: Kinh
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
- Chuyên môn, nghiệp vụ: Thạc sĩ Hành chính
- Lý luận Chính trị: Cao cấp


Đã ban hành
Giồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởngGiồng Trôm "Đất thép thành đồng" - Điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Nếu như du khách đã đến xứ dừa Bến Tre khám phá những điểm đến du lịch sinh thái - sông nước - miệt vườn hấp dẫn ở Châu Thành, Chợ Lách hay vùng ven thành phố Bến Tre, thì Giồng Trôm cũng là vùng đất có nhiều điểm hẹn, điểm đến, điểm về nguồn rất lý thú để du khách trải nghiệm về văn hóa - lịch sử.

Giồng Trôm nằm khoảng giữa cù lao Bảo, có ranh giới chung sông Ba Lai với Bình Đại, sông Hàm Luông - Mỏ Cày Nam và giáp ranh Ba Tri, thành phố Bến Tre, Châu Thành. Địa danh Giồng Trôm được cấu tạo theo đặc điểm của đất cộng với tên thực vật - một con giồng có cây trôm mọc - giống như sự cấu tạo các địa danh Giồng Tre, Giồng Mít, Giồng Dứa. Như vậy, tên Giồng Trôm xuất hiện trên đất xứ dừa Bến Tre đã từ lâu. Đất đai Giồng Trôm được cấu tạo từ phù sa của hai con sông lớn Ba Lai và Hàm Luông, lại được tưới tắm bởi một mạng lưới sông rạch chằng chịt, do vậy mà Giồng Trôm có thế mạnh của một nền kinh tế nông nghiệp đa dạng. Có thời kỳ Giồng Trôm từng mang tên là quận Tán Kế, để ghi nhớ tên người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vùng Ba Châu. Do vậy, cũng có thể coi huyện Tán Kế là tiền thân của huyện Giồng Trôm sau này.

Giồng Trôm là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử trong hai thời kỳ kháng chiến, là nơi sản sinh nhiều vị tướng lĩnh danh tiếng như: tướng Đồng Văn Cống, Nữ tướng Nguyễn Thị Định, Đại tướng Lê Văn Dũng, tướng Võ Viết Thanh, tướng Nguyễn Hữu Vị, tướng Trần Minh Tích, tướng Trần Văn Nhiên, tướng Võ Khắc Sương, tướng Nguyễn Văn Ngai, tướng Nguyễn Hoàng, tướng Hồ Quốc Việt…. Đặc biệt, vùng đất này còn là một nơi lưu giữ những tài sản tinh thần liên quan đến nhà thơ Phan Văn Trị và là nơi đã nuôi, che chở cho đồng chí cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Duẩn trong thời gian hoạt động cách mạng (11/1955 – 3/1956).

 

Hãy làm một cuộc hành trình đến xứ dừa, để du khách tham quan khám phá Giồng Trôm “Đất thép thành đồng” với những điều rất thú vị. Từ thành phố Bến Tre men theo tỉnh lộ 885 đến xã Mỹ Thạnh (địa danh Mỹ Lồng) khoảng 6,5km, điểm dừng chân đầu tiên tham quan là “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/5/1997. Ông là người làng Mỹ Thạnh, huyện Tân An, nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm. Năm 1848, ông giữ chức Lãnh binh trong quân đội dưới triều Thiệu Trị. Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, ông đem binh ứng cứu, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành bị hạ, ông được lệnh đóng giữ phòng tuyến Kỳ Hòa, ở đồn Cây Mai. Do lực lượng quá chênh lệnh, sau một thời gian cầm cự, ông rút quân về Gò Công, cùng phối hợp chiến đấu với nghĩa quân Trương Định. Ngày 27/6/1866, ông bị trúng đạn, tử thương trong một trận giao chiến kịch liệt với Pháp. Sau khi ông chết thi hài ông được đưa về quê an táng. Đền thờ ông trước đây là đình làng, thờ Thành hoàng bổn cảnh. Vào năm 1984, nhân dân địa phương đem bài vị của ông vào đình thờ như một vị thần đã có nhiều công lớn đối với đất nước trong việc chống ngoại xâm. Từ đó đình trở thành “Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng” tọa lạc tại ấp Chợ, xã Mỹ Thạnh. Ngày giỗ ông hàng năm là ngày rằm tháng 5 âm lịch.

 

Sau khi viếng thăm “Di tích Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”, du khách đến “Di tích các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” tại ấp Cầu Hòa, xã Phong Nẫm, Giồng Trôm cách đền thờ Lãnh Binh Thăng 2,5km và cách thành phố Bến Tre 09km theo đường bộ. Nơi đây, vào lúc 05 giờ sáng ngày 10/01/1947 (ngày 19 tháng chạp năm Bính Tuất), hai trung đội lính lê dương do tên thiếu úy Tây lai Leon Leroy chỉ huy theo đường sông từ An Hóa theo kênh Chẹt Sậy đổ bộ lên ấp Cầu Hòa và ấp Nhì càn quét vì nghi ngờ có Việt Minh đang trú đóng. Không tìm ra một chứng tích nào về Việt Minh, chúng quay ra nổ súng bừa bãi vào những người dân vô tội, giết chết 286 người, gồm phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già. Chúng đốt cháy hơn 100 ngôi nhà. Nhiều xác chết bị cháy thiêu. Có gia đình bị giết đến 17 người, có gia đình bị giết sạch không còn người nào. Đây là cuộc tàn sát có quy mô nhất và dã man nhất ở Bến Tre trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954). Di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 19/01/2001.

 

Cũng nằm trên đường tỉnh 885 cách thành phố Bến Tre 8,5km, du khách đến “Khu tưởng niệm Nguyễn Thị Định” tại xã Lương Hòa.  Khu lưu niệm được khởi công xây dựng vào cuối năm 2000, đưa vào phục vụ vào cuối năm 2003. Với diện tích rộng gần 15.000 m2, cổng được xây dựng theo dạng cổng tam quan của đình làng nông thôn Việt Nam. Trong khu lưu niệm có xây dựng Đền thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định theo kiểu tứ trụ, cột tròn mái hai tầng chồng diềm uốn cong ở 04 góc, diềm mái đầu cột, đầu hồi có trang trí họa tiết, có 03 cửa ra vào, xung quanh có hành lang rộng. Ngoài ra, còn có phòng trưng bày hiện vật, hình ảnh, tư liệu để minh họa về cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng kiên cường, liên tục của Nữ tướng Nguyễn Thị Định đã gắn bó với những chặng đường đấu tranh vô cùng oanh liệt của dân tộc ta. Hàng năm, vào ngày 28/7 âm lịch là ngày giỗ của Nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Nằm trong hệ thống Di tích văn hóa – lịch sử “Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Bình Hòa” cũng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích cấp Quốc gia vào ngày 07/01/1993. Di tích này cách thành phố Bến Tre 16km và cũng trên nằm trên đường tỉnh 885, du khách có thể đến đây bằng đường bộ hoặc đường thủy. Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ ngôi đình tồn tại đến nay gần 200 năm. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 6 (1852). Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Hiện tại còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ… được lưu giữ. Hằng năm vào rằm tháng giêng (âl) diễn ra lễ cúng đình lần thứ nhất và vào rằm tháng chạp (âl) lần thứ hai. Về mặt kiến trúc trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài lân, long, quy, phụng, chim muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v… Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời kháng Pháp) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Mảnh đất Giồng Trôm còn có “Di tích Ngôi nhà ông Nguyễn Văn Trác” ở xã Hưng Lễ. Đây là nơi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn đã ở và làm việc từ tháng 11/1955 - 3/1956, để chỉ đạo phong trào Cách mạng miền Nam và tổng hợp tình hình, dự thảo Đề cương Cách mạng miền Nam. Nhà gồm 3 gian, hai chái bằng gỗ, xung quanh là vườn dừa, có lối thoát thuận tiện khi gặp biến cố. Đồng chí Lê Duẩn hàng ngày làm việc, ăn ở ngay trong căn buồng, có kê chiếc giường đôi, cạnh đó là một tủ đứng, bên trong bố trí thông với một hầm bí mật đào dưới đất. Việc canh gác theo dõi người lạ, địch bên ngoài đều do vợ chồng ông, bà Nguyễn Văn Trác đảm nhiệm, để ghi dấu một di tích của thời đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Di tích cấp Quốc gia  vào ngày 07/5/1997.

Đến Giồng Trôm du khách còn tham quan “Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống” tọa lạc tại xã Tân Hào. Nếu đi theo tỉnh lộ 885 cách thành phố Bến Tre 25km, theo tỉnh lộ 887 thì ngắn hơn 07km. Trung tướng Đồng Văn Cống là vị tướng bưng biền, một người con ưu tú của quê hương Đồng Khởi, ông được xem là người anh cả của lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre. Ông còn là thủ lĩnh du kích xã Tân Hào thời chống Pháp với những chiến công vang dội trên các chiến trường Bến Tre, Gò Công, Trà Vinh, Vĩnh Long. Thời chống Mỹ, ông là Tư lệnh Quân khu 9, Tư lệnh Khu 8, Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

“Đền thờ nhà thơ Phan Văn Trị” cũng nằm trên mảnh đất Giồng Trôm tại xã Thạnh Phú Đông. Phan Văn Trị đỗ thứ 10/17 cử nhân ở khoa thi Kỷ Dậu năm Tự Đức thứ 3 (1849), năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Với tài học đó, Cử Trị có thể ra làm quan, nhưng vì chán cảnh quan trường, buồn phiền vì thời cuộc cứ rối ren, ông về sống đạm bạc bằng việc dạy học ở làng Bình Cách (nay thuộc Tp. Tân An, tỉnh Long An). Sau tị địa về Vĩnh Long rồi về Phong Điền - Cần Thơ, vừa dạy học, bốc thuốc, vừa làm thơ…. Đức độ và tài năng của Phan Văn Trị đã làm cho nhiều người cảm phục. Ông mất ngày 16/5 năm Canh Tuất (nhằm 22/6/1910) tại xã Nhơn Ái (nay thuộc huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ), thọ 80 tuổi. Tại xã Thạnh Phú Đông, quê hương nơi ông sinh ra, năm 1998 đã xây dựng Đền thờ cho ông.

Có thể nói mảnh đất Giồng Trôm không những chỉ phong phú về di tích văn hóa - lịch sử, mà còn hấp dẫn với môi trường sinh thái tự nhiên sông nước, miệt vườn, nổi bật nhất là khám phá du lịch sinh thái cộng đồng Cồn Ốc tại xã Hưng Phong, chỉ cách thành phố Bến Tre 12 km. Du khách đến nơi đây cả đường bộ lẫn đường thủy đều thuận lợi. Cồn Ốc là cồn nổi lớn nhất trên sông Hàm Luông, có diện tích tự nhiên 647ha. Ban đầu, nơi đây chỉ là một cồn nhỏ, thấp, có nhiều ốc bám vào các loài cây ngập nước trên nền phù sa, vì vậy mới có tên là Cồn Ốc. Vùng này, còn có nhiều loài cây ăn trái đặc hữu như: Dừa núm, bưởi da xanh..., với chất lượng ngon hơn hẳn các vùng khác. Dừa núm trồng trên vùng đất cát phù sa của Cồn Ốc có độ ngọt đượm và nhiều nước hơn. Bưởi da xanh ở đây có múi sắc hồng, không hột, không the, vị ngọt đượm với vị chua dịu miệng, trái chín vẫn giữ trọn sắc xanh. Đặc biệt, một giống cây quý của Cồn Ốc được xem như một thứ giải khát hiếm có là “dừa dứa”, đây là giống dừa thoảng hương lá dứa từ nước uống đến cơm dừa. Cây dừa dứa rất kén đất, chỉ thích hợp với vùng nước lợ, nước ngọt sẽ cho trái có vị chua, nước mặn làm trái bị nhỏ. Hiện tại, vùng đất Cồn Ốc còn tồn tại nhiều vườn dừa có cả 20 giống dừa cư ngụ. Ngoài các loại dừa, Cồn Ốc còn có đa dạng các loại cây trái khác như: Cam, quýt, chanh, nhãn, Sapôchê…. Đến Cồn Ốc du khách còn hứng thú tham gia vào quá trình sản xuất để khám phá trải nghiệm tại “Làng nghề đan giỏ cọng dừa” và các vệ tinh hàng thủ công mỹ nghệ làm từ cây dừa.

Làng nghề truyền thống ở Giồng Trôm cũng khá nổi tiểng như: "Bánh tráng Mỹ Lồng” tại xã Mỹ Thạnh, “Bánh Phồng Sơn Đốc" tại xã Hưng Nhượng; Làng nghề TTCN  tại xã Phước Long (sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ sơ dừa và đan giỏ cọng dừa…). Hay chợ Chanh ở xã Lương Quới, nằm cặp tỉnh lộ 885, cách Tp Bến Tre 12 km, đây là chợ đầu mối mua bán chanh độc nhất vô nhị ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thủ công mỹ nghệ từ dừa - ảnh TTr.

Những chuyến về nguồn trên đất cù lao xứ dừa, nhất là du khách khám phá trải nghiệm về văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái sông nước – miệt vườn trên mảnh đất Giồng Trôm “Đất thép thành đồng”, hy vọng du khách sẽ thật sự hài lòng, thú vị với chuyến đi có ý nghĩa, bổ ích và thư giãn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Đạo Thiên ChúaĐạo Thiên Chúa
&nbsp;

Image
Nhà thờ Cái Mơn
 Đạo Thiên Chúa (1) có mặt ở Bến Tre vào giữa thế kỷ XVIII. Có hai ý kiến khác nhau về thời gian và địa điểm hình thành họ đạo Thiên Chúa đầu tiên trong tỉnh. Ý kiến thứ nhất cho rằng Giồng Giá là nơi họ đạo Thiên Chúa ra đời sớm nhất. Ý kiến thứ hai khẳng định Giồng Tre (nhà thờ Cái Bông) là nơi có họ đạo Thiên Chúa trước tiên. Cả hai nơi này đều thuộc huyện Ba Tri, một huyện ven biển của Bến Tre.

Ý kiến thứ nhất, căn cứ vào các gia phả và ký ức của những tín đồ Thiên Chúa cao tuổi nhất trong vùng còn sống ở Giồng Giá, nói rằng năm 1740. Có một số tín đồ từ miền ngoài đi thuyền đến Ba Tri. Đa số cháu chắt của những người này, nay sống ở Giồng Giá đều mang họ Nguyễn.

Giồng Giá là nơi có nhiều cây giá mọc xen lẫn với cây bần và cây mắm. Thời ấy, nơi đây còn nhiều thú dữ, kể cả cọp và cá sấu. Đồng bào thường tập trung sống trên những con giồng. Giồng Giá có một bến mang tên là Bến Vựa nằm bên bờ rạch Ba Tri. Gọi Bến Vựa vì ở đây, thời ấy có những kho, vựa tôm, cá khô, do người Hoa làm chủ để buôn bán trao đổi với các nơi. Từ Bến Vựa ra Biển đông khoảng 10 km, qua rạch Ba Tri đổ ra sông Hàm Luông. “Đất lành, chim đậu”, số đồng bào này đã dừng chân tại đây, rồi phá rừng, vỡ đất, khai hoang, lập ấp. Họ xây dựng nhà ở và một nhà nguyện (2) bằng gỗ, lá đơn sơ. Đến năm 1890, theo lời nhiều ông lão còn sống, nhà nguyện được làm lại bằng ngói, vách gỗ. Năm 1829, lại thay vách gỗ bằng tường gạch. Họ đạo Giồng Giá là một họ đạo nghèo. Đất nhà chung khoảng dưới 20 ha. Linh mục đầu tiên đến họ đạo này là một người Pháp mang tên là Marchand Du cũng thường gọi là cố Du. Lúc mới thâm nhập vào Việt Nam, các giáo sĩ nước ngoài thường lấy tên theo lối cấu trúc như trên (3).

Lúc bấy giờ vì lý do an ninh, Marchand Du không cư ngụ hẳn ở Giồng Giá mà thỉnh thoảng lui tới làm lễ tại các gia đình tín đồ.

Ý kiến thứ hai cho rằng Giồng Tre (Cái Bông) là họ đạo Thiên Chúa đầu tiên của tỉnh. Sách Chuyên khảo tỉnh Bến Tre biên soạn năm 1930, dưới thời tỉnh trưởng Fedinand Caire có đoạn: “Họ đạo đầu tiên của tỉnh bến Tre mãi đến năm 1860 mới thành lập, lúc đó bao gồm một số rất ít tín đồ cư ngụ chung quanh một nhà nguyện nhỏ dựng lên ở Cái Bông do một linh mục (prêtre) bàn xứ cai quản".

Ý kiến này có hai chỗ không phù hợp với lịch sử. Một là, như đã trình bày ở trên, các gia phả và tông chi cũng như theo lời kể lại của những người cao tuổi, kể cả linh mục hiện còn sống, thì họ đạo Giồng Giá có trước họ đạo Cái Bông khá lâu. Hai là, vào năm 1869, quyền cai quản một họ đạo không bao giờ được người Pháp trao đổi cho người Việt Nam. Muốn trở thành linh mục phải được đào tạo 5,  6 năm đối với một người có trình độ học thức nhất định (giảng đạo bằng tiếng La tinh). Vào thời điểm ấy, các giáo sĩ Pháp tới các nơi có tín đồ, vừa giảng đạo tại gia đình, vừa đào tạo người cai quản là chủ yếu. Việc họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) đã có sự cai quản của một “linh mục bản xứ” từ năm 1869 là thiếu cơ sở thực tế. Ngay ở Giồng Giá, mãi đến năm 1930, mới có một linh mục người Việt thường trú đầu tiên có tên là Thiện.

Một tư liệu khác cho biết vào năm 1770 (39 năm sau khi đã có họ đạo Giồng Giá), trong một lần quân của Nguyễn Ánh chạy thoát ra biển Đông theo dòng Hàm Luông do bị quân Tây Sơn truy đuổi, trong đoàn tùy tùng có 3 gia đình ngoan đạo: Võ Vách Trưng, Trương Văn Chức và Trương Văn Thoại (4). Ba gia đình này rắp tâm từ bỏ Nguyễn Ánh, nên khi đoàn thuyền đến gần rạch Cái Bông thì trời đã về khuya, họ cố tình đi sau cùng. Đến Vàm Rạch, họ ngoặt vào ngõ khác, chèo suốt đêm. Đến sáng, họ thấy một vùng đất cao ráo, có người khmer ở. Họ dừng thuyền, lên bờ xem xét và quyết định ở lại đây. Vùng này gọi là Giồng Tre, vì hồi đó nơi đây có rất nhiều tre. Họ dựng nhà ở và một nhà nguyện vào nơi cao ráo nhất. Thời gian không lâu sau đó, có các linh mục người Pháp tới rồi đi như Phêrô Lựu, Phêrô Thiền, Phaolô Tuyết (cả 3 đều là người Pháp lấy tên Việt) đến giảng đạo.

Sau này, con cháu họ Võ và họ Trương cưới hỏi nhau, sinh con đẻ cái ngày một nhiều. Đất đai Giồng Tre phì nhiêu hơn Giồng Giá, vì ở xa biển nên không bị ảnh hưởng nặng nề của nước mặn. Ngoài ruộng tốt, đất rộng người thưa, ba gia đình họ Võ và Trương tự do khai khẩn. Làm ăn khấm khá, con cháu của họ "dâng” một phần đất chi nhà chung (5). Cần nhắc thêm rằng ngay từ lúc đó, tín đồ ở đây đã phát triển, và có một linh mục người Pháp. Một người Pháp tên là Pillet đã đến đây chiếm đất, mở một đồn điền để khai thác sức lao động của nông dân địa phương. Cũng ở đây, trước thời Pháp thuộc, đã hình thành một số địa chủ của người Việt, với qui mô chiếm hữu ruộng không lớn lắm.

Sau ngày giải phóng, đất nhà chung của họ đạo Giồng Tre (Cái Bông) có đến 160ha, trong khi đó họ đạo Giồng Giá chỉ có không đầy 20ha. Nếu họ đạo Giồng Giá hầu như không thoát khỏi địa phương, dù là hình thành sớm nhất trong Bến Tre, thì ngược lại họ đạo Giồng Tre phát triển khá mạnh sang vùng Cái Mơn, Cái Nhum (cù lao Minh) và cả huyện Tiểu Cần, huyện Cầu Ngang thuộc tỉnh Trà Vinh.

Nhà thờ cái Bông hiện nay được xây dựng vào năm 1923. Nếu tính từ những linh mục người Pháp lưu động đầu tiên đến Giồng Tre cho đến ngày nay, thì nhà thờ Cái Bông đã qua 15 linh mục cai quản. Linh mục thường trú người Pháp cuối cùng ở Cái Bông tên là Sidot (1879-1889). Linh mục người Việt đầu tiên được điều về đây tên là Sâm, thay cho linh mục Sidot vào năm 1889. Linh mục hiện nay là Nguyễn Văn Quang mà quyển Tông chi ba họ sáng lập họ đạo Cái Bông cho biết là cháu ngoại 6 đời của Võ Vách Trưng, người đến định cư đầu tiên ở đây.

Tài liệu về hoạt động của đạo Thiên Chúa ở Nam bộ cho biết năm 1930, Bến Tre có hai hạt đạo; cù lao Minh và cù lao Bảo. Năm 1964, hai hạt đạo này nhập lại thành một với tên gọi là hạt Trúc Giang. Trước ngày 30-4-1975, lại chia ra làm 4 hạt: Ba Tri, thị xã Bến Tre, Cái Mơn và Bình Đại. Năm 1938, địa phận giáo hội Vĩnh Long được thành lập, cai quản các họ đạo thuộc các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, đến nay cộng thêm một nửa của tỉnh Đồng Tháp.

Ở Bến Tre ngoài Giồng Giá và Giồng Tre, còn phải kể đến họ đạo Cái Mơn. Đây cũng là một họ đạo tương đối lâu đời, do một linh mục người Pháp tên là Gernot thành lập tháng 2 năm 1872. Viên chủ pháp ở Bến Tre đã từng hết lời ca ngợi họ đạo này như sau: " Họ đạo Cái Mơn có một nhà thờ lớn dáng dấp rất đẹp. Họ đạo này thu được một kết quả lạ thường là đã công giáo hóa toàn bộ dân sống trên một cù lao nhỏ chỉ có một con rạch bao quanh. Thật vậy, trong vùng này chỉ có người Trung Quốc chuyên nghề buôn bán là không theo đạo Công giáo. Cần nêu lên một sự kiện độc đáo là trong công sở ở Cái Mơn (tức trụ sở ban hội tề xã, thời Pháp thuộc) chiếc bàn thờ cổ truyền kiểu Phật giáo hoặc khổng Giáo dựng lên để tưởng nhớ các vị trong ban hội tề quá cố, nay được thay thế bằng một chiếc bàn thờ Chúa. Đây là một kết quả thực hiện được ở địa phương này" (6).

Họ đạo Cái Mơn, ngoài một nhà thờ lớn, còn có một nhà nguyện riêng của nữ tu sĩ, trường học, nhà dưỡng lão, nhà trẻ mồ côi và ruộng, vườn thuộc nhà Chung.

Cái Mơn thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách là thị tứ sầm uất, nơi buôn bán, giao lưu khá tấp nập. Đây còn là một nơi sản xuất các loại cây giống và cây cảnh, có nhiều người có kỹ thuật ươm cây, ghép cây ăn quả nổi tiếng. Cạnh họ đạo Cái Mơn, có họ đạo Cái Nhum nay thuộc xã Long Thới, huyện Chợ Lách. Họ đạo cái Nhum cũng là một họ đạo lớn, xấp xỉ với họ đạo Cái Mơn.

Trong KCCP (1945-1954), bọn thực dân Pháp với chính sách lợi dụng tôn giáo trong âm mưu xâm lược, đã ra sức nắm nhà thờ và giáo dân, biến họ thành công cụ chống lại cách mạng. Ở Bến Tre điển hình nhất là sự kiện Léon Leroy.

Vốn là một con lai - Cha là một lính lê dương Pháp, mẹ Việt Nam – sinh ra từ đất Bình Đại, Léon Leroy đã được bàn tay của bọn thực dân thống trị biến thành một tên ác ôn nguy hiểm. Hắn đã từng được Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp phong làm đại tá kiêm tỉnh trưởng Bến Tre. Năm 1949, hắn đã thành lập một lực lượng vũ trang riêng, lấy tên là UMDC (Unité Mobile de Défense des Chrétientés) - với danh nghĩa là đội quân bảo vệ đạo - gồm những tay chân cuồng tín nhất để chống phá cách mạng. Cùng với đội quân này, Léon Leroy đã gây nên vô vàn tội ác, không những chỉ nhân dân trong tỉnh mà còn gieo bao nhiêu tang tóc, đau thương cho cả một vùng dân cư rộng lớn từ Gò Công, Mỹ Tho đến Vĩnh Long, Trà Vinh. Hàng ngàn người dân vô tội đã bị tra tấn, bị giết chết một cách dã man, hàng trăm làng mạc, xóm thôn bị càn quét, đốt phá. Những địa danh như Vàm Bình Đại, cầu tàu Phú Thuận, cầu tàu An Hóa, cầu Ba Lai, ngã tư An Hồ, Cầu Hòa đã từng ghi lại những vụ thảm sát tập thể, những hành động thủ tiêu cán bộ và đồng bào yêu nước của tên Một On (tức Léon Leroy) và đội quân này (7).

Năm 1999, Bến Tre có hai hạt: hạt thứ nhất gồm họ đạo các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành, Bình Đại và thị xã Bến Tre. Hạt thứ hai gồm họ đạo các huyện Thạnh Phú, Mỏ Cày, Chợ Lách. Cũng theo thống kê năm 1999, đạo Thiên Chúa ở Bến Tre có: 85 nhà thờ, 34 linh mục, 200 nữ tu, 60.000 tín đồ.

Chú thích :

(1) Thường gọi là công Giáo
(2) Nhà Nguyện là một loại nhà thờ nhỏ (Chapelle).
(3) Linh mục Marchand Du quê quán ở Thành phố Besancon (Pháp), tham gia cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi, bị bắt trong thành Gia Định khi thành này bị quân triều đình tấn công chiếm trở lại. Marchand Du bị xử tử năm 1835 tại Huế thời Minh Mạng.
(4) Ông Trương Văn Oai, năm nay 80 tuổi, người cao tuổi nhất hiện nay của họ đạo Giồng Tre, là cháu 6 đời của Trương Văn Chức, kể lại những điều đã nghe ông bà, cha mẹ nói lại rằng Võ Vách Trưng làm quan trong quân cơ của Nguyễn Ánh.
(5) Dưới ách cai trị của Pháp, một số nông dân nghèo không đủ tiền đóng thuế đành phải “dâng” đất cho nhà thờ.
(6) Monographie de la province de Bến Tre, Sđd , tr.36
(7) Xem chương Cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai ở phần Lịch sử.

Đã ban hành
Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp “sân vườn”
Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Tôi đến Bến Tre thời “qua sông còn phải lụy phà”, khi ấy đi mất nhiều thời gian, ngán lắm. Bây giờ thì từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre rất nhanh (chỉ mất khoảng 1 giờ 45). Bởi chiếc cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ hai tỉnh Bến Tre - Tiền Giang, Bến Tre đã hoàn toàn phá bỏ thế cách trở của vùng đất cù lao. Và thời ấy đến Bến Tre cũng không có nhiều khách sạn, nhà nghỉ để mà lựa chọn như bây giờ.

 

Qua sự giới thiệu của bè bạn, lần này đến Bến Tre với gia đình tôi chọn điểm nghỉ ở Khách sạn Sao Mai, số 106C - ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Cơ sở lưu trú này cũng dễ tìm và nằm ở vị trí khá thuận lợi, cạnh khu vực chợ phường 7 và gần với khu dân cư cao cấp Sao Mai.

Quan sát chung, tôi thấy toàn khu vực khách sạn lấy ý tưởng cảnh sân vườn là chủ yếu, nên không gian rất thoáng mát, kết hợp trang trí bên ngoài cùng màu xanh của cây cảnh rất hấp dẫn. Các vật dụng bàn, ghế đều làm bằng gỗ cao cấp, được bố trí ở những gian nhà ngoài để du khách có thể ngồi ngắm cảnh, thư giãn, trao đổi công việc…. Khung cảnh nơi đây đã thật sự tạo cho du khách sự thích thú khác lạ. Những ngày nghỉ tại đây, tôi gặp một số nhạc sĩ khá nổi tiếng của thành phố Hồ Chí Minh đang ở đây đi thực tế sáng tác. Tôi nghĩ với không gian cảnh quan thoáng mát, xanh – sạch - đẹp, yên ả thế này, thì rất lý tưởng cho giới văn nghệ sĩ cảm hứng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật hay phục vụ cho đời.

Với tôi, đây là điểm nghỉ ngơi lý tưởng, thích nhất là bữa ăn trưa, ăn chiều rất hợp khẩu vị, ngon miệng, giá bình dân, do khách sạn phục vụ theo yêu cầu của khách. Qua tìm hiểu, Khách sạn Sao Mai hiện có 36 phòng, được trang bị đầy đủ tiện nghi và chia thành nhiều loại phòng để khách có thể lựa chọn. Mỗi phòng nghỉ phía trước hoặc phía sau đều có bố trí bàn uống trà và ghế bố để du khách thư giãn….  Ngoài ra, trong khu khách sạn còn có sân tennis, sân cầu lông để khách rèn luyện sức khỏe hay giao lưu thể thao cùng bạn bè thân hữu mỗi khi đến công tác hay nghỉ dưỡng tại đây. Và khoảng sân vườn trống có bố trí lối đi, du khách đi tản bộ xung quanh. Tại khu khách sạn này có bố trí bãi để xe và xe 50 chỗ thoải mái vào đến nơi.

Thời điểm tôi và gia đình nghỉ tại đây cũng là lúc Khách sạn Sao Mai vừa mới được nâng cấp và đang làm thủ tục đề nghị ngành chức năng công nhận 1 sao, bây giờ chắc đã được công nhận rồi. Và tôi nghĩ rằng với sự phát triển hiện nay của  Bến Tre sẽ còn nhiều cơ sở lưu trú lý tưởng hơn hoặc cỡ như Khách sạn Sao Mai.

 

Trong khuôn viên khách sạn có hội trường mini khoảng 100 chỗ ngồi, thích hợp để tổ chức những cuộc hội nghị vừa, nhỏ, những cuộc gặp gỡ, giao lưu…, tất cả bàn, ghế và một số trang trí khác trong hội trường chủ yếu làm bằng gỗ cao cấp nhìn rất sang trọng và cổ kính. Khu nhà hàng thiết kế theo dạng nhà sàn, vật liệu chính cũng là gỗ, được xây dựng bên hồ nước, giúp điều hòa không khí đảm bảo thực khách khi dùng bữa ở nhà hàng luôn luôn thoải mái…. Các món ăn đặc sản của vùng sông nước ĐBSCL cũng được khách sạn đưa vào thực đơn phục vụ khách như: Cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, mắm chưng, mắm kho, canh chua cá bông lau, cá ngát, cá hú, … và còn nhiều món hấp dẫn khác sẽ phục vụ khách.

Nghỉ tại Khách sạn Sao Mai, đêm xuống du khách có thể tản bộ theo hướng vòng xoay Hàm Luông (trên đường tránh QL 60), đây là con đường rộng, khá sang trọng, có nhiều lối kiến trúc xây dựng nhà ở hay các công trình khác rất đẹp, hai bên đường tránh có nhiều quán ăn, uống, các điểm sinh hoạt giải trí…, tạm gọi là “làng ẩm thực – giải trí”. Ở đây, có đủ các món đặc sản để du khách mặc tình khám phá và thưởng thức. Nếu du khách thả bộ theo hướng về vòng xoay Bình Phú, đến cầu Bến Tre 2, tản bộ ngắm cảnh sông Bến Tre về đêm và con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông. Con đường này cũng được nhiều du khách chấm là con đường đẹp không thua gì các con đường ở Tp Hồ Chí Minh. Thích thú nhất là được tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát, yên ả của vùng sông nước xứ dừa và những nụ cười thân thiện mến khách, tận tình hướng dẫn của người dân nơi đây.

 

Sau vài ngày nghỉ ngơi thoải mái, từ giã xứ dừa Bến Tre, trả phòng và chia tay Khách sạn Sao Mai, cũng là lúc khách sạn đang tiếp nhận đoàn khách học sinh (gồm 02 xe 50 chỗ ngồi) là con của các chuyên gia nước ngoài đến làm việc tại Tp Hồ Chí Minh đến tham quan tại Bến Tre. Bắt gặp được điều đó, cũng có thể khẳng định sự tin cậy, an toàn, lý tưởng của điểm nghỉ kết hợp với sân vườn ở đây. Hy vọng Khách sạn “Sân vườn Sao Mai” tại thành phố Bến Tre sẽ ngày càng thu hút nhiều khách và phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954

Tình hình mất đất, mất dân đặt ra trước quân và dân Bến Tre một nhiệm vụ cực kỳ gay gắt, phức tạp. Tỉnh ủy kiểm điểm, đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải kịp thời ổn định tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và LLVT, kêu gọi toàn Đảng bộ, phải vững vàng trước tình hình khó khăn, vượt qua mọi thử thách, kiên quyết bám đất, bám dân, tổ chức lãnh đạo nhân dân chống trả địch, bẻ gãy mọi mưu đồ đen tối của chúng.

   Cùng với việc tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng. Tỉnh ủy và UBKCHC đã chủ trương sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp với hoàn cảnh mới, đưa những chi bộ rời xã trở về xã, điều động những cán bộ có năng lực, có dũng khí của huyện, tỉnh về tăng cường cho các cấp xã. Một số tỉnh ủy viên xuống huyện trực tiếp làm bí thư huyện ủy, các huyện ủy viên trực tiếp phụ trách một số xã, bám chắc địa phương. Địa bàn một số huyện cũng được phân chia, sắp xếp lại: huyện Chợ Lách sáp nhập với huyện Mỏ Cày, một số xã của huyện An Hóa nhập với huyện Sóc Sãi. Ban cán sự thị xã được thành lập để chỉ đạo công tác khôi phục cơ sở và đấu tranh nội thị.

   Các LLVT của huyện được phân tán thành những đội vũ trang tuyên truyền vừa tham gia xây dựng cơ sở quần chúng, vừa tổ chức đánh địch khi cần thiết. Các đại đội Vệ quốc đoàn được gấp rút củng cố, làm nhiệm vụ canh gác, phòng gian, bảo vệ căn cứ của tỉnh ở rừng Thạnh Phú, đồng thời hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở các xã chung quanh căn cứ.

   Như vậy là toàn bộ lực lượng cán bộ, đảng viên được triển khai trên mặt trận giành dân quyết liệt với địch bằng một quyết tâm sắt đá. Nhiều cán bộ phải len lỏi qua mạng lưới đồn bót địch, phải ăn nhờ ngủ bụi, chịu đựng đói khát, muỗi mòng. Các đồng chí ở Châu Thành, Sóc Sãi, Mỏ Cày ban ngày sống trên ngọn dừa, đến đêm khuya mới xuống hoạt động. Các đồng chí ở Thạnh Phú, trên đường công tác gặp bão lớn, ghe bị chìm, phải ôm cột đáy ngâm mình trong nước mặn cả tuần lễ.

   Riêng cuộc tiến quân trở về bám đất, bám dân lần này, Đảng bộ và chính quyền kháng chiến Bến Tre đã trả một giá khá đắt trên 600 cán bộ, đảng viên hy sinh. Đã có biết bao tấm gương kiên trung, bất khuất làm xúc động lòng người, và buộc chính kẻ thù phải khâm phục, kính nể.

   Đồng chí Nguyễn Văn Dậu, Phó bí thư kiêm Chủ tịch huyện Sóc Sãi bị địch bắt đem mổ bụng. Trước khi chết, đồng chí đã kêu gọi đồng bào, đồng chí tiếp tục kháng chiến cho đến thắng lợi, dõng dạc hô to “Hồ Chủ tịch muôn năm”!

   Đồng chí Nguyễn Thanh Trà, Tỉnh ủy viên, đã từng vào tù ra khám nhiều lần. Khi bị sa vào tay giặc, đồng chí đã tự mổ bụng, lấy máu viết lên tường nhà giam khẩu hiệu "Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Việt Nam độc lập muôn năm”. Địch phát hiện kịp, băng bó lại vết thương, nhưng đồng chí đã bứt băng, lôi ruột ra, ném vào mặt chúng rồi chết.

   Đồng chí Sáu Lấn, Bí thư Chi bộ Sơn Hòa (Sóc Sãi) bị địch bao vây, từ dưới hầm bí mật, đã ném lựu đạn lên, nhưng lựu đạn không nổ, đồng chí đã dùng dao mổ bụng, nhét tài liệu mật, rồi chửi thẳng vào mặt những tên dở giọng dụ dỗ, chiêu hồi.

   Đồng chí Hai Thép, Bí thư Chi bộ xã Phúc Túc, nằm dưới hầm bí mật, bị địch phát hiện, đồng chí ném hai quả lựu đạn vào đội hình địch, diệt cả chục tên, còn trái cuối cùng thì dành cho mình. Cái chết anh hùng của Hai Thép làm cho binh sĩ ngụy phải run sợ, kính phục.

   Một tiểu đội vũ trang tuyên truyền huyện Sóc Sãi, khi vượt sông bị tàu địch phát hiện, truy đuổi, dồn các đồng chí vào cồn Dơi. Các đồng chí đã chiến đấu một cách ngoan cường cho đến người cuối cùng, không chịu để cho giặc bắt.

   Còn vô vàn tấm gương anh dũng tuyệt vời, vô vàn tấm lòng tận tụy với dân với nước của cán bộ và đảng viên, có tên hoặc không tên cùng sự hy sinh, cưu mang, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng vô bờ bến của quần chúng, bất chấp tù ngục, súng gươm... Tất cả hòa quyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh vào niềm tin, để con người có đủ nghị lực vượt qua những giây phút gay go, đen tối nhất, tiến lên chiến thắng kẻ thù.

   Chỉ trong vòng nửa năm sau đợt phát động, phong trào các nơi đã dần dần gượng dậy được, quần chúng đã đứng lên đấu tranh từ hình thức thấp đến hình thức cao, chống đàn áp, khủng bố, chống áp bức bóc lột, phá vỡ thế kìm kẹp của địch... Những tên ác ôn khét tiếng bị trừng trị, làm cho bọn theo đóm ăn tàn không dám hung hăng, nghênh ngang như trước.

   Trong lúc tỉnh Bến Tre đang gặp những khó khăn to lớn thì TƯCMN, Khu ủy 8 tăng cường chỉ đạo, chi viện mọi mặt cho tỉnh nhằm nhanh chóng khôi phục lại phong trào (1). Nhiều cán bộ có năng lực cũng được điều về bổ sung cho cấp lãnh đạo tỉnh (2).

   Ngày 7-1-1953, Tỉnh ủy họp mở rộng tại Thừa Đức (Bình Đại) để bàn việc quán triệt hơn những nhiệm vụ mới và phương châm công tác ở các vùng bị tạm chiếm theo chỉ thị của TƯĐCS. Hội nghị đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 27 đồng chí, do đồng chí Đỗ Phát Quang làm Bí thư. Dưới ánh sáng của các nghị quyết hội nghị, phong trào Bến Tre bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ.

   Lúc này, trên chiến trường toàn quốc, địch bị thất bại trong chiến dịch Hòa Bình (đầu năm 1952), tiếp đến bị khốn đốn trong chiến dịch Tây Bắc (cuối năm 1952). Bộ chỉ huy Pháp buộc phải rút bớt quân từ các chiến trường để lập phòng tuyến giữ đồng bằng Bắc Bộ và tăng cường các binh đoàn cơ động để đối phó với chủ lực của ta ở chiến trường chính.

   Ở Bến Tre, chúng đưa Nguyễn Thi Giỏi làm tỉnh trưởng thay Léon Leroy, rút bớt một số đồn bót lẻ để đề phòng sự tấn công của ta, đồng thời lập hai tiểu đoàn cơ động để đối phó với tình hình. Do đó, phía ta có thêm điều kiện thuận lợi để bung ra, mở rộng chỗ đứng chân, đẩy mạnh phong trào.

   Bước sang năm 1953, nhiều chi bộ Đảng đã bám lại được xã, ấp, các đội vũ trang tuyên truyền, du kích đã đứng vững, hoạt động có hiệu quả ngay giữa lòng địch. Cơ sở chính trị trong nhân dân được mở rộng. Các huyện ủy đều đứng vững trên địa phương mình. Cuối năm 1953, cơ quan Tỉnh ủy trở lại căn cứ Thạnh Phú. Hệ thống liên lạc từ trên xuống dưới được củng cố, thông suốt. Quần chúng từng bước đã đứng lên đấu tranh bảo vệ những quyền lợi thiết thân của mình, chống lại chính sách bòn rút, vơ vét, khủng bố của địch. Đặc biệt, phong trào chống địch bắt lính đã dấy lên sôi nổi. Nhiều gia đình, vợ con binh sĩ ngụy kéo đến đồn bót địch đòi chồng, đòi con. Trong hàng ngũ binh sĩ ngụy có phong trào không chịu ra trận, không hành quân ra khỏi tỉnh v.v... Phong trào du kích chiến tranh phát triển đều khắp trong tỉnh. Âm mưu bình định của địch, về cơ bản, bị đánh bại.

   Tháng 9-1953, BCHTƯĐCS họp hội nghị phân tích cụ thể cục diện chiến tranh Đông Dương, âm mưu của Pháp, Mỹ và ra nghị quyết có ý nghĩa lịch sử về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Nghị quyết được quán triệt tới tận các cấp ủy và các cấp chỉ huy quân sự trong cả nước. Mọi việc chuẩn bị chiến trường cũng như công tác tổ chức lực lượng phục vụ các chiến dịch được triển khai mạnh mẽ.

   Những đòn tiến công chiến lược của quân và dân ta ở chiến trường chính Bắc Bộ buộc địch phải tập trung lực cơ động để đối phó. Tình thế đó tạo thời cơ thuận lợi cho bộ đội ta tiêu diệt địch và cho chiến tranh du kích phát huy vai trò mạnh mẽ của nó ở vùng sau lưng địch. Nắm chắc thời cơ khi đại bộ phận quân chủ lực của địch ở Nam Bộ rút gần hết ra tăng cường cho chiến trường Bắc Bộ, Tây Nguyên và Trung Lào, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích các tỉnh (trong đó có Bến Tre) phối hợp chặt chẽ tiến công tiêu diệt ở khắp nơi. Công tác địch, ngụy vận cũng được đẩy mạnh làm cho phong trào đào, rã ngũ lan rộng trong binh lính Hòa hảo, Cao đài...

   Tháng 11-1953, hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được tổ chức tại rừng Thạnh Phú để bàn kế hoạch chấp hành quyết tâm chiến lược của Trung ương và đề ra kế hoạch Đông Xuân của tỉnh. Kế hoạch được chia làm hai đợt: trong đợt I bắt đầu vào đầu tháng 1-1945, xã Thạnh Phong (Thạnh Phú) được chọn làm điểm đột phá để phát động gia đình binh sĩ phối hợp với nhân dân, bộ đội, du kích tấn công vào đồn bót địch. Trong đợt này, đồn Cồn Rừng - một vị trí quan trọng khống chế khu vực Thạnh Phong - bị quần chúng bao vây. Hơn 5.000 đồng bào bị tập trung quanh đồn đã bung ra, trở về nhà cũ. Bị bao vây và triệt đường tiếp tế, các đồn thuộc vùng ven biển Thạnh Phú như Cồn Rừng, Khâu Băng, Cồn Điệp, Hồ Cỏ, Cái Cát phải rút chạy.

   Chiến thắng Thạnh Phú giáng một đòn mạnh mẽ vào tinh thần binh lính ngụy, thôi thúc các huyện trong tỉnh thi đua lập công. Ngày 17-1-1954, quân và dân An Hóa đánh diệt các đồn Phước Thuận, Giồng Cà, Thừa Đức, và các bót Lộc Thuận, Phú Lộc. Ở Ba Tri, dân quân du kích phối hợp cùng đồng bào (trong đó có gia đình binh sĩ ngụy) bao vây, bức rút một loạt 18 đồn bảo an ở các xã An Đức, Phú Ngãi, Vĩnh Hòa, An Hòa Tây, Tân Hào Đông. Ở Mỏ Cày, kết hợp với cơ sở địch, ngụy vận, du kích, đồng bào ta đã diệt hàng loạt đồn và lô cốt ở Định Thủy, Tân Thiềng, Phước Hiệp. Các đồn bót đóng dọc theo lộ 30, từ Cái Mơn đến Ba Vát bị san bằng.

   Kết quả, sau 4 tháng hoạt động, quân dân Bến Tre đã diệt 53 đồn bót, giết 144 tên địch, bắt sống 234 tên, làm rã ngũ 1.350 tên, giải tán 30 hội tề xã, thu 300 súng các loại. Vùng tự do của tỉnh được mở thành một vệt dài ven biển từ Thạnh Phú, Ba Tri đến Bình Đại và khu vực nam, bắc Mỏ Cày.

   Trong khi đó, ở mặt trận Điện Biên Phủ, sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng gian khổ, 14 giờ ngày 7-5-1954, quân ta đã cắm ngọn cờ chiến thắng trên nóc hầm sở chỉ huy của tướng De Castries. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Tây Nguyên, Trung và Hạ Lào cổ vũ, ngày 25-5-1954, Tỉnh ủy Bến Tre họp, quyết định phát động tấn công đợt II với quyết tâm tấn công và nổi dậy mạnh mẽ hơn, để cùng cả nước giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

   Thực hiện quyết tâm mới, trên chiến trường Bến Tre, những cuộc tiến công quân sự của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, du kích kết hợp với nổi dậy của hàng vạn quần chúng diễn ra sôi nổi, đều khắp, buộc nhiều đồn bót địch phải hạ vũ khí, đầu hàng, hoặc rút chạy về co cụm lại ở thị xã và các thị trấn. Hàng loạt ban hội tề bị giải tán.

   Ở Ba Tri, các đồn bót ở Mỹ Nhơn, An Hiệp, Tân Xuân phải cuốn chạy. Ở An Hóa, ta diệt một loạt đồn bót ở Bến Đình, Cầu Sắt, ngã ba Bà Khoai, Tân Phú Trung và bức rút các đồn Bình Mỹ, Thừa Đức. Ở Mỏ Cày, du kích ta khống chế lộ 30, bức hàng, bức rút một loạt đồn bót các xã đầu trên của huyện, mở ra một vùng giải phóng liên hoàn. Ở Châu Thành, được LLVT tỉnh hỗ trợ, nhân dân trong huyện đã bao vây, bức hàng, bức rút nhiều đồn bót ở Châu Hòa, Lương Quới, Nhơn Thạnh, Thạnh Phú Đông. Ở Sóc Sãi, đồng bào và du kích nổi dậy, bao vây bức rút các đồn Tam Phước, Thành Triệu, Tường Đa. Ở thị xã, nhân dân nội thị và vùng ven tích cực làm công tác ngụy vận, kêu gọi được hàng trăm sĩ quan, binh lính ngụy bỏ ngũ về nhà.

   Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, quân và dân Bến Tre trong một thời gian ngắn đã vùng lên, đập vỡ từng mảng hệ thống đồn bót của địch, làm tan rã toàn bộ bộ máy ngụy quyền cơ sở ở nông thôn. Chính quyền cách mạng đã kiểm soát 3/4 đất đai trong tỉnh.

   Trên vùng đất giải phóng, chính quyền các cấp tiến hành tịch thu ruộng đất của bọn phản động, cấp cho nông dân; xây dựng phòng thông tin, trạm y tế, nhà hộ sinh, trường học. Tiếng hát lời ca cách mạng lại bắt đầu vang lên trong thôn xóm. Bộ mặt của nông thôn do ta làm chủ đang bắt đầu có bước khởi sắc.

   Sự phát triển nhanh chóng của tình hình Bến Tre cũng như các tỉnh khác ở Nam Bộ, đã gây một tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Sài Gòn. Nhiều cuộc biểu tình lớn đòi lập lại hòa bình ở Đông Dương liên tiếp nổ ra. 352 nhà trí thức Sài Gòn đã ký tên vào một bản tuyên ngôn đòi quân Pháp ngừng cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.

   Ngày 20-7-1954, tại Genève (Thụy Sĩ) phái đoàn Chính phủ Pháp buộc phải ký kết với đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn hiệp định đình chỉ chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương. Hiệp định công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam cũng như Campuchia và Lào. Đối với Việt Nam, hiệp định quy định rõ ngày ngừng bắn, thời gian chuyển quân tập kết, giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Hai miền Nam, Bắc sẽ tiến tới Tổng tuyển cử tự do để thống nhất nước nhà.

   Như vậy, từ ngày 23-9-1945 đến 20-7-1954, nhân dân Bến Tre cùng với đồng bào cả nước tiến hành cuộc kháng chiến ròng rã 3.223 ngày đêm đầy gian khổ hy sinh, nhưng vô cùng anh dũng, tự hào. Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lời kêu gọi quân đội và nhân dân cả nước, đã khẳng định: ”Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của ta. Nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định giải phóng” (3).

   Trong niềm vui chưa trọn vẹn, vâng theo lời Người, nhân dân Bến Tre cũng như toàn thể đồng bào miền Nam tiễn đưa những con em của mình xuống tàu tập kết, đồng thời cũng chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị điều kiện để cùng với những đồng bào, đồng chí ở lại bước vào cuộc đấu tranh mới, cuộc đấu tranh mà những dự cảm chính trị đã cho thấy trước rằng không kém phần gay go, gian khổ.

Chú thích

(1) Đồng chí Phạm Thái Bường là phái viên TƯCMN phụ trách Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh.
(2)  Đồng chí Đỗ Phát Quang làm chủ tịch UBKCHC tỉnh; Đồng Văn Cống làm Tỉnh đội trưởng, Dương Cự Tẩm, Chính trị viên tỉnh đội; Võ Tấn Nhứt, Tỉnh đội phó; Nguyễn Văn Yên, Trưởng ty Công an.
(3Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, tập 3, Nxb Sự thật, H, 1956, tr. 8-9

Đã ban hành
Đền thờ Huỳnh Tấn PhátĐền thờ Huỳnh Tấn Phát
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Sáu Phát, Tám Chí ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1913 tại xã Tân Hưng (nay là xã Châu Hưng), huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Khi đến tuổi học trung học, ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký. Sau đó ông thi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) và đậu thủ khoa kiến trúc trường này.

Ông đi làm một thời gian và mở văn phòng kiến trúc tư đầu tiên ở Sài Gòn (1840). Ông đoạt giải thiết kế và xây dựng Hội chợ triển lãm Đông Dương (vườn ông Tượng, Tao Đàn, năm 1941). Với nhiệt huyết của một trí thức yêu nước, ông chuyển sang hoạt động chính trị, tham gia phát triển nhiều phong trào yêu nước (Chủ nhiệm báo Thanh niên, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở miền Bắc đặc biệt là phong trào Thanh niên tiền phong mà ông là Trưởng ban cổ động).

Ngày 05 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn năm 1945. Năm 1946, ông bị bắt tại nhà in số 160 đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Trong khám ông được mọi người bầu làm Trưởng ban đại diện “Liên đoàn tù nhân khám lớn Sài Gòn”, biến khám lớn Sài Gòn thành trường học văn hóa, chính trị đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng.

Năm 1949, sau khi ra tù ông về khu giải phóng và được cử làm Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Ngày 06 tháng 6 năm 1969, tại Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam đã bầu ông làm Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, ông cùng với các đồng chí Võ Chí Công, Phùng Văn Cung được bầu là những người đứng đầu Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1968, ông chỉ đạo Ban trí vận mặt trận khu Sài Gòn - Gia Định vận động trí thức yêu nước công tác ở Sài Gòn ra chiến khu thành lập Liên minh các lực lượng phong trào dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Năm 1976, ông được Quốc hội khóa VI cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1981, Quốc hội khóa VIII cử ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đến năm 1982.

Tháng 6 năm 1982, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra, ông còn giữ các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam. Ông chỉ đạo và góp ý kiến các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu, Tây Ninh,… Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất,...

Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Ông Huỳnh Tấn Phát là một trí thức có nhiều uy tín trong xã hội nhưng ông không quan tâm làm giàu mà giành trọn đời mình để lo cho dân, cho nước. Chính vì thế nên khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước di ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng nhằm giáo dục các thế hệ con cháu ra sức học tập và làm việc như khi sống ông vẫn làm. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây.

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 trước khi được trùng tu đình gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình chính gồm: gian đầu là nhà võ ca, gian giữa là nơi chức sắc trong làng hội họp, gian thứ 3 thờ thần. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng các loại gỗ quý và được chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,… đều được sơn son thiếp vàng. Trên nền ngôi đình cũ, đình Tân Hưng được trùng tu khang trang, rộng rãi hơn (khởi công ngày 14 tháng 3 năm 2003 hoàn thành 10 tháng 9 năm 2004) gồm 2 ngôi nhà chính: một ngôi nhà thờ Thành hoàng bổn cảnh, một ngôi nhà thờ Huỳnh Tấn Phát.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình Tân Hưng là nơi tập trung những người yêu nước để học tập, bàn bạc kế hoạch thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chi bộ cơ sở. Trong suốt thời kỳ đấu tranh chính trị (1954 - 1959), đình là nơi tập hợp nhân dân để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng bộ Châu Hưng nhằm gây dựng cơ sở và tổ chức lực lượng, phát động đấu tranh chính trị “Chống chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, chống bắt lính, kêu gọi chồng, con, em về với nhân dân”, tổ chức mít tinh lên án bọn Việt gian bán nước hại dân và trừng trị thích đáng bọn này.

Năm 1963 - 1965, địch đem quân chiếm đóng đình để tiến hành khủng bố, đàn áp nhân dân. Trước sự đoàn kết, thống nhất đấu tranh của quần chúng nhân dân và sự tấn công của lực lượng du kích, địch rút chạy, ngôi đình được trả lại nhân dân nhưng chúng đã làm hư hại nhiều cơ sở vật chất của đình. Năm 1968, cùng với các nơi nổi dậy tấn công Mùa xuân năm 1968, tại địa phương, các vị trong Ban khánh tiết đình Tân Hưng đi dân công, cứu thương phục vụ những trận đánh lớn, nổi bật có Huỳnh Trung Tuyên, Huỳnh Văn Búp, Huỳnh Văn Phường, Nguyễn Văn Thiệt.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, đình là nơi bắn phá của địch vì nơi đây thường xuyên là nơi đi lại và hoạt động của cán bộ, Đảng viên xã Châu Hưng, là nơi gây dựng cơ sở và cất giấu tài liệu, vũ khí. Năm 1972, địch ném 02 quả bom gây thiệt hại nặng cho đình. Ngôi đình tồn tại đến ngày nay minh chứng về lòng nhân nghĩa, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra Quyết định số 1698/QĐ-UB công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân.

Nguồn: www.svhttdl.bentre.gov.vn

Đã ban hành
1 - 30Next
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Nguyễn Văn Ngoạn - Giám đốc Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre
Trụ sở: Số 7 Cách Mạng Tháng Tám​, phường 3, thành phố Bến Tre
Đơn vị trực tiếp quản lý: Trung tâm Thông tin điện tử Bến Tre | ĐT:(0275)3827529 | Email: banbientap@bentre.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'www.bentre.gov.vn' khi phát hành lại thông tin từ Cổng Thông tin điện tử tỉnh Bến Tre
Footer